1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Văn du ký nửa đầu thế kỷ XX và tiến trình hiện đại hóa văn học : Luận án TS. Văn học: 62 22 34 04

178 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các nhà khoa học, các cán bộ quản lý, các giảng viên của Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Văn hóa Nghệ thuật, Khoa Du lịch học và Kh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

VĂN DU KÝ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

VÀ TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

VĂN DU KÝ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

VÀ TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN NHO THÌN

XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN

Luận án Tiến sĩ

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả trong luận án là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất

cứ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Nho Thìn, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận án

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu, tập thể giảng viên, cán bộ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và học tập tại Trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện trong quá trình nghiên cứu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các nhà khoa học, các cán bộ quản lý, các giảng viên của Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Văn hóa Nghệ thuật, Khoa Du lịch học và Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã góp ý, tư vấn, giúp đỡ cho tôi cả về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận án

Tôi xin tri ân sự động viên, khích lệ và ủng hộ của gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp tôi yên tâm và có thêm động lực để hoàn thành Luận án

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp mới của luận án 5

6 Cấu trúc của luận án 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Một số khái niệm cần xác định 6

1.1.1 Khái niệm “du lịch” và du lịch hiện đại 6

1.1.2 “Văn du ký” 8

1.1.3 Một số định nghĩa về văn du ký 10

1.1.4 Khái niệm “hiện đại”và “hiện đại hóa văn học” 15

1.2 Điểm qua lịch sử của văn du ký 19

1.2.1 Văn du ký ở Việt Nam trung đại 19

1.2.2 Văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 22

1.2.3 Du ký thế giới 25

1.3 Nghiên cứu, phê bình văn du ký trong nước và thế giới 27

1.3.1 Nghiên cứu văn du ký ở Việt Nam trước năm 1945 27

1.3.2 Nghiên cứu văn du ký ở Việt Nam trong thời gian hai thập kỷ

gần đây 31

1.3.3 Nghiên cứu văn du ký ở nước ngoài 36

Tiểu kết 42

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ DIỄN BIẾN CỦA VĂN DU KÝ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 43

2.1 Cơ sở văn hóa xã hội 43

2.1.1 Thời đại của những mối liên hệ Phương Đông - Phương Tây 43

2.1.2 Mạng lưới giao thông - điều kiện đầu tiên cho người viết văn du ký nửa đầu thế kỷ XX 48

2.1.3 Văn du ký và đời sống báo chí 55

Trang 6

2.1.4 Các tác phẩm dịch và sáng tác có ảnh hưởng đến du lịch

và văn du ký 58

2.2 Diễn biến của văn du ký 60

Tiểu kết 66

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VĂN DU KÝ VIỆT NAM NỬA ĐẦU

THẾ KỶ XX VÀ HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC 67

3.1 Nhận thức về “người khác” 67

3.1.1 Cái nhìn đối với người Pháp và văn hóa Pháp 70

3.1.2 Cái nhìn về người Hoa 80

3.1.3 Cái nhìn người Chăm 87

3.2 Khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa như một nét hiện đại của văn học 89

3.2.1 Lãng mạn gắn với phiêu lưu, mạo hiểm 89

3.2.2 Văn du ký với cái nhìn lý tưởng hóa cuộc sống thôn dã và

chất hoài cổ 95

3.3 Văn du ký về phụ nữ và phụ nữ viết văn du ký 100

3.3.1 Văn du ký viết về phụ nữ 100

3.3.2 Văn du ký của phụ nữ 106

Tiểu kết 112

CHƯƠNG 4 NGHỆ THUẬT VĂN DU KÝ VIỆT NAM NỬA ĐẦU

THẾ KỶ XX VÀ HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC 113

4.1 Thi pháp tả thực trong văn du ký nửa đầu thế kỷ XX 115

4.1.1 Hiện thực nhiều chiều, đa dạng, phong phú 117

4.1.2 Hiện thực hiện ra qua các chi tiết 124

4.2 Hình thức thể hiện cái tôi 126

4.2.1 Các hình thức kể chuyện trong văn du ký 127

4.2.2 Các trải nghiệm và khám phá cá nhân 130

4.3 Ngôn ngữ văn du ký 143

Tiểu kết 146

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn du ký nửa đầu thế kỷ XX như một thể loại của văn học hiện đại

Chúng ta đều biết, trong khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện của không ít các tác phẩm thuộc nhóm thể loại văn du

ký1 Qua một thời gian dài ít được chú ý, trong thập niên gần đây, thể văn du ký nói chung trong đó có văn du ký nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu Thực tế trên cho thấy rằng, càng ngày, giới nghiên cứu càng quan tâm đến một kiểu thể loại vốn bị xem là cận văn học, một thể loại dường như đứng bên lề của văn học Sự quan tâm đó có cơ sở thực tế bởi văn du ký cho đến nay, trong thế kỷ XXI, chẳng những không mất đi tính hấp dẫn và sức sống

mà trái lại đang có được một vị trí nhất định trong đời sống văn học Việt Nam đương đại Mặt khác, chủ nghĩa hậu cấu trúc đã phê phán việc đối lập văn hóa bác học và văn hóa bình dân, văn học và cận văn học Vì thế, nghiên cứu về thể văn du

ký không những có nội dung khoa học hàn lâm, thuộc nhóm vấn đề tổng kết qui luật của văn học sử, mà còn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc sáng tác, thưởng thức và nghiên cứu văn du ký đương đại

1.2 Các nghiên cứu đã có về du ký chưa nghiên cứu sâu vấn đề văn du ký

và hiện đại hóa văn học dân tộc

Hầu hết các nghiên cứu về du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã có đều tập trung tìm hiểu đặc điểm du ký, một thể loại mà các ý kiến đánh giá hiện chưa phải

là thống nhất Đây chính là một hướng tiếp cận cần có để khẳng định giá trị văn học của thể loại du ký Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn, một chuyên gia về du ký trong một bài viết năm 2007 đã khẳng định ngay trong tên bài viết rằng du ký là thể tài [168] Phạm Thị Ngọc Lan trong đề tài khoa học của mình cũng quan niệm văn

du ký là thể tài [85] Trong nhiều nghiên cứu về travel literature (dịch nguyên nghĩa: văn học du lịch) của giới nghiên cứu Phương Tây, họ dùng khái niệm genre (thể loại) Chúng tôi theo cách dùng của các nhà nghiên cứu Phương Tây vì chỉ có dùng

1

Vấn đề định danh khái niệm “văn du ký” sẽ được trình bày ở các mục dưới đây

Trang 8

2

khái niệm thể loại thì mới có căn cứ để phân loại các tiểu thể loại (subtypes) du ký thành du ký thám hiểm, du ký công vụ, du ký nghiên cứu, du ký du lịch, du ký tâm linh v.v…

Các công trình nghiên cứu du ký nửa đầu thế kỷ XX thường bàn nhiều về đặc điểm mà chưa quan tâm đến những đóng góp của văn du ký cho quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc Thực ra cũng có một số nghiên cứu gần đây nêu vấn đề về mối quan hệ giữa thể văn du ký và quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Chẳng hạn, Vương Trí Nhàn đã nhắc đến thể ký nói chung trong quá trình hiện đại hóa văn học Trong luận án của Dương Thu Hằng về Trương Vĩnh Ký [55] cũng có nêu vấn

đề về mối quan hệ giữa du ký với công cuộc hiện đại hóa văn học qua phân tích

Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi, một áng du ký quốc ngữ đầu tiên Đoàn Lê Giang nói

rõ trong những biểu hiện của hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỷ XX có vị trí của

du ký [43] Tuy nhiên, các trường hợp vừa nói trên, do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, đều chỉ mới dừng lại mức độ nhận xét ban đầu chứ chưa đi sâu nghiên cứu Vấn đề về đóng góp của văn du ký cho quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc ở đầu thế kỷ XX hầu như chưa được chú ý nghiên cứu Nghiên cứu văn du

ký từ góc nhìn của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX vì thế vẫn đang là một công việc mời gọi hấp dẫn mà cũng là thách thức

1.3 Cần ứng dụng nhiều thành tựu nghiên cứu văn du ký của thế giới

Theo sự khảo sát sơ bộ của chúng tôi, có thể nói, giới nghiên cứu quốc tế đã

có nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu du ký, nhất là du ký của các nhà văn Phương Tây xuất hiện suốt từ quãng thế kỷ XVIII trở lại đây Những thành tựu nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của văn học du ký của Phương Tây hầu như ít được phản ánh trong nghiên cứu du ký ở Việt Nam Công trình khoa học của Phạm Thị Ngọc Lan [87] đã vận dụng một số luận điểm lý luận quan trọng của giới nghiên cứu Trung Quốc để nghiên cứu du ký trung đại Việt Nam Bài viết của Nguyễn Hữu Lễ trình bày du ký hiện đại dưới hình thức phân loại du ký và sơ bộ nêu một vài đặc điểm chứ không nêu vấn đề hiện đại hóa văn học qua thể du ký [103] Như vậy, có một vấn đề khác cũng khá cấp thiết là vận dụng những kết quả

Trang 9

3

nghiên cứu thực tiễn và lý thuyết về văn du ký của nước ngoài để tiếp cận văn du ký Việt Nam Đây là một khoảng trống khá rõ trong nghiên cứu du ký mà chúng tôi nhận thấy cần có những đóng góp nhất định để bổ sung

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài Văn du ký và quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nhằm đến các

mục tiêu sau đây:

2.1 Xác định khái niệm về thể loại văn du ký và giới thiệu một số vấn đề lý thuyết

và thực tiễn của văn du ký thế giới, chủ yếu của các tác giả Phương Tây để định hướng cho việc tiếp cận văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

2.2 Chỉ ra tiến trình vận động của văn du ký trong tiến trình chung hiện đại hóa văn học dân tộc

2.3 Luận án sẽ làm rõ, văn du ký trong nửa đầu thế kỷ XX có những đóng góp gì cho tiến trình hiện đại hóa văn học về các phương diện nội dung và nghệ thuật 2.4 Bước đầu nhận xét về khả năng kế thừa và phát triển những thành tựu của văn

du ký nửa đầu thế kỷ XX đối với văn du ký Việt Nam đương đại, trong thế kỷ XXI

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi chọn dối tượng nghiên cứu là các tác phẩm văn du ký tiêu biểu, có giá trị về nội dung và nghệ thuật xuất hiện trên các báo và tạp chí nửa đầu thế kỷ

XX, đặc biệt chú ý đến các tác phẩm du ký phản ánh quá trình vận động, thay đổi của văn du ký theo thời gian

Vì số lượng văn du ký rất lớn, in rải rác trên nhiều báo và tạp chí khác nhau qua thời gian dài, khó có thể đọc hết trong phạm vi thời gian làm luận án và mặt khác do thực tế lưu trữ của nước ta, không phải tạp chí nào hiện cũng còn đủ số trong thư viện nên chúng tôi chỉ chọn lựa một số tác phẩm văn du ký tiêu biểu nhất,

có khả năng tiếp cận cao nhất

Các tác phẩm du ký bằng thơ sẽ chỉ được liên hệ so sánh khi cần thiết chứ không phải là đối tượng nghiên cứu chính

Du ký trong văn học trung đại cũng chỉ được đề cập khi cần thiết nhằm phục

vụ cho mục tiêu so sánh

Trang 10

4

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Các vấn đề lý thuyết của văn du ký, từ vấn đề định nghĩa đến các đặc trưng thể loại Một số lý thuyết về văn du ký của Phương Tây, khái quát từ đặc trưng văn học Phương Tây cũng là một phạm vi quan tâm

3.2.2 Những tiền đề văn hóa, xã hội của văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 3.2.3 Quá trình hình thành cũng như sự vận động của du ký trong văn học Việt Nam So sánh du ký trung đại và du ký hiện đại, những đặc điểm tương đồng và khác biệt của hai kiểu du ký

3.2.4 Những vấn đề của hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỷ XX và vị trí của văn

du ký trong dòng chảy hiện đại hóa đó

3.2.5 Tính hiện đại của văn du ký nửa đầu thế kỷ XX về nội dung và nghệ thuật

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, trong luận án chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

4.1 Phương pháp lịch sử: phân tích, đánh giá văn du ký như là một đối tượng có

lịch sử ra đời, vận động trong thời gian

4.2 Phương pháp hệ thống: nhìn nhận văn du ký như là một chỉnh thể riêng có cấu

trúc nội tại, có những mầm mống riêng từ văn học trung đại nhưng nằm trong một

hệ thống lớn hơn là cả tiến trình hiện đại hóa của văn học dân tộc Đến lượt mình, văn học Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa lại được xem xét trong bối cảnh chung của công cuộc tiếp xúc văn hóa và văn học Phương Đông -Phương Tây

4.3 Phương pháp tiếp cận văn hóa học: cho phép nhìn nhận văn du ký như là sản

phẩm văn hóa tinh thần của tác giả Việt Nam, tuy trong bối cảnh hội nhập, giao lưu, tiếp biến văn hóa với Phương Tây để thay đổi nhưng vẫn ít nhiều chịu sự chi phối của văn hóa Việt Nam, của những quan niệm về con người và thế giới

4.4 Thi pháp học: các vấn đề chủ yếu về thi pháp và nghệ thuật nói chung của văn

du ký nửa đầu thế kỷ XX như vấn đề người kể chuyện ngôi thứ nhất và thứ ba, vấn

đề tự khám phá, bộc lộ cái tôi, vấn đề tư duy tả chân

4.5 Phương pháp nghiên cứu văn học theo thể loại: phân tích, minh chứng, đánh

giá văn du ký như là một thể loại độc lập của văn học

Trang 11

5

5 Đóng góp mới của luận án

5.1 Về lý luận: xác lập đặc trưng của văn du ký từ điểm nhìn của giao lưu tiếp biến

văn hóa, chú ý đến những nội dung và hình thức tiếp nối truyền thống du ký trung đại đồng thời các ảnh hưởng của xu thế hiện đại hóa văn học đến văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Cụ thể là vấn đề ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn trong văn du ký Phương Tây, vấn đề con người cá nhân, cái nhìn nữ quyền và tư duy tả chân trong du ký Phương Tây đã ảnh hưởng đến văn du ký Việt Nam như thế nào

5.2 Về thực tiễn: Chỉ ra nét tương đồng và nét khác biệt, nét kế thừa và nét mới của

văn du ký hiện đại so với văn du ký Việt Nam trung đại; chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng của văn học Phương Tây trong văn du ký như một biểu hiện của quá trình hiện đại hóa văn học

Phân tích văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX với các điểm nhìn lý luận như trên cho phép đánh giá đầy đủ hơn, toàn diện hơn về vị trí, ý nghĩa của văn du

ký đối với tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc nói chung ở nửa đầu thế kỷ XX, chỉ ra quan hệ tương tác của văn du ký với quan niệm đổi mới về con người, nhận thức về “người khác” (các dân tộc khác), ý thức về cái tôi, vấn đề nữ quyền, về nghệ thuật tự sự, tả chân trong văn học hiện đại

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nhiều đối tượng quan tâm về văn học Việt Nam nói chung và văn du ký nói riêng ở nửa đầu thế kỷ XX

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận án có 4 chương

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Cơ sở văn hóa xã hội và diễn biến của văn du ký Việt Nam nửa đầu

Trang 12

6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Văn du ký cả ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài có lịch sử khá lâu đời và trong bối cảnh văn hóa xã hội từ đầu thế kỷ XX phát triển rất mạnh, hiện vẫn đang được tiếp tục, thậm chí còn làm nên một mảng văn học hấp dẫn Hiện tượng Huyền

Chíp với Xách balô lên và đi gần đây [25] đã gây nên những phản ứng khác nhau

của công chúng văn học cho thấy thế mạnh và những đặc điểm của thể loại này cần được chú ý hơn nữa

Phần tổng quan này được dành cho việc giới thuyết khái niệm văn du ký và các lý thuyết nghiên cứu văn du ký ở nước ngoài cũng như trong nước, trình bày khái quát lịch sử nghiên cứu với những gì giới nghiên cứu đã giải quyết và xác định nội dung cụ thể mà luận án cần giải quyết

1.1 Một số khái niệm cần xác định

1.1.1 Khái niệm “du lịch” và du lịch hiện đại

Du ký hay văn du ký do những người du lịch viết Vì vậy chúng ta cần trước tiên bàn về các dạng du lịch khác nhau và những người đi du lịch

Theo Từ điển tiếng Việt, du lịch “đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở”

[232, 272] Từ định nghĩa này, cuốn từ điển xác định du ký là “thể ký ghi lại những điều người viết chứng kiến trong chuyến đi chơi xa” [232, 272] Tất nhiên đây là định nghĩa chung nhất của một cuốn từ điển phổ thông chứ chưa phải là định nghĩa chuyên sâu của sách nghiên cứu về du lịch Và vì thế mà khái niệm du ký cũng mới chỉ được đề cập sơ bộ, chưa toàn diện Chẳng hạn, cùng với những điều chứng kiến, người đi xa còn ghi lại các suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, nhìn lại bản thân mình, dân tộc mình và so sánh mình với người Và nhiều chuyến đi không hề là “đi chơi”

mà thực sự là các chuyến “công vụ” như chuyến đi sứ Trung Quốc của Lê Quí Đôn

được ghi lại trong Bắc sứ thông lục, hay chuyến đi sứ sang Pháp của Phạm Phú Thứ ghi trong Tây hành nhật ký

Từ điển Wikipedia (tiếng Anh) định nghĩa “du lịch” (tourism): “du lịch là cuộc đi nhằm mục đích giải trí, nghỉ ngơi, tôn giáo, gia đình hoặc kinh tế, thường

Trang 13

7

diễn ra trong một quãng thời gian nhất định” Tài liệu của Tổ chức du lịch thế giới

(World Tourism Organisation) định nghĩa du lịch là “những hoạt động của con người di chuyển đến và ở lại những địa điểm nằm bên ngoài môi trường quen thuộc của họ trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm cho các mục đích giải trí, kinh doanh hay các mục đích khác” [282, 1] Định nghĩa này chú ý đến mục đích đi

và thời gian đi Các mục đích khác đó rất rộng, có thể bao gồm kỳ nghỉ hè, dự lễ hội, kinh doanh, hành hương tôn giáo, truyền giáo, hội nghị khoa học, thăm viếng, đi nghiên cứu, ngoại giao, kể cả hoạt động công cán của sĩ quan của đội quân thực dân xâm lược, của người thám hiểm Cũng như các khái niệm khoa học xã hội khác, khái niệm du lịch khó có thể có được một định nghĩa bao quát hết được mọi phương diện, khía cạnh và bản thân khái niệm du lịch cũng không diễn tả hết được các kiểu

đi, nội dung hoạt động và kể cả nội dung ghi chép, mục đích ghi chép Thời gian đi

du lịch bị khống chế trong phạm vi một năm cũng có thể gây phân vân Các sứ thần Việt Nam xưa đi sứ Trung Quốc cả đi về mất gần 2 năm, các giáo sĩ Phương Tây đến Việt Nam truyền giáo có người ở lại hàng chục năm, Philiphê Bỉnh sống ở Bồ Đào Nha hàng chục năm có thể cho thấy việc hạn định thời gian du lịch một năm khó thuyết phục Tuy vậy, một định nghĩa như vừa nêu trên có thể giúp ta hình dung đại thể du lịch như một hiện tượng văn hóa của nhân loại

Trong các sách nghiên cứu về du lịch của nước ngoài, có phân biệt tourism

(du lịch) với travel (du hành) Theo Bách khoa thư về du lịch (Encyclopedia of

Tourism), travel chỉ sự di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác-một khía cạnh

cơ bản, không thể thiếu của du lịch Khái niệm du hành có gợi ý về hình thức, phương tiện đi lại: đi bộ, đi ngựa, đi tàu hỏa, đi máy bay, trượt tuyết, tự lái xe v.v…Từ khái niệm travel có từ traveller-người du hành, du lữ mà có thể không hẳn

là nhà du lịch- tourist, ví dụ như người nhập cư, người di tản, sinh viên diện trao đổi văn hóa thì không thể gọi là khách du lịch Lại có trường hợp mà người đi xa tìm thấy ở việc đi xa một phương cách thể hiện quan điểm sống của mình Nguyễn Tuân thậm chí có lúc cao hứng còn gọi mình là “đổi khách”: “Là một đổi khách chỉ muốn sống với cảnh đẹp luôn đổi thay, tôi chỉ muốn lòng tôi sớm chiều đều rung lên một điệu nhẹ nhõm, vui vẻ” [236, 284] Thậm chí việc đi xa với ông không phải là để

Trang 14

8

xem sự khác lạ so với nơi ở của mình mà chính là một cách để thay đổi cảm giác, thể hiện chủ nghĩa lãng mạn sâu đậm của mình “Tôi chỉ là một du khách đi qua, thấy hay tôi ở lâu, thấy dở tôi lên đường đi ngay”

Phân biệt một cách tinh tế các trường hợp cụ thể, vốn rất đa dạng phong phú của những người di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác không phải là nhiệm vụ của luận án Chúng tôi quan tâm nghiên cứu tất cả các dạng văn bản do những người lữ hành, du lịch hay du lữ

Để hiểu được tầm quan trọng của văn du ký, chúng ta cần chú ý đến sự phát triển bùng nổ của du lịch hiện đại Việc đi từ điểm này đến điểm khác đã diễn ra

từ thời cổ đại nhưng hiện nay, việc đi tăng mạnh hơn bao giờ hết do những nhân tố khác nhau Tổ chức du lịch thế giới ghi nhận sự tăng trưởng ngoạn mục của du lịch trên toàn cầu: từ năm 1950 mới có 25 triệu người đi du lịch đến năm có 277 triệu người, qua năm 1990, con số này đạt đến 438 triệu, năm 2000 lên tới 919 triệu [283, 2] Khi du lịch đã thành một hiện tượng toàn cầu hóa thì văn du ký tất nhiên có vị trí, ý nghĩa to lớn hơn trước vì nó nằm trong tổng thể hoạt động của con người trên phạm vi toàn cầu, phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền, quảng bá, giải trí của ngành du lịch

1.1.2 “Văn du ký”

Thực tế, khái niệm “văn du ký” cũng đã được tòa soạn Phụ nữ tân văn dùng

để giới thiệu du ký của Phạm Vân Anh (năm 1929), nhưng cho đến nay, chúng ta thường gặp khái niệm phổ biến “du ký” chứ ít khi thấy nói đến “văn du ký” Chúng tôi lại chủ trương phải gọi là “văn du ký” vì lý do sau:

Trước hết, trong lịch sử văn du ký ở nước ta, kể cả thời trung đại và hiện đại (chủ yếu là nửa đầu thế kỷ XX), có hiện tượng viết du ký bằng thơ Đơn cử Nguyễn

Tông Quai (1692-1767) có Sứ trình tân truyện -một tập thơ sứ trình dài 646 câu thơ

Nôm theo thể song thất lục bát kể về chuyến Bắc sứ năm 1742 [234, 1196] Nguyễn

Huy Oánh (1713-1789) viết Phụng sứ Yên Kinh tổng ca dài 472 câu thơ lục bát chữ

Hán [234, 1150] Trương Minh Ký (1855-1900), người có thể liệt vào loại tác giả

văn học hiện đại, có Như Tây nhật trình (năm 1888) gồm 2000 câu thơ song thất lục

bát, theo thể thức nhật ký, kể về từng ngày dẫn 10 du học sinh sang Trường trung

Trang 15

9

học Angiê (Bắc Phi) và Chư quấc thoại hội (năm 1891) cũng bằng thơ Do viết về

hành trình bằng thơ nên các tác phẩm này có những điểm khác với văn xuôi du ký

về thể loại Hiển nhiên, thơ không có lợi thế ghi chép cụ thể, chi tiết các hiện tượng của cuộc sống như văn xuôi, tính tự sự mờ nhạt hơn Trong khi đó, một trong những nội dung quan trọng của luận án này là nghiên cứu nghệ thuật tả chân của nhiều tác phẩm du ký Gọi là “văn du ký” để phân biệt với “thơ du ký”

Chúng ta cũng cần chú ý đến thuật ngữ quốc tế về văn du ký- travel literature-khái niệm cấu tạo từ travel có nghĩa là du lữ, và literature tức văn học Nếu dịch nguyên văn thì sẽ là “văn học du lịch”, nếu Việt hóa sẽ có “văn du ký”

Về tinh thần chung, khái niệm “văn du ký” của chúng tôi thống nhất với khái niệm “du ký” mà giới nghiên cứu hiện đang sử dụng, chỉ có điều cách gọi này có khả năng làm rõ hơn nội dung và đặc điểm của đối tượng

Nhân đây cũng cần lưu ý rằng trong lịch sử du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XX, có trường hợp tác giả đặt tên tác phẩm của mình dưới một tiêu mục là “lữ ký”

mặc dù về hình thức và nội dung về cơ bản tương đồng với văn du ký Đó là trường

hợp Biệt Lam Trần Huy Bá trên tạp chí Tri tân với bài ký xuất bản năm 1942 Ban

Mê Thuột [8] và bài ký xuất bản năm 1944 Hai tháng ở gò Óc eo hay là câu chuyện

đi đào vàng [9] Đây là áng văn du ký của một nhà khảo cổ học, không phải là một

khách du lịch theo nghĩa người du lịch hiện đại Vì vậy, lại cần phải có phân biệt kiểu tác giả viết du ký và hình thức đi Trần Huy Bá dùng khái niệm “lữ ký” theo

chúng tôi là rất chính xác Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, du là “đi chơi”,

còn lữ là “đi ra xa nhà” Cả hai hình thức đi đều là đi xa nhà, song một bên là đi chơi, chủ động, tự nguyện; còn một bên là xa nhà có thể bất đắc dĩ, do công việc đòi hỏi hay những lý do khác Sắc thái phân biệt rõ ràng là có Có thể phải xét sự khác biệt giữa một bên là chủ động đi và một bên là bị động, đi ra khỏi nhà mà không phải đi chơi

Cũng có trường hợp nhà nghiên cứu đồng nhất du ký với phóng sự Đức Dũng viết: “Ngay từ những thập niên đầu thế kỉ XX, một loạt phóng sự đã xuất hiện

trên báo chí ở nước ta …Tiêu biểu cho loại này là một số phóng sự như: Mười ngày

ở Huế, Pháp du hành trình nhật kí, Hạn mạn du kí v.v” [34, 65-66] Nhưng việc

Trang 16

10

đồng nhất này theo chúng tôi không có căn cứ khoa học Mục đích, tính chất, chức năng của phóng sự khác du ký mặc dù có thể giữa chúng có sự giao thoa nào đó Phóng sự thường đòi hỏi tính nhanh nhạy của tin tức cần cung cấp, còn du ký có thể

là viết lại hành trình qua sự hồi tưởng dựa trên trí nhớ hay sổ ghi chép

1.1.3 Một số định nghĩa về văn du ký

- Có một giới thuyết khá sớm về văn du ký trên Phụ nữ tân văn năm 1929

khi toà soạn viết lời giới thiệu cho du ký đi sang Tây của Phạm Vân Anh, trong đó

sử dụng chính khái niệm “văn du ký”: “Thể văn du ký là một thể văn ai cũng ham đọc, và nó dễ khích phát lòng người hơn là tiểu thuyết Tiểu thuyết còn có thể tưởng tượng ra, chớ du ký là tả những sự thiệt, có khi đọc du ký mà tức là học lịch sử, học địa lý, học mỹ thuật, học phong tục, mình ngồi tựa trước bên đèn, mà hình như thấy

rõ những non sông, nhân vật ở phương xa đất lạ thì còn có lợi ích gì hơn và thú vị gì hơn nữa” [2] Ở đây, từ góc nhìn của tòa soạn báo, người viết chú ý đến tính chất tổng hợp về nội dung của văn du ký, đặc biệt quan tâm đến tính hấp dẫn (có lẽ trước hết nhờ nó mà bán được nhiều báo) của văn du ký so với tiểu thuyết, dường như để giải thích vì sao báo này lại cho đăng du ký Đồng thời người viết cũng nhấn mạnh việc “tả sự thiệt” trong các áng du ký

- Định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học:“ Du ký - một thể loại văn học

thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân mình đi du lịch, ngoạn cảnh

về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đến Hình thức của du ký rất đa dạng, có thể là ghi chép, ký sự, nhật ký, thư tín, hồi tưởng, miễn là mang lại những thông tin, tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh, phong tục, dân tình của xứ sở ít người biết đến… Dạng đặc biệt của du ký phát huy cái chất ghi chép về miền xa lạ của nó là du ký về các xứ sở tưởng tượng, có tính chất không tưởng hay viễn tưởng khoa học… Dạng du ký khác đậm đà phong vị Phương Đông là ghi chép cảm tưởng, nhận xét về những nơi danh lam thắng cảnh đất nước… Thể loại du ký có vai trò quan trọng đối với văn học thế

kỷ XVIII-XIX trong việc mở rộng tầm nhìn và tưởng tượng của nhà văn Sang thế

kỷ XX, du ký mang nhiều tính chất tư liệu khoa học do các nhà địa chất, nhà dân tộc học viết Loại du ký khoa học cũng rất thịnh hành” [233, 108] Định nghĩa này

Trang 17

11

nói rõ du ký là thể loại; trong định nghĩa ta thấy sự cố gắng bao quát cả hai mặt đồng đại và lịch đại của văn du ký trong lịch sử văn học Việt Nam và thế giới Định nghĩa lưu ý cả điều tai nghe mắt thấy cũng như điều tưởng tượng trong các tác phẩm

du ký Tuy nhiên, có những vấn đề của lịch sử văn du ký chưa được bao quát trong định nghĩa này Ví dụ như cái nhìn thực dân của các tác giả du ký châu Âu khi đi sang các nước Phương Đông, coi Phương Đông như là thế giới man ri, mọi rợ cần được khai hóa Cái nhìn của các sứ thần Trung Quốc khi đến Việt Nam thời trung đại cũng mang một sắc thái thực dân tương tự Trong khi đó, người Việt đi sang Phương Tây lại có tâm thế học hỏi Nghĩa là văn du ký viết khi ra nước ngoài thường bao hàm một cái nhìn về “người khác”

Trần Kim Anh, Hoàng Hồng Cẩm dựa trên mảng văn học chữ Hán, lại định

nghĩa “văn du ký là loại văn được viết ra trong những chuyến đi, vừa để ghi lại hành

trình, vừa để bày tỏ cảm xúc về những điều mắt thấy tai nghe Đặc điểm của du ký

là chuyên lấy việc mô tả thắng cảnh núi sông, phong vật làm đề tài, cách viết đa dạng, có thể miêu tả, có thể trữ tình, có thể nghị luận, và phải là chính tác giả ghi chép, về chính chuyến đi của mình, miêu tả lại cảm thụ của bản thân trước non sông cảnh vật” [4,113] Định nghĩa này chủ yếu áp dụng cho văn du ký chữ Hán thời trung đại mà chưa bao quát hết thực tế du ký thế kỷ XX bằng quốc ngữ, chưa nói đến một trong những yếu tố quan trọng nhất của du ký là kể về các cuộc tiếp xúc với “người khác”, “xứ khác” tức nền văn hóa khác

- Định nghĩa của giới nghiên cứu quốc tế:

Định nghĩa của từ điển Từ Hải: “Du ký là một trong những thể tài văn học, là

một loại của tản văn, dựa vào ngòi bút nhanh nhạy, miêu tả một cách đầy đủ và sinh động tất cả những điều tác giả tai nghe mắt thấy trên đường du lịch, như đời sống xã hội, phong tục tập quán, núi sông cảnh vật, danh thắng cổ tích, cùng với việc biểu đạt tư tưởng, tình cảm của tác giả” [dẫn theo Phạm Thị Ngọc Lan, 86, 6] Nhà nghiên cứu Phạm Thị Ngọc Lan cũng dẫn ý kiến của nhà nghiên cứu Trung Quốc là Vương Lập Quần: “dấu tích du lịch, cảnh quan và cảm xúc cá nhân là ba yêu cầu lớn của thể văn du ký” [dẫn theo Phạm Thị Ngọc Lan, 86, 6] Ba yếu tố nói đây nhấn mạnh khá toàn diện nội hàm của văn du ký mà các định nghĩa trên cũng đều

đã đề cập

Trang 18

12

Nói đến tính chân thực về nội dung của văn du ký, một số định nghĩa trong tài liệu tiếng Việt thường dùng cụm từ “mắt thấy tai nghe” Nhưng không hẳn là tất

cả những sự kiện được ghi trong văn du ký đều có thực, đều là điều bản thân người

viết trải nghiệm Trên Phụ nữ tân văn năm 1932, Phan Khôi từng phê phán những

thiên du ký thiếu chân thực, tức là chứa đựng những thông tin lấy từ nguồn tài liệu khác độn vào chứ không phải là những tư liệu do chính người viết nghe nhìn được:

“Từ đôi mươi năm nay người mình mới có một số ít bước chân ra ngoại quốc, hoặc sang Tây hoặc sang Đông Trong một số ít ấy lại có một số ít đã đem cuộc xuất dương của mình mà viết nên những tập du ký, in ra và bán cho những người ngồi nhà mua đọc Ấy là sự có ích lắm Nhưng mà tiếc cho những người viết du ký ấy hay có cái tánh không thiệt thà (…) Như du ký Nhật Bổn thì họ chia ra những là lịch sử, phong tục, giáo dục của nước ấy, mỗi việc làm một thiên… Đại để người ta làm cách nầy: Họ có đến Đông Kinh của Nhật Bổn thật, nhưng ở đó không lâu, hoặc là ở lâu nhưng vì cớ gì đó họ quan sát chẳng được gì mấy chút Đến chừng họ viết du ký, lấy vài ba việc mục kích làm cái cốt rồi, ngoài ra chẳng còn gì nữa cho đầy tập Khi ấy họ mới sanh tâm ra, làm cho lớn lối, bèn chia từng thiên một, rồi thiếu chi thứ sách nói về Đông Kinh ấy, dịch lấy một mớ mà thộn vào, nó mới thành

ra thứ du ký như tôi đã thấy” [77]

Nhật Nham trên Tri tân năm 1942 có tiết lộ ông từng viết về Hồ Ba Bể và cho in năm 1941 [Tri tân số 25] nhưng ông chưa từng lên đó mà người đọc cứ

tưởng ông nói sự thực, lần này ông mới thực sự đi thăm Hồ Ba Bể và chép sự thực

[126] Gần đây, ở thế kỷ XXI, cuốn Xách Ba lô lên và đi xuất bản năm 2012 của

Huyền Chíp [25] đã bị bạn đọc trên các trang mạng chỉ ra một số yếu tố hư cấu, không có thực Tóm lại, rất khó xác định liều lượng giữa sự thực và hư cấu trong

du ký Trong khi chủ yếu là ghi chép lại điều tai nghe mắt thấy, tác giả văn du ký

có thể hư cấu bằng những cách khác nhau ví dụ như dựa vào du ký của người khác, thậm chí có thể là sách nghiên cứu hay tiểu thuyết để độn cho áng văn đầy lên Hiện tượng này giới nghiên cứu gọi là kể chuyện ở ngôi thứ ba chứ không phải ngôi thứ nhất

Trang 19

13

Theo Bách khoa thư về du lịch (Encyclopedia of Tourism), khái niệm travel

literature -“văn học du lịch” bao gồm nhiều loại, từ các sách hướng dẫn du lịch thuần túy cung cấp các thông tin cho du khách - khi đó không thể gọi là thể loại văn học -đến các sáng tác tưởng tượng, hư cấu cũng không thuần túy là văn du ký nữa [265, 602] Điều nói đây có thể giúp phân biệt những tác phẩm tuy có tên là du ký nhưng không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án Ví dụ như tác phẩm nổi tiếng Tây du ký của Ngô Thừa Ân tuy rất hấp dẫn song bên cạnh những quan sát, ghi chép về các xứ khác, người khác, lại tồn tại chất tiểu thuyết đậm nét, xây dựng thành công những kiểu nhân vật tiểu thuyết Nằm ở khoảng giữa chúng là các ghi chép về một chuyến đi và các ghi chép này thực hiện một chức năng kép, vừa có thể cung cấp thông tin xác thực về các địa điểm du khách cần đến vừa thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, hiểu biết về các miền đất lạ, các nền văn hóa và con người đa dạng trên thế giới Tức là trong văn du ký, có sự tổng hợp các chức năng thông tin cộng

với chức năng dân tộc học, nhân loại học, chức năng thẩm mỹ Bách khoa thư về du lịch quan niệm văn du ký là thể loại phi hư cấu

Theo Wikipedia (tiếng Anh), khái niệm văn học du lịch (travel literature) được giới thuyết như sau: “thể loại văn học du lịch bao gồm văn học du lữ (outdoor literature), văn học thám hiểm (exploration literature), văn học phiêu lưu (adventure literature), văn học viết về thiên nhiên (nature writing), và sách hướng dẫn du lịch (guide book), cũng như các ghi chép từ các chuyến đi ra hải ngoại” Đây không hẳn

là định nghĩa mà chỉ là một khái quát về những biến thể khác nhau có thể có của văn du ký -tức văn học du lịch Phương Tây Ở Phương Tây bắt đầu từ thế kỷ XV,

do sự phát triển của ngành hàng hải, sự phát triển của công nghiệp mà hiện tượng đi thám hiểm vòng quang trái đất phát triển, kéo theo văn học có nội dung thám hiểm thế giới rất phổ biến còn ở ta, nội dung này rất mờ nhạt, không điển hình Trong sự

đa dạng, có một nội dung chung giữa các kiểu loại văn học du lịch là ghi chép về sự

di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác với những nhận thức, suy nghĩ, cảm xúc nảy sinh trong quá trình di chuyển đó

Nhà nghiên cứu Carl Thompson quan niệm du hành (travel) là cuộc thương lượng giữa bản thân (self) và người khác (other) dẫn đến việc di chuyển trong

Trang 20

14

không gian “Nếu tất cả các cuộc du hành đều bao gồm cuộc gặp gỡ giữa bản thân

và người khác được thực hiện bằng việc di chuyển trong không gian thì tất cả văn

du ký (travel writing) ở mức độ nào đó đều là sự ghi chép hay sản phẩm của cuộc gặp gỡ này, sản phẩm của sự thương lượng giữa cái tương đồng và cái khác biệt” [261, 10] Ở đây nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn đến loại văn du ký của Phương Tây vốn ghi chép những quan sát, suy nghĩ về thế giới ngoài Phương Tây,

về Other-người khác trong các thế kỷ thám hiểm, tiến hành thực dân hóa thế giới phi Phương Tây Vì thế nhà nghiên cứu này quan tâm nhiều đến các cuộc tiếp xúc giữa tác giả văn du ký và Người Khác (tức là dân tộc khác, nền văn hóa khác) Đây cũng là một nội dung mà luận án chúng tôi cũng sẽ quan tâm tìm hiểu

Tất nhiên, các nhận xét trên chưa phải là định nghĩa vì theo Carl Thompson, văn du ký -travel writing- là một thể loại không thuần nhất, lai ghép Rất khó để xác định ở chỗ nào thì du ký kết thúc và bắt đầu các thể loại khác: tự truyện, dân tộc học, miêu tả thiên nhiên, tiểu thuyết hư cấu Ông đề nghị một cách giới thuyết khái niệm

có nội hàm rộng, “có nhiều đặc điểm và dấu hiệu cho phép chúng ta xếp loại một văn bản như là văn du ký và mỗi văn bản riêng rẽ sẽ thể hiện một tiêu chí lựa chọn khác và một thế kết hợp khác các đặc điểm này” Tiêu chí trung tâm cho thể loại

văn du ký phải là “tự sự phi hư cấu ở ngôi thứ nhất” (chúng tôi nhấn mạnh) Tự sự

ngôi thứ nhất hàm nghĩa rằng đây là sự ghi chép chân thực các trải nghiệm của chính tác giả - người kể chuyện Nhưng nhà văn viết du ký lại phải đóng hai vai trò xung đột nhau: là người viết phóng sự thì phải ghi lại đúng những gì đã trải nghiệm, nhưng là người kể chuyện thì anh ta phải gây được hứng thú cho người đọc, trình bày để người đọc thưởng thức Ranh giới giữa hư cấu và phi hư cấu không dễ gì vạch ra được Tính hư cấu là không tránh khỏi trong tất cả các tác phẩm văn du ký

Có thể lấy dải quang phổ để hình dung chất hư cấu trong văn du ký: ở một cực của dải quang phổ là những nhà văn muốn ghi lại trung thực các trải nghiệm của mình nhưng thấy cần biên tập lại, cấu trúc lại các trải nghiệm nên làm cho chúng biến dạng Ở cực bên kia có những nhà văn có chủ ý sáng tạo các chi tiết và tạo truyền thuyết [261, 29] Trước một đối tượng phức tạp, đa diện như văn du ký, phương pháp của Carl Thompson là mô tả, giải thích mà tránh đưa ra một định nghĩa cụ thể Cách làm này rất có lý

Trang 21

15

Nhìn chung, trên đây chỉ là một số trong vô số các định nghĩa về du ký trong nước và quốc tế Mỗi định nghĩa được đưa ra từ góc nhìn riêng của nhà khoa học, được khái quát từ thực tiễn văn học mà nhà nghiên cứu đó quan tâm nghiên cứu, nên khó có thể lấy một tiêu chí nào để phê phán, đánh giá đúng sai Người chú trọng đến tính chất cá nhân, tính chất biểu hiện chủ thể của du ký, người đề cao tính chân thực, mắt thấy tai nghe của du ký nhưng lại có thể nhấn mạnh tính hư cấu tưởng tượng; người chú ý tính chất hấp dẫn của du ký Theo chúng tôi, một định nghĩa càng dài, càng cụ thể thì lại càng có nguy cơ thiếu hụt Vì thế nên trong luận án này, chúng tôi chủ trương xem khái niệm văn du ký có những nội dung chính sau:

- Là thể loại tự sự phi cốt truyện, viết bằng văn xuôi, thường có dạng hồi ức,

và dạng nhật ký, dành cho hoạt động di chuyển giữa các địa điểm có khoảng cách lớn, ra bên ngoài không gian sống thường ngày, trong một khoảng thời gian có độ dài nhất định

- Ghi lại các sự kiện, các điều quan sát của nhân vật “tôi” về cảnh quan tự nhiên và xã hội ở nơi đến, về cơ bản có tính xác thực nhưng cũng có khả năng xen

kẽ hư cấu và cung cấp các tri thức thiên về khảo cứu sách vở

- Ghi lại các nhận thức, suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật “tôi” Người kể chuyện chủ yếu ở ngôi thứ nhất, đôi khi có kể chuyện ở ngôi thứ ba (khi dẫn các tài liệu nghiên cứu liên quan do các tác giả khác viết)

1.1.4 Khái niệm “hiện đại” và “hiện đại hóa văn học”

- Cách hiểu của giới nghiên cứu Việt Nam:

Hiện đại hóa văn học là vấn đề có lịch sử nghiên cứu khá phong phú ở ta Chúng tôi xin điểm một vài ý kiến tiêu biểu quanh khái niệm “hiện đại” để có cơ sở triển khai nhiệm vụ luận án

Vương Trí Nhàn tổng hợp các cách hiểu về hiện đại và hiện đại hóa đã chỉ rõ, hiện đại hóa và Phương Tây hóa được coi là ngang nhau Ông xem hiện đại hóa ở Phương Tây trong đời sống kinh tế là chủ nghĩa tư bản, là kỹ thuật hiện đại, là hình thức tiêu thụ Trong đời sống văn hóa, hiện đại là sự thế tục hóa, đa cực hóa, đa dạng hóa tư tưởng [131, 18] Từ đó, ông nêu một số nhân tố chính của hiện đại hóa văn học Việt Nam: 1) sự hình thành một môi trường văn học thống nhất trong cả

Trang 22

16

nước; 2) sự hình thành một lớp người làm nghề; 3) vai trò chỉ đạo của một nguyên tắc thi pháp khác trước; hệ thống thể loại gần với (hệ thống thể loại) châu Âu; ngôn ngữ văn học là thứ ngôn ngữ hàng ngày, hướng về đời thực Theo ông, “quá trình hiện đại hóa văn học khởi động từ đầu thế kỷ, và đến 1945, coi như đã hoàn thành một chặng cơ bản” [131, 22-26] Vương Trí Nhàn có một lưu ý: chúng ta không nhầm lẫn tính hiện đại với chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật (chủ nghĩa

ấn tượng, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa lập thể )

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh cho rằng “Thời kỳ hiện đại trong văn học, cũng như trong nghệ thuật, tư tưởng, lịch sử nói chung, bắt nguồn từ những phát kiến mới về thế giới, từ trình độ phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và thương mại, từ sự hình thành nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và giai cấp tư sản ở các nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định Khi nói về các nền văn học hiện đại Phương Đông, có lúc người ta nhấn mạnh nguyên nhân tư sản hóa, Âu hóa Thật ra,

tư sản hóa, Âu hóa chỉ là những biểu hiện có tính chất cục hạn, còn ngọn nguồn sâu

xa, phổ biến của hiện đại hóa là công nghiệp hóa, quốc tế hóa, cách thức tư duy mới

và ý thức về giá trị cá nhân” [53] Nội hàm hiện đại theo Nguyễn Văn Hạnh gắn liền với phát kiến về thế giới (điều này có quan hệ với văn du ký), với chủ nghĩa tư bản, với công nghiệp hóa, quốc tế hóa, tư duy mới, ý thức về cá nhân Trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, theo Nguyễn Văn Hạnh, tính hiện đại của văn học

đi liền với tính dân tộc; hệ thống thể loại thơ, văn xuôi, kịch tương đồng thể loại Phương Tây; con người cá nhân vẫn gắn với ý thức cộng đồng

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử viết: “Tính hiện đại của xã hội như là trạng

thái chuyển biến về hình thái, từ xã hội trung đại sang hiện đại, từ tôn giáo sang thế tục, từ quân quyền sang dân chủ, tự do; từ cát cứ sang quốc gia dân tộc, từ dân tộc

biệt lập sang giao lưu quốc tế Tính hiện đại có tính chất toàn cầu hoá Tính hiện đại như một phạm trù văn hoá bao gồm các thuộc tính như sùng thượng lí tính, khoa

học, giải phóng cái tôi, đề cao tính chủ thể” Trong văn học, tính hiện đại được ông quan niệm: “Tính hiện đại của văn học nóí chung bao gồm sự đề cao tính thẩm mĩ, phân biệt với tính giáo huấn, tính cộng cụ; đề cao tính tự chủ phân biệt với tính phụ thuộc; giải phóng cá nhân với cái tôi chủ thể; đề cao nhận thức, sáng tạo, phân biệt

Trang 23

17

với việc sử dụng các hình thức có sẵn” [183] Tương tự như Vương Trí Nhàn, Trần Đình Sử cũng lưu ý cần phân biệt tính hiện đại với chủ nghĩa hiện đại vốn là một khái niệm khác

Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến xét riêng “chủ nghĩa cá nhân văn hóa” như một biểu hiện tiêu biểu của hiện đại hóa văn học Việt Nam [58] Ông viết “Có thể nói chủ nghĩa cá nhân “văn hoá” là ngọn nguồn của sự phong phú những phong cách cá nhân, những tìm tòi mỹ học và tư tưởng - nghệ thuật trong văn học, nghệ thuật thời kỳ này Chủ nghĩa cá nhân “văn hoá” là một bước tiến của ý thức văn hoá Việt Nam, là một trình độ mới mà văn hoá Việt Nam đạt được trên con đường hiện đại hoá, sau gần một thế kỷ cộng sinh với văn hoá Pháp”

Nhóm tác giả Đỗ Quang Hưng và Trần Viết Nghĩa quan niệm hiện đại hóa ở Phương Đông được hiểu theo nghĩa Tây phương hóa Nếu vậy thì cần nắm được những đặc điểm của văn minh Phương Tây Theo các tác giả, văn minh Phương Tây

có những đặc điểm lớn sau:

- Nền văn minh kỹ thuật, xã hội công nghiệp và nhà nước hiện đại

- Nền văn minh có căn tính Kito giáo

- Nền văn minh in đậm vai trò của cá thể [72, 50-58]

Trong phần viết ngắn ngủi về văn học Việt Nam trong môi trường hiện đại hóa, các tác giả tóm tắt một số nét chính yếu như: hệ thống thể loại mới, sự phát triển của cái tôi, cảm hứng lãng mạn có vai trò quan trọng… [72, 310-325]

Các ý kiến về tính hiện đại và tính hiện đại của văn học Việt Nam khá phong phú mà trên đây chúng tôi mới trích dẫn được một số ý kiến Song tựu chung, các ý kiến này có những triển khai sâu rộng hơn, song đều thống nhất với quan điểm mà

Hoài Thanh, Đinh Gia Trinh đã nêu lên từ trước năm 1945 Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam lưu ý nét hiện đại nổi bật của thơ Mới chính là con người cá nhân, cái tôi cá nhân Đinh Gia Trinh với bài viết Tính cách văn chương Việt Nam trước thời kỳ Âu hóa đã gián tiếp đề cập đến điểm mới cơ bản của văn học hiện đại chính

là tinh thần tả chân Và cả hai ông, những người hít thở không khí hiện đại, đều nhấn mạnh hiện đại hóa văn học Việt Nam chính là Âu hóa2

2 Điều này đã được Phạm Thị Hồng trình bày trong luận án tiến sĩ Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam

dưới cái nhìn so sánh của các nhà phê bình nửa đầu thế kỷ XX, Học viện Khoa học Xã hội, 2013

Trang 24

18

- Cách hiểu của giới nghiên cứu Phương Tây:

Chúng tôi xin điểm qua một vài tài liệu tiếng Anh bàn về khái niệm hiện đại

Mục từ modernity (tính hiện đại) trong Từ điển các lý thuyết văn hóa và phê bình có đoạn viết “Là một khái niệm xã hội học, tính hiện đại chủ yếu liên hệ với

công nghiệp hóa, thế tục hóa, bộ máy công chức và ĐÔ THỊ” [255, 456] Các nhà

xã hội học có cách hiểu khác nhau về tính hiện đại Durkheim nhấn mạnh chìa khóa của cuộc sống hiện đại là phân công lao động ngày một sâu sắc Tonnies hiểu hiện đại hóa là đi từ các mối quan hệ tương tác cộng đồng chuyển sang xã hội đề cao cá nhân Max Weber khái quát đó là sự duy lý hóa

Theo Bách khoa thư Blackwell về triết học Phương Tây, mục từ modernity

(tính hiện đại) viết: “Nói chung, tính hiện đại liên hệ với tính tối thượng của cái duy

lý thuần túy và quyền tự trị của cái tôi hiện đại Được vũ trang bởi cái duy lý, con người hiện đại tìm kiếm sự đồng thuận trên khuôn khổ siêu hình thống nhất trong cách nhìn thế giới Họ tìm kiếm sự tự trị chủ quan của mình và coi thường sự câu thúc của lịch sử, truyền thống và văn hóa Họ có thái độ hung hăng trong việc tổ chức và kiểm soát môi trường tự nhiên, với khoa học là môn học hàng đầu của mình Các đối tượng thẩm mỹ được đo đạc bằng thước đo của lợi ích kinh tế Tính hiện đại mang lại hiệu quả cho chủ nghĩa tư bản công nghiệp” [279, 439]

Nhìn chung, trong sự đa dạng của các cách hiểu khái niệm hiện đại cả trong nước và trên thế giới, có thể tóm lại mấy nội dung nổi bật của “hiện đại”:

- Hiện đại gắn với tư duy duy lý, với thế tục hóa Từ đó mới có sự phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghiệp hóa

- Hiện đại gắn với con người cá nhân, từ đây mới có chủ nghĩa tư bản, có sự phong phú của cá tính sáng tạo, có chủ nghĩa lãng mạn và ý thức nữ quyền

Văn học Phương Tây, có ảnh hưởng đến các nước Phương Đông trong đó có Việt Nam, là sản phẩm của tính hiện đại, có lịch sử từ thời Phục hưng và tiếp tục vận động đến thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Từ hai nội dung nổi bật trên, chúng ta sẽ triển khai tìm hiểu văn du ký trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Trang 25

19

Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi sẽ kết hợp cả cách hiểu hiện đại theo nghĩa hàn lâm viện như trên, đồng thời sẽ phân tích thực tế văn du ký, so sánh với văn du ký chữ Hán trung đại để xác lập những chỗ văn du ký nửa đầu thế kỷ XX tiếp tục truyền thống văn du ký trung đại, những điểm mới không có trong văn du

ký trung đại và những điểm chịu ảnh hưởng của văn học Phương Tây

1.2 Điểm qua lịch sử của văn du ký

Lịch sử văn du ký là một vấn đề phức tạp đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu riêng mà hiện nay ở Việt Nam vẫn còn thiếu vắng Chúng tôi xin dựa vào một số quan sát của bản thân và một số từ điển phổ thông để điểm qua, cốt đem lại cho bản thân một ý niệm tương đối về một đối tượng có lịch sử vận động, thay đổi

1.2.1 Văn du ký ở Việt Nam trung đại

Các văn nhân trí thức Trung Quốc cổ đại đã rất chú trọng việc đi xa Tư Mã

Thiên là nhà du lịch lớn thời cổ đại Bộ Sử ký đồ sộ của ông được viết trên cơ sở

tham bác các tài liệu lịch sử đồng thời là kết quả quan sát thực địa của những chuyến đi trên một địa bàn rộng lớn của Trung Quốc thời cổ

Thời trung đại ở Việt Nam, văn du ký phổ biến nhất thường của các tác giả

là nhà nho Họ đi sứ Trung Quốc hoặc thực hiện các cuộc thuyên chuyển hay du lãm trong nước những lúc nhàn rỗi và khi về ngồi hồi tưởng lại, ghi những cảm tưởng, suy nghĩ, những quan sát thu nhận được trên đường du lữ, để lại các áng văn thơ du ký

Số lượng sáng tác văn du ký còn giữ được không nhiều, chủ yếu tập trung trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX Xét mục đích chuyến đi, địa điểm di chuyển đến, và hình thức chữ viết, có thể tạm thời chia văn du ký trung đại thành ba loại: loại văn du ký của các sứ thần Việt Nam đi Trung Quốc và đến giữa thế kỷ XIX có văn du ký của sứ thần nhà Nguyễn sang Đông Nam Á và Pháp; văn du ký của các nhà nho đi lại giữa các vùng trong nước; một loại thứ ba là văn

du ký viết bằng chữ cái latinh mà ngày nay ta gọi là chữ quốc ngữ của Philiphê Bỉnh và Trương Vĩnh Ký, tuy xuất hiện ở thời trung đại nhưng có những nét của du

ký hiện đại Thơ sáng tác trong các chuyến đi sứ và du lãm trong nước của nhà nho rất nhiều nhưng chúng tôi chỉ liên hệ khi thấy cần thiết

Trang 26

này mới thực sự nở rộ Đó là bài ký động Nhị Thanh của Ngô Thì Sĩ Đó là chuyến

đi dài ngày đến hơn nửa năm của danh y Lê Hữu Trác từ Hà Tĩnh ra Thăng Long chữa bệnh cho Trịnh Cán với những cuộc du ngoạn trong lúc rảnh rỗi được chép lại

trong Thượng kinh ký sự Chuyến đi về quê Văn Giang, chuyến du ngoạn quanh Hồ

Tây mất đến ba ngày và những cuộc đàm đạo thơ ca với bạn thơ tại Thăng Long Hoặc là một chuyến du ngoạn từ Thăng Long lên núi Sài Sơn vãng cảnh chùa Phật

Tích trong phạm vi ba ngày của Phạm Đình Hổ và bè bạn còn ghi lại trong Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút với rất nhiều cảm xúc khác nhau Ngoài ra, thế

kỷ XVIII-XIX còn để lại nhiều bài ký đi thăm chùa chiền, danh lam thắng cảnh khác trong lãnh thổ Việt Nam Tinh thần chung của du ký thời trung đại là ghi chép

về phong cảnh và các di tích văn hóa lịch sử Nhà nho vốn có tinh thần hoài cổ và cảm hứng ẩn dật nên viết nhiều về các di tích cổ và không gian xa vắng, tĩnh mịch -Văn du ký của sứ thần Việt Nam: Việc đi xa, đi ra ngoài phạm vi đất nước ở thời xưa là một dạng hoạt động để lại dấu ấn đậm nét trong văn thơ nhà nho Việt Quan

hệ bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc thời trung đại qui định sự ra đời một loại nhân vật văn hóa đặc biệt gọi là sứ thần Các chuyến đi của họ thường gọi là đi

Bắc sứ Các áng văn du ký tiêu biểu thuộc loại này có Bắc sứ thông lục của Lê Quí Đôn (1726-1784), Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh Trong bài tựa cho Bắc sứ thông lục cho biết thơ viết đi sứ của sứ thần Việt Nam trong lịch sử thì rất nhiều, song văn xuôi thì mãi đến Lê Hữu Kiều mới viết Sứ Bắc kỷ sự (chuyến đi sứ năm 1737) [theo 88,1]-tập này hiện không còn Và tập Bắc sứ thông lục là tập văn du ký thứ hai của

sứ thần Việt Nam, viết bằng văn xuôi chữ Hán trong chuyến đi sứ năm 1760-1761

Lê Quí Đôn ghi chép tỉ mỉ, chi tiết trước hết các nội dung liên quan đến chuyến đi

Trang 27

21

sứ, từ thành phần sứ đoàn, các cống vật, lễ vật; hành trình qua các ngày tháng, các địa điểm được ghi theo hình thức nhật ký, dừng lại làm lễ tế thần sông núi ở đâu, khi nào; ghi chép nội dung đối đáp với các quan lại Trung Quốc các cấp (thường qua hình thức bút đàm) v.v…Có thể nói tập thông lục này có nhiều điểm ta sẽ gặp

lại trong Như Tây nhật trình của Phạm Phú Thứ ở cuối thế kỷ XIX vì chức năng

chính của các nhật trình là ghi chép về nội dung hoạt động của sứ thần chứ không phải một khách du lịch Tuy vậy, bên cạnh việc ghi chép chi tiết các nội dung hoạt động trực tiếp liên quan đến công việc của sứ thần, họ cũng có ghi lại các điều quan sát, các cảm xúc, suy nghĩ của một khách đi đường

Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh (1750-1805) nói cho đúng ra, rất ít điểm gần

gũi với văn du ký Tập ký này chủ yếu ghi lại những sự việc, những thảm cảnh khi ông theo Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc do bị quân Tây Sơn đánh đuổi Tâm trạng của người bề tôi tòng vong không cho phép ông quan sát khác biệt văn hóa hay có hứng thú ngâm vịnh Tuy nhiên, các ghi chép của bọn bầy tôi tòng vong

ở Trung Quốc có một giá trị tư liệu quí báu đối với việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam

Đến giữa thế kỷ XIX, nhà Nguyễn phái một số nhà nho sang vùng Đông Nam Á với mục đích mua hàng hóa, tìm hiểu tình hình người Tây dương (Phương Tây) v.v.v Trong số các văn du ký viết từ các chuyến đi đó, có thể kể một số ghi

chép tiêu biểu như Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý Văn Phức (1785-1849), Hải trình chí lược của Phan Huy Chú (1782-1840) Các tập ký này ghi chép những

điều các vị quan sát được từ các xứ thuộc địa như Singapore, Penang, Java, nhận xét về người Phương Tây, ví dụ nhận xét về Hồng mao tức người Anh, người Hà Lan có mặt ở Đông Nam Á Nội dung ghi chép trong các tập ký đó cấp cho độc giả hiện đại những thông tin quí báu về lịch sử xâm nhập Phương Đông của các thế lực thực dân Phương Tây cũng như cách thức mà người Việt Nam ở giữa thế

kỷ XIX tiếp nhận sự khác lạ của một nền văn hóa khác, của những con người khác đến từ Phương Tây đó

Cuối thế kỷ XIX, do Việt Nam đã dần trở thành thuộc địa của Pháp, quan hệ Việt Nam - Pháp đòi hỏi cử sứ thần sang Pháp nên nhà Nguyễn đã cho một số đoàn

Trang 28

22

đi sứ Tác phẩm sứ trình tiêu biểu cho kiểu đi xa này chính là Tây hành nhật ký do

Phạm Phú Thứ viết [214] Viết theo hình thức nhật ký, kể tuần tự các công việc, các

sự vụ, các chuyến thăm thú, gặp gỡ ở Pháp, đây là một tài liệu có giá trị nhiều mặt Tuy nhiên, trong tư cách một sứ thần, Phạm Phú Thứ thường rất kiệm lời, rất ít khi bộc lộ suy nghĩ, đánh giá của bản thân về con người và văn hóa Pháp Thành thử nếu cứ máy móc áp theo định nghĩa văn du ký là ghi lại những sự khác lạ thì tập ký này ít màu sắc du ký

- Trong khuôn khổ thời gian của thời trung đại, có hai tập ký có thể nói là rất

khác với văn du ký trung đại của nhà nho Đó là Sách sổ sang chép các việc [16] của Philiphê Bỉnh (hoàn thành năm 1822) và Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất hợi (hoàn

thành năm 1876) của Trương Vĩnh Ký (1837-1898) [84] Đây là hai tập văn du ký viết bằng tiếng Việt-chữ quốc ngữ Tập của Philiphê Bỉnh ghi chép và có những nhận xét, quan sát, so sánh văn hóa Việt Nam và văn hóa Phương Tây (cụ thể là Bồ Đào Nha) rất tinh tế, ghi nhận cuộc tiếp xúc văn hóa thuộc loại đầu tiên giữa Phương Đông và Phương Tây trong con mắt một người Việt Tập ký của Trương Vĩnh Ký có nhiều quan sát cụ thể, tỉ mỉ về phong tục, lối sống, về đời sống văn hóa, nghệ thuật của miền Bắc Việt Nam Do viết bằng chữ quốc ngữ và bản thân tác giả

là những người am hiểu văn hóa, văn học Phương Tây nên văn du ký của họ có khá nhiều nét hiện đại, rất khác với văn du ký của các nhà nho

1.2.2 Văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Bước sang nửa đầu thế kỷ XX, văn du ký tiếng Việt phong phú và đa dạng cả

về số lượng và chất lượng, có nhiều giá trị văn học, sử học, văn hóa học

So với thời kỳ trung đại, ở đầu thế kỷ XX, số người Việt Nam đi xa, kể cả đi

ra nước ngoài nhiều hơn hẳn Sự xuất hiện của báo chí, xuất bản hiện đại đã tạo điều kiện thuận lợi hơn bao giờ hết cho việc công bố và đọc văn du ký Trên hầu hết các báo, tạp chí xuất bản ở đầu thế kỷ XX ít nhiều đều có đăng văn du ký và giá cả phải chăng của báo chí đã giúp cho người đọc tiếp cận được các áng văn du ký hiện đại này Đến lượt mình, văn du ký trong buổi đầu đã đóng vai trò đắc lực tạo nên sự hấp dẫn của báo chí, giúp báo chí tồn tại trong khi sáng tác hư cấu bằng tiếng Việt còn chập chững

Trang 29

23

Hầu hết các báo, tạp chí giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đều có đăng văn du ký

Các báo địa phương như Nam Kỳ tuần báo, Thanh Nghệ Tĩnh tân văn, Thần chung… các báo có vận mệnh khá ngắn ngủi như An Nam tạp chí, các báo chuyên

về văn học như Phong hóa ở các mức độ khác nhau đều đăng văn du ký Có ba tờ tạp chí và báo công bố nhiều du ký, đó là tạp chí Nam phong, báo Phụ nữ tân văn, tạp chí Tri tân Chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu chủ yếu mảng văn du ký trên ba

tờ báo, tạp chí này vì chúng tiêu biểu cho nhiều mặt: vùng miền, cho các giai đoạn khác nhau và vì khuynh hướng của tờ báo, tạp chí

năm 1934 Đây là một tờ tạp chí có nội dung tổng hợp trong đó phần văn học được

dành một địa vị quan trọng, bao gồm cả văn du ký Nam phong thường cho in

những bài văn du ký trung đại bằng Hán văn đã dịch ra tiếng Việt và các bài du ký văn quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX Về độ lớn của dung lượng, có thể khẳng định du

ký Nam phong chiếm vị trí dẫn đầu, cá biệt Pháp du hành trình nhật ký của Phạm

Quỳnh có dung lượng dài hơn ba trăm trang, bao trùm một khoảng thời gian và không gian khá dài rộng trong chuyến đi Pháp 6 tháng của tác giả năm 1922, rất tiêu biểu cho văn du ký nửa đầu thế kỷ XX về nhiều mặt

Phụ nữ tân văn hoạt động từ năm 1929 đến năm 1935 ở Sài Gòn, là một tờ

báo tư nhân, có xu hướng nữ quyền, cũng thường in văn du ký nhưng dung lượng không thực lớn Có điều tờ báo này ưu tiên cho một số thiên du ký của phụ nữ như

du ký của Phạm Vân Anh4 (đi sang Pháp) hay du ký của cô Nguyễn Thị Kiêm đi từ Sài Gòn ra Hà Nội để diễn thuyết về chủ đề nam nữ bình đẳng Tờ báo cũng là một trường hợp khá tiêu biểu của báo chí Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XX Tiếc là tại Thư viện Quốc gia chỉ còn lưu lại không đầy đủ các số báo nên chúng tôi chỉ đọc được không quá 5 bài du ký và một vài bài bàn về phụ nữ với du ký

Tạp chí Tri tân tồn tại từ 1941 đến 1945, thuộc về giai đoạn cuối của nửa đầu

thế kỷ XX Đây là tờ tạp chí thiên về khảo cứu, tuy có dành một số trang cho mảng nghiên cứu, phê bình các hiện tượng văn hóa văn học đương đại, song chủ yếu ưu

3 Nam phong tạp chí là tên gọi chính thức Nhưng một số nhà nghiên cứu vẫn gọi đây là “báo” (xem Từ điển

Văn học –bộ mới, mục từ Phạm Quỳnh (230, 1366) Thiết nghĩ cần gọi tên đúng của sự vật

4

Thực ra, Phạm Vân Anh không phải là tác giả nữ mà chỉ là bút danh của Đào Trinh Nhất

Trang 30

24

tiên đăng những áng văn du ký có tính chất nghiên cứu, khảo sát Thống kê sơ bộ

cho thấy có 23 thiên văn du ký công bố trên Tri tân từ 1941 đến 1945, có thiên du

ký kéo dài nhiều kỳ như Indrapura của Mãn Khánh Dương Kỵ (4 kỳ) hay Bốn năm trên đảo Các Bà (5 kỳ) của Vân Đài, Hai tháng ở gò Óc Eo của Biệt Lam Trần Huy

Bá (6 kỳ)

Số lượng tác phẩm văn du ký trên Nam phong đã đủ để nhà nghiên cứu

Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm thành một bộ gồm 3 tập dày dặn [31, 32, 33] trong đó sưu tầm tuyển chọn được 52 tác phẩm du ký nửa đầu thế kỷ XX chưa kể du ký trung đại Bộ tài liệu quí này giúp người đọc hiện đại dễ dàng tiếp cận di sản văn học vẫn ít được biết

Chúng ta đều biết, trong thập niên gần đây, thể loại văn du ký như đang có

sự phục hưng sau một thời gian dài trầm lắng Các thiên du ký đương đại có thể đã

in thành sách mà có thể chỉ mới công bố trên blog cá nhân (như du ký của Vương Trí Nhàn viết gần đây nhân khi ông đi du lịch Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan -xem thư mục các số từ 134 đến 136) Nội dung của các thiên du ký này chủ yếu vẫn theo tinh thần đi du lịch, nhìn người rồi quay lại nhìn ta, một nhu cầu đổi mới văn hóa xã hội đã bắt đầu từ văn du ký nửa đầu thế kỷ XX Theo nhận định của

Lê Thiếu Nhơn, văn học Việt Nam năm 2013 chứng kiến sự lên ngôi của du ký và tạp văn Anh nói: “Chúng ta thấy trào lưu sách viết về du ký đang trở lại với những tác phẩm của Phan Việt, Di Li, Dương Thụy, Phương Mai Thực ra, thể loại du ký không phải mới xuất hiện Từ những thập niên 40 của thế kỷ trước5, học giả Phạm Quỳnh đã viết du ký Tuy nhiên hiện nay, người Việt đang muốn một cái nhìn mới

mẻ để bước ra thế giới nên rất cần thông tin và sự trải nghiệm” Và cho biết “Rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giới đã dự đoán thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của văn học tự sự không dùng trí tưởng tượng, không hư cấu Du ký là một trong những thể loại đó Du ký là thể loại được viết từ trải nghiệm, suy ngẫm của người viết về

cảnh vật, sự việc, thế thái nhân tình” (Năm 2013, du ký và tạp văn lên ngôi, báo Đà

Nẵng điện tử, ngày 13-1-2014, http://www.baodanang.vn/channel/5433/201401/ nam-2013-du-ky-va-tap-van-len-ngoi-2300749/) Nhận xét này phản ánh đúng thực

tế văn học Việt Nam mấy năm gần đây, cho thấy sức sống tiềm tàng của văn du ký

5

Chỗ này không chính xác

Trang 31

25

Phân loại theo đề tài, Nguyễn Hữu Lễ chia văn du ký nửa đầu thế kỷ XX thành các loại sau: 1) đề tài lịch sử, 2) đề tài danh lam thắng cảnh, 3) đề tài quốc tế, 4) đề tài dân tộc thiểu số Còn phân loại theo cảm hứng, tác giả này chi thành mấy loại: 1) cảm hứng viễn du, 2) cảm hứng văn hóa và lịch sử, 3) cảm hứng tâm linh, 4) cảm hứng trữ tình, 5) cảm hứng thế sự [103]

Tuy nhiên, trên thực tế, nội dung của văn du ký rất phong phú, khó có thể dùng 4 nhóm đề tài như trên mà bao quát hết được (ví dụ cô Nguyễn thị Kiêm đi xuyên Việt ra Hà Nội và Hải Phòng để diễn thuyết về nữ quyền không thuộc loại

nào), hoặc một thiên du ký lại có thể xếp vào hai ba loại khác nhau (Ví dụ Pháp du hành trình nhật ký có thể xếp cả vào đề tài quốc tế, cả vào đề tài viễn du) Một tác

phẩm văn du ký có thể có rất nhiều cảm hứng khác nhau và có những cảm hứng mà

bảng phân loại nói trên không bao quát được Bốn năm trên đảo Các Bà của Vân

Đài có nhiều cảm hứng khác nhau: nhận diện bản chất Khách trú (người Hoa) chiếm đoạt tài nguyên biển của dân ta, lãng mạn hóa cuộc sống của dân cư trên đảo biệt lập với đất liền, thể nghiệm tâm trạng phiêu lưu, đối diện với nguy hiểm Vì thế, trong khi chờ đợi xác định được đầy đủ kho văn học du ký giai đoạn nửa đầu thế kỷ

XX, chúng tôi tạm thời chưa phân loại

Điểm cần chú ý là góc nhìn giới trong khi nghiên cứu văn du ký hiện đại vẫn chưa được chú ý Những vấn đề phụ nữ đã được văn du ký phản ánh ra sao, người phụ nữ đã tham gia viết văn du ký như thế nào Đây sẽ là một hướng nghiên cứu của luận án

1.2.3 Du ký thế giới

Theo Từ điển mở Wikipedia (tiếng Anh), văn bản văn du ký sớm nhất hiện

nay biết được là Miêu tả nước Hy Lạp của Pausania (thế kỷ II) Vào thời trung đại,

văn du ký đã là thể loại phổ biến trong văn học Arap, tiêu biểu là các nhật ký hành trình của Ibn Jubayr (1145-1214) và Ibn Batuta (1304-1377) Đời Tống ở Trung Quốc cũng đã biết đến du ký Thể loại này được người Trung Quốc gọi là “văn học

du ký”, thường được viết bằng các phương thức tự sự, nhật ký, khảo cứu Một vài tác giả tiêu biểu của văn du ký trung đại ở Trung Quốc như Phạm Thành Đại (1126-1193)

với Quế Hải ngu hành chí, Từ Hà Khách (1587-1641) với Từ Hà Khách du ký

Trang 32

26

Cũng theo từ điển mở Wikipedia, một trong những áng văn du ký vào loại sớm nhất ghi chép sự vui thích khi đi du lịch là của Petrarsh (1304-1374) chép về cuộc leo núi Ventoux của ông năm 1336 Việc leo núi để tìm hứng thú đứng trên đỉnh cao nhìn ra các ngọn núi thấp hơn còn hàm nghĩa tượng trưng cho quá trình hoàn thiện về đạo đức trong cuộc sống Giữa thế kỷ XV, Gilles le Bouvier đã giải

thích lý do ông viết tập văn du ký Livre de la description des pays (Sách kể chuyện

các nước): “Vì nhiều người từ các dân tộc, các nước khác nhau có sự vui thích, khoan khoái, như tôi đã từng có, khi nhìn ngắm thế giới và sự vật trong thế giới và cũng vì nhiều người muốn biết mà không cần đi đến tận nơi, còn một số người lại muốn xem, đi, du hành nên tôi đã bắt tay viết cuốn sách nhỏ này”

Đến thế kỷ XVIII, ở châu Âu, văn học du hành đã định hình với những cuốn sách du hành mà nội dung chính của chúng là các nhật ký hàng hải Người châu Âu đang vươn xa ra ngoài các đại dương, bắt đầu lịch sử thực dân của họ thì tất nhiên, nhu cầu giới thiệu các xứ sở xa xôi, các miền đất, các nền văn hóa Phương Đông trở nên một nhu cầu lớn Nhật ký của thuyền trưởng James Cook (1784) cho đến nay vẫn là một tác phẩm bestseller Hầu hết các nhà văn Anh trong thế kỷ này đều có tham gia viết văn học du hành

Sang thế kỷ XIX, văn học du lịch (tourism literature) thực sự-phân biệt với travel literature- mới bắt đầu Những nhà quí tộc, giới tu sĩ, những người có tiền của bắt đầu đi du lịch châu Âu tìm hiểu nghệ thuật, kiến trúc cổ Robert Louis Stevenson

(1850-1894) là người đi tiên phong trong văn học du lịch với tác phẩm Những chuyến

đi bằng lừa ở xứ Cevennes (Pháp), lần đầu tiên kể về thú đi du lịch cắm trại, dùng túi

ngủ… Văn học du lịch có nội dung thám hiểm cũng bắt đầu phổ biến

So với người Việt Nam và Phương Đông nói chung thì người châu Âu và Mỹ trong các thế kỷ XVIII, XIX, XX đi ra nước ngoài nhiều hơn Các áng văn du ký của họ kể về các chuyến đi du lịch, thám hiểm, nghiên cứu nhiều nước trên thế giới không dừng lại ở những bài viết ngắn như văn du ký ở ta nửa đầu thế kỷ XX mà

thường xuất bản thành sách (travel book) Theo Wikipedia, Samuel Johnson có Một cuộc hành trình đến các đảo vùng Tây Scotland (1775), Mary Wollstonecraft có Thư từ viết trong một chuyến di trú ngắn hạn ở NaUy, Thụy Điển, Đan Mạch (1796),

Trang 33

James Boswell viết Nhật ký một chuyến đi đến Hebrides

Trong văn học Phương Tây có thể loại du ký hư cấu, dựa trên những chuyến

đi có thực như tiểu thuyết của Kira Salak có Cô Mary người da trắng kể chuyện diễn ra ở Papua New Guine và Congo hay Trên đường của Jack Kerouac (1957)

Đây đều là kiểu tiểu thuyết được xây dựng trên cơ sở những chuyến đi có thực Trong văn học Việt Nam, dạng tiểu thuyết du ký hư cấu như vậy hầu như vắng bóng

Ở Phương Tây để khuyến khích sự phát triển của văn học du ký, người ta đặt những giải thưởng: Giải thưởng của Anh cho văn du ký mang tên Thomas Cook

(Thomas Cook Travel Book Award) hoạt động từ 1980 đến 2004 và Giải thưởng cho những tác phẩm văn du ký xuất sắc nhất của Anh do William Dolman tài trợ (Dolman Best Travel Book Award) bắt đầu từ 2006 Năm 2013 và 2014 mỗi năm có

6 tác phẩm du ký được trao giải thưởng Điều này cũng nói lên tầm quan trọng của văn du ký trong văn học Phương Tây so với ở nước ta

1.3 Nghiên cứu, phê bình văn du ký trong nước và thế giới

1.3.1 Nghiên cứu văn du ký ở Việt Nam trước năm 1945

Như đã nói trong các mục trên, trước cách mạng tháng Tám, đã có rải rác một số bài viết nhỏ có nội dung ít nhiều liên quan đến phê bình văn du ký Chẳng

hạn trên Phụ nữ tân văn, đoạn văn giới thiệu du ký của Phạm Vân Anh (năm 1929),

hay bài viết của Phan Khôi (năm 1932) về sự thiếu chân thực của những điều tưởng

như là tai nghe mắt thấy của một số áng văn du ký đương thời Trên Tri tân (năm

1942), Trần Huy Bá đã bộc bạch rằng năm 1941 ông viết văn du ký kể về hồ Ba Bể nhưng chưa hề đến đó, mặc dù người đọc có cảm tưởng đây là điều tác giả mắt thấy tai nghe Mấy bài viết tản mạn đó đều tập trung nói nhiều về tính chân thực của văn

du ký, một vấn đề mà hiện nay giới nghiên cứu vẫn rất quan tâm

Trang 34

28

Cũng liên quan ít nhiều đến văn du ký, Phan Khôi đã bàn về vai trò của thể văn nhật ký trong văn học hiện đại Ông viết: “Có người luận về văn nhựt ký đã nói như vầy: Nội các thể văn chỉ có nhựt ký là thiệt thà hơn hết, chắc chắn hơn hết; cái thú vị của nó ở trong chỗ đó mà ra Xem các thể văn khác chưa chắc biết đúng tánh tình của tác giả, chớ xem nhựt ký của ai thì biết đúng tánh tình của nấy Bởi vì làm thi, làm tiểu thuyết, làm kịch bổn là để cho người thứ ba đọc, cho nên phải dồi mài

gò gẫm hết sức, e khi dồi mài gò gẫm quá rồi đến nỗi sai với chơn tình của người làm Còn xích độc (thơ tín) là để cho người thứ hai coi, sự dồi mài gò gẫm có bớt đi, nhưng cũng chưa dứt hẳn Đến chép nhựt ký là để cho chính mình coi, mình có trong bụng làm sao, ắt phải viết ra mà nói với mình làm vậy, không cần dồi mài gò gẫm làm chi, tự nhiên phải giữ được cái tánh tình thật mà khỏi mất Hễ cái gì đã là chơn thật thì phải có thú vị” [77]

Ta biết thể văn nhật ký được dùng rất phổ biến trong văn du ký, tuy nhật ký không phải là du ký nhưng du ký thường là nhật ký, nên nói về nhật ký là gợi ý suy nghĩ về du ký như một thể loại văn xuôi riêng của văn học hiện đại Trên thực tế, hầu hết các tác phẩm du ký nửa đầu thế kỷ XX được viết dưới dạng nhật ký Bàn về nhật ký cũng là gián tiếp bàn đến tính chân thực của tự sự và vấn đề bộc lộ chủ thể trong văn du ký

Việc đi du lịch còn có những lợi ích to lớn mở mang tầm hiểu biết Viên

Hồng (Phụ nữ tân văn -1931), nhân nói về văn hóa Mã Lai, viết như sau: “Phong

dao ta có câu: “Đi một bước đàng, học một sàng khôn”, cái câu ấy tuy nó cũ mèm,

tự đời xưa truyền lại, nhưng nó rất ứng dụng với thời đại bây giờ Ở chung quanh

xứ ta, hay ở khắp thế giới, hãy còn biết bao nhiều là phong cảnh nhơn vật xinh đẹp

lạ lùng, đáng cho ta thấy biết để mở tầm con mắt và bồi bổ óc khôn cho ta rộng lớn mãi ra? Có biết người biết ta rồi mới có thể so sánh mà biết ai hay ai dở, hễ có so sánh biết ai hay ai dở rồi thì mới có cạnh tranh mà tiến bộ được Ở các nước văn minh giàu có chẳng những người lớn rất ham du du lịch xứ người, dẫu tốn hao nguy hiểm thế nào cũng chẳng quản, mà họ lại còn khuyến khích nong nả cho bạn thiếu

niên đi du lịch nữa” [Phụ nữ tân văn s 114, ngày 24 -12-1931] Bài viết nói đến

nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới rộng lớn xung quanh đất nước ta, đặc biệt là

Trang 35

29

cần thiết phải đi để có được cái nhìn so sánh giữa ta và người thì mới có tinh thần cạnh tranh cho tiến bộ Du lịch gắn với tinh thần phát triển nên cần khuyến khích thanh niên đi du lịch Đây là quan điểm tiến bộ về du lịch

Trên Tri tân năm 1941, nhận xét về tùy bút lãng du của Nguyễn Tuân, Vũ

Văn Lợi viết: “Chính ông Nguyễn Tuân nhận rằng “bệnh du lịch” đã truyền vào người ông không phải ở phía mẹ mà ở phía cha” Nhưng không phải ai đi du lịch cũng được đâu: dư thì giờ chưa đủ, phải thèm đi nữa! Biết bao kẻ thật là giàu có, mà suốt đời có biết đó biết, đây là cái gì đâu Trái lại, nhiều người còn thèm đi hơn ông Nguyễn Tuân nữa kia mà rút cục phải chôn chân một chỗ, sống trong một cuộc đời mòn chờ đợi một cái gì mới mẻ, mà than ôi không bao giờ thấy đến! Nguyên nhân? chỉ vì trong tay không sẵn đồng tiền Thế mà ngày xưa đã có người dám nói rằng tiền bạc không tạo nên được hạnh phúc Có người đi xa vì sinh kế bắt buộc, có kẻ

đi xa du học, để cầu chút công danh; cũng có khi đi xa để mưu cuộc hòa bình cho thế giới Nhưng “đi” đối với tác giả “là hình thức tốt đẹp nhất của thoát ly Thoát ly khỏi cái tủn mủn của cuộc sống hàng ngày; khỏi phiền phức của sự an bài, để trốn cái trơ trẽn của người cũ” [105] Bài viết chú ý đến các động cơ khác nhau của việc

đi xa, nhấn mạnh khía cạnh lãng mạn, chủ nghĩa cá nhân của việc đi du lịch, gợi ý cho chúng ta ngày nay suy nghĩ về sự thay đổi trong cái nhìn về sự đi xa của con người ở nửa đầu thế kỷ XX, khi mà sự ràng buộc của gia đình truyền thống đang dần bị nới lỏng

Về một trong những ngọn nguồn ảnh hưởng đến văn du ký ở nước ta, trên Nam phong năm 1934, Mộng Tuyết cho rằng đó là nhờ có các tác phẩm phiêu lưu

Tê lê mặc phiêu lưu ký và tác phẩm của Alain Gerbault [237] Chúng ta biết rằng Tê

lê mặc phiêu lưu ký được đưa vào Việt Nam qua các bản dịch khác nhau, đầu tiên là bản dịch thơ lục bát của Trương Minh Ký in trên Gia Định báo năm 1885, đến 1887

thì in thành sách Bản dịch bằng văn xuôi do Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện sau này được in vào năm 1927 Còn Alain Gerbault (1893-1941) là nhà thám hiểm, một mình điều khiển thuyền buồm đi vòng quanh thế giới và lên một số hòn đảo, tìm

hiểu và viết về lối sống của cư dân trên các hòn đảo đó Mộng Tuyết nhắc đến điều

này khi đi ra đảo Phú Quốc có hàm ý đây là một cuộc đi có sắc thái thám hiểm ra

Trang 36

30

đảo Từ cái nhìn của một người đương thời, người trong cuộc, chúng ta biết rằng trong những nhân tố khác nhau, có việc xuất hiện văn học phiêu lưu, óc ham thám hiểm khám phá của Phương Tây, đã ảnh hưởng đến văn học Việt Nam hiện đại, trong đó có du ký Tinh thần phiêu lưu, mạo hiểm và con người cá nhân trong tiểu

thuyết Robinson Crusoe dường như phảng phất trong “nhà mạo hiểm như ông An

Tiêm” của “phiêu lưu tiểu thuyết” 6 Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật (được

giải thưởng Hội Khai trí Tiến đức năm 1925) rồi được đăng nhiều kỳ trên Nam phong năm 1926

Một số bài viết có quan hệ với đề tài văn du ký nửa đầu thế kỷ XX đã gián tiếp hoặc trực tiếp đề cập đến mảng văn du ký của tác giả nữ và vấn đề phụ nữ du

lịch Trong bài Lịch trình tiến hóa của văn học phụ nữ ta in trên Tri tân (1943), Hoa Bằng điểm các tác giả nữ Tương Phố Đỗ Thị Đàm với Giọt lệ thu (1928), tiếp theo

là Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa trên Tiếng Dân, Vân Anh trên Phụ nữ tân văn, cho thấy nhà phê bình đã có chú ý đến mảng văn du ký của họ [15] Trước

đó cả chục năm, Phụ nữ tân văn (số 264 năm 1934), có bài Con gái đi xa, bộc lộ

quan điểm mới về phụ nữ và du lịch Bài viết cho hay, mục đích của cô Nguyễn Thị

Kiêm đi từ Sài gòn ra Hà Nội nhằm cổ động cho Phụ nữ tân văn và diễn thuyết ở

Hội Khai trí Tiến đức Điểm lại dư luận ồn ào chê cô Kiêm là con gái đi xa không biết có giữ được phẩm giá không, tác giả viết: “Nhiều ông trong báo giới không bỏ qua dịp nào là không binh vực cho đạo đức và luân lý Thấy cô Nguyễn Thị Kiêm là một thiếu nữ phải đi xa, tuy rằng cùng đi với cha, các ông lo sợ không biết cô ấy có kiên tâm mà giữ nổi phẩm giá của mình hay không? Thậm chí có mấy người đến báo quán phàn nàn rằng: “Con gái sao lại đi xa như vậy, tôi không phục” Theo ý tôi, bao nhiêu dư luận về việc cô Nguyễn Thị Kiêm ra Bắc đủ chứng rằng: nền luân lý, gốc đạo đức của nước nhà vẫn còn có người binh vực rất sốt sắng! Nhưng có lẽ các ổng sốt sắng thái quá Đối với một người phụ nữ đứng ở chỗ công chúng mà bày tỏ

ý kiến của mình, tôi tưởng các nhà ngôn luận đều có quyền phê bình vì những ý kiến ấy sẽ có ảnh hưởng trong dân gian Thế mà lạ, ít có ai xét coi tư tưởng của cô

6 Mấy từ để trong dấu ngoặc kép là từ dùng của tác giả Nguyễn Trọng Thuật trong Bài tựa đề trước Quả dưa

đỏ in trên Nam phong số 103, tháng Ba, 1926

Trang 37

31

Kiêm và cô Nga chánh đáng hay là không, việc cổ động của hai cô có lợi hay là hại cho cuộc vận động của toàn thể nữ giới Đó là những điều quan hệ mà hình như các nhà đạo đức không cần Các ông chỉ để tâm vào những việc thuộc về luân lý cá nhân…Đời nay, dẫu là con gái hay con trai đều có thể đi xa để hoặc là học hành, hoặc là sanh kế hoặc là làm một công việc gì có ích cho nhân quần xã hội Điều cốt yếu là chúng ta phải tránh sự chỉ trích vô bằng, sự áp bức phụ nữ Nghĩa là chúng ta không nên vô cớ nói xấu, hay là đặt cho đàn bà vào một cái khuôn khổ luân lý riêng nghiêm khắc với họ mà quên nghiêm khắc với đàn ông” Nguyễn Thị Kiêm chính là

tác giả của thiên du ký Dọc đường: cuộc hành trình từ Nam ra Bắc, [Phụ nữ tân văn, s 264, 25 -10-1934], kể về chuyến đi dài ngày từ Nam bộ ra Hà Nội, Hải

Phòng để quảng bá cho tư tưởng nữ quyền Từ trước cách mạng tháng Tám, nói về văn du ký, người ta đã bàn đến một vài nội dung của du lịch, văn du ký có quan hệ với nữ quyền Vì phụ nữ đi xa nhà là điều rất hiếm thấy, không được khuyến khích trong văn hóa Việt Nam trung đại Người phụ nữ lý tưởng thời trung đại là mẫu người “khuê các”, “bên khung cửi”, tề gia nội trợ

Tóm lại, tuy phê bình văn du ký nửa đầu thế kỷ XX còn khá thưa thớt, mỏng mảnh nhưng nhiều vấn đề hiện đại của văn du ký đều đã được chạm đến, như: văn

du ký và tính chân thực của nhật ký, về tính lợi ích của du lịch (gián tiếp nói về sự cần thiết của du ký, nhất là so sánh với văn hóa của người khác để mình tự thay đổi),

về tính chất phiêu lưu, thám hiểm của du lịch mà văn du ký cần ghi nhận, về du ký

và phụ nữ…Đây là những vấn đề mà luận án của chúng tôi cần tiếp tục đào sâu

1.3.2 Nghiên cứu văn du ký ở Việt Nam trong thời gian hai thập kỷ gần đây

Sau cách mạng tháng Tám 1945, trong bối cảnh chiến tranh chống Pháp, rồi chống Mỹ, ở miền Bắc, trong các tiêu chí đánh giá giá trị văn học, tiêu chí hàng đầu phải là những đóng góp thiết thực của văn học cho cách mạng Điểm nhìn về hiện đại hóa văn học chưa phải là mối quan tâm hàng đầu Do đó, dễ hiểu là Đặng Thai Mai đã có phần nặng lời với văn du ký, dường như đánh đồng các loại du ký khác

nhau Trong cuốn Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, ông nhận xét “Ở

nước ta, dưới chế độ kiểm duyệt và với trình độ nhận thức về chính trị, về khoa học của các nhà viết báo hồi đó, phần lớn các bài du ký, ký sự, hài đàm…chỉ có thể là

Trang 38

32

những nét ký họa hay hài họa hết sức hời hợt để “khai vị” cho một lớp độc giả đang chờ bữa cơm sau khi ở „sở” về mà thôi Tham quan một danh lam thắng cảnh về, nhà văn viết bài du ký cũng chưa mấy khi thoát ra ngoài khuôn sáo của giọng hoài

cổ siêu thoát của các nhà văn lớp trước…”7

Trong một thời gian khá dài, văn du ký ít được giới nghiên cứu phê bình quan tâm

Ở miền Nam, có một số quan sát về văn du ký nhưng chưa phải là những

nghiên cứu chuyên sâu Ví dụ, Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, viết về Phạm Quỳnh đã có hẳn một chuyên mục “nhà du ký” dài hơn 3

trang sách Phạm Thế Ngũ nhận xét: “Phạm Quỳnh còn mở đường cho một loại văn sau thành mốt thời ấy, là loại du ký…Văn du ký của ông cũng thường thiên về khảo luận…Mặc dầu vậy nó cũng giúp ta nhận định được ít nhiều nét thâm thiết về con người tác giả Những thiên du ký của ông tuy nhiều khi thiên về khảo luận nhưng không khô khan Ông biết thuật chuyện có duyên, biết điểm vào những đoạn tả cảnh xinh tươi, nhất là biết khéo sử dụng một lời văn thanh thoát trang nhã” [122, 190] Điều đáng chú ý là Phạm Thế Ngũ đã dõi theo sự biến chuyển của văn du ký Phạm Quỳnh qua thời gian, tuổi tác Những áng văn du ký tuổi trẻ (đăng trước 1925) của Phạm Quỳnh còn bồng bột, sính làm văn chương, song sau 1925, ngòi bút Phạm

Quỳnh đã giản dị, chuẩn xác hơn, không hoa mỹ màu mè Riêng Pháp du hành trình nhật ký được Phạm Thế Ngũ đánh giá cao Nhà nghiên cứu đã nhận xét rất

trúng, rất sắc sảo về cuộc tiếp xúc văn hóa văn minh Đông Tây, tâm lý tự ti đồng thời với tự kiêu, về các giọng điệu đa dạng khi nhục nhã, khi than thở, khi bông lơn cười cợt và “điều đáng chú ý là chính trong thiên du ký này Phạm Quỳnh đã nói về ông nhiều hơn cả” [122, 192] Như ta sẽ thấy, cái tôi, con người chủ thể chính là một nét đặc sắc mà du ký đóng góp cho công cuộc hiện đại hóa văn học, điều được giới nghiên cứu Phương Tây và Việt Nam đồng loạt nhấn mạnh

Trong thời kỳ đổi mới, giới nghiên cứu đã chuyển đổi điểm nhìn đối với văn học nửa đầu thế kỷ XX, một cách toàn diện và đánh giá khách quan hơn những đóng góp của các dòng văn học, các tác giả, các thể loại khác nhau Văn du

7

Đặng Thai Mai (1960), Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1960, tr 106

Trang 39

33

ký đã bắt đầu được đặt dưới điểm nhìn của quá trình hiện đại hóa văn học Trong công trình dành riêng cho vấn đề hiện đại hóa văn học trong giai đoạn nửa đầu thế

kỷ XX xuất bản năm 1999, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã chú ý đến vị trí, ý

nghĩa của thể loại ký như bút ký, phóng sự, tùy bút, du ký…Theo ông, do sự ra đời

hàng loạt tờ báo nên về “mấy thể loại văn rất gần với báo, tồn tại trước tiên trên mặt báo như bút ký, du ký phóng sự-lại tìm được điều kiện lý tưởng để nẩy nở” [131, 56] Vương Trí Nhàn lưu ý đến đóng góp của ký trong đó có du ký đối với việc làm mới hệ thống thể loại văn học hiện đại hóa: “nhấn mạnh đến những đảo lộn lớn lao đã đến qua sự có mặt của tiểu thuyết và của thơ là đúng Song cũng không thể bỏ qua sự phát triển của ký sự, phóng sự, du ký, cụ thể là vai trò khởi động của nó Hơn nữa, có một điều thú vị nên đặc biệt lưu ý: chính là nhờ có phóng sự ký sự, mà tiểu thuyết bớt đi tính cách vu vơ hão huyền” [131, 64] Chúng tôi quan tâm và sẽ tiếp tục triển khai ý tưởng này về vai trò của văn du ký đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Tuy vậy, cũng phải nói, do đối tượng chính đang được theo dõi là phóng sự nên những gì cụ thể về văn du ký chưa được ông triển khai

Trong công trình xuất bản năm 2000 bàn về hiện đại hóa văn học Việt Nam,

Mã Giang Lân khẳng định du ký là thể loại đầu tiên viết bằng quốc ngữ và cũng xem nó là một tiểu loại của thể loại bút ký: “Thể loại văn học đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ phải kể đến du ký Đây là một hình thức bút ký văn học được ghi lại bằng văn xuôi, thuật lại những chuyến đi của tác giả đến những vùng đất khác nhau…Nguồn gốc của du ký cần tìm trong những hình thức tùy bút, ký sự truyền thống” [92] Trong nhận xét này, có tư tưởng thống nhất với Vương Trí Nhàn về vai trò mở đầu của thể loại du ký trong công cuộc hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỷ

XX

Đó là một số nhận xét quan trọng nhưng còn quá vắn tắt của giới nghiên cứu

về du ký trong các mốc thời gian khác nhau trước đây

Chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây, văn du ký bắt đầu có sức hấp dẫn trở lại như một đối tượng của khoa nghiên cứu văn học và bắt đầu có những chuyên khảo lớn nhỏ dành riêng cho văn du ký

Trang 40

34

Sự khởi sắc của mảng nghiên cứu về du ký có nguyên nhân ở việc giới nghiên cứu đương đại đã có công “khai quật” lại nhiều mỏ vàng của báo chí xuất bản trước cách mạng tháng Tám năm 1945-những mỏ vàng vốn một thời bị quên lãng, coi nhẹ vì nhiều lý do Một trong những nhà tiên phong chính là nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: công trình sưu tầm bền bỉ của ông trong hàng chục năm qua đã cho thấy, chỉ riêng với nhà văn hóa Phan Khôi, đã có hàng ngàn trang văn báo chí chính luận, phê bình, luận chiến đề cập đến rất nhiều phương diện của đời sống văn hóa nghệ thuật trước cách mạng, có giá trị nhiều mặt Từ mảng tư liệu phong phú đó, giới nghiên cứu nhận thấy cần quay trở lại nghiên cứu giá trị của chúng

Niculin, nhà Việt Nam học người Nga, từ góc nhìn của một người châu Âu,

qua nghiên cứu Sách sổ sang chép các việc của Philiphê Bỉnh từ thế kỷ XVIII, rất

nhạy bén nhận ra nét độc đáo có tính hiện đại, ý nghĩa thoát ly truyền thống Phương Đông trong thể loại du ký: nhân vật trung tâm của tác phẩm văn du ký là chính cái tôi tác giả “Philiphê Bỉnh, với tư cách là nhân vật trong cuốn sách của mình, cuốn sách có tính chất tư liệu, hiện thực, nhưng đồng thời cũng trải qua quá trình chỉnh lý văn học, thông qua quan điểm, chính kiến, thị hiếu của tác giả, đã vượt ra khỏi phạm vi địa lý của đất nước quê hương… Chỉ riêng một điều, ở vào vị trí trung tâm của cuốn sách, tác giả kể lại một cách hết sức tự nhiên về bản thân đã là một sự

khước từ truyền thống: “Tôi là thầy cả Philip Bỉnh…” - cuốn sách mở đầu như vậy”

[141, 90] Nhà nghiên cứu muốn so sánh cái tôi của Philiphê Bỉnh với truyền thống văn hóa cộng đồng, coi nhẹ cái con người cá nhân của văn hóa Việt Nam Tuy được

viết từ thế kỷ XVIII song Sách sổ sang chép các việc -một áng văn du ký độc đáo

bằng tiếng Việt ròng-đã báo trước những nét hiện đại của văn du ký thế kỷ XX Đây

là gợi ý quí báu để chúng tôi triển khai phân tích văn du ký trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Riêng về văn du ký, phải nói ngay là nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn có những đóng góp quan trọng trong việc phát lộ kho tàng văn du ký Ông bắt đầu

bằng việc biên tuyển các áng văn du ký trên Nam phong, đánh thức sự chú ý của

giới nghiên cứu phê bình đến giá trị nhiều mặt của mảng sáng tác này Không những làm công việc sưu tầm, công bố tư liệu, Nguyễn Hữu Sơn còn viết hàng chục

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w