1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Ba Vì- thành phố Hà Nội : Luận án TS. Xã hội học và Nhân học: 623103

208 17 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan sát các công trình nghiên cứu và các ấn phẩm học thuật liên quan đến nội dung về đóng góp của phụ nữ đối với hoạt động kinh tế của gia đình, có thể thấy hai xu hướng rõ rệt: Xu hướn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Mai Thị Kim Thanh

2 TS Nguyễn Hải Hữu

Hà Nội, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả luận án

NGUYỄN HỒNG LINH

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG 3

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ 5

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 10

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11

4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích 13

5 Ý nghĩa của luận án 20

6 Kết cấu của luận án 20

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 21

1.1 Các nghiên cứu về vai trò của phụ nữ đối với phát triển kinh tế hộ gia đình 21

1.2 Các nghiên cứu về phân công lao động theo giới trong gia đình 29

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Cơ sở lý luận 41

2.1.1 Các khái niệm công cụ 41

2.1.2 Một số lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu về vai trò của phụ nữ

trong phát triển kinh tế hộ 49

2.1.3 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế

hộ gia đình 56

2.1.4 Địa bàn nghiên cứu 57

2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 62

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng 62

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 67

2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin định lượng 68

2.2.4 Phương pháp xử lý thông tin định tính 69

Tiểu kết chương 2 70

Trang 5

Chương 3 SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN

KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 71

3.1 Thực trạng kinh tế hộ gia đình tại Ba Vì 72

3.1.1 Thực trạng kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp 72

3.1.2 Thực trạng phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch và tiểu thủ công nghiệp huyện Ba Vì 74

3.2 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 78

3.2.1 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động trồng trọt 78

3.2.2 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động chăn nuôi 93

3.2.3 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động kinh doanh, dịch vụ 102

Tiểu kết chương 3 113

Chương 4 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 115

4.1 Yếu tố chính sách 116

4.2 Yếu tố văn hóa: định kiến về vai trò giới, phong tục tập quán và đặc trưng

văn hóa gia đình 124

4.3 Điều kiện kinh tế và nguồn nhân lực của hộ gia đình 133

4.4 Độ tuổi lao động, trình độ học vấn và nghề nghiệp của người phụ nữ 136

4.5 Chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình 143

4.6 Khả năng tiếp cận các nguồn thông tin hỗ trợ sản xuất kinh doanh 148

Tiểu kết chương 4 152

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 154

Kết luận 154

Khuyến nghị 157

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 160

TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

PHỤ LỤC 170

Phụ lục 1 CÁC CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 171

Phụ lục 2 MỘT SỐ KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐỊNH LƯỢNG 190

Phụ lục 3 MỘT SỐ HÌNH ẢNH LÀNG NGHỀ TẠI HÀ NỘI 205

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất tại thị trấn Tây Đằng, xã Tiên Phong

và xã Ba Vì 60

Bảng 2.2 Dân số thị trấn Tây Đằng, xã Tiên Phong, xã Ba Vì 61

Bảng 3.1 Sự tham gia các hoạt động trồng trọt của các thành viên (%) 80

Bảng 3.2 Tỷ lệ người vợ và người chồng làm nhiều hơn các hoạt động trồng trọt

theo địa bàn nghiên cứu (%) 82

Bảng 3.3 Người ra quyết định chính về việc lựa chọn giống cây trồng của

hộ gia đình theo địa bàn khảo sát (%) (N=292) 86

Bảng 3.4 Đóng góp của phụ nữ trong hoạt động thương mại hóa sản phẩm trồng trọt và quản lý thu chi hoạt động trồng trọt theo đặc điểm cá nhân và gia đình (%) 90

Bảng 3.5 Người làm chủ yếu các hoạt động chăn nuôi trong hộ gia đình (%) 94

Bảng 3.6 Tỷ lệ người vợ và người chồng làm nhiều hơn các hoạt động chăn nuôi theo địa bàn nghiên cứu (%) 96

Bảng 3.7 Người quyết định hoạt động chăn nuôi trong hộ gia đình theo địa bàn nghiên cứu (%) 98

Bảng 3.8 Đóng góp của phụ nữ trong việc tiêu thụ sản phẩm và quản lý thu chi

hoạt động chăn nuôi theo đặc điểm cá nhân và gia đình (%) 100

Bảng 3.9 Người tham gia các hoạt động kinh doanh, dịch vụ (%) 103

Bảng 3.10 Sự tham gia hoạt động kinh doanh của người vợ và người chồng

theo địa bàn nghiên cứu (%) 105

Bảng 3.11 Người ra quyết định chính về hoạt động sản xuất kinh doanh của

hộ gia đình (%) 108

Bảng 3.12 Tỷ lệ phụ nữ là người làm nhiều hơn việc tiêu thụ sản phẩm và quản lý

thu chi hoạt động kinh doanh dịch vụ theo đặc điểm cá nhân và gia đình (%) 111

Bảng 4.1 Tỷ lệ phụ nữ là người tham gia chủ yếu vào các hoạt động kinh tế

hộ gia đình theo địa bàn cư trú (%) 129

Bảng 4.2 Tương quan tỷ lệ phụ nữ đảm nhiệm chính hoạt động kinh tế hộ gia đình theo đặc điểm văn hóa gia đình (%) 133

Trang 7

Bảng 4.3 Tương quan tỷ lệ phụ nữ đảm nhiệm chính hoạt động kinh tế hộ gia đình

theo mức sống và nguồn lực của hộ gia đình (%) 136

Bảng 4.4 Tương quan về sự tham gia hoạt động kinh tế hộ gia đình theo độ tuổi,

học vấn và nghề nghiệp của người phụ nữ (%) 141

Bảng 4.5 Tương quan tỷ lệ phụ nữ tham gia hoạt động sản xuất theo tình trạng

vay vốn, tập huấn và nguồn thông tin hỗ trợ của hộ gia đình (%) 146

Bảng 4.6 Tương quan tỷ lệ phụ nữ tham gia làm chính hoạt động sản xuất

theo khả năng tiếp cận nguồn thông tin hỗ trợ của hộ gia đình (%) 149

Bảng 4.7 Mô hình hồi quy đa biến logistic các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng

phụ nữ đảm nhiệm chính hoạt động kinh tế hộ gia đình 150

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Sự tham gia hoạt động trồng trọt của người vợ và người chồng (%) 79

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phụ nữ là người làm chính các hoạt động trồng trọt theo một số

đặc điểm cá nhân và gia đình (%) 83

Biểu đồ 3.3 Tương quan giữa tỷ lệ phụ nữ là người quyết định chính các hoạt động trồng trọt theo nhóm tuổi, dân tộc và mức (%) 87

Biểu đồ 3.4 Tương quan đóng góp thu nhập giữa vợ và chồng trong gia đình

(N=304) 87

Biểu đồ 3.5 So sánh tỷ lệ người làm nhiều hơn công việc bán sản phẩm

trong hoạt động trồng trọt (%) (N=250) 89

Biểu đồ 3.6 So sánh tỷ lệ người làm nhiều hơn công việc quản lý thu chi hoạt động trồng trọt (%) 92

Biểu đồ 3.7 So sánh tỷ lệ người làm nhiều hơn tính theo số lượng công việc

chăn nuôi (%) 95

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động chăn nuôi theo một số đặc điểm nhân khẩu xã hội của phụ nữ (%) 97

Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ phụ nữ quyết định nhiều hơn hoạt động chăn nuôi theo nhóm tuổi và học vấn của người phụ nữ (%) 98

Biểu đồ 3.10 So sánh hoạt động bán sản phẩm nông nghiệp của người vợ

và người chồng (%) 99

Biểu đồ 3.11 Người đảm nhiệm chính trong hoạt động quản lý tài chính trong việc chăn nuôi (%) 101

Biểu đồ 3.12 So sánh tỷ lệ người làm tính theo số lượng công việc kinh doanh

dịch vụ (%) 104

Biểu đồ 3.13 Tỷ lệ phụ nữ làm chính hoạt động sản xuất theo địa bàn nghiên cứu, theo đặc điểm cá nhân và hộ gia đình (%) 106

Biểu đồ 3.14 Tỷ lệ phụ nữ là người ra quyết định nhiều hơn về đầu tư/mở rộng

sản xuất kinh doanh và vay vốn theo địa bàn khảo sát và đặc điểm cá nhân

của người phụ nữ (%) 109

Trang 9

Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ tham gia tiêu thụ sản phẩm kinh doanh dịch vụ trong

hộ gia đình (%) 110

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ phụ nữ làm chính các hoạt động kinh tế hộ gia đình (%) 128

Biểu đồ 4.2 Tương quan giữa tỷ lệ phụ nữ đảm nhiệm chính hoạt động kinh tế

hộ gia đình theo dân tộc (%) 130

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phát triển kinh tế hộ gia đình là một vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cao ở Việt Nam hiện nay Trong phát triển kinh tế hộ, nguồn lao động chủ yếu là các thành viên trong gia đình, trong đó người chồng và người vợ đóng vai trò chủ yếu Trong gia đình, nam giới và phụ nữ đều đóng vai trò quan trọng trong các công đoạn sản xuất cũng như tạo thu nhập và quản lý kinh tế

hộ gia đình

Phụ nữ là một nhóm xã hội lớn, có mặt ở nhiều giai tầng, giai cấp khác nhau trong tính đa dạng của các hoạt động xã hội nhất là hoạt động lao động Phụ nữ đã có những đóng góp đáng kể trong sự tiến bộ của xã hội Tuy nhiên trên thực tế, phụ nữ không phải lúc nào cũng được bình đẳng với nam giới Các định kiến về vai trò giới vẫn chưa hoàn toàn được xóa bỏ trên nhiều vùng, miền hoặc trên các quốc gia khác nhau

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới phụ nữ thông qua các chính sách, luật pháp dành riêng cho phụ nữ, hoạt động của các Đoàn thể nhằm nâng cao cơ hội và vị thế cho PN trong gia đình và ngoài xã hội Các chính sách về bình đằng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ cũng được ban hành nhằm góp phần vào thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình

Trên thế giới, phụ nữ chiếm hơn 40% lực lượng lao động toàn cầu, 43% lực lượng lao động nông nghiệp Tuy vậy, phụ nữ vẫn có mức thu nhập, năng suất lao động và tiếng nói thấp hơn trong xã hội [Ngân hàng Thế giới, 2012][41] Ở Việt Nam, phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng của nền kinh tế quốc dân và kinh tế hộ gia đình Trong tổng dân số ước tính đến thời điểm 1/4/2014, là 90,5 triệu người dân số nam là 44.618,7 nghìn người

và dân số nữ là 45.874,7 nghìn người, tương đương với khoảng 49,3% và 50,7% tổng dân số ước tính (Tổng cục Thống kê, 2015) Vị thế việc làm là lao động gia đình hiện chiếm 21,4%, trong nhóm lao động gia đình, lao động

Trang 11

nữ vẫn chiếm vai trò chủ đạo (chiếm 60,4%) (Tổng cục Thống kê, 2015a:28) Trong toàn bộ nền kinh tế, tỷ trọng lao động tự làm và lao động gia đình chiếm tới 62,2% (khoảng 32,8 triệu người), cao gần gấp đôi so với tỷ trọng người làm công ăn lương Đáng chú ý, tỷ trọng lao động tự làm và lao động gia đình của nữ cao hơn nam 11,6 điểm phần trăm Tỷ trọng lao động tự làm

và lao động gia đình trong tổng số người ở nông thôn là 70,8%, trong đó 65,0% là nam giới và 77,0% phụ nữ (Tổng cục Thống kê, 2015a, 31-32) Thời gian làm việc của lao động nữ khác biệt không đáng kể so với lao động nam Số giờ làm việc bình quân một lao động/tuần (giờ) đối với nữ là 42,5 giờ so với nam là 44,2 giờ, tính chung ở nông thôn là 42,6 giờ (Tổng cục Thống kê, 2015a: 7-8)

Trong xã hội truyền thống, địa vị và quyền uy của người chồng được đề cao Người vợ, người phụ nữ có địa vị rất thấp trong gia đình, vai trò của họ chỉ được nhìn nhận ở các công việc không được trả công như công việc nội trợ, chăm sóc con cái Trong khi những đóng góp của họ vào hoạt động tái sản xuất và chăm sóc gia đình mang lại những giá trị không nhỏ cả về tinh thần lẫn vật chất, nhưng tầm quan trọng của công việc nuôi dưỡng và tái sản xuất sức lao động cho các thành viên trong gia đình mà người phụ nữ đang thực hiện lại không được gia đình và xã hội đánh giá một cách đúng mức

Cho đến nay, mối quan hệ vợ chồng đã có nhiều biến đổi, địa vị, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội đã từng bước được khẳng định, và một trong lý do là vì người phụ nữ ngày càng cải thiện được vai trò kinh tế của mình trong gia đình Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng đã thu hút sự quan tâm của một số lĩnh vực nghiên cứu Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiện nay phụ nữ

và nam giới đều là lực lượng tham gia đóng góp vào các hoạt động tạo thu nhập của hộ gia đình, thậm chí phụ nữ còn có đóng góp nhiều hơn, trong khi

sự chia sẻ của nam giới và các thành viên khác trong các hoạt động nội trợ và chăm sóc các thành viên gia đình là không đáng kể Thực tế này cho thấy người phụ nữ đang phải chịu gánh nặng kép ở vai trò là người chịu trách chính

Trang 12

các hoạt động không được trả công gia đình và trong việc tham gia đóng góp

và phát triển kinh tế hộ gia đình

Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng, trong lĩnh vực chính trị, trong phát triển kinh tế v.v Quan sát các công trình nghiên cứu và các ấn phẩm học thuật liên quan đến nội dung về đóng góp của phụ nữ đối với hoạt động kinh tế của gia đình, có thể thấy hai xu hướng rõ rệt: Xu hướng thứ nhất chú trọng nghiên cứu, phân tích các vai trò của phụ nữ trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế hộ gia đình; xu hướng thứ hai đó là các nghiên cứu về sự phân công lao động theo giới trong gia đình Các nghiên cứu về phụ nữ nói chung thường gắn liền với các quan điểm tiếp cận nghiên cứu vai trò giới nhằm thúc đẩy sự phát triển, bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó bao gồm cả vai trò của phụ nữ đối với sự phát triển kinh tế Hầu hết các nghiên cứu đều phân tích vai trò của phụ nữ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội từ cả góc độ

lý luận và thực tiễn Các nghiên cứu cho thấy, Đảng và Nhà nước VN đã có những chính sách, luật pháp trong hỗ trợ người PN nhằm nâng cao bình đẳng giới Tại mỗi địa phương ở VN, hoạt động của các Đoàn thể mà ở đây là Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội nông dân được tạo điều kiện phát triển rộng khắp với nhiều hoạt động được triển khai cũng ko nằm ngoài mục đích: tạo

cơ hội nâng cao vị thế cho người PN…Mặc dù có sự tiến bộ và phát triển vượt bậc nâng cao vị thế của người phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống

xã hội, nhưng dường như, vai trò của người phụ nữ vẫn chưa được đề cao, đặc biệt là sự tham gia của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế gia đình Nhằm làm rõ hơn vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình, chúng

tôi chọn đề tài “Vai trò của Phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại

Ba Vì - Hà Nội” để có thể cung cấp các kết quả sâu hơn về vai trò của phụ

nữ trong kinh tế hộ gia đình

Sở dĩ bản thân tác giả chọn địa bàn nghiên cứu là Ba Vì mà không phải

là một nơi khác bởi: Ba Vì là một huyện miền núi của thành phố Hà Nội, vùng địa linh nhân kiệt vẫn còn duy trì nhiều phong tục, tập quán, các giá trị văn

Trang 13

hoá truyền thống trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đặc biệt

là các xã miền núi với phần lớn dân số là người dân tộc thiểu số Sau khi được sáp nhập địa giới hành chính vào thủ đô Hà Nội, được sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước, Ba Vì đã có những chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh

tế, xã hội, nhất là trong phát triển kinh tế hộ Cùng với sự tiếp nhận các thay đổi về hạ tầng cơ sở, các thay đổi về sản xuất, giao lưu văn hoá, xã hội cũng kéo theo sự thay đổi về phân công lao động trong sản xuất trong gia đình Chính vì lí do đó, tác giả chọn huyện Ba Vì làm địa bàn nghiên cứu cho đề tài của mình Tại huyện Ba Vì, tác giả chọn 2 xã một thị trấn trong đó có một xã miền núi là xã Ba Vì để có sự so sánh về sự khác biệt về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình theo đặc điểm địa bàn cư trú là đô thị, nông thôn và miền núi

Lý do chọn thời điểm nghiên cứu cũng là một trong những điều thú vị của Luận án mà tác giả muốn chia sẻ bởi: Đây là khoảng thời gian sau 07 năm huyện Ba Vì được sáp nhập vào thủ đô Hà Nội (2008 - 2015) có nhiều sự biến đổi về kinh tế, xã hội và tác động tới đời sống kinh tế, sản xuất của các hộ gia đình tại huyện Ba Vì Thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu đã thu thập được một số báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện phát triển kinh tế xã hội của Ba Vì, đây là một nguồn thông tin quý có giá trị của luận án

2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, các yếu tố tác động tới vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

2.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận và hệ thống hóa cơ sở lý luận để làm rõ vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ

Trang 14

Tìm hiểu thực trạng vai trò của phụ nữ trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp tạo thu nhập cho hộ gia đình tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Tìm hiểu thực trạng vai trò của phụ nữ trong các hoạt động kinh doanh, dịch vụ tạo thu nhập cho hộ gia đình tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Mô tả các yếu tố tác động đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế

hộ gia đình tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế của hộ gia đình tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao Bình đẳng giới đối với vai trò của phụ nữ trong gia đình nói riêng và trong xã hội nói chung

3 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

- Phạm vi không gian: Ba xã/thị trấn tại huyện Ba Vì bao gồm xã Ba Vì,

xã Tiên Phong và thị trấn Tây Đằng

- Thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2017

- Phạm vi nghiên cứu: Có rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu liên quan tới kinh tế hộ và vai trò của phụ nữ trong làm kinh tế hộ và phát triển kinh tế hộ như tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa tới kinh tế hộ, vai trò của phụ

nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ, biến đổi gia đình và vai trò phụ

nữ trong phát triển kinh tế hộ v.v… Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi tập trung vào nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ tại huyện Ba Vì dưới các chiều cạnh sau:

Trang 15

+ Thực trạng kinh tế hộ gia đình trong lĩnh vực nông nghiệp và kinh doanh, dịch vụ huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội;

+ Vai trò của phụ nữ trong làm kinh tế hộ và phát triển kinh tế hộ bao gồm lĩnh vực nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ của hộ gia đình tại huyện Ba Vì; thành phố Hà Nội

+ Các yếu tố tác động tới hoạt động làm kinh tế, phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội bao gồm: Các yếu tố văn hóa, điều kiện kinh tế và nguồn lực gia đình, độ tuổi lao động, trình độ học vấn và nghề nghiệp của phụ nữ và các chính sách phát triển kinh tế

hộ gia đình và khả năng tiếp cận thông tin

Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các khó khăn cho phụ nữ khi tham gia phát triển kinh tế hộ nhằm góp phần nâng cao bình đẳng giới trong phát triển kinh tế hộ trong các gia đình hiện nay

Cụ thể, nghiên cứu sẽ tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong hoạt động kinh

tế hộ thông qua các yếu tố sau:

+ Thứ nhất, việc đánh giá sẽ được dựa vào mức độ tham gia làm nhiều hơn (đảm nhiệm chính/chủ yếu) của phụ nữ các hoạt động sản xuất nông nghiệp và hoạt động kinh doanh, dịch vụ Tỷ lệ phụ nữ tham gia ở mức làm nhiều hơn càng cao và thể hiện ở số lượng các công việc mà họ đảm nhiệm chính càng nhiều thì vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình càng lớn

+ Thứ hai, dựa vào chỉ báo về mức độ là người đảm nhiệm chính quản lý kinh tế của gia đình của người phụ nữ Tỷ lệ phụ nữ là người làm nhiều hơn (đảm nhiệm chính/chủ yếu) vào hoạt động quản lý kinh tế hộ gia đình càng nhiều thì càng khẳng định vai trò đóng góp

về mặt kinh tế gia đình của người phụ nữ

+ Thứ ba, dựa vào mức độ đóng góp vào nguồn thu của hộ gia đình của phụ nữ so với nam giới Tỷ lệ đóng góp thu nhập nhiều hơn của người vợ so với người chồng càng cao thì vai trò đóng góp về mặt kinh tế gia đình của người phụ nữ càng được khẳng định

Trang 16

+ Cuối cùng, mức độ tham gia vào các quyết định vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình là một chỉ báo quan trọng đánh giá địa vị, vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình Tỷ lệ phụ nữ là người ra quyết định chính đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình càng nhiều càng thể hiện vai trò của phụ nữ trong tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình

4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện

Ba Vì hiện nay như thế nào?

- Các yếu tố nào tác động tới hoạt động của phụ nữ trong phát triển kinh

tế hộ gia đình tại Ba Vì?

- Giải pháp nào mang tính khả thi nhất trong việc tạo nên sự bình đẳng giới trong hoạt động kinh tế hộ và phát triển kinh tế hộ của người dân huyện

Ba Vì hiện nay?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Phụ nữ tham gia chủ yếu vào các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình như hoạt động sản xuất nông nghiệp, kinh doanh dịch vụ, quản lý kinh tế

hộ gia đình

- Yếu tố đặc trưng xã hội của phụ nữ có vai trò quyết định trong việc đóng góp vào làm kinh tế hộ và phát triển kinh tế hộ tại Ba Vì, Hà Nội

- Giải pháp góp phần tạo bình đẳng giới trong hoạt động làm kinh tế hộ

và phát triển kinh tế hộ là nâng cao nhận thức cho phụ nữ, cộng đồng về vai trò trò của phụ nữ trong làm kinh tế hộ và phát triển kinh tế hộ đồng thời đưa

ra các chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ phụ nữ trong làm kinh tế hộ, phát triển kinh tế hộ

4.3 Khung phân tích

Khung phân tích được xây dựng trên cơ sở thao tác hóa khái niệm và sự tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc

Trang 17

Các biến số đƣợc sử dụng để phân tích số liệu trong luận án gồm có

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN BA VÌ,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh

Vai trò của phụ

nữ trong phát triển kinh doanh, dịch vụ

Định kiến vai trò giới

Phong tục tập quán Đặc trưng văn hóa gia đình Mức sống

hộ gia đình

Nguồn nhân lực của hộ gia đình

Độ tuổi lao động của phụ nữ Học vấn của phụ nữ

Chính sách tiếp cận khoa học kỹ thuật

Nghề nghiệp của phụ nữ

Chính sách về truyền thông

Địa bàn sinh sống

Dân tộc

Chính sách vay vốn Chính sách phát triển vai trò phụ nữ

Trang 18

4.3.1 Biến số phụ thuộc

Biến số phụ thuộc (dependent variable) là biến số được sử dụng để mô tả hoặc đo lường vấn đề nghiên cứu Dựa vào vấn đề nghiên cứu, biến số phụ thuộc trong nghiên cứu này là vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình sẽ được xem xét từ chỉ báo về mức độ tham gia của phụ nữ vào các hoạt

động kinh tế hộ gia đình Biến phụ thuộc “VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG

PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH” sẽ được xây dựng từ 5 câu hỏi

dành cho đại diện hộ gia đình - là vợ hoặc người chồng - về sự tham gia đảm nhiệm chính (làm/đóng góp nhiều hơn hoặc ra quyết định chính) hoạt động sản xuất kinh tế gia đình: 1) công việc trồng trọt, chăn nuôi; 2) kinh doanh dịch vụ; 3) quản lý kinh tế gia đình; 4) người đóng góp thu nhập nhiều hơn; và 4) ra

quyết định đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh Câu trả lời gồm với 4

phương án: (1) Vợ làm/ đóng góp/ quyết định nhiều hơn; (2) Chồng làm/ đóng góp/ quyết định nhiều hơn; (3) Hai vợ chồng như nhau; (4) Người làm thuê làm nhiều hơn (đối với hoạt động sản xuất) Biến phụ thuộc sẽ được xây dựng từ các câu hỏi như sau:

 Trong gia đình ông bà ai là người làm chủ yếu các hoạt động sản xuất trồng trọt sau? Gồm 13 công việc: làm đất (cày, bừa, cuốc ), gieo trồng/cấy, bón phân, làm cỏ, phun thuốc sâu, trông nom, tưới tiêu, thu hoạch/ gặt, chế biến sản phẩm, trồng cây lâu năm, khai thác lâm sản phụ (hái thuốc, hái măng,lấy củi…mua sắm cho đến các công việc khác Với 4 giá trị: 1) Vợ làm nhiều hơn; (2) Chồng làm nhiều hơn; (3) Hai vợ chồng như nhau; (4) Người làm thuê làm nhiều hơn

 Trong gia đình ông bà ai là người làm chủ yếu các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm, sau đây? Gồm 9 công việc: mua giống, chuẩn bị thức ăn cho vật nuôi, phòng/chữa bệnh cho vật nuôi, chăn thả, vệ sinh chuồng, trại, mua sắm, bảo quản phương tiện sản xuất, thu hoạch, chế biến sản phẩm, và việc khác Với 4 phương án trả lời: 1) Vợ làm nhiều hơn; (2) Chồng làm nhiều hơn; (3) Hai vợ chồng như nhau; (4) Người làm thuê nhiều hơn

 Trong gia đình ông bà ai là người làm chủ yếu các hoạt động kinh doanh, dịch vụ sau đây? Gồm 6 công việc: Quản lý sản xuất/kinh doanh/dịch

Trang 19

vụ (chọn mặt hàng để bán, quyết định giá hàng ); Mua sắm, bảo quản phương tiện kinh doanh; Bán sản phẩm/dịch vụ; Cày bừa thuê bằng máy; Đi làm thuê (trồng cây lâu năm, làm cỏ…; Buôn bán nhỏ, dịch vụ ăn uống; Tiểu thủ công (đan, thêu, xây, mộc );Vận chuyển hàng hóa/sản phẩm Với 4 phương án trả lời: 1) Vợ làm nhiều hơn; (2) Chồng làm nhiều hơn; (3) Hai vợ chồng như nhau; (4) Người làm thuê làm nhiều hơn

 Giữa hai vợ chồng ông bà ai là người đóng góp nhiều hơn vào số thu nhập năm 2015? với 3 phương án trả lời: (1) Vợ đóng góp nhiều hơn; (2) Chồng đóng góp nhiều hơn; (3) Hai vợ chồng ngang nhau

 Trong gia đình ông bà ai là người ra quyết định chính về các công việc

sau đây? Gồm 5 công việc: Đầu tư/mở rộng sản xuất kinh doanh của gia đình;

Lựa chọn giống cây trồng; Lựa chọn giống vật nuôi là gia súc, gia cầm; Vay vốn đầu tư sản xuất; Phân công công việc Với 3 phương án trả lời: (1) Vợ quyết

định nhiều hơn (2) Chồng quyết định nhiều hơn; (3) Hai vợ chồng như nhau

Các biến số phụ thuộc được phân loại là biến số nhị nguyên với giá trị bằng 1 nếu thỏa mãn được điều kiện của chỉ tiêu và bằng 0 trong trường hợp ngược lại Các biến số này sẽ được xây dựng cụ thể như sau:

1) Biến phụ thuộc 1: Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp gồm hoạt động trồng trọt và chăn nuôi Để xây dựng được biến số vai

trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, nghiên cứu sẽ chỉ lựa chọn mẫu phân tích là nhóm phụ nữ là người làm nhiều hơn từ 4/13 công việc sản xuất trồng trọt và là người làm nhiều hơn từ 4/9 công việc chăn nuôi đã nêu trên Việc xác định mốc từ 4 số lượng công việc được dựa trên số trung bình công việc trong hoạt động nông nghiệp mà người vợ/người phụ nữ là người làm nhiều hơn, theo tính toán của nghiên cứu này, trong tổng số 12 công việc liên quan đến hoạt động nông nghiệp thì người phụ nữ làm nhiều

hơn trung bình là 4,2 công việc Biến số Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp được chia thành 2 giá trị/nhóm/thang đo: 1 = Phụ nữ là

người làm nhiều hơn từ 4 công việc trở lên ở hoạt động sản xuất trồng trọt và

ở hoạt động chăn nuôi; 0 = Phụ nữ không phải là người làm nhiều hơn từ 4

công việc trở lên ở hoạt động sản xuất trồng trọt và ở hoạt động chăn nuôi

Trang 20

2) Vai trò của phụ nữ trong hoạt động kinh doanh dịch vụ, với 2 giá

trị/nhóm/thang đo: 1 = Phụ nữ là người làm nhiều hơn từ 1 hoạt động kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình trở lên; 0 = Phụ nữ không phải là người làm nhiều hơn từ 1 hoạt động kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình trở lên

3) Vai trò của phụ nữ trong hoạt động quản lý kinh tế gia đình, với 2 giá

trị/nhóm/thang đo: 1 = Phụ nữ là người làm nhiều hơn ở cả 3 hoạt động gồm bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi và quản lý thu chi công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình; 0 = Phụ nữ không phải là người làm nhiều hơn ở cả 3 hoạt động gồm bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi và quản lý thu chi công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình

4) Vai trò của phụ nữ trong đóng góp thu nhập kinh tế hộ gia đình, với 2

giá trị/nhóm/thang đo: 1 = Phụ nữ là người có đóng góp thu nhập nhiều hơn vào tổng thu nhập của hộ gia đình năm 2015; 0 = Phụ nữ không phải là có đóng góp thu nhập nhiều hơn vào tổng thu nhập của hộ gia đình năm 2015

5) Vai trò của phụ nữ việc ra quyết định với hoạt động kinh tế hộ gia đình, với 2 giá trị/nhóm/thang đo: 1 = Phụ nữ là người quyết định nhiều hơn từ

2 công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình trở lên; 0 = Phụ nữ không phải là người quyết định nhiều hơn từ 2 công việc sản xuất kinh doanh trở lên

Các biến số đặc trưng văn hóa - nhân khẩu - xã hội của hộ gia đình

 Qui mô/kiểu loại gia đình: Sử dụng từ câu hỏi số thế hệ trong gia đình, được chia thành 2 giá trị/nhóm/thang đo: 1= Có 1-2 thế hệ (trong gia đình hạt nhân); và 2= Có 3-4 thế hệ (có từ 3 thế hệ trở lên) Đây là biến số thể hiện đặc trưng văn hóa đã được một số nghiên cứu sử dụng2 Bởi trước đây loại hình gia đình 3-4 thế hệ là những gia đình lớn, mang đặc trưng của gia đình truyền thống

 Số thành viên gia đình: được chia thành 3 giá trị/nhóm/thang đo: 1= Từ

3 người trơ xuống (<3 người); 2 = 4 người; và 3= Từ 5 người trở lên (5-8

1

Các biến số được sử dụng để mô tả hoặc đo lường các yếu tố được giả định là gây ra hoặc

ít nhất là làm ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu được gọi là biến độc lập (independent variable) Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu còn bị ảnh hưởng một biến liên quan khác, là yếu tố nhiễu tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu, đó là biến số can thiệp

Trang 21

người) Biến số này cũng được sử dụng cho đo lường đặc trưng văn hóa của gia đình, bởi đông thành viên gia đình là một đặc điểm của gia đình truyền thống

 Mức sống gia đình: được đo lường bằng việc của người trả lời tự đánh giá về mức sống của gia đình so với các gia đình xung quanh Biến số chia thành 3 giá trị/nhóm/thang đo: 1= Khá (giầu có và khá giả); 2= Trung bình; Nghèo (Nghèo và cận nghèo được hưởng trợ cấp)

 Nguồn nhân lực gia đình: được xây dựng từ số lượng các thành viên

có đóng góp thu nhập của hộ gia đình (bao gồm cả người trả lời) Biến số gồm

2 giá trị/nhóm/thang đo: 1= Có từ 2 người trở xuống (<=2 người) ; 2= Có trên

3 người trở lên (>3 người)

Các biến số đặc trung nhân khẩu và địa vị kinh tế- xã hội của phụ nữ

Các biến số mang đặc điểm cá nhân của người phụ nữ, cụ thể như sau:

Học vấn của phụ nữ: biến số này được chia thành 4 giá trị/nhóm/thang

đo, thể hiện 4 cấp học: 1= Tiểu học; 2=Trung học cơ sở (THCS); 3=Trung học phổ thông (THPT) và 4= Trung cấp, Cao đẳng/đại học (TC,CĐ/ĐH) Với đặc điểm ở nông thôn nên việc phân thành 4 mức như vậy có khả năng cho thấy sự khác biệt trong vai trò phát triển kinh tế hộ gia đình theo học vấn của

Nghề nghiệp của phụ nữ: Biến số này chia thành 2 giá trị/nhóm/thang

đo: 1=Nông dân là phụ nữ thuần nông; 2= nhóm nghề hỗn hợp (người phụ nữ làm nghề cả nông nghiệp, buôn bán, kinh doanh tại nhà; Kinh doanh/dịch vụ; Chủ cơ sở sản xuất/giám đốc công ty tư nhân và khác, làm công ăn lương)

Các biến số liên quan đến chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế

Các biến số này phản ánh khả năng tiếp cận vốn đầu tư, khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật và khả năng tiếp cận nguồn thông tin chính thống về sản xuất kinh doanh của hộ gia đình có ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hay không?

Vay vốn đầu tư (khả năng tiếp cận vốn đầu tư): là tình trạng vay vốn

của gia đình trong khoảng 10 năm trở lại đây từ các nguồn vay từ ngân hàng, diện hộ nghèo và nguồn vay từ Hội Phụ nữ Biến số với hai giá trị/nhóm/thang đo: 1= có vay vốn, 2= không

Trang 22

Tham gia tập huấn (khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật): là tình trạng

hộ gia đình có tham gia tập huấn liên quan đến phát triển kinh tế hộ Biến số này được xây dựng từ câu hỏi “Gia đình đã từng được tham gia các lớp tập huấn nào sau đây? Gồm 6 loại tập huấn: Tập huấn kỹ năng về quản lý kinh tế

hộ; Tập huấn về các kỹ thuật trồng trọt; Tập huấn về Kỹ thuật chăn nuôi; Tập

huấn về Kỹ thuật trồng rừng; Tập huấn về Kỹ thuật trồng chè và Tập huấn về

Phòng trừ dịch hại Biến số chia thành 2 giá trị/nhóm/thang đo: 1= Thường

xuyên tham gia tập huấn (gồm hộ gia đình có tham gia từ ít nhất từ 2/6 hoạt động tập huấn trở lên) và 2= Không thường xuyên

Nguồn thông tin (khả năng tiếp cận nguồn thông tin): là tình trạng sẵn

có/thuận lợi của hộ gia đình khi muốn tìm hiểu về các thông tin phục vụ cho việc sản xuất, phát triển kinh tế của gia đình Biến số này được xây dựng từ câu hỏi: Khi muốn tìm hiểu về các thông tin phục vụ cho việc sản xuất, phát triển kinh tế của gia đình ông bà thường tìm ở đâu từ 4 nguồn là: Cán bộ hội phụ nữ; hội nông dân; Cán bộ khuyến nông; Chính quyền địa phương; và từ

các phương tiện thông tin đại chúng (báo, tivi, internet ) Biến số chia thành 2

giá trị/nhóm/thang đo: 1= Có nhiều nguồn thông tin (gồm hộ gia đình có ít nhất từ 2/4 nguồn thông tin để tìm hiểu trở lên) và 2 = Ít nguồn thông tin (là các hộ gia đình có dưới 2 nguồn thông tin)

4.3.3 Biến số can thiệp

Dân tộc: được chia thành hai nhóm phụ nữ dân tộc Kinh và dân tộc

thiểu số là phụ nữ người Dao, với 2 giá trị/nhóm/thang đo: 1= người Kinh, 2= người Dao Biến số này vừa phản ánh đặc trưng cá nhân, đồng thời chỉ báo cho những khác biệt về phong tục tập quán và yếu tố văn hóa

Độ tuổi của người phụ nữ: biến số này chia thành 4 giá trị/nhóm/thang

đo, tương đương với 4 giai đoạn: 1= dưới 30 tuổi; 2=30-40; 3=41-50; 4= Từ 51 tuổi trở lên Sự phân chia này dựa vào đặc trưng nhóm tuổi của người phụ nữ, vừa phản ánh được tình trạng sức khỏe của phụ nữ liên quan sự tham gia của họ vào hoạt động kinh tế, cũng như phản ánh biến đổi về trong đời sống gia đình như giai đoạn sinh con, nuôi con có liên quan đến vai trò của họ

Với giả định rằng các biến số này có thể là một trong những yếu tố có tác động đến việc vai trò phát triển kinh tế gia đình của người phụ nữ nông thôn

Trang 23

chứ không chỉ đơn thuần do tác động của đặc trưng kinh tế - xã hội của gia đình và biến số khác

5 Ý nghĩa của luận án

5.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào làm sáng tỏ hệ thống lý thuyết liên quan tới giới và vai trò giới như: Lý thuyết vai trò, lý thuyết tương tác biểu trưng và lý thuyết hệ thống giới Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cung cấp một cái nhìn khoa học về phụ nữ và vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ của Việt Nam hiện nay, bổ sung các thông tin, dữ liệu nhận định và các giải pháp đối với vấn đề phân công lao động trong gia đình và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tham khảo, giảng dạy và học tập môn xã hội học gia đình và giới, xã hội học nông thôn, xã hội học kinh tế tại các trường đại học, cao đẳng và các chủ thể khác liên quan

Cung cấp cho người đọc một bức tranh tổng thể về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ và nêu lên các yếu tố tác động tới sự đóng góp của phụ nữ vào phát triển kinh tế hộ

Những đề xuất giải pháp của luận án về nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ tại huyện Ba Vì sẽ góp phần tích cực vào mục tiêu bình đẳng giới đang được thực hiện bởi Chính phủ Việt Nam hiện nay

6 Kết cấu của luận án

Kết cấu của Luận án gồm 3 phần: Phần mở đầu; Phần nội dung nghiên cứu; Kết luận và kiến nghị

Phần nội dung nghiên cứu gồm các chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình

Chương 4: Các yếu tố tác động đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

Trang 24

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu về vai trò của phụ nữ đối với phát triển kinh tế hộ gia đình

Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, chính sách đổi mới và mở cửa từ năm 1986 đã mang lại nhiều thay đổi về kinh tế và những thay đổi trong quan hệ giới và gia đình Sự

đa dạng hóa, công nghiệp hóa và tư nhân hóa nền kinh tế đã tạo điều kiện cho các cá nhân phát triển, đặc biệt là tạo ra các cơ hội để phụ nữ tham gia các hoạt động phát triển kinh tế Tuy nhiên, vị trí kinh tế của phụ nữ thay đổi một cách tích cực không có nghĩa là những trách nhiệm trong gia đình của họ được giảm nhẹ Nhiều nghiên cứu về quan hệ gia đình theo giới và phân công lao động đã khẳng định rằng so với nam giới, phụ nữ vẫn tiếp tục đảm nhiệm nhiều hơn các công việc trong gia đình, đặc biệt là những công việc tái sản xuất như chăm sóc gia đình và các công việc nhà, nhất là khi những dịch vụ tương tự do nhà nước cung cấp đã bị cắt giảm và thương mại hóa và tư nhân hóa như là hệ quả của chính sách đổi mới Trần Thị Vân Anh (1996), Long và cộng sự (2002)

Nghiên cứu về sự đóng góp của phụ nữ trong hoạt động kinh tế của gia đình được nhiều tác giả quan tâm với các góc độ tiếp cận khác nhau Nhiều tác giả cho rằng việc chú trọng đến mỗi gia đình như là một đơn vị kinh tế độc lập, như trọng tâm của công cuộc đổi mới, đã vô hình chung củng cố thêm niềm tin và thực hành của Nho giáo về vị trí thích hợp của nam và nữ trong xã hội Khuất Thu Hồng (1998), Trần Thị Vân Anh (2000) Là trong số những nhà nghiên cứu thể hiện mối quan tâm đặc biệt với mối quan hệ gia đình và sự phân công lao động đi kèm theo đó, một số người đã lưu ý rằng so với nam giới, phụ nữ vẫn phải gánh vác nhiều trách nhiệm hơn trong gia đình Điều này đặc biệt đúng đối với những nhiệm vụ truyền thống như chăm sóc con cái

và làm nội trợ, khi nhiều dịch vụ của nhà nước đã bị cắt giảm, được thương mại hoá hay tư nhân hoá Trần Thị Vân Anh (1996), Long và cộng sự (2002)

Trang 25

Hơn nữa, không nhất thiết lúc nào sự tham gia vào các hoạt động kinh tế tăng lên có nghĩa là quyền ra quyết định của phụ nữ cũng tăng lên so với nam giới Các nghiên cứu đã cho thấy rằng mặc dù phụ nữ chịu trách nhiệm chính đối với các quyết định liên quan đến quản lý gia đình, nhưng họ vẫn phải hỏi ý kiến người chồng trước khi có bất kỳ chi tiêu tài chính nào Điều này khẳng định một thực tế rằng quyền quyết định các công việc chính trong gia đình vẫn luôn thuộc về người đàn ông

Ở Việt Nam tiêu biểu cho các đề tài công trình này phải kể đến các tác giả như Trần Thị Vân Anh (1996), Đỗ Thị Bình và cộng sự (2004) Những kết quả nghiên cứu của các đề tài, công trình khoa học này có ý nghĩa rất lớn,

là những tài liệu tham khảo có giá trị để triển khai nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình Tuy nhiên, do bị quy định bởi mục tiêu nghiên cứu và phương pháp tiếp cận, các kết quả nghiên cứu đó mới thể hiện được chủ yếu trên các bình diện: vai trò của phụ nữ đối với việc phát triển kinh tế gia đình; vai trò của gia đình đối với việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam; thực trạng gia đình Việt Nam trên các mặt cơ cấu, quy mô và các mối quan hệ bên trong của gia đình; thực trạng và tính quy luật của quá trình chuyển đổi các chức năng gia đình từ truyền thống sang hiện đại… trong đó, quan hệ giới được các tác giả đặc biệt quan tâm Ví dụ, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế- xã hội đã được đề cập

trong nghiên cứu: “Phụ nữ, giới và phát triển” (1996), của tác giả Trần Thị

Vân Anh Đây không chỉ là một công trình nghiên cứu mang đậm tính lý luận, mà còn là một công trình có tính thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới Vai trò của phụ nữ cũng

được xem xét từ góc độ xã hội học trong cuốn “Xã hội học về giới và phát triển”(2000), của Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc và “Xã hội học về giới” (2008) của Hoàng Bá Thịnh

Vai trò người phụ nữ nông thôn được xem là đối tượng của khá nhiều nghiên cứu có thể kể đến như Nguyễn Thị Kim Hoa (1995, 2000), Hoàng Bá

Thịnh (2002), Nguyễn Linh Khiếu (2001) Trong nghiên cứu về “Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong gia đình” (1995) tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa

Trang 26

đã phân tích vai trò của người phụ nữ nông thôn trong hoạt động kinh tế, cụ thể đó là kinh tế hộ gia đình Kết quả từ nghiên cứu cho thấy phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế của gia đình thông qua các công việc sản xuất nông nghiệp hoặc các công việc làm thêm trong thời gian nông nhàn, tuy vậy, vì đảm nhiệm vai trò chăm sóc gia đình nên phụ nữ nông thôn cũng gặp nhiều khó khăn, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí Mặt khác, trong

phân tích “Vị thế và vai trò xã hội của phụ nữ nông thôn trong gia đình” tác

giả Nguyễn Thị Kim Hoa (1995) cũng rút ra các yếu tố tác động đến vị thế, vai trò của người phụ nữ nông thôn trong kinh tế hộ gia đình Phụ nữ nông thôn có vai trò cao trong hoạt động lao động sản xuất ở các lĩnh vực nông nghiệp, tham gia làm các nghề phụ trong thời gian nông nhàn, tham gia vay vốn sản xuất, tuy nhiên phụ nữ lại ít có quyền quyết định trong vấn đề sử dụng vốn để mở rộng sản xuất Mặc dù phụ nữ vẫn đóng vai trò chính trong các việc

nhà, tuy nhiên trong chi tiêu, “vai trò tay hòm chìa khóa của phụ nữ không đổi, còn cơ hội và quyền sử dụng vốn vay để sản xuất vẫn tuột khỏi tay họ” [20, tr.39]

Bám sát lý thuyết về vai trò giới, tác giả Hoàng Bá Thịnh (2002) đã phân tích vai trò của người phụ nữ nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa nông thôn, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người phụ nữ đối với chuyển dịch ngành nghề, đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo chuyên môn kỹ thuật Tác giả cũng đã tiếp cận các quan điểm về lý thuyết phát triển, khẳng định vai trò của phụ nữ trong sự phát triển nhất là trong sản xuất và trong chuyển

dịch cơ cấu ngành nghề ở nông thôn Nghiên cứu “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình” lại tập trung phân tích vai trò chính

của người phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo lương thực, thực phẩm và mặt khác đem lại nguồn thu và tích lũy cho gia đình Cùng với sản xuất, người phụ nữ nông thôn còn mở rộng vai trò của mình trong hoạt động buôn bán, dịch vụ, làm nghề thủ công và công việc nội trợ Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của người phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ và nhận thấy đây là xu thế hoàn toàn phù hợp trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay

Trang 27

Quá trình đổi mới ở nông thôn Việt Nam bên cạnh việc tạo ra những cơ hội sản xuất và kinh doanh mới đồng thời cũng đặt ra những trở ngại lớn đối với phụ nữ Một mặt họ có điều kiện sản xuất và kinh doanh năng động hơn

ở kinh tế hộ và trên thị trường Nhưng mặt khác, gánh nặng chăm sóc gia đình vốn được chia sẻ bởi cộng đồng trước kia thông qua nhà trẻ, mẫu giáo

và các quỹ của hợp tác xã càng đặt nặng lên vai phụ nữ được tác giả Lê Ngọc Văn (1997) đề cập đến Tác giả Nguyễn Linh Khiếu (2003) cho rằng mặc dù vai trò của họ rất lớn trong đời sống kinh tế của gia đình, nhưng về cơ bản công việc nội trợ gia đình vẫn do những người phụ nữ đảm nhiệm Không có

sự thay đổi đáng kể trong phân công lao động giữa người vợ và người chồng trong các hoạt động nội trợ như nấu cơm, rửa bát, dọn nhà và giặt giũ Người

vợ vẫn là người làm chính trong các hoạt động này Vũ Tuấn Huy (2004).Trách nhiệm chăm sóc trẻ em và công việc nội trợ được coi là một thứ

“thuế” đối với thời gian của phụ nữ và có tác động đến thời gian và cơ hội

của phụ nữ và trẻ em gái trong các hoạt động khác như học tập, nâng cao kỹ năng, nắm bắt thông tin, tham gia quản lý Nhưng ngược lại sự đóng góp của phụ nữ vào phát triển kinh tế hộ gia đình chưa được nhiều mà phải làm nhiều những công việc nội trợ đó là nhận định của tác giả Trần Thị Vân Anh (2000) Sự phân công lao động này có thể dẫn đến hệ quả là hoạt động của người phụ nữ chủ yếu bị giới hạn trong phạm vi gia đình và những hoạt động này không được gọi là hoạt động có thu nhập kinh tế về cho gia đình Họ bị gắn chặt với công việc nội trợ, trong khi đó nam giới tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội, có cơ hội để thăng tiến trong nghề nghiệp và thu nhập

cao Lê Ngọc Văn (2002)

Ở xã hội nào cũng vậy, công việc nhà đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân và cộng đồng Các công việc nhà bao gồm các hoạt động cung cấp, chế biến thức ăn, nấu nướng, giặt giũ, lau dọn trang hoàng nhà cửa và chăm sóc các thành viên trong gia đình, mà chủ yếu do phụ nữ thực hiện Không ai có thể phủ nhận được tính đa dạng, và phức tạp cũng như nặng nhọc của công việc nội trợ Tuy nhiên, cho đến nay công việc này vẫn bị đánh giá thấp cả trên phương diện chính trị và xã hội Đây không được coi là một

Trang 28

“nghề nghiệp thực sự” Do vậy mà những người đảm nhiệm công việc này vẫn

bị coi là “ăn bám” trong gia đình và thậm chí thường phải chịu những hình thức phân biệt đối xử và lạm dụng bởi vì họ đang làm những công việc

“không nhìn thấy được” và không mang lại thu nhập tiền mặt trực tiếp trong gia đình UNIFEM (1996)

Báo cáo kết quả nghiên cứu xã hội học “Đóng góp kinh tế của phụ nữ thông qua công việc nhà” (2007) do Quỹ HeathBridge Canada và Viện

Nghiên cứu Phát triển Xã hội thực hiện đã cung cấp những bằng chứng về những đóng góp của phụ nữ thông qua công việc nhà, giá trị của những công việc đó và đóng góp của nó vào kinh tế quốc gia Báo cáo cũng đã lượng hóa giá trị thời gian dành cho công việc nhà của người phụ nữ và tiếp tục khẳng định phụ nữ dành nhiều thời gian cho công việc nhà hơn so với đàn ông Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ có quyền quyết định lớn nhất trong việc chi tiêu hàng ngày, tuy nhiên, đối với các vấn đề khác như cách thức sản xuất, sử dụng vốn sản xuất, sử dụng đất, mua sắm tài sản đắt tiền, đứng tên giấy tờ nhà đất, đứng tên sổ tiết kiệm,… thì tỉ lệ người chồng có quyền quyết định cao hơn nhiều so với người vợ và người chồng vẫn là người có quyền quyết định cuối cùng

Các nhóm nghiên cứu nói trên đã tiếp cận ở các góc độ khác nhau, đã đề cập đến vai trò của gia đình và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay Trong đó, vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

và thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình cũng được đề cập Đồng thời các tác giả cũng đưa ra những phương hướng và giải pháp để xây dựng gia đình và giải phóng phụ nữ trong giai đoạn hiện nay trên góc độ của những vấn

đề nghiên cứu riêng Tuy nhiên, các phân tích, nghiên cứu nói trên được xem xét chủ yếu trong phạm vi gia đình, phương diện xã hội và nhất là quan hệ thống nhất giữa vai trò đối với xã hội, vai trò trong gia đình của phụ nữ chưa được chú ý nghiên cứu một cách có hệ thống Trong đó, gia đình với những đặc điểm của nó, chưa thực sự được xem như một trong các nhân tố (ngang bằng với các nhân tố kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội) quy định đối với vai trò người phụ nữ

Trang 29

Xét về lĩnh vực phân công lao động, dù mang lại thu nhập nhiều hay ít cho gia đình so với người chồng, thì vai trò của phụ nữ là rất lớn Một cách tổng thể, có thể thấy rằng các hoạt động kinh tế của phụ nữ đóng góp vào thu nhập của các gia đình hiện nay là tương đương với nam giới được tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm (2005) nhận định

Đóng góp kinh tế của nam và nữ, sự phân biệt “việc đàn ông” và “việc đàn bà” trên thực tế cũng làm giảm giá trị lao động của phụ nữ Mặc dù phụ

nữ ở cả nhóm dân tộc phụ hệ và mẫu hệ đều lao động vất vả hơn nam giới cả

về khối lượng công việc cũng như thời gian Phụ nữ không những chia sẻ gánh nặng trong lao động sản xuất với người chồng trên đồng ruộng, nương rẫy, mà còn đảm đương toàn bộ trách nhiệm nội trợ sau một ngày làm việc vất vả Phụ

nữ Vân Kiều ở Đakrong, Quảng Trị trung bình làm việc từ 10 đến 12 giờ so với nam giới từ 4 đến 5 giờ Lê Kim Lan (2005) Báo cáo của UBND tỉnh Cao Bằng cho thấy, phụ nữ làm việc trung bình 13 giờ/ngày so với nam giới là 9 giờ/ngày Một nghiên cứu ở các tỉnh phía Bắc cũng có kết luận tương tự Rambo và cộng sự (2008) Thảo luận nhóm ở người Dao và H‟mông ở Chợ Đồn, Bắc Kạn cũng cho thấy nam giới ở hai dân tộc này “nhàn nhã” hơn phụ

nữ Nam giới có nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn, và có nhiều hình thức giải trí cộng đồng hơn so với phụ nữ Hoàng Bá Thịnh (2008)

Bằng các phương pháp nghiên cứu định lượng, khảo sát thực địa 200 hộ gia đình người dân tộc Chăm (An Giang) và J‟rai (Gia Lai), phương pháp

định tính, phân tích các tài liệu thứ cấp, trong báo cáo “Hiện trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng người dân tộc thiểu số” tác giả Vũ Hồng Anh

(2010) đã chỉ ra những bất bình đẳng giới trong dân tộc thiểu số thông qua việc đo lường các chỉ báo về phân công lao động giới, đóng góp kinh tế của nam và nữ, tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, trình độ học vấn và kiến thức hiểu biết Báo cáo đã tiếp tục khẳng định: Lao động trong các dân tộc thiểu

số vẫn được phân công theo “việc đàn ông” và “việc đàn bà”, sự phân công này xuất phát từ quan niệm nam giới là “phái mạnh” phải đảm nhận những

“việc nặng”, cần “tính toán” và “kỹ thuật” (gồm: phát nương, cày quốc, làm

Trang 30

rẫy, cày bừa, phun thuốc sâu, làm nhà, mua bán, chăn nuôi, ), còn phụ nữ thuộc “phái yếu” nên phụ trách những “việc nhẹ” và “công việc không tên” (gồm: tỉa trồng, cày cấy, chăm sóc vụ mùa sau khi xuống giống, nấu nướng, chăm sóc gia đình, lấy củi Ngoài ra, phân công lao động giới không chỉ khác biệt ở tính chất công việc mà còn có sự khác biệt về không gian, chẳng hạn: Việc của đàn ông không chỉ là những việc đòi hỏi sức lao động mà còn bao gồm những trách nhiệm liên quan đến giao tiếp xã hội bên ngoài, trong khi

đó, lao động nữ thường gắn liền với khuôn viên gia đình.Việc hạn chế tiếp cận các nguồn thông tin và cơ hội bên ngoài của phụ nữ dẫn đến hạn chế trong tiếng nói của người phụ nữ Mặt khác, chính do sự phân công lao động giữa nam và nữ như trên đã làm giảm giá trị lao động của người phụ nữ, mặc

dù phụ nữ ở cả nhóm dân tộc phụ hệ và mẫu hệ đều lao động vất vả hơn nam giới cả về khối lượng công việc cũng như thời gian Hạn chế về quyền sở

hữu đất đai và hạn chế về trình độ học vấn, quan niệm “coi thường kiến thức của phụ nữ” cũng là những yếu tố tác động trực tiếp đến quyền tiếp cận các

nguồn lực và tiếng nói của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội

Các nghiên cứu trên thế giới

Các tổ chức quốc tế đều nhấn mạnh vai trò của phụ nữ đối với sự phát triển kinh tế bền vững, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức đối với phụ nữ khi tham gia hoạt động kinh tế (bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục bậc cao, thời gian dành cho việc nhà và chăm sóc con cái,…) so với nam giới và đề xuất các giải pháp thông qua chính sách để phát huy được vai trò của người phụ nữ, cụ thể:

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2001) “Đưa vấn đề giới vào phát triển” đã đánh giá thực trạng sự tồn tại bất bình đẳng trên thế giới và ở Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: trong tiếp cận nguồn lực, trong cơ hội kinh tế, quyền lực và tiếng nói chính trị Chính vì vậy, báo cáo đã nêu ra sự cần thiết có một chiến lực với 3 nội dung để nâng cao sự bình đẳng giới, một là: Cải cách thể chế để mang lại quyền hạn và cơ hội cho phụ nữ và nam giới trên cơ sở pháp lý và trên thực tế; hai là, duy trì và phát triển kinh tế

Trang 31

để củng cố những động cơ khuyến khích việc phân phối nguồn lực bình đẳng hơn; ba là, thực hiện những biện pháp tích cực khắc phục sự phân biệt dai dẳng nhằm đòi hỏi thêm nguồn lực và tiếng nói chính trị

Báo cáo “Gender and sustainable development: Maximising the economic, social and environmental role of women” Giới và phát triển bền

vững: Tăng cường vai trò kinh tế, xã hội và môi trường của phụ nữ của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2008) trong đó có nêu lên mối quan

hệ giữa kinh tế và giới, với vai trò của phụ nữ đối với phát triển kinh tế [92, tr.11-35] Báo cáo cũng nhấn mạnh phụ nữ chiếm lực lượng đông đảo trên thế giới, tuy nhiên việc khai thác nguồn lực này trong phát triển kinh tế bền vững còn hạn chế Sự tăng trưởng kinh tế bền vững ở mỗi quốc gia và toàn cầu phụ thuộc vào việc phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động hay cụ thể hơn đó là

sử dụng những kỹ năng và trình độ của họ [92, tr.11]

Khảo sát thế giới về vai trò của phụ nữ trong phát triển của UN (2009)

với chủ đề: “Women’s Control over Economic Resources and Access to Financial Resources, including Microfinance” (Kiểm soát của phụ nữ trên các nguồn lực kinh tế và tiếp cận các nguồn tài chính, bao gồm tài chính vi mô)

nhấn mạnh quan điểm: Phụ nữ bình đẳng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực kinh tế và tài chính là rất quan trọng để đạt được bình đẳng giới và trao quyền

cho phụ nữ và cho sự phát triển kinh tế công bằng và bền vững và phát triển

Tuy nhiên, hiện tại vai trò kiểm soát các nguồn lực kinh tế của người phụ nữ còn rất hạn chế

Báo cáo khảo sát thế giới về vai trò của phụ nữ trong phát triển, UN

(2014)“Gender equality and sustainable development” Bình đẳng giới và phát

triển bền vững [98, tr.30] tiếp tục đề cập đến vấn đề bình đẳng giới và phát triển bền vững thông qua phân tích các cơ hội và thách thức, thao tác hóa các khái niệm và định nghĩa về phát triển bền vững với sự bình đẳng giới, hướng tới sự phát triển bình đẳng giới thông qua hệ thống các chính sách Báo cáo cũng nhấn mạnh sự tham gia của phụ nữ chỉ có thể hiệu quả và có ý nghĩa khi nhận thức về mối quan hệ quyền lực giới thay đổi và chú trọng hơn trong việc quan tâm hỗ trợ nâng cao kiến thức và năng lực cho phụ nữ

Trang 32

1.2 Các nghiên cứu về phân công lao động theo giới trong gia đình

Ở Việt Nam nghiên cứu “Phân công lao động theo giới trong gia đình ngư dân” của tác giả Lê Ngọc Văn (1999) đã tiến hành khảo sát tại hai xã, một ở

Nam bộ và một ở Bắc bộ Các kết quả thu được cho thấy, tuy có sự khác biệt

tốc độ phát triển kinh tế, “nông thôn miền Nam vận động theo xu hướng công nghiệp hóa và sản xuất hàng hóa mạnh hơn”, song không có khác biệt trong sự phân công lao động theo giới Ở cả Nam bộ và Bắc bộ, “đàn ông đều hướng vào khu vực sản xuất trao đổi, còn phụ nữ hoạt động chủ yếu ở khu vực sản xuất để tiêu dùng và việc nhà” Phát hiện từ nghiên cứu tái khẳng định phân

công lao động theo giới vẫn là mô hình truyền thống và biến đổi chưa đáng kể Trong khi phân công lao động theo giới trong gia đình nông thôn vẫn đảm bảo được vai trò của người phụ nữ, thì phân công lao động theo giới trong gia đình

ngư dân “trong chừng mực nào đó đã làm giảm vai trò của người phụ nữ trong

xã hội và làm cho họ thiệt thòi và tụt hậu so với nam giới”

Dựa trên số liệu định lượng từ nghiên cứu của tác giả Trần Thị Vân Anh

và cộng sự đã tập trung phân tích việc đóng góp kinh tế của phụ nữ và nam

giới trong gia đình nhằm trả lời câu hỏi “Vợ và chồng đóng góp như thế nào vào kinh tế?”, “Có sự khác biệt giữa họ về mức độ đóng góp?” “Những yếu

tố nào chi phối sự đóng góp?” Các kết quả khảo sát cho thấy, phụ nữ và nam

giới đều đóng góp vào kinh tế gia đình, đặc biệt là phụ nữ nông thôn Xét về mức độ, phụ nữ càng có học vấn càng có đóng góp nhiều hơn và phụ nữ càng

có nghề nghiệp, chuyên môn càng có thu nhập cao hơn và do đó càng đóng góp nhiều hơn Đáng chú ý, đóng góp của người phụ nữ tăng theo độ dài hôn nhân, trong khi đó người chồng thì ngược lại vai trò của người phụ nữ trong phát triển Tác giả Trần Thị Vân Anh cho rằng, giới có mối quan hệ mật thiết với đói nghèo và phát triển Theo tác giả, mối liên hệ giữa giới và nghèo đói ở nước ta có thể xem xét trên ba khía cạnh chính là sản xuất, tái sản xuất và mối tương quan giữa hai giới hiện nay Trong lĩnh vực sản xuất, phụ nữ tham gia nhiều hơn trong sản xuất nông nghiệp (nữ chiếm 56,8%, trong khi nam giới chiếm 49,2%) Do tính chất rủi ro của sản xuất nông nghiệp, nhất là ở vùng núi nơi mà điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nên

Trang 33

phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn hơn nam giới để thoát nghèo Trần Thị Vân Anh (2000) và Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (2008)

Ngoài ra, một số nghiên cứu của Quyền Đình Hà, Nguyễn Tuyết Lan và Nguyễn Minh Thu (2006) và Nguyễn Kim Hà (1999) cũng đã đề cập đến vấn

đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam, cũng đưa ra vấn đề bất bình đằng về thu nhập hay quyền thụ hưởng của người phụ nữ trong gia đình, phụ nữ làm việc nhưng không được tính vào thu nhập của gia đình là một thiệt thòi cho người phụ nữ Việt Nam

Phan Thanh Khôi và Đỗ Thị Thạch (2007) với công trình nghiên cứu:

“Những vấn đề giới- từ lịch sử đến hiện đại” Các tác giả đã nghiên cứu các

vấn đề giới từ tiếp cận các tác phẩm kinh điển của C Mác, Ph Ăngghen, và

Hồ Chí Minh để đi đến khẳng định những tư tưởng, quan điểm của các nhà mácxít nêu trên là cơ sở lý luận, phương pháp luận quan trọng để nhận thức và thực hiện bình đẳng giới ở nước ta hiện nay Vấn đề giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng được các tác giả

đi sâu phân tích thấy được đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là rất tiến bộ và tích cực trên phương diện bình đẳng giới

Tác giả Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (2008) trong“Bình đẳng giới ở Việt Nam” đã đề cập đến các nội dung phân tích bất bình đẳng về

việc làm, đời sống và cơ hội đào tạo giữa nam giới và nữ giới; việc phân công lao động và quyền quyết định trong gia đình; việc định hướng của cha mẹ đối với nghề nghiệp của con

Nguyễn Linh Khiếu (2001) với nghiên cứu: “Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hóa xã hội ở nông thôn” Trên cơ sở khẳng định vị trí, vai trò to

lớn của gia đình đối với sự phát triển cá nhân và xã hội cũng như vai trò của phụ nữ nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tác giả công trình đã tập trung phân tích đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam, những yếu tố tác động đến gia đình và vai trò người phụ nữ trong gia đình trong quá trình đô thị hóa; dự báo xu hướng biến đổi gia đình trong mối quan hệ với biến đổi văn hóa xã hội ở nông thôn Việt Nam

Trang 34

Vai trò người phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế-

xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số là vấn đề được một số tác giả quan tâm

nghiên cứu Tác giả Lê Kim Lan (2005) đã tiến hành nghiên cứu “Phân công lao động theo giới trong sản xuất của người Bru Vân Kiều” tại huyện

Đắckrông, Quảng Trị, còn tác giả Nguyễn Thị Phương Yến lại khảo sát

“Phân công lao động theo giới trong gia đình người Raglai và Cơ Ho” Theo

tác giả Lê Kim Lan, trong điều kiện kinh tế - xã hội ở Đắckrông chưa phát triển, trình độ sản xuất của đồng bào Vân Kiều còn thấp kém, thì phụ nữ Vân Kiều đã đóng vai trò quan trọng đối với việc giải quyết an ninh lương thực cho gia đình và cộng đồng của họ và là lực lượng lao động chính trong trồng trọt, chăn nuôi và các loại hình sản xuất khác Điều đáng kể, họ là người mang lại thu nhập chính cho gia đình, thế nhưng lại không có quyền quyết định trong bán sản phẩm và tiêu dùng gia đình Không những thế, họ cũng lại không được nam giới chia sẻ công việc gia đình Tình trạng bất bình đẳng về giới đã gắn liền với thực trạng phân công lao động theo giới ở cộng đồng dân tộc Vân

Kiều Trong nghiên cứu “Phân công lao động theo giới trong gia đình người Raglai và Cơ Ho”, tác giả Nguyễn Thị Phương Yến đã phân tích các số liệu

định tính và định lượng và đã phát hiện thấy, vai trò truyền thống của người phụ nữ Raglai và Cơ Ho trong gia đình do chế độ mẫu hệ để lại đang có xu hướng ngày càng suy giảm, trong khi đó phân công lao động theo giới và quyền lực trong gia đình có xu thế chuyển giao sang người chồng Phân công lao động ở người Raglai và Cơ Ho mang đậm yếu tố giới Người phụ nữ đảm nhận các công việc chăm sóc gia đình, còn người đàn ông nắm quyền quyết định các công việc quan trọng Việc phân công lao động như hiện nay cũng như tác động của nó đến phân chia quyền lực trong gia đình cho thấy xuất hiện nguy cơ người phụ nữ sẽ đánh mất dần vai trò của mình trong gia đình

Đặng Thị Hoa (2001) “Vị thế của người phụ nữ H’Mông trong gia đình

và xã hội” đã phân tích vai trò, vị thế của phụ nữ H‟Mông trong gia đình trên

các mặt: phân công lao động, quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong gia đình trước đây cũng như hiện nay và kết luận: Dù những điều kiện kinh tế mới đây đã có những chuyển biến tích cực hơn so với trước nhưng đa số phụ

Trang 35

nữ H‟Mông phụ thuộc trong gia đình, lại càng trở nên bị cách biệt trong xã hội khi họ không có trình độ học vấn, ngôn ngữ phổ thông, không thể hòa nhập vào cộng đồng và càng không thể chủ động tham gia công tác xã hội Những ràng buộc về phong tục tập quán, thói quen trong suy nghĩ, cách làm của họ bị khép kín trong cộng đồng và chưa thể hòa nhập với nhịp độ phát triển của xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Tác giả Lương Thị Thu Hằng (2002) trong“Vài nét về người phụ nữ trong xã hội Thái” Trên cơ sở phân tích vai trò của người phụ nữ Thái ở

huyện Thanh Luông, tỉnh Lai Châu trong gia đình và ngoài xã hội, thông qua quá trình phân công lao động, tiếp cận các nguồn lực trong gia đình và cộng đồng, đã đưa ra những cứ liệu cụ thể khẳng định: Phụ nữ Thái có vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế gia đình, trong tham gia các sinh hoạt cộng đồng

và nhất là trong giữ gìn, lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc So các tộc người thiểu số khác tại địa bàn nghiên cứu, quan hệ giới trong gia đình người Thái có những điểm bình đẳng, tiến bộ thể hiện ở quan niệm, nhận thức cũng như phân công lao động trong gia đình và cộng đồng Song, trên thực tế, trong gia đình dân tộc Thái vẫn tồn tại khoảng cách giới

Nghiên cứu của tác giả Tạ Thị Thảo (2014) với người Sán Chỉ tại hai thôn thuộc xã Bộc Bố, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn tiếp tục khẳng định quan điểm nghiên cứu của các tác giả đi trước đó là cả nam giới và nữ giới đều đảm nhận vai trò giới ở cả ba phương diện: Vai trò sản xuất (tạo ra của cải vật chất), vai trò tái sản xuất (nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, sinh sản,…) và vai trò cộng đồng (hoạt động xã hội), tuy nhiên, mức độ thực hiện giữa hai giới là khác nhau Thậm chí, luôn tồn tại sự bất bình đẳng trong phân công lao động gia đình, các công việc tái sản xuất luôn thuộc về trách nhiệm của phụ nữ, tuy nhiên nó được coi là “việc vặt”, không được lượng hóa bằng tiền, do đó, khi xem xét sự đóng góp về phương diện kinh tế cho gia đình thì phụ nữ thường bị đánh giá thấp, có vai trò kém hơn nam giới Người Sán Chỉ theo chế độ phụ

hệ, người đàn ông nắm vai trò chủ đạo trong gia đình, quyền thừa kế thuộc về nam giới, do đó sự phân công lao động trong gia đình do người đàn ông sắp xếp hay quyền quyết định các công việc lớn cũng thuộc về người đàn ông Phụ

Trang 36

nữ vừa lao động sản xuất, vừa lo việc nội trợ trong gia đình, cùng một hoạt động như nhau nhưng số lượng công việc và thời gian làm việc của người phụ

nữ lại nhiều hơn so với nam giới, trong khi người đàn ông làm xong phần việc được coi là của mình thì họ được nghỉ ngơi hoặc làm các công việc mà họ muốn, còn người phụ nữ phải làm các công việc còn lại và sau đó trở về lo chăm sóc gia đình Mặt khác, lao động phụ nữ gắn liền với khuôn viên gia đình là chủ yếu nên họ bị hạn chế cả về năng lực nhận thức cũng như cơ hội tiếp cận các cơ hội phát triển cũng như các nguồn thông tin xã hội Ngoài ra việc tiếp và kiểm soát nguồn lực và các lợi ích của họ cũng bị hạn chế Mặc dù tham gia với tỉ lệ cao trong nông nghiệp nhưng phụ nữ dân tộc thiểu số lại hầu như không có chút đảm bảo về quyền sử dụng đất đai

Ở góc độ tiếp cận nghiên cứu lý thuyết, đề tài nghiên cứu cơ bản của GS

Hoàng Bá Thịnh (2004) “Một vài cách tiếp cận nghiên cứu giới trong xã hội học” đã đề cập đến một số quan điểm, lý thuyết và nội dung nghiên cứu về

giới của một số nhà xã hội học đầu tiên ở thế kỷ XIX và những năm 1960 của thế kỷ XX Bàn về lý thuyết, nhóm tác giả cho rằng có ba cách tiếp cận đương đại trong xã hội học đặc biệt để nhằm vào phụ nữ và giới trong xã hội đó là: cách tiếp cận cấu trúc - chức năng, quan điểm vai trò giới tính và quan điểm xung đột, mỗi cách tiếp cận gắn với một mô hình có vai trò giới tính được tác giả Hoàng Bá Thịnh (2004) mô tả và phân tích Trong tiếp cận quan điểm lý thuyết chức năng khi nghiên cứu về phụ nữ, nhìn chung các quan điểm đều không ủng hộ việc phụ nữ tham gia vào thị trường lao động, mà thường gắn phụ nữ với gia đình với những công việc nội trợ Theo Talcott Parsons: Nam đảm nhận vai trò công cụ tích cực và nữ đảm nhận vai trò tình cảm xã hội được nhà XHH Parsons (1949) và Parson và Bales (1955), dẫn theo Hoàng Bá Thịnh (2004) Chức năng xã hội hóa của gia đình là yếu tố quan trọng giúp duy trì sự ổn định của xã hội, trong đó trẻ em học các vai trò tình cảm là vai trò được tạo nên với sự nuôi dưỡng, chăm nom, gia đình chủ yếu từ người phụ

nữ và học hỏi vai trò công cụ, được xem như là sự thành đạt, làm kinh tế do nam giới thực hiện Hoàng Bá Thịnh (2004) Thuyết xung đột góp phần giải thích nguồn gốc, sự duy trì và thay đổi địa vị phụ nữ trong xã hội Trong khi

Trang 37

đó, thuyết phân tầng giới tập trung chủ yếu vào địa vị phụ nữ trong thị trường lao động có trả công Chaferz (1984) do đó lao động của phụ nữ chủ yếu được phân tích trong tương quan với nền kinh tế trả công, lờ đi nền kinh tế không được trả công Hoàng Bá Thịnh (2004) Còn thuyết tương tác biểu tượng, góp phần giải thích việc cần tập trung vào ý nghĩa tượng trưng gắn với đời sống xã hội và có ý nghĩa sâu sắc để hiểu được phụ nữ trong xã hội Kết quả nghiên cứu đề tài cung cấp các tri thức hữu ích trong việc phân tích các cách tiếp cận

lý thuyết xã hội học và vận dụng trong nghiên cứu vấn đề giới

Các nghiên cứu trên thế giới

Báo cáo phát triển thế giới (2012) do Ngân hàng Thế giới WB thực hiện

cho rằng: Bình đẳng giới nâng cao hiệu quả kinh tế, do đó, bằng việc xóa bỏ những rào cản để phụ nữ được tiếp cận bình đẳng như nam giới về học hành,

cơ hội kinh tế và đầu tư vào sản xuất sẽ tạo ra bước tiến lớn về năng suất Tuy vậy, đối với phụ nữ nông thôn, khi họ không được đảm bảo về quyền sử dụng đất thì khả năng tiếp cận tín dụng, đầu vào thấp, cũng như hiệu quả sử dụng đất thấp, năng suất giảm Nghiên cứu định tính thực địa của Ngân hàng Thế giới với hơn 4000 nam giới và phụ nữ thuộc 98 cộng đồng từ 19 nước đang phát triển cho thấy: Phụ nữ và nam giới thuộc mọi độ tuổi, nhóm thu nhập, địa phương coi việc học hành, quyền sở hữu tài sản, tiếp cận cơ hội kinh tế và cơ hội tạo thu nhập là những yếu tố chính để cải thiện cuộc sống của mình và gia đình Qua 500 cuộc thảo luận nhóm, kết luận chỉ ra rằng vai trò của phụ nữ chủ yếu liên quan đến chăm sóc gia đình và làm việc ở nhà, còn nam giới có vai trò tạo thu nhập và ra quyết định Ngân hàng Thế giới (2011) Trong hoạt động kinh tế, giữa phụ nữ và nam giới cũng có những chênh lệch đáng kể làm hạn chế cơ hội của phụ nữ, chẳng hạn các yếu tố như: Vấn đề thời gian sử dụng, khả năng tiếp cận tài sản và tín dụng, vấn đề đối xử của thị trường và các thể chế chính thức Ở nhiều nơi trên thế giới, phụ nữ có tiếng nói kém trọng lượng trong quá trình đưa ra các quyết định gia đình và xã hội

Ở nhiều quốc gia, công việc nhà bị ảnh hưởng của những giá trị vai trò giới và gây ra những gánh nặng không công bằng cho phụ nữ Trên thực tế, mặc dù phụ nữ ngày càng tham gia nhiều hơn vào các công việc được trả

Trang 38

công trên thị trường lao động chính thức và không chính thức, phụ nữ vẫn phải đảm nhiệm phần lớn những công việc nhà không được tính công Mahalingam et al, (2007) và David de Vaus et al (2007) Nhiều các hội nghị

và diễn đàn quốc tế được tổ chức ở Mexico năm 1975, Copenhagen năm

1980 và ở Bắc Kinh năm 1995, đều đã lần lượt bàn đến “chức năng kinh tế” của phụ nữ Ở những hội nghị và diễn đàn này, có một sự đồng thuận rằng quan niệm mang tính định kiến giới này đã khiến cho những đóng góp của phụ nữ không được nhìn nhận trong tổng thể quá trình phát triển cũng như đóng góp về mặt kinh tế của họ Theo báo cáo này, những đóng góp của phụ

nữ không được nhìn nhận, không được đánh giá hoặc không được đánh giá đúng mức và không được tính vào thu nhập của gia đình Ngược lại, chính sự đánh giá không đúng mức về đóng góp kinh tế của phụ nữ đã hạn chế sự thừa nhận của xã hội đối với các công việc này Do vậy nếu hình thức, mức độ và phân bổ của loại hình công việc không được trả lương này được nhìn nhận một cách toàn diện sẽ góp phần nâng cao nhận thức và chia sẻ trách nhiệm trong công việc Bên cạnh đó, nếu những đóng góp của công việc này được thể hiện bằng con số trong những thống kê của quốc gia sẽ khiến cho các nhà hoạch định chính sách không thể không quan tâm trong quá trình ra quyết định Đồng thời phụ nữ sẽ không còn bị coi là những thực thể không có giá trị kinh tế trong gia đình cũng như những giao dịch trên thị trường Trình độ giáo dục được cải thiện, sự độc lập về kinh tế nhiều hơn cũng như khả năng tiếp cận rộng rãi với hàng loạt các dịch vụ và thông tin kế hoạch hoá gia đình

rõ ràng đã là những động lực quan trọng tạo cho phụ nữ những quyền năng trong việc ra quyết định, đặc biệt là những quyết định liên quan đến sinh sản

Sự tự chủ của phụ nữ được thể hiện trong rất nhiều lĩnh vực quan trọng đặc biệt là lĩnh vực kinh tế trong các hộ gia đình hiện nay của Ngân hàng thế giới

và ngân hàng phát triển Châu Á ADB, DFID, CIDA (2006) trong “ Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam”

Mặc dù vị thế kinh tế đã được cải thiện, người phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình đổi mới, sự thiệt thòi thể hiện trong sự phân chia nghề nghiệp dựa trên cơ sở giới trong thị trường lao động cũng như tình trạng

Trang 39

bất bình đẳng giới dai dẳng trong thu nhập và khả năng di động trong nghề nghiệp của phụ nữ Liu (1995)

Các nghiên cứu chỉ ra rằng những công việc trong gia đình thường do một nhóm người nhất định trong xã hội thực hiện chẳng hạn như người già, trẻ

em, và nhất là phụ nữ Mahalingam (2007), CWS (2006) Mặc dù phụ nữ có thể đã có vị trí cao ở nơi họ làm việc nhưng họ vẫn phải lao động vất vả ở nhà, nơi mà họ thường phải mất số thời gian gấp 2-3 lần đàn ông để làm các công việc thường nhật này và ngay cả khi họ thuê người khác làm thay thì họ vẫn phải đảm đương việc kiểm tra hay giám sát những người đó Điều này một phần là do quá trình xã hội hóa giới mà từ đó những quan điểm về giới được hình thành trong mỗi cá nhân Với những quan điểm đó cá nhân tự học và ứng

xử theo những cách phù hợp với các giá trị vai trò giới Davis (2003, 2007).Tuy nhiên, nhiều học giả lại xác nhận rằng những công việc này không hề có liên quan gì đến giới tính, hay tuổi tác của một cá nhân hoặc là không được tính tạo nên thu nhập cho gia đình Tuy vậy, cách hiểu thông thường mang tính văn hóa này không dễ gì loại bỏ Nó thậm chí còn được nhấn mạnh bởi một số nhà nghiên cứu và những nhà hoạt động báo chí, tiếp tục gán những tên gọi mang mầu sắc giới cho những hoạt động này hay xây dựng và tái hiện những hình ảnh công việc được coi là chỉ phù hợp với nam giới và phụ nữ Guendozi (2006) Bằng cách đó, họ vô hình chung đã “thừa nhận công khai rằng giới có ảnh hưởng đến sự phân lao động gia đình”

Quan niệm lâu đời cho rằng phụ nữ làm việc nhà nhiều hơn đàn ông và không được tính công sức của mình đóng góp vào kinh tế gia đình đã được củng cố thêm bằng nghiên cứu của Trường Đại học Tổng hợp George Mason với hơn 17,000 người ở 28 nước và gợi ý rằng thiết chế hôn nhân đã làm thay đổi sự phân công lao động Các đôi vợ chồng có quan điểm bình đẳng giới - coi nam giới và phụ nữ là như nhau - có chiều hướng phân chia công việc vặt trong nhà khá công bằng Tuy nhiên, trong quan hệ hôn nhân, ngay cả khi có quan điểm bình đẳng, người đàn ông vẫn làm việc nhà ít hơn người vợ dù ở bất cứ nước nào Davis (2007) Trong nghiên cứu này, Davis trích dẫn tuyên bố của Berk (1985) rằng gia đình là một “xưởng giới” ở đó không chỉ hàng hóa

Trang 40

và dịch vụ mà cả giới được tạo ra thông qua sự phân công các nhiệm vụ gia đình Do đó, như West & Zimmerman (1987) đã lập luận, việc đi đổ rác mà không lau nhà là cách thức “thể hiện giới” hay nói cách khác, củng cố và sản sinh ra những nhân thân (identity) chứng tỏ họ là đàn ông chứ không phải là phụ nữ Tương tự, khi nhân thân tài chính của họ với tư cách người kiếm cơm trong gia đình không còn, đàn ông thậm chí còn làm việc nhà ít hơn vì không muốn làm suy yếu thêm vị thế của mình Brines (1994) Greenstein (2000) trích theo Beblo & Robledo (2007)

Trong một nghiên cứu của Hội đồng Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội Economic and Social Research Council - ESRC, Susan Harkness (2006) đã nghiên cứu những thay đổi trong việc làm của phụ nữ ở Anh từ những năm

1970, chú trọng đến giờ làm việc, thời gian làm việc, số lần đi làm, thu nhập và những công việc không công như việc nhà và chăm sóc con cái Harkness phát hiện rằng trong khi khoảng ba phần tư số gia đình có thu nhập từ cả hai người nhưng phụ nữ vẫn được đánh giá thấp về mặt kinh tế hoặc làm những công việc nhà sẽ không được tính vào thu nhập cho gia đình Ngoài ra, mặc dù có những thay đổi trong văn hóa chẳng hạn sự xuất hiện của cái gọi là “người đàn ông mới” hay việc ban hành và thực hiện những chính sách việc làm bình đẳng hơn, thì phụ nữ vẫn được cho là chỉ làm công việc nhà nhiều hơn là ở nơi công tác Điều đó cho thấy rõ là nam giới, và ngay cả phụ nữ thường coi việc nhà là thiên hướng hay chức năng tự nhiên của người phụ nữ và tất nhiên công việc này sẽ không được tính công, không mang lại thu nhập cho gia đình Tuy nhiên, điểm mấu chốt trong những nghiên cứu về chủ đề này lại là ý tưởng cho rằng đàn ông nên chia sẻ nhiều trách nhiệm hơn đối với công việc nhà Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phụ nữ đã kết hôn được hưởng thời gian nghỉ ngơi ít hơn

và chịu nhiều căng thẳng hơn do phải dành rất nhiều thời gian cho công việc nhà Sự căng thẳng này gia tăng đáng kể nếu họ cũng phải tham gia vào hoạt động kinh tế, nhưng mọi người trong gia đình lại không công nhận vai trò của phụ nữ trong việc đóng góp kinh tế cho gia đình họ Điều quan trọng hơn là sự chia sẻ trách nhiệm mất cân xứng này đối với công việc nhà lại có liên qua đến

sự phát triển của người phụ nữ, khả năng suy giảm sự thỏa mãn trong hôn nhân

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w