Hai là, Việt Nam xây dựng một nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phục vụ đắc lực cho công cuộc Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu nước m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM VĂN HIỂN
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM VĂN HIỂN
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN HỮU KHIỂN
HÀ NỘI - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Nguyễn Hữu Khiển
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Phạm Văn Hiển
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 VĂN HOÁ VÀ VÀ GIÁ TRỊ CỦA VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM 6
1.1 Vấn đề văn hoá 6
1.1.1 Khái niệm văn hoá 6
1.1.2 Đặc điểm của văn hóa 14
1.2 Giá trị của văn hóa truyền thống Việt Nam 20
1.2.1 Văn hoá truyền thống 20
1.2.2 Những giá trị có tính điển hình của văn hoá truyền thống Việt Nam 22
1.3 Giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam trong hội nhập quốc tế 45
1.3.1 Tính tất yếu của giao lưu hội nhập văn hoá hiện nay 45
1.3.2 Những vấn đề có tính nguyên tắc trong giao lưu, hội nhập văn hóa 48
Chương 2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY 54
2.1 Quan điểm của Đảng ta về việc xây dựng nền văn hoá mới 54
2.2 Vai trò của giá trị văn hoá truyền thống trong sự phát triển văn hoá Việt Nam hiện nay 67
2.3 Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của giá trị văn hóa truyền thống trong giai đoạn hiện nay 71
2.3.1 Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của dân tộc 71
2.3.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc cũng như tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại 75
2.3.3 Đẩy mạnh giáo dục các giá trị văn hóa tuyền thống 78
2.3.4 Phát huy vai trò của người dân, của cộng đồng trong việc phát huy giá trị văn hóa Việt Nam 82
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Tôi chọn vấn đề này làm đề tài Luận văn thạc sỹ của mình vì những lý
do sau đây:
Một là, để phát triển đất nước thì văn hoá là một trong những động lực
căn bản vì chính nó là thước đo giá trị con người, mà con người là nhân tố quyết định sự phát triển
Hai là, Việt Nam xây dựng một nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc, phục vụ đắc lực cho công cuộc Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì những giá trị trong văn hoá truyền thống của dân tộc cần phải nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn là một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay
Ba là, với chính sách mở cửa, văn hoá Việt Nam tất yếu có sự giao lưu
với các nền văn hoá khác trên thế giới Trong quá trình tương tác ấy sẽ có sự ảnh hưởng cả yếu tố tích cực và yếu tố tiêu cực Đi đối với việc mở cửa và giao lưu, chúng ta phải bảo tồn và phát triển những giá trị truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Với những lý do ở trên, tôi đã chọn vấn đề: “Giá trị văn hoá truyền
thống và vai trò của nó trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam thời kỳ hội nhập” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Văn hoá nói chung và bàn về văn hoá truyền thống nói riêng là một lĩnh vực rất phong phú, nó đã được nhiều học giả nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau Một số tác phẩm đã đề cập tới vấn đề này như “Việt Nam văn hoá sử cương” của Đào Duy Anh, “Nếp cũ” của Toan Ánh… đặc biệt là “Đề cương
Trang 6văn hoá Việt Nam” năm 1943 của đồng chí Trường Chinh đã cụ thể đề ra việc xây dựng một mô hình văn hoá mới là “Dân tộc, đại chúng và hiện đại”
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã nhận thức được sự cần thiết phải bảo tồn yếu tố truyền thống, chống lại sự xâm kích của yếu tố ngoại lai làm ảnh hưởng xấu đến văn hoá Việt Nam Đặc biệt kể từ khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới (1986) cho đến nay, nó cũng là một trong những vấn đề rất được quan tâm của các nhà nghiên cứu Ở đây chúng tôi xin dẫn ra một số công trình đã nghiên cứu dưới các khía cạnh sau:
Một số công trình nghiên cứu về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam như:
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt
Nam của tác giả Nguyễn Thị Hương (chủ biên) do nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia ấn hành năm 2011
- Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2010- 2020, những vấn đề
phương pháp luận của tác giả Phạm Duy Đức (chủ biên) do nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2010
- Về phát triển văn hóa và phát triển con người thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của các tác giả Phạm Minh Hạc và Nguyễn Khoa Điềm do
nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2003
Một số công trình nghiên cứu vấn đề văn hóa trong đời sống như:
- Một số vấn đề văn hóa và văn nghệ của tác giả Trần Văn Bính do nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2007
- Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay- Vấn đề và giải pháp của các tác
giả Lê Quý Đức và Hoàng Chí Bảo do nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 2007
- Vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay của tác giả
Hoàng Vinh do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2003
Trang 7- Việt Nam- văn hóa và con người của tác giả Nguyễn Đắc Hưng do
nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2010
Một số công trình nghiên cứu văn hóa đặt trong sự phát triển như:
- Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh của các tác
giả Đinh Xuân Lâm và Nguyễn Đình Phong do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2007
- Sự phát triển văn hóa đồng bộ và tương xứng với sự phát triển kinh tế
tạo ra sự phát triển bền vững của tác giả Hồ Bá Thâm do nhà xuất bản
Phương đông ấn hành năm 2007
Một số công trình nghiên cứu về giá trị truyền thống nói chung
như:
- Vấn đề khai thác giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển của tác giả
Nguyễn Trọng Chuẩn đăng trên Tạp chí Triết học số 2 năm 1998
- Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam của tác giả Vũ
Ngọc Khánh do nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 2006
- Bản sắc văn hóa Việt Nam của tác giả Phan Ngọc do nhà xuất bản
Văn hóa ấn hành năm 2007
Một số công trình bước đầu nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong điều kiện giao lưu, hội nhập quốc tế như:
-Giao lưu văn hóa thời hội nhập của tác giả Hồ Sỹ Vịnh do nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2008
- Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của tác giả
Nguyễn Chí Bền do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2010
Những công trình nghiên cứu trên đã phân tích nhiều vấn đề, dưới những góc độ khác nhau về vai trò của văn hoá truyền thống Song việc nghiên cứu có hệ thống về vai trò của văn hoá truyền thống trong việc xây
Trang 8dựng nền văn hoá Việt Nam thời kỳ hội nhập hiện nay thì ít được đề cập tới, nhất là dưới góc độ triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu giá trị của văn hoá truyền thống nhằm phát huy nó trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam thời kỳ hội nhập cũng như việc đề ra những giải pháp ban đầu để phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết các vấn đề sau:
- Tìm hiểu về văn hoá và các giá trị điển hình của văn hoá truyền thống Việt Nam
- Nghiên cứu quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hóa mới, làm rõ vai trò của giá trị văn hoá truyền thống trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và từ đó bước đầu đề xuất những giải pháp nhằm phát huy những giá trị của văn hoá truyền thống Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về văn hoá truyền thống và từ đó nhằm tìm ra các giá trị điển hình của văn hoá truyền thống Việt Nam, đồng thời xác định vai trò
của nó trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam thời kỳ hội nhập
Trang 9hiện nay Đồng thời nghiên cứu các giải pháp nhằm giữ gìn những giá trị của văn hoá đó dân tộc
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, lịch sử - lôgíc…
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò của văn hoá truyền thống đối với việc xây dựng nền văn hoá nước ta trong giai đoạn hội nhập ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
- Bước đầu nêu ra được một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị văn hoá truyền thống trong giai đoạn hiện nay
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về văn hoá học trong các trường
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luâ ̣n văn được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết:
Chương 1 Văn hóa và giá trị của văn hóa truyền thống Việt Nam
Chương 2 Mục tiêu, nội dung và phương thức trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam
Trang 10Chương 1
VĂN HOÁ VÀ VÀ GIÁ TRỊ CỦA VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
1.1 Vấn đề văn hoá
1.1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là một danh từ đã xuất hiện rất lâu trong lịch sử và được nhiều người sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, cho dù chú ý hay không chú ý chúng ta đều đã đề cập đến vấn đề này như những cụm từ: sống có văn hoá, đời sống văn hoá, văn hoá và văn nghệ, hoặc như trình độ văn hoá… Cho đến nay
đã có nhiều những quan niệm khác nhau khi định nghĩa về nó Bởi lẽ, nói đến văn hóa là lĩnh vực đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội
Theo GS TS Đỗ Huy thì văn hóa không chỉ là một từ được dùng trong sinh tồn và giao tiếp của con người mà là một khái niệm khoa học rất quan trọng mà thiếu nó không một lĩnh vực cốt yếu nào của tri thức lý luận và xã hội có thể hoạt động được Trong khoa học xã hội và nhân văn, khái niệm văn hóa đã là tâm điểm của những quan điểm, những ý nghĩa và những nhận xét cũng như những định nghĩa khác nhau Cho đến nay, trên cơ sở của những công trình nghiên cứu chuyên biệt về khái niệm văn hóa thuộc các chuyên ngành như lịch sử, xã hội học, dân tộc học, triết học, văn hóa học… có thể tìm thấy những quan niệm khác nhau
Nhà nghiên cứu về văn hoá Phan Ngọc đã cho ta con số thống kê với khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hoá cho đến ngày nay Qua con số ấy đã cho ta thấy được sự phức tạp của bản thân khái niệm này Sở dĩ như vậy vì đã
có nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa Có quan niệm coi văn hóa như
là những hiện tượng tinh thần; có quan niệm lại cho văn hóa chỉ là phương thức giao tiếp; có quan niệm lại khẳng định văn hóa là các thiết chế và cũng
Trang 11không ít quan niệm luận chứng cho nội hàm của văn hóa chỉ phản ánh khát vọng tâm linh và nghệ thuật của con người
Những quan niệm về khái niệm văn hóa được nghiên cứu từ các khoa học khác nhau cũng đưa ra rất nhiều nhận xét, kết quả, định nghĩa khác nhau Văn hóa khi thì được coi là phong tục, tập quán, tín ngưỡng; lúc thì được coi
là chuẩn mực, lối sống… Có thể nói, thuật ngữ văn hóa được sử dụng rộng rãi trong nhiều bộ môn khoa học cụ thể, làm cho mỗi bộ môn khoa học tìm thấy một vài phương diện phù hợp với vấn đề mà nó giải quyết
Tính đa nghĩa của khái niệm văn hóa trước hết có căn nguyên từ tính nhiều mặt bao chứa trong nội hàm của khái niệm văn hóa, làm cho khái niệm này có khả năng đề xuất những phương hướng và những nhiệm vụ khác nhau trong việc sử dụng nó Các ngành khoa học khác nhau như: lịch sử, xã hội học, dân tộc học, triết học… đều đã khai thác được một phần trong nội hàm của khái niệm này Bên cạnh đó, tính đa nghĩa của khái niệm văn hóa còn là vấn đề của thực tiễn lịch sử Các vấn đề văn hóa được đặt ra trước một dân tộc, một giai cấp, một thời đại đã tác động đến con người Các vấn đề về chiến tranh và hòa bình, các vấn đề về năng lượng và môi trường sống, các vấn đề về nghèo đói và bệnh tật là các vấn đề văn hóa mang tính toàn cầu
Tuy nhiên, dù dưới góc độ nào thì các tác giả cũng đã có sự thống nhất thừa nhận văn hoá là sản phẩm của con người trong quá trình hoạt động, nó là kết quả của lao động sản xuất của con người, của xã hội loài người Chỉ có con người trong quá trình lao động, sáng tạo của mình mới tạo ra sản phẩm văn hoá Từ những quan niệm đó, các tác giả đã phủ nhận tính văn hoá trong hoạt động của loài vật Hoạt động của con người có mục đích là nhằm thoả mãn những nhu cầu Và đồng thời, con người khác con vật ở chỗ họ đã nhận thức được những nhu cầu ấy trong quan hệ cộng đồng của mình còn con vật
thì không C Mác đã từng nhận định “Đều là cái đói, nhưng cái đói được
Trang 12thoả mãn bằng thịt nấu và ăn bởi dao, dĩa lại khác cái đói dùng bằng tay, móng và răng để nuốt chửng thịt sống” [31, tr.238]
Theo dòng lịch sử nghiên cứu về vấn đề này, thuật ngữ văn hoá ở Phương Tây theo gốc latinh là “cultus” có nghĩa là canh tác và trồng trọt Từ trồng trọt ở đây hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất là trồng trọt của nhà nông là trồng trọt ở ngoài đồng (cultus agri), thứ hai là trồng trọt tinh thần nghĩa là sự giáo dục, nuôi dưỡng tâm hồn con người (cultus animi) Như vậy văn hoá gắn liền với sự sáng tạo của con người ra những sản phẩm vật chất và tinh thần Những sản phẩm vật chất và tinh tần ấy có tác dụng giáo dục, nuôi dưỡng và đào tạo con người Thông qua đó, ta hiểu văn hoá không chỉ là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người mà nó còn là thước đo giá trị của con người, là yếu tố quyết định bản chất Người
Ở Phương Đông, thuật ngữ văn hoá xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thế kỷ
VI TCN, Khổng Tử đã dùng thuật ngữ “Văn” để chỉ những giá trị đẹp của cuộc sống, trong sự giao tiếp, ứng xử của con người với con người Cái đẹp ấy không chỉ là cái đẹp ở hình thức Sự vật chỉ được coi là đẹp khi nó bao hàm cả cái đúng và cái tốt “Hoá” nghĩa là biến cải, biến đổi Và “Văn hoá” là biến cải, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra, hướng con người đạt tới chân - thiện - mỹ
Cùng với sự phát triển của nhận thức con người, những khái niệm về văn hoá ngày một tăng thêm, bổ sung thêm những cái nhìn mới về văn hoá với những góc độ, những khía cạnh khác nhau Có cách hiểu văn hoá theo khía cạnh giáo dục của nó như là một sự “gieo trồng tư tưởng”; cũng có cách hiểu khác xem văn hoá như là “tự nhiên thứ hai” do con người sáng tạo ra và đối lập với “tự nhiên thứ nhất”, đây là cách xem xét phổ biến trong quan niệm của các nhà tư tưởng thời Phục Hưng và Cận Đại Trong giai đoạn này, người
ta đã nhận thấy văn hoá là kết quả của sự phát triển của con người, đồng thời văn hoá là đặc trưng và cơ sở để hình thành nên con người xã hội
Trang 13Trường phái triết học duy tâm Đức của nền triết học Cổ điển Đức đã có những đóng góp đáng kể trong việc xây dựng khái niệm văn hoá và sự phát triển về mặt lý luận văn hoá, tiêu biểu là I Kant (1724- 1804) và G.V.PH Hegel (1770- 1831) I Kant từng coi: văn hoá, đó là giá trị của con người, hoặc đó là: sự phát triển những lực lượng tự nhiên của con người, và là: khả năng lấy mình làm mục đích, bằng cách sử dụng tự nhiên làm phương tiện để đạt được mục đích tự do và khả năng của con người có thể lấy mình với tư cách một tồn tại tự do làm mục đích cuối cùng của sự tồn tại của mình Quan niệm của I.Kant xuất phát từ chỗ coi con người là tồn tại tối cao, quan niệm này dẫn ông tới chỗ tuyệt đối hoá vai trò của con người trong việc sáng tạo ra các giá trị văn hoá Quan niệm này dẫn người ta đến chỗ đối lập tuyệt đối với
tự nhiên, tự coi mình là kẻ có quyền “bóc lột” tự nhiên, với quan niệm ấy và hành động như thế tất yếu sẽ bị “trả giá” trước sự tác động của tự nhiên đối với con người Những tác động có hại của tự nhiên đối với con người như hạn hán, bão lụt, những tác động của biến đổi khí hậu ngày nay đang đặt con người trước những khó khăn thách thức
Khác với I.Kant, nhà triết học G.V.Ph Hegel xem xét khái niệm văn hoá trong khi đưa ra một loạt mối quan hệ nhân cách- văn hoá, tìm hiểu về sự
kế thừa trong phát triển văn hoá, về tính phổ quát của các quá trình xã hội- văn hoá Ông đã nhận thấy môi trường sinh sống trực tiếp của con người là xã hội và trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, con người sáng tạo ra văn hoá Tuy nhiên, những lý giải của Hegel còn thiếu tính toàn diện, thường mâu thuẫn và mang nặng tính tư biện Xuất phát điểm từ thế giới “ý niệm tuyệt đối” đã dẫn ông đến quan điểm đồng nhất văn hoá với hoạt động sản xuất tinh thần được thể hiện thông qua bộ phận tri thức xã hội Hegel đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của tồn tại hiện thực đối với lịch sử phát triển của văn hoá Ông coi sự phát triển của văn hoá là sự biến đổi bản thân ý thức chủ quan về thế
Trang 14giới chỉ thuộc về cái gọi là “ý niệm tuyệt đối” chứ không liên quan gì đến hiện thực
Ngoài những quan niệm của chủ nghĩa duy tâm về văn hoá, chủ nghĩa duy vật trước Mác hầu như không có sự đóng góp gì lớn trong việc xây dựng khái niệm văn hoá Họ xuất phát từ con người chung chung, trừu tượng và đưa ra những khái niệm văn hoá cũng chỉ chung chung
Vào cuối thế kỷ XIX, người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hoá như một đối tượng nghiên cứu khoa học là nhà nhân loại học nước Anh- E.B Taylor, trong tác phẩm “Văn hoá nguyên thuỷ”, xuất bản ở Luân Đôn vào
năm 1871 ông đã viết: Văn hoá là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực cũng như thói quen mà con người đạt được trong xã hội
Mặc dù ở định nghĩa trên đã coi văn hoá như một tổng thể thành tựu cơ bản của con người Nhưng cũng ở định nghĩa này đã có sự đồng nhất giữa văn hoá với văn minh khiến người ta dễ nhầm lẫn là tất cả những gì được biểu thị trong đời sống cũng là văn hoá
Ở Việt Nam, thuật ngữ “văn hoá” đã xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ
XX, tác giả Đào Duy Anh đã đưa ra quan niệm: người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hoá
có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi của văn hoá hay sao? Hai tiếng “văn hoá” chẳng qua chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta có thể nói rằng: văn hoá tức là sinh hoạt Quan niệm này cũng đã đồng nhất văn hoá với xã hội
Vào tháng 12 năm 1986, Tổ chức Văn hoá giáo dục và Khoa học Liên
hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa mang tính chất tổng hợp: “Văn
Trang 15hoá là tổng thể các hệ thống giá trị bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội Văn hoá không thuần tuý trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng” [45, tr.15]
Như vậy, văn hoá không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hoá là tổng thể nói chung các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
Nó là một hiện tượng phong phú và phức tạp Việc nắm vững quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin làm cơ sở cho ta nghiên cứu đúng đắn về bản chất của văn hoá
Muốn tìm hiểu quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về văn hoá, phải
đi từ chủ nghĩa Duy vật lịch sử Chủ nghĩa Duy vật lịch sử khẳng định: nền tảng của lịch sử là hoạt động lao động của con người và quá trình con người sáng tạo ra lịch sử cũng chính là quá trình con người sáng tạo ra văn hoá Lao động là hoạt động mà ở đó con người xác lập và biểu hiện những mối quan hệ giữa con người - tự nhiên, con người - xã hội, con người - văn hoá Thông qua lao động, con người cải biến tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của mình và cũng từ đó bản chất con người được xác lập Đó là: căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người cải biến thành bản chất người, tức cái mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo, thì có thể xét được trình độ văn hoá chung của con người
Rõ ràng, chúng ta không thể nói mọi sự tác động của con người vào tự nhiên đều là biểu hiện của văn hoá, là văn hoá Không thể gọi là văn hoá với hiện tượng xuất hiện những hoang mạc do hoạt động không ý thức của con người tạo ra khi khai thác tự nhiên một cách không phù hợp Đồng thời, cũng không thể gọi là văn hoá hay những biểu hiện của văn hoá với những hiện tượng người ta phát triển công nghiệp không quan tâm tới vấn đề môi trường làm cho ô nhiễm môi trường, suy thoái hệ sinh thái… Những hoạt động của con người chỉ được coi là văn hoá khi những hoạt ấy không chỉ khai thác mà
Trang 16còn có tác dụng bảo vệ và tái tạo tự nhiên Ph Ăngghen đã viết: Chúng ta không thể ngự trị tự nhiên theo kiểu một kẻ chiến thắng ngự trị một dân tộc xa
lạ, mà hoàn toàn trái ngược lại, chúng ta, với máu, thịt và bộ óc của chúng ta, đều thuộc về tự nhiên Đối với tự nhiên, chúng ta khác với loài vật chỉ là ở chỗ chúng ta biết được các quy luật của tự nhiên, và áp dụng chúng một cách thích đáng
Con người và con vật vốn sinh ra từ tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên và giống nhau là đều cần có tự nhiên để tồn tại Cả con người và con vật đều hoạt động để sinh tồn Song điều khác nhau cơ bản đó là con vật hoạt động một cách thuần tuý bản năng, hoạt động của con vật mang tính thích ứng
và thụ động Con người là chủ thể hoạt động có ý thức, có mục đích, có đối tượng và trước khi hoạt động, nó đã có một mô hình được xác lập trong óc Mỗi mô hình ấy giúp con người xác định phương thức hoạt động với đối
tượng ấy và mục đích ấy Đó là: “Một con nhện làm những động tác giống
như động tác của những người thợ dệt, và con ong cùng với những ngăn tổ sáp của mình còn khéo léo hơn một nhà kiến trúc sư nhiều Nhưng điều phân biệt trước tiên giữa một nhà kiến trúc sư tồi nhất và con ong giỏi nhất là nhà kiến trúc sư khi xây dựng từng ngăn trong tổ ong thì đã xây dựng từng ngăn
đó trong óc mình rồi” Mỗi một phương thức hoạt động sẽ quy định một trình
độ hoạt động và phản ánh một trình độ văn hoá khác nhau
Lao động không chỉ là hoạt động thông qua đó con người sáng tạo ra tự nhiên và xã hội mà nhờ có lao động, con người còn hoàn thiện và phát triển mình Lao động sáng tạo chính là yếu tố để phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động của con vật và hoạt động của con người Thông qua lao động, con người tạo ra chính mình và xã hội, đây cũng chính là quá trình tạo ra văn hoá
Khi xem xét con người với tư cách là một sinh vật văn hoá, C.Mác đã xem xét con người trong mối quan hệ hiện thực của nó chứ không phải con người trừu tượng, chết cứng, phi giai cấp, phi lịch sử Bởi vì muốn nhận thức
Trang 17chính xác bản chất của văn hoá thì trước hết phải nhận thức đúng đắn về con người vì văn hoá là các giá trị của con người Có thể nói, lịch sử phát triển con người cũng chính là lịch sử phát triển văn hoá Việc xem xét con người phải trong mối quan hệ đa chiều với không gian và thời gian, với tự nhiên và
xã hội, với quá khứ, hiện tại và tương lai, cùng trong mối quan hệ với cộng đồng C Mác đã chỉ ra: Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng
cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội
Không chỉ có con người sáng tạo ra văn hoá, tác động một chiều lên môi trường xã hội - môi trường văn hoá, mà môi trường xã hội - môi trường văn hoá - cũng tác động to lớn tới nhận thức, tới hoạt động của con người Có
những môi trường xã hội làm thui chột, méo mó, “tha hoá” con người, song
cũng có môi trường xã hội lại tạo điều kiện cho sự sáng tạo các giá trị văn hoá Do vậy phải nhận thức khái niệm văn hoá để thấy được tính chỉnh thể của nó Văn hoá thể hiện mức độ làm chủ của con người đối với thế giới tự nhiên, con người không chỉ làm chủ các lực lượng tự nhiên bên ngoài mà còn làm chủ ngay chính bản năng trong con người Con người thống trị tự nhiên bằng chính sự nhận thức một cách sâu sắc những quy luật tự nhiên Thông qua việc nhận thức được các quy luật của tự nhiên, con người vừa biết khai thác tự nhiên, vừa biết bảo vệ tự nhiên, chống lại những hoạt động phá hoại môi trường sống Bởi lẽ chính tự nhiên là môi trường tồn tại của con người Mối quan hệ giữa tự nhiên và con người không tách rời nhau
Nghiên cứu lịch sử phát triển văn hoá cho thấy hoạt động văn hoá phải là hoạt động sáng tạo ra các giá trị gắn liền với các tiêu chí chân - thiện - mỹ, phù hợp với quy luật của sự phát triển lịch sử loài người Tất cả các hoạt động sáng tạo văn hoá phải theo quy luật thẩm mỹ nhằm nâng cao và nuôi dưỡng con người về cái đẹp Đồng thời, những giá trị ấy được nuôi dưỡng, tích luỹ và lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau, tác động thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
Trang 18Qua quá trình nghiên cứu về khái niệm văn hoá, chúng ta thấy còn sự tồn tại các quan niệm khác nhau, do xem xét dưới những góc độ khác nhau Tuy nhiên các khái niệm đó đều tìm cách để chỉ ra bản chất của văn hoá, đều thống nhất khẳng định nói tới văn hoá là nói tới bản chất người, là yếu tố để phân biệt sự khác nhau trong hoạt động của con người và hoạt động của con vật Dưới góc độ triết học đòi hỏi chúng ta phải xem xét văn hoá với tính chỉnh thể của nó Nó là sản phẩm của con người tạo ra trong sự tương tác qua lại giữa con người với giới tự nhiên và con người với xã hội trong quá trình sống Đó là những giá trị được lưu giữ, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Từ những sự phân tích trên, ta có thể khẳng định: Văn hoá là hệ thống
giá trị xã hội, biểu hiện và phát triển những năng lực bản chất của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và làm chủ bản thân mình Những năng lực ấy được thể hiện trong hoạt động sáng tạo của con người và những kết quả của hoạt động đó nhằm thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của các cá nhân và xã hội theo hướng chân - thiện - mỹ, được lưu truyền và phát triển giữa các thế hệ trong quá trình phát triển xã hội
Với cách hiểu văn hoá như vậy, ta nhận thấy là văn hoá có ý nghĩa quan trọng trong cải tạo xã hội, thống nhất giữa con người với tự nhiên trong quá trình sống của con người Đồng thời, với sự vận động và phát triển của văn hoá, sự lưu giữ các giá trị văn hoá được truyền bá từ thế hệ này sang thế hệ kia mà tạo ra các giá trị văn hoá truyền thống của các quốc gia, các dân tộc, trong đó có Việt Nam
1.1.2 Đặc điểm của văn hóa
Văn hoá là một hiện tượng, do vậy nó cũng có những đặc điểm để phân biệt với các hiện tượng khác Trong điều kiện của Luận văn này, chúng tôi xin nêu ra các đặc điểm của văn hoá như sau:
Một là; văn hoá bao giờ cũng là một giá trị; chính giá trị của văn hoá
tạo ra sự cân bằng cho xã hội Giá trị của văn hoá được đánh giá thông qua hệ
Trang 19giá trị chân - thiện - mỹ Có thể khẳng định, tất cả những gì có sự hiểu biết, có
sự sáng tạo, có tác dụng thúc đẩy những tiến bộ xã hội đều là văn hoá Những hoạt động sáng tạo mà đi ngược với những giá trị trên là không thuộc về văn hoá mà nó là phản văn hoá, nó ngược lại với quy luật phát triển, kìm hãm sự phát triển của xã hội Những giá trị của văn hoá luôn có vai trò làm tiền đề và thúc đẩy sự phát triển Những gì đã là văn hoá thì chúng luôn mang tính Người, góp phần hoàn thiện và nâng cao nhân cách con người
Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu
và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân - thiện - mỹ), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất Người Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa Chính vì vậy mà văn hóa thông qua hệ giá trị của nó góp phần điều tiết hệ giá trị xã hội
Giá trị văn hóa chính là thứ vốn xã hội mà trong các chương trình phát triển kinh tế- xã hội chúng ta cần phải khai thác chúng như một nguồn lực Như thế, khi nói bản chất của giá trị hay nói tới vai trò định hướng, chi phối, điều tiết các hệ giá trị thì về thực chất chúng ta đang nói tới mối quan hệ đa chiều của con người Cũng như văn hóa, giá trị được sản sinh từ các mối quan
hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội
Ở góc độ này, chính niềm tin của con người (con người tin vào con người, tin vào cộng đồng, vào một chế độ xã hội) cũng là một giá trị Nó là động lực cho mọi ý chí và hành động sáng tạo của con người, là chỗ dựa cho việc thiết lập và duy trì một trật tự và kỷ cương cho một xã hội Cuối cùng niềm tin và chỉ có niềm tin mới có thể là bệ đỡ cho giáo dục trí tuệ và nhân cách của con người Đó chính là những giá trị có thể đã kết tinh trong niềm tin
Văn hoá, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà con người sáng tạo ra, có phẩm chất đóng góp tích cực cho xã hội Các giá trị
Trang 20vật chất của văn hoá được thể hiện thông qua các sự vật vật chất, các giá trị tinh thần được biểu hiện thông qua các tác phẩm nghệ thuật Tất cả các giá trị ấy có
sự chọn lọc qua hoạt động lao động sáng tạo của con người tạo ra Đây là những yếu tố có tính chất tiến bộ, có tính chân lý, có tính thẩm mỹ, có tính đạo đức… nhằm điều chỉnh hành vi con người trong quá trình hoạt động thực tiễn
Hai là, văn hoá là một hiện tượng xã hội; văn hoá là thuộc tính nội tại
thuộc bản chất con người và là biểu hiện khía cạnh xã hội của con người Chỉ với tư cách con người xã hội, trong mối quan hệ xã hội con người mới sáng tạo ra văn hoá Văn hoá là một hiện tượng xã hội, nó tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống xã hội Văn hoá có chức năng căn bản là điều chỉnh
và phát triển toàn diện xã hội Văn hoá tạo ra diện mạo ổn định, các phong cách dân tộc, văn hoá gắn với dân tộc, văn hoá thúc đẩy sự đổi mới Vì thế, nó luôn có một giá trị to lớn, tạo nên sự phát triển lâu bền, toàn diện trong các quan hệ của đời sống xã hội Nơi nào các giá trị văn hoá bị suy thoái thì ở đó quan hệ xã hội mất ổn định Nơi nào có sự khủng hoảng các giá trị văn hoá thì
ở đó xã hội không thể phát triển được
Ba là, văn hoá có tính hệ thống; văn hoá là một hệ thống diễn biến
trong lịch sử và nằm trong quá trình phát triển xã hội Nó là một hệ thống sản xuất ra các giá trị tinh thần, duy trì, phân phối và tiêu thụ các giá trị đó Nó là một hệ thống tri thức nhằm đào tạo ra những con người có năng lực nhận thức, có tình cảm, có đạo đức để tạo ra những thành viên tích cực cho xã hội Đồng thời, nó cũng đảm bảo cho họ được thoả mãn những nhu cầu tinh thần Những yếu tố đó diễn ra trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử và gắn liền với những điều kiện nhất định
Bốn là, văn hoá là chỉnh thể của quá trình thống nhất; trong quá trình
phát triển của lịch sử các thế hệ trước luôn truyền lại cho các thế hệ sau mọi thành quả văn hoá của mình Thông qua quá trình đó đã làm cho mỗi thế hệ phong phú thêm về tri thức, về kỹ năng lao động, về óc sáng tạo nghệ thuật
Trang 21Để có được các giá trị đó trước hết phải thông qua năng lực học tập của mỗi
cá nhân cùng với sự giáo dục của xã hội Hai quá trình đó luôn có sự thống nhất và không thể tách rời nhau Nếu thiếu một trong hai yếu tố đó không thể
có sự phát triển ra các giá trị mới Việc nghiên cứu văn hoá như một quá trình mới cho phép ta nhìn nhận được tính kế thừa, tính lịch sử và tính thường xuyên điều chỉnh của văn hoá Thông qua đó, khẳng định được vai trò, chức năng của văn hoá đối với đời sống của con người, của xã hội
Nghiên cứu về văn hoá, người ta thường hay đề cập đến khái niệm “văn minh”, thực tế thì văn hoá và văn minh là không đồng nhất với nhau, chúng chỉ có sự liên hệ với nhau Như ta đã đề cập ở trên, theo nghĩa gốc, văn hoá có nghĩa là sự gieo trồng, sự giáo dục con người Còn văn minh dùng để chỉ những hình thức tổ chức xã hội và gắn liền với các giá trị vật chất Có thể nói, văn minh là một hình thức, một mặt biểu hiện của văn hoá Văn minh là những hoạt động của xã hội gắn liền với thành tựu khoa học kỹ thuật nào đó, một trình độ của hoạt động sản xuất nói chung Vì vậy mà thực tế đã xuất hiện những thuật ngữ như văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp hay như văn minh Sông Hồng, văn minh lúa nước…
Văn minh là sự tổng hợp các giá trị văn hoá tinh thần và vật chất Nó thể hiện mức sống, lối sống, điều kiện vật chất, cách thức tổ chức sản xuất xã hội… Có thể nói, văn minh chính là sự vật chất hoá, kỹ thuật hoá các giá trị văn hoá tư tưởng vào việc xây dựng môi trường sống, vào đời sống xã hội để đạt tới một trình độ phát triển nhất định Từ đó, nó cho ta khẳng định văn hoá
sẽ xuất hiện trước văn minh về phương diện thời gian Văn hoá kéo dài toàn
bộ tiến trình phát triển của xã hội loài người, còn văn minh chỉ xuất hiện ở một giai đoạn nhất định, khi văn hoá đã đạt tới một trình độ phát triển nhất định nào đó Có lúc văn hoá và văn minh tương ứng với nhau, nhưng cũng có lúc chúng lại đối lập nhau Văn hoá luôn luôn có tính nhân bản, tính cộng đồng, tính phát triển, xu hướng vận động của nó là những giá trị tạo động lực
Trang 22cho sự phát triển của loài người trong quan hệ với tự nhiên, với xã hội Còn
xu thế vận động của văn minh là luôn vươn tới sự hợp lý, đem lại hiệu quả cao nhất Bên cạnh những giá trị đó, thực tế văn minh cũng đem lại những tác hại cho con người Chúng ta đã thấy như nền văn minh công nghiệp, bên cạnh
sự đem lại năng suất lao động cao, của cải xã hội tạo ra nhiều, nó tác động rất lớn đến cuộc sống của con người Nhưng bên cạnh những giá trị đó thì chính văn minh công nghiệp cũng đã đem lại những bất lợi, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của con người như hiện nay loài người đang đứng trước thảm hoạ ô nhiễm môi trường sống, từ ô nhiễm nguồn nước đến ô nhiễm không khí và ô nhiễm đất, với việc một số nước sản xuất ra vũ khí huỷ diệt hàng loạt (như vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học, vũ khí sinh học) đang đặt loài người trước những nguy cơ lớn
Bên cạnh đó, văn hoá mang tính khu vực rõ nét thì văn minh mang tính toàn cầu Quá trình lan toả của văn minh nhanh hơn văn hoá, vì thế để đạt tới văn minh sẽ nhanh hơn văn hoá Tuy nhiên, để có sự tiến bộ văn hoá phải gắn chặt với văn minh, bởi lẽ, chúng ta đã biết kỹ thuật không chỉ sử dụng mà còn
là sự sáng tạo Một nền văn hoá chỉ có thể làm chủ được văn minh hiện đại khi nó thực sự năng động, sáng tạo ra định hướng hiện đại và tiến bộ Trong giai đoạn hiện nay, trước sự tác động văn minh công nghiệp, văn minh tin học
đã tạo ra những điều kiện để hưởng thụ các giá trị vật chất, những thị hiếu của con người nhưng nếu chúng ta không có những giá trị của văn hoá dân tộc thì chúng ta không những không thể làm chủ được nó mà còn bị nó nô dịch
Năm là, văn hoá mang tính dân tộc và đồng thời văn hóa cũng mang tính nhân loại; văn hoá với tư cách là một hình thái của ý thức xã hội, nó chịu
sự chi phối của tồn tại xã hội, đồng thời cũng có những tác động trở lại đối với tồn tại xã hội Khi nghiên cứu về văn hoá chúng ta ở các quốc gia khác nhau, các khu vực khác nhau luôn tồn tại những nền văn hoá khác nhau, do nó
Trang 23bị tác động từ những tồn tại xã hội khác nhau, do vậy văn hóa luôn mang tính dân tộc sâu sắc
Trên thế giới tồn tại các nền văn hoá khác nhau là do sự tồn tại của các dân tộc khác nhau Các dân tộc đó chịu sự tác động của các điều kiện tự nhiên khác nhau, cùng với sư phát triển kinh tế- xã hội khác nhau, bên cạnh đó còn chịu sự ảnh hưởng tác động của các nền văn hoá khác nhau Trong lĩnh vực văn hóa khó có thể phân biệt được dân tộc nào lớn, dân tộc nào nhỏ Nền văn hoá của mỗi dân tộc gắn liền với quá trình hình thành dân tộc đó
Việt Nam có một nền văn hoá da dạng, đa sắc tộc Đặc điểm đó xuất phát từ tính đặc thù trong cấu kết cộng đồng dân tộc Việt Nam Việt Nam có
54 dân tộc anh em với bấy nhiêu nền văn hóa của các dân tộc đó đã tạo ra sự đặc sắc trong nền văn hoá Việt Nam Từ những nền văn hoá riêng của các dân tộc mà tạo ra cái phong phú, cái đa dạng của văn hoá Việt Nam, văn hoá chung Do đó khi nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua tính khách quan là những cái riêng đang hoà quyện vào cái chung trong đời sống xã hội
Dưới góc độ triết học, nguyên lý của phép biện chứng giữa cái riêng và cái chung là một trong những yêu cầu về phương pháp nhận thức và chủ trương về vấn đề dân tộc và văn hoá dân tộc: cái chung và cái riêng liên hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau Cái chung nằm trong cái riêng và thông qua cái riêng mà biểu hiện mình Cái chung và cái riêng tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau Nếu tách rời cái riêng và cái chung, thổi phồng yếu tố này và phủ nhận yếu tố kia sẽ mắc phải quan điểm siêu hình trong nhận thức Trong giai đoạn phát triển ngày nay, xu hướng hội nhập quốc tế đang là tất yếu Để tồn tại và phát triển các quốc gia phải không ngừng hội nhập vào thế giới Để phát triển, Việt Nam cũng không đứng ngoài xu thế đó Trong quá trình hội nhập này, chúng ta phải thấy sự hội nhập của Việt Nam vào thế giới, của cái riêng vào cái chung, là sự cần thiết, là tất yếu khách quan Song
Trang 24thông qua quá trình hội nhập đó để ta tự khẳng định vị thế mình trước cộng đồng thế giới
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Bất cứ cái riêng nào cũng bao hàm cái chung Trong quy luật phát triển của mỗi dân tộc, cái riêng của mỗi dân tộc được diễn ra theo đà phát triển của toàn nhân loại Xem xét vấn đề này chúng ta thấy sự hội nhập của văn hoá Việt Nam với văn hoá thế giới là tất yếu Thông qua quá trình hội nhập đó, Việt Nam có cơ hội, có điều kiện để tiếp thu những giá trị, những tinh hoa văn hoá của nhân loại để làm phong phú thêm đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân Nhưng sự tiếp thu phải có sự chọn lọc để phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam Bởi
lẽ, văn hoá không chỉ có đặc điểm là tính dân tộc mà nó còn mang tính nhân loại Tính nhân loại của văn hóa được thể hiện là những giá trị hướng tới con người, vì sự phát triển của con người sẽ được các dân tộc trên thế giới tiếp nhận nó Đồng thời những hiện tượng đi ngược lại với sự phát triển của của con người sẽ bị loài người tìm cách loại bỏ nó Những giá trị vì sự phát triển của con người sẽ được các dân tộc giữ gìn và kế thừa, phát triển Trong sự phát triển ngày nay của thế giới, sự hợp tác để tạo sự phát triển bền vững không thể không có sự tác động của yếu tố văn hóa
1.2 Giá trị của văn hóa truyền thống Việt Nam
1.2.1 Văn hoá truyền thống
Sự tồn tại của mỗi dân tộc đều gắn với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc đó Việt Nam là một dân tộc được hình thành từ rất sớm, đã trải qua hơn 4000 năm lịch sử Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam trải qua bao biến cố thăng trầm, vận động biến đổi Cùng với sự hình thành và phát triển, thông qua hoạt động lao động sáng tạo của các cộng đồng người Việt, họ đã sáng tạo ra các giá trị văn hoá Các giá trị đó, phản ánh mối quan hệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam đối với tự nhiên, quan hệ trong nội
bộ dân tộc cũng như quan hệ với các quốc gia, dân tộc khác Các giá trị văn
Trang 25hóa đó đã được bảo vệ, duy trì và phát triển qua các thế hệ người Việt và trở thành giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam
Từ truyền thống trong tiếng Việt hiện đại là một từ gốc Hán Việt Nó được hiểu là sức mạnh của một tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử
Nó tồn tại ở các lĩnh vực chế độ xã hội, tư tưởng, văn hóa, đạo đức Truyền thống có tác dụng khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con người Truyền thống là thể hiện tính kế thừa trong lịch sử
Trong Bách khoa từ điển của Liên xô đã giải thích Truyền thống, đó là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền thống từ đời này qua đời khác
và được lưu giữ trong các xã hội, các giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài; truyền thống được thể hiện chế định xã hội, chuẩn mực và hành
vi, các giá trị, tư tưởng, phong tục tập quán và lối sống Truyền thống tác động đến mọi xã hội và tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội
Từ những cách giải thích trên, ta có thể nói truyền thống được hiểu là:
“tập hợp các tư tưởng và tình cảm, những tập quán, thói quen trong tư duy,
lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và đã trở lên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [20, tr.343]
Việc nghiên cứu về yếu tố truyền thống, chúng ta phải nhận thấy rằng; bản thân truyền thống nó bao hàm cả những truyền thống tích cực, có tác động thúc đẩy sự phát triển của xã hội nói chung và của lĩnh vực văn hoá nói riêng, làm đẹp thêm bản sắc dân tộc Đồng thời trong truyền thống cũng tồn tại những yếu tố lạc hậu, bảo thủ làm cản trở sự phát triển xã hội nói chung,
sự phát triển của văn hoá nói riêng như những tập tục lạc hậu trong đời sống
xã hội, những hủ tục về mặt văn hoá…
Song khi nói tới các giá trị văn hoá truyền thống là chúng ta đề cập đến những giá trị tốt đẹp, những yếu tố thúc đẩy cho sự phát triển, nó tiêu biểu cho bản sắc văn hoá dân tộc Đó là sự kết tinh của toàn bộ tinh hoa văn hoá
Trang 26của dân tộc, được hun đúc nên trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc Nó gắn với những thăng trầm trong lịch sử phát triển dân tộc
Như vậy, văn hóa truyền thống là để chỉ những hiện tượng, những giá trị đã
được hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Giá trị của văn hoá truyền thống được tập trung ở bản sắc văn hoá dân tộc Giá trị văn hoá truyền thống là những yếu tố mang tính bền vững, cốt lõi vừa có tính bất biến, vừa có tính biến đổi, nó tự bổ sung, chuyển hoá, làm cho phù hợp với tính chất của thời đại và ngày càng phong phú hơn Giá trị văn hoá truyền thống là cơ sở vững chắc trong sự vận động, phát triển của xã hội
ở mỗi cộng đồng dân tộc
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo nên
bề dày các giá trị văn hoá truyền thống Chính những giá trị này đã tạo ra sức mạnh giúp cho dân tộc ta đứng vững trước những thử thách khắc nghiệt của thiên tai, cũng như các thế lực ngoại xâm để tồn tại và tạo ra các giá trị bản sắc độc đáo của dân tộc mình Do vậy, để xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong giai đoạn Hội nhập ngày nay đòi hỏi chúng ta phải kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam Việc kế thừa những giá trị đó một mặt khẳng định tính bề dày lịch sử của nền văn hoá Việt Nam, đồng thời cũng chống lại sự xâm nhập của những yếu tố phản của văn hoá của thế giới đối với dân tộc ta
1.2.2 Những giá trị có tính điển hình của văn hoá truyền thống Việt Nam
Hệ thống các giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam phong phú và đa dạng Việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống là khơi dậy, củng cố và làm phong phú thêm bản sắc văn hoá dân tộc Thông qua đó, làm cho các thế hệ nối tiếp tiếp tục bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc, phát huy sức mạnh tinh thần dân tộc, văn hoá dân tộc vào công cuộc phát triển đất
Trang 27nước theo hướng hiện đại Trong khuôn khổ của Luận văn này chúng tôi xin nêu ra những giá trị điển hình của văn hoá truyền thống Việt Nam
Một là; tinh thần yêu nước nồng nàn của con người Việt Nam: tinh thần
yêu nước của con người Việt Nam đã được nhiều tác giả đề cập, nghiên cứu Tinh thần yêu nước của người Việt Nam không phải tự nhiên mà có, tinh thần
ấy có được gắn liền với đặc thù hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam Dân tộc Việt Nam được hình thành từ cộng đồng của 54 dân tộc anh em Mỗi cộng đồng dân tộc có điều kiện sống riêng, có đặc điểm văn hoá khác nhau nhưng đều có chung tinh thần yêu nước Tinh thần yêu nước là một trong những giá trị điển hình của bản sắc văn hoá Việt Nam Nó là giá trị văn hoá truyền thống xuyên suốt lịch sử dân tộc và hun đúc tinh thần , khí phách của con người Việt Nam Việt Nam là một nước nhỏ nhưng trong quá trình tồn tại, chúng ta
đã phải chống lại đế quốc hùng mạnh nhất thế giới Yêu nước được coi là giá trị hàng đầu của người Việt Nam qua mọi thời đại, nó trở thành cái chung trong mỗi con người, trở thành thước đo phẩm giá của người Việt Nam
Tinh thần yêu nước của người Việt Nam được biểu hiện cụ thể ở lòng dũng cảm, ý chí bất khuất trước kẻ thù, anh hùng bền vững và sâu sắc, dám xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Tinh thần yêu nước của người Việt Nam luôn luôn gắn liền với ý thức về cội nguồn, tôn trọng yêu mến cội nguồn tổ tiên, thờ phụng tổ tiên như một lẽ sống của mỗi người Điều đó được ẩn sâu trong mỗi người, có lúc có thể bị chìm hẳn đi, hầu như bị lãng quên mất hẳn, nhưng mỗi khi có điều kiện khơi dậy nó lại bùng cháy mãnh liệt làm lên sức mạnh tinh thần to lớn
Thực tiễn đã chứng minh, lịch sử dân tộc ta đã trải qua ngàn năm Bắc thuộc, thế nhưng không ai quên tổ tiên Hùng Vương của mình, không ai quên
nguồn gốc của mình là “con rồng cháu tiên” Ngay từ thế kỷ thứ Nhất, cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng nhằm đánh đuổi quân thù để giành lại giang sơn cũng với ý thức là nhằm nối nghiệp Hùng Vương Tất cả các lãnh tụ khởi
Trang 28nghĩa chống ngoại xâm đều giương cao tinh thần cội nguồn dân tộc để động viên, tập hợp nhân dân, tập hợp lực lượng Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, vào tháng 10 năm 1954 trên đường từ Việt Bắc về Hà Nội, đứng trước Đền thờ các Vua Hùng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng xúc động
nói: Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ
lấy nước
Người Việt Nam dù cho dưới thời phong kiến, yêu nước không phải là yêu vua mà là yêu đất nước, yêu quê hương, tổ tiên Ông vua nào chiến đấu cho tình yêu ấy thì được nhân dân tin yêu Dân tin yêu vua là vì vua thay mặt nhân dân, lãnh đạo nhân dân bảo vệ đất nước, quê hương và nguồn gốc tổ tiên Ông vua nào làm ngược lại thì bị người dân khinh ghét và sẵn sàng chống lại Từ trong lịch sử dân tộc, kẻ nào phản bội tổ quốc, phản bội tổ tiên
là kẻ có tội lớn nhất, bị nguyền rủa nhiều nhất, bị nhân dân khinh ghét nhất
Chính tinh thần yêu nước đã tạo ra chủ nghĩa anh hùng Việt Nam Người Việt Nam có bản tính là yêu chuộng hoà bình, có lối sống thân thiện, tôn trọng tự do nhưng khi đất nước bị đe doạ bởi các thế lực ngoại xâm thì
mọi người sẵn sàng giết giặc Họ sẵn sàng “quyết tử vì tổ quyết quyết sinh”,
“thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ” Và khi giặc đến nhà thì: “Hễ là người Việt Nam ai cũng phải tham gia giết giặc cứu nước”
Yêu nước là một tình cảm đã được ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, không bao giờ nguôi, không bao giờ quên, không bao giờ mờ nhạt, không bao giờ mất Lịch sử phát triển của dân tộc ta đã chứng minh cho sức sống mãnh liệt của giá trị tinh thần yêu nước trong con người Việt Nam Dân tộc ta đã từng bị đế quốc ngoại lai xâm chiếm, đô hộ hàng ngàn năm nhưng
họ không thể đồng hóa được dân tộc Việt, với những đòn tra tấn dã man của
kẻ thù cũng không thể khuất phục được ý chí bất khuất, kiên cường chống lại
Trang 29kẻ thù của các chiến sỹ cách mạng, thậm chí nhiều người sẵn sàng chết vì tổ quốc vì họ hiểu và tin rằng sự ngã xuống của họ để Tổ quốc tồn tại
Lịch sử hơn 4000 năm của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đã từng phải đứng lên chống lại các thế lực ngoại xâm, đưa dân tộc Việt Nam
“sánh vai cùng các cường quốc”, với khí thế: “bách chiến bách thắng” được thế giới nể phục Một dân tộc không bao giờ chịu khuất phục trước các thế lược ngoại xâm Vì thế, lịch sử nước ta có nhiều cuộc chiến đấu kiên cường, dài ngày để giành độc lập dân tộc Ở thế kỷ XIII, Nhà Trần đã ba lần thực hiện cuộc kháng chiến chống đế quốc Nguyên - Mông hùng mạnh vào bậc nhất thế giới lúc bấy giờ trong suốt hơn 20 năm Lê Lợi đã thực hiện cuộc khởi nghĩa chống sự đô hộ của Nhà Minh vào thế kỷ XV để giành lại chủ quyền đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải 30 năm ra đi để tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, và khi đất nước giành được độc lập nhưng kẻ thù không cho ta được hưởng những giá trị của một dân tộc độc lập, tự do Các thế lực đế quốc tiếp tục dã tâm xâm lược Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lại phải tiếp tục lãnh đạo nhân dân
ta chiến đấu chống kẻ thù tới 30 năm tiếp theo mới thống nhất được đất nước, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc
Chính lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã tạo nên truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết Đây là một giá trị văn hoá nổi bật, một truyền thống cần được kế thừa và phát huy trong việc xây dựng đời sống văn hoá hiện nay
Tinh thần yêu nước trong giai đoạn hiện nay được biểu hiện là sự vững tin vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam, chống lại những luận điểm sai trái, xuyên tạc bản chất của chế độ ta Đồng thời, nó còn được biểu hiện là ý chí khắc phục khó khăn để vươn lên chống đói nghèo, chống lạc hậu, không ngừng học hỏi, tiếp thu các giá trị của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật thế giới ngày nay đem lại để đưa đất nước phát triển lên một
Trang 30tầm cao mới Để được “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã từng dăn dạy, mong muốn Để đạt được mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”
Hai là: Tinh thần cần cù, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn là một giá trị to lớn của văn hóa truyền thống Việt Nam Tinh thần cần cù, chịu
đựng gian khổ, khắc phục khó khăn là một đức tính quan trọng của người Việt, trở thành một giá trị của văn hóa truyền thống Việt Nam Có thể nói, về bản chất của con người luôn có tính cần cù, chịu đựng gian khó, nó không chỉ tồn tại duy nhất ở người Việt Nó là một đặc tính cố hữu của con người Bởi
lẽ, ngay từ khi xuất hiện loài người, các yếu tố đầu tiên của lao động luôn chứa đựng trong nó đặc tính cần cù và chịu đựng gian khó Chỉ thông qua cần
cù và chịu đựng gian khó con người mới cải biến được thế giới khách quan, tạo ra các sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình Tuy nhiên, để các đặc tính ấy trở thành giá trị của văn hóa của mỗi dân tộc lại là vấn đề khác, điều
đó cần môi trường xã hội và sự quy định của hệ tư tưởng, tính cách văn hóa
Đối với dân tộc Việt Nam, ngay từ khi mới hình thành với điều kiện sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Trong điều kiện sản xuất đó đòi hỏi con người phải chịu đựng gian khó và cùng với công cụ lao động ban đầu còn giản đơn nên lao động với sức lực bỏ ra rất lớn Với điều kiện tự nhiên
khắc nghiệt nên dân tộc ta “nửa năm tát nước ra sông, nửa năm vắt đất thay
trời làm mưa” Bên cạnh đó, để tồn tại dân tộc ta cũng phải liên miên thực
hiên các cuộc chiến tranh để bảo vệ đất nước, bảo vệ xóm làng trước nạn ngoại xâm Do vậy, những đức tính cần cù, chịu đựng gian khó, khắc phục khó khăn đã dần trở thành một tính cách, một giá trị quan trọng của đời sống dân tộc Việt Nam Cùng với tinh thần yêu nước, người Việt lao động sản xuất
và chiến đấu bằng tinh thần cần cù, chịu đựng gian khổ Đức tính đó trở thành tính cách của văn hóa, trở thành giá trị của văn hóa Việt Nam
Trang 31Nghiên cứu về Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam,
giáo sư Trần Văn Giàu đã coi đức tính cần cù, chịu đựng gian khổ đã trở thành một giá trị của người Việt từ thời kỳ dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh Ở mỗi giai đoạn đức tính cần cù, chịu đựng gian khổ có sự biểu hiện khác nhau
Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc trong lịch sử là minh chứng cho tinh thần yêu nước thấm sâu và tạo nên những hành động anh hùng
và cần cù trong lao động, chiến đấu của con người Việt Nam Dân tộc ta trong lịch sử đã phải chống lại các thế lực ngoại xâm hùng mạnh Từ đâu mà trong lịch sử dân tộc ta đã có được những chiến thắng trước đế quốc hùng mạnh như Mông - Nguyên dưới chế độ phong kiến nhà Trần, hay như chiến thắng trước
đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX của thời đại Hồ Chí Minh Chính đức tính cần cù, chịu đựng gian khó là một trong những nguyên nhân tạo ra những thắng lợi đó Để rồi thế giới biết đến Việt Nam như là tấm gương sáng chói trong phong trào giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới
Rõ ràng, tinh thần yêu nước tích hợp các giá trị của nó, rồi sản sinh ra tinh thần cần cù, chịu đựng gian khổ Trong điều kiện hoạt động để phát triển kinh tế hay trong chiến đấu chống lại kẻ xâm lược, bảo vệ bờ cõi, bảo vệ xóm làng, bảo vệ non sông đất nước, trước những biến cố gian khổ của lịch sử thì tinh thần yêu nước là trục kết tinh để phát triển giá trị văn hóa cần cù, chịu đựng gian khó của dân tộc Đức tính cần cù, chịu đựng gian khó ấy chính là một trong những giá trị quý báu của giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam Nhất là trong công cuộc đổi mới hiện nay, nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình
trạng nghèo nàn để trở thành một nước phát triển, để được “sánh vai cùng các
cường quốc Năm Châu” như lòng mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ
đại, lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, “anh hùng giải phóng dân tộc”, một
“danh nhân văn hóa thế giới”
Trang 32Ba là: tính cách bình dị của tâm hồn người Việt Bình dị là một nét đẹp
của văn hóa con người Việt Nam Bình dị là một nét đẹp cao cả của tâm hồn Bình dị hàm chứa cả sự giản dị, sự khiêm tốn, sự đúng mực, vừa phải, sự hồn nhiên, sự nhân hậu, sự khoan dung, độ lượng Nó ngược lại với tính khoa trương, cường điệu, giả tạo, tủn mủn, vụn vặt Bình dị đó là lòng yêu thiên nhiên, hòa với thiên nhiên, là bộc lộ bản chất người một cách chất phác, hồn nhiên Bình dị được thể hiện chủ yếu ở lối sống, trong thị hiếu của thẩm mỹ
Bình dị là từ trong tâm hồn, từ ở tấm lòng Con người có tấm lòng bình
dị tự nhiên có những hành vi tỏa ra một tình cảm ấm áp đầy sức thuyết phục
và cảm hóa người khác Cái bình dị bao giờ cũng hồn nhiên, có hồn nhiên thì mới có bình dị, vì vậy bình dị hàm chứa sự khoan dung, sự chân thành, trung thực, hàm chứa sự thương yêu, tôn trọng lẫn nhau Bình dị là một phong cách Việt Nam
Bình dị của người Việt Nam có thể nói đã được biểu hiện thông qua tác phong Chủ tịch Hồ Chí Minh Chính Người là sự kết tinh nhiều vẻ của cái bình dị Việt Nam vào trong phong cách của mình, làm nên một bình dị Việt Nam rất tế nhị và văn minh, nêu lên một lý tưởng về phong cách mà mọi người Việt Nam đều yêu mến, ngưỡng mộ, hướng tới, ghi nhận lại như là một nét đậm đà của bản sắc Việt Nam trong phong cách sống Nhà thơ Liên Xô cũ
Ô - xíp Man - đen - xtam, phóng viên báo Ngọn lửa nhỏ viết về Hồ Chí Minh năm 1923 như sau: Tôi đã hình dung ra một cách rất cụ thể bọn thực dân
đang dùng rượu đầu độc như thế nào dân tộc Việt Nam đáng yêu, một dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái quá Dáng dấp của con người đang ngồi trước tôi đây, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, cũng tỏa ra một cái
gì thật lịch thiệp và tế nhị Văn minh châu Âu trên đất ấy đã dùng lưỡi lê và rượu độc để thu giấu tất cả những đức tính tốt đẹp ấy của dân tộc Việt Nam xuống dưới cái áo đen của bọn cố đạo Nhưng từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra
Trang 33một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai [49, tr.478]
Bình dị Việt Nam còn được biểu hiện thông qua thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật Việt Nam Các công trình xây dựng qua các thế hệ để lại đều gợi cho ta sự trang nhã, gọn gàng, thân mật và gần gũi Trong thị hiếu hàng ngày người ta thường nói tới trang nhã, thanh lịch, người ta trê trách những gì lòe loẹt, diêm dúa không phù hợp với tác phong của người Việt Nam
Thị hiếu thẩm mỹ Việt Nam là một thị hiếu tinh tế, hướng tới cái thanh tao, trang nhã gắn với thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên, hướng tới một cái đẹp bình dị hồn nhiên Nó nhất quán với cái bình dị hồn nhiên nhân hậu trong phong cách sống, trong phong cách ứng xử của con người tạo nên một bản sắc bình dị Việt Nam gắn với thiên nhiên và hòa vào thiên nhiên Như vậy, bình
dị đi liền với trung thực, nhân hậu và hồn nhiên là một nét đẹp của tâm hồn Việt Nam, là một giá trị cần khai thác, phát huy trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam thời kỳ Hội nhập quốc tế ngày nay
Trước hết về mặt địa lý tự nhiên, Việt Nam là một quốc gia không lớn thuộc khu vực Đông Nam châu Á, khí hậu cơ bản của nước ta là nhiệt đới gió
Trang 34mùa, lượng mưa tương đối cao trong năm, phân chia không đồng đều, cùng với đó là địa hình phức tạp, nhiều sông Giáo sư Trần Quốc Vượng đã viết: Sông nước đã để lại một dấu ấn quan trọng trong tinh thần văn hóa khu vực này Đây là một hằng số địa lý rất quan trọng mà chính nó đã tạo nên nét độc đáo của loại hình văn hóa nông nghiệp lúa nước; mà đặc trưng của loại hình văn hóa này là lối sống trọng tình, coi trọng cộng đồng, tập thể
Từ đặc điểm địa lý và khí hậu như trên, cư dân Việt Nam thường xuyên chịu sự tác động, tàn phá của thiên tai Để tồn tại đòi hỏi cư dân Việt Nam phải cố kết cộng đồng một lẽ tự nhiên để tạo ra sức mạnh chống lại sự tác động của thiên nhiên Công việc trị thủy, bảo vệ mùa màng là hoạt động thường xuyên người Việt phải thực hiện Tuy nhiên việc ngăn đê chống lũ không chỉ là công việc của một người, hoặc một nhóm người mà đòi hỏi cả cộng đồng phải cùng tham gia Đồng thời, với công tác trị thủy đã đem lại lợi ích cho cả cộng đồng dân cư Chính sự tham gia công tác trị thủy trong sự nối tiếp của các thế hệ người Việt Nam đã để lại đến ngày nay một hệ thống đê điều đồ sộ ở đồng bằng Bắc Bộ Với hệ thống đê ngăn lũ này, nó đã chứng tỏ dân tộc Việt Nam đã đoàn kết để chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên để tồn tại, để xây dựng quốc gia dân tộc từ rất sớm trong lịch sử Nhà nghiên cứu
về văn hóa Phan Ngọc đã nhận xét như sau: Người Việt Nam là người của một dân tộc đắp đê Người Việt Nam xuống đồng bằng từ rất sớm, nhưng điều kiện khí hậu không thuận lợi, quanh năm bão lũ nên muốn sống được cần phải đắp đê và giữ đê, muốn đắp được đê thì cần phải có sự thống nhất của chính quyền kết hợp với lao động tự nguyện của các công xã và yếu tố đê điều đã tạo nên tình đoàn kết, tính cộng đồng của người Việt Nam
Về mặt kinh tế; do đặc điểm kinh tế của cư dân Việt Nam chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước, nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc đã viết về đặc thù đó như sau: Người Việt Nam lấy việc trồng lúa nước làm phương tiện kinh tế chính và đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên tính cộng đồng
Trang 35của người Việt Nam Đã trồng lúa nước thì quanh năm phải lo tát nước, tháo nước, chống hạn, chống úng, nước chảy theo bậc thang, qua hết ruộng nhà này mới sang đến ruộng nhà khác Do đó, người Việt Nam không thể sống độc lập mà phải sống dựa vào nhau, gắn bó, nhường nhịn lẫn nhau Các gia đình nông dân Việt Nam không thể sống riêng rẽ mà phải tạo thành làng, xã
Do đó, mỗi con người Việt Nam đều là con người có hai phương diện: là dân của một làng và là dân của một nước
Bên cạnh đó, Việt Nam là một đất nước nhỏ luôn bị sự nhòm ngó của các thế lực ngoại bang Sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta gắn liền với công cuộc chống ngoại xâm Để chống lại ngoại xâm bảo vệ sự tồn tại dân tộc buộc các cộng đồng sống trên lãnh thổ Việt phải quy tụ, đoàn kết lại để tạo ra sức mạnh Chính lịch sử của chiến tranh chống ngoại xâm là một trong những yếu tố quan trọng để tạo nên tính cộng đồng của người Việt Nam Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh, khi dân tộc có sự đoàn kết nó sẽ tạo ra sức mạnh to lớn
để chiến thắng bất cứ kẻ thù nào dù chúng có sức mạnh hơn ta nhiều lần
Chính từ những điều kiện trên mà đòi hỏi con người Việt Nam không thể tách rời nhau, phải liên kết tạo thành cộng đồng thống nhất Nếu sống độc lập con người Việt Nam không thể tồn tại Sự duy trì mối liên kết cộng đồng cũng là duy trì sự tồn tại của bản thân mỗi con người Chính vì thế đã tạo ra một lối sống của người Việt là thân thiện, gần gũi, sống có lòng vị tha, quan
hệ hòa đồng với mọi người, tạo ra một phương thức chỉ đạo cuộc sống hàng
ngày là “tắt lửa tối đèn có nhau”, là “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”
Nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, chúng ta thấy các giá trị cộng đồng luôn được ưu tiên trong cuộc sống hàng ngày Chính giá trị cố kết cộng đồng
đã tạo thành nhân cách Việt Nam Con người Việt Nam sống luôn có trách nhiệm, có bổn phận Trách nhiệm ấy được biểu hiện thông qua quan hệ gia đình, quan hệ xã hội Trong quan hệ gia đình, đó là trách nhiệm làm cha, làm con, làm anh, làm em phải có trách nhiệm với người sống và người đã chết,
Trang 36trách nhiệm xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc Ngoài xã hội, đó là trách nhiệm với làng, với nước, với cộng đồng, lúc đất nước hòa bình phải cùng nhau xây dựng cộng đồng vững mạnh, cùng gánh vác và giải quyết việc chung; khi đất nước bị xâm lăng phải góp sức cùng cộng đồng đánh giặc, bảo
vệ bờ cõi, non sông Ý thức về bổn phận, về trách nhiệm đã tạo thành một tinh thần đạo lý, được truyền lại qua các thế hệ sống và tạo thành một giá trị của văn hóa Việt Nam Cùng với đó, là một trong những yếu tố góp phần tạo
ra tinh thần cố kết cộng đồng bền chặt của người Việt
Tinh thần cố kết cộng đồng đã được biểu hiện thông qua sự truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, thông qua truyền thuyết này đã giáo dục con người Việt Nam sống phải gắn bó với cộng đồng đã được hình thành từ trong lịch sử hình thành quốc gia dân tộc Cộng đồng Việt Nam dù sống ở các khu vực khác nhau, dù là ở đồng bằng, miền núi hay miền biển thì họ cũng là
anh em với nhau, đều cùng cha, cùng mẹ, đều là “con rồng cháu tiên” Với
truyền thuyết này các thế hệ đi trước đã có thông điệp gửi các thế hệ sau sống phải có trách nhiệm với nhau, đoàn kết, yêu thương nhau, có vui cùng hưởng,
tố để gắn bó với các thành viên và tạo nên thế ứng xử chung cho cả cộng đồng Chính vì thế mà các phong tục, tập quán có sức mạnh tác động rất lớn điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong cộng đồng Nó gắn với lối sống cộng đồng và ăn sâu vào ý thức của mỗi người
Trang 37Tính cộng đồng của một nền văn hóa phải được đặc trưng bằng các tiêu chí nhất định Văn hóa có nguồn gốc từ nhân dân Văn hóa được biểu hiện thành tư tưởng, lối sống, tình cảm của nhân dân, được nhân dân sáng tạo và gìn giữ Tính cộng đồng của văn hóa truyền thống được biểu hiện thông qua các lễ hội, thông qua lễ hội mà biểu thị tính cộng đồng to lớn của người Việt Tất cả các thành viên của cộng đồng đều có quyền tham gia lễ hội, không có
sự phân biệt về đẳng cấp, cao sang hay thấp hèn Ở đó địa vị xã hội không có gianh giới mà thay vào đó là cùng chung các nghi thức giao tiếp, niềm tin, tín ngưỡng Song tính cộng đồng của văn hóa không chỉ thông qua lễ hội Với
tư cách là một trong những giá trị của văn hóa Việt Nam, tính cộng đồng phải
có cơ chế nào đó để tồn tại vững chắc Nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, các tác giả đã đưa ra cơ sở để bảo tồn vững chắc của tính cộng đồng trong nền văn hóa Việt chính là ở sự xuyên suốt của trục nhà - làng - nước
Đầu tiên ta xem xét về yếu tố nhà (gia đình) trong văn hóa truyền thống Việt Nam Người Việt luôn coi gia đình là cái gốc của con người nên luôn coi trọng gia đình và cuộc sống gia đình Gia đình là nơi con người được sinh ra, bắt đầu một cuộc sống và đồng thời cũng là môi trường sống, môi trường giáo dục đầu tiên của các cá nhân Gia đình có tính chất thiêng liêng, với người Việt dù đi đâu cũng luôn hướng tới gia đình, hướng tới tổ tiên, dòng tộc Gia đình chính là điểm tựa, là nơi nuôi dưỡng tình cảm, là cơ sở để hình thành nhân cách sống Chính thông qua gia đình mà con người đã hiểu được giá trị của tình cảm trong đời sống giữa người với người, là trách nhiệm, là sự hy sinh vì người khác
Văn hóa gia đình là yếu tố đầu tiên tác động đến nhân sinh quan, hình thành nhân cách của mỗi con người Chuẩn giá trị của con người Việt Nam được biểu hiện ở nhiều yếu tố nhưng nổi trội hơn hết là hiếu và nghĩa Kẻ nào bất hiếu, bất nghĩa là kẻ đó sẽ bị khinh rẻ nhất, bị dư luận xã hội lên án gay gắt Trong sinh hoạt cộng đồng, hiếu và nghĩa là các yếu tố để đo giá trị của
Trang 38con người trong mối quan hệ với người khác Tình cảm gia đình của người Việt Nam có sự gắn bó bền chặt, trong đó mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái
là sâu sắc nhất, nổi trội nhất, đặc biệt là tình mẫu tử và lòng hiếu thảo
Tính sâu nặng của tình cảm gia đình được thể hiện trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Đối với người Việt, thờ cúng tổ tiên là một hành động thiêng liêng, một nghĩa vụ cao cả Vì thế dù vô tâm đến mấy cũng chẳng
ai quên ngày giỗ cha, giỗ mẹ, giỗ họ và đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì đến ngày đó thì người Việt luôn tìm cách thu xếp công việc để về với gia đình Đó
là hành vi biểu thị của tình cảm nhớ về cội nguồn gia đình, dòng họ, một hành
vi biểu hiện của tinh thần cộng đồng sâu sắc Bằng những hành động như việc chăm sóc mồ mả mỗi khi Tết đến xuân về hay vào tiết Thanh minh của người Việt, hoặc việc tu sửa nhà thờ của dòng họ, giáo dục truyền thống dòng họ hay cúng tế hàng năm, lưu truyền gia phả đã củng cố tình cảm thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở các thế hệ nối tiếp phải nêu gương cha ông tiếp tục gìn giữ
và phát huy truyền thống của gia đình, dòng tộc, giữ gìn và trau dồi đạo đức
cá nhân để không ảnh hưởng đến thanh danh của gia đình, dòng tộc Thông qua đó cũng góp phần vào việc xây dựng một xã hội lành mạnh
Trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng rất coi trọng việc xây dựng gia đình trong chế độ mới, gia đình dưới chế
độ xã hội Chủ nghĩa Chúng ta đang thực hiện công tác xây dựng gia đình văn hóa mới Gia đình văn hóa mới mà chúng ta đang xây dựng là một gia đình hòa thuận dựa trên cơ sở dân chủ, tôn trọng lẫn nhau trong các mối quan hệ vợ- chống, cha- con, anh- em, mọi người dù ở mối quan hệ nào cũng có trách nhiệm và quyền lợi, có bổn phận cùng nhau bàn bạc và quyết định những vấn
đề lớn của gia đình
Gia đình văn hóa mới mà chúng ta đang xây dựng càng đòi hỏi vợ chồng phải có lòng chung thủy, làm cha, làm mẹ phải có đức tính nhân từ, làm con phải có đức hiếu kính, làm anh em phải có sự thương yêu, nhường nhịn Có thể
Trang 39thấy là gia đình văn hóa mới hiện nay, trước hết, phải là một gia đình hạnh phúc, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng với nhau về quyền lợi và trách nhiệm Vợ chồng cùng nhau chia sẻ trách nhiệm giáo dục con cái, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà mới là gia đình hạnh phúc, bởi đức hiếu kính của người làm con biết phụng dưỡng cha mẹ, đó chính là cái gốc của đức nhân
Quá trình đẩy mạnh sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày nay đang tạo ra nhiều cơ hội để Việt Nam phát triển Sự biến đổi theo hướng tích cực của xã hội đang từng bước làm thay đổi những yếu tố văn hóa đã lỗi thời Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập cũng khó tránh khỏi
sự giao lưu, xung đột về văn hóa Cùng với những yếu tố tích cực của những nền văn hóa xâm nhập vào Việt Nam thì cũng xuất hiện nhiều những biểu hiện tiêu cực trong lối sống, văn hóa ứng xử không lành mạnh từ những nền văn hóa ngoại lai tác động tới đời sống, xã hội của đất nước Điều đó đang đặt gia đình
và công tác xây dựng gia đình trước nhiều khó khăn thách thức cần phải vượt qua Trước tình hình như vậy, việc xây dựng văn hóa gia đình và gia đình văn hóa là nhiệm vụ có vị trí đặc biệt quan trọng, đòi hỏi phải có sự quan tâm của toàn xã hội Chính vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Các chính sách của Đảng và Nhà nước phải chú ý xây dựng gia đình ấm no, hòa thuận, tiến bộ Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người
Yếu tố thứ hai là làng, làng là một đơn vị tổ chức xã hội, là nơi sinh sống của một cộng đồng người Việt Làng luôn là một cộng đồng về lãnh thổ,
nó phản ánh các hoạt động về kinh tế, văn hóa và là những bộ phận hữu cơ trong cơ cấu của xã hội Việt Nam Làng là nơi lưu giữ và biểu hiện sinh động của bản sắc văn hóa Việt Nam Khái niệm về làng ở Việt Nam luôn gắn với
ba đặc trưng cơ bản là: ý thức cộng đồng làng (cộng đồng sản xuất và bảo vệ xóm làng, xây dựng đời sống văn hóa của làng, lối sống, đạo đức, ý thức dân
Trang 40chủ của làng ), ý thức tự quản (xây dựng hương ước để quy định các thành viên trong làng phải tuân theo, tinh thần bảo vệ trị an, các quy tắc bảo vệ trị
an của làng ) và tính đặc thù, độc đáo riêng của mỗi làng (mỗi làng Việt Nam có những nét đặc thù riêng như: phong tục tập quán, thờ thần hoàng của làng, giọng nói, tín ngưỡng )
Từ những đặc điểm trên, làng đã tạo ra một thế và một lực của cộng đồng với mọi thành viên trong làng, hình thành trong mỗi thành viên một lối sống cộng đồng, cả trong ý thức và việc làm thực tế Sản phẩm của tính cộng đồng ấy là một tập thể mang tính tự trị, tính tự trị khẳng định sự độc lập của làng, không liên hệ với bên ngoài, làng thường là một đơn vị có tính chất khép kín với những quy tắc ứng xử riêng Với cơ cấu của tổ chức đặc thù, làng xóm Việt Nam đã trở thành nơi lưu giữ các giá trị của văn hóa Việt chống lại các thế lực ngoại lai, chống lại sự xâm lấn, đồng hóa về văn hóa của những kẻ xâm lược; đồng thời làng cũng là những thành lũy vững chắc bảo vệ
tổ quốc trước thế lực ngoại xâm Nghiên cứu về lịch sử Việt Nam nói chung
và lịch sử phát triển làng Việt nói riêng, các học giả đã khẳng định Việt Nam
đã có giai đoạn mất nước nhưng chưa mất làng Điều đó đã chứng tỏ sức mạnh và sự bền vững của làng, của văn hóa làng
Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó chặt chẽ với làng mạc và quê hương Trong tâm thức của người Việt, làng có ý nghĩa thiêng liêng, đó là nơi
“chôn nhau cắt rốn” của mỗi người Trong quan hệ ứng xử của người dân
nông thôn Việt Nam, các hành vi cá nhân đều bị chi phối bởi vai trò của cộng đồng, do vậy vai trò cá nhân thường bị lu mờ, nhỏ bé Tập tục làng, truyền thống và văn hóa làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên trong làng Trong một kết cấu chặt chẽ như vậy, những thay đổi trái với tập tục của làng sẽ bị bất lợi Vì thế, làng trong tâm thức của người Việt luôn tiềm ẩn những tình cảm đặc biệt; dù đi đâu họ vẫn nhớ về quê hương, bản quán với