1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Địa điểm khảo cổ học Đông Lâm (Hiệp Hòa, Bắc Giang) và một số vấn đề thời đại kim khí ở Bắc Giang: Luận văn ThS. Nhân văn khác: 602203

185 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 9,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÂN THỊ HẰNG ĐỊA ĐIỂM KHẢO CỔ HỌC ĐÔNG LÂM HIỆP HÒA, BẮC GIANG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỜI ĐẠI KIM KHÍ Ở BẮC GIANG LUẬN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÂN THỊ HẰNG

ĐỊA ĐIỂM KHẢO CỔ HỌC ĐÔNG LÂM

(HIỆP HÒA, BẮC GIANG)

VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỜI ĐẠI KIM KHÍ Ở BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ SỬ HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÂN THỊ HẰNG

ĐỊA ĐIỂM KHẢO CỔ HỌC ĐÔNG LÂM

(HIỆP HÒA, BẮC GIANG)

VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỜI ĐẠI KIM KHÍ Ở BẮC GIANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Sau một thời gian công tác, học tập và nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Gia Đối- Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học, tôi đó hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài “Địa điểm Khảo cổ học Đông Lâm và một số vấn đề thời đại Kim khí ở Bắc Giang” Tôi xin cam đoan, đây là kết quả của quá trình làm việc và nghiên cứu nghiêm túc Các kết quả, số liệu nghiên cứu trong Luận văn là trung thực Các thông tin,

tài liệu trình bày trong Luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày thángnăm 2018

Tác giả

Thân Thị Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn này,ngoài những nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự

giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều cá nhân, cơ quan, đoàn thể

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp - những người luôn ở bên,

động viên và giúp đỡ về tư liệu cũng như động viên tinh thần tôi trong suốt chặng đường qua

Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Khảo cổ học, Lãnh đạo Phòng Biên tập - Trị sự- Tạp chí Khảo cổ học, nơi tôi công tác vì đã khuyến khích, động viên và tạo mọi điều kiện

thuận lợi nhất để tôi có thể học tập và hoàn thành khóa học

Tôi xin cảm ơn Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn, Khoa Lịch sử, Bảo tàng Nhân học, nơi tôi đã học tập suốt hai năm qua Các thầy cô đã luôn ủng hộ, động viên và

truyền cho tôi không chỉ kiến thức mà còn cả kinh nghiệm thực tiễn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, UBND xã Hương Lâm và bà con thôn Đông Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang vì đã tạo điều kiện để tôi tham gia nghiên cứu tại địa điểm

Đông Lâm

Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới TS Nguyễn Gia Đối, người thầy đã hướng dẫn, động viên, khuyến khích để tôi có động lực hoàn thành những nghiên cứu của mình,

trong đó có Luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn/

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Thân Thị Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương 1.TỔNG QUAN TƯ LIỆU 8

1.1 Điều kiện tự nhiên ……… 8

1.2 Hiện trạng di tích ……… … 15

1.3 Quá trình phát hiện, khai quật, nghiên cứu……… 16

1.4 Những nhận định khoa học ……… 22

Chương 2.ĐẶC TRƯNG DI TÍCH VÀ DI VẬT 24

2.1 Mô tả hệ thống di tích, di vật ……… … ……….24

2.2 Phân tích, tìm hiểu đặc trưng……… 52

Chương 3 DI TÍCH ĐÔNG LÂM TRONG THỜI ĐẠI KIM KHÍ BẮC GIANG….59 3.1 Tính chất, niên đại và các giai đoạn phát triển văn hóa……… 59

3.2 Vài nét về đời sống vật chất, tinh thần………62

3.3 Đông Lâm và mối quan hệ văn hóa……….66

3.4 Một số vấn đề thời đại Kim khí ở Bắc Giang……….……….70

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC PHỤ LỤC BẢNG THỐNG KÊ

PHỤ LỤC BẢN VẼ

PHỤ LỤC BẢN DẬP HOA VĂN

PHỤ LỤC BẢN ẢNH

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Thống kê hiện vật Đông Lâm

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp hoa văn mảnh gốm Đông Lâm

Bảng 3.1 Phân loại hiện vật sưu tập đồng tại Bảo tàng Bắc Giang Bảng 3.2 Phân loại hiện vật đồng sưu tập tại Bắc Giang

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Địa điểm Khảo cổ học Đông Lâm thuộc xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang được phát hiện năm 1968, sau đó được Viện Khảo cổ học kết hợp với Bảo tàng Bắc Giang khai quật lần thứ nhất năm 1968 và khai quật lần thứ 2 vào năm 2002 Kết quả của hai cuộc khai quật cho thấy, đây là một di chỉ cư trú của cư dân thời đại Kim khí với di tồn văn hóa khá phong phú thuộc các giai đoạn phát triển văn hóa sớm muộn Tuy nhiên, việc nhận diện đặc trưng, tính chất văn hóa của địa điểm này vẫn chưa thực sự rõ ràng, có những nhận định khoa học chưa thống nhất Chính vì vậy, việc tổng hợp tư liệu, phân tích nghiên cứu chuyên sâu sẽ góp phần làm sáng tỏ nội hàm văn hóa địa điểm này

Mặt khác, Đông Lâm hiện biết là di chỉ thời đại Kim khí duy nhất được phát hiện và khai quật trong số các di tích Kim khí phát hiện tại Bắc Giang, vì vậy, việc nhận thức chân xác về giá trị khoa học của địa điểm này sẽ có ý nghĩa quan trọng để

hệ thống hóa diện mạo văn hóa thời đại Kim khí ở Bắc Giang Điều đó cũng góp phần vào các chương trình quy hoạch bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của tỉnh

Hơn nữa, học viên là người sinh ra và lớn lên tại Bắc Giang nên tình yêu quê hương, con người và văn hóa thúc giục tình cảm và ý chí, mong muốn góp một phần nhỏ bé cho sự phát triển tỉnh nhà

Đó là những lý học viên chọn đề tài "Địa điểm khảo cổ học Đông Lâm (Hiệp Hòa, Bắc Giang) và một số vấn đề thời đại Kim khí ở Bắc Giang" cho Luận văn Thạc sĩ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

- Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu các kết quả khai quật, nghiên cứu di chỉ Đông Lâm

- Phân tích, đánh giá chuyên sâu, góp phần làm rõ hơn vấn đề đặc trưng, tính chất, niên đại, chủ nhân của Đông Lâm

- Tập hợp tư liệu, góp phần làm rõ hơn diện mạo thời đại Kim khí ở tỉnh Bắc Giang

Trang 9

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là các di tích và di vật khảo cổ học của di tích Đông Lâm và những phát hiện về thời đại Kim khí ở Bắc Giang

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian, Luận văn chủ yếu tập trung vào khu vực di chỉ Đông Lâm

và mở rộng nghiên cứu so sánh với những phát hiện ở Bắc Giang nói riêng và một

số khu vực thuộc các tỉnh lân cận

+ Về thời gian, Luận văn giới hạn trong phạm vi thời đại Kim khí

4 Phương pháp nghiên cứu và các nguồn tư liệu

4.1 Phương pháp luận

- Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong nghiên cứu khảo cổ học, để luận giải các vấn đề về biến đổi kinh tế, xã hội, các mối giao lưu và hội nhập văn hóa của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử trong phạm vi liên quan đến đề tài

- Luận văn cũng tiếp cận và sử dụng một số lý thuyết và cách tiếp cận hiện đại của khảo cổ học phương Tây như Khảo cổ học môi trường, Khảo cổ học cư trú, Khảo cổ học hành vi, Khảo cổ học kinh tế, Khảo cổ học xã hội để phân tích và lý giải các bối cảnh môi trường và văn hóa thời tiền sử

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu truyền thống trong khảo cổ học: điền dã, khai quật, thống kê,

mô tả, phân loại, so sánh… Đây là phương pháp chính để tác giả tiếp cận nghiên cứu di tích

- Phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành: bên cạnh việc điền dã thu thập

thông tin, hiện vật từ các địa điểm khảo cổ học, tác giả sẽ sử dụng những kết quả nghiên cứu của các ngành khác như Địa chất, Địa lý - Nhân văn, Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội học tại địa phương;

Trang 10

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả sẽ tập hợp những công trình nghiên

cứu về di tích Đông Lâm từ các nguồn khác nhau như sách, chuyên khảo, Kỷ yếu Hội nghị Những nội dung liên quan đến di tích này sẽ là nguồn tài liệu chính Ngoài ra, các tài liệu thứ cấp như những nghiên cứu về địa chất, môi trường hay các địa điểm có mối quan hệ với di tích Đông Lâm cũng được phân tích làm cơ sở để nghiên cứu, so sánh các

di tích trong bối cảnh đồng đại hoặc lịch đại của chúng

- Một số khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài Luận văn:

+ Tư liệu vật thật (di vật) hiện lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh Bắc Giang không đầy đủ Bảo tàng hiện chỉ lưu giữ những hiện vật đặc biệt, như đồ đá, đồ đồng, đồ sắt… và chỉ một số ít mảnh gốm Vì thế, khi tác giả quay trở lại Bảo tàng để nghiên cứu thì không có

cơ hội được tiếp cận những di vật đã bị bỏ đi, đặc biệt là đồ gốm

+ Địa điểm này mới chỉ được phát hiện và khai quật rất ít Vì vậy, những hình ảnh, bản

vẽ, bản dập tác giả sử dụng trong Luận văn chủ yếu từ hai cuộc khai quật năm 1968 và 2002 + Dù đã được khảo sát, khai quật nhiều lần nhưng cho đến nay, chưa có một mẫu than, mẫu đất, mẫu đá, đồng,… nào được phân tích để xác định niên đại tuyệt đối, hay cho những bằng chứng về môi trường, kỹ thuật, tư liệu bào tử phấn hoa ở di tích Đông Lâm Tất cả những đánh giá về di tích này phần lớn dựa vào những so sánh, phân tích, phân loại loại hình học là chủ yếu

Tác giả đã cố gắng thu thập tư liệu từ các nguồn khác nhau, tuy nhiên, do những khó khăn nêu trên Luận văn vẫn còn thiếu nhiều thông tin để phân tích, so sánh, đối chiếu, đánh giá một cách toàn diện về di tích Đông Lâm Tác giả sẽ cố gắng hoàn thiện trong những nghiên cứu tiếp theo

4.3 Nguồn tư liệu

- Các báo cáo điều tra, khảo sát và khai quật khảo cổ học, các bài nghiên cứu

về di tích Đông Lâm cũng như các di tích liên quan đó được công bố trên các sách, tạp chí chuyên ngành và trong các kỷ yếu hội thảo về khảo cổ học

- Luận văn cũng có tham khảo một số tư liệu có liên quan như địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu thủy văn, cổ môi trường, … ở khu vực tỉnh Bắc Giang

Trang 11

5 Kết quả và đóng góp của luận văn

- Luận văn tổng hợp, hệ thống hóa các tư liệu và kết quả nghiên cứu và khai quật di tích Đông Lâm

- Nghiên cứu sâu hơn, xác định đặc trưng, tính chất văn hóa, niên đại, chủ nhân của di tích Đông Lâm

- Tập hợp thêm tư liệu, góp phần làm rõ diện mạo thời đại Kim khí ở Bắc Giang

3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Đóng góp của luận văn

6 Kết cấu của luận văn

Phần nội dung chính, luận văn được bố cục gồm 3 chương:

- Chương 1 Tổng quan tư liệu

- Chương 2 Đặc trưng di tích và di vật

- Chương 3 Di tích Đông Lâm trong thời đại Kim khí ở Bắc Giang

Ngoài nội dung chính nêu trên, trong luận văn còn có 3 phần phụ lục (Phụ lục I gồm 13 bảng thống kê; Phụ lục II là 15 bản dập hoa văn gốm; Phụ lục III gồm

60 bản vẽ minh họa; Phụ lục IV gồm 77 bản ảnh) và danh mục 48 tài liệu tham khảo

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU

1.1 Điều kiện tự nhiên

Bắc Giang là một tỉnh miền núi trung du thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn; phía tây, tây bắc liền kề Thái Nguyên, phía nam, đông nam là tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.822,5km2 và dân số 1.563,9 nghìn người (năm 2005), đứng thứ 33 về diện tích và thứ 15 về dân số trong 64 tỉnh, thành phố trong cả nước

Bắc Giang vốn là một phần của vùng đất xứ Kinh Bắc, nằm ở phía bắc kinh thành Thăng Long trong lịch sử Trải qua năm tháng đổi thay qua các triều đại, vùng đất này có nhiều tên gọi khác nhau Thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, Bắc Giang thuộc bộ Vũ Ninh Thời Lý - Trần có tên gọi là lộ Bắc Giang Sang thời Lê đổi thành phủ Bắc Hà, đến thời Nguyễn là Phủ Thiên Phúc, sau là Đa Phúc Tỉnh Bắc Giang được thành lập vào ngày 10 tháng 10 năm 1895

Năm 1962, Bắc Giang sát nhập với tỉnh Bắc Ninh để trở thành tỉnh Hà Bắc Năm

1997 trước nhu cầu phát triển, tỉnh Hà Bắc lại tách ra thành 2 tỉnh Bắc Giang

và Bắc Ninh như ngày nay

Lãnh thổ Bắc Giang trải từ tây sang đông, dài nhất là 120km, tính từ điểm cực đông - xã An Lạc, huyện Sơn Động đến điểm cực tây - xã Đại Thành, huyện Hiệp Hòa;

từ bắc xuống nam, nơi hẹp nhất dài 20km, tính từ xã Bảo Sơn xuống xã Huyền Sơn huyện Lục Nam; nơi rộng nhất là 48km, tính từ xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn đến

xã Lục Sơn, huyện Lục Nam

Về cơ bản, địa giới tỉnh Bắc Giang được phân định với các tỉnh khác bởi các giới

hạn tự nhiên, thường là những ngọn núi, dòng sông Phía bắc tỉnh có dãy núi Bảo Đài ngăn

cách các huyện Hữu Lũng, Chi Lăng của Lạng Sơn với các huyện Lục Nam, Lục Ngạn của Bắc Giang; phía đông bắc thuộc các huyện Lục Ngạn và Sơn Động giáp với các huyện Lộc Bình và Đình Lập của Lạng Sơn; phía nam có núi Huyền Đinh - Yên Tử ngăn cách các huyện Lục Nam, Sơn Động của Bắc Giang với các huyện Chí Linh

Trang 13

củaHải Dương, huyện Đông Triều, huyện Hoành Bồ và thị xã Uông Bí của tỉnh Quảng Ninh Cũng ở phía nam, đoạn cuối sông Thương và đoạn đầu sông Thái Bình nối tiếp nhau làm giới hạn giữa huyện Yên Dũng của Bắc Giang với huyện Quế Võ của Bắc Ninh và huyện Chí Linh của Hải Dương Ở mặt tây và tây bắc, một phần quan trọng của dòng sông Cầu làm giới hạn giữa các huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng của Bắc Giang với các huyện Phổ Yên của Thái Nguyên, huyện Sóc Sơn của Hà Nội và các huyện Yên Phong, thành phố Bắc Ninh, huyện Quế Võ của tỉnh

Bắc Ninh [11,tr.15]

Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang [https://bandohanhchinh.wordpress.com]

Như vậy, Bắc Giang nằm hoàn toàn trong khu vực nội địa, gần giữa trung tâm vùng Đông Bắc của miền Bắc Việt Nam Mặc dù không có bờ biển, nhưng khoảng cách từ lãnh thổ của tỉnh ra biển cũng không quá xa, cụ thể, phía đông nam từ giới hạn của Bắc Giang đến vịnh biển Hạ Long, nếu tính theo đường chim bay, có nơi chưa tới

30km Do đó, Bắc Giang cũng chịu ảnh hưởng khí hậu của biển về nhiều mặt

Trang 14

Về địa chất, địa hình, địa mạo

Bắc Giang là vùng đất có cấu trúc tạo địa chất ít phức tạp và tương đối thuần nhất Đất đá trên mặt được tạo thành trong các thời gian địa chất tương đối trẻ Trên mặt cắt địa chất kéo dài từ khu vực hồ Cấm Sơn về qua Sơn Động, từ độ sâu 1km trở lên phân bố chủ yếu là các đất đá trầm tích như sét kết, bột kết, cát kết, cuội sạn kết… được lắng đọng từ khoảng 200 triệu năm trở lại đây Các đất đá cổ hơn phân

bố ở các độ sâu lớn và lộ ra ở vùng rìa phía bắc của tỉnh như huyện Yên Thế và phía nam, phần giáp với Quảng Ninh Các đất đá trẻ nhất được hình thành trong kỷ Đệ Tứ, từ khoảng trên một triệu năm trở lại đây và phân bố dọc các sông suối

Địa chất của lãnh thổ Bắc Giang ít bị xáo trộn và có chế độ hoạt động tương đối ổn định Phần trên vỏ trái đất ở các khu vực Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam cấu tạo từ các lớp đá trầm tích, nằm nghiêng thoải Số lượng các đứt gãy đi qua địa phận của tỉnh không nhiều Có đứt gãy chạy qua gần thành phố Bắc Giang về phía Quảng Ninh có tầm hoạt động rộng, hiện đang hoạt động và khả năng phát sinh động đất [11, tr.20] Vùng đồng bằng và các thềm cao dọc sông, cấu tạo từ các loại đất bồi tích lâu đời là nơi thuận tiện cho việc định cư và chủ động trong canh tác sản xuất

Bắc Giang ít phức tạp như các tỉnh khác ở vùng Đông Bắc Nơi đây được chia thành 4 tiểu vùng:

- Khu vực miền núi xâm thực, được nâng lên mạnh thuộc lưu vực sông Lục Nam Đây là khu vực núi cao hiểm trở của tỉnh Bắc Giang Người ta có thể quan sát thấy các dãy núi như Bảo Đài - Cấm Sơn và Huyền Đinh - Yên Tử chính là đường ranh giới giữa Bắc Giang với các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Dương

Trên núi Huyền Đinh - Yên Tử thuộc đất Sơn Động - Lục Nam có đỉnh Yên Tử cao 1.063m Trên núi Bảo Đài - Cấm Sơn có đỉnh Ba Vũi ở Lục Ngạn cao 975m Trong khu vực miền núi này, các nhà khảo cổ hầu như chưa tìm thấy các di tích khảo

Trang 15

cổ tiền - sơ sử nào Trong khi đó, các tỉnh liền kề như Lạng Sơn và Hải Dương đều đã tìm thấy các di cốt người hoá thạch và công cụ thời tiền sử trong các hang động đá vôi

- Khu vực miền đồi trung du được nâng lên yếu, có địa hình thấp dần từ bắc xuống nam, từ đông sang tây Đây là miền trung du được cấu tạo bằng trầm tích đá gốc Các ngọn đồi ở đây thường có đỉnh cao 30 - 50m Trong phạm vi tỉnh Bắc Giang, giữa các khu vực này với miền núi là đường dọc theo chân núi Huyền Đinh lên Biển Động, men theo chân núi Bảo Đài lên Bến Lường ở bắc thị trấn Kép Con đường phân ranh giới với khu vực phía nam chính là từ Cẩm Lý huyện Lục Nam đến Lạng Giang, sang Nhã Nam rồi đến đường phân giới với tỉnh Thái Nguyên Trong miền trung du của Bắc Giang, đáng chú ý là vùng đồi hai huyện Sơn Động và Lục Ngạn Hai huyện này nằm ở trung tâm của vùng trũng An Châu, một vùng được các nhà địa chất xếp vào hệ tầng "Hố trũng Thái Bình Dương" [11,tr.23]

Vùng trũng An Châu hình thành và phát triển từ kỷ Triat đến Creta, có trầm tích dày 5 - 8m, có nguồn gốc lục địa phun trào với thành hệ màu đỏ hoặc chứa than Thực chất, vùng trũng An Châu là một lòng máng sụt sâu, hai cánh không cân xứng

và hơi chúc nghiêng về phía bắc

Hiện nay, đi trên đất hai huyện Sơn Động và Lục Ngạn, người ta vẫn còn gặp các vết tích thành tạo tuổi Jura, kiểu lòng máng uốn cong từ Đại Từ (Thái Nguyên) qua Lục Ngạn, Sơn Động (Bắc Giang) và lên phía bắc Trong khu vực này còn gặp một số hố trũng kiểu chậu, nằm ở phía nam Sơn Động với tích tụ cuội sỏi kết, cát kết hỗn hợp, dày tời 700m, cấu tạo xiên chéo có nguồn gốc lục địa Đây là vùng đồi

và núi thấp, bị xâm thực mạnh, đồi có dạng hình mâm xôi, nằm kề nhau bởi các thung lũng hẹp

- Khu vực thềm phù sa cổ bị chia cắt yếu Địa hình chủ yếu là các đồi dốc thoai thoải lượn sóng, có độ cao dưới 30m, trên nền phù sa của sông Cầu, sông Thương Địa hình này biểu thị rất rõ ở các huyện Hiệp Hoà, Tân Yên và thành phố Bắc Giang

Trang 16

- Khu vực thềm mài mòn có bị chia cắt yếu có núi sót Địa hình chủ yếu là các đồi núi thấp, khá bằng phẳng, có những núi sót như núi Neo ở Yên Dũng (cao 260m), núi Dĩnh Sơn ở Việt Yên

Về khí hậu

Do nằm ở vùng đệm giữa miền núi Đông Bắc với châu thổ sông Hồng, nên khí hậu Bắc Giang có tính đa dạng của chế độ hoàn lưu gió mùa nhiệt đới Mùa đông ở đây ít mưa, sương muối xuất hiện trên nhiều vùng đồi núi Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều Lượng mưa phân bố không đều do ảnh hưởng của địa hình Các nhà khí tượng cho biết, mưa giảm dần từ phía Quảng Ninh về các huyện Lục Ngạn, Sơn Động và từ phía Hải Dương về huyện Yên Dũng Lượng mưa trung bình cả năm là 1.300 - 1.800mm Vùng núi bị chi phối bởi vĩ độ cao và vị thế bức bình phong, nên ít mưa hơn và khô hanh hơn Bắc Giang không quá xa biển nên gió biển có nhiều hơi nước theo thung lũng sông Thương đưa ngược lên phía bắc, đem theo gió lạnh, nên mùa đông vùng này đến sớm hơn

Do điều kiện thời tiết thịnh hành là lạnh và khô, nên thường xuất hiện sương muối Bên cạnh đó, lượng mưa ở đây ít, nhất là vùng thung lũng khuất nên thường xuất hiện khô hạn hơn các vùng khác

Đi trên 4 vùng miền của Bắc Giang người ta có cảm tưởng sẽ lạnh dần, nhất

là từ trung du lên miền núi Mùa nóng thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9; nhiệt

độ trung bình 27 - 280C Mùa lạnh từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau, nhiệt

độ trung bình 16 - 170C Sự biến động về giờ nắng trong năm cũng không nhiều, từ 1.530 giờ đến 1.776 giờ Vùng trung du Bắc Giang khí hậu lạnh vừa và ẩm thuận lợi cho cây cối và động vật ăn cỏ phát triển [19,tr.8]

Về thuỷ văn

Bắc Giang có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Đây là 3 con sông chính nằm trong hệ thống sông Thái Bình Hệ thống

Trang 17

sông Thái Bình có diện tích 12.680km , độ cao trung bình 150-200m Nét nổi bật ở đây là địa hình đồi, chiếm trên 60% diện tích Mật độ sông suối phân bố không đều, phân bố theo hình rẻ quạt, quy tụ tại đồng bằng Phả Lại [11,tr.22]

Sông Lục Nam là phụ lưu cấp II, là sông có lượng nước nhiều thứ hai của hệ thống sông Thái Bình

Hai bên bờ sông Lục Nam hiện còn gặp những bậc thềm rõ nét Thềm bậc I, cao trung bình từ 6 - 10m, bao gồm những những cánh đồng bạc màu vùng Yên Dũng, Lạng Giang Những thềm bậc II, cao trung bình 15 - 30m, kéo dài từ Tân Yên qua Lạng Giang chạy dọc theo thung lũng Lục Nam đến Biển Động, Lục Ngạn Những bậc thềm này đều hình thành trên nền đá gốc của kiến trúc địa tầng cổ, do tân kiến tạo nâng nhẹ Hầu hết các di vật hậu kỳ thời đại Đá cũ tìm thấy trên mặt đồi gò, thuộc thềm bậc II sông Lục Nam (Bản đồ)

Sông Thương có tên chữ là sông Nhật Đức Theo truyền thuyết, sở dĩ có tên gọi là Sông Thương vì xưa kia các sứ thần của ta đi sang Trung Quốc, gia đình và bạn bè đều đưa tiễn đến đoạn này Khi binh lính lên trấn ải biên giới, gia đình cũng chỉ tiễn đưa đến đây rồi từ biệt lẫn nhau trong tình cảm quyến luyến, thương nhớ Khúc sông Cầu chảy qua địa phận Bắc Giang bắt nguồn từ hai nơi, một là phía nam núi Ngọc Long (Thái Nguyên) rồi đổ vào Hiệp Hoà, chảy quanh co đón nhận nước từ các chi lưu như sông Hà Châu, sông Gia Cát, sông Trà Lâm rồi chảy

về Yên Phong (Bắc Ninh) Đoạn này gọi là sông Hương La, có bến Vọng Nguyệt và Như Nguyệt nổi tiếng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm Một nguồn nữa là sông Bạch Hạc trên đất Phú Thọ, chảy qua đoạn này gọi là sông Cà Lồ Sông Cầu có rất nhiều nhánh, người ta thống kê được 69 nhánh lớn nhỏ, trong đó có 2 nhánh lớn là sông Cà Lồ và sông Công

Đặc điểm tự nhiên và lịch sử huyện Hiệp Hòa

Trang 18

Hiệp Hòa là một huyện trung du nằm ở đầu tỉnh Bắc Giang Huyện lỵ là thị trấn Thắng cách thành phố Bắc Giang 30km và cách thủ đô Hà Nội 50km theo đường bộ Phía đông bắc của Hiệp Hòa giáp huyện Tân Yên, phía đông giáp huyện Việt Yên, phía nam giáp huyện Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh, phía tây nam giáp huyện Sóc Sơncủa Hà Nội, phía tây bắc giáp các thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên

Hiệp Hòa là vùng chuyển tiếp giữa đồi núi và đồng bằng, độ nghiêng theo hướng tây bắc xuống đông nam, đồi núi và gò thấp ở một số xã phía bắc, vùng đồng bằng tập trung ở phía đông nam và giữa huyện Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.110 ha (tức 201 km²) Sông Cầu là sông chính chảy qua địa vực huyện,

có vai trò to lớn đối với kinh tế, lịch sử - văn hóa khu vực này

Từ thời kỳ vua Hùng, Hiệp Hòa thuộc bộ lạc Tây Âu, nằm trong bộ Vũ Ninh Thời thuộc Hán, Hiệp Hòa nằm trong huyện Long Biên thuộc quận Giao Chỉ Thời

Lý, Hiệp Hòa có tên gọi là Phật Thệ nằm trong phủ Bình Lỗ thuộc lộ Bắc Giang Thời Trần có tên là Thiện Thệ, thời Lê mới có tên gọi chính thức là Hiệp Hòa thuộc phủ Bắc Hà Đến năm 1831 Hiệp Hòa nằm trong phủ Thiên Phúc

Trấn Kinh Bắc thời Lê gồm 4 phủ: Thuận An, Từ Sơn, Bắc Hà, Lạng Giang Phủ Bắc Hà có 180 xã, gồm 4 huyện: Hiệp Hòa, Yên Việt (nay là Việt Yên), Kim Hoa (nay là Kim Anh), Tiên Phúc (nay là Đa Phúc) Vào thời Lê, Hiệp Hòa là một huyện nhỏ, chỉ có 22 xã Năm 1485 đã có 54 xã Năm 1821 phủ Bắc Hà đổi thành phủ Thiên Phúc Năm 1832 hai huyện Yên Việt và Hiệp Hòa lập thành phân phủ Tiên Phúc, năm 1852 phân phủ này không còn

Thời nhà Nguyễn, Hiệp Hòa có khoảng 50 - 51 xã đặt trong 9 tổng là Đức Thắng, Hà Nhuyễn (hay Hà Châu), Cẩm Bào, Mai Đình, Hoàng Vân, Gia Định, Quế Trạo (hay Quế Sơn), Tiên Thù, Sơn Giao

Như vậy cho đến cuối thế kỷ XIX phạm vi của Hiệp Hòa tiến sang cả bên kia sông Cầu Đầu thế kỷ XX tổng Hà Nhuyễn được chuyển về huyện Tư Nông của Thái Nguyên (nay là huyện Phú Bình) và tổng Tiên Thù cắt về huyện Phổ Yên

Trang 19

Năm 1902 tổng Sơn Giao giải tán đưa vào tổng Đức Thắng và nhập hai xã Quảng Lâm, Hòa Lâm thành xã Ngọc Thành Liền sau thời gian đó Hiệp Hòa nhận về hai tổng của Việt Yên là Đông Lỗ, Ngọ Xá Năm 1920, Hiệp Hòa lập thêm Tổng Ngọc Thành

Dưới thời Pháp thuộc số tổng vẫn như vậy nhưng bớt đi một số đất đai làng

xã ở phía bắc, nhưng lại lấy thêm đất đai làng xóm ở phía đông thuộc Yên Thế và phía nam thuộc Việt Yên Vào khoảng năm 1900 huyện lỵ của Hiệp Hòa vẫn còn nằm ở xã Trung Trật (làng Giật bây giờ), đó là trung tâm của vùng đất cũ Nhưng sau này huyện lỵ Hiệp Hòa chuyển lên thị trấn Thắng để thành trung tâm của vùng đất đã bớt và thêm

Đến thời kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa, các xã trong huyện luôn luôn xảy

ra sự tách gộp do dân số phát triển và đổi tên các xã, các làng Cuối năm 1945, chính quyền bỏ đơn vị hành chính là tổng và tổ chức thành 18 xã, dưới xã là thôn Địa điểm khảo cổ học Đông Lâm thuộc thôn Đông Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tọa độ địa lý của di tích Đông Lâm là: 21027’259”

vĩ Bắc; 105095’109” kinh Đông Đây vốn xưa kia là một cánh rừng (tên gọi Đông Lâm - rừng phía đông) Đông Lâm nằm trên vùng đất thuộc vùng đồng bằng xen kẽ đồi núi thấp (bán sơn địa) của huyện Hiệp Hòa Đây cũng là một trong hai dạng địa hình đặc trưng của Bắc Giang Địa hình này có tác động rất lớn đến tầng văn hóa của di tích Đông Lâm phân bố trên quả gò thấp, cao từ 0,8-1,5m Có nơi chỉ cao hơn mặt ruộng xung quanh 0,5km Di tích cách sông Cầu 2km theo đường chim bay, sát với phía bắc của di tích trước kia là một cánh đồng thấp, nhân dân gọi là cánh đồng Trầm Đây là dấu vết của một đầm nước xưa kia, lâu ngày đất phù sa và các khu vực xung quanh dồn đến bồi lấp tạo nên các cánh đồng như ngày nay Khu vực này trở thành nơi cung cấp thực phẩm cho cư dân Đông Lâm Chính điều kiện tự nhiên thuận lợi, cư dân Đông Lâm thuộc thời Đồng Đậu, Gò Mun đã định cư lâu dài

ở đây và để lại một tầng văn hóa dày hơn 1m [9,tr.44]

1.2 Hiện trạng di tích

Trang 20

Di chỉ Đông Lâm phân bố trên một khu đất cao ở phía Bắc xóm Chùa (trước

là xóm Đông Tiến) thuộc hợp tác xã Đông Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Hà Bắc, cách con đường chiến lược từ thị trấn Thắng đi bến phà Mai Hạ về phía tay phải khoảng 800m và cách sông Cầu khoảng 2km theo đường chim bay về phía bắc - tây bắc Toàn bộ khu di chỉ rộng khoảng 10.000m2: phía bắc tiếp giáp với khu vực cánh đồng Trầm, phía nam giáp với Gò Chùa, và luỹ đất bao bọc xung quanh xãm Chùa; phía tây tiếp giáp với đình Đông Lâm và khu vực Bãi Ái; và phía đông là khu ruộng thấp chạy men theo xóm Khoai (trước là xóm Đại Đồng) So với những thửa ruộng ở xung quanh, khu di chỉ này hiện tại vẫn còn cao hơn khoảng 0,8m đến 1,5m; Về phía bắc tuy có thấp dần song vẫn còn cao hơn khoảng 0,5m [11,tr.92]

Trước đó khu gò có di chỉ này đã được nhân dân địa phương san bạt để trồng hoa màu, đã làm lộ ra lớp trên cùng của tầng văn hoá và một số hiện vật bằng đá, đồng cùng rất nhiều mảnh gốm thô Trong những năm sơ tán ở đây (1966) trường Nghiệp vụ Bộ Công nghiệp nhẹ lại đào giếng và khá nhiều giao thông hào cắt sâu xuống tầng văn hoá và đổ từ dưới lên rất nhiều hiện vật khảo cổ khác (giáo, lưỡi câu, mũi tên bằng đồng, gốm thô, gốm và gạch thời thuộc Hán v.v.).Sau đó, do việc sử dụng làm khu vực nghĩa địa gần đây cũng như việc xây dựng ngôi chùa Đông Lâm và hiện tại

do việc trồng trọt của nhân dân nên phần phía trên của khu di tích đã bị hủy hoại Tầng văn hoá di chỉ hiện nay lộ ngay trên mặt đất, lớp đất trồng trọt hiện tại chính là lớp trên cùng của tầng văn hoá Về cơ bản toàn bộ khu di tích còn tương đối nguyên vẹn, tầng văn hoá (nhất là những lớp ở phía dưới) còn được bảo tồn tốt

1.3 Quá trình phát hiện, khai quật, nghiên cứu

Hoạt động nghiên cứu khảo cổ học ở Bắc Giang đã bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX Những kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng Bắc Giang nằm ở vị trí địa

lý quan trọng của những nền văn minh thời Kim khí, do vậy việc nghiên cứu do vậy việc nghiên cứu ở đây đã đạt được những kết quả quan trọng

Phát hiện quan trọng và đáng lưu tâm nhất là địa điểm Đông Lâm (xã Hương

Trang 21

Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) Địa điểm này được khai quật lần đầu vào năm 1968 Qua nguồn tư liệu về địa tầng, di tích, di vật, các nhà khảo cổ học nhận định: "Địa điểm khảo cổ học Đông Lâm có niên đại thuộc phạm trù thời đại đồng thau, về tính chất địa điểm này có những yếu tố của loại hình văn hóa Gò Mun"

Trong những năm 70-80 của thế kỷ XX, các nhà Khảo cổ học thuộc Viện Khảo cổ học đã kết hợp cùng với một số cán bộ của Bảo tàng Bắc Giang đã tiến hành khảo sát các huyện Sơn Động, Lục Ngạn Bước đầu đã phát hiện một số di tích, di vật thuộc văn hóa Sơn Vi

Vùng ven sông Cầu, giáp ranh với Bắc Ninh đã phát hiện 2 di tích thuộc giai đoạn Phùng Nguyên muộn, Đồng Đậu sớm ở ven sông Cầu, đó là các địa điểm Má

Lẻ (Đạo Ngạn, xã Quang Châu, huyện Việt Yên) và địa điểm Nam Ngạn (xã Quang Châu, huyện Việt Yên)

Năm 1976, tại xã Bắc Lý, huyện Hiệp Hòa đã phát hiện một chiếc trống đồng loại I Heger

Trong những năm 80-90 của thế kỷ XX, một số cuộc phúc tra và khảo sát vùng Lục Ngạn - Sơn Động cũng đã được tiến hành bởi các nhà khảo cổ học thuộc Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh

Năm 1999-2000, một số di vật đá và trống đồng cũng được phát hiện tại các

xã Hồng Sơn, Mai Chủng thuộc huyện Hiệp Hòa

Năm 2002, Bảo tàng Bắc Giang và Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật Đông Lâm lần thứ II Cuộc khai quật lần này, cung cấp thêm nhiều giá trị cho Khảo

cổ học tiền sử Hiệp Hòa nói riêng và Bắc Giang nói chung

1.3.1 Cuộc khai quật lần thứ nhất

Tháng 3 năm 1968, Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Hà Bắc khai quật địa điểm Đông Lâm lần thứ nhất với 3 hố khai quật có diện tích trên 80m2

Trang 22

Vì thời gian và tính chất của đợt khai quật này chủ yếu là thăm dò, nên chưa tiến hành khai quật với quy mô lớn vào vị trí trung tâm của khu di tích, mà chỉ khai quật một số hố ở rìa ngoài với ý định tìm hiểu bước đầu Tại phía bắc, đoàn khai quật tiến hành khai quật hai hố, mỗi hố rộng 25m2 (5x5) nằm sát nhau; tại phía đông, ngay sau chùa Đông Lâm, đào một hố rộng 30m2 (6x5) Cả ba hố theo đúng hướng bắc - nam Hố ba cách hố một và hai khoảng 100m về phía đông nam [31,tr.2] Tùy theo sự san bạt nhiều hay ít mà tầng văn hoá có độ dày mỏng khác nhau:

ở hố 1 và hố 2 tầng văn hóa trung bình dày khoảng 0,8m đến 1,1m (chỗ mỏng nhất

là 0,6m - vách phía đông của hố 1; chỗ dày nhất là 1,40m vách phía nam của hố 2)

Ở hố 3 tầng văn hóa trung bình dày khoảng 1,30 đến 1,50m (chỗ mỏng nhất là 1,15m - vách phía tây; và chỗ dày nhất là 1,80m - vách phía bắc) Tầng văn hoá có màu đen xẫm, chứa nhiều mảnh gốm thô, rải rác có cả gốm thời Bắc thuộc cùng đồ

đá, đồ đồng và dấu vết than tro[31, tr.2-3]

Tầng văn hoá di tích dày trung bình từ 0,8-1,7m, chia làm 3 lớp văn hóa khá

rõ rệt:

- Lớp trên cùng là lớp đất trồng trọt (hay còn gọi là lớp canh tác) dày từ 0,10m đến 0,30m có màu nâu nhạt Ở lớp này có mộ táng và các mảnh gốm văn thừng màu vàng xám nhạt

- Lớp giữa dày từ 0,20m đến 0,60m, có màu đen xám Lớp văn hóa này chứa rất nhiều hiện vật đá, đồng, gốm,…

- Lớp cuối cùng dày từ 0,30m đến 0,60m, có màu vàng nhạt (ranh giới giữa lớp 2 và lớp 3 không rõ ràng)

- Sinh thổ là lớp đất sét vàng rắn, chắc, có nhiều hố đất đen đào sâu xuống bề mặt sinh thổ

Ở các lớp phía trên, tầng văn hoá bị xáo trộn khá nhiều Ngoài loại gốm thô,

đồ đồng, đồ đá, rải rác ở cả ba hố vẫn còn tìm thấy gốm có hoa văn in ô trám đơn,

Trang 23

trám lồng, xương cá, ô vuông nhỏ sắc cạnh và gạch thời Hán, có cả mảnh gốm tráng men màu xanh ngọc hoặc da lươn thời Lý - Trần và sành, gạch thời hiện đại Từ độ sâu 0,70m đến 1,10m trở đi, tầng văn hoá nhạt dần và không có dấu vết của sự xáo trộn; ở độ sâu này, đồ đá và đồ đồng tìm được rất ít (nhất là hố 3), còn đồ gốm (chủ yếu là các mảnh vỡ) rất nhiều Dựa vào số liệu thống kê, thì tỷ lệ hiện vật theo chất liệu giữa các lớp không đều nhau[11, tr.92]

Điều đáng lưu ý là lẫn lộn trong các lớp đất của tầng văn hoá (nhất là từ độ sâu 0,50m trở xuống), có từng đám nhỏ đất sét màu vàng, có khi màu đỏ gạch, rải rác khắp

cả hố khai quật, giống như ở di chỉ Đồng Đậu và một số di chỉ đồng đại khác

Các loại di tíchgồm các hố đất đen xuất lộ ở bề mặt sinh thổHố 2 và 3; các di tích

bếp lửa và tàn tích xương, răng động vật Ngoài ra còn có một số di tích mộ táng nhưng đều nằm trong các lớp gần bề mặt thuộc thời Hán - Lục Triều và muộn hơn

Các loại di vậtphát hiện được trong lần khai quật này gồm 283 hiện

vật ,trong đó có 59 đồ đá, 56 đồ đồng, 116 đồ gốm nguyên/phục nguyên, một số đồ

trang sức bằng xương răng động vật và16.643 mảnh gốm

1.3.2 Cuộc khai quật lần thứ 2

Cuộc khai quật Đông Lâm năm 2002 trên diện tích 100m2 với 3 hố khai quật và 3

hố thám sát: Hố I có diện tích 36m², hố II diện tích 38m2 (hố này được mở rộng từ hố thám sát II) và hố III diện tích 20m², hai hố thám sát I, III còn lại có diện tích mỗi hố là 3m²

1.3.2.1.Cấu tạo tầng văn hóa và di tích xuất lộ tại các hố khai quật

Hố khai quật I

Địa tầng của hố khai quật I theo vách nam từ trên xuống dưới như sau [Bv.1]

- Lớp đất mặt: đất canh tác màu nâu nhạt, độ dày trung bình 0,1m - 0,2m, hiện nay đang được trồng rau cải, khoai lang, dâu Trong lớp đất này có gạch, ngói, gốm sứ thời Bắc thuộc, không có gốm thô hay hiện vật tiền sử [11, tr.93]

Trang 24

Lớp văn hoá: đất màu nâu sẫm, dày trung bình khoảng 1m - 1,2m, chứa

nhiều hiện vật gốm, đá, đồng, xương Một số chỗ trong tầng văn hóa có những mảng

đất sét vàng, đất vàng nghệ, một số hố đất đen, nhưng nhìn chung không có những xáo

trộn lớn

Vách tây về cơ bản không khác các khu vực khác, nhưng có 2 hố xáo trộn

kích thước lớn, các hố xáo trộn này đã được xử lý trước khi cho khai quật tiếp tục

- Sinh thổ: đất sét vàng, rắn chắc; có một số hố đất đen ở sâu trong lớp đất

này Những hố đất đen này không có hình thù nhất định, kích thước trung bình

khoảng 30-40cm, có hố dài khoảng 90cm, độ sâu trung bình khoảng 30 - 40cm

Trong tầng văn hoá của hố khai quật I còn có vết tích của một nền đất sét

vàng được nện rất chặt, một vài dấu vết của bếp và các tàn tích di cốt động vật

Hố khai quật II

Hố khai quật II có hình chữ nhật, diện tích 36m2 (4m x 9m) nằm ở khu vườn

sân sau của chùa và cách mép góc chùa khoảng 20m về phía tây bắc Ngoài ra, ở

phần đầu phía tây của hố II, đoàn khai quật đã đào để lấy một đoạn vách về phục vụ

trưng bày, diện tích khoảng 2m² Vì thế, tổng diện tích thực tế khai quật của hố II là

38m² Diện tích mở thêm này không được đánh số Hố II cũng có hướng chính bắc

như hố khai quật I Các ô được chia cũng tương tự như hố I

Lấy vách đất phía nam làm điển hình, địa tầng của hố II cơ bản giống với địa

tầng của hố I, từ trên xuống dưới như sau:

- Lớp mặt: đất canh tác màu nâu nhạt dày trung bình 5cm - 10cm, hiện nay đang

được trồng dâu, chứa gạch, ngói, gốm sứ thời Bắc thuộc, không có hiện vật tiền sử

- Lớp văn hoá: đất màu nâu sẫm, mỏng hơn tầng văn hoá của hố 1, khoảng

50cm - 60cm, chứa nhiều hiện vật gốm, đá, đồng, xương Một số chỗ trong tầng

Trang 25

văn hóa có những mảng đất sét vàng, đất vàng nghệ, một số hố đất đen, nhưng nhìn chung không có những xáo trộn lớn

- Sinh thổ: đất sét vàng, rắn chắc; có một số hố đất đen ở sâu trong lớp đất này giống như ở hố I Bề mặt sinh thổ không phẳng mà hơi nghiêng từ đông sang tây, cho thấy thực trạng của di tích trước khi con người sinh sống ở đây

Tại Hố II còn phát hiện vết tích của một số mộ táng Những vết tích mộ táng xuất

lộ là những cụm gốm, chạc gốm, xương cốt người bị mủn nát, 3 dấu vết mộ táng như vậy phát hiện trong hố II, không rõ biên mộ và xương cốt không nguyên vẹn

Hố khai quật III

Hố khai quật III mở ở mặt trước của chùa, cách mép sân chùa khoảng 12m về phía tây nam Hố hình chữ nhật, diện tích 20m2 (5m x 4m), hướng chính bắc như hố I và II, hố III được chia thành 20 ô, mỗi ô 1m² Các ô cũng được ký hiệu như hố I, II

Lấy vách nam làm điển hình, địa tầng của hố III cơ bản giống I và II, từ trên xuống dưới như sau:

- Lớp đất mặt: là đất canh tác màu nâu xám, có độ dày trung bình 10cm - 20cm, trồng rau cải và khoai lang Trong lớp đất này có gạch, ngói, gốm sứ thời Bắc thuộc, không có hiện vật tiền sử

- Lớp văn hoá: đất màu nâu sẫm, dày trung bình khoảng 1,3m - 1,4m, chứa nhiều hiện vật gốm, đá, đồng, xương Tầng văn hóa tương đối bằng phẳng, ít bị xáo trộn, ngoại trừ ở phần vách tây có một hố xáo trộn ở phía trên của tầng văn hóa, cách mặt đất khoảng 60cm

- Sinh thổ: đất sét vàng, rắn chắc, tương đối bằng phẳng Có một số hố đất đen ở sâu trong lớp đất này giống như hố I và II

1.3.2.2 Hiện vật của đợt khai quật lần 2

Cuộc khai quật lần thứ hai thu được 165 hiện vật (Bảng 1), trong đó có 46 hiện vật đồng, 30 hiện vật đá, 88 hiện vật gốm, 1 hiện vật bằng xương và một số

Trang 26

lượng lớn các mảnh gốm vụn Ngoài ra, trong các hố khai quật phát hiện được 6 cục quặng sắt và nhiều mảnh nhỏ; 271 viên đá nguyên liệu để chế tác công cụ, đồ trang sức; 18 mảnh bàn mài, khuôn đúc; 121 cục đất nung; 40 mảnh gạch có chất liệu và kích thước kiểu gạch Hán và 36 mảnh sành sứ Trong số hiện vật, mảnh gốm và đồ gốm nguyên có số lượng nhiều nhất chiếm 53,3%, sau đó đến đồ đồng và đồ đá

Bảng 1.1: Thống kê hiện vật Đông Lâm

Trang 27

1.3.3 Khảo sát lại địa điểm Đông Lâm và địa bàn huyện Hiệp Hòa năm 2018

Tháng 4 năm 2018, thực hiện Nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở, tác giả luận văn

đã tiến hành điều tra khảo cổ học tại huyện Hiệp Hòa, và đặc biệt khảo sát kỹ địa điểm khảo cổ học Đông Lâm Về cơ bản di tích nằm trọn trong khuôn viên chùa Đông Lâm, nên địa tầng di tích được bảo tồn tương đối tốt Ngoài lớp mặt có sự xáo trộn do quá trình trùng tu chùa và canh tác hoa màu trong vườn chùa Căn cứ vào hiện trạng di tích hiện nay cho thấy, tiềm năng khai quật và nghiên cứu di tích này

là rất khả quan [Ba.2;3;4;5;6]

1.4 Những nhận định khoa học

Căn cứ vào địa tầng di tích, cấu trúc tầng văn hóa và những di vật thu được ở cuộc khai quật năm 1968, Phạm Như Hồ cho rằng: “Địa điểm khảo cổ học Đông Lâm có niên đại thuộc phạm trù thời đại đồng thau, về tính chất địa điểm khảo cổ học này có những yếu tố của loại hình văn hóa Gò Mun” [31]

Trang 28

Theo những kết quả nghiên cứu về mặt địa tầng và kết quả so sánh hiện vật sau khi chỉnh lý, Trịnh Sinh cho rằng, về niên đại có thể thấy Đông Lâm chủ yếu có

3 giai đoạn phát triển liên tục là Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn (loại hình Đường Cồ) thuộc thời đại Kim khí ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Trong đó đậm nét hơn là giai đoạn văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun Diễn biến địa tầng cho thấy mặc dù có di tồn văn hóa của 3 nền văn hóa này phát triển kế thừa nhưng không thấy có sự phân biệt rõ rệt về màu sắc các lớp đất Việc nhận ra đặc trưng văn hóa chủ yếu dựa vào diễn biến đồ gốm và một phần là đồ đá, đồ đồng [46, tr.41] Những ý kiến khác cũng cho rằng, đây là một di chỉ cư trú lớn, thuộc giai đoạn văn hóa Đồng Đậu muộn, Gò Mun, nằm trong khung niên đại khoảng 2.900 -

3.400 BP [23,tr.12]

Tiểu kết chương 1

Bắc Giang trước đây được xếp vào các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Địa hình có sự đan xen giữa miền núi và đồng bằng Địa hình của Bắc Giang gồm hai vùng chính: Thứ nhất là trung du xen lẫn đồng bằng bao gồm các huyện Hiệp Hòa, Việt Yên và thành phố Bắc Giang Địa hình đồi gò xen lẫn là các đồng bằng ven sông Thứ hai là vùng miền núi gồm các huyện còn lại như Lục Nam, Sơn Động, Yên Dũng, Lạng Giang, Tân Yên Địa hình vùng này phức tạp hơn, do địa hình đồi,

gò dốc không bằng phẳng có sự chia cắt về mặt địa hình Tại các vùng trung du có

sự xen kẽ đồng bằng, diện tích tự nhiên nhỏ hơn nhưng số lượng dân cư tập trung đông đúc hơn Do có những đồng bằng tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sinh sống Tại khu vực các huyện miền núi, địa hình đồi dốc, phức tạp, có hiện tượng rửa trôi và xói mòn gây khó khăn cho quá trình canh tác, nên tại đây, cư dân thưa thớt hơn

Di tích Đông Lâm nằm ở vùng trung du thuộc huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Khu vực này có địa hình đồi núi thấp, bao quanh là các bồn địa, thung lũng,

hệ thống sông suối thuộc các chi lưu của sông Cầu nên thuận lợi cho việc cư trú, sinh hoạt của cư dân tiền sử

Trang 29

Di chỉ Đông Lâm đã được phát hiện năm 1968, và được khai quật hai lần vào các

năm 1968 và 2002 Các cuộc khai quật đã làm xuất lộ tầng văn hóa, các di tích và đã thu

được một số lượng hiện vật tương đối lớn gồm: đồ đá, đồ đồng, đồ gốm, đồ xương,

Cho đến nay, có ý kiến cho rằng Đông Lâm mang đậm tính chất văn hóa Gò

Mun Tuy nhiên, còn có nhận định khác cho rằng Đông Lâm tồn tại các giai đoạn

văn hóa từ Đồng Đậu qua Gò Mun đến Đông Sơn (loại hình Đường Cồ) Tác giả

luận văn sẽ có ý kiến về vấn đề này ở hai chương tiếp sau

Chương 2 ĐẶC TRƯNG DI TÍCH VÀ DI VẬT

2.1.Mô tả hệ thống di tích, di vật

2.1.1 Di tích

2.1.1.1 Cấu tạo tầng văn hóa

Qua các hố khai quật, có thể nhận thấy di chỉ Đông Lâm có cấu tạo địa tầng

và tầng văn hóa như sau:

- Lớp mặt: là lớp đất lớp canh tác, dày từ 0,10m đến 0,30m, đất có màu nâu

nhạt Trong lớp đất này có lẫn gạch ngói, gốm sứ và cả mộ Hán, Lục Triều

- Tầng văn hóa: di chỉ có 1 tầng văn hóa,dày khoảng dày 0,80 - 1,4m, màu

đen sẫm, chứa đồ đồng, đồ đá, đồ gốm, đồ xương Tuy nhiên, căn cứ vào màu sắc

đất và đặc điểm di tích/di vật, có thể chia làm 3 lớp văn hóa như sau:

+ Lớp trên dày khoảng 0,20-0,30m, có màu đen xám, có dấu vết văn hóa Đông Sơn

+ Lớp giữalà lớp văn hóa chính bắt đầu từ độ sâu 0,6m đến độ sâu 1,0-1,4m,

có màu vàng nhạt Lớp văn hóa này có độ dày trung bình từ 0,8m đến 1,1m

+ Lớp dưới dày khoảng 0,20-0,30m, có vết tích văn hóa Đồng Đậu

Từ độ sâu 0,70m đến 1,10m trở đi, tầng văn hoá nhạt dần và không có dấu

vết của sự xáo trộn; đồ đá và đồ đồng tìm được rất ít, còn đồ gốm (chủ yếu là các

mảnh vỡ) rất nhiều

Comment [WU1]: Cần xem xét lại

Trang 30

Điều đáng lưu ý là lẫn lộn trong các lớp đất của tầng văn hoá (nhất là từ độ sâu 0,50m trở xuống), có từng dám nhỏ đất sét màu vàng, có khi màu đỏ gạch, rải rác khắp

cả hố khai quật, giống như ở di chỉ Đồng Đậu và một số di chỉ đồng đại khác

- Sinh thổ là đất sét vàng, rắn chắc, có một số hố đất đen ăn sâu xuống sinh thổ

Trong cả hai cuộc khai quật năm 1968 và 2002 tại di tích Đông Lâm đã xuất

lộ rất nhiều hố đất đen Cụ thể trong các hố khai quật năm 1968 có tới 65 hố đất đen Trong các hố này thường chứa đất tầng văn hoá, song có hố có hiện vật (đá, đồng, gốm), dấu vết than tro, xương động vật …và cũng có hố không có gì cả.Năm 2002 cũng phát hiện khoảng hơn 65 hố đất đen Hố đất đen đa số không có hình thù nhất định, kích thước trung bình khoảng 30-40cm, có hố có chiều dài 90cm, độ sâu cáchố thường không lớn

Hiện tượng các hố đất đen phổ biến trong các hố khai quật nhưng chưa rõ chức năng Một số hố có chứa các mảnh gốm, tro than và một số xương động vật có thể là hố rác thải; một số khác có thể là hố đựng ngũ cốc và những hố hình tròn có thể là những hố chôn chân cột

b Di tích bếp

Trang 31

Tại di tích Đông Lâm lẫn trong các lớp đất đen, thường tìm thấy khá nhiều mẩu than vụn và dấu vết của các đống tro bếp Dấu vết của than tương đối rõ ràng, những mẩu than này nát vụn phần lớn là than củi Ở độ sâu từ 0,90m trở xuống, dấu vết của than tro tìm thấy nhiều hơn so với các lớp ở phía trên, có chỗ tập trung lại thành từng đống nhỏ Bên cạnh những đống than tro này, còn tìm được khá nhiều mảnh xương bị đốt cháy và rất nhiều dấu tích của những bếp nguyên thủy Hiện tượng này ở hố 3 năm 1968 có nhiều hơn Trong hố I năm 2002 còn có dấu vết của bếp đun, đó là những mảnh gốm, than tro, đất nung, xung quanh là nền đất sét vàng

và 2 là có thể nghiên cứu được

Ngôi mộ ở hố 1- Ký hiệu 68DLM1 cũng đã bị phá hoại chỉ còn để lại một số

hiện vật bằng gốm (trong đó có hai chiếc vò gốm còn tương đối nguyên vẹn) và một chiếc cuốc sắt Những hiện vật này phân bố tương đối tập trung ở gần vách phía đông của hố khai quật

Ngôi mộ ở hố 2- Ký hiệu 68ĐLM2 còn tương đối nguyên vẹn hơn: Bên cạnh

các hiện vật bằng gốm (vò, nồi); bằng đồng (tiền); bằng chì (giáo) và bằng sắt (dao, cuốc…) còn tìm thấy một bộ xương đàn ông - chủ nhân của ngôi mộ này Tuy xương đã bị mủn nát song vẫn còn nguyên hình: người chết được đặt theo tư thế nằm ngửa, hai tay để lên bụng, chân duỗi thẳng, đầu quay về hướng đông - đông nam Các hiện vật tuỳ táng để ở đầu và cuối người chết, có một vài hiện vật thì để lên trên người chết [31,tr.6].Cả hai ngôi mộ này đều là mộ đất, không còn gò mộ và huyệt mộ cũng không rõ ràng

Trang 32

Với các loại đồ tùy táng như nồi, vò gốm trang trí văn ô vuông nhỏ, dao sắt, cuốc sắt họng lắp cán, giáo chì và tiền ngũ thù, chứng tỏ những ngôi mộ này, có niên đại muộn hơn nhiều so với di chỉ, thuộc thời kỳ Đông Hán muộn

Năm 2002 tại hố 2, có 3 dấu vết của mộ táng được thể hiện ở những cụm gốm, mảnh gạch hoa văn trám lồng, chân chạc gốm, xương cốt người đã mủn nát

Có thể đây là dấu vết của 3 mộ táng giai đoạn Hán - Lục triều, sau Đông Sơn

Từ những cứ liệu trên có thể thấy, di tích Đông Lâm không những là một nơi

cư trú (di chỉ cư trú) của thời đại Kim khí mà còn là một nghĩa địa của các thời đại Hán - Lục triều và cả các thời đại sau nữa

d Tàn tích thức ăn

Trong tầng văn hoá, ở độ sâu từ 0,8-1,2m, bên cạnh những hiện vật bằng gốm, bằng đá, bằng đồng và những đám than tro, còn tìm thấy 203 hiện vật xương thú vật, cùng nhiều vết tích xương, răng, sừng thú rừng đã bị mủn nát Những xương này, phần lớn thuộc loài nhai lại như: trâu, bò, hươu…; cũng có cả một số xương chim, có mảnh còn nguyên, có mảnh bị đốt cháy, và đa số bị đập vỡ Đó chắc chắn là những tàn tích thức ăn gần các bếp nấu nướng của cư dân cổ Ngoài ra, lẫn trong đất ở các độ sâu khác nhau đều có xương, răng, sừng thú đã bị mủn nát

Trang 33

dùng để chế tác rìu bôn hay sử dụng trực tiếp làm hòn ghè Đá nephrite là loại đá quý dùng để chế tác đồ trang sức như khuyên tai, vòng tay

b Kỹ thuật chế tác đồ đá

Cư dân Đông Lâm ngay từ giai đoạn sớm đã có những hiểu biết rất sâu sắc

về tính chất và đặc điểm của từng loại đá để chọn và chế tác từng loại công cụ, vũ khí, hay đồ trang sức phù hợp Bên cạnh những công cụ đá được chế tạo đơn giản bằng cách ghè đẽo, người thợ Đông Lâm xưa đã biết kết hợp một cách khéo léo các

kỹ thuật cưa, cắt, mài, khoan trong chế tác công cụ đá mài và đặc biệt là kỹ thuật khoan tách lõi trong chế tác vòng đá Đồ trang sức đá được chế tác từ các loại đá quý, hiếm, được mài nhẵn tạo nên các tác phẩm tinh xảo

c Loại hình

Sưu tập hiện vật đá ở Đông Lâm hiện có 93 hiện vật bao gồm: rìu, bôn, bàn mài, khuôn đúc, hòn ghè, vòng tay, khuyên tai, khuy đá, phác vật…

Công cụ/dụng cụ

Công cụ/dụng cụ đá có tổng số 73 hiện vật chiếm tổng số 78,5% trong tổng

số hiện vật đá tại Đông Lâm, bao gồm các loại hình sau:

- Rìu đá mài

Rìu đá Đông Lâm hiện có 7 chiếc đều là rìu tứ giác.Chúng đều được mài nhẵn toàn thân, đốc rìu hơi cong lồi lên một chút; hai cạnh bên cũng hơi lồi Lưỡi rìu vát ở cả hai mặt, song một mặt bao giờ cũng mài vát hơn Lưỡi rìu cong lồi, khá sắc Rìu đá mài Đông Lâm mang đặc trưng của văn hóa Gò Mun [Bv.14]

- Bôn đá mài: có 12 chiếc, trong đó có 10 chiếc còn nguyên dáng, còn lại là 2

lưỡi bôn Bôn đá ở Đông Lâm đều là bôn hình tứ giác, mặt cắt hình thang cân, được chế tác từ đá mịn, khá tinh xảo, kích thước tương đối nhỏ [Bv.15]

- Công cụ ghè đẽo và công cụ sử dụng cuội nguyên không qua chế tác có 7

chiếc, bao gồm các loại hình công cụ hình hạnh nhân, hình chữ nhật, hình bầu dục,

Trang 34

hình rìu ngắn, hình tam giác, công cụ cắt/nạo, không định hình, chày nghiền [Bv.10,11,12]

- Bàn mài đá:là loại hiện vật tìm thấy nhiều nhất trong số các hiện vật bằng

đá ở di chỉ Đông Lâm, tổng số tìm được 38 chiếc [Bv.16,17,18,19]

Bàn mài phần lớn được làm từ loại sa thạch, hình dáng không ổn định Bàn mài có dấu vết sử dụng ở một mặt hoặc nhiều mặt Bàn mài không chỉ dùng để mài công cụ đá, đồ trang sức mà còn được dùng để mài công cụ đồng, xương, gỗ… Đa

số bàn mài ở đây đều được sử dụng cả ba, bốn mặt có những chiếc bàn mài được mài nhiều quá đến nỗi chỉ còn mỏng thậm chí có chiếc đã bị gãy vì hai phía mài đã sát vào nhau Căn cứ theo dấu vết sử dụng chúng tôi chia bàn mài làm 4 loại:

+ Bàn mài mặt phẳng hay còn gọi là bàn mài lòng chảocó 31 chiếc, là loại bàn mài chiếm số lượng nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 81,57% tổng số bàn mài

+ Bàn mài mặt lõmcó 2 chiếc

+ Bàn mài có rãnh hình chữ V hay chữ U có 4 chiếc

+ Bàn mài trong (dũa đá) có 1 chiếc, có tác dụng như một chiếc dũa đá, dùng trong chế tác đồ trang sức

- Khuôn đúc

Tổng số là 4 mảnh khuôn đúc đá được tìm thấy ở di chỉ Đông Lâm Những mảnh khuôn đúc này đều có mặt cắt ngang hình bán nguyệt, mặt trong của khuôn đúc thường có một rãnh nhỏ hình lòng máng ở giữa hoặc lệch về một bên[Bv.22]

Vì chúng đều bị gãy nên không rõ hình dáng ban đầu của nó:

+ Mảnh khuôn đúc thứ nhất dài 4,1cm; rộng 4,5cm; dày 1,9cm

+ Mảnh khuôn đúc thứ hai dài 5,5cm, rộng 5,15cm và dày 2,5cm

+ Mảnh khuôn đúc thứ ba dài 6,8cm; rộng 6,3cm và dày 3cm

Trang 35

+ Mảnh khuôn đúc thứ tư (ký hiệu 02ĐLH3.L2) là một mảnh sa thạch, có vết mài tạo một bề mặt ngoài cong, một mặt được mài phẳng Đây là một mảnh vỡ của một loại khuôn có vỏ ngoài cong, thường gặp trong các di chỉ khảo cổ học thời đại Kim khí

Các mảnh khuôn đúc bằng đá tại Đông Lâm hầu hết đã bị vỡ, rất khó để xác định được chúng được dùng để đúc loại đồ đồng nào Tuy nhiên, đây cũng là những bằng chứng để có thể khẳng định, cư dân cổ Đông Lâm đã biết đến luyện đúc đồng tại chỗ

Đồ trang sức

Đồ trang sức đá ở Đông Lâm phần lớn làm bằng đá ngọc Nephrite hoặc đá quý/bán quý có vân và màu sắc đẹp, bao gồm các loại vòng tay, khuyên tai, khuy đá,

đá thạch anh, hạt chuỗi

- Vòng tay đá có9chiếc, nhưng toàn là mảnh vỡ, kiểu dáng có 4 loại:

+ Loại 1: 1 mảnh, là loại vòng có mặt cắt ngang hình chữ "L"; tìm được một mảnh có (ký hiệu 68ĐLH1-11) ở độ sâu 0,30m; đường kính là 7,95cm [Bv.25,32] + Loại 2: là loại vòng có mặt cắt ngang hình thang vuông, tìm thấy 2 mảnh Mảnh thứ nhất (68ĐLH1-29) tìm thấy ở độ sâu 0,50m có đường kính 4cm Mảnh thứ hai (68ĐLH1-57) tìm thấy ở độ sâu 0,70m có đường kính 5cm

+ Loại 3:là loại vòng có mặt cắt ngang hình chữ nhật, tìm thấy 3 mảnh Mảnh thứ nhất (68ĐLH1-39) tìm thấy ở độ sâu 0,70m, có đường kính 6cm Mảnh thứ hai (ký hiệu 68ĐLH2-34) tìm thấy ở độ sâu 0,30m có đường kính 4,8cm Mảnh thứ ba (ký hiệu 02ĐLH1-30), vòng được khoan rất nhẵn, đường kính ngoài 6,0cm; đường kính trong 5,6cm; bản vòng rộng 0,8cm

+ Loại 4: là loại vòng có mặt cắt ngang hình tam giác dẹt, tìm thấy 3 mảnh Mảnh thứ nhất (ký hiệu 68ĐLH2-10) tìm thấy ở độ sâu 0,30m có đường kính 3cm Mảnh thứ hai tìm thấy ở độ sâu 0,90m có đường kính 11,5cm

- Khuyên tai đá: có 6 chiếc, phân thành hai loại như sau:

Trang 36

+ Khuyên tai có mặt cắt ngang hình tam giác có 4 chiếc

Chiếc thứ nhất (ký hiệu 02ĐLH2-3), chỉ còn một mảnh khoảng 1/2 Khuyên tai

có mặt cắt ngang hình tam giác, hai mặt được mài phẳng Khuyên tai được làm từ đá màu xanh nhạt Đường kính ngoài 5,1cm, đường kính trong 2,5cm; chiều dày 0,8cm Chiếc thứ hai (ký hiệu 02ĐLH1-42) còn tương đối nguyên Khuyên tai có mặt cắt ngang hình tam giác, hai mặt được mài phẳng Khuyên tai hình tròn không được xẻ rãnh để đeo tai mà có lỗ ở chính giữa có thể xuyên dây Lỗ thủng này không thẳng và hơi xiên Chất liệu bằng đá màu xanh nhạt Đường kính ngoài 2,2cm; đường kính lỗ rộng nhất 0,3cm; chiều dày 0,5cm

Chiếc thứ ba (ký hiệu 02ĐLH1-6) chỉ còn lại một mảnh Khuyên tai có mặt cắt ngang hình tam giác dẹt, hai mặt được mài phẳng, khuyên tai được mài bằng đá màu trắng ngà Đường kính ngoài 5,1cm; đường kính trong 2,4cm; chiều dài 0,2cm Chiếc thứ tư (ký hiệu 02ĐLH1-22) chỉ còn một mảnh Khuyên tai có mặt cắt ngang hình tam giác dẹt, hai mặt được mài phẳng Đường kính ngoài 3,7cm; đường kính trong 2,1cm, chiều dày 0,2cm [11,tr.126 - 127]

+ Khuyên tai có mặt cắt ngang hình thang có 2 chiếc

Chiếc thứ nhất chỉ còn lại một mảnh Khuyên tai có mặt cắt ngang hình thang, hai mặt được mài phẳng Khuyên tai được làm từ đá màu trắng đục có vân màu đen;đường kính ngoài 4,9cm; đường kính trong 1,7cm; chiều dày 0,3cm Chiếc thứ hai (ký hiệu 02ĐLH1-43) chỉ còn một mảnh, có khe hở để đeo vào tai Một phần bản vòng bị vỡ ở đoạn gần rãnh khe hở Khuyên làm bằng đá màu trắng đục có vân màu đen Khuyên tai có mặt cắt ngang hình thang, hai mặt được mài nhẵn Đường kính ngoài 2,0cm; đường kính trong 0,5cm; chiều dày 0,2cm [11,tr.127]

- Khuy đá:có 2 chiếc Khuy đá được làm từ đá màu xanh ngọc nhạt, dáng

hình tròn, một mặt được mài phẳng, một mặt vát từ trong ra ngoài Mặt cắt ngang có hình gần tam giác

Trang 37

Chiếc khuy đá có số ký hiệu 02ĐLH1-40, bị vỡ một mảnh Khuy có hình tròn, một mặt được mài phẳng, một mặt mài vát từ trong ra ngoài Mặt cắt ngang có hình gần tam giác Mặt phẳng có một gờ nổi lên có khoan lỗ để xỏ dây Có một rãnh hẹp ở giữa khuy vuông góc với gờ này Khuy làm bằng đá màu xanh ngọc nhạt Đường kính : 2,4cm Chiều dày 0,7cm

Chiếc khuy đá thứ hai sưu tầm được ở Đông Lâm,bị vỡ một mảnh Khuy có hình tròn, một mặt được mài phẳng, một mặt mài vát từ trong ra ngoài Mặt cắt ngang có hình gần tam giác Mặt phẳng có dấu vết của một gờ nổi lên Có một rãnh hẹp ở giữa khuy vuông góc với gờ này Khuy làm bằng đá màu xanh ngọc nhạt Đường kính: 2,2cm [42,tr.15]

- Viên đá trang sức bằng thạch anh: có 1 hiện vật , là viên đá có vết mài ở 6

cạnh dài và một đầu được mài nhọn hơn Viên đá có màu trắng đục; chiều dài 3,7cm, chiều rộng nhất 18cm Theo Trịnh Sinh, những viên đá thạch anh tìm được nhiều ở các di chỉ thời đại Kim khí Chúng có chức năng như một loại đồ trang sức [Ba.32]

- Hạt chuỗi đá:có 2 hiện vật Hạt chuỗi thứ nhất đã bị vỡ nát chỉ còn lại một

mảnh nhỏ cho nên không rõ hình dáng và kích thước Hạt chuỗi thứ hai còn tương đối nguyên vẹn Nó có hình trụ tròn, hai đầu mài vẹt thành hình thang cân, dài 7cm, đường kính rộng 1,2cm và đường kính lỗ rộng 0,3cm [11, tr.108]

2.1.2.2 Đồ đồng

Sưu tập đồ đồng tìm thấy tại Đông Lâm có 102 chiếc, trong đó có tới 2/3 hiện vật bị vỡ vụn, số còn lại là hiện vật tương đối còn nguyên dáng Dựa vào chức năng sử dụng, chúng tôi phân đồ đồng các loại hình như sau:

a Vũ khí: có 14 hiện vật, chiếm 13,72% tổng số hiện vật đồng, bao gồm các loại: giáo đồng, qua đồng, rìu đồng, mũi tên đồng

-Giáo đồng:có 3 hiện vật (2 mảnh và 1 chiếc nguyên)

Mảnh giáo thứ nhất tìm thấy ở độ sâu 1,1m - trong hố đất đen, bị gãy mũi và chuôi chỉ còn lại phần giữa.Mảnh thứ hai tìm thấy ở độ sâu 1,43m - cũng trong hố

Trang 38

đất đen Cả hai chiếc giáo này đều có mặt cắt ngang hình thoi dẹt, do không còn nguyên vẹn cho nên cũng không rõ kiểu họng tra cán

Chiếc giáo còn tương đối nguyên vẹn (nhặt được trên mặt đất) có hình trụ, bị sứt phần mũi, dài 12cm, có họng tra cán [Ba.38]

- Lưỡi qua đồng: Tìm được 1 chiếc duy nhất có số ký hiệu là 02ĐLHI - 50

[Ba.46, Bv.27]

Qua đồng tìm thấy tại địa điểm Đông Lâm có hai phần: phần lưỡi và phần chuôi Lưỡi qua có hình tam giác, mũi nhọn nhưng đã bị gãy phần đầu mũi; Rìa lưỡi sắc, vát đều cả hai bên;phần sống lưỡi cũng có rìa sắc như vậy Chuôi qua đã bị gãy, nhưng vẫn còn nhận ra chuôi có hình dẹt, mặt cắt ngang gần giống hình thang mà cạnh lớn gắn với phần lưỡi Chuôi có hình dáng dẹt, nhìn ngang gần giống hình thang mà cạnh lớn gắn với phần lưỡi Đoạn tiếp giáp giữa lưỡi và chuôi có hai miếng đồng hình chữ nhật xoè ra như hai mang cá, có tác dụng giữ cho phần cán không bị tụt xuống phần mũi Chiều dài còn lại 13,5cm; rộng nhất tính từ lưỡi đến chuôi 6cm; chuôi rộng nhất 3,1cm; chiều dày 0,2cm [44]

-Mũi tên đồng có 11chiếc, gồm 3 loại như sau:

+ Loại 1 là mũi tên có hình cánh én có 9 chiếc Đó là những mũi tên có hình gần tam giác và hai cánh nhọn Loại mũi tên này mỏng, có cạnh sắc, có chuôi để buộc vào một thanh gỗ hoặc thanh tre, phần thân giúp cho tên có thể bắn được đi xa

Có thể miêu tả một số mũi tên điển hình như sau:

Chiếc thứ 1 (68ĐLH2 - 69) tìm thấy ở độ sâu 0,7m của hố 2 (1968) chỉ còn lại phần mũi: dài 2,1cm, chỗ rộng nhất 0,8cm và dày 0,3cm

Chiếc thứ 2 (68ĐLH2 - 85) tìm thấy ở độ sâu 0,6m của hố 2 (1968) bị gãy 1 cánh

và phần chuôi buộc cán Kích thước còn lại dài 2,5cm, rộng nhất 2cm và dài 0,3cm Chiếc thứ 3 (68ĐLH3 - 69) tìm thấy ở độ sâu 1,25m của hố 3 cũng bị gãy cánh và phần chuôi, chỉ còn lại một nửa của phần mũi dài 2cm, chỗ rộng nhất 1,3cm

và dày 0,6cm [31,tr.28]

Trang 39

Chiếc thứ 4 (ký hiệu 02ĐLHI - 27) Mũi tên còn tương đối nguyên vẹn, chỉ

bị gãy phần chuôi Mũi tên cánh én, có mặt cắt hình tam giác, hai góc cánh nhọn, mũi nhọn Mũi tên không có sống nổi Chuôi có mặt cắt ngang hình bầu dục Chiều dài còn lại: 2,6cm Chiều rộng cánh còn lại: 1,6cm Chiều dày nhất: 0,2cm

Chiếc thứ năm (ký hiệu 02ĐLHII - 7) Mũi tên còn tương đối nguyên vẹn, bị

gỉ xanh toàn bộ Mũi tên hình cánh én, hai cánh rất nhọn Mặt cắt ngang mũi tên hình thoi dẹt Đầu mũi tên bị gãy Đặc biệt, chuôi mũi tên dài và đoạn tiếp giáp với thân, phần chuôi được phình ra hai bên Phần chuôi cũng mỏng hơn phần thân mũi tên Chiều dài còn lại: 3,4cm chiều dài chuôi: 1,1cm; chiều rộng cánh: 2,6cm chiều dày nhất: 0,4cm

Chiếc thứ sáu (ký hiệu 02ĐLHI - 65) Mũi tên có hình cánh én, bị gỉ xanh toàn bộ và bị gãy phần hai cánh nhọn và một phần thân, mũi tên nhọn, không có sống nổi Chiều dài còn lại: 2,3cm; Chuôi dài: 0,8cm, dày nhất: 0,3cm Hai mũi tên còn lại đã bị vỡ nhiều [44,tr.10]

Những mũi tên còn lại của loại này đã bị vỡ, không xác định kích thước + Loại 2 là mũi tên có hình lá: 1 chiếc Đó là mũi tên có hình gần giống chiếc

lá cây Mũi tên còn tương đối nguyên vẹn, chỉ bị sứt mũi Mũi tên bị gỉ xanh toàn

bộ Phần thân có mũi nhọn, hai cạnh bên cong và xuôi vào thân, chuôi dài, mặt cắt hình thấu kính dẹt Kích thước: chiều dài nhất 3,4cm;dài chuôi 1,3cm;dày 0,2cm

- Loại 3 là mũi tên có rãnh ở giữa thân có 1 chiếc, bị gẫy một phần thân và chuôi chỉ còn lại một phần Đặc biệt hai bên mặt có rãnh trùng với trục dài của mũi tên Vì thế, mặt cắt ngang của thân mũi tên có hình thoi dẹt mà ở hai bên của hình thoi hơi lõm vào Kích thước: chiều dài còn lại 2,7cm; chiều rộng còn lại 1,1cm; chiều dày nhất 0,2cm [44,tr.10]

-Mũi lao đồng: Tìm được 1 hiện vật trong cuộc khai quật năm 2002 Mũi lao

này có một đầu nhọn, có một ngạnh nhô ra và một đầu bị vỡ, mặt cắt ngang hình chữ nhật Kích thước: chiều dài còn lại 4,5cm;chiều rộng nhất ở thân 0,4cm;ngạch dài 1,0cm;chiều dày 0,15cm[Ba.50]

Trang 40

b Công cụ/dụng cụ: có 30 hiện vật, chiếm tỷ lệ 29,41% tổng số hiện vật đồng

- Lưỡi câu đồng có7chiếc, trong đó có 5 chiếc hoàn chỉnh và 2 chiếc ở dạng

+ Lưỡi câu đồng thứ tư còn nguyên hình dáng, bị gỉ xanh nhiều, móc và ngạnh cũng như độ uốn của thân không khác gì lưỡi câu hiện đại Kích thước: chiều dài 2,8cm; ngạch dài 0,7cm;đường kính thân 0,2cm

+ Lưỡi câu đồng thứ năm còn phần thân, ngạnh, bị gỉ xanh, thiếu phần chuôi Chiều dài còn lại 2,2cm, đường kính thân 0,15cm

+ Lưỡi câu đồng chưa hoàn chỉnh: 2 chiếc, chiếc thứ nhất có số ký hiệu 02ĐLH1 - 69 thuộc dạng bán thành phẩm, bị gỉ xanh Một đầu được uốn cong để làm lỗ buộc dây Phần còn lại không được uốn mà duỗi thẳng Chiếc thứ hai có số

ký hiệu 02ĐLH3 - L7 B2 thuộc dạng bán thành phẩm, bị gỉ xanh Lưỡi câu chỉ còn một đoạn nhưng vẫn tháy móc uốn tròn, bị gẫy phần thân và ngạnh Kích thước: chiều dài còn lại 2,1cm;phần móc dài 0,6cm;đường kính thân 0,2cm [44,tr.11]

-Mũi rìu đồng có 1 hiện vật Mũi rìu đã bị gãy phần mũi nhọn và cả phần

thân Mũi rìu có rìa lưỡi sắc bén Phần sống của rìu cong tròn Hai mặt lưỡi rìu phẳng không trang trí hoa văn Kích thước: chiều dài còn lại 2,3cm, chiều cao còn lại 1,4cm Đây là loại hiện vật gặp nhiều trong văn hoá Gò Mun [Ba.52]

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w