Trong những năm qua huyện Phổ Yên đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng cân đối, hợp lý giữa các nghành, các vùng và thành
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Quang Hiển
Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2016 Tác giả
Trần Hồng Hải
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ, tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc tới PGS.TS
Vũ Quang Hiển – người Thầy đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô trong khoa Lịch sử - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội - nơi tác giả đã học
Cảm ơn gia đình, người thân đã luôn động viên, khuyến khích tác giả trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trần Hồng Hải
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sơ lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 10
1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chủ trương của Đảng bộ 10
1.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 10
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ 26
1.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ 29
1.2.1 Sự chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 29
1.2.2 Sự chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng 32
1.2.3 Sự chỉ đạo chuyển dịch thành phần kinh tế 32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 43
Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN PHỔ YÊN LÃNH ĐẠO TĂNG CƯỜNG HUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2014 44
2.1 Yêu cầu mới đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chủ trương mới của Đảng bộ 44
2.1.1 Yêu cầu mới đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Phổ Yên 44
2.1.2 Chủ trương mới của Đảng bộ 48
2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ 61
2.2.1 Sự chỉ đạo chuyển dịch CCKT nghành 61
2.2.2 Chủ trương phát triển các thành phần kinh tế 72
Trang 62.2.3 Chủ trương quy hoạch các vùng kinh tế 74
2.2.4 Những kết quả đạt được 75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 90
CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 91
3.1 Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ 91
3.1.1 Ưu điểm 91
3.1.2 Một số hạn chế 101
3.2 Bài học kinh nghiệm 104
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 109
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 119
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu kinh tế huyện Phổ Yên giai đoạn 1997 - 2000 33Bảng 1.2 Cơ cấu GTSX ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản huyện Phổ Yên giai đoạn 1997– 2000 34Bảng 1.3: Giá trị sản xuất ngành trồng trọt trên địa bàn huyện Phổ Yên theo giá hiện hành giai đoạn 1996 – 2000 36Bảng 1 4: Số lượng đàn gia súc trên địa bàn huyện Phổ Yên giai đoạn 1997 – 2000 36Bảng 1.5: Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên theo giá hiện hành phân theo ngành công nghiệp giai đoạn 1997 – 2000 39Bảng1.6: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện Phổ Yên 39Bảng 1.7: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn huyện Phổ Yên giai đoạn 1997 – 2000 40Bảng 2.1 : Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện phân theo thành phần kinh tế theo giá hiện hành từ năm 2001 – 2014 75Bảng 2.2: GTSX nông, lâm, thuỷ sản huyện Phổ Yên giai đoạn 2001 – 2014 77Bảng 2.3: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện từ năm 2001 đến năm 2014 78-Bảng 2.4: Cơ cấu ngành chăn nuôi trên địa bàn huyện Phổ Yên giai đoạn 2001 đến
2014 79Bảng 2.5: Tăng trưởng công nghiệp, TTCN và xây dựng huyện Phổ Yên giai đoạn
2001 - 2014 81Bảng 2.6: Giá trị sản xuất và tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ huyện Phổ Yên giai đoạn từ 2001 đến 2014 83Bảng 2.7: GDP phân theo thành phần kinh tế theo giá hiện hành huyện Phổ Yên giai đoạn 2001 – 2014 85
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu cần thiết và khách quan của mỗi nước trong thời kỳ CNH –HĐH, nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, cân đối giữa các nghành, các lĩnh vực và các vùng miền Tạo điều kiện để khai thác có hiệu quả các lợi thế của đất nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh và bền vững Việt Nam tiến hành CNH – HĐH trong điều kiện một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu, cơ cấu kinh tế còn chưa hợp lý đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiểu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một việc cấp bách, là con đường tất yếu để Việt Nam thoát khỏi tình trạng của một nước lạc hậu, chậm phát triển Nhận thức được tầm quan trọng đó, từ những năm 1986 Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đổi mới tư duy Nhờ đó kinh tế đất nước đã có sự chuyển dịch rõ rệt, bước đầu đạt được những thành tựu trên nhiều mặt, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tích cực
Phổ Yên là một huyện trung du miền núi có lịch sử hình thành và phát triển sớm của tỉnh Thái Nguyên Đây là mảnh đất có thế mạnh về điều kiện tự nhiên, con người, giàu truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng, con người Phổ Yên luôn lao động cần cù, sáng tạo Đó là những điều kiện thuận lợi để Đảng bộ huyện Phổ Yên lãnh đạo nhân dây xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xây dựng quê hương đất nước ngày một giàu đẹp, văn minh Với sự quan tâm tạo mọi điều kiện giúp đỡ của Trung ương, Tỉnh ủy Thái Nguyên, sự cố gắng của nhân dân trong huyện Trong những năm qua huyện Phổ Yên đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng cân đối, hợp lý giữa các nghành, các vùng và thành phần kinh tế, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cấp, văn hóa xã hội ngày càng khởi sắc
Tuy nhiên, do xuất phát từ điều kiện một huyện miền núi, kinh tế kém phát triển, lao động còn tập trung quá nhiều trong nông nghiệp nên quá trình chuyển đổi
Trang 10cơ cấu kinh tế của huyện diễn ra chậm, các vùng chuyên môn hóa sản xuất chưa nhiều và cũng chưa thực sự phù hợp với các điều kiện tự nhiên, công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ phát triển không đồng đều, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện
Vì vậy đánh giá đầy đủ, khách qua, khoa học quá trình lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ huyện Phổ Yên là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế của huyện trong những năm tới và góp phần vào việc tổng kết thực tiễn lãnh đạo kinh tế của Đảng bộ huyện
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn đó nên tôi chọn đề tài “ Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm
1997 đến năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên nghành Lịch sử
Đảng Cộng Sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Khái quát các công trình nghiên cứu
2.1.1 Nhóm các sách chuyên khảo
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam.Các công trình đã đạt được những kết quả đáng kể, là
cơ sở cho hướng nghiên cứu của luận văn
GS Đỗ Đình Giao, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân (NxB Chính trị Quốc gia, H.1994) Trong công
trình nghiên cứu chuyên sâu này tác giả đã tập trung luận giải về các vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân nước ta bao gồm chuyển dịch cơ cấu nghành, cơ cấu vùng và thành phần kinh tế, những thành tựu và bài học kinh nghiệm cũng được tác giả đánh giá tương đối đầy đủ
PGS Đỗ Hoài Nam, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành và phát triển mũi nhọn, NxB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 Tác phẩm này tác giả đã đi sâu vào nội
dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành chi tiết, bao gồm kinh tế nghành nông – lâm – thủy sản, công nghiệp – xây dựng cơ bản, thương mại – dịch vụ, song song với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành thì cũng cần tập trung quy hoạch, lựa chọn, đầu tư những nghành kinh tế mũi nhọn phù hợp với tiềm năng và lợi thế của từng vùng
Trang 11TS Đặng Văn Thắng, TS Phạm Ngọc Dũng, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng Sông Hồng, thực trạng và triển vọng, NxB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Tác phẩm đã tập trung nghiên cứu và làm rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp của vùng trọng điểm kinh tế của cả nước là đồng bằng Sông Hồng, những thực trạng kinh tế hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai
Ngoài ra, một số tác giả cũng đề cập đến vấn đề tương tự như: Phạm Khiêm
Ích - Nguyễn Đình Phan: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và các nước trong khu vực (NxB Thống kê, H.1995); Trần Ngọc Hiên: Mối quan hệ giữa công - nông nghiệp - dịch vụ trong sự hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta (Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1997… Ở tầm vĩ mô, các công trình trên đã đề cập đến
những vấn đề lý luận và thực tiễn trong cơ chế chuyển dịch cơ cấu kinh tế Theo cách nghiên cứu trên, chuyển dịch là vấn đề cấp bách trên phạm vi cả nước nhằm tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng lành mạnh, phát triển và hội nhập
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, còn có các công trình khoa học đề cập đến các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội: Nguyễn
Xuân Oánh, Đổi mới – Vài nét lớn của một chính sách kinh tế Việt Nam, NxB Thành phố Hồ Chí Minh, TS Vũ Hồng Tiến, Một số vấn đề kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NxB Đại học sư phạm Hà Nội, Hà
Nội, 2005 Các công trình với nhiều các tiếp cận khác nhau đã đề cập tập trung, trực tiếp đến các vấn đề kinh tế - xã hội trong quá trình thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, những thành tựu đã đạt được khẳng định trong thực tế chủ trương đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với xu hướng phát triển
- Tác giả Nguyễn Văn Bằng với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Trung Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NXB Nông nghiệp, Hà
Nội, 2002
- Tác giả Phạm Hùng với: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NxB Nông nghiệp, Hà
Nội, 2002
Trang 12- Tác giả Nguyễn Xuân Long với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn tỉnh Khánh Hòa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NxB Nông
2.1.2 Nhóm sách là luận văn, luận án liên quan đến đề tài nghiên cứu: Đào Thu Huyền: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chuyển dịch
cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2006 ( Luận văn thạc sĩ chuyên nghành lịch sử
Đảng, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012) Trong công trình, tác giả đã tập trung nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên kể từ khi có Nghị quyết của Trung ương về phân chia lại địa giới hành chính năm 1997 đến năm 2006, những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế đó, phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đúng đắn, tích cực
Đào Thị Vân: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1997-2003 (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004)
Nguyễn Ngọc Thanh: Đảng bộ huyện Gia Lâm (Hà Nội) lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991-2000) (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, Học
viện CTQG Hồ Chí Minh, H.2004)
Đặng Kim Oanh: Đảng bộ Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh
tế từ năm 1997 đến năm 2003 (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2005)
Trần Thị Thu Hằng: Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ 1996 đến 2005 (Luận văn thạc
sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh)…
Trang 13Các nhóm công trình nghiên cứu trên đã làm rõ quá trình vận dụng đường lối, quan điểm của Trung ương, của Đảng trong thực tiễn lãnh đạo chuyển dịch CCKT ở từng địa phương, phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế, nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT của Đảng bộ
2.1.3 Các công trình nghiên cứu những vấn đề về phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Phổ Yên
Cho đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Phổ Yên về phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đáng chú ý nhất
là một số công trình nghiên cứu:
Nguyễn Thị Thu Phương: Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 ( Luận văn thạc sĩ
chuyên nghành lịch sử Đảng, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012 Đề tài tác giả đã tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ những chủ trương của Đảng bộ huyện Phổ Yên trong thực hiện nhiệm vụ phát triển nghành nông nghiệp trong 10 năm từ 2001 đến
2010, những kết quả tích cực, hạn chế và hệ thống các giải pháp của Đảng bộ huyện Phổ Yên trong phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới
Đỗ Xuân Luận: Phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp ở huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên ( Luận văn thạc sĩ chuyên nghành kinh tế nông nghiệp, Đại học
Kinh tế Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, 2009) Đề tài, tác giả đã tập trung nghiên cứu quá trình phát triển của nghành tiểu thủ công nghiệp ở huyện Phổ Yên trong thời gian từ năm 2001 đến 2008, bên cạnh đánh giá tổng quát bước phát triển của nghành tiểu thủ công nghiệp, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém cần khắc phục để phát triển nghành những năm tiếp theo
Ngô Thị Mỹ: Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội của huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên ( Luận văn thạc sĩ chuyên nghành kinh tế nông
nghiệp, Đại học Kinh tế Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, 2012) Đề tài, tác giả đã tập trung nghiên cứu và đánh giá tổng hợp tác động của quá trình đô thị hóa đối với phát triển kinh tế, xã hội của huyện từ năm 2009 đến 2012, bên cạnh đó tác giả cũng trình bày những thành tựu phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
Trang 14huyện Phổ Yên, đề xuất những giải pháp để quy hoạch, phát triển kinh tế của huyện trong những năm tiếp theo
Ngoài một số công trình được nêu ra ở trên, còn nhiều bài viết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế đăng trên các tạp chí chuyên ngành Các công trình khoa học này đã khẳng định tầm quan trọng của xây dựng và phát triển của kinh tế nói chung, chuyển dich cơ cấu nói riêng, nêu bật được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, được thể hiện bằng các đường lối, chính sách phát triển và sự vận dụng đường lối
đó vào các địa phương cụ thể Đây là những tài liệu rất quan trọng cung cấp số liệu, nhận định đánh giá về thực trạng và phương hướng phát triển của huyện Tuy nhiên , chưa có công trình nào nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Phổ Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện từ năm 1997 đến năm 2014 dưới giác độ khoa học lịch sử Đảng
2.2 Những vấn đề mà các công trình nghiên cứu chưa làm sáng tỏ
Có thể thấy rằng, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ở Việt Nam với những mức độ và cách tiếp cận khác nhau Những công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân hoặc cơ cấu kinh tế vùng trong một giai đoạn nhất định, có công trình đề cập đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành nhưng chỉ giới hạn trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc công nghiệp mà chưa thấy sự biến đổi tổng thể trong cả ba nghành kinh tế mũi nhọn là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, các luận văn, luận án của các tác giả nói trên đã làm rõ được sự biên đổi cơ cấu kinh tế ở một số tỉnh, thành trong cả nước, tổng kết những thành tựu, hạn chế và đúc rút một số kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với từng địa phương cụ thể Còn đối với huyện Phổ Yên, cho đến nay chỉ có một công trình nghiên cứu vế sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Phổ Yên đó là; Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh
tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 của Nguyễn Thị Thu Phương, nhưng tác
giả mới chỉ dừng lại trong nghành nông nghiệp mà chưa đánh giá được tổng thể cơ cấu nền kinh tế của huyện Các công trình luận văn thạc sỹ kinh tế của Đỗ Xuân Luận, Ngô Thị Mỹ cũng mới chỉ nghiên cứu, đánh giá trong khoảng thời gian ngắn, trên phương diện kinh tế Hơn hết chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
Trang 15đủ, toàn diện, có hệ thống về quá trình Đảng bộ huyện Phổ Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh từ năm 1997 đến năm 2014
Vì vậy, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính khái quát và chuyên môn về quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ huyện Phổ Yên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày một cách hệ thống quá trình Đảng bộ huyện Phổ Yên vận dụng chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên vào việc xây dựng chủ trương và lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện từ năm 1997 đến năm 2014
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện và làm rõ nguyên nhân của những kết quả đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ huyện Phổ Yên trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2014
- Quá trình thực hiện những chủ trương và biện pháp thông qua hoạt động cụ thể của các cấp đảng, chính quyền, đoàn thể và quần chúng nhân dân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên
Trang 16- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu từ năm 1997 đến năm 2014 Năm 1997
là năm thực hiện quyết định số 131/QĐNS/TW về việc kết thúc hoạt động của Đảng
bộ và Tỉnh ủy Bắc Thái đồng thời thời thành lập Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên Năm
2014 là thời điểm huyện Phổ Yên hoàn thành các tiêu chí và được nâng cấp thành thị xã công nghiệp trực thuộc tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên, luận văn cũng đề cập đến một số nét chủ yếu về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế trước năm 1997, xem đó là một yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sau
- Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế có một số nội dung chính: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, chuyển dịch cơ cấu nội ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Phổ Yên trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội ngành
5 Cơ sơ lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu
5.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các kỳ Đại hội, quan điểm của Đảng được thể hiện trong các Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng, các kết luận được tổng kết trong các văn kiện Đảng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng một số phương pháp chuyên ngành như: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, ngoài ra còn kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh
5.3 Nguồn tư liệu
- Những văn kiện Đảng, Nhà nước, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
- Các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ huyện, các kế hoạch, đề án, báo cáo tổng kết về tình hình phát triển kinh tế của Đảng bộ, chính quyền huyện
- Những báo cáo khoa học, sách đã công bố có liên quan đến sự phát triển kinh tế của huyện Phổ Yên
Trang 177 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái
Nguyên về chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2000
Chương 2: Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên tăng cường lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2001 đến năm 2014
Chương 3: Nhận xét và bài học kinh nghiệm
Trang 18Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chủ trương của Đảng bộ
1.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên ,kinh tế, văn hóa, xã hội
Phổ Yên là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên có 18 đơn vị hành chính gồm 15 xã và 3 thị trấn Là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên với diện tích tự nhiên là 25.667 km2, có vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế
Phía Nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 55
km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 20 km
Phía Bắc giáp với thành phố Thái Nguyên và huyện Đại Từ
Phía Đông giáp huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang và huyện Phú Bình
Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc
Với vị trí trên, huyện Phổ Yên có nhiều tiềm năng và cơ hội để thu hút các
dự án đầu tư, là cơ sở giúp quá trình CNH - HĐH diễn ra nhanh hơn
Về địa hình
Huyện Phổ Yên thuộc vùng gò đồi của tỉnh Thái Nguyên, bao gồm vùng núi thấp và đồng bằng Địa hình của huyện thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 2 vùng rõ rệt:
+ Vùng phía Đông (hữu ngạn sông Công) gồm 11 xã và 2 thị trấn, có độ cao trung bình 8 – 15 m, đây là vùng gò đồi thấp xen kẽ với địa hình bằng, có thể gọi là vùng “đồng bằng” của huyện Đây là vùng trọng điểm lúa và rau màu của huyện, có kinh nghiệm trong việc trồng lúa nước, sản xuất công nghiệp TTCN, kinh doanh dịch vụ và làm nghề truyền thống
+ Phía Tây (tả ngạn sông Công) gồm 4 xã, 1 thị trấn, là vùng núi của huyện, địa hình đồi núi là chính, cao nhất là dãy Tạp Giàng 515 m Độ cao trung bình ở vùng này là 200 – 300 m Đây là các xã vùng núi của huyện, có thế mạnh trồng cây
Trang 19công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, khai thác chế biến lâm sản, vùng trồng cây nguyên liệu cho nghề mây tre đan, chăn nuôi gia súc… Quỹ đất vùng này còn khá dồi dào
Về khí hậu
Phổ Yên nằm trong khu vực có tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa lạnh, mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C, tháng 7 là tháng nóng nhất (28,50C), tháng 1 là tháng lạnh nhất (15,60C) Số giờ nắng cả năm là 1.628 giờ, năng lượng bức xạ đạt 115 kcal/cm2
Chế độ mưa: Mưa phân bố không đồng đều trong năm Mùa mưa từ tháng 5
đến tháng 10, chiếm 91,6% lượng mưa cả năm Mùa mưa trùng với mùa lũ nên thường gây úng lụt cho vùng thấp của huyện
Lượng bốc hơi: Trung bình năm đạt 985,5 mm, trong năm có 5 – 6 tháng
lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa
Chế độ thủy văn
Chế độ thủy văn các sông qua địa phận Phổ Yên phụ thuộc chủ yếu vào chế
độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực sông Công và sông Cầu
Mùa lũ trên 2 hệ thống sông Công và sông Cầu thường trùng vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), xuất hiện nhiều nhất vào các tháng 6,7,8,9 Bình quân mỗi năm có từ 1,5 – 2 trận lũ, năm nhiều nhất có 4 trận lũ xuất hiện
Mùa cạn ở 2 hệ thống sông kéo dài khoảng 4 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) Lượng nước trên các sông này bình quân chỉ đạt 1,5 – 2% tổng lượng nước cả năm Đây là yếu tố bất lợi cho sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn huyện
Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra và tổng hợp trên bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/25.000, huyện Phổ Yên có 10 loại đất chính Trong đó có các loại đất phù sa, bạc màu, dốc
tụ và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa thường có độ dốc thấp, tầng đất dày > 100
cm, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng loại đất này chỉ chiếm 35% diện tích tự nhiên toàn huyện Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát,
Trang 20đất nâu vàng trên phù sa cổ có diện tích chiếm 61,6% diện tích toàn huyện, hầu hết
có độ dốc >250
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 25.667,63 ha Diện tích đất nông nghiệp toàn huyện là 18.435,68 ha (năm 2014), chiếm 71,82% tổng diện tích đất tự nhiên và giảm dần do đất đai được chuyển sang xây dựng các công trình như trường học, đường giao thông, khu công nghiệp Tỷ trọng đất lâm nghiệp giảm từ 28,70% năm 2008 xuống còn 25,32% năm 2014 Nguyên nhân là do một bộ phận đất lâm nghiệp đã được chuyển sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn trong diện tích đất tự nhiên toàn huyện (từ 20,13% năm
2008 lên 27,24% năm 2014).[30, tr.4] Diện tích này tăng lên qua các năm do đất giao thông, đất xây dựng cơ bản tăng mạnh, đất xây dựng khu công nghiệp Nhìn chung, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm nên đã gây ra sức ép phải tăng cường thâm canh trong sản xuất nông nghiệp, phát triển các ngành nghề phụ trong đó có các nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng nó cũng là một cơ hội cho huyện phát triển kinh tế, văn hóa và dịch vụ
Về dân số
Theo số liệu thống kê năm 2014, dân số toàn huyện Phổ Yên là 146,243 nghìn người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện khoảng trên dưới 1% (tỷ lệ sinh khoảng trên dưới 1,3%); trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao nhất là 1,06% (năm 2005) và thấp nhất là 0,88% (năm 2004) số dân trong độ tuổi lao động của Phổ Yên hiện nay là 84.298 người chiếm 59,69% tổng dân số toàn huyện, tốc độ tăng trưởng
Trang 21lao động bình quân hàng năm giai đoạn 2010- 2014 là 1,16%, nhanh hơn tốc độ tăng dân số Dân số tuổi lao động có khả năng lao động chiếm 95,69% Cơ cấu lao động theo ngành có xu hướng chuyển dịch theo hướng phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế, tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp hiện nay còn 73,75%, cao hơn mức chung của toàn tỉnh hiện nay đạt 65,67% năm 2005, tốc độ chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng cơ cấu lao động công nghiệp chiếm 7,8% thấp hơn mức chung của tỉnh khá nhiều, thấp nhất trong cơ cấu lao động của 3 nhóm ngành của huyện, năm
2014 cơ cấu lao động công nghiệp của tỉnh chiếm 13,54% và có tốc độ chuyển dịch khá nhanh, ngành dịch vụ hiện có tỷ trọng 12,97% Trong đó, năm 2014, cơ cấu lao động ngành dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên là 18,87% [30, tr.5] Tốc độ tăng trưởng lao động ngành dịch vụ thấp nhất so với các ngành khác và so với mức của toàn tỉnh Điều này giải thích trong cơ cấu thu nhập của huyện, tỷ trọng ngành dịch vụ trên địa bàn huyện Phổ Yên hiện nay mới chiếm khoảng gần 20% trong cơ cấu kinh
tế huyện
Về lao động
Theo số liệu thống kê năm 2014, toàn huyện có 91.230 lao động trong độ tuổi (chiếm 66% tổng dân số của huyện), trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 86.000 người, trong đó lao động ngành nông lâm nghiệp chiếm 86% Còn lại là trong công nghiệp và thương mại – dịch vụ.[ 30, tr.4]
Về giao thông
Mạng lưới đường bộ trên địa bàn huyện Phổ Yên gần trục Quốc lộ 3 dài 13
km chạy qua trung tâm huyện theo hướng Bắc Nam Từ trục Quốc lộ 3 này là các đường xương cá đi đến trung tâm các xã, thị trấn và khu vực dân cư
Tổng chiều dài đường liên huyện là 27 km, bao gồm các tuyến Ba Hàng - Tiên Phong, đường 261 (Ba Hàng – Phúc Thuận) Từ Quốc lộ 3 đi Chã và từ đường
261 đi Thành Công, các tuyến này hiện nay đều là đường cấp phối
Đường liên xã có khoảng 19 km, liên thôn 30 km Trong phong trào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn hiện nay, nhiều tuyến đã được bê tông hóa theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm
Trang 22Tuyến đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên qua địa bàn huyện Phổ Yên chủ yếu vận chuyển than và quặng sắt, đoạn qua huyện dài khoảng 19 km, huyện đã bê tông hóa được 250 km kênh mương nội đồng, xây dựng thêm được một số trạm bơm dầu, bơm điện Từ kết quả của công tác thủy lợi đã đưa diện tích 2 vụ lên gần 4.000 ha
Hệ thống điện, thông tin, liên lạc
Tính đến 2014, 100% số xã, thị trấn trong huyện đã được sử dụng điện lưới quốc gia, số hộ dùng điện đạt 100% Mạng lưới điện hiện còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất và sinh hoạt
Hệ thống thông tin liên lạc và viễn thông của huyện khá hoàn chỉnh Đến nay, mạng điện thoại cố định đã phủ 18/18 xã, thị trấn, sóng điện thoại di động phủ 13/15 xã, thị trấn
Hệ thống giáo dục, y tế
Sự nghiệp giáo dục – đào tạo của huyện Phổ Yên trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS vào tháng 12/2003, sớm 1 năm so với kế hoạch
Phổ Yên luôn là đơn vị dẫn đầu của tỉnh trong công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia Số trường đạt chuẩn quốc gia là 40, đạt 60% trên tổng số Số lớp học được tầng hóa là 306 đạt 35% Chất lượng giáo dục ở các cấp học được nâng lên rõ rệt Trường Cao đẳng Công nghệ và kinh tế công nghiệp đẩy mạnh công tác đào tạo cho trên 5.200 học viên/năm Trung tâm dạy nghề huyện đào tạo nghề cho 4.700 lao động, đưa tổng số lao động qua đào tạo toàn huyện chiếm 20% nguồn lao động của địa phương
Phổ Yên là huyện có hệ thống y tế tương đối hoàn chỉnh Toàn huyện có 1 bệnh viện, 2 phòng khám đa khoa, 17 trạm y tế với tổng số 160 giường bệnh, 1.671 cán bộ y tế Hiện nay có 2 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, ngành y tế huyện đang xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã để nâng cao hơn nữa chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân Trong ba năm qua, y tế huyện đã thực hiện khám chữa bệnh cho 140.000 lượt người, giảm tỷ lệ sinh thô xuống còn 0,2‰/năm
Trang 23Tóm lại, với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên và nhân văn tương đối phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng đã và đang hoàn thiện Đó là những điều kiện thuận lợi để Phổ Yên phát triển một nền kinh tế hiện đại, cơ cấu kinh tế cân đối, mở rộng thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dễ dàng hội nhập với thị trường trong vùng và cả nước Nhiệm vụ của Đảng bộ huyện là làm thế nào để lãnh đạo phát triển kinh tế địa phương cho tương xứng với tiềm năng hiện có, góp phần vào sự phát triển của Thái Nguyên và sự phát triển chung của cả nước
1.1.1.2 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã đề ra đường lối, chủ trương phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, quan điểm, chủ trương về chuyển dịch CCKT của Đảng là nhất quán, xuyên suốt và ngày càng hoàn thiện qua các kỳ Đại hội, các Hội nghị Trung ương
và Bộ Chính trị từ khóa VI đến nay
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật và quyết tâm đổi mới toàn diện, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI ( 12/1986) của Đảng chỉ rõ “ muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối phải dứt khoát sắp sếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các nghành, các vùng, các thành phần kinh tế , các loại sản xuất có quy mô và trình độ
kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm nền kinh tế phát triển ổn định” [41, tr.47]
Tháng 6 – 1991, tại Đại hội VII, sau khi tổng kết thành tựu 5 năm đổi mới, trong đó có những thành tựu bước đầu rất quan trọng trên lĩnh vực kinh tế, đặc biệt
là 3 chương trình kinh tế lớn ( lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) Trên cơ sở đó, quan điểm về chuyển dịch CCKT được Đảng ta chỉ rõ “ Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu nhằm ổn định kinh tế - xã hội” [ 43, tr.63]
Trang 24Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua tại Đại hội VII cũng chỉ rõ: “ Khi kêt thúc thời kỳ quá độ, hình thành về
cơ bản nền kinh tế công nghiệp với CCKT công – nông nghiệp – dịch vụ gắn với phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng” [45, tr.63]
Xuất phát từ kết quả đạt được sau 10 năm đổi mới, con đường đi lên CNXH của Việt Nam ngày càng được xác định rõ hơn tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ( 6/1996) Đại hội khẳng định “ Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, CCKT hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Từ nay đến năn 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp” [47, tr.96]
Tại Đại hội, Đảng nhấn mạnh “ Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp
và nông thôn, chỉ rõ nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Hình thành dần một số nghành mũi nhọn như chế biến nông, lâm, thủy sản [ 48, tr.88] Bên cạnh đó Đảng cũng tập trung lãnh đạo phát triển công nghiệp theo hướng sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và lương thực, thực phẩm: “ Phát triển công nghiệp,
ưu tiên các nghành chế biến lương thực – thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm thương mại dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực” [48, tr.89]
Tổng kết 15 năm đổi mới, Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng ( 4-2001) đã xác định đường lối phát triển kinh tế là: “ Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [51, tr.89]
Vể chuyển dịch CCKT, Đảng chỉ rõ “ chuyển dịch CCKT, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và lợi thế so sánh của đất nước, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, nhu cầu đời sống nhân dân
Trang 25và quốc phòng, an ninh Tạo thêm sức mua của thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước đẩy mạnh xuất khẩu” [51, tr.92]
Đối với CCKT nông nghiệp, nông thôn, Đại hội cũng xác định: “ Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương” [ 51, tr.168]
Đường lối và những quan điểm chỉ đạo quá trình CNH, HĐH của Đảng như trình bày ở trên thể hiện quá trình phát triển nhận thức và tư duy lý luận của Đảng
về CNH, HĐH cũng như chuyển dịch CCKT ở nước ta nhằm phấn đấu đến năm
2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp Chủ trương và đường lối này của Đảng đã được Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Huyện Phổ Yên vận dụng một cách linh hoạt vào tình hình phát triển cụ thể của địa phương
Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tê của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Ngày 6/11/1996 tại kỳ họp lần thứ 10 của Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định chia tách và điều chỉnh địa giới hành chính của một số tỉnh ở nước ta Tỉnh Bắc Thái được chia tách thành hai tỉnh: tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên Ngày 22/12/1996, Bộ Chính trị ra quyết định số 131/QĐNS/TW về việc kết thúc hoạt động của Đảng bộ và Tỉnh ủy Bắc Thái đồng thời thành lập Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/1/1997 Hai tỉnh hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ ngày 1/1/1997
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (11/1997) được tiến hành Đây là Đại hội đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên kể từ khi tái lập theo quyết định của Bộ Chính trị Về chuyển dịch CCKT, Nghị quyết Đại hội chỉ rõ “ Chuyển nền kinh tế theo hướng cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp và dịch vụ, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái Phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế để khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của tỉnh ” [36, tr 18-19]
Để thực hiện những mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Tỉnh ủy
đã đề ra nhiều giải pháp thực hiện:
Trang 26- Tiếp tục tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác, chuyển cơ cấu mùa vụ nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
- Tập trung quy hoạch, đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ, thực hiện tốt các cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp địa phương, các cơ sở công nghiệp, nhất là các nghành thế mạnh của tỉnh như công nghiệp chế biến nông – lâm sản, thủ công nghiệp
- Huy động các nguồn lực để hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch nhanh CCKT toàn tỉnh Trọng tâm là các hạng mục điện, đường, trường, trạm
- Thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển, có chính sách ưu đãi, thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Mở rộng các chương trình xúc tiến thương mại với các tỉnh nhằm mở rộng thị trường trao đổi, tiêu thụ sản phẩm có thể mạnh của địa phương
- Tiếp tục đầu tư đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ nhằm tạo nguồn nhân lực có trình độ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế
và chuyển dịch CCKT của tỉnh.[ 36, tr.21-22]
Đại hội lần thứ XV, Đảng bộ tỉnh đã cụ thể hóa một bước Nghị quyết đường lối của Đảng, với những chủ trương chỉ đạo tương đối toàn diện trong thực hiện chuyển dịch CCKT của tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho các Đảng bộ huyện, thị xã trong tỉnh thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đặc biệt là chuyển dịch CCKT
1.1.1.3 Thực trạng cơ cấu kinh tế huyện Phổ Yên trước năm 1997
Trong những năm 1981- 1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân huyện Phổ Yên đã giành được những thành tựu trong việc tháo gỡ khó khăn của tình hình sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, khuyến khích sản xuất công nghiệp địa phương Nhưng về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế
Đứng trước tình hình đó, Đại hội Đảng bộ huyện Phổ Yên lần thứ XX được
tổ chức Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: “ Trước hết là sản xuất tự túc được lương
Trang 27thực trên địa bàn huyện, bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu công nghiệp và tạo ra nguồn hàng xuất khẩu” Về sản xuất nông nghiệp, Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “ Tập trung quản lý lao động, quản lý tư liệu sản xuất, quy hoạch để hướng đến sản xuất hàng hóa quy mô lớn, xây dựng các cụm nghiền thức ăn tổng hợp cho gia súc, mỗi HTX cần phải quy hoạch vùng sản xuất thức ăn gia súc trên đất 10 - 15%, kiện toàn
hệ thống thú y từ huyện đến cơ sở [1, tr.187]
Tiếp nối chủ trương Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, từ 30 - 10 đến 1 - 11- 1982, Đại hội Đảng bộ huyện Phổ Yên lần thứ XXI được tổ chức, Nghị quyết Đại hội đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ của huyện giai đoạn 1983 - 1985 là: “ Trong nông nghiệp phải giữ vững quy mô hiện nay, khắc phục những mặt yếu kém trong quản lý nhằm đưa sản xuất phát triển Tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng nghành chăn nuôi, tạo điều kiện mở rộng các HTX quy mô nhỏ, đảm bảo ổn định đối với những HTX có khoảng 200 hộ
và 150 ha đất canh tác trở lên, khuyến khích các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương đa dạng hóa các ngành nghề, chú trọng phát triển thương mại – dịch vụ quốc doanh nhăm đáp ứng nhu cầu của các đơn vị và nhân dân trong huyện.[ 1, tr 191]
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Chỉ thị 100 CT- TW, Nghị quyết lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V), các Nghị quyết, Chỉ thị của Tỉnh ủy, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện, trong giai đoạn 1981 -1985, Phổ Yên đã đạt được những thành tựu quan trọng trong sản phát triển kinh tế Trong nông nghiệp: diện tích gieo trồng tăng từ 14.631 ha (năm 1983) lên 14.644 ha (năm 1985), năng suất tăng 16,3%, tổng sản lượng quy ra thóc đạt 21.591 tấn (bằng 81,6% mục tiêu Đại hội lần thứ XXI và tăng 17,6% so với năm 1983) Tốc độ tăng tổng sản lượng lương thực bình quân (1981 – 1985) là 7% [1,
tr 201] Ngoài lúa, Phổ Yên còn tăng cường trồng các loại cây khác như: Cây lạc,
đỗ, cây chè, tính đến năm 1985 huyện đã xuất khẩu được 677 tấn lạc vỏ, diện tích trồng đỗ đạt 746 ha, hàng năm cung cấp gần 100 tân đỗ hàng hóa, diện tích trồng chè đạt 213 ha, sản lượng đạt 50 tấn chè búp khô [1, tr.201]
Trang 28Chăn nuôi của huyện không ngừng phát triển, tính đến năm 1985 tổng đàn trâu có 12.752 con (bằng 79,7% mục tiêu Đại hội XXI và tăng 1,8% so với năm 1983), đàn lợn có 30.321 con (bằng 93,8% mục tiêu Đại hội XXI) Tốc độ phát triển nghành chăn nuôi bình quân (1981 – 1985) tăng 7,9% [1 tr.201]
Phong trào HTX nông nghiệp nhìn chung được ổn định, tính đến năm 1985, toàn huyện có 72 HTX nông nghiệp với 13.722 hộ ( chiếm 96,4% tổng số hộ) Qua phân loại năm 1985, số HTX khá chiếm 26,5%, HTX trung bình chiếm 54,2%, HTX yếu chiếm 19,3% [1, tr.202]
Các nghành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương gặp nhiều khó khăn do thiếu vật tư, thiếu điện và thị trường tiêu thụ, vượt lên trên những khó khăn
đó, nghành cũng có những bước phát triển khởi săc, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp và một phần nhu cầu đời sống của nhân dân
Thực hiện Nghị quyết Trung ương VIII ( Khóa V), Nghị quyết 28, Nghị quyết 31 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 117 của Hội đồng Bộ trưởng, huyện đã từng bước thực hiện cơ chế một giá, tăng cường quản lý, tổ chức lại thị trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại - dịch vụ phát triển góp phần phục vụ đời sống nhân dân
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy và căn cứ vào tình hình thực tế địa phương, huyện ủy đã nhanh chóng đưa ra các biện pháp thích hợp, tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ huyện đề ra
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII huyện Phổ Yên được tiến hành ( năm 1986), đã phân tích đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của địa phương Đại hội đã xác định phương hướng nhiệm kỳ tới là: Phát huy truyền thống cách mạng, nêu tinh thần tự lực tự cường, đoàn kết phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 1986 –
1990, tập trung chỉ đạo thắng lợi 3 chương trình kinh tế lớn mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, khai thác mọi tiềm nâng thực hiện chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của huyện [1, tr 206]
Trang 29Tiếp nối những chủ trương của Đại hội XXII, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIII ( 20/4/1989) đã tiếp tục đề ra thêm các chủ trương, biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội Đại hội tiếp tục xác định nhiệm vụ trọng tâm của huyện trong giai đoạn tiếp theo là “ Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng nhằm xây dựng Phổ Yên thành huyện có cơ cấu kinh tế nông - lâm - công nghiệp theo 3 chương trình kinh tế lớn là lương thực thực phẩm, hàng tiêu dung, hàng xuất khẩu, trong đó coi lương thực thực phẩm là khâu quyết định; phấn đấu cao nhất để giải quyết việc làm cho người lao động; làm chuyển biến một bước tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, tiến tới ổn định và dần dần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm an ninh, quốc phòng, làm tốt công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể.[ 1, tr 212]
Thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII, XXIII, Đảng
bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Phổ Yên đã không ngừng phấn đấu khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên tất cả các mặt, các lĩnh vực: Nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ và cơ chế quản lý kinh tế đều có những bước chuyển biến rõ nét
Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện đã có bước chuyển dịch đúng hướng, tốc độ tăng trưởng khá, sản xuất có bước phát triển từ nền sản xuất tự cấp tự túc đang dần chuyển sang sản xuất hàng hóa, hội nhập với thị trường trong vùng, đời sống nhân dân được ổn định và cải thiện nhất là về nhu cầu lương thực, thực phẩm, các hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống
Nông nghiệp
Trên lĩnh vực kinh tế, huyện tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách
đồng bộ, toàn diện Trước hết là sản xuất nông nghiệp, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn Đảng bộ huyện Phổ Yên đã tập trung lãnh đạo sản xuất lương thực bằng việc giữ ổn định diện tích gieo trồng của cả ba vụ Nông dân đã mở rộng diện tích vụ đông ra diện rộng, số diện tích đất một vụ không năng suất được chuyển thành mô hình trang trại có cơ cấu lúa xen cá, trên bờ trồng cây ăn quả
Trang 30Việc chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu cây, con, mở mang ngành nghề diễn ra sôi nổi ở các xã Hồng Tiến, Đắc Sơn, Trung Thành, Vạn Phái…
đã tạo nên "phong cách" mới của người làm nghề nông là vừa gắn với đồng ruộng vừa buôn bán, dịch vụ theo mô hình hợp tác xã nông, công, thương, tín Nông dân trong huyện thực hiện chuyển dịch cơ cấu giống, thời vụ, lúa chiêm xuân, lúa mùa
và chuyển dịch cơ cấu cây vụ đông; đồng thời đưa các giống lúa có năng suất cao vào gieo trồng như ĐH60, VD3 Huyện ủy chỉ đạo 6 xã làm mô hình về sản xuất giống lúa cấp I phục vụ cho chương trình cấp I hoá giống lúa của huyện Lúa xuân muộn được đưa vào sản xuất thực nghiệm tại xã Hồng Tiến Sản xuất nông nghiệp tính đến năm 1995 thu được kết quả khá, tổng sản lượng lương thực quy ra thóc trên địa bàn huyện đạt 37,495 tấn ( tăng 131,2% so với giai đoạn 1986 – 1989 chỉ đạt 25,900 tấn [1, tr 216] Trong năm 1995 do biến động của thời tiết, huyện đã gieo trồng được 9,468 ha lúa, năng suất lúa trung bình 29,5 tạ/ha ( trong đó có 155 ha lúa cao sản năng suất đạt từ 46 tạ/ha đến trên 50 tạ/ha) Diện tích các loại cây ngô, khoai lang, rau xanh, đậu, mía, đỗ tương đều tăng, trong đó khoai lang và sắn đạt cao nhất Diện tích trồng ngô đạt 471 ha ( trong đó xó 259 ha trồng ngô lai Biôxit, năng suất đạt 25,7 tạ/ha, khoai lang đạt 1,842 ha(năng suất đạt 80 tạ/ ha), sắn đạt
812 ha ( bình quân đạt 11,44 tạ/ha), lạc đạt 346 ha, rau xanh 68 ha Bình quân lương thực dầu người đạt 351kg/người/năm.[ 1, tr 217]
Huyện chỉ đạo công tác chuyển ghép ruộng đất từ năm 1996 đã đạt được những kết quả đáng kể: tổng diện tích đất đã chuyển ghép là 2.469 ha chiếm 29% diện tích gieo cấy hàng năm, trong đó chia lại là 2.175 ha [ 1, tr 217] Việc thực hiện ghép ruộng đất còn chậm do khó khăn về kinh phí, nhận thức của nhân dân, địa hình đất đai và một phần cũng là do các cấp chính quyền cơ sở lãnh đạo chưa sâu sát, ngại khó, công tác vận động tuyên truyền chưa sâu rộng Năm 1996 thời tiết diễn biến không thuận lợi, song với quyết tâm cao trong sản xuất nông nghiệp, huyện đã thực hiện vượt kế hoạch đề ra
Huyện chỉ đạo triển khai chương trình chuyển trà lúa chiêm xuân, giảm diện tích lúa chiêm chính vụ, tăng diện tích lúa xuân muộn Các điểm mô hình ở Hồng Tiến, Đắc Sơn, Trung Thành, Vạn Phái , năng suất lúa bình quân đạt 50,5 tạ/ha,
Trang 31cao hơn so với đối chứng 8-10 tạ/ha [ 1, tr 218], Chương trình chuyển trà vụ mùa được thực hiện, giảm trà cực sớm, mở rộng trà lúc sớm để vừa thâm canh cây lúa, vừa tạo thời vụ thích hợp cây trồng vụ đông Kết quả ở Hồng Tiến, Đồng Tiến, Trung Thành diện tích lúa ĐH60 cho năng suất 48,56 tạ/ha, tăng so với đối chứng giống CN2 là l0,6 tạ/ha, thời gian thu hoạch sớm, kịp thời cho sản xuất vụ đông, được nhân rộng trong huyện.[1,tr.218] Đồng thời, huyện chú trọng triển khai chương trình cấp I giống lúa, tiếp tục chỉ đạo ở 17 hợp tác xã của 10 xã, góp phần cung ứng giống cho toàn huyện Năm 1995, toàn huyện đã cấp I hoá giống lúa đạt 80% diện tích với các giống lúa phù hợp trên từng vùng canh tác, từng vụ; tình trạng gieo cấy quá nhiều loại lúa giống đã dược khắc phục
Uỷ ban nhân dân huyện đã chỉ đạo tiếp tục thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu mùa vụ theo hướng mở rộng trà lúa xuân cho chương trình lúa xuân muộn được triển khai tích cực, các điều kiện cần thiết phục vụ cho chương trình đã được triển khai Kết quả vụ chiêm xuân 1994 - 1995 toàn huyện có 10 - 16 xã, thị trấn tham gia chương trình lúa xuân muộn với tổng diện tích 700 ha Hợp tác xã Đông - Quang - Hồng, Ấm - Diện - Thành đạt năng suất trên 70 tạ/ha.[ 1, tr 218] Chính lúa xuân muộn đã góp phần tích cực nâng năng suất chung của huyện và tạo
đà cho các năm sau Kết quả lớn nhất là thay đổi tập quán sản xuất cũ và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
Diện tích gieo trồng tăng, cây trồng đa dạng, chủng loại phong phú có năng suất cao, tạo đà cho chăn nuôi phát triển Chăn nuôi chủ yếu phát triển trong các hộ gia đình Từ năm 1990 đến 1995, sản lượng đàn lợn tăng 14,6%, tổng đàn lợn từ 33,570 con tăng lên 43,899 con, sản lượng đàn trâu, bò tăng 9,3%, tổng đàn bò từ 3,388 con tăng lên 4,793 con, đàn trâu từ 12,821con lên 17,342 con, gia cầm đạt 490,000 con Huyện tiếp tục cải tạo đàn bò theo hướng "Sind hoá".Sản lượng thịt hàng năm đạt từ 2000 đến 2200 tấn, cơ bản đáp ứng được nhu cầu thực phẩm trên thị trường Chương trình nạc hoá đàn lợn bị hạn chế vì thị trường tiêu thụ hạn hẹp ,do đó, huyện đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp, ngan lai, nuôi cá [1, tr 218 -219]
Có được những kết quả đáng kể về trồng trọt, chăn nuôi là do huyện làm tốt công tác khuyến nông Hệ thống khuyến nông từ huyện đến cơ sở được hình thành,
Trang 32l8/18 xã đã lập được tổ khuyến nông Các tổ khuyến nông bước đầu hoạt đồng tốt,
tổ chức trình diễn nhiều tập đoàn giống mới như ngô ĐK888, ĐK999, khoai tây, lúa X20, X21 ngan siêu trứng, siêu thịt, vịt Bắc Kinh…
Về lâm nghiệp
Huyện đã đẩy nhanh được tiến độ trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc Trong 2 năm 1989 – 1990, toàn huyện đã trồng được 1523 ha rừng, tăng 20,3 lần so với nhiệm kỳ trước ( trong đó có 1135 ha được trồng theo chương trình PAM) Đến giai đoạn 1990 – 1995 tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện tăng lên 3,919 ha, giá trị sản xuất lâm nghiệp đã tăng từ 535 triệu (năm 1990) lên 608 triệu (năm 1995) [1, tr 219]
Nghành công nghiệp, xây dựng cơ bản, tiểu thủ công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp còn nhiều khó khăn, chưa có mặt hàng có giá trị kinh tế cao, nhiều doanh nghiệp thiếu việc làm Để khắc phục, huyện chủ trương tiếp tục đổi mới kỹ thuật, đầu tư thích đáng cho các xí nghiệp nhỏ, khuyến khích phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sử dụng nhiều lao động Phát triển mạnh các nghề truyền thống như mộc, rèn, vật liệu xây dựng; tăng cường liên doanh liên kết với bên ngoài để tạo nguồn vốn cho phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, sửa chữa cơ khí và máy móc thiết bị
Nhờ có những chủ trương đúng đắn, sát hợp với thực tế địa phương, nên sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được đầu tư mở rộng, và có bước tăng trưởng khá, tính đến 1995 nhịp độ tăng trưởng bình quân mỗi năm đạt 25%, giá trị tổng sản lượng sản xuất tăng dần từ 6,570 triệu đồng (năm 1990) lên 11,921 triệu đồng (năm 1995) Doanh thu của một số nhà máy như : Nhà máy cơ khí Phổ Yên, Vòng bi, Phụ tùng máy số 1 tăng từ 129 tỉ đồng ( năm 1992) lên 189 tỉ đồng (năm 1995) Đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu với quỹ hàng hóa địa phương đạt từ 2 đến 2,5 triệu đồng/năm Các nghành công nghiệp địa phương, tiểu thủ công nghiệp được đẩy mạnh đầu tư đạt sản lượng từ 1,3 đến 1,56 triệu đồng [ 1 tr 220]
Một số ngành nghề như: Khai thác, chế biến, sản xuất cát sỏi, gạch ngói, xay xát, sản xuất đồ kim khí, đồ mộc dân dụng, chế biến thực phẩm có chiều hướng phát
Trang 33triển Làng nghề xây dựng ở Hiệp Đồng, Thành Công có bước tiến mới Hàng năm các tốp thợ xây dựng công trình ở nhiều nơi có doanh thu bốn đến năm tỷ đồng
Tuy vậy, một số ngành sản xuất, nhất là sản xuất vật liệu xây dựng lại chững
lại Việc sản xuất gạch ngói chưa được quy hoạch thành vùng đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp Một số ngành nghề mới như nuôi trồng thủy sản, chế biến thực phẩm, sản xuất đồ kim khí do sản xuất thủ công lạc hậu, nghèo nàn về mẫu mã, nên chưa cạnh tranh được trên thị trường Việc phát triển giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, bưu điện, tài chính tiền tệ dược huyện chú trọng và đầu tư thích đáng Trong 2 năm (1989 - 1990) tổng số vốn đầu tư tăng gấp
3 lần so với nhiệm kỳ trước Đến giai đoạn 1990 - 1995, tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản của huyện là 31,904 triệu đồng, tăng 122,5% so với 1986 - 1990 Trong đó vốn Trung ương, Tỉnh chiếm hơn 70%, còn lại là vốn từ ngân sách huyện
và huy động từ nhân dân Trong những nghành được chú trọng đầu tư, nông nghiệp
- thủy lợi vẫn chiếm ưu thế, chiếm 13,493 triệu đồng, sau đến giao thông chiếm 2,819 triệu đồng .[1, tr 221]
Những lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, văn hóa cũng được đầu tư xây dựng Chính nhờ những cố gắng đó của Đảng bộ huyện, bộ mặt xã hội ở nông thôn có nhiều thay đổi, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế của huyện
Ngành thương mại, dịch vụ
Các hoạt động thương mại dịch vụ cũng có những chuyển biến tích cực: Thu ngân sách hàng năm luôn vượt 15 – 20%, tổng mức bán lẻ hàng hóa đã tăng 7,508 triệu (năm 1990) lên 30,818 triệu (năm 1995), trong đó kinh tế ngoài quốc doanh có tốc độ tăng trưởng nhanh, giá trị sản xuất đã tăng từ 4,128 triệu đồng ( năm 1990) lên 18,800 triệu động, tăng hơn 14,000 triệu đồng, còn lại là kinh tế quốc doanh vẫn tăng trưởng với tốc độ khá Nghành dịch vụ, thương mại với tốc độ tăng nhanh sẽ giữ vị trị quan trọng trong cơ cấu kinh tế huyện những năm tiếp theo.[1 tr 221-222]
Chuyển dịch thành phần kinh tế
Trước năm 1996, trên địa bàn huyện Phổ Yên, ngoài hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể đã xuất hiện thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và cá thể tiểu chủ
Trang 34Thành phần kinh tế quốc doanh trên địa bàn bao gồm các công ty, nhà máy,
xí nghiệp, nông, lâm trường của Trung ương và địa phương Trong đó nổi lên là nhà máy cơ khí Phổ Yên, nhà máy xây lắp II Thực hiện Nghi quyết “Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần kinh tế” của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII ( Tháng 11/1991) và Đại hội VIII Đảng bộ Bắc Thái, các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể trên địa bàn huyện có sự thay đổi rất mạnh mẽ Hoạt động của các HTX được cải tiến, cơ chế khoán được áp dụng, các HTX chú trọng vào việc làm dịch vụ
hỗ trợ sản xuất thay vì tổ chức và điều hành sản xuất như trước Nhờ chính sách khoán sản phẩm nên kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển, chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa [1, tr 223]
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ
Với những thành tựu đã đạt được trong 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Phổ Yên ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội bước sang thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Dưới ánh sang của các nghị quyết của Trung ương và Tỉnh ủy, Đại hội Đảng bộ huyện Phổ Yên lần thứ XXV nhiệm kỳ 1996 – 2000 được tiến hành Trên cơ sở đánh giá tình hình thự hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV, Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ đã khẳng định: “ Dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Ban Chấp hành Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Phổ Yên đã không ngừng phấn đấu, khắc phục khó khăn, nỗ lực vươn lên hoàn thành toàn diện các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra, đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, tạo thế ổn định và đi lên ngày càng vững chắc” [ 1, tr.244]
Trên cơ sở những thành tựu đạt được, từ những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm đã được rút ra, Đại hội lần thứ XXV của Đảng bộ huyện Phổ Yên đã đề ra phương hướng tổng quát cho những năm tới: “Phương hướng chủ yếu thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện là từng bước tiến hành công nghiệp hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đẩy nhanh hơn nữa việc tổ chức khai thác các tiềm năng về lao động, đất đai, tài nguyên khoáng sản và thế mạnh kinh tế đồi rừng, xây dựng các vùng nguyên liệu hàng hóa tập trung để phát triển công nghiệp
Trang 35chế biến, mở mang phát triển nghành nghề dịch vụ, phấn đấu tạo ra những mũi nhọn
về phá thế độc canh cây lúa, chuyển dịch 30% lao động nông nghiệp sang lĩnh vực nghành công nghiệp, dịch vụ, đưa tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm 40% trong cơ cấu kinh tế vào năm 2000.” [1, tr.246]
Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, Đại hội đã đề ra một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 là:
1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 9%, trong đó nông, lâm, thủy sản tăng 5%, công nghiệp – xây dựng tăng 15%, thương mại dịch vụ tăng 16%
4 Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương tăng 3 lần
so với năm 1995 Nâng cao tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu nghành kinh tế của huyện lên trên 40% vào năm 2000
Từ phương hướng và chỉ tiêu, quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện trong 5 năm 1996 – 2000 là:
1 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển đa dạng sản xuất nông, lâm nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hóa
Mục tiêu đầu tiên về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp là ổn định vững chắc tình hình sản xuất lương thực, đảm bảo an toàn về cân đối lương thực, phát huy thế mạnh vùng trọng điểm lúa của Tỉnh
Hướng phấn đấu trong 5 năm tới là đẩy mạnh đầu tư thâm canh, áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tập trung đầu tư vùng thâm canh lúa cao sản, trên cơ sở đó mạnh dạn chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng đa dạng hóa, từng bước nâng cao tỷ trọng sản xuất hàng hóa trong
Trang 36nông nghiệp Bên cạnh đó phải bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, nhằm tăng nhanh hệ số quay vòng sử dụng đất đặc biệt trong bố trí cơ cấu cây trồng vụ đông
Trong lâm nghiệp tập trung chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ vốn rừng hiện
có, thực hiện giao đất giao rừng tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức khai thác tiềm năng kinh tế đồi rừng, phát triển mạnh nghề trồng cây ăn quả, trồng và chế biến chè, khai thác và chế biến lâm sản, hình thành và mở rộng mô hình kinh tế trang trại, thực hiện phương thức nông lâm kết hợp, tăng dần độ che phủ và bảo vệ tài nguyên môi trường
Phát triển đa dạng các loại hình chăn nuôi, áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng xuất chất lượng và hiệu quả kinh tế, đưa chăn nuôi phát triển thành nghành sản xuất chính, có tỷ trọng đạt 50% giá trị sản lượng nông nghiệp vào năm 2000
Hướng phát triển chủ yếu là tăng nhanh đàn gia súc gia cầm cả về số lượng
và chất lượng, tập trung cải tạo đàn bò, đàn lợn, phấn đấu Sind hóa 30% tổng đàn
bò, nạc hóa 20% tổng đàn lợn, đồng thời phát triển mạnh các loại gia cầm và chăn nuôi thủy sản cho giá trị sản phẩm hàng hóa cao
2 Phát huy mọi nguồn lực tập trung thúc đẩy sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương phát triển
Bước vào thời kỳ CNH – HĐH trong nhiệm kỳ 1996 – 2000, toàn Đảng bộ huyện đứng trước nhiệm vụ hết sức cấp bách là phải tập trung phấn đấu để thực hiện cho được bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm 40% tổng sản phẩm vào năm 2000 Chỉ có trên cơ sở
đó mới đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt 9% năm
Trước hết các đơn vị kinh tế quốc doanh Trung ương và Tỉnh đóng trên địa bàn cần nhanh chóng vươn lên, đẩy mạnh các hoạt động liên doanh liên kết, thu hút đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ, phát huy ảnh hưởng thúc đẩy các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển Phấn đấu đến năm 2000 xây dựng được một số cơ sở chế biến chè
ở vùng 2, bảo đảm khai thác chế biến và tiêu thụ toàn bộ sản phẩm chè nguyên liệu trong cả vùng
Trang 37Tập trung phát triển mạnh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở địa bàn nông thôn, khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống,
mở mang thêm các nghành nghề mới, tổ chức khai thác tốt nghề khai thác cát sỏi, sản xuất gạch ngói các loại, hình thành các làng nghề trong nông thôn như: Đan lát thủ công, thêu ren xuất khẩu, làng nghề mộc, nghề dâu tằm, nghề xây dựng dân dụng, nghề trồng hoa cây cảnh phấn đấu chuyển dịch 30% lao động sang lĩnh vực phát triển nghành nghề dịch vụ
Từng bước thực hiện cơ giới hóa những khâu lao động nặng nhọc trong sản xuất nông, lâm nghiệp, khuyến khích các tập thể, các hộ gia đình mua sắm các công
cụ lao động cơ khí như: máy làm đất, máy bơm nước, máy tuốt lúa, thiết bị chế biến nông lâm sản thực phẩm, phấn đấu đến năm 2000, có 30% số hộ thực hiện cơ giới hóa khâu làm đất
Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ về các lĩnh vực sửa chữa cơ khí, vận tải, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, cung ứng vật tư, chuyển giao công nghệ
3 Phát triển cơ sở hạ tầng và thương mại, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống
Tiếp tục đẩy nhanh phát triển đo thị, tập trung hoàn chỉnh dự án quy hoạch các thị trấn thị tứ, các trung tâm thương mại dịch vụ, tạo cơ sở thu hút đầu tư, mở mang xây dựng, phát triển giao lưu hàng hóa dịch vụ với thị trường bên ngoài, từng bước trở thành huyện cửa ngõ cả về giao lưu buôn bán
Trong thời gian tới triển khai dự án phát triển khu du lịch Hồ Suối Lạnh, phấn đấu đưa kinh doanh du lịch trở thành một nghành kinh tế của huyện vào năm 2000
Phát triển mạnh hoạt động thương mại dịch vụ với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, củng cố thương nghiệp quốc doanh đủ sức vươn lên nắm khâu buôn bán, chi phối bán lẻ, đáp ứng kịp thời các nhu cầu thiết yếu phục vụ sản xuất
và đời sống nhân dân [ 1, tr.250 - 251]
1.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ
1.2.1 Sự chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT của Đảng bộ huyện Phổ Yên giai đoạn 1997 - 2000 diễn ra trong bối cảnh đường lối đổi mới toàn diện của Đảng thu
Trang 38được những thắng lợi to lớn Có thể nói việc đề ra những định hướng to lớn trên trong điều kiện nền kinh tế sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các cơ sở công nghiệp còn lạc hậu, lực lượng sản xuất nhỏ bé, quan hệ sản xuất chưa được củng cố vững chắc, việc sản xuất hàng hóa lớn chưa có điều kiện bước vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Phổ Yên phải có quyết tâm và niềm tin sâu sắc về chặng đường đã qua và nhận thức những thời cơ cũng như thách thức đầy gian lao thử thách trong sự vận động đi lên của đất nước và thời đại
Dưới ánh sáng của Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương và Tỉnh ủy, ngay sau Đại hội lần thứ XXV, Ban Chấp hành huyện ủy đã tập trung xây dựng và đề ra các nghị quyết chuyên đề trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng
để lãnh đạo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra, đặc biệt là trọng tâm là phát triển kinh tế và chuyển dịch CCKT
Để thực hiện mục tiêu chuyển dịch CCKT có hiệu quả, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã chỉ đạo sát sao, đồng thời triển khai thực hiện nhiều giải pháp mang tính đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực tạo điều kiện cho chuyển dịch CCKT được thực hiện Các cấp Đảng ủy, chính quyền, các ngành chức năng từ huyện đến
cơ sở căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình chủ động việc cụ thể hóa Nghị quyết thành các chương trình, đề án, kế hoạch công tác, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn Phân công trách nhiệm rõ ràng cho các đồng chí cấp ủy viên thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng bộ huyện, thường xuyên tiến hành sơ kết, tổng kết kịp thời nhằm rút kinh nghiệm lãnh đạo có hiệu quả hơn Nhiều Nghị quyết, chuyên đề và chương trình hành động đã được ban hành như: Nghị quyết 05 về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp, Nghị quyết 08 về đầu tư phát triển các nghành thủ công nghiệp truyền thống, Nghị quyết 175 về chuyển đổi thành lập hợp tác xã theo luật, Nghị quyết về cứng hóa kênh mương…
Nghành nông – lâm – thủy sản Đảng bộ huyện đều có hướng chỉ đạo sâu
sát, thiết thực Về sản xuât nông nghiệp, huyện tập trung chỉ đạo thực hiện chương trình cấp I, II hóa giống lúa mới đưa vào sản xuất như: lúa lai dòng DV108, X123 lúa bao thai, khang dân, lúa thuần Trung Quốc, nếp cái hoa vàng, giống lạc
Trang 39TB1,TB2, các giống ngô lai BIÔSÍT, ngô nếp Bên cạnh chuyển đổi các giống mới, huyện còn đổi mới các biện pháp thâm canh, nâng cao năng xuất, chất lượng Đảng
bộ huyện còn chú trọng giải quyết công tác thủy lợi, cơ hóa kênh mương nhằm chủ động cho tưới tiêu và tiêu úng mùa vụ Ngoài ra Đảng bộ huyện còn triển khai nhiều biện pháp tích cực để thúc đẩy sản xuất như: Tổ chức tập huấn, phổ biến và chuyển giao kỹ thuật cho các xã viên để tiếp thu và gieo trồng giống mới
Cùng với trồng trọt chăn nuôi cũng được huyện quan tâm, khuyến khích phát triển tiến tới chăn nuôi trở thành nghành sản xuất chính mang hàng hóa, huyện
ủy tiến hành đưa con giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất nhằm mang lại hiệu quả cao Các giống mới như: Lợn mán, ngan Pháp, vịtt siêu trứng, bồ câu Pháp, trê nai, baba, ếch, nuôi nhím …được phát triển nhân rộng ở nhiều nơi Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản cũng được huyện mở rộng, nhiều mô hình VAC cũng được thử nghiệm thành công ở nhiều xã: Hồng Tiến, Trung Thành, Nam Tiến…mỗi năm cho thu lãi 30 đến 50 triệu đồng
Nghành sản xuất công nghiệp - xây dựng và thủ công nghiệp: Huyện ủy giao
cho Phòng Công thương xây dựng, quy hoạch phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, chú trọng khôi phục một sô làng nghề truyền thống như: Nghề mây tre đan (
ở xã Tiên Phong), nghề sản xuất gạch nung thủ công( ở các xã Đắc Sơn, Nam Tiến, Hồng Tiến, Đồng Tiến), nghề sản xuất chè khô ( ở các xã Vạn Phái, Đông Cao, Thành Công) Các làng nghề được khuyến khích phát triển dưới nhiều hình thức: HTX, xí nghiệp, doanh nghiệp tổ hợp, bên cạnh đó huyện tập trung quy hoạch, hình thành bước đầu các cụm công nghiệp, công nghiệp địa phương như; sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm
Nghành thương mại, dịch vụ: Đảng bộ huyện chỉ đạo phải duy trì và mở
rộng các trung tâm: Ba Hàng, Bãi Bông, Yên Bình, phát triển mạng lưới chợ và đẩy mạnh hoạt động dịch vụ trong nông thôn và các khu vực khác trong huyện tạo nên một hệ thống bán lẻ rộng khắp, góp phần tăng cường trao đổi hàng hóa, vật tư nguyên liệu phục vụ cho sản xuất và tiêu dung trong địa bàn huyện và các vùng lân cận, đặc biệt là thị trường ở Hà Nội
Trang 401.2.2 Sự chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
Đo đặc điểm địa hình của huyện có chung một địa hình nên phân chia các vùng kinh tế của huyện cũng không thật sự thuận lợi, trên cơ sở nắm chắc tình hình từng vùng, huyện ủy Phổ Yên đã bố trí đúng ngành, đúng cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng:
Vùng kinh tế thuần nông độc canh cây lúa: tăng cường đầu tư hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất, phát triển các loại cây lương thực như: ngô, khoai lang, lạc, cây rau vụ đông, phát triển chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm
Vùng có điều kiện đất đai thuận lợi cho quy hoạch trồng cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày: tập trung mở rộng diện tích bằng cách luân canh tăng vụ, trồng nhiều cây công nghiệp ngắn ngày như: lạc, đậu tương, quy hoạch diện tích trồng chè tập trung có chất lượng tốt hướng đến xuất khẩu
Những vùng có làng nghề truyền thống về các nghề thủ công truyền thống như: Yên Phong, Đắc Sơn…có chính sách, chủ trương khuyến khích phát triển, tạo
ra những sản phẩm thủ công nghiệp đáp ứng nhu cầu của địa phương và các vùng lần cận [ 1, tr.253 - 255]
1.2.3 Sự chỉ đạo chuyển dịch thành phần kinh tế
Để đáp yêu cầu của sự chuyển đổi mô hình cơ chế quản lý từ mô hình kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế thế giới, chủ trương của Đảng bộ huyện tiếp tục khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, huyện ủy đẩy mạnh sắp xếp các doanh nghiệp quốc doanh, hình thành và phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã, kinh tế tư nhân được tạo mọi điều kiện phát triển
Nhờ những chủ trương, nghị quyết đúng đắn, bám sát tình hình phát triển của huyện và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân nên được nhân dân đồng tình ủng hộ, việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết đại hội đã mang lại hiệu quả cao và giành được những thành tựu khả quan trên các lĩnh vực, đặc biệt là phát triển kinh tế và chuyển dịch CCKT