Đã có nhiều công trình đề cập gián tiếp đến các khía cạnh khác nhau của sự nghiệp thống nhất đất nước do Hồ Chí Minh và ĐLĐVN lãnh đạo từ năm 1954 đến năm 1975, có thể tạm phân chia thàn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Phan Thế Lƣợng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đinh Quang Hải đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này! Cảm ơn các thầy cô Bộ môn Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tâm giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập nghiên cứu sinh
và hoàn tất các thủ tục bảo vệ luận án tiến sĩ! Cảm ơn Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Giao thông Vận tải đã động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi chuyên tâm vào việc học tập, nghiên cứu! Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn đồng hành và chia sẽ khó khăn với tôi!
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Phan Thế Lƣợng
Trang 5MỤC LỤC Trang
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 14
1.3 Những thành tựu đã đạt được và những vấn đề luận án cần giải quyết 17
Chương 2 HỒ CHÍ MINH VỚI CUỘC ĐẤU TRANH HÕA BÌNH THỐNG
2.1 Việt Nam bị chia cắt sau Hiệp định Genève (7 - 1954) 22
2.1.1 Khái quát quá trình đấu tranh thống nhất đất nước trước tháng 7 - 1954 22
2.1.2 Ý đồ chia cắt Việt Nam của các nước lớn tại Hội nghị Genève 27
2.2 Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng những nhân tố nền tảng cho cuộc
đấu tranh hòabìnhthống nhất đất nước 38
2.2.1 Xây dựng đường lối đấu tranh hòa bình thống nhất đất nước 38
2.3.Hồ Chí Minh chỉ đạo tổ chức nhân dân đấu tranh hòa bình thống nhất
2.3.2 Đấu tranh hòa bình thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1960 60
Trang 6Chương 3 HỒ CHÍ MINH VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN VÌ MỤC TIÊU
3.2.Hồ Chí Minh chỉ đạo tổ chức nhân dân kháng chiếnvì mục tiêu
3.3 Hoàn thành mục tiêu thống nhất đất nước theo tư tưởng Hồ Chí
4.2.1 Xây dựng đường lối, ĐLĐVN, nhà nước VNDCCH, đại đoàn kết dân
tộc, đoàn kết quốc tế làm cơ sở để tổ chức nhân dân đấu tranh thống nhất đất
nước
130
4.2.2 Thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước gắn liền với các mục tiêu hòa
bình, độc lập dân tộc, tự do, dân chủ nhân dân, dân giàu, nước mạnh 135 4.2.3 Tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách
Trang 74.2.4 Bám sát đối tượng, nắm bắt thời cơ, kết hợp đấu tranh chính trị, đấu
tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước 139
Trang 8BẢNG QUY ƢỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTƯĐ: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
BCT: Bộ Chính trị
BTVTƯĐ: Ban Thường vụ Trung ương Đảng
CHMNVN: Cộng hòa miền Nam Việt Nam
CMDTDCND: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
ĐLĐVN: Đảng Lao động Việt Nam
MTDTTNVN: Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam
MTTQVN: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
MTDTGPMNVN: Mặt Trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam VNCH: Việt Nam Cộng hòa
VNDCCH: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
UBND: Ủy ban nhân dân
UBTƯMTTQVN: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thống nhất đất nước là một trong những giá trị cơ bản, là quy luật tồn tại
và phát triển của dân tộc Việt Nam Giá trị ấy, quy luật ấy đã có cơ sở sâu xa từ trong đời sống sản xuất, sinh hoạt và lằn trong nếp nghĩ của người Việt Nam từ thế
hệ này sang thế hệ khác Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam khi đất nước bị ngoại xâm và phân ly tư tưởng thống nhất đất nước luôn chi phối suy nghĩ
và hành động của đại đa số nhân dân Việt Nam Trong bối cảnh đó, lịch sử sẽ sản sinh ra các bậc hiền tài, hào kiệt, những người hiểu rõ thời thế, đứng ra hiệu triệu nhân dân, hướng hoạt động tự phát của nhân dân vào hành động tự giác có mục đích chính xác, chiến lược rõ ràng, sách lược khôn ngoan, tổ chức uyển chuyển, hiệu quả, cuối cùng giành lại và bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước
Trong khoảng cuối thế kỷ XIX và ba phần tư thời gian đầu thế kỷ XX, Việt Nam lần lượt bị thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ, cùng các thế lực nội phản chia cắt, xâm chiếm Thuộc tính bản chất của sự xâm lược đó là đẩy Việt Nam vào trạng thái bị chia cắt, phân liệt thường xuyên giữa các vùng miền, tộc người, tôn giáo, giai tầng, phá vỡ tính thống nhất trong đa dạng, vốn là thuộc tính quy định sự tồn tại và phát triển của Việt Nam suốt mấy ngàn năm lịch sử Vì thế, một cách tự nhiên,cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng là một cuộc vận động đoàn kết dân tộc, thống nhất đất nước Từ sau Hội nghị Genève năm 1954 vấn đề thống nhất đất nước càng đặc biệt nổi lên, trở thành yêu cầu bức xúc của lịch sử Việt Namkhi Mỹ và chính quyền Sài Gòn, có sự thoả hiệp của Liên Xô, Trung Quốc và một số nước lớn khác, biến vĩ tuyến 17, thành đường biên giới chia cắt lâu dài lãnh thổ Việt Nam, chia rẽ dân tộc Việt Nam, thiết lập chế độ chính trị thân Mỹ ở Nam Việt Nam, biến Việt Nam trở thành một điểm nóng trong cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống thế giới
Trong bối cảnh đó Hồ Chí Minhtiếp tục sứ mệnhđứng đầu lãnh đạo ĐLĐVN, nhà nước VNDCCH,nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1969.Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, ĐLĐVN
đã kế thừa tư tưởng và ý chí thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh, lãnh đạo nhân dân tiếp tục cuộc đấu tranhđưa đến hòa bình, thống nhất, độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam vào ngày 30 - 4 - 1975 Việc thống nhất về chế
độ chính trị, quản lý của nhà nước VNDCCH, nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam
Trang 10được hoàn tất vào năm 1976.Vai trò lãnh tụ, lãnh đạo, chỉ đạo, biểu tượng của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1975 được đại bộ phận nhân dân Việt Nam và nhiều người nước ngoài quan tâm đến lịch sử Việt Nam nhìn nhận là to lớn và quan trọng Nhưng việc phân tích, đánh giá thấu đáo vai trò đó lại gặp nhiều khó khăn bởi không có sự phân biệt rõ ràng nào giữa các yếu tố cá nhân và yếu tố tập thể - cộng đồng, nhất là từ sau Hội nghị trung ương 9 khoá II (năm 1956) trở đi, với việc ĐLĐVN đề cao nguyên tắc lãnh đạo tập thể, chống tệ sùng bái cá nhân
Hiện nay, liên quan đến thống nhất đất nước Việt Nam vẫn còn một số vấn
đề phải tiếp tục giải quyết như: Quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sabị Trung Quốc chiếm đóng trái phép Phần lớn diện tích Biển Đôngđang bị các nước tranh chấp, tuyên bố chủ quyền chồng lấn lên lãnh hải, vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa của Việt Nam; Các thế lực thù địch lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước kích động một bộ phận nhân dân hòng gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo, hoạt động ly khai, giải lãnh thổ; Chủ nghĩa cá nhân phát triển nhanh chóng kéo theosự phát triển của các căn bệnh: đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, lãng phí, quan liêu,vô cảm, lối làm ăn chộp giật…,gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, ảnh hưởng đến nền hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh của Việt Nam
Những thực tế nêu trên cho thấy việc tìm hiểu,phân tích, đánh giá đúng vai tròcủa Hồ Chí Minh với sự nghiệp thống nhất đất nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ(1954 - 1975), đồng thời, đưa ra những nhận xét, kinh nghiệm,liên hệ với cuộc đấu tranh xây dựng, bảo vệ nền hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh của Việt Nam hiện nay có ý nghĩa khoa học và thực tiễnto lớn Với
mong muốngóp phần làm rõ vấn đề nghiên cứu nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Hồ Chí Minh với sự nghiệp thống nhất đất nướctrong cuộc kháng chiến chống Mỹ(1954- 1975)” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử của mình
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là làm rõ quá trình Hồ Chí Minh, với tư cách là Chủ tịch ĐLĐVN, Chủ tịch nước VNDCCH, lãnh tụ của dân tộc, đã đứng đầu lãnh đạo vàtrực tiếp chỉ đạo tổ chức nhân dân Việt Nam đấu tranh vì mục tiêu thống nhất đất nướctừ năm 1954đến năm 1969, quá trình ĐLĐVN kế
Trang 11thừa, vận dụngtư tưởng, ý chí thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh lãnh đạo, tổ chức thắng lợi sự nghiệp thống nhất đất nước từ năm 1969 đến năm 1975
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ vấn đề thống nhất đất nước đặt ra trước và từ Hiệp định Genève
(tháng 7 - 1954)
- Làm rõ quá trìnhHồ Chí Minh lãnh đạo,chỉ đạo tổ chức nhân dân đấu
tranh hòa bình thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1960
- Làm rõ quá trìnhHồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân đấu tranh vì mục tiêu thống nhất đất nước từ năm 1961 đến năm 1969
- Làm rõ quá trình ĐLĐVN kế thừa tư tưởng và ý chí thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo, tổ chức nhân dân đấu tranh hoàn thành thống nhất đất nước từ năm 1969 đến năm 1975
- Đưa ra nhận xét, đúc kết kinh nghiệm, liên hệ với một số nước, vận dụng vào việc xây dựng và bảo vệ nền hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh của Việt Nam hiện nay
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dânđấu tranh vì mục tiêu thống nhất đất nước từ 1954 đến 1969, quá trình ĐLĐVN kế thừa, vận dụng tư tưởng, ý chí thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh lãnh đạo, tổ chức nhân dân đấu tranh hoàn thành thống nhất đất nước từ năm 1969 đến năm 1975
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu quá trình Hồ Chí Minhvới tư cách là Chủ tịch ĐLĐVN, Chủ tịch nước VNDCCH, lãnh tụ của nhân dân Việt Nam lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước, quá trình ĐLĐVN kế thừa tư tưởng và ý chí thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo nhân dân đánh đuổi
Mỹ, đánh đổ chính quyền Sài Gòn, hoàn thành mục tiêu thống nhất đất nước
Trang 12- Phạm vi không gian: Nghiên cứuquá trình đó trên toànlãnh thổ Việt Nam Trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, miền Bắc được Hồ Chí Minh xác định
là hậu phương lớn, miền Nam là tiền tuyến lớn
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo, động viên nhân dânđấu tranh thống nhất đất nước từ năm 1954 (năm đất nước bị chia cắt) đến năm 1969 (năm Hồ Chí Minh từ trần) và quá trình đó được ĐLĐVN
kế thừa lãnh đạo nhân dânhoàn thành vào ngày 30 - 4 - 1975
4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Cách tiếp cận
Để giải quyết đề tài, chúng tôi tiếp cận theo chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.Qua các nguồntài liệu, chúng tôi cố gắng phục dựng lại quá trình Hồ Chí Minh với tư cách là Chủ tịch Đảng LĐVN, Chủ tịch nước VNDCCH, lãnh tụ của dân tộcđã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân đấu tranh thống nhất đất nước từ khi đất nước bị chia cắt sau Hội nghị Genève (năm 1954) đến khi Hồ Chí Minh qua đời (năm 1969), quá trình ĐLĐVN kế thừa tư tưởng, ý chí thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân hoàn thành sự nghiệp đó (năm 1975)
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm đường lối của Đảng về chiến tranh cách mạng và để hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài luận án, tác giả sử dụng các phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp liên ngành và các phương pháp chung như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê để làm rõ những nội dung của luận án
5 NGUỒN TÀI LIỆU
Hồ Chí Minh,Toàn tập(15 tập), do NXB Chính trị Quốc giaxuất bản lần thứ
3 tại Hà Nội vào năm 2011; Hồ Chí Minh,Biên niên tiểu sử (10 tập), do NXB
Chính trị Quốc gia xuất bản tại Hà Nội từ năm 1993 đến năm 1996; Văn kiện
Đảng,Toàn tập, từ tập 1 đến tập 37, do NXB Chính trị Quốc gia xuất bản tại Hà
Nội từ năm 1998 đến năm 2005; Các nguồn tài liệu lưu trữ, các hồi ký của các nhân chứng; Các công trình nghiên cứu, luận án, luận văn, các bài báo của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
Trang 136 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án có những đóng góp nhất định vào việc làm rõ hơn một trong những nội dung căn bản của lịch sử Việt Namtừ năm 1954 đến năm 1975 Đó là cuộc đấu tranh vì mục tiêu thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức của Hồ Chí Minh với tư cách là Chủ tịch Đảng LĐVN, Chủ tịch nước VNDCCH, lãnh tụ của dân tộc
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ những kết quả nghiên cứu luận án cũng sẽ gợi mở những vấn đề về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần xâ dựng và bảo vệ nền hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh của Việt Nam hiện nay Luận án cũng sẽ góp phần hệ thống hoá các nguồn tài liệu, tư liệu giúp nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, tư tưởng Hồ Chí Minh
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án ngoàiphần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án kết cấu thành 4 chương, 12 tiết
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2.Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh hòa bình thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1960
Chương 3 Hồ Chí Minh với cuộc kháng chiến vì mục tiêu thống nhất đất nước
từ năm 1961 đến năm 1975
Chương 4.Một số nhận xét, kinh nghiệm và liên hệ
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾNĐỀ TÀI
LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Đã có nhiều công trình đề cập gián tiếp đến các khía cạnh khác nhau của sự nghiệp thống nhất đất nước do Hồ Chí Minh và ĐLĐVN lãnh đạo từ năm 1954 đến năm 1975, có thể tạm phân chia thành các nhóm như sau:
1.1.1.Nhóm các công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vàchống đế quốc Mỹ xâm lược
Cuốn Tìm về cội nguồn của GS Phan Huy Lê, Nhà xuất bản Thế giới, Hà
Nội, 2011, là một công trình đồ sộ, tập hợp nhiều bài nghiên cứu trong cuộc đời làm khoa học của ông Phần II của cuốn sách về “mấy vấn đề tổng quan” đã trình bày các cơ sở kinh tế, văn hóa, lịch sử, quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Việt Nam, tính thống nhất trong đa dạng của lịch sử Việt Nam Cuốn sách tuy không liên quan trực tiếp đến đề tài, nhưng gợi mở cho tác giả hướng nghiên cứu
đề tài Cụ thể là giúp tác giả nhìn nhận vấn đề thống nhất đất nước cơ bản nhất chính là thống nhất lãnh thổ, nhưng phải đặt nó trong quan hệ tổng hòa các nội dung dân tộc, thể chế, kinh tế, văn hóa, xã hội
Cuốn Nước Việt Nam là một dân tộc Việt Nam là một của tập thể tác giả do
Viện Sử học chủ trì, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, đã trình bày khái quát quá trình hình thành đất nước, dân tộc Việt Nam; nêu lên mối quan tâm,
ý chí thống nhất đất nước, những lời căn dặn toàn Đảng, toàn dân về thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh; chỉ ra tính thống nhất lâu đời bền vững của lịch sử Việt Nam; nêu lên sự thất bại của chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp; trình bày khái quát bài học lịch sử của “Nam Kỳ tự trị” và số phận của những kẻ đi ngược lại ý chí thống nhất của dân tộc Việt Nam; nêu lên những cơ sở kinh tế, văn hóa, pháp lý của sự nghiệp thống nhất đất nước Công trình này đã trình bày khá sâu yếu tố văn hóa, ngôn ngữ và lịch sử đấu tranh thống nhất Việt Nam, nhưng chủ đề Hồ Chí Minh và ĐLĐVN với sự nghiệp thống nhất đất nước từ năm 1954đến năm 1975 chưa được thể hiện một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc Mặc dù vậy, công trình đã cung cấp cho tác giả cách tiếp cận và nhiều tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài luận án
Trang 15Các cuốn Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX của GS Lê Thành Khôi, Nhã Nam xuất bản, Thành phố Hồ Chí Minh, 2014; Lịch sử Việt Nam, tập IV, từ năm 1945 đến năm 2005 do Lê Mậu Hãn chủ biên cùng các tác
giả Nguyễn Đình Lê, Trương Thị Tiến, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, 2012;
Lịch sử Việt Nam 1954 - 1975 của tác giả Nguyễn Đình Lê, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, 2010; Nhất là bộ Lịch sử Việt Nam (15 tập) do Viện Sử học biên
soạn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014, trong đó có các tập 9 - 13 có nhiều nội dung liên quan đề tài luận án; v.v… Qua các công trình này, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ vì độc lập, thống nhất của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo và ảnh hưởng của Hồ Chí Minh từ năm 1954 đến năm 1975
đã được làm sáng rõ trên tất cả các nội dung chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh
tế, văn hóa, xã hội
Viết về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược có các cuốn; Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập II (1954 - 1975) của Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012; Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975 của tập thể tác giả Hoàng Phương,
Hoàng Dũng, Trần Bưởi, Nguyễn Văn Minh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1996; Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 11: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005; Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - thắng lợi và bài học của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ
Chính trị, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995;v.v…
Nội dung các công trình này đã bàn sâu đến khía cạnh chính trị - quân sự của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước (1954- 1975) Các khía cạnh khác như kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao được đề cập dưới góc độ
hỗ trợ cho cuộc kháng chiến trên lĩnh vực chính trị - quân sự Các tư tưởng chỉ đạo chiến lược và sự động viên kịp thời của Hồ Chí Minhqua các giai đoạn của các cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, trong các chiến dịch, các trận đánh lớn
có tính cách tạo dựng nền tảng tư tưởng thống nhất trong quân đội, giữa quân đội
và nhân dân, trong các hoạt động quân sự, giữa các hoạt động quân sự với các nhiệm vụ chính trị chung của đất nước từ năm 1954 đến năm 1975 đã được thể hiện đầy đủ nhưng xen lẫn giữa nhiều sự kiện, bài học lịch sử quân sự và chưa được hệ thống hóa
Trang 16Các cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954 - 1975) của Viện
Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; Tìm hiểu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam qua các đại hội và hội nghị trung ương do Nguyễn Trọng Phúc chủ biên, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2003; 80 năm Đảng Cộng sản Việt Nam 1930 - 2010 những chặng đường lịch sử vẻ vang của Vũ Như Khôi, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2010; Đảng Cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển do Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia biên soạn, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010; v.v…
Sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và ĐLĐVN từ năm 1954đến năm 1975 trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội, từ việc hoạch định những tư tưởng, đường lối chiến lược, sách lược đến việc tổ chức thực hiện đã được làm sáng rõ trong các công trình này Vai trò của Hồ Chí Minh với
sự nghiệp thống nhất đất nước chủ yếu được thể hiện gián tiếp qua các nghị quyết đại hội Đảng, hội nghị BCHTƯĐ do Hồ Chí Minh chủ trì hoặc dưới ảnh hưởng tư tưởng của Hồ Chí Minh và việc Hồ Chí Minh điều hành Chính phủ triển khai các nghị quyết của Đảng
Các tác phẩm Miền Nam giữ vững thành đồng của Trần Văn Giàu, gồm 5
tập, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, ấn hành các năm 1964, 1966, 1970,
1978; Sức mạnh Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1976; Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997; Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, 3 tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, 2007; Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985; Chung một bóng cờ: về Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do Tổng Bí thư
Nguyễn Văn Linh chỉ đạo biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1993; Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960 của Văn phòng Quốc hội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994; Hồi ký Đại biểu Quốc hội khóa I do Văn
phòng Quốc hội biên soạn, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; v.v…
Các tác phẩm này đã chỉ ra sức mạnh Việt Nam quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước chính là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân được tổ chức trong Mặt trận dân tộc thống nhất, theo ngọn
cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của nhà nước VNDCCH, hướng tới mục tiêu chung: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và
Trang 17giàu mạnh Trong các tác phẩm này, Hồ Chí Minh được thể hiện là lãnh tụ của khối đại đoàn kết dân tộc, hiện thân của ý chí thống nhất đất nước, những quan điểm, tư tưởng về đoàn kết của Hồ Chí Minh đặt nền tảng cho việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy sức mạnh dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, từng bước đưa sự nghiệp thống nhất đất nước đến thắng lợi hoàn toàn
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, Hồ Chí Minh tiểu sử do
Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012,
là những cuốn tiểu sử ghi lại và phân tích tương đối đầy đủ những sự kiện chính gắn liền với bối cảnh của chúng trong cuộc đời của Hồ Chí Minh, trong đó có tóm lược và phân tích những bài nói, bài viết quan trọng theo diễn tiến cuộc đời của
Hồ Chí Minh Qua đó, giúp người đọc hiểu biết một cách khái quát quá trình hình thành, phát triển sự nghiệp và tư tưởng của Hồ Chí Minh, vai trò của Hồ Chí Minh đối với lịch sử Việt Nam và thế giới Sự nghiệp thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam do Hồ Chí Minhlãnh đạo từ năm 1954đến năm 1969 và dưới tầm ảnh hưởng của Hồ Chí minh từ năm 1969 đến 1975 cũng đã được thể hiện một cách sơ lược nhưng bao quát trong các công trình này
Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, thuộc đề tài
khoa học cấp Nhà nước KX 02 nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000,
đã nêu lên một cách khái quát cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh; những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam; những đóng góp lớn của Hồ Chí Minh về mặt tư tưởng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam như tư tưởng giải phóng và phát triển Việt Nam, vấn đề lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lực lượng tham gia cách mạng, tính chủ động, sáng tạo của cách mạng thuộc địa, trong đó có Việt Nam trong mối quan hệ với cách mạng vô sản ở chính quốc, v.v Qua tác phẩm này, những yếu
tố nền tảng để thống nhất đất nước mà Hồ Chí Minh tạo dựng đã được thể hiện khá cô đọng
Tư tưởng Hồ Chí Minh rọi sáng con đường độc lập tự do của dân tộc Việt Nam do Lê Mậu Hãn chủ biên cùng sự tham gia của các tác giả Bùi Đình Phong,
Trang 18Mạch Quang Thắng, Nhà xuất bản Nghệ An, Nghệ An, 2000; Một số cảm nhận về
tư tưởng - hành động của Hồ Chí Minh của Đoàn Duy Thành, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012; Triết lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong tư
tưởng Hồ Chí Minh do Nguyễn Hùng Hậu chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2011; Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - 60 năm thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộitheo tư tưởng Hồ Chí Minh (2 9 1945 - 2 9 2005) của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà
Nội, 2005; v.v…Các công trình này đã đi sâu phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam như tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; về ĐCSVN; về đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về đạo đức, văn hóa và xây dựng con người,v.v… Đồng thời, làm sáng rõ sự vận dụng những nội dung đó vào trong thực tiễn, đưa đến những thắng lợi to lớn cho cách mạng Việt Nam Khi luận giải
tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, các công trình nêu trên, một cách gián tiếp, đã nêu lên những quan điểm, phương pháp của
Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề thống nhất lãnh thổ, thống nhất dân tộc, thống nhất thể chế,v.v… Tức là, các công trình này đã gián tiếp đưa ra những quan điểm chỉ đạo và phương pháp thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh
Bác Hồ của chúng ta của tác giả Nguyễn Khánh Toàn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990; Vĩ đại một con người của tác giả Trần Văn Giàu, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009; Hồ Chí Minh đường trường muôn dặm dâng hiến và tỏa sáng của Trần Đình Huỳnh, Nhà xuất bản Hà Nội, 2011; Đi tới một mùa xuân tư tưởng Hồ Chí Minh của Nguyễn Văn Khoan, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội, 2007; 50 năm chân dung một con người(Thêm những hiểu biết về Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) do Nguyễn Văn Khoan sưu tầm, tuyển chọn, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2009; Hồ Chí Minh - Những chặng đường cách mạng do Văn Thị Thanh Mai biên soạn, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2009; Hồ Chí Minh với tiến trình lịch sử dân tộc của tác giả Phan
Ngọc Liên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008;v.v… Các công trình này đã nêu bật những cống hiến về lý luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh đối với Cách mạng Việt Nam; những phẩm chất vượt trội, năng lực đặc biệt của Hồ Chí Minh; những tình cảm và sự ngưỡng mộ của đông đảo cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, bạn bè quốc tế giành cho Hồ Chí Minh; những khám phá về tính độc đáo và tầm vóc của những luận điểm cơ bản, những quyết định lịch sử của Hồ Chí Minh Tất
Trang 19cả được trình bày theo diễn tiến cuộc đời của Hồ Chí Minh gắn liền với các giai đoạn phát triển của Cách mạng Việt Nam Sự nghiệp thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh từ năm 1945 đến năm 1969 đã được thể hiện gián tiếp trong các công trình này, trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, qua việc chỉ ra những quan điểm chỉ đạo sắc bén và những quyết định quan trọng của Hồ Chí Minh theo từng giai đoạn của các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ
Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh do tác giả Phùng Hữu Phú chủ biên
cùng các tác giả Vũ Dương Ninh và Lê Mậu Hãn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 1995; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh của tác giả Lê Mậu Hãn, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001;v.v… Các công trình này nghiên cứu về tư tưởng chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởngHồ Chí Minh qua các giai đoạn cách mạng Các tác giả tập trung làm
rõ quan niệm của Hồ Chí Minh về “đại đoàn kết dân tộc”, “đại đoàn kết toàn dân”,
“đoàn kết với các dân tộc thiểu số”, “đoàn kết với các tôn giáo”,v.v… đồng thời làm rõ các nguyên tắc và phương pháp mà Hồ Chí Minh đã đưa ra để xây dựng các khối đoàn kết nêu trên Đại đoàn kết dân tộc là một cách nói khác của thống nhất dân tộc, một trong những nội dung cơ bản và là phương thức chủ yếu để thống nhất đất nước
Các công trình của Tổng Bí thư Lê Duẩn: Ngọn cờ của Lênin và của Bác
Hồ sẽ mang đến đích thắng lợi cuối cùng, NXB Sự thật, Hà Nội, 1983; Chủ tịch
Hồ Chí Minh: Lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta,… NXB Sự thật, Hà Nội, 1986; Các công trình của Tổng Bí thư Trường Chinh: Hồ Chủ Tịch người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, NXB Sự thật, Hà Nội, 1954; Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam, NXB Thông tin lý luận, Hà Nội, 1991; Trường Chinh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009…; Các công trình của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Hồ Chủ Tịch hình ảnh của dân tộc, NXB Văn nghệ, Hà Nội, 1955; Hồ Chủ Tịch tinh hoa của dân tộc, lương tâm của thời đại, NXB Sự thật,
Hà Nội, 1975; Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, NXB Sự thật, Hà Nội, 1990; Hồ Chí Minh Tinh hoa và khí phách của dân
Trang 20tộc, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012…; Các công trình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Về tư tưởng Hồ Chí Minh: Bài phát biểu tại Hội thảo “Tư tưởng
Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” ngày 29 - 30 tháng 10 năm
1992, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993; Tư tưởng Hồ Chí Minh quá trình hình thành và phát triển, NXB Sự thật, Hà Nội, 1993; Chủ tịch Hồ Chí Minh với
sự nghiệp giải phóng dân tộc và chấn hưng đất nước, NXB Lý luận chính trị, Hà
Nội, 2006,v.v…
Các công trình nêu trên là của các nhà lãnh đạo chính trị được Hồ Chí Minh giáo dục, bồi dưỡng, lựa chọn, giao trọng trách lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội Các tác giả được cùng sống, làm việc và trực tiếp nhận các ý kiến chỉ đạo của
Hồ Chí Minh Vì vậy, các công trình của họ phản ánh tương đối đầy đủ và trung thực về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Hồ Chí Minh Sự nghiệp thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1975 dưới ngọn cờ tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh đã được các tác giả trình bày gián tiếp ở các góc độ khác nhau như: việc Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam để đưa ra những quan điểm có ý nghĩa vạch đường đi cho cách mạng Việt Nam; hay việc trong từng giai đoạn lịch sử, Hồ Chí Minh nắm bắt được đặc điểm và xu thế của đất nước và thời đại, định ra những nhiệm vụ chiến lược, sách lược, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đoàn kết, chủ động, năng động, sáng tạo thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, sách lược đó, đưa đến thắng lợi cho cách mạng Việt Nam; nêu lên sự cần thiết phải học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong và phương pháp của Hồ Chí Minh; ghi nhận những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minhtrong Cách mạng Tháng Tám, Kháng chiến chống thực dân Pháp và Kháng chiến chống Mỹ; nhìn nhận tầm vóc của Hồ Chí Minh trong lịch
sử Việt Nam, tầm ảnh hưởng của Hồ Chí Minh đến tương lai Việt Nam; v.v…
Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn có một số luận án tiến sĩ, luận văn
thạc sĩ và rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí và các báo như: Đảng chỉ đạo giành thắng lợi từng bước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thời kỳ
1965 - 1975, Luận án tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Xuân Tú, năm 2001;v.v…Các
luận án này đã chỉ ra việc Hồ Chí Minh đưa ra những quan điểm nền tảng vừa có tính khoa học, vừa có tính cách mạng để Đảng hoạch định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, đồng thời chỉ ra việc Hồ Chí Minh điều hành Chính phủ VNDCCH,động viên nhân dân
Trang 21thực hiện đường lối đó, đưa cách mạng Việt Nam trong đó có sự nghiệp thống nhất đất nước giành thắng lợi từng bước, tiến tớigiành thắng lợi hoàn toàn
Quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Luận án tiến sĩ lịch sử của Khuất Thị Hoa, năm 2001; Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Luận án tiến sĩ lịch sử của Lê
Thị Hòa, năm 2010;v.v…Các công trình luận án này đã đề cập đến chủ trương và quá trình Hồ Chí Minh và ĐLĐVN lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong các giai đoạn kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Các tác giả đều khẳng định rằng, các mặt trận - hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc như: Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam đã đóng góp đáng kể vào quá trình tập hợp lực lượng, thêm bạn, bớt thù, làm tăng thêm sức mạnh của cuộc đấu tranh thống nhất đất nước
Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời của Trường Chinh, Báo Sự thật, số
38, 1/6/1946; Hồ Chí Minh hoàn thiện về đường lối chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Mặt trận dân tộc thống nhất ở Việt Nam của Lê Mậu Hãn, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2/1992; Theo ngọn cờ đoàn kết của Hồ Chí Minh của Mạch Quang Thắng, Nghiên cứu lý luận, số 7/2000; Chữ “Đồng” trong quan điểm Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân của Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Cộng sản, số tháng 7/2001; Tìm hiểu về đoàn kết lương giáo và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh của Vũ Văn Hậu, Tạp chí Dân vận, số tháng 7/2001; Tấm lòng khoan dung độ lượng của Bác Hồ đối với những người lạc lối, lầm đường của Song Thành, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7/2001; Đi tìm nét tương đồng, điểm quy tụ của toàn dân tộc trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh của Bùi Đình Phong, Tạp chí Dân vận, số 5/2002; Đại đoàn kết dân tộc - cội nguồn sức mạnh của chúng ta của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Báo Tuổi trẻ, ngày
31/5/2005;v.v…
Những bài báo khoa học này đã nêu lên một cách tổng quan tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, gồm các nội dung: đoàn kết giữa các lực lượng dân tộc, giữa các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, giữa những người không theo tôn giáo với những người theo các tôn giáo khác nhau; các hình thức
tổ chức đoàn kết là các loại hình mặt trận; các nguyên tắc và phương pháp xây
Trang 22dựng khối đoàn kết dân tộc Trong phần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, các tác giả cũng khái quát những thành tựu của quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nhìn chung, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh và quá trình Đảng vận dụng tư tưởng đó vào các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ vì mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mới được thể hiện một cách tổng quát, chưa đi sâu vào chi tiết
Ngoài ra còn có nhiều luận văn, luận án, bài báo nghiên cứu về cuộc đời và
sự nghiệp của Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc đấu tranh thống nhất đất nước do
Hồ Chí Minh và ĐLĐVN lãnh đạo cùng hàng nghìn bài viết khác về Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực khác nhau Các công trình này cung cấp cho tác giả đề tài luận
án nhiều ý tưởng và nguồn tư liệu để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam nói chung
Các tác phẩm Việt Nam 1945 - 1995: Chiến tranh, tị nạn và bài học lịch sử, tập 1 của Lê Xuân Khoa, Tiên Rồng xuất bản, 2004; Việt sử khảo luận của Hoàng
Cơ Thụy, Nhà xuất bản Nam Á, Paris, 2002; Bên dòng lịch sử của Cao Văn Luận, Nhà xuất bản Trí Dũng, Sài Gòn, 1972; Việt Nam máu lửa của Nghiêm Kế Tổ, Mai Lĩnh xuất bản, Sài Gòn, 1954; Việt Nam máu lửa quê hương tôi của Hoành
Linh Đỗ Mậu, Nhà xuất bản Quê hương, Nam California, Hoa Kỳ, 1986;v.v
Đây là một số tác phẩm của một số tác giả đã từng là nhà khoa học, nhà chính trị, quân sự của chế độ Việt Nam Cộng hòa (1954 - 1975), hiện sống ở nước ngoài Mặc dù không tránh khỏi những quan điểm mang tính ý thức hệ của phía đối lập với lực lượng kháng chiến của dân tộc, các tác phẩm này đã lý giải tương đối khách quan nguyên nhân thất bại của chính quyền Bảo Đại trước năm 1954 và chế độ Việt Nam Cộng hòa từ năm 1954 đến năm 1975 Trong đó, nổi bật lên là các nguyên nhân không có được tính chính danh, thiếu sự ủng hộ của nhân dân ngay từ đầu, các nhân vật lãnh đạo yếu kém đạo đức, không có thành tích chính trị, kinh nghiệm điều hành, chạy theo tư lợi, bất đồng quan điểm, đấu đá nội bộ, không chú trọng xây dựng khối đoàn kết dân tộc, quá phụ thuộc vào lực lượng bên ngoài, v.v… Ở các tác phẩm này, các tác giả cũng đã so sánh với lực lượng kháng chiến, trong đó nêu bật lên vai trò của Hồ Chí Minh, một nhà lãnh đạo dày dặn kinh nghiệm, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, biết tạo và dữ thế
Trang 23chính danh, chính nghĩa cho lực lượng của mình, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, của các lực lượng quốc tế ngay từ đầu và trong suốt các cuộc chiến tranh
Why Vietnam Tại sao Việt Nam của Archimedes L.A.Patti , Nhà xuất bản
Đà Nẵng, năm 2008; Goodman, Allan E, Politics in War: The Bases of Political Community in South Vietnam,Harvard University Press, 1973; David G.Marr (2013), Vietnam State, War, and Revolution (1945 - 1946), University of California press; Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của Ph Gioay, Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội, 1981; Philippe Devillers, Paris - Saigon - Hanoi , Gallimard/Julliard Press, Paris, 1988;v.v…
Các tác phẩm này đã chỉ ra tham vọng và các bước đi chiến lược của Mỹ, Pháp, Trung Quốc và một số cường quốc khác đối với vấn đề Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, thái độ và hành động của các thế lực này đối với lực lượng cách mạng do Hồ Chí Minh đứng đầu và các lực lượng chính trị khác ở Đông Dương Các tác giả đã chỉ ra sai lầm của Mỹ, Pháp trong việc quá nhấn mạnh đến khía cạnh cộng sản của Chính phủ Hồ Chí Minh, mà không thấy rằng trước hết Hồ Chí Minh và các đồng chí là những người yêu nước, yêu đồng bào của mình, kiên định theo đuổi độc lập, thống nhất cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho đồng bào mình; phía Pháp đã cố bám giữ lập trường thực dân phản động và cuồng vọng khôi phục thuộc địa Đông Dương mà không quan tâm rằng thời thế đã thay đổi, Chính phủ Hồ Chí Minh được toàn dân ủng hộ, luôn thể hiện thiện chí hòa bình, nhưng kiên quyết bảo vệ nền độc lập, thống nhất của đất nước mình Từ
đó, họ đã gây ra cuộc chiến tranh Đông Dương hao người, tốn của, để lại nhiều hệ lụy cho cả hai bên và cuối cùng, họ vẫn không thể tránh khỏi thất bại
Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ của G.C Herring, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998; Vietnam, The Ten Thousand Day War (Việt Nam, cuộc chiến tranh mười ngàn ngày) của Micheal Maclear, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1990; Những bài học của chiến tranh Việt Nam của Shingo Shibata, Viện thông tin khoa học xã hội dịch và phát hành, Hà Nội, 1976; Giải phẫu một cuộc chiến tranh của Gabriel Kolko, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1991; Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam của Robert S.McNamara (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; Cuộc tranh cãi không dứt của đồng tác giả Robert S.McNamara, Jammes Blight, Robert Brigham,
Thomas Biersteker và Col Herbert Schandler, Xuất bản tại Newyork, 1999, Tổng cục II dịch và phát hành, Hà Nội, 1999;v.v…
Trang 24Những công trình này mô tả về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, nhìn nhận những “cơ hội bị bỏ lỡ”, phân tích các nguyên nhân cơ bản dẫn đến thất bại của Mỹ ở Việt Nam, rút ra những bài học từ cuộc chiến tranh Việt Nam để vận dụng cho thế kỷ XXI Các tác giả ghi nhận uy tín của Hồ Chí Minh và các đồng chí của mình xây dựng được khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết được đông đảo các lực lượng tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ, xem đó
là nguyên nhân cơ bản dẫn đến thành công của Việt Nam và cũng là thất bại của
Mỹ Một trong các nguyên nhân sâu xa dẫn đến thất bại của phía Mỹ là đã đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh cho lý tưởng và các giá trị của nó
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh
Cuốn Đồng chí Hồ Chí Minh của Ép-ghê-nhi Ca-bê-lép, Nhà xuất bản
Thanh niên, Hà Nội, 1985 Đây là một trong những cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh do người nước ngoài viết được xuất bản sớm nhất Trong tác phẩm này, tác giả đã tái hiện một cách chân thực về những sự kiện cơ bản xuyên suốt cuộc đời của Hồ Chí Minh trong bối cảnh không gian và thời gian lịch sử mà Người sống và hoạt động Hoạt động chỉ đạo, động viên nhân dân đấu tranh thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh từ năm 1954 đến năm 1969 được trình bày một cách gián tiếp, khái quát qua phần 2 của cuốn sách thông qua việc nêu lên một số những hoạt động tiêu biểu của Hồ Chí Minh trong thời gian này
Các cuốn Ho Chi Minh: A lifecủa William J Duiker, Hyperion Publisher, 2000; Hồ Chí Minh - một chặng đường của Lady Boton, Nhà xuất bản Thế giới,
Hà Nội, 2008; Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh: The missing years, University
of California Press, 2002 Đây là những cuốn tiểu sử có giá trị lớn về Hồ Chí Minh Trong các công trình này, các tác giả với lợi thế tiếp cận sớm và đầy đủ với kho lưu trữ của quốc tế cộng sản, các tài liệu được lưu trong văn khố Pháp, văn khố Mỹ, đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú về tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh
Các tác giả đi sâu phân tích mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh với Quốc tế Cộng sản, với các lực lượng quốc tế ảnh hưởng đến cuộc vận động cách mạng của
Hồ Chí Minh, quan hệ giữa Hồ Chí Minh với các đồng chí của mình, với các lực lượng chính trị người Việt khác Từ đó chỉ ra rằng chủ nghĩa dân tộc và tinh thần
ái quốc là động lực cơ bản thúc đẩy sự nghiệp Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc
Trang 25thông qua hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất là chiến lược cơ bản, xuyên suốt của Hồ Chí Minh, dù có những lúc Hồ Chí Minh phải im lặng trước cuộc đấu tranh giai cấp nổi lên trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và từ năm
1953 trở về sau, do yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh phải thỏa hiệp với chiến lược giai cấp chống giai cấp được thúc đẩy từ bên ngoài để tìm kiếm sự ủng hộ của các lực lượng cách mạng quốc tế, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước
Chủ đề “Hồ Chí Minh với sự nghiệp thống nhất đất nước trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ(1954 - 1975)” được thể hiện rõ nhất trong tác phẩmHo Chi Minh:
A life của William J Duiker Ông đã chỉ ra rằng Hồ Chí Minh chính là biểu tượng
của cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam Theo William J Duiker, Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo “quyền biến”, kiên định đến cùng với mục đích thống nhất đất nước, nhưng lại hết sức linh hoạt, mềm dẻo trong phương thức thực hiện, luôn gắn cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam với sự biến động không ngừng của tình hình quốc tế, nhất là sự vận động chung của các lực lượng cách mạng thế giới, kết hợp các nỗ lực trong nước với những thuận lợi của tình hình bên ngoài, liên kết với các lực lượng cách mạng quốc tếđể từng bước thực hiện thắng lợi mục tiêu thống nhất đất nước
1.3 Những thành tựu đã đạt đƣợc và những vấn đề luận án cần giải quyết
1.3.1 Những thành tựu đã đạt được
Liên quan đến đề tài “Hồ Chí Minh với sự nghiệpthống nhất đất nướctrong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954- 1975)”, các nhóm công trình nêu trên đã giải quyết một số vấn đề sau:
Một là, làm rõ bối cảnh lịch sử của cuộc đấu tranh vì mục tiêu thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức và dưới tầm ảnh hưởng của Hồ Chí Minhtừ năm 1954 đến năm 1975
Các nhóm công trình nêu trên, nhất là các công trình khoa học lịch sử của các tác giả trong và ngoài nước đã nêu lên và phân tích đầy đủ các sự kiện lịch sử trong nước và thế giới liên quan trực tiếp đến Việt Nam trong thế kỷ XX Vì thế, bằng việc khảo cứu các công trình nêu trên, chắt lọc các sự kiện lịch sử liên quan đến đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài này, ta thấy bối cảnh lịch sử của chủ
đề “Hồ Chí Minh với sự nghiệp thống nhất đất nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)” đã được thể hiện sáng rõ
Trang 26Nhóm công trình của các nhà nghiên cứu lịch sử nước ngoài cho thấy tham vọng, các tính toán chiến lược, bước đi cụ thể của Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc và các cường quốc khác trong các giai đoạn lịch sử khác nhau đã đẩy Việt Nam đến những lựa chọn lịch sử giữa độc lập hay lệ thuộc, tự do hay nô lệ, thống nhất hay phân ly, v.v… Phần lớn nhân dân Việt Nam, ĐLĐVN, Nhà nước VNDCCH, đứng đầu là Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường độc lập dân tộc, tự
do nhân dân, thống nhất đất nước Nhóm công trình của các nhà khoa học lịch sử trong nước đã chỉ ra âm mưu và sự can thiệp ở các mức độ khác nhau, theo các tính chất khác nhau của các nước lớn vào nội tình Việt Nam, những thuận lợi và khó khăn trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau trong thời kỳ từ năm 1954 đến năm
1975 Đó chính là những cơ sở để Đảng, Nhà nước, đứng đầu là Hồ Chí Minh đề
ra và tổ chức nhân dân thực hiện những nhiệm vụ chiến lược, sách lược giải quyết những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề thống nhất đất nước từ 1954 đến năm 1975
Hai là, gián tiếp đề cập đến một số vấn đề lý luận thống nhất đất nước của
Hồ Chí Minh
Các công trình lịch sử Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các góc độ khác nhau
đã chỉ ra hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, được Đảng cụ thể hóa thành chủ trương, đường lối, bộ máy Nhà nước thể chế hóa thành chính sách, pháp luật và các quyết định hành chính để điều hành nhân dân tiến hành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ từ năm
1954 đến năm 1975
Các công trình này đã gián tiếp nêu lên quan niệm của Hồ Chí Minh về nội dung thống nhất đất nước gồm: thống nhất lãnh thổ (Chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm), thống nhất dân tộc (Đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của cách mạng), thống nhất hệ thống chính trị (xây dựng Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc thống nhất và cơ chế quan hệ giữa các tổ chức này), thống nhất kinh tế và văn hóa (Xây dựng nền kinh tế, văn hóa kháng chiến vừa để củng cố nền tảng vật chất, tinh thần cho lực lượng kháng chiến, vừa chống lại nền kinh tế, văn hóa thực dân, giành sự ủng hộ của nhân dân vùng địch tạm chiếm) Đồng thời, các công trình này đã nêu lên phương cách mà Hồ Chí Minh đã đưa ra
để thống nhất đất nước gồm: quán triệt đường lối tiến hành đồng thời hai chiến
Trang 27lược cách mạng: CMXHCN ở miền Bắc và CMDTDCND ở miền Nam, đảm bảo
sự lãnh đạo và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đảm bảo hiệu lực và nâng cao hiệu quản lý của nhà nước VNDCCH, đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước
Ba là, đã chỉ ra rằng Hồ Chí Minh là người khởi xướng và là biểu tượng của sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1975
Các công trình Hồ Chí Minh học, khoa học lịch sử nêu trên ở các mức độ
và góc độ khác nhau đều đã đề cập đến vai trò của Hồ Chí Minh với sự nghiệp thống nhất đất nước từ năm1954 đến năm 1975 Vai trò đó thể hiện tập trung ở chỗ Hồ Chí Minh là người khởi xướng và đứng vị trí trung tâm tổ chức cuộc vận động thống nhất đất nước theo khuynh hướng dân chủ nhân dân trên nền tảng liên minh công, nông, lao động trí óc do ĐLĐVN lãnh đạo Dù năm 1969, Hồ Chí Minh qua đời nhưng các đồng chí của Hồ Chí Minh và nhân dân cả nước vẫn trung thành với đường lối thống nhất đất nước do Hồ Chí Minh khởi xướng, đưa đến ngày toàn thắng 30 - 4 - 1975
Các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đạiđều chỉ
ra rằng chính sách xâm lược, cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam trước và sau năm 1945, chính sách can thiệp của Mỹ vào Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 gặp nhau ở điểm chung là thực hiện chia cắt lãnh thổ Việt Nam, chia rẽ dân tộc Việt Nam, phân chia chế độ chính trị ở Việt Nam, đi ngược lại đặc tính thống nhất, không thể phân chia của đất nước Việt Nam Liên quan trực tiếp đến đề tài, các công trình trên đã làm rõ việc đế quốc Mỹ thế chân thực dân Pháp tiếp quản miền Nam Việt Nam, thực hiện chính sách thực dân mới ở Nam Việt Nam từ năm
1954 đến năm 1975, dựng lên chính quyền VNCH do Ngô Đình Diệm, các nhóm tướng lĩnh quân phiệt, Nguyễn Văn Thiệu thay nhau lãnh đạo, thực hiện chia cắt lâu dài đất nước, chia rẽ dân tộc Nền thống nhất đất nước, một trong những thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, được toàn dân xây dựng, đã bị các thế lực ngoại xâm và nội phản phá vỡ
Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng, nhà nước VNDCCH, tiếp tục sự nghiệp của Cách mạng Tháng Tám, tổ chức cuộc vận động giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước theo khuynh hướng dân chủ nhân dân trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp lao động trí óc, do
Trang 28giai cấp công nhân lãnh đạo Cuộc vận động ấy mặc dù bị kẻ thù ra sức ngăn trở, phải trải qua nhiều gian khổ, hi sinh, nhưng vì Hồ Chí Minh và các đồng chí của mình có chiến lược, sách lược đúng, hợp hoàn cảnh, thuận lòng người, được nhân dân cả nước tích cực hưởng ứng, tham gia, cộng đồng quốc tế ủng hộ, giúp đỡ nên
đã cơ bản hoàn thành vào ngày 30 - 4 - 1975
1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu, tiếp tục giải quyết
Thống nhất đất nước là một trong những nội dung căn bản của lịch sử Việt Nam, một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh Đề tài “Hồ Chí Minh với sự nghiệp thống nhất đất nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ(1954- 1975)” được thực hiện trên cơ sở khảo cứu, kế thừa, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa các kết quả nghiên cứu từ các công trình liên quan đến đề tài Để tránh sự tản mát khi lựa chọn một đề tài quá lớn, thuộc về cả
sử học và Hồ Chí Minh học, liên quan đến chính trị học, kinh tế học, văn hóa học, khoa học quân sự, v.v…, phù hợp với khuôn khổ một luận án tiến sĩ lịch sử, từ cách tiếp cận theo chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, đề tài dự định tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Một là, làm rõ bối cảnh lịch sử của vấn đề thống nhất đất nước trước và sau
Hội nghị Genève.Trong đó nêu lên khái quát quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân đấu tranh thống nhất đất nước từ năm 1945 đến năm 1954, những thành quả và kinh nghiệm đạt được trong giai đoạn này là tiền đề thuận lợi cho giai đoạn đấu tranh sau đó; chỉ rõ lập trường kiên quyết bảo vệ nền thống nhất đất nước của chính phủ VNDCCH và ý đồ đối với Việt Nam của các nước lớn tại Hội nghị Genève;đặc biệt làm rõ rằng Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Genève, thực hiện việc chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, đây là lý do
để Hồ Chí Minh phát động, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân Việt Nam đấu tranh thống nhất đất nước
Hai là, làm rõ quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân
đấu tranh hòa bình thống nhất đất nước trong những năm 1954 - 1960 Trong đó, chỉ racơ sở lịch sử để Hồ Chí Minh phát động nhân dân đấu tranh hòa bình thống nhất đất nước, quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạoxây dựng đường lối, xây dựng ĐLĐVN, nhà nước VNDCCH, khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tếđể thúc đẩy cuộc đấu tranh này; làm rõ quá trình Hồ Chí Minh chỉ đạo tổ chức nhân dân xây dựng miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh hòa bình thống
Trang 29nhất đất nước; chỉ đạo tổ chức đồng bào miền Nam đấu tranh hòa bình, đòi đối phương thi hành Hiệp định Genève, tiến hành tổng tuyển cử tự do, thống nhất đất nước, đồng thời chuẩn bị cho tình huống phải chuyển sang đấu tranh vũ trang trường kỳ; từ việc mô tả những quá trình nêu trên, chỉ ra những thành quả, hạn chế và kinh nghiệm - những tiền đề cho giai đoạn kháng chiến chống Mỹ thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước diễn ra sau đó
Ba là, làm rõquá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân
kháng chiến chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước trong những năm 1961 - 1969 Trong đó, chỉ ra lý do để Hồ Chí Minh chuyển từ lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân đấu tranh hòa bình sang kháng chiến thống nhất đất nước; làm rõ quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng đường lối kháng chiến thống nhất đất nước, xây dựng Đảng, Nhà nước, khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế để thúc đẩy cuộc kháng chiến đó; quá trình Hồ Chí Minh chỉ đạo tổ chức nhân dân miền Bắc xây dựng CNXH, làm nghĩa vụ hậu phương lớn với tiền tuyến lớn miền Nam, chỉ đạo tổ chức đồng bào, chiến sĩ miền Nam kháng chiến chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước giai đoạn 1961 - 1965; quá trình Hồ Chí Minh chỉ đạo tổ chức nhân dân hai miền Nam Bắc chống Mỹ xâm lược, hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của mình, thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước giai đoạn 1965- 1969; từ việc làm rõ những quá trình trên, chỉ ra những thành quả, hạn chế, kinh nghiệm, đồng thời làm rõ quá trình ĐLĐVN tiếp tục lãnh đạo, tổ chức nhân dân đấu tranh hoàn thành thống nhất đất nước giai đoạn 1969 - 1975
Bốn là, đưa ra một số nhận xét, đúc rút một số kinh nghiệmtừ việc tìm hiểu
quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo,chỉ đạo tổ chức nhân dân đấu tranh thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1969,quá trình ĐLĐVN kế thừa tư tưởng và ý chí thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh, lãnh đạo nhân dân đấu tranh hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước từ năm 1969 đến năm 1975, so sánh với công cuộc thống nhất nước Đức và vấn đề thống nhất hai miền Triều Tiên; liên hệ với công cuộc xây dựng và bảo vệ Việt Nam hiện nay
Trang 30Chương 2
HỒ CHÍ MINH VỚI CUỘC ĐẤU TRANH HÕA BÌNH THỐNG NHẤT ĐẤT
NƯỚC TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1960 2.1 Việt Nam bị chia cắt sau Hiệp định Genève (7 - 1954)
2.1.1 Khái quát quá trình đấu tranh thống nhất đất nước trước tháng 7 - 1954
- Khái niệm về đất nước và thống nhất đất nước
John Stuart Mill, trongChính thể đại diện (Representative government), vào
năm 1861 đã khẳng định: Ta có thể nói rằng một bộ phận của loài người tạo thành một Quốc gia, nếu họ thống nhất với nhau bởi những thiện cảm chung, mà chúng không tồn tại giữa họ với bộ phận nào đó khác - những thiện cảm chung ấy khiến
họ hợp tác với nhau một cách tự nguyện hơn là với người khác, mong muốn được
ở dưới cùng một chính quyền, và mong muốn rằng đó phải là chính quyền của chính họ, hay một bộ phận đơn thuần của họ [134; tr 481]
Các nước châu Á, trong đó có Việt Nam cũng có cách nhìn nhận về quốc gia như vậy, cách nhìn nhận ấy tồn tại trong tiềm thức của họ từ lâu trước khi người châu Âu xuất hiện khái niệm về quốc gia, nhưng họ thường gọi quốc gia bằng những khái niệm như nước, đất nước, tổ quốc, giang sơn, non sông,v.v Đối với Việt Nam, ý thức về đất nước không phải ra đời và hoàn thiện ngay một lúc
mà phải trải qua một quá trình lâu dài Đến Thời Lý, trong bài thơ Thần, ý thức và tình cảm về đất nước đã được thể hiện rõ: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư ”, nước
Nam do hoàng đế người Nam trị vì, tức là ở địa vị ngang hàng với nước Tống do
hoàng đế nhà Tống làm chủ Đến Thời Lê, trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn
Trãi, khái niệm về đất nước đã trở nên rõ ràng hơn Ông đã khẳng định đất nước với các thành tố: một nền văn hóa, gồm văn hiến (“Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”) và phong tục (“Phong tục Bắc Nam cũng khác”); một lãnh thổ (“Núi sông bờ cõi đã chia”); một lịch sử (“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”); một chính quyền thống nhất (“Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”)
ĐếnHồ Chí Minh,khái niệm về đất nước được nhìn nhận một cách bao quát hơn.Quan niệm của Hồ Chí Minh về đất nước đã được thể hiện tập trung trong bài Diễn văn tại cuộc mít tinh của nhân dân Niu Đêli (Ấn Độ): “Nước Việt Nam là một, từ Nam chí Bắc chung một tiếng nói, một lịch sử, một nền văn hóa và một
Trang 31nền kinh tế Nhân dân Việt Nam đã hy sinh nhiều xương máu đấu tranh cho tự do độc lập, quyết không một lực lượng nào ngăn cản được sự nghiệp thống nhất Tổ quốc của mình” [180; tr 259] Khái niệm về đất nước nêu trên của Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng đầy đủ và sâu sắc, phù hợp với tiềm thức về đất nước của nhân dân Việt Nam, đồng thời phù hợp với quan niệm hiện đại về đất nước, được các nước trên thế giới chấp nhận rộng rãi Ở đây, Hồ Chí Minh cũng khẳng định
rõ tính thống nhất là đặc tính cơ bản, quy định sự tồn tại của đất nước Trong đó, thống nhất về tình cảm đối với đất nước hay lòng yêu nước là mạnh mẽ nhất Điểm khác biệt, độc đáo là Hồ Chí Minh đã bổ sung thêm và đề cao ý chí thống nhất đất nước
Hồ Chí Minh nêu rõ thống nhất đất nước là tổng hòa của các yếu tố thống nhất đường lối, mục đích, lý tưởng cách mạng nhân văn, tiến bộ, thống nhất Đảng, Nhà nước, thống nhất dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thống nhất kinh tế - xã hội, văn hóa và quốc phòng, thống nhất lãnh thổ Các yếu
tố đó tồn tại đan xen với nhau, nương tựa vào nhau, thúc đẩy lẫn nhau Sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo, động viên từ 1954 đến 1969 và dưới ảnh hưởng tư tưởng của
Hồ Chí Minh từ 1969 đến 1975 được thực hiện trên tất cả các nội dung đó
- Khái quát quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân đấu tranh vì mục tiêu thống nhất đất nước trước tháng 7 - 1954
Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, bên cạnh những khó khăn to lớn về kinh tế - xã hội và văn hóa, nền thống nhất đất nước bị
đe dọa và từng bước bị xâm phạm bởi ngoại xâm, nội phản Theo hiệp ước Potsdam, lực lượng Đồng Minh gồm quân Anh và quân Trung Hoa vào Việt Nam
để giải giáp vũ khí quân đội Nhật Ở miền Bắc, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch, đứng đầu làtướng Lư Hán, Tư lệnh quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng ở Việt Nam cùng tướng Tiêu Văn, Cố vấn chính trị, bắt đầu chuyển quân vào Việt Nam Ở miền Nam, chỉ bốn ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh - Pháp Quân Anh, trên danh nghĩa theo lệnh Đồng Minh vào giám sát quân Nhật đầu hàng, đã tạo mọi điều kiện cho quân Pháp vào Nam Bộ Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ Đông Dương thuộc Pháp Ngày 23 - 9 - 1945, với
sự giúp đỡ của Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn
Trang 32Một đất nước mới được dựng lại thì điều cần thiết nhất là hòa bình Trước việc các thế lực ngoại xâm và nội phản tìm cách chia cắt lâu dài đất nước, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo chính phủ VNDCCH kiên trì tìm kiếm giải pháp hòa bình, thậm chí nhân nhượng có nguyên tắc để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ Hồ Chí Minh xác định: “Chính sách của ta hiện nay phải là chính sách Câu Tiễn Nhưng nhẫn nhục không phải là khuất phục” [12; tr 78] Việc Hồ Chí Minh điều hành chính phủ VNDCCH thực thi thành công chính sách hòa hoãn với quân Tưởng đã giúp Việt Nam tránh được tình thế cùng lúc đối đầu với nhiều kẻ thù, tranh thủ thời gian hòa hoãn để giữ vững và phát triển thực lực cách mạng, tập trung lực lượng ngăn chặn thực dân Pháp trở lại xâm lược
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, động viên đồng bào Nam Bộ tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh luôn thể hiện thiện chí hòa bình, luôn
để ngỏ khả năng thương lượng để vãn hồi hòa bình với điều kiện Pháp phải tôn trọng nền độc lập, thống nhất của Việt Nam Ngay từ khi bắt đầu cuộc chiến, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở đồng bào Nam Bộ phải tỏ rõ chính nghĩa và văn minh, qua
đó nhắn gửi thông điệp hòa bình tới các nhà lãnh đạo Pháp Sau khi chiếm được các đô thị, các tuyến giao thông chính ở miền Nam, Pháp đã tập hợp số tay sai cũ lập ra bộ máy cai trị các cấp, triệt để thực hiện chính sách “chia để trị”, tách Nam
Bộ khỏi lãnh thổ Việt Nam Tháng 2 - 1946, Jean Cédile, Ủy viên Cộng hòa Nam Kỳcho lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ với thâm ý tách dần chính trị Nam Kỳ khỏi những biến động và thương thuyết ở Bắc và Trung Kỳ [249; tr 20]
Đồng thời, giới chính trị, quân sự Pháp tìm cách đưa quân ra Bắc Bộ, tiếp tục tham vọng khôi phục lãnh thổ Đông Dương thuộc Pháp Ngày 28 - 2 - 1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết, mở đường cho Pháp đưa quân vào thay thế
quân Tưởng ở Bắc Việt Nam Ngày 3 - 3 - 1946, BTVTƯĐ ra Chỉ thị tình hình và chủ trương, chỉ rõ: “Vấn đề lúc này, không phải là muốn hay không muốn đánh
Vấn đề là biết mình biết người, nhận một cách khách quan những điều kiện lời lãi trong nước, ngoài nước mà chủ trương cho đúng” [52; tr 43 - 44] Hồ Chí Minh
đã điều hành Chính phủ liên hiệp kháng chiến thực hiện sách lược hòa hoãn với Pháp Ngày 6 - 3 - 1946, trước mặt đại diện các nước Trung Hoa, Anh và Mỹ, Hồ
Chí Minh và Vũ Hồng Khanh đã ký với J.Sainteny bản Hiệp định sơ bộ, bản Phụ khoản Trong đó có điều khoản: Chính phủ Pháp công nhận nước VNDCCH là
một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp
Trang 33Ngày 31 - 5 - 1946, cùng ngày phái đoàn chính phủ VNDCCH sang Fontainebleau đàm phán chính thức, Hồ Chí Minh đã lên đường sang thăm Pháp Trong cuộc họp báo ngày 12 - 7 - 1946, khi được hỏi sẽ làm thế nào nếu Nam Kỳ
từ chối không sát nhập vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã trả lời: “Nam Kỳ cùng một
tổ tiên với chúng tôi, tại sao Nam Kỳ lại không muốn ở trong đất nước Việt Nam? Người Baxcơ (Basques), người Brơtôn (Breton) không nói tiếng Pháp mà vẫn là người Pháp Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao lại còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất nước Việt Nam?” [174; tr 315] Có thể thấy, Hồ Chí Minh đã dẫn chứng về tính thống nhất của nước Pháp, người Pháp để khẳng định tính thống nhất, không thể phân chia của đất nước, nhân dân Việt Nam
Do phía Pháp vẫn cố giữ lập trường thực dân, trước và trong thời gian đàm phán, họ liên tiếp vi phạm các điều khoản của Hiệp định sơ bộ, nhất là việc giới chức Pháp đơn phương tán thành việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, quyết tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam Vì thế, cuộc đàm phán ở Fontainebleau thất bại
Để vãn hồi hòa bình, tranh thủ thêm thời gian hòa hoãn chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài, ngày 14 - 9 - 1946, Hồ Chí Minh đã ký với Bộ trưởng Bộ nước Pháp hải
ngoại M Moutet bản Tạm ước Trong thời gian đàm phán, hòa hoãn với thực dân
Pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo, động viên nhân dân Việt Nam tích cực chuẩn bị căn cứ địa, lực lượng, phương tiện, vũ khí, lương thực, thực phẩm… cho cuộc kháng chiến trường kỳ đã được dự kiến là không thể tránh khỏi
Ngày 19 - 12 - 1946,Hồ Chí Minh phát động toàn quốc kháng chiến khi sự
“lấn tới” của thực dân Pháp đã đi đến tận cùng Triển khai đường lối kháng chiến, kiến quốc với phương châm toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, Hồ Chí Minh đã điều hành Chính phủ tổ chức quân dân kháng chiến giữ địch trong các đô thị; di tản nhân dân, các cơ quan Đảng, Chính quyền, kho tàng, máy móc ra khỏi các đô thị, các vùng chiến sự; phá hoại đường sá, cầu cống, nhà cửa, ngăn cản bước tiến của Pháp, thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống”
Những cuộc phản công, tấn công phủ đầu của quân dân Hà Nội và các địa phương đã phá tan âm mưu của Pháp định tiêu diệt các lực lượng vũ trang cách mạng ở các thành phố lớn và định đánh úp các cơ quan đầu não của VNDCCH ở
Hà Nội [199; tr 196], tạo điều kiện cho cuộc tổng di chuyển nhân dân, cơ quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận về hậu phương Đến tháng 3 - 1947, Hồ Chí Minh và các cơ quan lãnh đạo Trung ương đã chuyển lên căn cứ Việt Bắc an toàn
Trang 34Thực dân Pháp tiếp tục có những bước đi leo thang trong việc phá hoại nền thống nhất Việt Nam Một mặt, lực lượng quân sự Pháp ráo riết chuyển bị cuộc tiến công thu đông năm 1947 lên căn cứ địa Việt Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, quân chủ lực và cơ sở hậu cần của VNDCCH Mặt khác, giới chính trị Pháp đẩy mạnh tiếp xúc, vận động, mua chuộc Bảo Đại và các đảng phái đối lập với mục đích thành lập chính phủ do Bảo Đại đứng đầu, mưu toan thay thế chính phủ VNDCCH trong các cuộc thương thuyết với Pháp, ký kết các hiệp định
có lợi cho nền thống trị của Pháp ở Việt Nam [160; tr 160 - 162]
Sau thất bại của cuộc tấn công Việt Bắc, để tiếp tục cuộc chiến tranh, Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược từ “đánh nhanh thắng nhanh” chuyển sang
“đánh kéo dài” với chính sách căn bản là “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, tiến hành bình định, củng cố vùng tạm chiếm Ngày
27 - 5 - 1948, Pháp “ghi nhận” việc thành lập chính phủ Nguyễn Văn Xuân Ngày
8 - 3 - 1949, Bảo Đại ký với Vincent Auriolthỏa ước Auriol - Bảo Đại, theo đó nền độc lập, thống nhất Việt Nam được công nhận một cách hình thức trong khuôn khổ liên hiệp Pháp Từ đó đến năm 1954, Chính phủ “quốc gia” do Bảo Đại làm Quốc trưởng, đã liên tục cải tổ và thay đi, đổi lại nhiều lần, song vẫn chỉ
là cái “bình phong” phụ họa cho các quyết định của Pháp Đối với việc Pháp lập Chính phủ Bảo Đại - Nguyễn Văn Xuân, Hồ Chí Minh đã tố cáo tính bất hợp pháp, vạch trần tính bù nhìn, phơi bày tính tay sai Khi Bảo Đại ký với Pháp Thỏa ước Élysée, Hồ Chí Minh khẳng định Thỏa ước đó “chỉ như một mảnh giấy lộn Độc lập và thống nhất viết trong thoả ước là giả dối” [176; tr 77 - 78]
Tháng 10 - 1949,Cách mạng Trung Quốc thành công, nước CHND Trung Hoa ra đời Từ đây, hệ thống XHCN đã nối dài từ Âu sang Á, tiến sát biên giới Việt Nam, mở ra cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam một vùng hậu phương rộng lớn Trong khi đó,để bảo vệ quyền lợi và ảnh hưởng của mình ở khu vực Đông Nam Á, Mỹ đã đẩy mạnh giúp Pháp về tiền bạc,
vũ khí và phương tiện, làm cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam trở thành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.Trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được trong thời gian phòng ngự, cầm cự từ
1946 đến 1950, trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, trong nước, Hồ Chí Minh và ĐLĐVN chủ trương “chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công”
Ngày 2 - 9 - 1950, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi về chiến dịch Cao - Bắc - Lạng,
với chỉ thị “Chúng ta quyết đánh thắng trận này” [176; tr 430] Thắng lợi của chiến dịch Biên giới đã đưa cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới
Trang 35Để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đến thắng lợi phải huy động tối đa sức dân, của dân, tài dân phục vụ chiến trường Muốn thực hiện việc này, điều cốt yếu là phải an dân, dưỡng dân, đặc biệt là nông dân
Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nông dân, vì thế quyền lợi của nông dân đã được chỉ đạo giải quyết từng bước phù hợp với tiến trình thắng lợi của cuộc kháng chiến Chế độ dân chủ nhân dân được củng cố và phát triển vững mạnh là cơ sở để Hồ Chí Minh và BCHTƯĐ lãnh đạo nhân dân Việt Namđẩy mạnh các hoạt động quân sự, phát huy thế chủ động chiến lược, tích cực mở các chiến dịch tiến công và phản công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng từng phần đất đai và nhân dân Tháng 5 - 1953, với sự thỏa thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp cử Navarre sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương Navarre đã
đề xuất Kế hoạch Navarre [9; tr 190 - 191] được Chính phủ Pháp và can thiệp
Mỹ phê duyệt Đối phó với Kế hoạch Navarre, Hồ Chí Minh đề ra phương hướng
chiến lược đúng đắn là “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch
và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do” [178; tr 28] Trên cơ sở đó, quân dân Việt Nam đã mở đợt tiến công mạnh mẽ trên khắp các chiến trường, hình thành năm đòn chiến lược [9; tr 197 - 201] Các cuộc tiến công chiến lược và phối hợp đã làm đảo lộn kế hoạch Navarre, tạo điều kiện thuận lợi cho VNDCCH
mở chiến dịch Điện Biên Phủ
Từ đầu tháng 12 - 1953, công cuộc chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ được tiến hành khẩn trương Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được” [9; tr 202].Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra
từ ngày 13 - 3 đến ngày 7 - 5 - 1954 Trải qua 55 ngày đêm chiến đấu với tinh thần đoàn kết, quả cảm, vượt gian khổ, hi sinh, quân dân Việt Nam đã giành chiến thắng Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp, can thiệp Mỹ kết thúc thắng lợi, Hiệp định Genève được ký kết, mở ra một giai đoạn mới trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam
2.1.2 Ý đồ chia cắt Việt Nam của các nước lớn tại Hội nghịGenève
Đầu những năm 1950 là thời kỳ cao điểm của Chiến tranh Lạnh Dưới tác động của nó, thế giới chia thành hai phe rõ rệt và trải qua sự đụng đầu trong cuộc khủng hoảng Berlin năm 1948, chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953), Đông
Trang 36Dương (1945 - 1954) Tháng 3 - 1953, J.Stalin qua đời, nội bộ lãnh đạo Liên Xô trượt dần vào khủng hoảng và có nhu cầu hòa hoãn với phương Tây Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn sau cuộc chiến hao người tốn của ở Triều Tiên vì thế cũng mong muốn môi trường hòa bình để phát triển Hơn nữa, lãnh đạo Trung Quốc lo ngại cuộc chiến leo thang ở Đông Dương sẽ lôi kéo Mỹ tham chiến, hình thành thêm một tiền đồn bao vây họ từ phía Nam Khả năng Mỹ tham chiến cũng
là điều mà Hồ Chí Minh và ĐLĐVN lo ngại Vì vậy, trong khi đẩy mạnh chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954,ĐLĐVN đã đưa ra tín hiệu đàm phán hòa bình.Trả
lời phỏng vấn của báo Thụy Điển Expressen ngày 26 - 11 - 1953, Hồ Chí Minh
khẳng định: “nếu Chính Phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ VNDCCH sẵn sàng tiếp muốn ý kiến đó” [178; tr 340].Chủ trương đi vào thương lượng, ĐLĐVN kiên trì lập trường “bốn điểm như những cái khâu của một sợi dây chuyền ngoắc vào nhau, không thể tách rời nhau” Đó là: “Độc lập là độc lập thật
sự và hoàn toàn của dân tộc”, “Thống nhất là thống nhất quốc gia, toàn bộ lãnh thổ nước ta là của ta (Miên, Lào cũng vậy vì Miên - Lào cũng thống nhất trong độc lập và hòa bình)”, “Chế độ dân chủ cộng hòa có tính chất dân chủ, không thể xâm phạm được” và “Hòa bình là hòa bình chân chính” [38; tr 350 - 351]
Ngày 25 - 1 - 1954, bốn nước Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô gặp nhau tại khu vực do Mỹ kiểm soát ở Berlin nhằm giải quyết việc thống nhất nước Đức Tại Hội nghị này ngoại trưởng Pháp Georges Bidault gặp riêng ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav Molotov, ngoại trưởng Anh Anthony Eden và ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles để thuyết phục các nước này đưa vấn đề Đông Dương ra thảo luận tại một hội nghị sẽ được tổ chức trong tương lai Trước đó, Molotov đề nghị với Bidault rằng Liên Xô sẽ giúp Pháp đình chiến tại Đông Dương với điều kiện Pháp rút khỏi Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu (EDC) nhưng Pháp từ chối Hội nghị ở Berlin kết thúc ngày 18 - 2 - 1954 mà không mang lại kết quả nào Tuy nhiên các bên tham dự đồng ý lời đề nghị của Ngoại trưởng Liên Xô Molotov mở cuộc đàm phán tại Genève vào ngày 26 - 4 - 1954 để bàn về việc hòa giải và tái lập hòa bình tại Triều Tiên và Đông Dương [2; tr 701 - 702].Ngày 10 - 3 - 1954, VNDCCH chấp thuận tham dự Hội nghị Genève theo đề nghị của Pháp [2; tr 706]
Ngày 26 - 4 - 1954, Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc Đoàn đại biểu VNDCCH do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng
Trang 37dẫn đầu Từ ngày 8 - 5 đến ngày 23 - 6, các bên trình bày lập trường của mình về cách giải quyết vấn đề Đông Dương Ngày 10 - 5 - 1954, đoàn đại biểu VNDCCH nêu rõ lập trường về một giải pháp toàn diện gồm 8 điểm: (1) Pháp công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Campuchia và Lào; (2) Ký Hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam, Campuchia và Lào; (3) Tổ chức tổng tuyển cử tự do ở Việt Nam, Campuchia và Lào để thành lập Chính phủ thống nhất trong mỗi nước; (4) Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Campuchia và Lào bằng lòng xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp; (5) Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Campuchia và Lào công nhận các quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp, sẽ cùng nước Pháp quy định các quyền này theo nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng quyền lợi lẫn nhau; (6) Hai bên không khủng bố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh; (7) Trao đổi tù binh; (8) Ngừng bắn hoàn toàn và đồng thời trên toàn Đông Dương, điều chỉnh các vùng, đình chỉ đưa quân đội và thiết bị quân sự mới vào Đông Dương, lập ủy ban tay đôi gồm đại biểu hai bên đối phương để kiểm tra bảo đảm thực hiện Hiệp định đình chiến [142]
Như vậy, lập trường của Chính phủ VNDCCH đã quán triệt nguyên tắc hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ cho Việt Nam, Campuchia và Lào Tuy nhiên,
hội nghị Genève do bốn nước triệu tập và có chín phái đoàn tham gia, đây là một cuộc thương lượng quốc tế nhiều bên, trong đó mỗi bên đều có mục tiêu, ý đồ riêng của mình.Về phía Pháp, ban đầu phái đoàn Pháp tham dự Hội nghị giữ lập trường khá cứng rắn: đàm phán với VNDCCH để xoa dịu dư luận và để chính phủ của Thủ tướng Laniel tránh bị mất tín nhiệm, đồng thời tranh thủ thời gian cứu nguy cho quân đội Pháp ở Đông Dương Sau một thời gian giữ lập trường cứng rắn thì Pháp gánh chịu thất bại lớn ở Điện Biên Phủ, nội các của thủ tướng Laniel
bị nhân dân Pháp lên án, buộc phải từ chức ngày 12- 6 Mendès France thuộc phái chủ hòa lập chính phủ mới Ngày 18 - 6, khi nhậm chức, Mendès France tuyên bố
sẽ từ chức nếu trong vòng một tháng không đạt được ngừng bắn ở Đông Dương Mục đích của Pháp là đạt được một thỏa hiệp đình chiến với VNDCCH trong khi tiếp tục duy trì quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp [136; tr 164] Xuyên suốt Hội nghị, con bài được phái đoàn Pháp sử dụng khi đàm phán với các đối thủ là khả năng can thiệp quân sự của Mỹ vào Việt Nam
Về phía Anh, dù không muốn dính líu vào chiến tranh Đông Dương nhưng Anh cũng không muốn gây tổn hại đến quan hệ đồng minh với Mỹ Anh kiên trì
Trang 38khuyên Mỹ trì hoãn những hành động quân sự tại Đông Dương bao gồm việc thành lập khối SEATO cho đến khi “lực lượng cộng sản đưa ra giải pháp hoà bình” được Mỹ chấp thuận Ngoài ra, Anh chủ trương ủng hộ Pháp thương lượng trên thế mạnh [5].Về phía Mỹ, từ khi can thiệp vào cuộc chiến Đông Dương, trước sau Mỹ vẫn theo đuổi mục đích biến Đông Dương thành chốt chặn ngăn cản sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á Mỹ thực tâm không muốn có một cuộc điều đình, mà muốn có một hành động thống nhất với sự tham gia của
Mỹ và các đồng minh hòng cứu nguy cho Pháp ở Đông Dương và thiết lập một hệ thống phòng thủ chung ở Đông Nam Á [2; tr 714 - 723] Tuy nhiên, dưới áp lực của Anh và Pháp, Mỹ cũng đã cử phái đoàn tham dự Hội nghị Genèvedo Bedell Smith, thứ trưởng ngoại giao, làm trưởng đoàn Phái đoàn Mỹ đến Genève chủ yếu để quan sát và hỗ trợ cho phái đoàn Pháp và các đồng minh trong quá trình đàm phán Những tuyên bố mù mờ về “cuộc hành quân Vautour” của các đại diện
Mỹ như Ngoại trưởng Dulles, Đô đốc Carney… hay bản thông cáo chung giữa Tổng thổng Eisenhower và Thủ tướng Churchill ngày 29 - 6 - 1954 đều nhằm vào mục đích này [136; tr 172, 175]
Về phần Liên Xô, Georgi Malenkov, người kế nhiệm Stalin, chủ trương xoa dịu tình trạng căng thẳng với các nước Tây phương Mối quan tâm hàng đầu của Liên Xô lúc đó là tình hình ở châu Âu trước những nỗ lực của Mỹ xây dựng EDC Liên Xô muốn khai thác mâu thuẫn Pháp - Mỹ về sự hiện diện của Đức trong EDC và đã tỏ rõ thiện chí đối với Pháp tại Hội nghị Genève Trước thế trận bao vây của Mỹ, phương Tây và sự thất thế trong các cuộc hội nghị tứ cường, Liên Xô cũng đã nỗ lực nâng đỡ Trung Quốc, tìm cách để nước này có một vị thế lớn hơn nhằm tăng sức mạnh cho Liên Xô và hệ thống XHCN trên trường quốc tế Trong quá trình diễn ra Hội nghị, với tư cách là đồng chủ tịch Hội nghị, Ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav Molotov lúc đầu hỗ trợ cho những yêu cầu của phái đoàn VNDCCH, nhưng sau khi chính phủ Laniel bị đổ, lo ngại về khả năng Mỹ can thiệp bằng quân sự nếu Hội nghị Genève thất bại,Molotov lại thiên về quan điểm của Mendès France, có những ý kiến có lợi cho đoàn Pháp như việc phân chia giới tuyến hay ấn định thời hạn tổng tuyển cử [265; tr 255]
Về phần Trung Quốc, sau chiến tranh Triều Tiên, điều Trung Quốc lo ngại nhất là khả năng Mỹ tham chiến và thế chân Pháp ở Đông Dương, thành lập liên minh quân sự bao vây Trung Quốc từ phía Nam Mục tiêu của họ là tìm mọi cách
để ngăn chặn khả năng này, tạo môi trường hòa bình đểổn định và phát triển đất
Trang 39nước, hòa nhập vào hệ thống ngoại giao thế giới, từng bước khẳng định vị trí nước lớn, mở rộng khu vực đệm an toàn ở biên giới phía Nam Trung Quốc cũng muốn hòa hoãn và tiếp cận với phương Tây, gia nhập Liên hợp quốc, thoát khỏi tình cảnh bị phong tỏa về kinh tế [136; tr 170] Do vậy, phối hợp với Liên Xô, hợp tác với Pháp và Anh để chấm dứt chiến tranh Đông Dương trở thành yêu cầu cấp bách của Trung Quốc.Trung Quốc muốn chứng minh với thế giới rằng, “trong rất nhiều vấn đề quốc tế to lớn, đầu tiên là vấn đề châu Á, nếu không có sự tham gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đều không giải quyết được” [121; tr 55] Trong quá trình diễn ra Hội nghị Genève, tại các cuộc đàm phán với phái đoàn Anh, phái đoàn Pháp, Trung Quốc luôn đứng trên lợi ích dân tộc của mình, đưa ra nhiều đề nghị, thỏa thuận có lợi cho Pháp, bất lợi cho VNDCCH
Do lập trường của VNDCCH, lực lượng kháng chiến Lào, Campuchia khác
xa với lập trường của Pháp và các đồng minh của họ nên các cuộc đàm phán tiến triển chậm chạp Tuy nhiên, sự nhân nhượng lẫn nhau đã xuất hiện trong các cuộc thảo luận riêng giữa các đoàn Với tư cách là láng giềng, nước bảo trợ cho cuộc chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, Trung Quốc tự đứng ra đóng vai trò là bên đối thoại chính, từ đó Pháp và Trung Quốc trở thành trung tâm của cuộc mặc cả, dàn xếp Trung Quốc là nước đầu tiên đưa ra ý kiến đình chiến, phân chia khu vực tập kết quân của hai bên theo mô thức Triều Tiên, có nghĩa là hai bên đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp chính trị dứt điểm Trước khi đi dự Hội nghị Genève, ngày 2 - 3 - 1954, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gửi Trung ương ĐLĐVN một bức điện trong đó đề nghị: “…Nếu muốn đình chiến, tốt nhất nên có một giới tuyến tương đối cố định, có thể bảo đảm được một khu vực tương đối hoàn chỉnh Trên thực tế, giới tuyến đình chiến hôm nay có thể trở thành ranh giới chia cắt trong ngày mai… Đường giới tuyến này càng xuống phía Nam càng tốt Có thể tham khảo vĩ tuyến 16 độ Bắc” [38; tr 34 - 35] Đề xuất của Trung Quốc phù hợp với lập trường của các nước lớn nên đã được chấp nhận, trở thành tiền đề cho các cuộc đàm phán
Từ ngày 24 - 6 đến ngày 20 - 7, phái đoàn Pháp và VNDCCH đàm phán trực tiếp để giải quyết các vấn đề cụ thể, xoay quanh các nội dung: xác định mục tiêu đàm phán; chọn vĩ tuyến để khẳng định giới tuyến quân sự tạm thời; thời hạn
tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất Việt Nam…Về mục tiêu đàm phán, VNDCCH đề nghị cuộc thương thuyết phải nhằm đạt một thỏa hiệp bao gồm vấn
đề ngưng bắn và giải pháp chính trị cho Việt Nam Pháp muốn ưu tiên đạt được
Trang 40thỏa hiệp về ngưng bắn, còn vấn đề chính trị sẽ được thảo luận riêng Cuộc đàm phán đã diễn ra theo ý của Pháp Về chọn vĩ tuyến, hai bên mặc cả với nhau, Pháp
đề nghị ở vĩ tuyến 18, VNDCCH muốn ở vĩ tuyến 13 Ngày 13-7, phái đoàn VNDCCH hạ yêu cầu xuống vĩ tuyến 16 và đến ngày 19 - 7, hai bên thoả thuận ranh giới tạm thời sẽ ở vĩ tuyến 17, phù hợp với ý kiến của Anh và Mỹ.Về thời hạn tổ chức tổng tuyển cử, lúc đầu VNDCCH đề nghị thời hạn ba tháng kể từ ngày ký Hiệp định, sau tăng lên sáu tháng Phía Pháp lại muốn để ngỏ ngày tổng tuyển cử cho hai chính phủ Nam, Bắc thảo luận sau Cuối cùng theo gợi ý của Molotov, các bên quyết định thời hạn tổ chức tổng tuyển cử là hai năm kể từ ngày các bên ký Hiệp định [136; tr 181 - 182]
VNDCCH đến dự Hội nghị Genève với vị thế của người chiến thắng, nhất
là sau trận Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, nhưng kết quả đạt được trong quá trình đàm phán không tương xứng với những thắng lợi trên chiến trường Pháp là nước thất bại trên chiến trường, nhưng đạt được hầu hết những mục tiêu mà họ đề ra khi đàm phán Anh, Mỹ, Pháp dẫu có những bất đồng với nhau ở một số vấn đề nhưng trong quá trình đàm phán ở Genève lập trường của họ là thống nhất Anh, Mỹ đã ra sức hậu thuẫn, giúp đỡ Pháp đạt được mục đích đàm phán của mình Còn Liên Xô, Trung Quốc và VNDCCH cũng phối hợp chặt chẽ với nhau nhưng không phải là để hậu thuẫn cho VNDCCH đàm phán trên thế mạnh mà là để thống nhất chủ trương đàm phán theo lập trường của Trung Quốc, gần với lập trường của Pháp, có khoảng cách lớn với lập trường tám điểm của VNDCCH Đại sứ Jean Chauvel trong phái đoàn Pháp cho biết ông có cảm tưởng là “Việt Minh bị Moscow và Bắc Kinh giật dây Mỗi khi họ (Việt Minh) tiến lên hơi mau quá thì Chu Ân Lai và Vyacheslav Molotov lúc nào cũng có mặt
ở đó để kéo họ về một lập trường thích hợp hơn” [136; tr 167].Thượng nghị sĩ
Mỹ William Knowland bình luận về kết quả Hội nghị Genève: “Cả hai nhà ngoại giao Liên Xô, Trung Quốc Molotov và Chu Ân Lai đã sẵn sàng hy sinh chiến thắng quân sự của Hồ Chí Minh phục vụ lợi ích quốc gia của mình” [120; tr 40]
Ngày 20 - 7 - 1954, Hiệp định Genève về Đông Dương bắt đầu được ký kết với nhiều văn kiện, chủ yếu là ba hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Lào, Campuchia vàBản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị (không có chữ ký) Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam có 6 chương, 47 điều, với các nội dung cơ bản như: Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, không can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam; Các bên