Làm thế nào để giáo dục những học sinh, sinh viên trở thành những con người phát triển cao về trí tuệ, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, với một nhân cách phát triển vừa hồn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THẾ KIỆT
Trang 3Để thực hiện được mục tiêu trên, một trong những nhiệm vụ trước mắt, hàng đầu phải là chăm lo giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Đây là một vấn đề
có ý nghĩa lớn trong chiến lược phát triển con người của Đảng ta, trong đó, học sinh, sinh viên ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học là những đối tượng hết sức quan trọng
Là những chủ nhân tương lai của đất nước, đại bộ phận học sinh, sinh viên Việt nam nói chung và học sinh, sinh viên Ngân hàng nói riêng đều có những phẩm chất đáng quý như: tin tưởng vào sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi mới của đất nước, biết giữ gìn những giá trị truyền thống của dân tộc, có lòng tự trọng và chú ý tới việc phát triển, hoàn thiện nhân cách Song bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận học sinh, sinh viên có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, sống theo lối thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân, của đất nước như nghị quyết Trung ương II khoá VII đã nhận định: "Nạn rượu, chè, cờ bạc, ma tuý đang xâm nhập vào nhà trường, gây ảnh hưởng xấu đến học sinh, sinh viên"
Trang 4Như vậy đổi mới, mở cửa, thuận lợi, khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau trong quá trình xây dựng đạo đức mới cho học sinh, sinh viên Làm thế nào để khắc phục được những tình trạng trên? Làm thế nào để giáo dục những học sinh, sinh viên trở thành những con người phát triển cao về trí tuệ, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, với một nhân cách phát triển vừa hồng vừa chuyên Đó là những vấn đề lớn hết sức bức xúc mà thực tiễn giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên nói chung và học sinh, sinh viên Ngân hàng nói riêng đã và đang đặt ra
Đề tài "Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ngân hàng
trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam" này muốn góp một phần nhỏ vào việc
giải quyết những vấn đề lớn đó
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức đã có nhiều công trình, bài viết, tác phẩm đề cập đến như cuốn "Đạo đức mới" của GS Vũ Khiêu (NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1974); cuốn "Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới" của
GS Tương Lai (NXB Sự thật, Hà Nội, 1983)
Một số tài liệu dưới dạng giáo trình và tài liệu tham khảo do Bộ Giáo Dục và Đào tạo xuất bản phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập môn đạo đức học ở một số trường Đại học và Cao đẳng như cuốn "Đạo đức học" tập 1, tập 2
Một số những công trình nghiên cứu như "Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên trong điều kiện kinh tế thị trường" của Thái Duy Tuyên (chủ biên) Hà Nội, 1994; "Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát triển, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài" của Thái Trọng Bảo (chủ biên), Hà Nội, 1996
Trong một số tạp chí đã có rất nhiều bài viết xung quanh vấn đề đạo đức
Trang 5hướng các giá trị đạo đức hiện nay" của TS Nguyễn Thế Kiệt; "Kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, những biến động trong lĩnh vực đạo đức" của GS Nguyễn Trọng Chuẩn; "Vấn đề xây dựng đạo đức trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường" của TS Đỗ Lan Hiền; "Vấn đề xây dựng đạo đức nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay" của
TS Nguyễn Văn Phúc; "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý"của PGS.TS Nguyễn Tĩnh Gia; "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay" của PGS TS Nguyễn Chí Mỳ… cùng một số luận văn nghiên cứu như "Vai trò đạo đức mới trong hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Thị Lành, "Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trong nền kinh tế thị trường ở thành phố
Hồ Chí Minh" của Phạm Thìn…
Mỗi tác phẩm, mỗi bài viết đề cập đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức ở mỗi góc độ khác nhau Song qua các tài liệu tìm được, chưa có tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống việc giáo dục đạo đức đối với học sinh, sinh viên Ngân hàng trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam Để góp phần vào việc tìm hiểu, làm rõ thêm vấn đề còn được ít quan tâm, tôi đã chọn
đề tài này để nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích:
Trên cơ sở phân tích thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng, từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng ở Việt nam hiện nay
- Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Trang 6+ Góp phần làm rõ tầm quan trọng, yêu cầu, nội dung của giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng hiện nay ở Việt Nam
+ Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ngân hàng và nguyên nhân của nó
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ngân hàng trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên đang được đào tạo tại Học viện Ngân hàng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của triết học và đạo đức học Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt nam, đồng thời luận văn có sử dụng các thành tựu của một số công trình khoa học đã đựơc công bố của các tác giả có liên quan đến những nội dung đã được đề cập trong luận văn
Mác Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp khác như điều tra xã hội, thực nghiệm tâm lý
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng hiện nay ở Việt Nam
Trang 7- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng của giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng hiện nay
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để xây dựng chương trình môn đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên Ngân hàng, nhằm góp phần hạn chế và từng bước xoá bỏ sự xuống cấp về mặt đạo đức trong một bộ phận học sinh, sinh viên Ngân hàng hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được chia thành 2 chương 4 tiết
Chương 1: Đạo đức, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho học sinh,
sinh viên ngân hàng ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ngân hàng ở Việt
Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
Trang 8Chương 1 ĐẠO ĐỨC, TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH, SINH VIÊN NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển của con người
1.1.1 Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh Mos: (Moris) có nghĩa là lề thói, tập tục, là sự đánh giá hành vi của con người theo khuôn phép và quy tắc đạo đức, được biểu hiện thành những khái niệm về thiện, ác, vinh, nhục, lương tâm, nghĩa vụ Lịch sử đạo đức cho tới nay đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau:
Ở phương Đông, các học thuyết của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn
từ cách hiểu về đạo và đức của họ: Đạo có nghĩa là con đường, là đường đi, và
về sau khái niệm này được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã hội Khái niệm Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính của con người, và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo Có thể nói, quan niệm về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo
Ở phương Tây, các nhà triết học đã rơi vào quan điểm duy tâm khi xem xét vấn đề về đạo đức Họ quy đạo đức của con người vào"ý niệm siêu cảm giác" hay "ý niệm của điều thiện" như quan niệm của Aristot Có quan niệm lại quy đạo đức về ý chí thần thánh như quan niệm của tôn giáo Có quan niệm lại coi đạo đức là năng lực tiên thiên của con người như quan niệm của Cantơ Hay Hêghen lại quan niệm đạo đức là sự thể hiện của "ý niệm tuyệt đối", hoặc Phoiơbăc lại quy đạo đức vào tình yêu chung chung trong quan hệ của con người Nhưng với ông, con người chỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến
Trang 9Nhìn chung, các quan niệm trên không thấy được tính quy định của nhân
tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nói chung và của đạo đức nói riêng
Do vậy, đạo đức với tính cách là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của con người, của xã hội cần được nhìn nhận một cách tách rời với cơ sở kinh tế- xã hội, cái sinh ra và quy định nó Sự ra đời của triết học macxit là một bước tiến mới trong việc nhìn nhận vấn đề đạo đức và giải quyết đúng đắn những vấn đề
mà trước đó chưa có một trường phái triết học nào giải quyết được Đó là:
Thứ nhất: Đạo đức là một hiện tượng tinh thần, là một hình thái của ý
thức xã hội, là thuộc tính thứ hai so với tồn tại xã hội
Thứ hai: Ý thức đạo đức là sự phản ánh của đời sống xã hội, là sản
phẩm của những hình thái kinh tế xã hội cụ thể, và trong xã hội có giai cấp thì đạo đức phát triển trong sự đối lập giai cấp và đấu tranh giai cấp Ănghen đã khẳng định: "Xét đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế xã hội lúc bấy giờ, và cho tới nay xã hội
đã vận động trong sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp" [28, tr.136]
Thứ ba: Đạo đức bao gồm một hệ thống các giá trị tinh thần của xã hội
được định hình bằng những nguyên tắc, quy tắc, những chuẩn mực…nó giúp cho con người định hướng trong hành động của mình
Thứ tư: Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người
trong các hoạt động, làm cho lợi ích giữa cá nhân và cộng đồng được hài hoà, hợp lý hơn
Từ những quan điểm cơ bản trên, có thể hiểu: Đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội
Trang 10Đạo đức là một hiện tượng xã hội, được nảy sinh từ những nhu cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm lịch sử của xã hội do tồn tại xã hội quy định và phát triển cùng với sự phát triển của tồn tại xã hội Ngay từ buổi sơ khai của nhân loại, với công cụ lao động hết sức thô sơ của người nguyên thuỷ, của cải vật chất sản xuất ra chỉ đủ để nuôi sống mình một cách hết sức chật vật thì họ
đã sớm nhận ra rằng: Muốn duy trì sự tồn tại của mình thì phải biết dựa vào
nhau, phải tiến hành lao động sản xuất Từ đó đã hình thành lên ý thức tư
tưởng như: ý thức tương trợ, ý thức hợp tác, bình đẳng Nó được coi là những công cụ để tự bảo vệ và là những nguyên tắc, những chuẩn mực của xã hội Tuy nhiên, đạo đức trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ còn hết sức thô sơ, chưa trở thành một hình thái ý thức xã hội riêng biệt Ănghen đã viết: "Với tất
cả cái tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao, không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, không có nhà tù, không có những vụ xử án thế mà mọi việc đều trôi chảy cả…Tất cả đều bình đẳng và tự do kể cả phụ nữ" [1, tr.156]
Khi chế độ tư hữu ra đời, trong xã hội đã có sự phân chia giai cấp Hình thái kinh tế xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử đó là hình thái chiếm hữu
nô lệ Với sự xuất hiện giai cấp trong xã hội thì những tư tưởng đạo đức vốn có trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ trước đây đã bị phá vỡ và hình thành lên một nền đạo đức mới mở đầu cho lịch sử đạo đức mang tính giai cấp Trong xã hội chiếm hữu nôlệ, đạo đức của giai cấp nô lệ đối lập, đấu tranh gay gắt với đạo đức của giai cấp chủ nô Tình trạng bạo lực, bất bình đẳng, tham lam ngày một gia tăng Giai cấp chủ nô đã tìm mọi thủ đoạn để đàn áp giai cấp nô lệ Ănghen đã coi đây là một sự phát triển thụt lùi của đạo đức trong xã hội: "Chính những động cơ hèn hạ nhất, tính tham lam tầm thường, lòng khao khát khoái lạc thô bạo, tính bủn xỉn hèn hạ, nguyện vọng ích kỷ muốn ăn cắp
Trang 11chính là thủ đoạn bỉ ổi nhất, trộm cắp, bạo lực, tính xảo quyệt, sự phản bội đã phá vỡ xã hội thị tộc không có giai cấp và đã đưa xã hội đó đến chỗ diệt vong" [1, tr.159]
Sang chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ phong kiến tuy con người đã được giải phóng khỏi sự ràng buộc của giai cấp chủ nô nhưng những luật lệ hà khắc, những quy định ngặt nghèo đã trói buộc người lao động vào những quan
hệ có tính đẳng cấp phong kiến Thói đạo đức giả, hiếu danh, gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán đã làm cho một số người mất hết nhân phẩm Họ chạy theo địa vị, chức tước để mưu cầu lợi ích riêng cho bản thân và gia đình
họ
Chủ nghĩa tư bản ra đời là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại Nó đã thúc đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự thay thế quan hệ sản xuất phong kiến bằng quan hệ sản xuất tư bản đã dẫn đến biến đổi của cả hệ thống đạo đức xã hội.Quan hệ hàng hoá-tiền tệ thâm nhập vào tất
cả các ngõ ngách xã hội, phá tan những sợi dây đạo đức trói buộc con người Ở đây chủ nghĩa cá nhân tư sản là nguyên tác cơ bản của đạo đức tư sản Nếu xét
về mặt lịch sử thì chủ nghĩa cá nhân tư sản chỉ đóng vai trò tích cực ở buổi bình minh của nó Nó đã chiến thắng quan hệ đẳng cấp phong kiến dưới khẩu hiệu cách mạng tư sản là tự do, bình đẳng, bác ái Tuy nhiên, sự bình đẳng ở đây chỉ là sự bình đẳng hình thức chú không phải là bình đẳng trong thực tế cuộc sống xã hội Theo Mác và Ăngghen, giai cấp tư sản đã làm cho giữa người với người không có một mối liên hệ nào khác ngoài quan hệ lợi hại trắng trợn và sự giao dịch tiền bạc nhạt nhẽo Tất cả các hoạt động, cùng với trí tuệ, tình cảm, danh dự và lương tâm con người đều trở thành đối tượng mua bán Lòng tham không đáy ấy chiếm địa vị thống trị trong gia đình, hoạt động báo chí, khoa học, nghệ thuật và chính trị của giai cấp tư sản Ở đây vấn đề
Trang 12công lý và nền đạo đức trong xã hội không được bảo đảm bình thường, con người trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy giảm
Đối lập với đạo đức của giai cấp tư sản là đạo đức vô sản Theo Ăngghen, đây là nền đạo đức có nhiều yếu tố hứa hẹn nhất, lâu dài và chắc chắn nhất, nền đạo đức tiêu biểu cho tương lai: "Cái gì gọi là tốt đối với giai cấp thống trị, thì cũng phải là tốt đối với toàn xã hội và giai cấp thống trị coi mình đồng nghĩa với toàn thể xã hội" [29, tr.263]
Như vậy, đạo đức không phải là một hiện tượng siêu nhiên thần bí, không phải là một lực lượng áp đặt từ bên ngoài vào xã hội, Đạo đức cũng không phải là sản phẩm chủ quan của con người mà trước hết là do yêu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất, trong phân phối sản phẩm cũng như trong đấu tranh để sinh tồn và phát triển Đạo đức trong mỗi chế độ xã hội không nhất thành bất biến như nhau mà phụ thuộc vào từng thời đại, từng giai cấp, từng dân tộc Ănghen đã khẳng định: "Từ dân tộc này sang dân tộc khác,
từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện, ác đã biến đổi nhiều khi tới mức chúng trở thành trái ngược nhau" [31,tr.135] Tuy nhiên, đạo đức có tính độc lập tương đối của nó, nó tác động tích cực trở lại đối với tồn tại
xã hội, nó có vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi hình thành cho tới nay đã khẳng định vai trò rất to lớn của đạo đức trong việc duy trì trật tự, ổn định và phát triển xã hội Việc xã hội phát triển nhanh hay chậm, tiến bộ hay thụt lùi, suy cho cùng là do bản thân con người có nhận thức đúng đắn các quy luật hay không, có hướng hoạt động của mình phù hợp với quy luật hay không Nhìn chung trong xã hội con người luôn có nhu cầu hướng tới những giá trị đạo đức tốt đẹp như cái thiện, cái nhân đạo, cái trung thực, làm tròn các nghĩa vụ đạo đức đối với xã hội Những giá trị đạo đức đó khi đã được hình thành ở mỗi con
Trang 13đó, đạo đức đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo dựng nên một cuộc sống tốt đẹp cho xã hội Nó quyết định thái độ, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người đối với bản thân, với mọi người Quá trình phát triển của lịch sử xã hội, đạo đức trở thành một mục tiêu, đồng thời cũng là động lực để phát triển đất nước
Có thể phân tích vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội thông qua các
chức năng cơ bản sau:
- Chức năng điều chỉnh hành vi:
Loài người đã có nhiều những phương thức điều chỉnh mối quan hệ hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội như phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức tất cả các phương thức điều chỉnh ấy đều chỉ ra giới hạn được phép và không được phép trong hành vi của mỗi cá nhân, nhằm tạo nên
sự hài hoà giữa các lợi ích Như vậy, đạo đức là một trong những phương thức
để điều tiết hành vi hoạt động của mỗi con người
Thực tế đời sống xã hội rất đa dạng và phức tạp Trong xã hội thường tồn tại đan xen giữa cái tốt và cái xấu, cái cao cả với cái thấp hèn, người có đức hạnh và kẻ vô lương tâm Trong các mối quan hệ xã hội thì cũng rất đa dạng và nhiều vẻ Có những mối quan hệ thuận nhưng cũng có mối quan hệ nghịch, đôi khi rất khó trong việc quyết định, nên phải dựa vào nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội để có những hành vi đối xử đúng đắn Điều đó chứng tỏ, cá nhân bao giờ cũng phải lấy những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh hành vi đạo đức của mình Thực hiện chức năng này, mỗi cá nhân sẽ luôn cảm thấy được thoải mái trong lương tâm, ngay
cả trong trường hợp mối quan hệ có những vấn đề mâu thuẫn Trong xã hội, mặc dù đã có hệ thống pháp luật của nhà nước để điều chỉnh hành vi của con người, song trong thực tế thì pháp luật không thể nào bao quát đựơc hết mọi hành vi của con người mà phải thông qua những nguyên tắc, những chuẩn mực
Trang 14đạo đức Đây là một trong những phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi của con người Nó có vai trò rất quan trọng và cần thiết trong đời sống xã hội
Xã hội muốn ổn định và phát triển, thì đòi hỏi tính tự nguyện, tự giác trong việc áp dụng những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức ngày càng cao Những chuẩn mực đó đã giúp cho con người điều chỉnh ý chí và hành động của mình nhằm đáp ứng những yêu cầu chung của nền đạo đức xã hội
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện chủ yếu bằng hai hình thức sau:
Thứ nhất: Sử dụng sức mạnh của dư luận xã hội để gây áp lực khen,
chê,động viên, khuyến khích những chủ thể có đạo đức, có những hành vi tốt đẹp Phê phán, lên án nghiêm khắc những hành vi không lành mạnh, gây ảnh hưởng xấu tới mọi người và xã hội Dân tộc ta đã có câu "Trăm năm bia đá thì mòn Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ" Dư luận xã hội đã trở thành công
cụ lợi hại trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức Do đó, nếu dư luận xã hội được hướng dẫn bởi những học thuyết đạo đức tiên tiến, sẽ góp phần điều chỉnh những hành vi đạo đức của con người phù hợp với sự tiến bộ xã hội, tạo nên những giá trị đạo đức đích thực
Thứ hai: Bản thân chủ thể đạo đức phải tự nguyện, tự giác điều chỉnh
hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức của xã hội Tích cực tham gia hoạt động tập thể để mau chóng trưởng thành, vững vàng về tư tưởng Khi các chuẩn mực đạo đức xã hội đã được các chủ thể tiếp thu sẽ tạo thành những chuẩn mực cá nhân Nếu các chuẩn mực cá nhân, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội, nó sẽ trở thành cơ sở khách quan, làm cho hành vi đạo đức của cá nhân phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ Nếu các chủ thể thiếu đi sự nhiệt tình, cố gắng của bản thân, không thực hiện được một quan hệ đạo đức nào đúng với những chuẩn mực cá nhân
Trang 15của mình Ngược lại, mỗi khi họ thực hiện được những quan hệ đạo đức đúng đắn như những chuẩn mực đạo đức đã được hình thành trong họ thì lương tâm
họ cảm thấy thoải mái, thanh thản, họ tự hào về hành vi của mình
Trang 16- Chức năng giáo dục:
Chức năng giáo dục của đạo đức là để hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc, những chuẩn mực của đạo đức cho con người Nó giúp cho con người có khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tượng
xã hội Từ đó đánh giá đựơc tư cách, ý thức và hành vi của bản thân mình Sự tồn tại của một hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của bất cứ xã hội nào, cũng đều có tác dụng định hướng giáo dục cho con
người, giúp cho con người nhận biết đựơc những điều hay lẽ phải, cái chân cái
thiện để vươn tới, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, phù hợp với lợi ích
chung và lợi ích riêng của từng người
Chức năng giáo dục của đạo đức chính là làm giàu thêm "tính người " cho mỗi con người Giáo dục được thực hiện thông qua quá trình giáo dục của
xã hội và tự giáo dục của mỗi cá nhân Trong đời sống xã hội, mỗi cá nhân không những chỉ mưu cầu lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần mà còn mưu cầu sự tiến bộ của bản thân Do đó, những tư tưởng, những chuẩn mực đạo đức xã hội, luôn trở thành mục tiêu, thành định hướng cho hoạt động cá nhân của họ Những hành vi đạo đức có tính lặp đi, lặp lại, tạo nên các quan hệ đạo đức tương đối ổn định và thường xuyên đựơc duy trì củng cố bằng dư luận xã hội,
sẽ trở thành thói quen, tập quán, truyền thống đạo đức, trở thành nhân tố trực tiếp, tác động đến sự hình thành đạo đức của các thế hệ tiếp theo
Như vậy, giá trị đạo đức trong những trường hợp này được phát triển ra sao luôn phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của những tư tưởng, những chuẩn mực đạo đức được tuyên truyền, giáo dục trong nhà trường và xã hội
Tự giáo dục đạo đức của cá nhân trước hết đựơc biểu hiện ở chỗ, mỗi cá nhân, thông qua sự phán xét của lương tâm về hành vi của mình để củng cố các chuẩn mực đạo đức cá nhân, để đạt tới hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn
Trang 17điều chỉnh ngay cả những chuẩn mực đạo đức cá nhân khi nhận thấy nó sai lệch với những chuẩn mực xã hội Giá trị đạo đức trong trường hợp này phụ thuộc nhiều vào sự cầu thị của chủ thể trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho phù hợp với những tư tưởng, chuẩn mực đạo đức của xã hội
- Chức năng nhận thức:
Những tư tưởng đạo đức, những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức
xã hội có trở thành các quan hệ đạo đức trong đời sống xã hội hay không, điều
đó không những chỉ phụ thuộc vào tính đúng đắn, chân thực của những tư tưởng đạo đức, những chuẩn mực đạo đức, phụ thuộc vào việc tuyên truyền, giáo dục đạo đức mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiếp nhận và chuyển hoá nó trong hoạt động nhận thức và trong hành vi của mỗi chủ thể đạo đức
Thông qua việc lựa chọn, đánh giá của các chủ thể đạo đức về những tư tưởng, những chuẩn mực đạo đức mà hình thành nên trong họ niềm tin, lý tưởng đạo đức Nhận thức đạo đức cũng được thể hiện ở hai trình độ: Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận
Nhận thức đạo đức ở trình độ kinh nghiệm hoặc tình cảm đạo đức luôn gắn liền với hoạt động thực tiễn, với các quan hệ đạo đức xã hội Quá trình này được hình thành ở các chủ thể đạo đức những hình ảnh, những "thần tượng"
Nó được coi là những chuẩn mực trực tiếp cho việc đánh giá và điều chỉnh hành vi đạo đức của họ Còn nhận thức đạo đức ở trình độ tư tưởng hoặc lý luận là quá trình nhận thức có tính nguyên tắc, được chỉ đạo bởi những lợi ích căn bản của giai cấp, của xã hội
Thông qua quá trình nhận thức cũng như thông qua hoạt động thực tiễn của con người mà chủ thể đạo đức phân tích, đánh giá, lựa chọn những tư tưởng đạo đức, những chuẩn mực đạo đức trong xã hội Trên cơ sở đó, họ chứng minh, lý giải những tư tưởng, những chuẩn mực đạo đức được hình thành trong họ là đúng hay sai, giúp họ phân biệt được đâu là lẽ phải, để giúp
Trang 18họ định hướng vươn tới những giá trị đạo đức tốt đẹp, sống thiện, sống có ích
và làm tròn những nghĩa vụ đối với xã hội
Để thực hiện chức năng này, đòi hỏi mỗi cá nhân phải có những năng lực, những phẩm chất đạo đức nhất định, giúp họ nhận biết được những giá trị đạo đức, những chuẩn mực đạo đức để từ đó họ có những hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực đạo đức trong đời sống xã hội
Như vậy, vai trò của đạo đức được thể hiện thông qua các chức năng cơ bản của nó Mỗi chức năng có một vị trí và vai trò nhất định, nhờ có các chức năng trên mà đạo đức có vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội Nó trở thành mục tiêu, động lực phát triển của xã hội Trong các chức năng trên, chức năng giáo dục giữ vai trò hết sức quan trọng Nhờ có chức năng này mà con người
đã tự giác điều chỉnh hành vi của mình làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại
và phát triển, bảo đảm được quan hệ lợi ích giữa cá nhân với công đồng, giúp cho con người nhận thức và hành động theo cái chân, thiện, mỹ, đẩy lùi cái ác, thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội Tuy nhiên, hiệu lực của sự tác động trở lại đó, lại phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố sau:
+ Ý thức đạo đức đó là tiến bộ hay lạc hậu: Nếu ý thức đạo đức tiến bộ,
nó sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội Ngược lại, nếu ý thức đạo đức lạc hậu, bảo thủ thì sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển của xã hội
+ Mức độ thâm nhập của ý thức đạo đức đó trong quần chúng nhân dân + Phụ thuộc vào khả năng, năng lực của giai cấp cầm quyền
1.1.2 Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển con người
Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát
triển tinh thần và thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đã đặt ra Giáo dục là một quá trình có tính hai mặt Một mặt, đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối
Trang 19ngay chính bản thân mình Trong quá trình tồn tại và phát triển của con người,
có nhiều giá trị trong đó có các giá trị đạo đức được hình thành chủ yếu thông qua con đường giáo dục Không có giáo dục thì không thể bảo tồn và phát triển được những giá trị chung của loài người như các giá trị kinh tế, chính trị, tư tưởng, đạo đức, nhân văn và do đó, không thể sáng tạo ra được những giá trị mới
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến đối tượng giáo dục để hình
thành trong họ những yếu tố, tình cảm, niềm tin, lý tưởng và tất cả được thể hiện ở những hành vi đạo đức
Hoạt động đạo đức chính là hoạt động của con người, được điều chỉnh bởi ý thức đạo đức của chủ thể, hay nói cách khác, đó là sự thể hiện những năng lực, phẩm chất đạo đức của con người Do đó, giáo dục đạo đức là quá trình chuyển những yêu cầu đạo đức của xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, thành sự hiểu biết, thành ý trí, niềm tin, thành nhu cầu, động cơ, năng lực bên trong của mỗi cá nhân và sau đó là sự tự nguyện, tự giác hành động
Thông qua việc giáo dục đạo đức, các quy tắc, các chuẩn mực đạo đức đựơc cá nhân nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ hơn, góp phần điều chỉnh hành vi của con người phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội Một kiểu giáo dục đạo đức tiến bộ là việc giáo dục đó phải đưa tới kết quả thúc đẩy loài người theo hướng "nhân đạo hoá" Hiệu quả của giáo dục đạo đức liên quan rất lớn tới môi trường đạo đức Do đó mà cần phải lành mạnh hoá môi trường đạo đức Ngoài ra, các yếu tố như; điều kiện kinh tế xã hội, cách thức tổ chức giáo dục, mức độ tự giác của chủ thể, là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của giáo dục đạo đức Một khi chủ thể có sự tự nhận thức, tự đánh giá đúng thông qua những mục đích, yêu cầu, nội dung của quá trình giáo dục, sẽ giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có những hành vi đạo đức đúng đắn Cho
Trang 20nên, giáo dục đạo đức luôn gắn liền với tiến bộ đạo đức, gắn liền với quá trình
"nhân đạo hoá" các mối quan hệ
Hiện nay nhiệm vụ của giáo dục là đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ khoa học, chuyên môn, kỹ thuật, nhằm không ngừng phát triển tài năng cho con người, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Người xưa đã từng nói: "Tiên học lễ, hậu học văn", "Cái nết đánh chết cái đẹp" Mỗi con người muốn trở thành những cá nhân tốt trong xã hội, thì trước hết cần phải được trang bị tốt, phải am hiểu được những quy tắc đạo đức, những chuẩn mực đạo đức Khi đã có sự hiểu biết về những chuẩn mực đó thì điều quan trọng là phải thể hiện được qua những hành vi đạo đức của mình Trong quá trình đó, một vấn đề được đặt ra là, thực hành những quy tắc đạo đức đó ra sao cho vừa đảm bảo được những quy tắc chung lại vừa thích ứng được với yêu cầu của thực tế Vì vậy, giáo dục đạo đức cho mọi người mà trước hết là cho thế hệ trẻ là một yêu cầu thường xuyên và thiết thực Chủ Tịch
Hồ Chí Minh đã nói: " Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống
Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong" [33, tr.334]
Trong các nghị quyết của Đảng, các tài liệu của ngành Giáo dục-Đào tạo đều đã đề cập đến vai trò quan trọng của vấn đề giáo dục đạo đức, coi việc giáo dục đạo đức là "nhiệm vụ trung tâm" của ngành, nhằm thực hiện mục tiêu cao nhất là "dạy người" Do đó giáo dục đạo đức là phải hướng con người, tới những giá trị đích thực của đời sống xã hội, làm cho họ nhận thức và thể hiện được những chuẩn mực đạo đức xã hội qua những hành vi đạo đức của mình
có thể khái quát vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển của con
người được thể hiện:
Thứ nhất: Giáo dục đạo đức giúp cho mỗi cá nhân nâng cao được trình
Trang 21niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động Không ngừng nâng cao trình độ, khả năng nhận thức các giá trị đạo đức cho mỗi cá nhân từ trình độ nhận thức thông thường lên trình độ nhận thức khoa học Đến trình độ này, con người nhận thức các giá trị đạo đức một cách đúng đắn hơn, đầy đủ hơn Từ đó giúp cho mỗi cá nhân có được sự định hướng đúng đắn trong việc lựa chọn các giá trị đạo đức
Thứ hai: Giáo dục đạo đức còn góp phần tích cực trong việc tạo ra
những giá trị đạo đức mới, xây dựng những phẩm chất đạo đức mới, góp phần
tích cực trong việc đấu tranh chống lại những quan điểm đạo đức lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trị nhân cách, những thói hư tật xấu, chống lại những hiện tượng phi đạo đức Một khi các giá trị đạo đức biến thành lý tưởng đạo đức, khi đã được "nội tâm hoá" trong nhân cách mỗi con người thì nó sẽ tạo ra một
cơ chế phòng ngừa các phản giá trị đạo đức, phản giá trị văn hoá Từ đó mà mỗi cá nhân có được khả năng độc lập ứng xử trước những tình huống cụ thể, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của xã hội, “miễn dịch" đối với tất cả những gì lệch chuẩn so với các giá trị đạo đức tiến bộ
Cho nên, nói về đạo đức không phải chỉ là để hiểu, để biết đạo đức là gì,
mà vấn đề là phải làm thề nào để trở thành con người có đạo đức
Thứ ba: Giáo dục đạo đức còn góp phần trong việc truyền lại cho thế hệ
trẻ những giá trị đạo đức mà các thế hệ trước đã tạo ra Ví dụ như, ý thức bảo
vệ chủ quyền đất nước, lòng nhân đạo, sự khiêm tốn, lòng vị tha, tôn trọng lẽ phải Trên cơ sở đó, làm cho thế hệ trẻ nhận ra được những giá trị lớn lao, ý nghĩa đích thực của cuộc sống Giúp họ nhận thức được giá trị và ý nghĩa của cuộc sống mang tính nhân bản, nhân ái, nhân văn sâu sắc, góp phần to lớn trong việc nhân đạo hoá con người và đời sống xã hội của con người, góp phần
to lớn trong việc hình thành và củng cố những giá trị nhân cách tốt đẹp Khi những giá trị ấy đã trở thành tình cảm, động lực nó sẽ thôi thúc con người vượt
Trang 22qua mọi khó khăn gian khổ, vươn lên trong cuộc sống Chẳng hạn như, giáo dục lòng yêu nước, giáo dục truyền thống yêu nước của dân tộc Việt nam thì những giá trị truyền thống đó đã trỏ thành tình cảm của triệu triệu những con người Việt nam, sẵn sàng chấp nhận những gian khổ, hy sinh để bảo vệ nền độc lập tự do củaTổ quốc, vươn lên trong cuộc sống, góp phần cải tạo và xây dựng đất nước Lịch sử dân tộc Việt nam ta đã chứng minh điều đó
Như vậy, trong giáo dục đạo đức thì không phải chỉ làm cho con người
có được sự nhận thức đúng các chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức mà còn phải giáo dục để hình thành trong họ những niềm tin và tình cảm đạo đức Đó
là tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người Chính những tình cảm đạo đức đó "sẽ làm sâu sắc thêm mối tương giao giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên" [40, tr.15], làm phong phú thêm thế giới nội tâm, giúp cho con người có sức mạnh và nghị lực vươn lên trong cuộc sống Do đó, giáo dục đạo đức trước hết là phải giáo dục tình cảm đạo đức cho con người Những giá trị đạo đức, những tri thức đạo đức được cá nhân tiếp nhận bằng lý trí, dù có tốt đẹp đến đâu, nếu không có tình cảm đạo đức trong sáng thôi thúc thì nó cũng chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhận thông tin mà thôi, chứ chúng không thể trở thành hành vi đạo đức
Thứ tư: Giáo dục đạo đức có vai trò quan trọng trong việc phát triển và
hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân Một con người đạt tới sự trưởng thành
xã hội phải là một con người có nhân cách Nhân cách là "toàn bộ các giá trị
mà con người đạt được trong sự trưởng thành xã hội của nó" [3, tr.29] Trong qúa trình phát triển của nền kinh tế xã hội, Đảng ta thường nhấn mạnh yếu tố con người, coi con người là "nhân tố quyết định sự phát triển đất nước".Tuy nhiên, để trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định sự phát triển của đất nước, trở thành "sức mạnh nội sinh" lớn nhất của dân tộc, thì con người phải có sự
Trang 23nhất giữa năng lực thể chất và năng lực tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
đã từng nói, người có nhân cách là người có cả Đức và Tài, trong đó đức được
coi là gốc, là hạt nhân của nhân cách Theo quan niệm đó thì, người có nhân cách, trước hết phải là người có đạo đức Tài năng của con người muốn phát triển phải dựa trên cơ sở sự phát triển của đạo đức
Tài của con người được biểu hiện ở trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Những năng lực, trình độ đó, có liên quan rất lớn đến thái độ của cá nhân đối với mọi người, đối với xã hội; sự quan tâm lo lắng đối với
mọi người, với tập thể Đó chính là đức
Đức là động lực thúc đẩy cá nhân thể hiện được năng lực, tài năng của mình, vì chỉ có trong tập thể con người mới bộc lộ ra được những năng lực của mình Như vậy, đức đã tạo điều kiện cho tài phát triển Nếu không có những phẩm chất, những giá trị đạo đức làm nền tảng, thì tài năng rất khó được phát triển hoặc phát triển một cách méo mó, thậm chí trở thành tội ác, đem lại thảm hoạ cho con người "ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng" [14, tr.370]
Do đó, khi ở mỗi con người có những phẩm chất trong sáng, cách ứng xử đúng mực, do quá trình giáo dục đạo đức mang lại thì đó là cơ sở, là điều kiện để phát triển tài năng Một con người có sự phát triển về đạo đức, biết gắn bó số phận của mình vào số phận của gia đình, của tập thể, xã hội thì đồng thời cũng
là con người có ý chí phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi khó khăn trở ngại để
có những đóng góp cho lợi ích chung của xã hội
Trong chiến lược phát triển con người, Đảng và nhà nước ta đề cao vai trò của giáo dục đạo đức vì nó đã góp phần quan trọng vào quá trình giáo dục, hoàn thiện và phát triển nhân cách con người cho thế hệ trẻ Cuộc sống đã chỉ cho chúng ta thấy rằng, tương lai của một dân tộc phụ thuộc một phần rất lớn vào giáo dục đạo đức, định hướng giá trị nhân cách đối với thế hệ trẻ nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã
Trang 24nêu rõ, phải "tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác- LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn" Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá 8 đã khẳng định:
"Xây dựng tư tưởng đạo đức lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội là nhiệm vụ cấp bách, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" [10, tr.69]
Thời đại ngày nay, với sự phát triển mạnh như vũ bão của khoa học và công nghệ lại càng khẳng định vai trò của vấn đề đaọ đức Khi đã có trong tay sức mạnh của khoa học kỹ thuật, thì sức mạnh ấy lại phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất đạo đức của người sử dụng Vì vậy Đại hội Đảng lần thứ IX cũng
đã nêu rõ phải: "Giảng dạy các môn Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo
dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong mọi loại hình trường" nhằm tạo
ra những lớp người vừa "hồng" vừa "chuyên", phải "tăng cường giáo dục lý luận chính trị, giáo dục đạo đức" Do đó, tài năng chỉ thực sự được phát huy, được cống hiến, được sử dụng có hiệu quả trong con người có đạo đức mà thôi Sự phát triển về tài năng luôn gắn liền với sự tiến bộ về đạo đức Trong một buổi nói chuyện với giáo viên đang học lớp chính trị, Bác Hồ đã cho rằng,
có tài mà không có đức là hỏng, có đức mà chỉ i tờ thì dạy thế nào Đức phải
có trước tài
Như vậy, đức và tài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó đức được coi là gốc của tài Ở Việt Nam, truyền thống, nếu đức được gắn với tâm, thì chân thường gắn với tài Việc coi trọng đức hơn tài đã được đúc kết trong câu thơ của thi hào Nguyễn Du "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi mà tệ nạn tham nhũng, quan liêu, tình trạng suy thoái nghiêm trọng của đạo đức trong xã hội đang được coi là những "nguy cơ", những "quốc nạn" thì việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên càng
Trang 25trở nên hết sức quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân
1.2 Tầm quan trọng và nội dung, yêu cầu của giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng
1.2.1 Đặc điểm của học sinh, sinh viên Ngân hàng
Sơ lược quá trình ra đời và phát triển của Ngân hàng và Học viện Ngân hàng
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) được thành lập theo Sắc lệnh 15/SL ngày 6 tháng 5 năm 1951 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, với những nhiệm vụ chủ yếu là:
- Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ
- Quản lý kho bạc Nhà nước, huy động và cho vay vốn để phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá
- Quản lý hoạt động tín dụng bằng biện pháp hành chính
- Quản lý ngoại hối và các khoản gía định bằng ngoại tệ
Ngay từ khi ra đời, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã được xác định là
cơ quan ngang bộ, song nó mang tính chất đặc thù: vừa là cơ quan quản lý Nhà nước vừa là cơ quan kinh doanh, vừa thực hiện chức năng ngân hàng, vừa đảm nhận chức năng tài chính
Trước năm 1993, hệ thống các trường Ngân hàng đều do Ngân hàng Nhà nước trực tiếp quản lý Ở miền Bắc có trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng, trường Trung cấp Ngân hàng Bắc Ninh, trường Trung cấp Ngân hàng Sơn Tây; miền Trung có trường Trung cấp Ngân hàng Phú Yên; miền Nam có trường Trung cấp Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh Đây là nơi cung cấp nguồn lực chủ yếu cho việc phát triển của ngành Ngân hàng
Trang 26Năm 1993, thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tất cả các trường Ngân hàng và Viện nghiên cứu tiền tệ - tín dụng ngân hàng được tổ
chức lại thành Trung tâm Đào tạo và nghiên cứu khoa học Ngân hàng có trụ
sở chính ở Hà Nội với các chi nhánh là các trường Ngân hàng cũ và một Viện Khoa học Ngân hàng (theo Quyết định số 112/TTg ngày 23/3/93) Nhiệm vụ chủ yếu của Trung tâm là bồi dưỡng, đào tạo lại kiến thức quản lý kinh tế, kỹ thuật, nghiệp vụ cho cán bộ trong ngành, kết hợp với công tác nghiên cứu khoa học trong ngành
Từ năm 1998, Chính phủ đã cho ngành Ngân hàng được thành lập Học viện Ngân hàng trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học Ngân hàng (theo Quyết định số 30/1998/TTG ngày 9/12/98) chuyên đi sâu
về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân
Có thể thấy, trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, đang từng bước đưa đất nước tiến bước trên con đường phát triển Trong quá trình đó, Ngân hàng được coi là mũi nhọn đột phá và nó đã hoàn thành tốt nhiệm vụ: Lạm phát được đẩy lùi từng bước và đã được kiềm chế ở những mức độ vừa phải Tín dụng ngân hàng đã và đang là chỗ dựa vững chắc cho nền kinh tế, giao lưu kinh tế ngày càng được mở rộng, Ngân hàng đã
và đang tiến hành hội nhập với Ngân hàng thế giới và khu vực
Để có được những thành tích trên, có công đóng góp không nhỏ của Học viện Ngân hàng Với bề dày lịch sử hơn 40 năm, Học viện Ngân hàng đã "thực
sự là cơ sở quan trọng trong hệ thống đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước" [19]
Đặc điểm của học sinh, sinh viên Ngân hàng
Trang 27Như trên đã đề cập, Học viện Ngân hàng có nhiệm vụ đào tạo cán bộ ở mọi cấp kể cả bồi dưỡng nghiệp vụ, bồi dưỡng thường xuyên kiến thức với nhiều chương trình học khác nhau từ trung học, cao đẳng, đại học và sau đại
học Cho nên khái niệm học sinh Ngân hàng là khái niệm dùng để chỉ những
người đang theo học nghiệp vụ ngân hàng ở trình độ trung cấp với lượng thời
gian đào tạo là 2 năm Còn sinh viên Ngân hàng là khái niệm dùng để chỉ
những người đang theo học nghiệp vụ ngân hàng ở trình độ đại học và cao đẳng Khái niệm này không chỉ bao gồm những đối tượng theo học chương trình cao đẳng và đại học ở Học viện mà còn bao gồm cả những đối tượng đang được đào tạo tại các khoa Ngân hàng thuộc một số trường đại học kinh tế khác, ở đây chúng tôi đề cập đến đối tượng học sinh, sinh viên đang được đào tạo tại Học viện Ngân hàng
Như vậy, khái niệm học sinh, sinh viên Ngân hàng là khái niệm dùng để chỉ những đối tượng đang theo học nghiệp vụ các hệ tập trung cũng như tại chức ở các cấp học từ trung học, cao đẳng và đại học Ngân hàng
Xuất phát từ đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng mà mục tiêu đào tạo của Học viện Ngân hàng là đào tạo ra những cán bộ Ngân hàng có đủ trình độ và năng lực nghề nghiệp hoạt động trên lĩnh vực quản lý và kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng,đào tạo ra những lớp người có phẩm chất và tư cách đạo đức tốt, không những chỉ phục vụ cho sự nghiệp phát triển của ngành Ngân hàng mà còn phục vụ cho một số các ngành kinh tế khác Cho nên, học sinh, sinh viên Ngân hàng ngoài những nét đặc trưng chung của học sinh, sinh viên như trẻ, khoẻ, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm theo cái mới thì họ còn mang những nét đặc trưng riêng phản ánh tính chất nghề nghiệp của học sinh, sinh viên Ngân hàng Đó là:
Thứ nhất: Học sinh, sinh viên Ngân hàng đa phần là con em trong
ngành.Với đặc điểm này, việc giáo dục cho học sinh, sinh viên sẽ có những
Trang 28điều kiện thuận lợi, dễ dàng hơn, vì trong quá trình sinh hoạt, tiếp xúc, họ đã
có một sự nhận thức, một sự hiểu biết khái quát về hoạt động Ngân hàng Những nội dung công việc, tư cách, phẩm chất của người cán bộ Ngân hàng đã phần nào được hình thành trong đầu óc họ Những vấn đề lý luận ở trường đôi khi được học sinh, sinh viên kiểm nghiệm bằng chính hoạt động thực tiễn cụ thể của bố mẹ mình, nhất là những vấn đề thuộc về chuyên ngành
Thứ hai: Học sinh, sinh viên Ngân hàng được đào tạo ra chủ yếu là để
phục vụ cho công tác quản lý và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng của Ngân hàng Họ là những người được Nhà nước giao cho nhiệm vụ quản lý và
sử dụng một khối lượng của cải dưới hình thức tiền tệ hết sức lớn Một số sau khi ra trường đã tham gia làm việc ở các ngành kinh tế khác Riêng học sinh trung học Ngân hàng, qua theo dõi một số khoá trong những năm gần đây thì thấy tỷ lệ học sinh trung học Ngân hàng ra trường đi vào các ngành nghề khác chiếm tới trên 50%
Thứ ba: Học sinh, sinh viên Ngân hàng được đào tạo theo nhiều bậc
khác nhau, với nhiều nội dung, chương trình đào tạo khác nhau và theo những chuyên ngành khác nhau Tại trụ sở Học viện, nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo những sinh viên có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học Các Phân viện
có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo những học sinh có trình độ nghiệp vụ trung cấp ngân hàng Với mô hình này, Học viện Ngân hàng đã và đang cung cấp một nguồn nhân lực chủ yếu cho hệ thống Ngân hàng - tài chính và các ngành kinh
tế quốc dân khác trong cả nước Đó là các chuyên ngành: Chuyên ngành Quản trị kinh doanh ngân hàng; Chuyên ngành Kế toán; Chuyên ngành Tiền tệ tín dụng Quốc tế; Chuyên ngành tiền tệ, thị trường chứng khoán; Chuyên ngành Tài chính
Sự đa dạng về chuyên ngành đào tạo đã mở ra một thị trường đầu ra
Trang 29hợp không chỉ riêng trong lĩnh vực Ngân hàng mà còn có thể làm việc trong nhiều ngành kinh tế khác Đây là yếu tố hết sức thuận lợi, có tác dụng thúc đẩy tinh thần học tập, nghiên cứu của học sinh, sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tạo điều kiện để họ phát huy được năng lực chuyên môn khi tiếp cận với thực tế
Thứ tư: Học sinh, sinh viên Ngân hàng học các nghiệp vụ về quản lý
kinh doanh Ngân hàng gắn liền với quy trình công nghệ ngân hàng Cũng như nhiều ngành kinh tế khác, ngành Ngân hàng đã và đang không ngừng hiện đại hoá các quy trình công nghệ Hầu hết các nghiệp vụ ngân hàng đều được xử lý trên máy tính Nhận thức được vấn đề này, tại trụ sở Học viện và một số Phân viện đã có các phòng thực hành, ngân hàng thực hành… nhằm mục đích gắn nguyên lý "học đi đôi với hành", "lý luận gắn với thực tiễn" để sau này ra trường các em có thể bắt tay ngay vào công việc mà không bị bỡ ngỡ
Thứ năm: Học sinh, sinh viên Ngân hàng được đào tạo để thực hiện các
quan hệ giao dịch nghiệp vụ ngân hàng trong và ngoài nước Một trong những đặc điểm của học sinh, sinh viên Ngân hàng là hoạt động trên lĩnh vực quản lý
và kinh doanh ngân hàng Tính giao dịch gắn với xử lý nghiệp vụ Ngân hàng
có nhiệm vụ phục vụ cho tất cả các đối tượng khách hàng trong và ngoài nước
Do đó, ngoài nghiệp vụ chuyên môn, học sinh, sinh viên Ngân hàng còn được trang bị cả về phong cách, đaọ đức, tác phong, lối sống trong làm việc và giao tiếp Vì vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay
Thứ sáu: Học sinh, sinh viên Ngân hàng có trình độ nhận thức không
đồng đều đặc biệt là đối với học sinh trung học Với chương trình đa hệ, Học viện Ngân hàng đào tạo học sinh, sinh viên ở nhiều cấp bậc khác nhau Sự không đồng đều về trình độ nhận thức được thể hiện: tỷ lệ học sinh khá, giỏi
Trang 30của đại học năm học 2002-2003 là 47,8%, cao đẳng đạt 19,42%, còn trung học chỉ đạt 5,13%
Ở trình độ trung học, bên cạnh một số học sinh có số điểm tương đối cao, thì còn nhiều học sinh trong diện ưu tiên, chính sách, quan hệ, có số điểm vào trường thấp hơn rất nhiều so với điểm chuẩn Điều này đã phần nào ảnh hưởng tới chất lượng của quá trình giảng dạy
1.2.2 Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng trong giai đoạn hiện nay
Như đã phân tích ở trên, trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Ngân hàng Việt Nam đã có những đóng góp hết sức quan trọng trong việc đẩy lùi lạm phát , ổn định sức mua của đồng tiền, huy động vốn để đầu tư phát triển, thúc đẩy việc tăng trưởng kinh tế Đảng ta đã coi Ngân hàng
và hoạt động của Ngân hàng là mạch máu lưu thông trong nền kinh tế Coi đó
là "đột phá khẩu" trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta Việc giáo dục đạo đức cho học sinh sinh viên có vai trò đặc biệt quan trọng là do:
Thứ nhất: Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng nhằm
góp phần phát triển toàn diện nguồn nhân lực cho hệ thống Ngân hàng trong cả nước
Để tiếp tục đổi mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá chung của đất nước, của ngành thì vấn đề then chốt và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng phát triển nguồn lực con người Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nói "Chiến lược con người là chiến lược số 1" Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII cũng đã nhấn mạnh: "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá" [8, tr.21] Để phát triển nguồn
Trang 31lực đó thì công tác giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đào tạo trong ngành Ngân hàng nói riêng giữ vai trò đặc biệt quan trọng mang tính quyết định
Sự nghiệp giáo dục đào tạo bên cạnh việc xây dựng những lớp người "có
tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi" thì còn phải xây dựng những lớp người có "đạo đức trong sáng, có tác phong công nghiệp" Đó là những lớp người vừa "hồng" vừa "chuyên" như lời dặn của Bác Hồ Người đã từng nhắc nhở cán bộ tài chính, ngân hàng: "Cán bộ kinh tế tài chính phụ trách nhiều tiền của mà chưa hoàn toàn thông thạo việc quản lý tiền của ấy Cho nên chúng ta cần phải ra sức học tập, quản lý tài sản quốc gia mà ngành mình phụ trách, đồng thời phải trau rồi đạo đức cách mệnh: cần, kiệm, liêm, chính, một lòng một dạ phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, tẩy trừ những thói tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu để cùng nhau tiến bộ" [34, tr.36]
Nói tới nguồn nhân lực trong Ngân hàng là nói tới yếu tố con người trong ngành Ngân hàng Đó là những chủ thể của hoạt động kinh tế, có đầy đủ những năng lực phẩm chất, tạo nên nhân cách của họ Từ đó làm nên sức mạnh của tập thể đơn vị Sức mạnh của nguồn lực con người trong mỗi doanh nghiệp được thể hiện thông qua sức mạnh của mỗi cá nhân Nhân tố con người trong Ngân hàng vừa với tư cách là chủ thể của hoạt động quản lý kinh doanh, vừa với tư cách là khách thể của các quá trình kinh tế xã hội Nó có mối quan hệ chặt chẽ với các nguồn lực khác Do đó, nguồn lực con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của hoạt động quản lý, kinh doanh của Ngân hàng
Trong Ngân hàng, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn giữ vai trò hết sức quan trọng, song nó chỉ được phát huy khi kết hợp chặt chẽ với nguồn lực con người Vì: "Nhân tố con người giữ vị trí trung tâm quyết định đối với toàn hệ thống các nhân tố khác" [14, tr.81] Đảng ta cũng đã nhấn mạnh: "cần khai thác và sử dụng mọi nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất Nguồn lực đó là nguồn lao động có trí tuệ, có tay nghề thành thạo, có phẩm
Trang 32chất tốt đẹp, được đào tạo và phát huy bởi một nền giáo dục tiên gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại Giáo dục phải làm tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước" [9, tr.9]
Bác Hồ đã từng căn dặn chúng ta: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người" Đối với ngành Ngân hàng cách đây gần 1 thế kỷ, Lênin đã từng đánh giá: "Không có những Ngân hàng lớn sẽ không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội" và Người đã ví hệ thống Ngân hàng giống như "bộ xương của chủ nghĩa xã hội" Ở nước ta hiện nay, Ngân hàng có vai trò hết sức to lớn, nó không những chỉ thu hút mọi nguồn vốn trong xã hội để đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh mà còn là trung tâm tiền ,thanh toán mang lại lợi ích hết sức to lớn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để Ngân hàng giữ được vai trò mũi nhọn của mình trong nền kinh tế thì việc phát triển nguồn nhân lực cho ngành là một vấn đề hết sức quan trọng Việc đào tạo, xây dựng và phát triển những con người vừa
có trình độ trí tuệ vừa có năng lực thực hành, vừa phải có nhân cách đạo đức, mới tạo ra sự phát triển nhanh chóng và bền vững của Ngân hàng Thực tế đã khẳng định một điều, nơi cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho Ngân hàng, đó chính là hệ thống các trường trung học, cao đẳng, đại học Ngân hàng trong cả nước Trong hơn 40 năm qua, Học viện Ngân hàng đã đào tạo và đào tạo lại trên 36.000 cán bộ có trình độ sau đại học, đại học, cao đẳng và trên 30.000 cán bộ có trình độ trung cấp cho ngành Các học sinh, sinh viên tốt nghiệp từ Học viện đã và đang là nguồn nhân lực chủ yếu của hệ thống Ngân hàng Nhiều người đã trở thành các nhà quản lý, các nhà khoa học, các chuyên gia hàng đầu về ngân hàng- tài chính tại Việt Nam, Lào và Cămpuchia [19]
Qua điều tra ở một số đơn vị Ngân hàng cho thấy, số cán bộ được đào tạo qua các cấp học của Học viện chiếm từ 65-70% [45] Số còn lại được đào
Trang 33sinh viên Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung, phát triển nguồn nhân lực cho ngành Ngân hàng
Thứ hai: Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên góp phần tích cực
vào việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, khắc phục những quan
điểm đạo đức lạc hậu, chống lại những thói hư tật xấu Những giá trị đạo đức
đã được kết tinh hàng nghàn năm trong lịch sử dân tộc như lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, lòng nhân ái, khoan dung… Khi những giá trị đạo đức ấy biến thành tình cảm, động lực,nó sẽ giúp cho con người vượt qua mọi khó khăn gian khổ,vươn lên trong cuộc sống
Để tạo ra nguồn lực tương lai bổ sung cho ngành Ngân hàng những lớp người "cường tráng về thể chất, phát triển về trí tuệ, phong phú về tâm hồn, có đạo đức và tác phong trong sáng" thì vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống, giáo dục ý thức tự lực tự cường, tinh thần hiếu học, lòng nhân ái… cho học sinh, sinh viên là vô cùng cần thiết, bởi vì, sức mạnh của nguồn nhân lực trong Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào chất lượng giáo dục đào tạo từ các bậc trung học, cao đẳng và đại học trong cả nước Do đó, Học viện Ngân hàng trong những năm qua đã không ngừng được phát triển, mở rộng và nâng cao Đồng chí Giám đốc Học viện Ngân hàng đã đánh giá: "Học viện Ngân hàng đang dần dần trở thành một trung tâm đào tạo có uy tín và chất lượng, được Ngân hàng Nhà nước, các Ngân hàng Thương mại và xã hội tin tưởng lựa chọn" [19]
Thực tế ngành Ngân hàng những năm qua đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân mình để cho chủ nghĩa
cá nhân, tính tự tư, tự lợi và lòng tham sai khiến, biến họ thành những kẻ bất tài, sa đoạ về đạo đức lối sống, tha hoá về phẩm chất chính trị tư tưởng Chính lối sống thực dụng, truỵ lạc, tha hoá đó đã làm cho họ mất đi năng lực nhận thức bản chất sự vật, không hoàn thành được những nhiệm vụ được giao Mỗi
Trang 34năm ngành Ngân hàng có tới hàng ngàn cán bộ bị bị kỷ luật, bị sa thải vì không
có đủ phẩm chất, năng lực Để tránh phạm phải những sai lầm, khuyết điểm thì biện pháp quan trọng nhất vẫn là phải thường xuyên được giáo dục và tự giáo dục Nho giáo đã khuyên rằng: "Từ thiên tử cho đến thứ dân, ai ai cũng phải lấy tu thân làm gốc" Tự tu dưỡng và rèn luyện được ví như "ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong"
Thứ ba: Giáo dục đạo đức còn có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn
và phát huy bản lĩnh chính trị cho học sinh, sinh viên Ngân hàng.Trong qúa
trình phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một sự lựa chọn đúng đắn, hợp quy luật Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX một lần nữa Đảng ta lại khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lêin và tư tưởng Hồ Chí Minh" Do đó giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên có một vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định lập trường chính trị tư tưởng, nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị cho mỗi học sinh, sinh viên Trong thư của đồng chí Chủ tịch nước Trần Đức Lương gửi các thày, cô giáo, sinh viên và học sinh cả nước nhân dịp khai giảng năm học mới có đoạn viết: “Mỗi học sinh, sinh viên đều phải nỗ lực trong học tập và rèn luyện để trở thành người có đạo đức, có học vấn, có nghề nghiệp, có sức khoẻ góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng không chỉ xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của chính bản thân họ mà còn xuất phát từ chính yêu cầu của công cuộc đổi mới của đất nước Có thể nói, công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có vai trò quyết định tới sự phát triển của ngành Ngân hàng nói riêng cũng như trong toàn bộ nền kinh tế nói chung Do đó, sự nghiệp "trồng người" luôn được Đảng
Trang 35ta quan tâm chú ý, được xác định như một "chiến lược", một "quốc sách" hàng đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước
1.2.3 Những nội dung, yêu cầu của giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng hiện nay
Như phần 1.1.2 đã nói, giáo dục đạo đức là quá trình chuyển những nguyên tắc, những chuẩn mực, những quan điểm, lý tưởng đạo đức của xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, thành tình cảm đạo đức, tri thức đạo đức, thành niềm tin, ý chí, thành trách nhiệm, nghĩa vụ, thành nhu cầu và động lực bên trong của mỗi cá nhân Như vây, giáo dục đạo đức là một trong những giải pháp trực tiếp trong việc xây dựng đạo đức con người mới và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) là mốc lịch sử đánh dấu sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta, trong đó có sự đổi mới về cơ chế, từ cơ chế quản lý tập trung, bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh tế, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ chế tập trung, bao cấp ở Việt Nam trong nhiều năm qua đã cho thấy, nó không những không tạo ra được động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội mà còn tạo ra nhiều tiêu cực cho xã hội Cơ chế thị trường thì hoàn toàn khác, nó là yếu tố tích cực thúc đẩy sự năng động, sáng tạo dám nghĩ, dám làm của con người, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế đất nước, cho việc tiếp nhận những giá trị văn hoá tinh hoa của nhân loại, nhất là việc học tập để tiếp thu được nhiều những giá trị của nền khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới Song, trong bất cứ nền kinh tế thị trường nào thì tính chất hai mặt cũng là một đặc điểm vốn có của nó Bên cạnh mặt tích cực thì kinh tế thị trường là con đẻ của chế độ tư hữu, nó đã để lại cho chúng ta không ít những tiêu cực của xã hội, trong đó phải kể đến đó là "nguy
cơ về sự suy thoái đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân" Do đó, không phải ngẫu nhiên mà người ta cho rằng, kinh tế thị trường là"con dao hai lưỡi"
Trang 36Cơ chế thị trường luôn lấy lợi ích kinh tế làm động lực, mục tiêu cho sự phát triển Nhân tố này tự bộc lộ tính hai mặt: Một mặt, để đạt được lợi ích, mỗi cá nhân, tập thể phải trăn trở, tìm tòi, chủ động, nhạy bén trong sản xuất kinh doanh, nhưng mặt khác, nó lại làm trỗi dậy những ham muốn cá nhân, vị
kỷ trước những lợi ích vật chất Đây là "chất men" kích thích đã làm cho khá nhiều cán bộ trở nên thoái hoá, biến chất, sẵn sàng bất chấp mọi pháp luật, mọi thủ đoạn, bất chấp mọi luân thường đạo lý để đạt được những lợi ích hẹp hòi, ích kỷ của mình Khi tiền bạc đã trở thành mục tiêu của cuộc sống thì những định hướng về mục đích, lý tưởng của con người cũng phụ thuộc vào đồng tiền Vì thiếu tiền và cũng vì quá nhiều tiền mà nhiều khi trong các quan hệ gia đình, xã hội nảy sinh nhiều những hành vi vô đạo đức, thiếu văn hoá Đảng ta
đã nhận định: "Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thày trò, đồng chí, đồng nghiệp" [10, tr.16] Sẵn
có đồng tiền làm ra một cách bất chính, do lợi dụng chức quyền để tham nhũng, do buôn gian, bán lậu, trốn thuế, làm hàng giả… mà nhiều kẻ đã tiêu xài lãng phí theo kiểu "ném tiền qua cửa sổ" Tình trạng tham nhũng, lãng phí tiền của của nhà nước ngày càng nghiêm trọng: "Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy
cơ lớn đe doạ sự sống của chế độ ta Tình trạng lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến" [11, tr.76] Không ít cán bộ đã bị "tha hoá về phong cách, lối sống, trở thành nô lệ cho đồng tiền, sống xa hoa đồi bại Họ đánh mất nhân phẩm của chính mình và chà đạp nên nhân phẩm của người khác" [5, tr.9]
Như vậy, những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với đời sống xã hội là rất to lớn Nó đã làm cho các giá trị đạo đức trong xã hội bị đảo lộn như:
Trang 37- Coi trọng những giá trị vật chất, xem nhẹ những giá trị tinh thần, chạy theo những giá trị ngoại lai, xem nhẹ những giá trị truyền thống, coi thường thuần phong mỹ tục
- Tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân, xem nhẹ lợi ích tập thể, cộng đồng
- Chạy theo lối sống thực dụng, coi nhẹ quan niệm sống có lý tưởng, có lòng nhân ái
Những biểu hiện của sự suy thoái đạo đức đó đang hàng ngày, hàng giờ tác động đến công tác giáo dục chính trị đạo đức, lý tưởng cho học sinh, sinh viên nói chung và cho học sinh, sinh viên Ngân hàng nói riêng Đây là tình huống có vấn đề mà trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng phải chú ý giải quyết Ở đây cần phải chống cả hai khuynh hướng:
- Tuyệt đối hoá những giá trị đạo đức truyền thống mà coi nhẹ hiện đại
- Phủ nhận, xa rời những giá trị đạo đức truyền thống, làm mất bản sắc văn hoá dân tộc
Công tác giáo dục đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường cần phải định hướng cho họ những giá trị đạo đức mới theo hướng kế thừa có chọn lọc những giá trị văn hoá tinh hoa của dân tộc Thận trọng loại bỏ những khía cạnh còn chưa phù hợp, kém giá trị thúc đẩy, thậm chí kìm hãm sự phát triển của xã hội, đồng thời xem xét những tiêu thức, những giá trị đạo đức mới từ nền văn minh nhân loại, từ đòi hỏi của công cuộc đổi mới, từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường nhằm "gạn đục khơi trong, đón nhận những luồng gió mới" Nghị quyết Trung ương V (khoá VIII) đã nêu 10 nhiệm vụ cụ thể trong việc xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng con người Nghị quyết khẳng định việc xây dựng con người trong giai đoạn cách mạng mới cần phải đạt tới những đức tính sau:
Trang 38+ Có tinh thần yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, phấn đấu vì độc lập
tự do và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
+ Có tinh thần tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung
+ Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước
+ Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
+ Thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, thẩm mỹ và thể lực [10, tr.55-56]
+ Đại hội Đảng lần thứ IX cũng đã đề ra: "Phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội" [11, tr.114] Do đó, việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng trong giai đoạn hiện nay theo chúng tôi cần hướng vào những nội dung sau:
Thứ nhất: Giáo dục những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, tinh
thần tự hào dân tộc cho học sinh, sinh viên Ngân hàng:
Bất kỳ một dân tộc nào trên thế giới cũng đều có những truyền thống của mình Có thể coi truyền thống là phức hợp những tâm tư, tình cảm, thói quen, ý chí, của chính dân tộc đó được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, mang tính ổn định được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống là một bộ phận của ý thức xã hội, nó được quy định bởi chính những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội mà dân tộc đó đã trải qua Do đó, nó không phải là cái nhất thành bất biến Tuy nhiên, nếu nó luôn biến đổi thì lại không
Trang 39giữ được cái cốt lõi bên trong của nó, song phải thừa nhận rằng, truyền thống
là một trong những yếu tố bền vững nhất, khó thay đổi nhất trong ý thức xã hội cho dù tồn tại xã hội đã có sự thay đổi Truyền thống bao giờ cũng có tính hai mặt: giá trị và phản giá trị
Khi nói tới những giá trị đạo đức truyền thống là nói đến những truyền thống tốt đẹp, có tác động tích cực, thúc đẩy sự phát triển của dân tộc đó Hệ thống các giá trị truyền thống ở nước ta rất phong phú đầy sức sống đã được lịch sử công nhận và thế giới tôn trọng như: tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, truyền thống nhân ái
Dân tộc Việt Nam đã có truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Lịch sử dân tộc ta đã trải qua những cuộc đấu tranh lâu dài và quyết liệt với nhiều thế lực xâm lược khác nhau Cả thế giới phải ngạc nhiên và kính phục trước những chiến thắng oanh liệt của nhân dân Việt Nam chống lại những tên đế quốc thực dân sừng sỏ, lớn mạnh hơn mình gấp hàng trăm lần Sức mạnh nào đã giúp cho Việt Nam có được những kỳ tích đó ? Chắc chắn đó không phải chỉ là sức mạnh về vật chất mà còn là sức mạnh về tinh thần, sức mạnh được phát huy từ chính những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
Đó chính là tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý trí tự lực tự cường Tất
cả những giá trị truyền thống đó được hun đúc nên từ chính lịch sử đau thương
mà hào hùng của dân tộc ta và khi đã được hình thành, chúng trở thành động lực, thành sức mạnh, thành cốt cách, bản lĩnh của con người Việt Nam, thành
di sản truyền thống quý giá mà chúng ta không thể đánh mất, bởi vì: "Mất nước nhiều khi còn giành lại được, nhưng nếu để mất bản sắc văn hoá dân tộc
sẽ là mất hết và mãi mãi" [23, tr.77]
Do đó, giáo dục có thế coi là con đường chủ đạo để các giá trị truyền thống đến với từng thế hệ, từng con người, hoá thành cốt cách, bản lĩnh, chí khí của người Việt Nam Giáo dục những giá trị truyền thống của dân tộc là
Trang 40nhằm "xây dựng những thế hệ, những con người văn minh hiện đại có nhân cách văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc" [14, tr 301]
Trong giai đoạn hiện nay, kẻ thù của đất nước, của dân tộc đang từng ngày, từng giờ, tìm mọi âm mưu và thủ đoạn nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội
và công cuộc đổi mới của nhân dân ta thì việc giáo dục lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc cho học sinh, sinh viên lại càng có ý nghĩa quan trọng Trong xu thế hội nhập hiện nay, nước ta vẫn còn ở trong tình trạng lạc hậu, kém phát triển, đời sống của người dân tuy đã được cải thiện song vẫn còn nhiều khó khăn Do đó, nó có thể là mảnh đất tốt để cho những giá trị bên ngoài lấn át, làm xói mòn, băng hoại những giá trị truyền thống của dân tộc Cần phải làm cho học sinh, sinh viên nhận thức được rằng, hội nhập trong khu vực và thế giới là một việc làm cần thiết, song không phải bằng mọi giá, không phải chỉ vì mục tiêu kinh tế mà giẫm đạp lên tất cả, mà phải giữ lấy những giá trị truyền thống từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam, bởi đó không chỉ là bản sắc, cội nguồn, cốt cách của con người Việt Nam mà còn là nguồn sức mạnh to lớn, đủ sức nâng dân tộc ta lên một tầm cao mới
Giáo dục đạo đức, truyền thống cho học sinh, sinh viên không phải chỉ dừng lại ở quá trình nhận thức Như vậy thì chưa đủ Cái quan trọng là phải giúp cho học sinh, sinh viên "nội tâm hoá" những giá trị, phẩm chất ấy tạo thành những nét, những thuộc tính, những phẩm chất, những giá trị nhân cách bền vững trong họ, để họ ra sức học tập, phấn đấu, rèn luyện Giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống là để hình thành và củng cố cho học sinh, sinh viên Ngân hàng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, khơi dậy trong họ lòng nhiệt huyết cách mạng, ý trí tự lực tự cường, cần cù sáng tạo trong học tập
và nghiên cứu, ý chí vươn lên không cam chịu lạc hậu, đói nghèo, đang tiềm
ẩn trong mỗi học sinh, sinh viên Khi nói về vai trò của truyền thống dân tộc,