Chính vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ bang giao giữa Đại Việt với nhà Thanh dưới thời Tây Sơn 1789-1802 sẽ góp phần tìm hiểu tổng thể chính sách đối ngoại của Việt Nam và Trung Quốc tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Đinh Tiến Hiếu Các nội dung nghiên cứu, kết quả đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đấy Những thông tin phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu nhập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
nội dung luận văn của mình
NGƯỜI CAM ĐOAN
LÊ THỊ QUỲNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn: TS Đinh Tiến Hiếu – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy đã tận tình chỉ bảo, định hướng cho tôi để tôi
có thể hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ từ các thầy cô trong trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, các thầy cô trong khoa Lịch sử, trong bộ môn Lịch sử Thế giới - những người thầy đã dạy dỗ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành khóa học
Tác giả luận văn
Lê Thị Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 9
Chương 1: CƠ SỞ THIẾT LẬP QUAN HỆ BANG GIAO GIỮA NHÀ TÂY SƠN VỚI NHÀ THANH 10
1.1 Bối cảnh Đại Việt ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nhu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh 10
1.1.1 Xã hội Đại Việt nửa cuối thế kỷ XVIII 10
* Sự khủng hoảng của chính quyền phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong 10
* Vua Quang Trung khôi phục và xây dựng đất nước 13
1.1.2 Nhu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh 17
* Tránh một cuộc chiến tranh đổ máu tiếp theo giữa hai nước 17
* Tranh thủ hòa bình, phát triển kinh tế đất nước 19
* Giữ vững chủ quyền dân tộc 20
1.2 Bối cảnh xã hội Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XVIII và lợi ích của nhà Thanh trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Tây Sơn 21
1.2.1 Bối cảnh xã hội Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XVIII 21
* Vương triều nhà Thanh phát triển tới đỉnh cao dưới thời vua Càn Long 21
* Những vấn đề khó khăn nội tại của vương triều Càn Long 23
1.2.2 Lợi ích của nhà Thanh trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Tây Sơn 26
Trang 6* Tránh được những thất bại kế tiếp trên chiến trận 26
* Giữ được danh dự nước lớn 27
1.3 Truyền thống quan hệ bang giao giữa hai nước trước thời Tây Sơn 29
1.3.1 Tư tưởng truyền thống trong quan niệm ngoại giao của Đại Việt 29
1.3.2 Tư tưởng ngoại giao truyền thống của Trung Quốc 31
Chương 2: QUAN HỆ BANG GIAO GIỮA NHÀ TÂY SƠN VỚI NHÀ THANH (1789-1802) 36
2.1 Phong trào nông dân Tây Sơn và sự xác lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh 36
2.1.1 Phong trào nông dân Tây Sơn 36
* Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ 36
* Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn và đánh tan quân xâm lược Xiêm 37
* Tây Sơn lật đổ chính quyền Lê - Trịnh 39
* Tây Sơn đánh tan quân Thanh 41
2.1.2 Sự xác lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh 45
2.2 Thái độ của nhà Thanh đối với phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn 50
2.3 Hoạt động bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh (1789 – 1802) 54
2.3.1 Quan hệ sắc phong, triều cống 54
* Đón nhận sắc phong 54
* Triều cống 58
2.3.2 Hoạt động thương mại triều cống 61
2.3.3 Vấn đề biên giới, lãnh thổ 62
2.3.4 Giao lưu văn hóa 66
Chương 3: NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ QUAN HỆ BANG GIAO GIỮA NHÀ TÂY SƠN VỚI NHÀ THANH 70
Trang 73.1 Quan hệ sắc phong, triều cống – nền tảng của quan hệ bang giao giữa nhà
Tây Sơn với nhà Thanh 70
3.2 Những quy định về nghi lễ thể hiện một cách chặt chẽ trong quan hệ bang giao giữa hai nước 72
3.3 Thể hiện tính mềm dẻo, khéo léo 80
3.4 Thể hiện tính chủ động, cương quyết trong vấn đề đối ngoại 82
3.5 Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ 86
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 102
Trang 8Trong thời kỳ phong kiến, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc chủ yếu là
xung đột và thỏa hiệp, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” Với tư cách là một nước lớn, có ưu thế vượt trội về kinh tế, quân sự, văn hóa, Trung Quốc tự cho mình là “thiên triều, thượng
quốc” luôn tạo sức ép cho các quốc gia láng giềng, trong đó có Việt Nam bằng các cuộc
chiến tranh xâm lược Đối với Việt Nam, các triều đại phong kiến phải kiên cường đấu tranh, kiên quyết bảo vệ nền độc lập dân tộc, cùng với đó sử dụng những biện pháp ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo để cố gắng duy trì mối quan hệ hòa hảo, hữu nghị giữa hai quốc gia, tránh khỏi những cuộc chiến tranh gây tai họa cho dân chúng
Trong giai đoạn lịch sử phong kiến, quan hệ bang giao giữa Đại Việt với nhà Thanh dưới thời Tây Sơn (1789-1802) có nhiều đặc điểm nổi bật Những sự kiện trong hoạt động bang giao của vương triều Tây Sơn với nhà Thanh cho thấy một giai đoạn lịch sử hào hùng, sôi nổi trong quan hệ hai nước Từ xung đột, chiến tranh cho đến khôi phục sự hòa hảo, từ cương quyết cho đến mềm mỏng, nhưng trong mềm mỏng lại có sự cương quyết
Đó thật sự là một thử thách, một sự đấu trí kiên trì, bền bỉ, sáng suốt đối với bang giao Đại Việt dưới vương triều Tây Sơn Một lần nữa, Đại Việt lại khẳng định được sức mạnh
và vị thế của một quốc gia tự chủ của mình đối với Trung Quốc nói riêng và các quốc gia trong khu vực nói chung
Chính vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ bang giao giữa Đại Việt với nhà Thanh dưới thời Tây Sơn (1789-1802) sẽ góp phần tìm hiểu tổng thể chính sách đối ngoại của Việt Nam và Trung Quốc trong thời kỳ này và cũng góp phần vào việc nhận thức bản chất mối quan hệ giữa Trung Quốc với các quốc gia láng giềng
Trang 9Hiện nay, quan hệ ngoại giao quốc tế có xu hướng dùng các biện pháp hòa bình
để giải quyết những vấn đề tranh chấp, xung đột, tuy nhiên mối quan hệ này ngày càng
đa dạng và phức tạp Nhưng không vì thế mà quan hệ quốc tế trở nên bình lặng, không
có những xung đột, mâu thuẫn Do đó, quan hệ đối ngoại là một trong những vấn đề
mà Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm, đặc biệt là quan hệ ngoại giao với nước láng giềng Trung Quốc Để tích cực, chủ động hội nhập với thế giới đồng thời bảo vệ,
giữ vững nền an ninh quốc gia thì việc “ôn cố tri tân” là một việc làm có ý nghĩa Bởi
“học hỏi, kế thừa những sáng tạo, điểm hợp lý mà thế hệ đi trước để lại, vận dụng một
cách sáng tạo và linh hoạt vào thời đại mới là công việc quan trọng đối với mọi thời đại, mọi đất nước.” Những kinh nghiệm của các thế hệ cha ông để lại, nhất là quan hệ
với Trung Quốc trong các thời kỳ trước và thời kỳ Tây Sơn sẽ là những bài học quý báu, giúp chúng ta có những quyết sách đúng đắn trong thời đại hôm nay
Các học giả trong nước khi nghiên cứu về bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc dưới vương triều Tây Sơn mới chỉ dừng lại ở hệ thống niên biểu và các sự kiện tập trung vào hai vấn đề chính: phía Tây Sơn yêu cầu nhà Thanh phải chính thức công nhận Quang Trung là An Nam quốc vương; phía nhà Thanh yêu cầu Quang Trung sang Yên Kinh chúc thọ vua Càn Long 80 tuổi Tuy vậy, trong quan hệ bang giao, hai nước còn thể hiện ở trên nhiều lĩnh vực không chỉ có chính trị mà còn có kinh tế, văn hóa và cả thời kỳ sau khi vua Quang Trung mất cho đến khi vương triều Tây Sơn chấm dứt Những điều này chưa được các học giả trong nước quan tâm, chú trọng một cách đúng mức Bên cạnh đó, những nguồn sử liệu đương thời nói về quan hệ Tây Sơn – Thanh chủ yếu là nguồn sử liệu trong
nước như: Bang giao hảo thoại, Bang giao tập của Ngô Thì Nhậm, Dụ Am văn tập của Phan Huy Ích và Đại Việt quốc thư mà chưa có sự so sánh, đối chiếu nhiều với các nguồn
sử liệu của Trung Quốc Những vấn đề đó cần được xem xét, đánh giá lại một cách khách quan, khoa học và làm sáng tỏ những khoảng trống chưa được khai khác trong quan hệ bang giao giữa Đại Việt với nhà Thanh dưới vương triều Tây Sơn
Chính vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề “Quan hệ bang giao giữa Đại Việt với nhà Thanh dưới thời Tây Sơn (1789-1802)” làm đề tài luận văn
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu về lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc
Cho đến nay, đã có rất nhiều tư liệu viết về quan hệ bang giao giữa Việt Nam và
Trung Quốc Nổi bật như cuốn Việt – Hoa bang giao sử (Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2015)
của hai tác giả Huyền Quang - Xuân, Khôi - Đạt Chí Đây là cuốn sách tái bản năm 1952, nghiên cứu về bang giao của Việt Nam và Trung Quốc từ thời thượng cổ đến thời đại cận kim Từ đó, ca ngợi những thành quả mà người Việt đạt được trong quan hệ với người phương Bắc nhờ sự nhún nhường, khôn khéo nhưng cũng rất cương quyết
Xuất bản lần đầu năm 1943, Việt Nam thông sứ sử lược (Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2014) do hai tác giả Sông Bằng, Vân Hạc viết cho người đọc biết “nghệ thuật ngoại giao
trong cuộc thông hiếu với Trung Quốc, những cống phẩm, những tước phong, qua các thời đại cùng với những cuộc sứ trình, những hành vi và tiết tháo của những vị Tuế cống
sứ Việt Nam, những mối duyên văn ràng buộc sĩ phu Trung Hoa với các bậc khoa hoạn nước nhà.” Để từ đó, ta thấy được chính sách ngoại giao khôn khéo của ông cha ta trước
một nước láng giềng – một đế quốc phong kiến hùng mạnh phương Bắc
Cùng với nội dung tương tự, hai tác giả Phạm Thiều, Đào Phương Bình sưu tầm
biên dịch và công bố tác phẩm Thơ đi sứ (Nxb KHXH, Hà Nội, 1993) Trong tác phẩm
này, các tác giả đã nêu bật được thành quả ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, đồng thời cũng vẽ ra lộ trình mà các sứ thần Việt Nam sẽ đi qua
Tác giả Lưu Văn Lợi trong cuốn sách Ngoại giao Đại Việt (Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2000) đã nói về quan hệ ngoại giao của Đại Việt từ thời Ngô, Đinh, Tiền Lê đến
Tây Sơn với các vương triều Trung Quốc bằng “tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ ông cha” bởi sự tự hào các thế hệ đi trước “không những đánh giặc giỏi mà ngoại giao cũng tài.”
Về luận án, có luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thu Hiền với đề tài: Bang giao
Việt Nam với Trung Quốc dưới triều Trần (1226 – 1400) đã nghiên cứu một cách khoa
học, khách quan về mối quan hệ bang giao giữa vương triều nhà Trần với ba vương triều phong kiến của Trung Quốc là: triều Nam Tống, triều Nguyên, triều Minh Luận án cũng
đã cho thấy tính tự chủ, độc lập, linh hoạt cũng như những thành công của vương triều Trần trong các hoạt động bang giao với các vương triều phong kiến Trung Quốc, trong việc giúp Đại Việt giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia
Trang 11Năm 2014, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đã bảo vệ thành công đề tài luận
án tiến sĩ: Sự chuyển biến của quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm
1802 đến năm 1885 Luận án đã trình bày rõ những hoạt động và sự chuyển biến của quan
hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc qua hai giai đoạn 1802 – 1858; 1858 – 1885
2.2 Các tư liệu lịch sử và công trình nghiên cứu về quan hệ giao giữa Việt Nam
và Trung Quốc dưới vương triều Tây Sơn
2.2.1 Các tư liệu lịch sử
Lịch triều tạp kỷ do Ngô Cao Lãng biên soạn, Xiển Trai bổ sung, bản dịch của Hoa
Bằng, được Nxb KHXH Hà Nội, xuất bản năm 1975 và được tái bản năm 1995, là bộ sử viết theo thể biên niên, ghi chép các sự kiện lịch sử từ năm Lê Gia Tông, Dương Đức thứ 1 (1762) đến năm thứ 3 niên hiệu Chiêu Thống (1789) Quyển 6 của bộ sử này có ghi lại
những sự kiện lịch sử năm Kỷ Dậu (1789) Lịch triều tạp kỷ chú trọng ghi lại những văn
kiện ngoại giao của Nguyễn Huệ và Càn Long trong suốt năm 1789
Hoàng Lê nhất thống chí, một cuốn tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn phái
Tuy là tiểu thuyết chương hồi song Hoàng Lê nhất thống chí đã ghi chép được những sự
kiện lịch sử xác thực Nội dung của tác phẩm, ngoài việc miêu tả cuộc tranh ngôi đoạt quyền của các tập đoàn phong kiến Đàng Ngoài thời Lê Trung Hưng, tác phẩm còn phản ánh thành tựu của phong trào nông dân Tây Sơn và những tư liệu về quan hệ bang giao Việt Nam và Trung Quốc cuối thế kỷ XVIII
Bang giao hảo thoại, trong bộ Ngô gia văn phái tập hợp nhiều văn kiện ngoại giao
như biểu, tấu, thư của Quang Trung, Quang Toản gửi vua quan triều Thanh do Ngô Thì Nhậm soạn thảo Những văn bản đặc sắc này đã phản ánh khá rõ đường lối ngoại giao đối với Trung Quốc của triều Tây Sơn
Đại Việt Quốc thư, (Nxb Thuận Hóa, Huế, 1995) là tập sách gồm những thư từ,
biểu, tấu, sắc, dụ của vua Quang Trung giao thiệp với nhà Thanh Đây là những văn kiện ngoại giao, nhưng qua đó còn toát lên tư tưởng của Quang Trung – Nguyễn Huệ, một
vị vua thông minh kiệt xuất, không chỉ có tài năng quân sự tuyệt vời mà còn giỏi trong việc nội trị và ngoại giao
Thanh thực lục sử liệu chiến tranh Thanh – Tây Sơn và Thanh thực lục quan hệ Thanh – Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, (Nxb Hà Nội, 2007) do dịch giả Hồ Bạch Thảo
Trang 12sưu tầm dịch từ cuốn sách Thanh Thực lục – bộ sử liệu trường biên, viết theo thể biên niên,
do sử quan đời Thanh biên soạn Dịch giả Hồ Bạch Thảo đã lựa chọn biên dịch những chỉ dụ của vua Càn Long và vua Gia Khánh có liên quan tới Việt Nam nên đây là một tài liệu rất quý khi nghiên cứu về mối quan hệ bang giao Việt Nam – Trung Quốc trong thời kỳ này
2.2.2 Các công trình nghiên cứu
Tác giả Hoa Bằng đã viết tác phẩm Quang Trung anh hùng dân tộc 1788 – 1792,
(Nxb Hoa Tiên, Sài Gòn, 1794) tái hiện một cách rõ nét hình ảnh người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ trong phong trào Tây Sơn cũng như một vị vua anh minh, có tầm nhìn xa trông rộng, nhất là trong quan hệ với nhà Thanh
Nhà sử học Văn Tân có cuốn Cách mạng Tây Sơn, (Nxb Văn sử địa, Hà Nội, 1958),
tác giả đã dành nhiều trang phân tích về quan hệ bang giao giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc vào những năm 1789 – 1802 Đặc biệt, tác giả đã lưu ý tới sách lược khéo léo của Quang Trung, nhằm ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của triều đình Mãn Thanh
Nhà Tây Sơn, (Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình, 1989) được nhà văn lão thành
Quách Tấn và sự giúp đỡ của con trai Quách Giao viết nên, ra mắt người đọc khi kỷ niệm
200 năm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa “Tác phẩm này là kết quả của một tâm huyết
lớn lao của tác giả lớn khao khát thể hiện lại sự thật lịch sử trên chính mảnh đất chôn nhau cắt rốn của tác giả” mà ông đã dựa vào những câu chuyện của những người dân địa
phương cùng với các tư liệu lịch sử đáng tin cậy của 12 bộ sử ký về Tây Sơn và các tài liệu trong và ngoài nước viết về Tây Sơn Trong tác phẩm này, ông cũng đã nghiên cứu rất kỹ về vấn đề vua Quang Trung đại phá quân Thanh và đối ngoại
Bên cạnh đó, phong trào khởi nghĩa Tây Sơn cũng được các học giả nước ngoài quan tâm Một trong những cuốn sách tập hợp những bài nghiên cứu của các học giả nước
ngoài và dịch sang tiếng Việt, đó là cuốn Phong trào nông dân Tây Sơn dưới con mắt
người nước ngoài của tác giả Trương Hữu Quýnh (chủ biên) Trong đó giới thiệu và trích
dẫn một số nghiên cứu của các học giả nổi tiếng nước ngoài về thời đại và tiến trình diễn
ra cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Tập 4 của bộ sách Bang giao Đại Việt, xuất bản năm 2005 của tác giả Ngô Thế Long
đã giúp chúng ta tìm hiểu mối quan hệ bang giao giữa triều đình nhà Tây Sơn với triều đình nhà Thanh qua những sự kiện, câu chuyện đi sứ, tiếp sứ
Trang 13Tạp chí Xưa và nay số 275 – 276 năm 2007 có giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn
Duy Chính với tựa đề “Nét đặc biệt trong quan hệ Việt – Trung qua bốn đạo sắc phong
của nhà Thanh” Trong đó, tác giả đã đưa ra bản chữ Hán và bản dịch nghĩa của 4 sắc
phong của nhà Thanh: sắc phong Lê Duy Kỳ làm An Nam quốc vương, sắc phong Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương, sắc phong Nguyễn Quang Toản làm An Nam thế
tử, sắc phong Nguyễn Quang Toản làm An Nam quốc vương Từ đó cho thấy những nét đặc biệt trong tiến trình bang giao giữa vương triều Tây Sơn với nhà Thanh
Tạp chí Lịch sử quân sự số 191 năm 2007 có đăng bài viết của tác giả Nguyễn Huy
Thục với tiêu đề “Mềm dẻo, khéo léo nhưng cương quyết trong bang giao láng giềng một
quan điểm trong tư tưởng ngoại giao thời Tây Sơn” Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra
những dẫn chứng, lí lẽ thuyết phục cho thấy đặc điểm bang giao của vương triều Tây Sơn cũng như ca ngợi sự thông minh, khôn khéo của ông cha ta trong quan hệ đối với các nước láng giềng như: nhà Thanh, Xiêm, Vạn Tượng
Lược qua phần tư liệu, chúng ta có thể thấy rằng có nhiều tư liệu lịch sử, công trình nghiên cứu về thời Tây Sơn và quan hệ ngoại giao giữa vương triều Tây Sơn với nhà Thanh nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu, giới thiệu kỹ lưỡng và tỉ mỉ về bang giao Đại Việt với nhà Thanh dưới vương triều Tây Sơn (1789 – 1802)
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Phân tích cơ sở của quan hệ bang giao Đại Việt (thời Tây Sơn) với Trung Quốc (thời nhà Thanh): bối cảnh lịch sử Đại Việt, Trung Quốc cùng với nhu cầu của nhà Tây Sơn và lợi ích của nhà Thanh khi khôi phục quan hệ ngoại giao giữa hai nước
Trang 14Khôi phục lại hoạt động bang giao Tây Sơn – Thanh từ năm 1789 đến năm 1802 Phân tích và rút ra nhận xét, đánh giá những đặc điểm của mối quan hệ bang giao Tây Sơn – Thanh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ bang giao giữa Đại Việt với nhà Thanh dưới thời Tây Sơn (1789 – 1802) Chủ thể thực hiện hoạt động bang giao là Đại Việt dưới thời Tây Sơn, đối tượng của hoạt động bang giao là nhà Thanh (Trung Quốc)
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Những vấn đề khoa học của luận văn được giải quyết trên cơ sở khai thác và xử lý
từ nguồn tài liệu khác nhau:
Các công trình sử học được biên soạn trong thời kỳ phong kiến của Việt Nam và
Trung Quốc như: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều tạp kỷ, Thanh
thực lục được sử dụng làm tài liệu tra cứu những sự kiện lịch sử liên quan tới quan hệ
bang giao Đại Việt với nhà Thanh dưới triều đại Tây Sơn
Nguồn tài liệu về các chiếu, chỉ, biểu, tấu giữa vua và các đại thần vương triều
Tây Sơn với vua và các triều thần nhà Thanh như: Thanh Thực Lục, Đại Việt Quốc
Thư Nhờ vậy mà tác giả có thể đánh giá được mục đích, thái độ của hai vương triều
Tây Sơn và nhà Thanh
Trang 15Những bài thơ đi sứ của các sứ giả thời Tây Sơn sang nhà Thanh phản ánh tâm
tư, tình cảm của các cá nhân Qua đó ta cũng thấy được chủ trương ngoại giao của thời Tây Sơn
Các công trình nghiên cứu đã công bố có nội dung liên quan đến đề tài luận văn, bao gồm: sách chuyên khảo, sách tham khảo, bài nghiên cứu, thông tin đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành, khóa luận, luận văn của Việt Nam, Trung Quốc, Anh Đây là những cơ sở để tác giả có thể so sánh, đối chiếu những sự kiện lịch sử và bổ sung thêm nguồn tài liệu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nắm vững và vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm sử học mác xít, tác giả vận dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành để đưa ra những kết quả khoa học
Trong quá trình sưu tầm và xử lý tư liệu, tác giả tiến hành phương pháp phê phán sử liệu học để xác định độ tin cậy của tư liệu, sau đó tiến hành đối chiếu, so sánh, phân loại
tư liệu theo từng vấn đề
Trên cơ sở nguồn tư liệu thu nhập được, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tư liệu, kết hợp với phương pháp lịch sử và phương pháp logic để khái quát hoạt động bang giao giữa Đại Việt với nhà Thanh dưới thời Tây Sơn Từ đó, phân tích những kết quả, đặc điểm của các hoạt động bang giao này
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn tái hiện một cách hệ thống hoạt động bang giao giữa Đại Việt với nhà Thanh dưới vương triều Tây Sơn trên nhiều phương diện như: chính trị, kinh tế, văn hóa qua nhiều nguồn sử liệu Từ đó, luận văn giúp người đọc nhận thức khách quan, đầy đủ và cụ thể hơn về quan hệ bang giao giữa hai nước Đại Việt với nhà Thanh dưới vương triều Tây Sơn
Từ những nội dung biểu hiện các hoạt động bang giao giữa vương triều Tây Sơn với nhà Thanh từ lúc chiến sự cho đến lúc khôi phục giao hảo, tác giả rút ra những nhận xét
về kết quả và đặc điểm về hoạt động bang giao giữa Tây Sơn và nhà Thanh để làm rõ hơn những kinh nghiệm quý báu của ông cha trên mặt trận ngoại giao trong thời đại mới
Trang 16Luận văn bổ sung thêm tư liệu về Đại Việt và vương triều Tây Sơn cũng như vương triều nhà Thanh, lịch sử bang giao của thế giới nói chung và lịch sử bang giao hai nước Việt Nam – Trung Quốc nói riêng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được
chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở thiết lập quan hệ bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh
Trong chương này, tác giả nghiên cứu những lợi ích của nhà Tây Sơn và nhà Thanh khi khôi phục quan hệ hòa hiếu sau chiến tranh, từ đó cho thấy việc thiết lập quan hệ bang giao giữa Tây Sơn với nhà Thanh là xuất phát từ mong muốn hai bên
Chương 2: Quan hệ bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh (1789-1802)
Ở chương thứ hai này, tác giả tập trung nghiên cứu quá trình thiết lập quan hệ bang giao giữa Tây Sơn và nhà Thanh cũng như quan hệ bang giao giữa hai nước trong các vấn
đề quan trọng như: sắc phong; triều cống; biên giới, lãnh thổ; thương mại; văn hóa…từ năm 1789 đến năm 1802
Chương 3: Nhận xét, đánh giá về quan hệ bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh
Nội dung ở chương thứ ba này, tác giả sẽ trình bày một số đặc điểm nổi bật trong
quan hệ bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh như: quan hệ “sắc phong”, “triều
cống” là nền tảng quan hệ hai nước; những quy định nghi lễ chặt chẽ; thể hiện tính mềm
dẻo, khéo léo; thể hiện tính chủ động, cương quyết trong vấn đề đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ
Trang 17
Chương 1: CƠ SỞ THIẾT LẬP QUAN HỆ BANG GIAO GIỮA NHÀ TÂY SƠN
VỚI NHÀ THANH 1.1 Bối cảnh Đại Việt ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nhu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh
1.1.1 Xã hội Đại Việt nửa cuối thế kỷ XVIII
* Sự khủng hoảng của chính quyền phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong
Bước sang nửa cuối thế kỷ XVIII, chính quyền phong kiến Đàng Ngoài, Đàng Trong ngày càng trở nên suy yếu và khủng hoảng trầm trọng
Ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh rất lo lắng trước tình cảnh ngổn ngang của đất nước, khi
mà sản xuất nông nghiệp đình trệ, công thương nghiệp không phát triển, người dân thì đói khổ Vì vậy, chúa Trịnh đã ban hành nhiều chính sách để khôi phục kinh tế đất nước, nhất
là trong lĩnh vực nông nghiệp Nhà nước yêu cầu thành lập “sở đồn điền” để đi khai
hoang, khuyến khích nông dân khôi phục ruộng đất đã bị hoang hóa nhiều năm Theo đó
“xã nào số đinh hao hụt ruộng bỏ hoang nhiều không ai nhận cày thì cho phép chiêu mộ
người cày đợi 3 năm thành ruộng sẽ ghi vào sổ thuế Nếu xã nào nhiều ruộng quá, cày không hết mà có người tình nguyện bỏ vốn ra khai khẩn thì cũng cho phép.”[66, tr 409]
Nhờ chính sách trên mà tình hình xã hội Đàng Ngoài bắt đầu có sự cải thiện, nhiều làng xóm điêu tàn trước đây đã nhanh chóng được hồi phục Tuy nhiên, càng về sau chính quyền họ Trịnh càng tỏ ra yếu kém trong việc quản lý đất nước Bằng chứng là tình trạng chiếm đất của giới quyền quý, bọn cường hào ức hiếp dân chúng diễn ra ngày càng phổ biến khiến người dân lao động rơi vào cảnh vô cùng khó khăn
Nhà sử học Phan Huy Chú đã nhận xét tình trạng ruộng đất ở Đàng Ngoài là
“bỏ mặc cho dân xâm chiếm lẫn nhau” Do đó, kết quả là mất mùa, đói kém lại xảy ra: “Năm 1759: Thanh Hóa, Nghệ An bị nạn đói Năm 1766 các hạt Kinh Bắc vỡ đê,
nhà cửa, ruộng nương bị ngập lụt Năm 1768 Nghệ An và các trấn Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam, giá gạo cao vọt, nhân dân đói khổ, 100 đồng tiền không đủ một bữa no.”[66, tr 410] Trong tình cảnh khốn khó như vậy, nông dân nghèo chỉ còn cách
duy nhất là nổi dậy đấu tranh Năm 1778 là cuộc khởi nghĩa của Thục Toại ở các tỉnh đồng bằng ven biển Bắc bộ Năm 1785, cuộc khởi nghĩa do Thiêm Liêm lãnh
Trang 18ra khi Trịnh Sâm chết, phe phái của Trịnh Khải nổi lên đánh giết nhóm Hoàng Đình Bảo – Đặng Thị Huệ Nhưng cũng từ đó xã hội lại càng trở nên rối ren, hỗn loạn mà nhân dân gọi
hung hăng, cậy quyền, cậy thế “Rồi bọn quân lính càng thừa thế hoành hành Phàm các
quan văn võ hễ ai thuộc bè đảng của Thị Huệ và quận Huy, cùng những người dự vào việc
tố giác vụ án năm Canh Tý (việc Tông mưu cướp ngôi khi trước), những viên quan hầu mọi ngày có tính nghiệt ngã mà quân lính vẫn ghét, lúc ấy đều bị phá nhà hàng loạt và bị lùng bắt đem giết chết Luôn trong mấy ngày, họ làm náo động cả kinh thành Tông phải hạ chỉ ngăn cấm mà họ vẫn không thôi.”[22, tr 28]
Năm 1774, nhân cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn nổi dậy ở Đàng Trong, chính quyền họ Trịnh đã mang quân vào chiếm được vùng đất Thuận Hóa của họ Nguyễn nhưng vẫn không thể ngăn cản sự suy sụp ngày càng nhanh cả về chính trị, kinh tế, xã hội Đàng Ngoài
Ở Đàng Trong, từ nửa đầu thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến dưới thống trị của họ
Nguyễn khá ổn định Nhưng từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, xã hội Đàng Trong ngày càng rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, cuộc sống người dân rơi vào cảnh cùng cực Nhất là tình trạng chiếm đoạt ruộng đất của bọn địa chủ Nhân cơ hội chính quyền lơ là trong việc quản lý đất đai, những người có quyền thế tha hồ sử dụng uy lực để chiếm ruộng đất công
làng xã hay ruộng của những người nông dân phá sản: “có kẻ moi móc văn khế của một
người đàn bà đã bán đứt ruộng tư từ 40 năm trước, bảo là công điền của xã mà đem ra tranh kiện; có kẻ đem văn khế của một người đã bán đứt vườn riêng từ hơn 10 năm về
Trang 19trước, bảo là ruộng hương hỏa của bản tộc, mà đi thưa kiện.”[34, tr 239] Bọn cường hào
thì tự do chia nhau ruộng công của làng xã làm ruộng đất của riêng mình, với lý do phải
bù tô thuế cho Nhà nước Và cuối cùng, những người nông dân mất đất bị rơi vào tình
cảnh khốn cùng, phải “tha hương cầu thực”, đi phiêu tán khắp nơi
Tình trạng thuế khóa nặng nề đè nặng lên vai của người dân Để nuôi bộ máy nhà nước cồng kềnh và nhu cầu ăn chơi xa xỉ của giới quý tộc thì cần một nguồn tiền rất lớn Vì vậy, chính quyền họ Nguyễn không tiếc tay khi đề thêm rất nhiều loại thuế, nhân dân miền núi thì phải nộp lâm thổ sản như ngà voi, sừng tê, mật ong :
“hằng năm có 100 thứ thuế, mà trưng thu thì phiền phức, gian lận, nhân dân thống
khổ về một cổ đôi tròng”[34, tr 241] Đi liền với việc nộp thuế là một bộ máy thu
thuế rất cồng kềnh gọi là bản đường quan “cai trưng và quan lại các nha quá nhiều,
mỗi người trưng thu lại có vài ba mươi người đốc thúc, tra xét rất phiền nhiễu, lại còn xét hỏi, hành hạ, ẩn lậu, cố tình tăng giảm, sinh sự làm khổ dân”[34, tr 243]
Sưu cao thuế nặng đã khiến cho nhân dân rơi vào cảnh cùng kiệt, điêu đứng Thêm vào đó là nạn mất mùa, đói kém xảy ra liên tiếp làm nhân dân chết đói rất nhiều Từng được coi là một vựa thóc lớn bởi những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng lúa, nhưng giờ đây ở Đàng Trong lại xảy ra tình trạng dân chết đói quá nhiều bởi giá thóc cao vọt, không phải ai cũng mua được
Trái với cảnh khốn khó của những người dân lam lũ là cuộc sống xa xỉ của giai cấp thống trị Họ sống xa hoa, trụy lạc trên mồ hôi, nước mắt của những người dân Những lăng tẩm, cung điện nguy nga, rực rỡ, những lâu đài, dinh thự tráng lệ cùng với những bữa
yến tiệc liên miên đã tiêu tốn những khoản tiền thuế không nhỏ Trong “Phủ biên tạp
lục”, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhận xét: “Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, .lấy sự phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau Họ coi vàng bạc như cát, lúa gạo như bùn, hoang phí vô cùng”[34, tr 244].
Trong tình cảnh ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra chống lại chính quyền Đàng Trong Năm 1747, cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Gia Định do một số thương nhân đứng đầu Tiếp đến nhiều cuộc khởi nghĩa của đồng bào dân tộc thiểu số như người Chàm, người Khơ me để chống lại chính quyền họ Nguyễn Trong đó, cuộc khởi nghĩa có quy mô
Trang 20rộng lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của chàng Lía Lía tập hợp dân nghèo nổi dậy, chọn
Truông Mây (Bình Định) làm căn cứ, lấy của người giàu chia cho người nghèo
* Vua Quang Trung khôi phục và xây dựng đất nước
Trong 17 năm (1771 – 1788), phong trào Tây Sơn đã lật đổ các chính quyền Nguyễn, Trịnh, Lê, xóa bỏ ranh giới chia cắt đất nước Đàng Trong – Đàng Ngoài Đồng thời, phong trào Tây Sơn còn đánh tan các cuộc xâm lược của Xiêm và quân Thanh, bảo
vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc
Trong giai đoạn đầu của phong trào Tây Sơn, Nguyễn Nhạc là người khởi xướng và lãnh đạo Ông tự xưng hoàng đế, lấy niên hiệu là Thái Đức, lập ra vương triều Tây Sơn Nhưng Nguyễn Nhạc không phải là người đưa vương triều Tây Sơn tới đỉnh cao Với tầm nhìn hạn chế, ông không hiểu được chí hướng và hoài bão lớn của người em Nguyễn Huệ nên hai anh em đã bất hòa, dẫn tới xung đột vào năm
1787 Sau đó, hai người đã chia nhau vùng cai trị riêng, lấy ranh giới là sông Bến
Ván (Quảng Ngãi) Từ Quảng Ngãi trở vào thuộc quyền của Trung ương Hoàng đế
Nguyễn Nhạc, từ Quảng Nam ra Bắc do Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cai quản Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung để tiến quân ra Bắc đánh dẹp 29 vạn quân Thanh ở Thăng Long Còn Nguyễn Nhạc đã trở
nên “mệt mỏi, chỉ muốn giữ một phủ Quy Nhơn, tự hạ mình làm Tây Sơn Vương” Từ đó,
người có vai trò lãnh đạo chủ chốt trong vương triều Tây Sơn là vua Quang Trung
Để có thể khôi phục, xây dựng đất nước, chính quyền Quang Trung đã phải vượt qua rất nhiều khó khăn bởi hệ quả của cuộc khủng hoảng kéo dài và sự tàn phá của chiến tranh Đi cùng với đó là đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, xã hội rối ren Vua Quang Trung đã thể hiện ông không chỉ là một vị tướng quân sự tài ba mà còn là một nhà chính trị có tài khi đã có những quyết sách vô cùng đúng đắn
Về chính quyền: Ở Trung ương hình thành một triều đình được tổ chức quy củ
“Dưới hoàng đế là một đội ngũ quan lại cao cấp gồm các chức tam Thái, tam Thiếu, tam
Tư, đại tổng quản, đại tư đồ Ngự sử đài Ở các địa phương, đơn vị hành chính vẫn giữ nguyên như thời Lê Đứng đầu trấn là Trấn thủ do một võ quan nắm giữ, phụ giúp là Hiệp trấn do một quan văn phụ trách Mỗi huyện đều đặt hai chức Võ phân suất và Văn phân tri quản lý Cấp tổng có cai tổng trưởng, xã có xã trưởng”[35; tr 188] Ngoài những người đã
Trang 21cùng với Quang Trung gây dựng sự nghiệp từ những ngày đầu như Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng , trong bộ máy chính quyền của Quang Trung có mặt các nhân tài đất Bắc như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp, Đặng Tiến Đông Ông trọng dụng những nho sĩ này và cùng họ đưa ra những quyết sách đúng đắn để xây dựng đất nước
Để có sự giúp đỡ của những vị hiền tài này, ông không quản ngại điều gì, chỉ mong
họ có thể giúp sức Ví như chuyện Quang Trung đã phải 3 lần viết thư trực tiếp mời La sơn phu tử Nguyễn Thiếp ra giúp mình, lần nào cũng với lời lẽ khiêm nhường và lòng
mong mỏi tha thiết Trong thư lần thứ 3 có đoạn viết: “Quả đức hằng nghĩ và mơ tưởng
đến, trải 15 năm đến giờ, chưa lúc nào dám quên Không ngờ nay trông lên thành Lục Niên có người tài đang ở đó Ấy là trời để dành phu tử cho Quả đức vậy Tuy phu tử không thèm tới nhưng lòng dân đen trông ngóng, phu tử nỡ ngơ lãng sao”[66; tr 430]
Với tấm lòng như vậy, Quang Trung đã thu phục được rất nhiều nhân tài Bắc Hà, nhiều
người trong số đó là cựu thần nhà Lê trước vốn vẫn còn nặng tư tưởng “trung thần không
thờ hai vua” Điều này cũng thể hiện tài năng, trí tuệ, cốt cách hơn người của ông Ngay
như trong cuốn “Việt Nam sử lược”, tác giả Trần Trọng Kim cũng dành cho ông những lời khen ngợi: “Vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ
lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am hiểu trị nước, biết trọng người hiền tài văn học Khi ngài ra lấy Bắc Hà, những người như Ngô Thì Nhiệm, Phan Huy Ích đều được trọng dụng và nhất là đối với một người xử sĩ như Nguyễn Thiếp thì thật là khác thường”[64; tr 373]
Về quân đội, nhận rõ nguy hiểm từ nhiều phía, Quang Trung khẩn trương xây dựng
một quân đội mạnh để đảm bảo an ninh quốc gia Quân đội được đa dạng hóa các loại binh chủng gồm bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo binh Đặc biệt, đội thủy quân của Tây Sơn có sức mạnh khá lớn khi sở hữu những chiếc chiến thuyền lớn, có thể chở được voi chiến (hoặc 500 – 600 lính) và hàng chục đại bác Để có lực lượng đông đảo tham gia quân đội, Quang Trung đã cho lập lại sổ hộ ở các xã Tất cả nam giới không phân biệt giàu nghèo, xuất thân đều phải ghi tên vào sổ hộ Thậm chí, mọi dân đinh đều
có thẻ tín bài được khắc chữ “Thiên hạ đại tín” Trong thẻ tín bài này có ghi rõ thông
tin cá nhân nên họ phải mang theo dù đi bất cứ đâu Có 4 hạng nhân đinh được chia
theo từng độ tuổi: “9-17 tuổi: vi cấp bách; 18-55 tuổi: tráng hạng; 56-60 tuổi: lão hạng;
Trang 22trên 60 tuổi: lão nhiêu”[66; tr 430] Như vậy, có thể thấy việc áp dụng thẻ tín bài và phân
chia độ tuổi các hạng đinh khá hợp lý để tăng cường việc quản lý công dân một cách chính xác
Về kinh tế, khó khăn lớn nhất vẫn là nông nghiệp khi mà năm nào cũng rơi vào
tình trạng mất mùa, đói kém Ở những vùng như Thanh Hóa, Nghệ An thì “một hạt thóc
cũng không có sau cuộc binh hỏa dịch tật thịnh hành, chết không biết bao nhiêu mà kể”, ruộng đất khắp nơi bị bỏ hoang, không có người cày cấy Chính vì vậy, năm 1789,
Quang Trung ngay lập tức cho cho ban chiếu Khuyến nông để nhằm ổn định đời sống
nhân dân Trong đó, có đoạn viết: “Từ khi binh lửa luôn năm, lại thêm những nỗi đói
kém, nhân dân xiêu dạt, đồng ruộng bỏ hoang, nên thực số đinh điền không bằng bốn, năm phần mười thuở trước Phàm những dân nào trước có kiều ngụ tha phương, trốn tránh dao dịch, hoặc vì có thê hương mẫu quán mà đến ở, hoặc vì đi buôn bán làm ăn mà ngụ cư, hễ được vào làng ở sở tại từ ba đời trở lên thì mới cho ở, còn ngoài ra bắt về bản quán hết thảy, biệt xã không được chứa chấp Những ruộng công, ruộng tư đã trót bỏ hoang, nay đều cho nhận về lấy cày cấy, không được bỏ bê trễ
Các sắc mục, các xã trưởng và các thôn trưởng sở tại phải xét sổ đinh thực tại có bao nhiêu suất, rồi đem số thực điền đã thực khẩn được bao nhiêu mẫu, số hoang điền mới khai khẩn được bao nhiêu mẫu, đều phải đăng vào sổ bộ, nộp triều đình sẽ phái quan khâm sai đi khám lại cho đúng sự thực, bấy giờ mới liệu định việc bổ thuế cho công bằng Xã nào ruộng hoang đã đến hạn mà chưa nhận lấy khai khẩn thì phải chịu trách nhiệm về việc đóng thuế ruộng công, chiếu theo ngạch thuế điền cũ mà nộp gấp đôi ”3
Nội dung trong bản “Chiếu Khuyến nông” trên, mặc dù chưa có chính sách giải
quyết triệt để về vấn đề ruộng đất, nhưng chính quyền Quang Trung đã giải quyết kịp thời tình trạng ruộng đất bỏ hoang và nạn lưu vong Nhờ đó mà tình hình kinh tế nông nghiệp
đất nước mới được khôi phục Theo sử cũ, trong vòng 3 – 4 năm sau, “mùa màng trở lại
phong đăng, năm phần mười trong nước khôi phục cảnh thái bình”[44, tr 432]
Cuộc sống người nông dân đã trở nên dễ chịu hơn Tuy nhiên vào cuối thời Tây Sơn, việc chiếm hữu ruộng đất ngày càng gia tăng mà Nhà nước không có biện pháp quản lý dẫn tới tình hình nông nghiệp đình trệ, cuộc sống người nông dân lại trở nên khốn khó như cuối thời Lê – Trịnh
3
Hoa Bằng dẫn theo Hàn các anh hoa của Ngô Thì Nhậm
Trang 23Đối với công thương nghiệp, Quang Trung thực hiện những biện pháp khuyến khích sản xuất, lưu thông hàng hóa và đặc biệt là chính sách cai trị nghiêm minh, bài trừ tệ nạn tham nhũng đã có tác động tích cực đến sự phục hồi và bước đầu phát triển của các ngành thủ công nghiệp cũng như hoạt động thương nghiệp Đối với thương nhân nước ngoài, Nhà nước mở rộng các cửa ải, hải cảng, tạo điều kiện trao đổi buôn bán nhằm đẩy mạnh giao lưu, phát triển kinh tế hàng hóa Chính quyền Quang Trung còn cho đúc tiền mới đưa vào lưu thông và chấn chỉnh lại chính sách thuế khóa Ông đã bãi bỏ và giảm nhẹ nhiều loại thuế Nhờ vậy, tình hình công thương nghiệp vốn đình trệ hàng thế kỷ đã được phục
hồi dần Bài phú “Tụng Tây Hồ” cũng đã có những câu thơ miêu tả hoạt động sản xuất thủ công nghiệp nhộn nhịp lúc bấy giờ:“Lò Thạch Khối khói tuôn nghi ngút, Thoi oanh nọ
ghẹo hai phường dệt gấm, lửa đóm nhen Năm xã gây lò hoặc chày Yên Thái nên trong sương chểnh choảng” Nhà thơ Phan Huy Diệu cũng thừa nhận ở vùng Bát Tràng “chợ phố đông đúc, hàng bày đầy ắp, mái chèo đi lại tới tấp”[66; tr 432]
Về giáo dục: với “Chiếu Lập học”, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, việc học
được phổ biến tận xã, trong đó nói rõ mục đích: “Trẫm từ khi mới bình định đã có ý
hậu đãi nhà Nho, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài để dùng cho quốc gia”[35, tr 189] Vì vậy mà các huyện, xã được Nhà nước khuyến khích mở trường
học Ở Nghệ An, khoa thi Hương đầu tiên đã được mở để tuyển chọn nhân tài cho đất nước vào mùa thu năm 1789 Nội dung giáo dục có sự đổi mới căn bản, chú trọng tính thiết thực, sáng tạo đúng như trong bản tấu của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp:
“Cúi xin từ rày, ban chiếu thư cho trường phủ, huyện, khiến thầy trò các trường tư,
con cháu các nhà văn võ, thuộc lại ở các trấn cựu triều, đều tùy đâu tiện đấy mà đi học Phép dạy, nhất định theo Chu Tử Trước học Tiểu học để bồi lấy gốc Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chu sử Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học biết
mà làm Họa may kẻ nhân tài mới có thể thành tựu; nhà nước nhờ đó mà vững yên Ấy thật là có quan hệ tới thế đạo nhân tâm đời bấy giờ Xin chớ bỏ qua
Sự đạo thành thì người tốt nhiều; người tốt nhiều thì triều đình chính mà thiên hạ trị ”[11, tr 184].
Những đề nghị của Nguyễn Thiếp thực sự đúng đắn Cách học “Học rộng rồi tóm
lược cho gọn, theo điều học mà làm” rất khoa học, kết hợp học với hành Cùng với đó,
Trang 24cuối năm 1791, Quang Trung cũng giao cho Nguyễn Thiếp lập viện Sùng chính chuyên lo việc giáo dục và dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, dùng làm tài liệu học tập Mặc dù coi trọng Nho giáo, nhưng Quang Trung lại là người đề cao chữ Nôm Đây là chữ viết của dân tộc được cấu tạo trên cơ sở chữ Hán, ra đời từ thế kỷ XIII Lần đầu tiên trong lịch sử, chữ Nôm được Quang Trung đưa vào khoa cử và trở thành văn tự chính thức của Nhà nước Việc đề cao chữ Nôm đã thể hiện rõ chủ trương bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc của triều đại Tây Sơn
Như vậy, có thể thấy rằng, sau khi chiến tranh, vua Quang Trung đã có những chính sách rất tiến bộ để có thể khôi phục, xây dựng đất nước Nhìn chung, tất các chính sách về kinh tế, văn hóa, giáo dục đều mang lại những hiệu quả, làm ổn định xã hội và đều được
đánh giá cao “Các chính sách của vua Quang Trung về các mặt công nghiệp, thương
nghiệp, nông nghiệp, quân sự, văn hóa, giáo dục tuy vẫn nằm trong khuôn khổ chế độ phong kiến, nhưng có tính chất tiến bộ rõ rệt Các chính sách ấy không phải là những chính sách buổi đầu của một triều đại mới nhằm thỏa mãn lòng người trong một thời gian ngắn
để rồi lại đi vào con đường phản động, mà là những chính sách có tính chất lâu dài đặt ra theo một kết hoạch làm cho nước Việt Nam có một kỷ cương mới để có thể trở nên giàu mạnh Kỷ cương mới này, mặc dầu vẫn dựng trên cơ sở chế độ phong kiến, nhưng đã trút
bỏ được nhiều khuyết điểm và nhược điểm thường có của chế độ phong kiến”[75; tr 174]
Tuy vậy, thật đáng tiếc, khi đất nước đang phát triển đi lên trong một tư thế mới thì Quang Trung đột ngột qua đời vào năm 1792, khi mới 39 tuổi, bỏ lại cả một sự nghiệp lớn còn dang dở Người kế vị ông là Quang Toản đã không đủ sức gánh vác trọng trách được giao phó và dẫn tới tình trạng vương triều Tây Sơn ngày càng suy yếu, bị lật đổ bởi Nguyễn Ánh sau đó
1.1.2 Nhu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh
* Tránh một cuộc chiến tranh đổ máu tiếp theo giữa hai nước
Nhà Thanh là một vương triều lớn, bị quân Tây Sơn đánh bại tất sinh lòng oán hận
mà tìm cách trả thù Nếu vậy, chiến tranh sẽ tiếp diễn, nhiều người hy sinh, dân tình khốn đốn Đoán trước được điều đó, ngay khi ở Tam Điệp, Quang Trung đã chủ trương phải khôi phục quan hệ ngoại giao với nhà Thanh sau khi cuộc chiến kết thúc Quang Trung đã
bàn điều đó với nhiều tướng lĩnh, đặc biệt là với Ngô Thì Nhậm: “…chúng là nước lớn
Trang 25gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao ”[22, tr 228] Mặc
dù Quang Trung không hề đánh giá cao sức mạnh của quân đội nhà Thanh và cho rằng mười năm sau khi đất nước lớn mạnh hơn thì đánh lại quân Thanh cũng không muộn gì Nhưng trước hết cần hòa hoãn để đảm bảo sức dân, tạo thời gian hòa bình để khôi phục
và xây dựng đất nước phát triển hơn
Chính vì những quan điểm như vậy, nên mặc dù bước ra khỏi cuộc chiến với tư thế người thắng cuộc, nhưng vua Quang Trung không hề tự kiêu, tỏ ra hung hãn mà đối với nhà Thanh ông hết sức mềm mỏng, tận dụng cơ hội để thiết lập lại hòa bình giữa hai nước Sau chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, biết ý nhà Thanh đang tìm cách giảng hòa
mà vẫn muốn giữ thể diện nước lớn, vua Quang Trung đã sai Ngô Thì Nhậm viết thư cho Thang Hùng Nghiệp để trình lên vua Càn Long.
Trong tờ biểu, với lời lẽ hết sức thành khẩn, nhã nhặn, luôn thể hiện sự khiêm nhường với nhà Thanh, Ngô Thì Nhậm đã thay vua Quang Trung nêu nguyên nhân xảy ra chiến tranh, kể tội Tôn Sỹ Nghị và xin xưng thần nộp cống với mong muốn khôi phục
ngoại giao với nhà Thanh Tờ biểu có đoạn: “Thần vốn là kẻ mặc áo vải ở Tây Sơn, nhân
thời thế nổi lên khởi sự Mùa hạ năm Bính Ngọ (1786), dựng binh diệt Trịnh, trả lại nước cho nhà Lê Cũng năm đó tiền Lê vương tạ thế, tôi lại phò lập Tự Tôn Duy Kỳ lên nối ngôi Duy Kỳ là người bạo dâm, triều chính không lo, trong thì kỷ cương lỏng lẻo, ngoài thì gây hiềm khích Hãm hại kẻ trung lương, giết chết kẻ đồng tông Thần dân trong nước chạy đến kể tội với tôi, mời tôi đứng ra xuất binh trừ loạn Biểu văn cũng chỉ ra những lỗi
của Tôn Sĩ Nghị: Sĩ Nghị là một đại thần ở biên cương, đáng lẽ phải xét kỹ căn do, tìm
hiểu nguyên nhân vì sao Duy Kỳ lại chốn bỏ nước và tại sao tôi phải dấy binh, rồi tâu cùng đại hoàng đế, đợi ngài phân xử để dẹp loạn Trái lại, vì ham tài sắc, chỉ nghe lời đàn bà, Sĩ Nghị đã xé biểu chương của tôi ném xuống đất, làm nhục sứ giả, ý hẳn muốn khua dân dấy binh, tâng công gây chuyện” Đồng thời biểu văn cũng nêu rõ xin được
xưng thần nộp cống: “Nếp nghĩ Đại hoàng đế là bậc theo ý trời, ban trị hóa, làm cho
cành khô lại xanh tươi, cây kiệt lại nảy nở Xin ngài lựa theo tự nhiên, thứ cho cái tội đón đánh Tôn Sĩ Nghị và xét cho tấc thành mấy phen đã gõ cửa ải, dâng lời tâu bày Xin Ngài
Trang 26lập kẻ tư mục để chăn dân, dựng nước phên giậu để vững thế, ban ơn mệnh mới cho tôi làm An Nam quốc vương, đứng làm phiên binh một phương, kính giữ cái chức phiên mục, khiến cho bản quốc có người cầm đầu cai quản Tôi xin kính cẩn sai sứ sang cửa cung khuyết, xung phiên, sửa lễ cống Lại sẽ xin đem số người hiện còn của nhà vua mà dâng nộp để tỏ tấc dạ rất thật này”[97]
Tuy nhiên khi tờ biểu đến tay Thang Hùng Nghiệp, ông ta không bằng lòng với giọng điệu trong biểu văn, cho rằng quá đanh thép nên đã giấu đi Nhưng, thông qua nội dung tờ biểu thấy được những mong muốn của vua Quang Trung trong việc khép lại cuộc chiến tại đây khi đổ tội nguyên nhân cuộc chiến là do Tôn Sĩ Nghị, còn với vua Càn Long
thì nhất mực ca ngợi “Đại hoàng đế” và tha thiết muốn xưng thần nộp cống Sự nhún nhường đó không phải là một sự thất bại, lùi bước mà nó thể hiện “tầm nhìn xa trông
rộng” của Quang Trung, khi mà Trung Quốc là một quốc gia láng giềng rất lớn Nó sẽ
giúp cho Đại Việt tránh khỏi những cuộc chiến tranh liên miên hao người, tốn của
* Tranh thủ hòa bình, phát triển kinh tế đất nước
Người Việt xưa có câu “an cư lạc nghiệp”, nói rộng ra thì muốn khôi phục và xây
dựng kinh tế thì đất nước phải yên ổn, thái bình Vì vậy, việc nối lại mối hòa hảo với nhà Thanh sẽ giúp vương triều Tây Sơn có thời gian hòa bình, tập trung mọi nguồn lực để xây dựng đất nước Bên cạnh đó, từ xưa đến nay Trung Quốc luôn là bạn hàng lớn với Việt Nam Thiết lập ngoại giao với nhà Thanh đồng nghĩa với việc thúc đẩy trao đổi buôn bán giữa hai nước Thương nghiệp khởi sắc, các hoạt động thủ công nghiệp cũng phát triển theo, kinh tế đất nước sẽ ngày càng đi lên
Ngay từ năm 1789, vua Quang Trung đã gửi thư gửi Tổng đốc Lưỡng Quảng
Phúc Khang An về việc mở cửa buôn bán giữa hai nước với mong muốn “mở cửa ải,
thông chợ búa, khiến cho hàng hóa không ngưng đọng để làm lợi cho dân dùng”
Phúc Khang An cho mở các cửa ải Bình Nhi, Thủy Khẩu, Du Thôn để nhân dân hai nước có thể trao đổi buôn bán Đến năm 1790, một thương điếm của vương triều Tây Sơn
đã được đặt tại phủ Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây
Nhờ đó mà giao thương ở miền Bắc, nhất và vùng biên giới sau một thời gian bị tàn phá do chiến tranh đã khởi sắc trở lại Chỉ ba năm sau, Thành Lâm (khi đó là đồng tri Ninh Minh) đã tâu lên vua càn Long:
Trang 27“Từ năm 56 được thánh ân chuẩn cho nước An Nam thông thị đến nay, lúc đầu các
loại hàng hóa xuất khẩu chỉ có các loại dầu, đồ sứ, giấy bản, nồi gang đều là những món nặng nề, thô kệch
Gần đây, dân chúng nước ấy vui vẻ làm ăn nên những đồ cần dùng gia tăng gấp bội khi trước, nô tài qua lại trấn Nam Quan mục kích trên đường đến ải Do Thôn hàng hóa xuất khẩu cuồn cuộn không dứt
Tra hỏi họ đem những hàng hóa gì thì biết là có vải tơ, trà thơm và những món hàng không nặng lắm Còn Bình Nhi, Thủy Khẩu hai cửa thuộc đồng tri Long Châu kinh lý, cách trấn Nam Quan khá xa, hỏi ra thì đồng tri Vương Khẳng Đường cũng nói rằng gần đây hàng hóa xuất khẩu so với khi mới mở chợ, mỗi ngày một nhiều ”[26, tr 308-309]
* Giữ vững chủ quyền dân tộc
Đối với vương triều Tây Sơn, nền an ninh và toàn vẹn lãnh thổ vẫn bị đe dọa dù quân xâm lược nhà Thanh đã bị đánh tan Ở phía Bắc lực lượng chống đối Tây Sơn đứng đầu là Lê Duy Chỉ (em ruột của Lê Chiêu Thống) đang nhen nhóm hoạt động ở vùng biên giới Việt - Trung Ở phía Nam, do sự nhu nhược và bất lực của Nguyễn Lữ, Nguyễn Ánh
đã từng bước chiếm lại Gia Định và đang tìm cách khôi phục lại lực lượng với sự viện trợ của thực dân Pháp Trong bối cảnh đó, chính quyền Quang Trung khôi phục hòa hiếu, có mối quan hệ ngoại giao chính thức với nhà Thanh là một việc làm cần thiết để giữ vững chủ quyền dân tộc, đảm bảo an ninh quốc gia cũng là tránh cùng một lúc phải chống chọi với quá nhiều kẻ thù
Khi thiết lập ngoại giao với nhà Thanh nghĩa là nhà Thanh phải công nhận nền độc lập của vương triều Tây Sơn và người đứng đầu là vua Quang Trung Do đó, bất cứ thế lực nào gây rối trong nước đều không được nhà Thanh công nhận
Trước đó, nhà Thanh đã ra mặt ủng hộ cho Lê Duy Kỳ bằng cách sắc phong vương cho ông ta:
“Trẫm phủ ngự trong ngoài, yên ổn chốn xa gần Nghĩa không gì lớn bằng dẹp loạn
để trị; đao không gì thịnh bằng phục hưng họ bị diệt, nối dòng bị đứt Họ (Lê) này sớm nhận triều mệnh, đời đời được sắc phong; nay gặp lúc đất nước lắm nỗi khó khăn, con dân không trung thuận Nên phải dẹp bọn giặc cỏ (Nguyễn Huệ), cứu vớt kẻ ngả nghiêng; trở về với lễ nhạc quan chiêm, xứng với chức phiên bang làm phên dậu
Trang 28Vương hãy thận trọng tu sửa kỉ vương, thừa phụng uy linh, tập hợp nhân dân, giữ gìn cương vực Chớ ham chơi mà bỏ việc, đừng cầu an để bại danh; đội ơn Thiên triều để lòng nhân tái tạo, càng tăng phúc cho vận nước trùng hưng”[39, tr 40-41]
Với bản sắc phong này, chính quyền hợp pháp được sự công nhận của nhà Thanh là chính quyền của Lê Duy Kỳ, còn Tây Sơn tất yếu là những kẻ phản loạn Vì vậy, việc thiết lập ngoại giao với nhà Thanh là điều rất quan trọng Khi nối lại mối giao hảo với nhà Thanh, chính quyền Càn Long phải sắc phong cho Quang Trung làm An Nam quốc vương Từ đó vương triều Tây Sơn sẽ trở thành vương triều chính thức của Đại Việt dưới sự bảo hộ của
“Thiên triều” Và mọi thế lực của Lê Duy Kỳ còn sót lại hay thế lực của Nguyễn Ánh trở
thành những thế lực phản loạn và không được bất kỳ sự giúp đỡ nào của nhà Thanh
1.2 Bối cảnh xã hội Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XVIII và lợi ích của nhà Thanh trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Tây Sơn
1.2.1 Bối cảnh xã hội Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XVIII
* Vương triều nhà Thanh phát triển tới đỉnh cao dưới thời vua Càn Long
Sau khi lật đổ được nhà Minh, người Mãn chiếm giữ toàn bộ vùng Trung Nguyên, lập nên nhà Thanh Vì đây là vương triều ngoại tộc nên cũng gặp phải sự phản đối rất lớn của người Hán Nhưng những ông vua đầu tiên Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính, Càn Long đã thi hành rất nhiều chính sách tích cực nên nền kinh tế đã được khôi phục và phát
triển, xã hội cũng dần được ổn định “Ba triều đại Khang Hy, Ung Chính, Càn Long được
gọi là Bách niên thịnh thế”[1, tr 312].
Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, dưới sự trị vì của vua Càn Long, xã hội Trung Quốc vẫn giữ vững sự thịnh trị trên tất cả các mặt Nhà vua thực hiện các chính sách có lợi cho sự phát triển kinh tế của đất nước, giảm bớt gánh nặng cho đời sống người nông dân, mâu thuẫn xã hội không quá gay gắt Do những chính sách phù hợp đó, vương
triều nhà Thanh đã phát triển tới cực thịnh vào giữa đời vua Càn Long “Lúc bấy giờ
diện tích canh tác trên toàn quốc đã cao năm vạn khoảnh, so với cuối đời Thuận Trị
đã gia tăng khoảng 1/3; dân số ở trong nước cũng tăng trưởng chưa từng có, lên đến gần ba trăm triệu; kinh tế hàng hóa cũng có bước phát triển dài, thành thị ở trong nước do đó cũng trở thành phồn vinh, khôi phục được thậm chí đã vượt qua thời kỳ phồn vinh nhất dưới triều Minh”[1, tr 312]
Trang 29Về chính trị, vua Càn Long áp dụng nghệ thuật cai trị “Khoan dung nghiêm
khắc bổ sung cho nhau” được kế thừa từ hai vị vua tiền nhiệm là Khang Hy và Ung
Chính Nhà nước nhiều lần giảm thuế cho dân, bãi bỏ những luật lệ quá hà khắc Hằng năm cũng có những lần ân xá tôi phạm Nhưng ngược lại với những quan lại tham nhũng, kết bè đảng trong triều đình thì bị trừng trị nghiêm khắc Đường lối chính trị của vua Càn Long đã kết hợp được cả sự mềm dẻo và cứng rắn, giữa cương
và nhu làm cho xã hội thái bình, đất nước thịnh trị
Về kinh tế, nông nghiệp được chú trọng và phát triển Nhờ đất đai được mở rộng, số
ruộng cày ngày càng tăng lên, nhiều đồn điền được lập ở những miền biên cương xa xôi ở phía Tây, phía Tây Nam, ở Tân Cương, Đài Loan Mùa màng bội thu, đảm bảo đời sống cho nhân dân Hai tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam trở thành vựa lúa của Trung Quốc Vì thế mà
người Trung Quốc có câu tục ngữ: “khi Hồ Quảng - tức Hồ Bắc và Hồ Nam - mà lúa chín
thì dân trong nước khỏi đói”[29, tr 220] Ngoài trồng lúa, người dân còn trồng mía, chè,
dâu nuôi tằm phổ biến ở hai tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông Không chỉ vậy, những giống cây được người nước ngoài đem vào như khoai lang, ngô, cà chua, thuốc lá cũng được trồng thêm Vì vậy các sản phẩm nông nghiệp rất phong phú, đa dạng
Xã hội ổn định, nông nghiệp phát triển kéo theo sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng phát triển theo Các ngành nghề truyền thống như làm gốm, dệt lụa đều phát
triển “đồ tơ lụa, gấm vóc ở Hàng Châu, Tô Châu, đồ vải ở Giang Tây (500 lò) Vài nơi đã
có những xưởng lớn như Nam Ninh có 3 vạn khung cửi, ở Tô Châu có 33 xưởng in hình lên giấy, dùng 200 thợ”[29, tr 220-221] Vì thế, những đô thị lớn đều tập trung ở miền
Nam như Nam Ninh, Hạ Môn, Quảng Châu, Hán Khẩu Ngành nghề mang lợi nhiều nhất cho các thương nhân là bán muối và lập ngân hàng ở Sơn Tây
Về văn hóa, giáo dục: Càn Long là một vị vua văn võ song toàn, ngoài võ nghệ cao
cường thì ông cũng rất thích đọc sách và am hiểu thơ văn Bởi vậy, dưới thời vua Càn Long, văn hóa, giáo dục rất phát triển Nhà nước đề cao Nho học, chú trọng đào tạo hiền tài cho đất nước Riêng bản thân Càn Long cũng là một nhà thơ có nhiều tác phẩm được đánh giá cao Ông còn cho người tập hợp những thành tựu văn thơ trong nước phục vụ cho mục
đích củng cố vương quyền của mình “Từ năm 1773 đến năm 1782, Càn Long đã tập trung
360 tác gia nổi tiếng trên văn đàn để biên soạn nhiều bộ sách kinh điển, trong đó kể cả bộ
Trang 30“Tứ khố toàn thư”, để thi hành chính sách chuyên chế về văn hóa, nhằm củng cố vương triều Thanh”[16, tr 379] Theo đó, những bài thơ nào thể hiện quan điểm sai lệch với chính
quyền cai trị đều bị xóa bỏ mà ông đã đề cập với những nhà biên soạn sách: “những gì cần
bỏ thì bỏ, những gì cần đổi thì đổi.”
* Những vấn đề khó khăn nội tại của vương triều Càn Long
Quốc khố ngày càng suy kiệt: Càng trở về sau, gánh nặng quốc khố của chính
quyền Càn Long ngày càng nhiều Nhà vua từng tuyên bố đào tạo được đội “Thập toàn
võ công” và tự cho mình là “Thập toàn lão nhân” Nhưng để nuôi đội quân đó rất tốn
kém “nhất là những trận dẹp các rợ Đại Tiểu Kim Xuyên ở miền núi Tứ Xuyên – Vân
Nam, trước sau mất năm năm, tốn 70 triệu lạng bạc, bằng hai năm thu nhập của triều đình Bắc Kinh ”[29, tr.22] Lại thêm nhà vua rất thích ngao du thiên hạ, đặc biệt xuống
vùng Giang Nam Qua “sáu lần tuần du Giang Nam” đã tiêu tốn một khoản tiền rất lớn
Bên cạnh việc tìm hiểu đời sống nhân dân, Càn Long tuần du thiên hạ còn là để ăn chơi hưởng lạc, ngày đêm yến tiệc ca hát, nhảy múa cùng những cô gái Hán xinh đẹp Mỗi lần nhà vua hạ chỉ đến thì các quan địa phương tìm mọi cách nghênh giá nhà vua một cách long trọng nhất Cứ mỗi địa phương, Càn Long đi qua thì đều được cung ứng các
vật dụng đầy đủ, tốn kém không biết bao nhiêu tiền bạc
Trong thời kỳ tại vị, Càn Long cũng ham thích xây những cung điện nguy nga, lộng lẫy tốn kém biết bao nhiêu tiền của Ví như Viên Minh Viên mà Càn Long đã hạ lệnh cho Hòa Thân chỉ đạo xây dựng công trình này, để làm sao có thể đẹp như ở Giang Nam
Trong đó có “một dãy phố buôn bán theo kiểu phố phường ở Tô Châu và Hàng Châu Có
cửa hàng bán đồ cổ, hiệu may y phục, quán rượu, quán trà, hàng hóa bày la liệt Các chủ hiệu đều được đưa từ Tô Châu, Hàng Châu đến Ngay cả số người bán rong như bán hoa, bán cây, bán dưa, bưng giỏ rao hàng mời khách cũng là người Tô Châu, Hàng Châu được đưa đến”[16, tr 383] Biến nơi đây trở thành nơi vui chơi của vua và các quan đại
thần, nhất là những dịp Tết Nguyên đán các hàng quán, phố phường, quán trà, quán rượu lại mua bán tấp nập, nhộn nhịp không khác gì ở xứ Giang Nam
Nạn tham nhũng ngày càng tràn lan: Tham nhũng đã trở thành một vấn nạn vào
cuối thời Càn Long, khi mà nhà vua ngày càng rơi vào cuộc sống ăn chơi hưởng lạc, còn
hệ thống quản lý Nhà nước ngày càng lỏng lẻo Thậm chí, sự tham ô của các viên quan đã
Trang 31trở thành một phong trào chung Quan lại kết thành bè đảng, cấu kết với nhau đục khoét quốc khố và tiền của dân chúng Trong hệ thống đó, điển hình nhất phải nói tới là nhân vật Hòa Thân Ông ta vốn chỉ giữ một chức quan nhỏ là chức Nghi Vệ trong Kim Loan Điện ở hoàng cung, chức vụ Hiệu Úy Nhưng vốn nhờ tài ăn nói khéo léo, lại đoán biết chiều lòng vua nên ông ta ngày càng được Càn Long yêu quý, tín nhiệm, giao cho nắm mọi quyền bính trong tay Khi Càn Long về già, Hòa Thân được phong chức vụ Nhất Đẳng Công – địa vị cao nhất trong các quan lại đại thần Trong thời gian đó, Hòa Thân vô cùng hống hách, chuyên quyền và tham lam tiền bạc Ông ta cùng với hệ thống quan lại tay chân của mình đã thu gom một số lượng của cải rất lớn Tương truyền, gia tài của Hòa Thân giàu đến mức mà không có một thành viên hoàng gia nào có thể sánh kịp Như câu chuyện của vị Thất A Ca làm vỡ chiếc mâm ngọc mà vua Càn Long rất quý thì phải vội vàng tới gặp Hòa Thân nhờ giúp Đó là một báu vật rất giá trị nhưng khi nghe chuyện thì Hòa Thân lại tỏ ra rất bình tĩnh và cho người đem một chiếc mâm ngọc khác ra và còn đẹp hơn cái của vua Điều đó chứng tỏ tài sản của Hòa Thân thực sự rất khổng lồ
Sau này, khi vua Càn Long qua đời, Hòa Thân đã bị vua Gia Khánh buộc tội và tịch thu mọi tài sản Đến lúc đó thì người ta thật sự choáng ngợp trước khối tài sản mà
Hòa Thân sở hữu “Năm Gia Khánh thứ 4 (1799), Hòa Thân bị kết tội và kê biên tài sản
Căn cứ vào hóa đơn kê biên lưu truyền, những đồ kê biên trong nhà Hòa Thân gồm: đồ
cổ bằng ngọc, châu báu, vàng, bạc các loại vật dụng quý giá hơn 3 vạn chiếc, vàng bạc Nguyên Bảo các loại hơn 1000 thỏi, vàng ròng 580 vạn lạng, vàng cát hơn 200 vạn lạng, bạc Nguyên Bảo 940 vạn lạng, đồng bạc trắng 5.8 vạn đồng Đồ ngọc, tơ lụa, hàng hóa phương Tây, da chưa thuộc, đồ gốm, đồ gỗ tử đàn, đồ pha lê… đều được cất giữ trong kho Ngoài ra, Hòa Thân còn mở 72 tiệm cầm đồ, 42 cửa hàng bạc, 13 cửa hàng đồ cổ, hơn 8000 khoảnh ruộng, nơi ở có hơn 180 gian Chỉ riêng đánh số ghi tên các loại tài sản của nhà Hòa Thân, tổng cộng là 109 trang, tổng giá trị lên đến 220 triệu lạng bạc, trong khi đó ngân sách quốc khố của Trung Quốc lúc đó mỗi năm chi thu được 70 triệu lạng bạc”[101, tr 20] Tuy vậy, sau khi Hòa Thân bị tịch thu tài sản thì
nạn tham nhũng cũng không hề thuyên giảm
Dân số tăng quá nhanh: Vào nửa sau giai đoạn Càn Long trị vì, tốc độ tăng
trưởng dân số của Trung Quốc tăng rất nhanh “Đến triều vua Khang Hy, dân số trên
Trang 32toàn quốc đã vượt ngưỡng cửa một trăm triệu người Và, đến thời kỳ sau của đời vua càn Long, dân số trên toàn quốc tăng vọt lên đến khoảng ba trăm triệu người, cũng tức là nói đại để trong vòng một trăm năm chục năm, dân số Trung Quốc đã tăng từ năm đến sáu lần”[1; tr 491] Việc tăng dân số quá nhanh đã dẫn tới nhiều hệ quả xấu
cho quốc gia, bởi nền kinh tế nhà Thanh chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp mà nông nghiệp dựa chủ yếu vào ruộng đất Việc gia tăng thêm ruộng đất không nhiều, trong khi phương pháp canh tác không thể cải thiện ngay nên năng suất không cao
Riêng tỉnh Phúc Kiến, “vào năm 1750 có 9 triệu người sinh sống nhưng đã tăng lên
khoảng 12 triệu và 13,3 triệu người năm 1780 và 1790 tỉnh đã phải nhập 2.1 triệu thạch ngũ cốc (1 thạch ≈ 59,2 kilogram) trong năm 1750 và thậm chí nhiều hơn khi mất mùa”[96, tr 573] Sản lượng lương thực ít làm cho dân chúng rơi vào tình cảnh
đói kém Dân nghèo, ngân khố cạn kiệt, an ninh xã hội không được đảm bảo Theo đó
mà các tệ nạn tham nhũng, cướp bóc, cũng ngày càng gia tăng
Mâu thuẫn xã hội: Nhà Thanh vốn là một vương triều ngoại tộc, xuất phát từ dân
tộc thiểu số ở phía Bắc, ngày càng lớn mạnh và tiến đến làm chủ cả vùng Trung Nguyên Chính vì vậy, họ đã thi hành một số chính sách hà khắc, độc đoán với các dân tộc khác,
đặc biệt đối với người Hán trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng để dễ bề cai quản Đó là “một
chính sách kìm kẹp tư tưởng của người Hán, nhất là tư tưởng của những phần tử trí thức người Hán, bóp chết những tư tưởng tiến bộ hoặc trào lưu tư tưởng theo dân tộc chủ nghĩa có thể xuất hiện theo tư tưởng những người đó, nhằm củng cố địa vị thống trị trong lĩnh vực tinh thần và văn hóa của giới thống trị nhà Thanh”[1; tr 314] Bằng chứng là
dưới thời vua Càn Long, nhà vua đã trưng tập các loại sách vở từ các địa phương, để truy tìm những tác phẩm nào không có lợi cho việc thống trị thì đem đi thiêu hủy và thẳng tay trừng trị những tác giả đó Có rất nhiều vụ án văn tự sảy ra trong thời gian vua Càn Long
trị vị mà người ta gọi đó là “Ngục tù văn tự” Thậm chí có những vụ án rất vô lý, gây oan
ức lòng dân Ví như vụ án gia phả của Bành Gia Bình có hai chữ “Hoằng Lịch” là tên của
vua Càn Long nhưng lại không viết bớt nét chữ để tránh trùng tên vua Thế là nhà vua đã
ra chỉ dụ buộc họ Bành phải tự sát
Càn Long còn lợi dụng việc biên soạn sách để loại bỏ những tác phẩm không theo ý
của mình Trong cả nước có nhiều lần đốt sách với số lượng rất lớn “trong 10 năm biên
Trang 33soạn Tứ khố toàn thư, riêng tỉnh Chiết Giang đã có 24 lần đốt sách, 528 loại sách bị hủy, với hơn 13.862 bộ”[16, tr 380] Nhưng điều đó cũng không ngăn cản được tinh thần
chiến đấu của các văn sĩ trí thức lúc bấy giờ khi mà “trong suốt triều đại của Càn Long
đã có một sự hồi sinh của làn sóng văn học đề cao giải phóng cá nhân sau một thế kỷ phải chịu dưới áp lực của chế độ chuyên quyền chính trị của nhà Thanh”[84, tr 114].
Ngoài ra, còn tồn tại một số chính sách bất bình đẳng giữa người Mãn và các dân tộc
khác “Quân đội Bát kỳ của nhà Thanh đóng giữ trong các thành phố đã chiếm ruộng đất
của nông dân ở ngoại ô Một phần ruộng đất do hoàng tộc chiếm giữ, còn một phần khác thì chia cho tráng đinh trong Bát kỳ”[9, tr 173] Do quân đội Bát kỳ của nhà Thanh đa số
là con em người Mãn, còn những người Hán thì phải cày cấy vất vả và nộp tô cho họ Mặc dù vậy, vào nửa cuối thế kỷ XVIII, dưới sự cai trị của vua Càn Long, xã hội Trung Quốc nhìn chung khá ổn định, phát triển về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa Cương vực được mở rộng, đất nước thái bình, thịnh trị, đời sống nhân dân yên ấm, chăm
chỉ làm ăn “Thời kỳ thống trị của Càn Long có thể nói là sức mạnh của đất nước vẫn giữ
được sự cường thịnh, bốn biển vẫn thanh bình, kinh tế vẫn trù phú, văn hóa vẫn phát triển Nhà vua đã dùng một sức mạnh vũ lực để bình định vùng Tây Bắc bảo vệ Tây Tạng, tăng cường sự thống nhất của quốc gia, xác định được bản đồ của nước Trung Hoa Cho
dù đến cuối đời Càn Long, các mối mâu thuẫn trong xã hội tương đối căng thẳng, nhưng chính phủ của vương triều Thanh vẫn có thể khống chế được tình hình bên trong lẫn bên ngoài một cách toàn diện, duy trì được một ngoại cảnh cường thịnh, đứng vững vàng tại góc phía Đông của châu Á”[1; tr 313]
1.2.2 Lợi ích của nhà Thanh trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Tây Sơn
* Tránh được những thất bại kế tiếp trên chiến trận
Vào đầu xuân năm Kỷ Dậu (1789), Tôn Sĩ Nghị cùng đội quân Thanh đại bại trước
sự tấn công mạnh mẽ của quân đội của vua Quang Trung Riêng Tôn Sĩ Nghị phải vứt bỏ sắc tín, ấn thư, không kịp mặc áo giáp, vội vàng chạy về nước Vua Càn Long lấy làm tức
giận, liền huy động “chín tỉnh lấy năm mươi vạn quân” và phong cho Phúc Khang An làm Tổng đốc Lưỡng Quảng (hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây) tiến sang Đại Việt để trả
thù Thế nhưng khi Phúc Khang An nhậm chức thì được nghe báo cáo về sức mạnh của đội quân Tây Sơn, cũng như sự thảm bại của đội quân Tôn Sĩ Nghị thì lo sợ và mau chóng
Trang 34muốn chấm dứt chiến tranh Chính vì vậy, Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho vua Quang Trung tới 4 lần để cầu hòa, còn Phúc Khang An bí mật nhờ Hòa Thân – người mà vua Càn Long rất mực tin tưởng, yêu quý để khuyên nhà vua không nên tiếp tục cuộc chiến ở Đại Việt nữa
Hòa Thân thuyết phục Càn Long: “Từ xưa đến nay Trung Quốc chưa bao giờ đắc ý
ở nước Nam Triều Tống, triều Minh, triều Nguyên cuối cùng đều thua chạy, gương đó vẫn còn rành rành”[22; tr 235] Vua Càn Long nghe thì cho là phải nên cũng chủ trương
hòa hiếu với Tây Sơn Ông giao cho Hòa Thân và Phúc Khang An thu xếp việc đón tiếp
sứ bộ của Tây Sơn để công nhận ngoại giao chính thức
Rõ ràng, việc thiết lập ngoại giao với vương triều Tây Sơn sẽ giúp chính quyền
Càn Long có nhiều lợi ích, thứ nhất không phải tốn kém tiền của, sức người vào một
cuộc chiến mà họ nghĩ rằng không thể thắng lợi trước sức mạnh to lớn của quân Tây
Sơn; thứ hai dưới thời vua Càn Long kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển thịnh trị, thái bình khiến cho nhuệ khí chiến đấu không còn mạnh mẽ Trong cuốn “Hoàng Lê nhất
thống chí” của Ngô gia văn phái có viết khi Tôn Sĩ Nghị phải bỏ chạy về nước: “Bấy giờ dân Thanh thái bình đã lâu, không biết gì đến việc binh, thấy Nghị tất tả chạy về, nhân tình đều nhốn nháo, sợ hãi”[22, tr 233] Do đó, việc chủ trương hòa hiếu với
vương triều Tây Sơn, đối với nhà Thanh có lợi chứ không có hại
* Giữ được danh dự nước lớn
Mặc dù chịu thất bại trước quân Tây Sơn, nhưng vì Trung Quốc là nước lớn và bản thân vua Càn Long luôn tự hào về những chiến công vang dội của mình nên không thể cho mình là thua Thế nên việc giảng hòa với Tây Sơn vừa giúp nhà vua tránh khỏi những cuộc chiến tranh liên miên, vừa giúp nhà Thanh giữ danh dự của mình và cho rằng giảng
hòa này là một “đặc ân” đối với Đại Việt Trong chỉ dụ ngày 20 tháng 2 năm 1789 cho các quân cơ đại thần, vua Càn Long có viết: “Nguyễn Huệ chẳng qua chỉ là một thổ tù An
Nam, so sánh hiện nay đất nước ta toàn thịnh, nếu tập trung nhiều binh lực, bốn bề vây bắt, thì việc phá sào huyệt của bọn chúng cũng không khó Nhưng nước này vốn có nhiều lam chướng, cũng giống như Miến Điện vậy, lấy được đất này không đủ để giữ, lấy được dân này cũng không đủ để làm tôi, hà tất dùng đến binh lực và tiền lương tiêu phí vào chốn nóng nực vô dụng này! Vậy việc tiến hành bọn Nguyễn Huệ lúc này không phải là không
Trang 35thể làm được, nhưng xét về các mặt thiên thời, địa lợi, nhân sự đều không đáng ra tay nếu Nguyễn Huệ nghe tiếng sợ hãi, đến cửa ải chịu tôi xin hàng, Phúc Khang An nên mắng nhiếc một trận dữ dội, không thể vội vàng chấp nhận ngay, khiến cho y thành tâm sợ tội chịu thua, xin xỏ đôi ba lần rồi xem xét tình huống xử lý cho xong việc”.[61, tr 99-100]
Sau đó, khi tiếp sứ đoàn Nguyễn Quang Hiển của vương triều Tây Sơn, vua Càn
Long đã ban tặng bộ tranh “Bình Định An Nam chiến đồ” và tự tay viết thơ đề tựa Mặc
dù để tỏ rõ lòng trân trọng và quý mến phái đoàn nhưng ngay ở tên và nội dung bức
tranh đã thể hiện rất rõ sự chống chế thất bại của nhà Thanh Đó là: “quân Thanh đã
đánh thắng quân Tây Sơn, bình định được nước An Nam, do đó Nguyễn Huệ phải sang chầu Sau chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, vua Quang Trung đề nghị hai nước dập tắt lửa chiến tranh và khôi phục quan hệ hòa hiếu Vua Càn Long đã biến thiện chí của vua Quang Trung thành bằng chứng của sự “bình định” và coi kết quả đó là bằng chứng của chiến thắng quân sự”.[18, tr 183]
Vua Càn Long cũng đã làm sai lệch đi sự thật thất bại để cứu vãn danh dự của mình trong cuộc chiến với Miến Điện Từ năm 1766 đến 1769 Càn Long đã ba lần xâm lược Miến Điện nhưng cả ba lần đều thất bại trước đội quân Miến Điện Không có cách nào khác, Càn Long phải ra lệnh rút quân về nước Tuy nhiên để giữ thể diện, Càn Long phải
hạ chiếu giải thích lí do của quyết định quan trọng đó “Nhưng đất đai của chúng thủy thổ
ác liệt, quan binh ở đó phần nhiều sinh bệnh, ngay các quan đại thần chỉ huy cũng có kẻ
bị bệnh mà chết Do đó, bắt quân sĩ dũng cảm của ta phải nếm mùi chướng độc thì lòng cảm thấy không nỡ
Trẫm cho rằng uy nước không thể không phô trương, những đã nhiều lần đoạt được trại, giặc chết ngổn ngang, như vậy cũng đã tỏ rõ được uy vũ của ta Vả lại khí hậu nóng độc không hợp, quân ta không nên ở lâu, quả thực là do hạn chế về mặt địa thế chứ không phải do binh lực không nhiều, lương thực khí giới không đầy đủ
Trẫm nhất thiết phải thuận theo đạo trời, mà làm, nay xét thời thế, tự biết khó khăn nên rút lui”[30, tr 172]
Nếu như ở cuộc chiến Miến Điện, vua Càn Long chấp nhận thua không phải do yếu kém trước quân địch mà do khí hậu, thời tiết không hợp thì với Đại Việt, đội quân Thanh
Trang 36đã thắng lợi khi buộc quân Tây Sơn phải giảng hòa Đó là những lời lẽ mà vua Càn Long
lí giải để giữ danh dự nước lớn của mình
1.3 Truyền thống quan hệ bang giao giữa hai nước trước thời Tây Sơn
1.3.1 Tư tưởng truyền thống trong quan niệm ngoại giao của Đại Việt
Đại Việt là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương Biên giới Đại Việt giáp Trung Quốc ở phía Bắc, giáp biển Đông ở phía Đông và có biên giới chung với một số quốc gia lân cận khác Tuy nhiên việc nghiên cứu ngoại giao Đại Việt trong thời kỳ này thường
được gắn liền với Trung Quốc Nói cách khác, nhắc đến tư tưởng truyền thống ngoại giao
Đại Việt là nhắc tới chính sách ngoại giao đối với Trung Quốc Bởi Đại Việt luôn là mục tiêu xâm lược, bành trướng lãnh thổ xuống phía Nam của Trung Quốc nên không tránh
khỏi những cuộc “chạm trán” Hơn nữa, “Đại Việt lại bị Trung Quốc đô hộ trong một
nghìn năm; nhân dân Đại Việt đã kiên quyết chống lại ảnh hưởng văn hóa của Trung Quốc để giữ gìn bản sắc của mình Tuy vậy ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với Đại Việt, cụ thể là của Khổng giáo, có lẽ vẫn còn đậm”[14, tr 11]
Mối quan hệ bang giao giữa Đại Việt với Trung Quốc trong lịch sử có nhiều bước thăng trầm, lúc thì giao hảo mặn mà nhưng cũng có lúc xung đột chiến tranh Nhưng đối với các vương triều Đại Việt, họ luôn mong muốn duy trì tình cảm hữu nghị giữa hai bên để nhân dân yên ổn làm ăn, quốc gia thái bình thịnh trị Một khi những cuộc chiến tranh xảy ra đã tạm yên rồi, người Việt Nam luôn cố gắng xây dựng tình hòa hiếu với Trung Hoa bởi người Việt chưa bao giờ muốn gấy hấn với ông bạn láng giềng to lớn và mạnh mẽ hơn mình gấp trăm lần [14, tr 11]
Để giữ mối hòa hảo đó, người Việt luôn nhún mình và thường có chính sách ngoại giao mềm dẻo trước Trung Hoa Cụ thể là dù có độc lập chính trị thì các vương triều Đại
Việt vẫn phải “nộp cống” cho “Thiên triều” và nhận sắc phong từ hoàng đế Trung Hoa
như: Giao Chỉ quận vương, An Nam quốc vương hoặc An Nam đô thống sứ Dù có thắng trận xong nhưng vì muốn giữ giao hảo hai bên nên các vua Đại Việt lại thường phái sứ thần sang triều cống và nhận sắc phong
Tuy vậy, “người Việt tỏ ra nhún mình không phải đó là một dấu hiệu hèn kém, vì lịch
sử đã hiển nhiên chứng tỏ người Việt Nam lúc nào cũng có óc tự cường, không bao giờ chịu đi làm nô lệ cho người khác”[14, tr 11] Sự mềm mỏng, nhún nhường đó chỉ là một
Trang 37bước ngoại giao khôn khéo để giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc, tránh những cuộc chiến tranh không đáng có Mặt khác, các vương triều Đại Việt cũng tự ý thức được tính tự cường dân tộc, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, giữ vững thể diện quốc gia
Với các vị vua Đại Việt, không phải ông vua nào cũng chờ lệnh, đợi ý kiến của
“Thiên triều” mà quên đi vị trí của mình là người đứng đầu một quốc gia Chính quyền Trung Hoa không được phép can thiệp vào các công việc nội bộ của đất nước “Mặc dù
bề ngoài tỏ ra thần phục Thiên triều Trung Hoa nhưng các vương triều Việt Nam đã thi hành đường lối ngoại giao “trong xưng đế, ngoài xương vương”[68, tr 9] Họ luôn
tự ý thức được vị trí của mình là ngang hàng với các vị vua Trung Hoa và họ là vị vua của một đất nước độc lập tự chủ
Việc bắt các vị vua Việt Nam phải sang diện kiến “Thiên tử” được coi là một hình thức “thị uy” của các vương triều Trung Hoa Do đó, có rất nhiều vị vua Việt Nam tìm cớ
thoái thác để giữ thể diện quốc gia Như Mạc Đăng Dung khi nhận được yêu cầu sang gặp
vua Minh nhưng ông nhất quyết từ chối: “Thần Đăng Dung vốn muốn đến kinh để chầu
và chịu tội, nhưng vì tuổi già lại ốm, không thể khúm núm đi được Cháu trưởng là Phúc Hải lại đương có tang Vậy xin sai cháu ruột là Mạc Văn Minh thay thần sang chầu, cúi đầu đợi tội, để tỏ lòng cha con thần khi trước sai bọn Nguyễn Văn Thái dâng biểu xin hàng là do sợ oai mến đức, không dám có lòng man trá ”[20, tr 3]
Tóm lại, có thể thấy rằng trước một nước láng giềng lớn, mạnh như Trung Hoa, các vương triều Đại Việt luôn phải lựa chọn đường lối ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo,
linh hoạt, chịu nhận “sắc phong” và “triều cống” của “Thiên triều” Tuy vậy, các vương
Đại Việt luôn tỏ rõ sự kiên quyết của mình trong việc khẳng định độc lập dân tộc và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Trên danh nghĩa “thần phục” nhưng các vương triều phong kiến Việt Nam luôn tỏ ra cứng rắn, không khoan nhượng để giữ thể diện quốc gia hay chống lại những cuộc xâm lược và can thiệp nội bộ từ phương Bắc
Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” đã nhận xét rằng: “Trong
việc trị nước, hoà hiếu với nước láng giềng là việc lớn… Nước Việt ta có cả cõi đất phía Nam mà thông hiếu với Trung Hoa, tuy nhân dân dựng nước có quy mô riêng, nhưng ở trong thì xưng đế, mà đối ngoại thì xưng vương, vẫn chịu phong hiếu, xét lý thế lực phải như thế”[50, tr 532] Giữ hòa khí với phương Bắc để chú trọng vào phía Nam, chịu
Trang 38nhẫn trước kẻ mạnh để giữ vững độc lập, xây dựng đất nước phát triển, kiên quyết bảo
vệ chủ quyền quốc gia đã trở thành nghệ thuật ngoại giao đặc sắc của các vương triều Đại Việt trước láng giềng Trung Hoa hùng mạnh
1.3.2 Tư tưởng ngoại giao truyền thống của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia phong kiến lớn nhất trong khu vực châu Á Họ luôn thể hiện tư tưởng bá quyền, chủ nghĩa bành trướng muốn thôn tính các nước láng
giềng tạo nên một hệ thống chư hầu, mà Trung Quốc chính là trung tâm “Nhiều người
gọi đó là „trật tự thế giới Trung Hoa‟ Một trong những đặc trưng quan trọng của trật
tự này là vị trí của Trung Hoa ở trung tâm khu vực – cả trên phương diện địa lí cũng như vị thế chính trị, ngoại giao”[88; tr 186]
Chính sách ngoại giao truyền thống của Trung Quốc dựa trên cơ sở nền tảng chủ
nghĩa bình thiên hạ và tư tưởng Hoa – Di Trước hết, chủ nghĩa bình thiên hạ được bắt nguồn từ thuyết Thiên mệnh và Thiên trị đã có mầm mống từ đời Thượng - Ẩn Theo đó,
theo quan niệm của người Trung Hoa, vũ trụ tồn tại gồm 2 tầng Tầng trên là “Thiên” do Thượng đế cai quản, tầng dưới là “Thiên Hạ” – dân gian do con trời “Thiên tử” nắm giữ
Và vị “Thiên tử” đó không ai khác chính là vua nên quyền lực nằm trong tay vua, vạn vật thế gian đều thuộc về vua Vì vậy, trong sách Kinh thi của Khổng Tử có câu:
“Ở dưới gầm trời Đâu cũng đất của vua Khắp trên mặt đất
Ai cũng dân vua”[17, tr 132]
Cũng trong sách Đại Học của Khổng Tử đã nêu rõ nhiệm vụ của một vị vua phải tạo nên sự nghiệp vang dội “tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Do vậy, nhiệm vụ cuối cùng “bình thiên hạ” là nhiệm vụ rất quan trọng của các vị vua nhằm mở mang bờ cõi đất
nước, trở thành kim chỉ nam cho những vị hoàng đế Trung Hoa.
Bên cạnh đó, người Trung Quốc xưa cũng đã thấm nhuần tư tưởng Hoa – Di Từ
thời nhà Thương, họ tự gọi mình là những người sống ở trung tâm “Trung” và là dân tộc cao quý nhất, tinh hoa nhất “Hoa” Trên thực tế, “Trung Hoa còn được đánh giá là nền
văn minh trung tâm và của cả vùng Đông Á”[90, tr 20-21], nhưng họ lại coi những dân
tộc sống xung quanh chỉ là man di, mọi rợ, không đáng được quan tâm Và chỉ có Trung
Trang 39Hoa mới là quốc gia văn minh nhất, có lễ nghi, phong tục truyền thống, văn hóa phát triển rực rỡ nhất Người Hoa phải có trách nhiệm khai hóa các dân tộc xung quanh, khiến những dân tộc khác phải theo phong tục của họ hay nói cách khác đây chính là
quá trình “đồng hóa”
Tóm lại, chính sách ngoại giao truyền thống Trung Quốc thực hiện là “một thứ chính
trị hướng vào sự chinh phục của các dân tộc láng giềng hoặc bắt họ phải thần phục bằng những cách khác nhau, vào Thiên tử, vị vua với bản thề thần thánh, do trời đặt lên để cai trị toàn thể vũ trụ”[71, tr 71]
Để thực hiện quá trình bành trướng, các vương triều Trung Quốc đã thực hiện các thủ đoạn như sau:
“ Chinh phục quân sự tàn bạo, nhằm thôn tính nước láng giềng, bành trướng đế chế
và đồng nhất hóa đế chế với quốc gia
Dùng chính sách mua chuộc bằng vật chất và ba tấc lưỡi kẻ sĩ dụ hoặc gây chia rẽ, phá rối các quốc gia và các cộng đồng dân tộc láng giềng, xúi giục họ đánh lẫn nhau rồi mượn cớ can thiệp
Thiết lập nền thống trị - hành chính khắc nghiệt, bóc lột nặng nề, với quan đô hộ quân chiếm đóng và một bè lũ quan lại thu cống phẩm, tô thuế, vơ vét mọi của báu các vùng đất đai chinh phục để xây dựng nền văn minh đế vương Trung Quốc
Đồng hóa cư dân bản địa, dựa trên sự hủy diệt mọi tinh hoa văn hóa dân tộc, địa phương phi Hoa Hạ rồi áp đặt lên vùng đất đai và cư dân bị chinh phục cái gọi là „chính giáo Trung Quốc‟
Bành trướng Trung Hoa, bên cạnh tính chất quân sự, là tính chất thương mại của
nó Thương mại vừa là tiền đề, vừa là mục tiêu, vừa là thủ đoạn chiến lược của công việc bành trướng Trung Hoa Và ngược lại, bành trướng về chính trị - quân sự lại thúc đẩy thêm tầm quan trọng của thương mại”[13, tr 35]
Ở mọi thời kỳ, chiến tranh quân sự, thương mại và ngoại giao luôn được các chính quyền Trung Quốc kết hợp chặt chẽ nhằm thực hiện hiệu quả chính sách bành trướng của mình Tất cả các triều đại Trung Hoa đều tiến hành những cuộc chiến tranh nhằm thôn tính nước khác, mở rộng lãnh thổ quốc gia Đối tượng xâm chiếm của họ trước hết là
những quốc gia láng giềng Vua Đường Thái Tông đã từng nói: “Chinh phục man di ngày
Trang 40trước chỉ có Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Đế Ta nay với thanh kiếm ba thước đã khuất phục hai trăm vương quốc, dẹp yên bốn bể…”[24, tr 87] Vậy nên từ vùng Hoa Hạ nhỏ
bé, Trung Quốc đã trở thành một đế quốc vô cùng rộng lớn đến đời nhà Thanh
Ngoài việc xâm chiếm, thôn tính lãnh thổ các quốc gia khác, Trung Quốc cũng thực
hiện chính sách “Thiên triều – Phiên thuộc” để xác lập trật tự giữa Trung Quốc và các dân
tộc khác Bắt đầu từ thời Tây Chu đã có quan hệ này, trong đó vương triều Tây Chu được
coi là “Thiên triều” trung tâm, quan trọng nhất và các quốc gia láng giềng chỉ là những nước chư hầu lệ thuộc vào “Thiên triều” Nó đã trở thành truyền thống và khuôn mẫu cho mối quan hệ bang giao giữa Trung Quốc với các nước khác Đó là “những lễ nghi
như triều cống, xin phong vương, báo tang, chúc mừng Thiên tử lên ngôi hay chia buồn,
và công việc quan trọng nhất của các sứ thần là giải quyết những tranh chấp về đất đai, đấu tranh giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ không để cho các biên thần của Thiên triều lấn chiếm vùng biên giới, xin hoãn binh hoặc giải quyết những hậu quả chiến tranh giữa hai nước, duy trì hoà bình… Trong đó, sắc phong và triều cống vốn là công cụ của thiên triều để khuất phục, ràng buộc các nước chư hầu và cũng là cớ để tiêu diệt hàng chục hàng trăm nước trong khu vực ảnh hưởng của Trung Hoa”[68]
Việc một nước nhỏ chịu sắc phong tức là chịu nhận làm chư hầu, làm phên dậu cho
Trung Hoa, công nhận uy đức của “Thiên triều” và chịu nộp cống cho “Thiên triều” Chính
vì lẽ đó, các nước nhỏ thường phải chọn con đường ứng xử theo lối hòa bình, thần phục, chịu nhiều thiệt thòi, nhún nhường để ít nhiều có thể có được sự bình yên cho đất nước
Theo đó, sắc phong được hiểu như một thứ lệ mà Trung Quốc đặt ra “ép vua các
nước chư hầu khi lên ngôi phải được Thiên tử phong tước thì mới được coi là hợp pháp”[44, tr 213] Còn triều cống là việc chư hầu phải nộp, dâng hiến vàng, bạc, châu
báu, sản vật quý hiếm cho “Thiên tử”
Tuy vậy, tùy từng sự mạnh yếu của các nước láng giềng mà các vương triều Trung Quốc có những chính sách ngoại giao phù hợp, có khi dùng vũ lực nhưng cũng có lúc
dùng các biện pháp mềm mỏng như: lôi kéo, mua chuộc “Khi Trung Quốc yếu thế so với
các dân tộc phương Bắc và còn phải chuẩn bị lực lượng, họ tìm mọi cách để lấy lòng các dân tộc đó, kể cả hình thức „hòa thân‟, nghĩa là gả con cháu vua Hán cho các chúa phương Bắc, mà điển hình là vụ Chiêu Quân cống Hồ”[18, tr 19]