Trước sự trỗi dậy mạnh mẽ và gia tăng ảnh hưởng ngày lớn đối với khu vực của Trung Quốc đã và đang đe doạ mạnh mẽ tới vị thế toàn cầu của Mỹ tại đây, Mỹ đã điều chỉnh chiến lược đối ngoạ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ HẢI NAM
NHỮNG CHUYỂN BIẾN TRONG QUAN HỆ ĐỒNG MINH
MỸ - PHILIPPINES TỪ NĂM 1992 TỚI NAY
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG VĂN HUY
HÀ NỘI – 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu 11
6 Nguồn tài liệu sử dụng 11
7 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn 12
8 Bố cục luận văn 14
CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỒNG MINH MỸ - PHILIPPINES TỪ NĂM 1992 TỚI NAY 14
1.1 Khái niệm liên quan tới quan hệ đồng minh 14
1.2 Lợi ích chiến lược của Mỹ và Philippines trong việc thiết lập quan hệ đồng minh 16
1.2.1 Lợi ích chiến lược của Mỹ 16
1.2.2 Lợi ích chiến lược của Philippines 17
1.3 Tác động từ mối quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines trước năm 1992 19
1.3.1 Hai nước ký kết Hiệp ước đồng minh năm 1951 19
1.3.2 Quan hệ đồng minh từ sau khi ký Hiệp ước MDT 1951 đến trước năm 1992 23
1.4 Các nhân tố khác tác động tới quan hệ đồng minh 26
1.4.1 Chiến tranh Lạnh kết thúc và Mỹ trở thành siêu cường duy nhất 27
1.4.2 Sự trỗi dậy mạnh mẽ và mở rộng không gian chiến lược của Trung Quốc 28
1.4.3 Những chuyển biến trong chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á – TBD từ sau Chiến tranh Lạnh 31
Trang 31.4.4 Philippines điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình từ năm 1992 33
1.4.5 Các nhân tố khác 35
1.5 Tiếu kết chương 1 46
CHƯƠNG 2: NHỮNG TIẾN TRIỂN TRONG QUAN HỆ ĐỒNG MINH MỸ VÀ PHILIPPINES TỪ NĂM 1992 TỚI NAY 47
2.1 Những chuyển biến từ năm 1992 đến năm 2001 47
2.2 Những chuyển biến từ năm 2001 đến năm 2008 54
2.2.1 Mục tiêu gia tăng quan hệ đồng minh 54
2.2.2 Các động thái tăng cường quan hệ đồng minh 56
2.3 Những chuyển biến từ năm 2008 tới nay 61
2.3.1 Mục tiêu gia tăng quan hệ đồng minh 61
2.3.2 Các động thái tăng cường quan hệ đồng minh 62
2.4 Tiểu kết chương 2 73
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG CỦA MỐI QUAN HỆ ĐỒNG MINH MỸ - PHILIPPINES 74
3.1 Những tác động của mối quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines 74
3.1.1 Tác động tới bản thân hai nước 74
3.1.2 Tác động đối với Trung Quốc, ASEAN, Nhật Bản 81
3.1.3 Tác động đối với Việt Nam 85
3.2 Một số đặc điểm của quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines từ năm 1992 tới nay 88
3.3 Xu hướng quan hệ đồng minh trong thời gian tới 90
3.4 Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
1 Tài liệu tham khảo tiếng Việt 99
2 Tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài 100
3 Tài liệu khác 101
PHỤ LỤC 111
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFP Armed Forces of the Philippines
Lực lượng vũ trang Philippines
Hội nghị Bộ trưởng ASEAN
Diễn đàn Khu vực ASEAN
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á
Châu Á-TBD Châu Á – Thái Bình Dương
EDCA Enhanced Defense Cooperation Agreement
Thỏa thuận về Gia tăng hợp tác quốc phòng
IMF International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ quốc tế
JSOTF-P Joint Special Operations Task Force - Philippines
Lực lượng Tác chiến Đặc biệt Mỹ tại Philippines
MBA Philippine - U.S Military Bases Agreement
Hiệp định Căn cứ quân sự Philippines - Mỹ
Hiệp ước Phòng thủ chung
MDB Philippine – U.S Mutual Defense Board
Ủy ban Phòng thủ chung Mỹ - Philippines
NATO North Atlantic Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
Chương trình Đối tác vì sự phát triển (của Mỹ)
SEB Philippine – U.S Security Engagement Board
Trang 5Ủy ban Cam kết An ninh Mỹ - Philippines
TPP Trans-Pacific Partnership
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
UNCLOS United Nations Convention on the Law of the Sea
Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển
Đô la Mỹ
Hiệp định về các lực lượng viếng thăm nhau
Ngân hàng Thế giới
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới Mỹ với tư cách là quốc gia toàn cầu, có sự hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới; vậy nên sự điều chỉnh chính sách của Mỹ ít nhiều đều tác động đến các quốc gia và khu vực ở những mức độ khác nhau, trong đó có Đông Nam Á
Ở khu vực Đông Nam Á, Philippines với tư cách là đồng minh lâu đời và quan trọng hàng đầu của Mỹ ở khu vực trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng đã điều chỉnh chính sách đối ngoại mang tính đa phương hoá và hội nhập rộng rãi hơn với khu vực Quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Philippines cũng có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới, tuy nhiên, Philippines vẫn được coi là đồng minh quan trọng hàng đầu của Mỹ ở Đông Nam Á Việc Mỹ sa lầy vào cuộc chiến Vùng Vịnh từ đầu những năm
1990 và sau đó là cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu từ đầu thế kỷ XXI đã tạo khoảng trống quyền lực tại khu vực Đông Nam Á khiến cho Trung Quốc thuận lợi hơn trong việc gia tăng ảnh hưởng chiến lược tới khu vực này Trước sự trỗi dậy mạnh mẽ
và gia tăng ảnh hưởng ngày lớn đối với khu vực của Trung Quốc đã và đang đe doạ mạnh mẽ tới vị thế toàn cầu của Mỹ tại đây, Mỹ đã điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình với khu vực châu Á – Thái Bình Dương (châu Á - TBD) bằng chính sách
“xoay trục” hay “tái cân bằng”, cùng với đó là sự gia tăng thắt chặt quan hệ với các nước đồng minh ở khu vực, trong đó có Philippines
Với việc Mỹ đang gia tăng đẩy mạnh chiến lược “tái cân bằng” của mình và không ngừng củng cố quan hệ với các quốc gia đồng minh ở khu vực, cùng với sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc - đặc biệt là về mặt quân sự - và kèm theo đó
là sự gia tăng căng thẳng trong tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc với các quốc gia láng giềng trong đó có với Philippines và Việt Nam, thì những biểu hiện biến đổi mối quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines đều trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến Việt Nam, đặc biệt là trong mặt trận chống lại những hành động ngày càng cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông
Trang 7Đối với Việt Nam, sự điều chỉnh chính sách của Mỹ với khu vực, cũng như những quốc gia thành viên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và nhất là những quốc gia có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc, chẳng hạn như Philippines, đã và đang giành được sự quan tâm chú ý không chỉ của giới lãnh đạo mà còn đối với giới nghiên cứu Tuy nhiên, cho tới nay, những nghiên cứu mang tính hệ thống và toàn diện về diễn biến của mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Philippines tuy đã có một số thành quả nhất định, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nhận thức và đòi hỏi thực tế đang đặt ra hiện nay
Hơn nữa, hiểu và tận dụng được mối quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines có thể giúp Việt Nam định hình chính sách đối ngoại, đặc biệt Mỹ và Philippines có thể là những đối tác mà Việt Nam có thể bắt tay trong giải quyết vấn đề biển Đông Cho nên, việc nghiên cứu toàn diện về Phillippines, cũng như về quan hệ đối ngoại của quốc gia
này với Mỹ có tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, đề tài “Những
chuyển biến trong quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines từ năm 1992 tới nay” đã
được lựa chọn; vừa có ý nghĩa khoa học, giá trị thực tiễn và vừa có tính cấp thiết
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ đồng minh Mỹ và Philippines đã có từ lâu đời và là một vấn đề rộng lớn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong nước và quốc tế Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học và bài viết về vấn đề này ở các góc độ tiếp cận, phạm vi và cấp độ nghiên cứu khác nhau như:
1 Courtney Momialoha Sugai (2009), U.S – Philippine Security Relations after Base Closure (1991 – 1999), Master of Arts in Diplomacy and Military Studies thesis, Hawaii Pacific University, United States Luận văn Thạc sỹ của học giả Courtney Momialoha Sugai tại bang Hawaii (Mỹ) đã trình bày tương đối toàn diện về quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines giai đoạn 1991 – 1999 Công trình đã luận giải quá trình dẫn đến việc đóng cửa các căn cứ quân sự của Mỹ tại Philippines, phân tích quan hệ đồng minh này từ giai đoạn buông lỏng cho đến khi củng cố trở lại vao cuối thập niên
1990 của thế kỷ XX
Trang 82 Carl Baker & Brad Glosserman (2013), Doing More and Expecting Less: The
Future of U.S Alliances in the Asia Pacific, Issues & Insights Vol.13 – No.1, Pacific
Forum CSIS, U.S Đây là ấn phẩm tổng hợp một số nghiên cứu của nhiều tác giả về các mối quan hệ của Mỹ với các đồng minh trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Philippines Chương 5 phân tích một số chuyển biến của quan hệ Mỹ - Philippines kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh và đánh giá vai trò của quan hệ này đối với bản thân hai nước và an ninh khu vực
3 Một số báo cáo Quốc hội Mỹ theo năm của các chuyên gia nghiên cứu quan
hệ Mỹ - Philippines thuộc Congressional Research Service (CRS): Larry A Niksch (2000), Philippine-U.S.Security Relations; Thomas Lum, Larry A Niksch (2007 &
2009), The Republic of the Philippines: Background and U.S Relations; Thomas Lum (2011 & 2012 ),The Republic of the Philippines and U.S Interests; Thomas Lum, Ben Dolven (2014) The Republic of the Philippines and U.S Interests Đây là các báo
cáo tổng quan, đề cập khái quát những vấn đề, lợi ích, các hoạt động, kết quả của quan hệ Mỹ - Philippines trên nhiều lĩnh vực, được cập nhật theo từng năm
4 Murray Hiebert, Phuong Nguyen, Gregory B Poling (2015), Building a More
Robust U.S.-Philippines Alliance, Center for Strategic & International Studies (CSIS)
Công trình nghiên cứu này đã trình bày tương đối đầy đủ về quan hệ Mỹ - Philippines trong vài năm trở lại đây, trên các lĩnh vực an ninh – quốc phòng, đầu từ - thương mại, giao lưu nhân dân ; có những phân tích và đánh giá khái quát về kết quả, thực trạng
và các tồn tại trong mối quan hệ, đồng thời đưa ra một số đề xuất nhắm tăng cường quan hệ Mỹ - Philippines trong thời gian tới
Ngoài ra, một số học giả như Rommel C Banlaoi tại Viện Nghiên cứu Hòa bình, Bạo lực và Khủng bố PIPVTR (Philippines); Renato Cruz De Castro tại Đại học
De La Salle (Philippines), Ian Storey tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS - Yusof Ishak Institute (Singapore) đã có nhiều bài viết chuyên sâu trên các tạp chí nghiên cứu quan hệ quốc tế về vấn đề Mỹ - Philippines nói riêng và các vấn đề quan hệ quốc tế
trong khu vực có liên quan như Rommel C Banlaoi (2010), Current and Emerging
Security Environment in Southeast Asia: A Regional Security Appraisal for Phlippines
Trang 9Defense, Security and Foreign Policy, De La Salle University, Philippines Rommel
C Banlaoi (2012), The Philippines and U.S pivot to Asia, the 11th Symposium of the Council for Asian Transnational Threat Research (CATR) at Thailand Ian Storey (1999), Creeping Assertiveness: China, the Philippines and the South China Sea
Dispute, Contemporary Southeast Asia, Vol 21, no 1 April; Ian Storey (2011),
Southeast Asia and the Rise of China: The search for security, London and New York:
Routledge Renato Cruz De Castro (2007), China, the Philippines, and U.S
Influence in Asia, Asian Outlook, No.2 July, American Enterprise Institute; Renato
Cruz De Castro (2010), Weakness and Gambits in Philippine Foreign Policy in the
Twenty-first Century, Pacific Affair, Vol 83, No 4, December; Renato Cruz De
Castro (2013), Reconfiguring 21st Century Philippine-United States Alliance: Facing
Up to a China Challenge in the South China Sea? Tamkang Journal of International
Affair
Tại Việt Nam, quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines tuy thu hút sự quan tâm của các học giả trong nước song cho tới nay những nghiên cứu còn chưa nhiều Một số nghiên cứu liên quan như Luận văn thạc sỹ Châu Á học “Vai trò của Philippines trong chiến lược châu Á – Thái Bình Dương mới của Mỹ hiện nay” của Nguyễn Đăng Khoa thực hiện năm 2013 tại khoa Đông phương học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh; xoay quanh các vấn đề đương đại của khu vực đầu thế kỷ XXI, trong đó nhấn mạnh khoảng thời gian từ 2009 đến tháng 6/2013 khi Tổng thống Obama thực hiện chiến lược “xoay trục” để đối phó với sự trổi dậy của Trung Quốc trong khu vực Trong đó, vai trò đồng minh chiến lược của Philippines được tác giả xoáy sâu làm trọng tâm nghiên cứu tìm hiểu trong chiến lược của Mỹ; đồng thời nêu lên những thách thức và những cơ hội cho mối quan hệ Philippines – Mỹ trong thời gian tới Một số bài viết trên tạp chí có liên quan đến đề tài như Dương Văn Huy (2014), Bước tiến mới trong quan hệ Mỹ - Philippines sau chuyến thăm châu Á của
Tổng thống Mỹ Barack Obama, Tạp chí Sự kiện & Nhân vật, Tổng cục V, Bộ Công an,
số 254; Dương Văn Huy (2014), Một số vấn đề trong quan hệ Mỹ - Philippines trong
giai đoạn hiện nay, Tạp chí Quan hệ Quốc phòng, số 27, quý III cùng một số nghiên
Trang 10cứu và bài viết về vấn đề tranh chấp biển Đông có liên quan đến Philippines và về quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á Những bài viết nêu trên đều là những phân tích, đánh giá của các chuyên gia, là những tư liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu về quan hệ Mỹ - Philippines cũng như về quan hệ quốc tế trong khu vực
Các công trình đã nêu đều có những thành tựu nhất định, đã nêu lên những vấn
đề cơ bản về lý luận và thực tiễn; đồng thời chỉ rõ nhiều khía cạnh, vấn đề trong mối quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines Tuy nhiên, các công trình này hầu hết đặt quan
hệ Philippines – Mỹ trong các giai đoạn lịch sử riêng biệt mà chưa có công trình nào nghiên cứu về sự chuyển biến của quan hệ đồng minh lâu đời này trong các giai đoạn khác nhau, đặc biệt từ bước ngoặt năm 1992 đến giai đoạn hiện nay (2016) với những thay đổi, xu hướng và tác động khác nhau nhưng vẫn giữ những giá trị và nền tảng cơ bản
Luận văn “Những chuyển biến trong quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines
từ năm 1992 tới nay” đã được lựa chọn Trong quá trình thực hiện đề tài có sự kế thừa và chọn lọc những thành tựu đã đạt được trong các công trình được công bố, trích dẫn và sử dụng một số ý kiến đánh giá của các chuyên gia; đồng thời tiếp tục phân tích theo hướng tiếp cận mới, trực tiếp và toàn diện hơn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận diện và làm rõ các nhân tố tác động đến quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines từ năm 1992 đến nay, qua đó thấy được nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong chính sách của hai nước và của quan hệ đồng minh
- Làm rõ những chuyển biến, so sánh bản chất quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines qua các giai đoạn; phân tích lợi ích chiến lược của mỗi nước trong quan hệ đồng minh
- Làm rõ các tác động của quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines đến các chủ thể, tìm hiểu xu hướng quan hệ này trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11- Tìm hiểu lý luận về khái niệm đồng minh trong quan hệ quốc tế; tìm hiểu các nhân tố tác động đến quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines trong hoàn cảnh rộng và hẹp, xác định mức độ tác động của mỗi nhân tố đến quan hệ này
- Tập hợp tư liệu phác dựng lại mối quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines giai đoạn trước năm 1992 và từ năm 1992 đến nay với những dấu mốc và sự kiện tiêu biểu thể hiện chủ trương, chính sách của mỗi nước cũng như thể hiện bản chất, mức độ của mối quan hệ ở các thời điểm khác nhau
- Trình bày các tác động tích cực và hạn chế của quan hệ đồng minh tới bản thân hai nước và một số chủ thể quan hệ quốc tế trong khu vực
- Xác định các thuận lợi và thách thức trước mắt của quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines qua đó nêu xu hướng quan hệ này trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về những chuyển biến qua các giai đoạn của quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Philippines từ năm 1992 cho tới nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi thời gian: Luận văn chọn phạm vi thời gian từ năm 1992 đến nay
+ Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Đây là một đề tài tương đối khó và phức tạp, nên
trong phạm vi luận văn thạc sỹ chúng tôi không có tham vọng luận giải hết được tận cùng của các vấn đề, cũng như không nghiên cứu toàn diện quan hệ Mỹ - Philippines
mà chủ yếu tập trung vào quan hệ đồng minh của hai nước trên lĩnh vực quân sự và an
ninh – quốc phòng với một số nội dung cụ thể như: (i) Xác định những nhân tố tác động đến quan hệ đồng minh Mỹ và Philippines từ năm 1992 tới nay; (ii) Làm rõ cơ sở thiết lập và những chuyển biến của quan hệ đồng minh này từ năm 1992 tới nay; (iii)
Trình bày tác động và xu hướng của quan hệ đồng minh Mỹ và Philippines từ năm
1992 tới nay
Trang 125 Hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
5.1 Hướng tiếp cận
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, trên cơ sở nòng cốt của cách tiếp cận từ các phương pháp nghiên cứu của ngành quan hệ quốc tế, chúng tôi có cách tiếp cận hệ thống chủ yếu dựa trên các lý thuyết về quan hệ quốc tế, nhất là địa – chính trị học; đồng thời sử dụng một cách thích hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành của khoa học xã hội như lịch sử, kinh tế - chính trị học, địa lý học, xã hội học v.v… để xem xét vấn đề
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Về phương pháp tư liệu, luận văn tiến hành thu thập, tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các loại hình tư liệu;
- Luận văn cũng sử dụng các phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia nhằm tìm ra những yếu tố mấu chốt của vấn đề nghiên cứu đang quan tâm;
- Đưa ra khung phân tích hợp lý dựa trên cách tiếp cận nêu trên
6 Nguồn tài liệu sử dụng
6.1 Nguồn tài liệu cấp 1 (tài liệu gốc) chủ yếu bao gồm
- Các tài liệu mang tính pháp quy chính thức của Philippines và Mỹ liên quan đến các hoạt động song phương;
- Các báo cáo của chính phủ, chính quyền các cấp, các tổ chức chính tri-xã hội, các doanh nghiệp, các tài liệu thống kê hàng năm của ba nước;
- Các lời phát biểu, phỏng vấn báo chí của các nhân vật hoạt động chính trị, các nhà doanh nghiệp và các tầng lớp khác v.v
6.2 Nguồn tài liệu thứ cấp bao gồm chủ yếu là
- Các công trình khoa học đã được công bố, bao gồm các bài viết đăng ở các tạp chí chuyên ngành, các sách tham khảo, các công trình nghiên cứu khác nhau bằng các thứ tiếng
- Các luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu khoa học chưa được công bố, các bài viết dành cho các cuộc Hội thảo liên quan đến đề tài
Trang 136.3 Các loại tư liệu khác
Chủ yếu là các dữ liệu và thông tin từ các trang web chính thống trong nước và quốc tế; trong đó có các trang web của chính phủ Philippines, Mỹ và các nước khác
7 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn
7.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Đây là một đề tài nghiên cứu mới, vừa có tính hàn lâm nhưng lại có tính ứng dụng cao Một khi luận văn được hình thành sẽ góp phần quan trọng trong việc làm rõ hơn mốt số vấn đề lý thuyết quan hệ quốc tế trong giai đoạn hiện nay, nhất là vấn đề
về tương tác quyền lực nước lớn và quan hệ giữa nước lớn và nước nhỏ
Trong giai đoạn hiện nay khi mà tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á như Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei ngày càng gia tăng và Mỹ ngày càng đẩy mạnh chiến lược “xoay trục” hay “tái cân bằng” thì việc nhận thức rõ hơn về bản chất quan hệ đồng minh giữa Mỹ với các nước ở khu vực có tranh chấp với Trung Quốc sẽ bổ sung rất nhiều “khoảng mờ” về nhận thức đối với nhiều vấn đề quốc tế khu vực có tác động đến Việt Nam
7.2 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn cũng đã phân tích, đánh giá được một số vấn đề trong quan hệ đồng minh Philippines với Mỹ dưới một góc nhìn khách quan, từ đó làm cơ sở căn cứ để các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn tổng thể và toàn diện, gián tiếp đóng góp cho việc thúc đẩy gia tăng hợp tác với giữa Việt Nam với Philippines và Mỹ, nhất là phối hợp với nhau qua cơ chế song phương và đa phương trong giải quyết vấn đề biển Đông
- Cung cấp tư liệu một cách hệ thống liên quan đến Philippines trong quan hệ đồng minh với Mỹ
- Là tài liệu tham khảo quan trọng cho công tác giảng dạy, nghiên cứu về Philippines nói chung và về quan hệ quốc tế khu vực nói riêng
Trang 148 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm
3 chương chính như sau:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines từ năm
Trang 15Chương 1:
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỒNG MINH MỸ -
PHILIPPINES TỪ NĂM 1992 TỚI NAY
1.1 Khái niệm liên quan tới quan hệ đồng minh
Đồng minh là một hình thức tập hợp lực lượng quốc tế đã tồn tại từ lâu trong lịch sử thế giới, thường xuất hiện trong các hoàn cảnh xung đột và đối đầu trong quan
hệ quốc tế Đồng minh hay liên minh là sự cam kết chính thức giữa các quốc gia nhằm
phối hợp hay tượng trợ lẫn nhau để đối phó với một vấn đề chung nào đó Mục đích của liên minh là cộng sức mạnh của các nước trong liên minh để tạo được quyền lực cao hơn nhằm kiềm chế, cân bằng hoặc vượt hơn so với quyền lực của đối thủ Qua đó, lợi ích của từng thành viên cũng dễ được đảm bảo hơn.1
Quan hệ đồng minh thường được thiết lập bằng những thỏa thuận chính thức được ký kết giữa hai hay nhiều phía Các chủ thể của quan hệ đồng minh không nhất thiết phải là một quốc gia được chính thức công nhận bởi cộng đồng quốc tế mà có thể
là một vùng lãnh thổ có dân số, được cai trị bởi một cơ quan độc lập Đồng minh
thường chỉ xảy ra theo ba trường hợp chủ yếu: thứ nhất, nước lớn liên minh với nhau
như các khối Liên Minh và Hiệp ước trong Chiến tranh thế giới lần I, hoặc phe Đồng
minh hay phát xít trong Chiến tranh thế giới lần II; thứ hai, nước lớn liên minh với nước nhỏ hoặc ngược lại; thứ ba, nước nhỏ liên minh với nhau Đây là những kiểu liên
minh phổ biến trong quan hệ quốc tế
Hầu hết sự hình thành các liên minh đều xuất phát từ những lý do lịch sử cụ thể,
có mục tiêu cụ thể, vấn đề, mối đe dọa hoặc kẻ thù cụ thể Các mục tiêu và vấn đề thường là chung bởi đó là lý do dẫn đến việc hình thành đồng minh hay còn được gọi
là lý do tồn tại Mục tiêu càng chung và càng lớn thì quan hệ đồng minh càng dễ hình thành và tồn tại Kể từ sau Chiến tranh lạnh, các liên minh không còn được thiết lập trên nền tảng ý thức hệ mà chủ yếu dựa trên cơ sở lợi ích quốc gia
1
Hoàng Khắc Nam (2011), Quyền lực trong quan hệ quốc tế - Lịch sử và vấn đề, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà
Nội tr 236
Trang 16Nhìn chung, quyền lực có ảnh hưởng khá nhiều đến sự hình thành đồng minh, khi đó có thể là sự tự nguyện tham gia để tranh thủ quyền lực của nhau hoặc là sự bắt buộc khi bị ép bởi chính quyền lực của một nước nào đó Với đa phần các trường hợp trong lịch sử đã cho thấy, quan hệ đồng minh hay liên minh hình thành dựa trên cơ sở
tự nguyện thường dễ lâu dài hơn do các nước tìm thấy lợi ích nào đó của mình trong
đó Cũng vì yếu tố quyền lực, quan hệ đồng minh thường được tập hợp xung quanh hạt nhân nào đó mà thường là các nước lớn do khả năng chi phối quan hệ quốc tế của các cường quốc đó
Đồng minh có nhiều loại, tùy theo vai trò, vị trí của chúng trong mối quan hệ đến sự sinh tồn và phát triển của quốc gia đó như thế nào Trong đó, đồng minh chiến lược là những đồng minh có ảnh hưởng to lớn đến sự sinh tồn và phát triển của quốc gia, đe dọa đến sự mất còn của an ninh quốc gia Các liên minh chiến lược Israel - Mỹ, hay liên minh chiến lược Mỹ - Nhật trong hơn nửa thế kỷ qua là những thí dụ thuyết phục.2
Ngoài ra, trong một số trường hợp nhất định, quan hệ đồng minh tự nhiên có thể được hình thành khi các chủ thể quan hệ quốc tế (thường là có sự gần gũi về lịch
sử, địa lý, văn hóa…) vốn không có chủ đích liên minh với nhau mà cùng bị một yếu
tố, một thế lực lớn nào đó thúc đẩy hoặc ép buộc phải bắt tay với nhau
Đối với thực tiễn quan hệ quốc tế, quan hệ đồng minh về quân sự - chính trị có
ý nghĩa lớn Các quan hệ đồng minh này là sự cam kết và phối hợp giữa hai hay nhiều quốc gia để hỗ trợ lẫn nhau về an ninh và quân sự Trong thời hiện đại, dù các quan hệ
về kinh tế, văn hóa, xã hội cũng đóng vai trò không nhỏ trong các mối quan hệ đồng minh nhưng mặt quân sự - chính trị vẫn là lĩnh vực nổi trội và căn bản Trong phạm vi luận văn này, quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines chỉ tập trung vào các mặt an ninh, quân sự và quốc phòng
2
Nguyễn Ngọc Dung (2013), Vấn đề đồng minh chiến lược của Việt Nam – một cái nhìn lịch sử, Tạp chí Phát
triển khoa học & công nghệ, tập 16, số X2-2013
Trang 171.2 Lợi ích chiến lược của Mỹ và Philippines trong việc thiết lập quan hệ đồng minh
1.2.1 Lợi ích chiến lược của Mỹ
Kể từ sau Chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha kết thúc, Mỹ đã tiếp quản thuộc địa Philippines từ tay Tây Ban Nha vào năm 1898; khống chế các lĩnh vực kinh tế, chính trị ở Philippines, xây dựng quốc đảo này thành thuộc địa với với vị trí chiến lược tại khu vực Đông Nam Á Trong một khoảng thời gian dài, vì nhiều lý do lịch sử, kinh tế, văn hóa và chiến lược, Philippines có mối quan hệ mật thiết với Mỹ cũng như có chung một hệ tư tưởng Philippines cũng là một trong những mặt trận của Mỹ và quân Đồng Minh trong Thế chiến thứ 2 với phát xít Nhật Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh tháng 9/1945, đến năm 1946, Mỹ đã công nhận Philippines là một quốc gia độc lập có chủ quyền và hai bên đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao
Trong số các quốc gia ở châu Á - TBD, Philippines là nước có hiệp ước đồng minh quân sự lâu đời nhất của Mỹ Philippines luôn giữ vị trí quan trọng trong chiến lược của Mỹ ở châu Á, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh Các mục đích trong chính sách của Mỹ đối với Philippines bao gồm: (i) duy trì liên minh Mỹ - Philippines; (ii) tăng cường an ninh và ổn định ở Biển Đông; (iii) trợ giúp Lực lượng vũ trang của Philippines (AFP) trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố, năng lực hàng hải, hiện đại hóa, và các nỗ lực cải cách hành chính; (iv) ủng hộ tiến trình hòa bình ở các khu vực Hồi giáo ở Mindanao; (v) thúc đẩy tăng trường kinh tế trên cơ sở rộng rãi hơn; và (vi) giúp đỡ Philippines phát triển các cơ chế dân chủ ổn định và thuận lợi hơn.3
Tất cả những mục đích trên nhằm biến Philippines thành một đồng minh mạnh
mẽ của Mỹ ở Đông Nam Á, từ đó phục vụ cho những tính toán chiến lược của Mỹ tại khu vực Từ thời kỳ Chiến tranh lạnh, Philippines được xây dựng để trở thành một phần trong “chuỗi đảo thứ nhất” (The First Island Chain) – một chuỗi nối các căn cứ quân sự của Mỹ tại các nước đồng minh trong khu vực Đông Á nhằm đối phó với Liên
Xô, Trung Quốc và chế độ cộng sản (chuỗi đảo thứ nhất là Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Okinawa – Nhật Bản; chuỗi đảo thứ hai là đảo Guam, Hawaii,
3
Thomas Lum (2012), The Republic of the Philippines and U.S Interests, CRS Report for Congress, April 5, p.3
Trang 18Indonesia…) Hiện nay, các chuỗi đảo này phục vụ những tính toán chiến lược của Mỹ như sau: (i) Tạo ra một vành đai bảo vệ nước Mỹ lục địa và cung cấp bàn đạp gần Trung Quốc trong trường hợp cần can thiệp quân sự; (ii) Kết hợp giữa sự kế cận địa lý với Trung Quốc Đại lục và khả năng triển khai quân đội của Mỹ với các nước đồng minh, cho phép bao vây Trung Quốc bằng quân sự; (iii) Cấu trúc chuỗi đảo này chỉ tồn tại vài con đường hẹp cho Hải quân Trung Quốc thoát ra để tiến vào Thái Bình Dương.4
Năm 2003, Philippines được nâng lên thành một trong những đồng minh chính ngoài các nước thuộc Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization, NATO) của Mỹ; đồng nghĩa với việc Mỹ ngày càng đánh giá cao tầm quan trọng của Philippines và Philippines sẽ đủ điều kiện cho một mối quan hệ quân
sự mật thiết hơn với Mỹ với nhiều quyền lợi hơn Hiện nay, với vị trí chiến lược án ngữ tại cửa ngõ của biển Đông; Philippines là bàn đạp quan trọng tạo điều kiện cho
Mỹ quay trở lại và duy trì ảnh hưởng tại khu vực, qua đó cạnh tranh và kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc
1.2.2 Lợi ích chiến lược của Philippines
Kể từ năm 1898, lịch sử Philippines luôn có sự hiện diện của người Mỹ Năm
1898, Philippines được Mỹ tiếp quản từ Tây Ban Nha 1935, Philippines trở thành khối thịnh vượng chung và được trao quyền tự trị với thủ tướng là Manuel Quezon Trước
đó, người Mỹ đã xây dựng một hội đồng lập pháp được điều hành bởi người Philippines, cũng như xây dựng các cơ chế chuyển giao nhằm hướng tới thành lập một Philippines độc lập Năm 1946, Philippines chính thức là một quốc gia độc lập, tiếp tục kế thừa mối quan hệ vô cùng mật thiết với Mỹ Qua các thời kỳ, mỗi khi cần giúp
đỡ về các vấn đề lớn như an ninh quốc phòng hay phát triển đất nước, Mỹ luôn là lựa
4
Kapila, S (2013) South China Sea Disputes: Strategic Implications and Perspectives On Conflict Resolution,
báo cáo tại hội thảo “Chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - những khía cạnh lịch sử và pháp lý” tổ chức tại Quảng Ngãi, Việt Nam ngày 27/4/2013 Đăng tải ngày 3/5/2013 tại
http://www.southasiaanalysis.org/node/1260 Truy cập ngày 10/12/2014
Trang 19chọn hàng đầu của Philippines Ngày nay, mối quan hệ song phương giữa hai nước trải dài trên nhiều lĩnh vực, từ quốc phòng cho tới kinh tế - xã hội
Chính sách an ninh quốc gia giai đoạn 2011 - 2016 của Philippines nhấn mạnh, tăng cường các thỏa thuận và hợp tác an ninh với các nước đồng minh và láng giềng một trong 4 mục tiêu để Philippines đủ năng lực bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ,
an ninh hàng hải và những lợi ích chiến lược khác Để đạt được mục tiêu tiêu này, Philippines coi mối quan hệ hòa hợp với Mỹ đem lại nhiều lợi ích cho nền an ninh Philippines; cũng như tái khẳng định quan hệ đồng minh với Mỹ cùng sự hiện diện của quân đội Mỹ sẽ là yếu tố chính cho sự ổn định trong khu vực, đặc biệt khi khu vực đang phải đương đầu với nhiều thách thức an ninh đang gia tăng và diễn biến phức tạp Các hoạt động theo khuôn khổ MDT 1951 đã cải thiện sự tương tác giữa lực lượng vũ trang hai nước; các hoạt động chung khác cũng giải quyết các vấn đề an ninh thường trực như khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia.5
Đạo luật Cộng hòa 7157 của Philippines giao cho Bộ Ngoại giao thực hiện 3 trụ cột của chính sách đối ngoại là (i) Bảo vệ và tăng cường an ninh quốc gia; (ii) Tăng cường an ninh kinh tế; (iii) Bảo vệ quyền và thúc đẩy sự thịnh vượng và lợi ích của người Philippines ở nước ngoài.6 Nếu muốn thực hiện tốt 3 trụ cột này, Philippines rất cần đến đồng minh thân cận là Mỹ Là một quốc gia nhỏ, trong lịch sử từng nhiều lần
bị các nước lớn nhòm nhó, xâm chiến và tranh giành ảnh hưởng nên Philippines hiểu được ý nghĩa của độc lập và an ninh quốc gia Trong đó, các vấn đề trực tiếp tác động đến an ninh quốc gia và khó giải quyết đối với Philippines là các nhóm khủng bố, ly khai và an ninh, chủ quyền trên biển Từ mối quan hệ thân thiết với Mỹ, Philippines đã
và sẽ nhận được rất nhiều sự trợ giúp trên mọi lĩnh vực để có thể giải quyết, hoặc ít nhất là kiểm soát được các vấn đề đó Ngoài ra, Mỹ còn đóng vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Philippines do có gần 2,7 triệu người Philippines sống tại Mỹ
5
Philippines’s National Security Policy 2011 – 2016: Securing the Gains of Democracy Đăng tải ngày
18/8/2011 tại http://www.gov.ph/2011/08/18/national-security-policy-2011-2016/ Truy cập ngày 5/4/2016
6
Department of Foreign Affairs (Republic of the Philippines), Philippine Foreign Policy
policy Truy cập ngày 25/12/2014
Trang 20http://www.dfa.gov.ph/index.php/authentication-functions/80-transparency-category/75-philippine-foreign-(ước tính năm 2014).7 Đây là một bộ phân quan trọng và có đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Philippines
Ngoài 3 trụ cột trong quan hệ đối ngoại, Philippines còn xác định chín hiện thực (realities), trong đó trước hết xác định Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ cùng quan hệ của các nước này sẽ có ảnh hưởng quyết định đến tình hình an ninh và sự phát triển kinh tế
ở Đông Á Ngoài ra, Philippines xác định: là một quốc gia quần đảo, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia và bảo vệ môi trường cũng như các tài nguyên thiên nhiên chỉ có thể được thực hiện khi khẳng định chủ quyền đối với các vùng biển và khiến cho các nước khác tôn trọng những quyền này.8 Hiện nay, chỉ là một nước nhỏ nhưng Philippines phải đối mặt với rất nhiều vấn đề lớn như các nhóm khủng bố, ly khai; an ninh hàng hải tranh chấp chủ quyền trên biển; thiên tai và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác Điều này khiến Philippines cần tận dụng quan hệ với các nước lớn, trong đó có quan hệ đồng minh với Mỹ, cũng như tích cực liên kết, hợp tác với các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia ASEAN
1.3 Tác động từ mối quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines trước năm 1992
1.3.1 Hai nước ký kết Hiệp ước đồng minh năm 1951
1.3.1.1 Nguyên nhân hai nước đi đến ký kết Hiệp ước đồng minh
Sau khi Philippines rơi vào quyền kiểm soát của phát xít Nhật năm 1942, Mỹ đã sát cánh cùng người Philippines trong cuộc chiến chống phát xít Nhật và giành chiến thắng sau khi quân Nhật đầu hàng Đồng minh 8/1945 Năm 1946, Mỹ trao quyền độc lập cho Philippines Giữa tháng 3/1947, hai nước ký kết MBA, theo đó tạo điều kiện cho Mỹ xây dựng, hoạt động và duy trì các căn cứ hải quân và không quân trên lãnh thổ Philippines Từ hiệp định này, Mỹ đã triển khai 23 căn cứ quân sự tại Philippines, trong đó đáng chú ý nhất là căn cứ hải quân Subic tại Zambales (là căn cứ quân sự của
7
U.S Census Bureau, Population Profile in the United States 2014
http://factfinder.census.gov/faces/tableservices/jsf/pages/productview.xhtml?pid=ACS_14_1YR_S0201&prodTy pe=table Truy cập ngày 6/4/2016
8
Department of Foreign Affairs (Republic of the Philippines), Philippine Foreign Policy
policy Truy cập ngày 6/4/2016
Trang 21http://www.dfa.gov.ph/index.php/authentication-functions/80-transparency-category/75-philippine-foreign-Mỹ ở nước ngoài lớn nhất vào lúc đó) và căn cứ không quân Clark tại Pampanga (là nơi đóng quân của lực lượng Không lực 13 – Không quân Mỹ); đã giúp mở rộng sự yểm trợ hậu cần quan trọng cho lực lượng Mỹ triển khai tuyến trước ở Đông Nam Á,
Ấn Độ Dương và Vùng Vịnh trong Chiến tranh Lạnh sau này
Tiếp đó, ngày 21/3/1947, hai nước tiếp tục ký kết hiệp định hỗ trợ quân sự (Military Assistance Agreement, MAA), theo đó Mỹ chính thức cam kết những hỗ trợ dành cho AFP Hiệp định này cũng thành lập Nhóm hỗ trợ quân sự (Joint U.S Military Assistance Group, JUSMAG) nhằm tư vấn, hỗ trợ công tác huấn luyện cho AFP và quản lý các chương trình hỗ trợ về quốc phòng cho Philippines
Nhìn chung ở giai đoạn này, trong mối quan hệ Mỹ - Philippines thì tất cả những gì Mỹ muốn ở Philippines là một đồng minh thân cận chiến lược của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á còn những gì Philippines muốn ở Mỹ là sự giúp đỡ, hỗ trợ cả về
kinh tế lẫn an ninh để phát triển đất nước Với Philippines, quốc gia này đang trong
công cuộc tái thiết đất nước và khắc phục những tổn thất nặng nề vốn là di chứng của cuộc chiến chống phát xít Nhật từ năm 1942 đến năm 1945 Những trận chiến giữa liên quân Mỹ - Philippines với quân Nhật đã phá hủy phần lớn các vùng đô thị của Philippines, đặc biệt là thủ đô Manila; khiến khoảng 1 triệu người Philippines thiệt mạng trong chiến tranh.9 Chỉ riêng trận chiến lớn cuối cùng tại Manila kéo dài một tháng (từ tháng 2 – 3/1945) đã khiến khoảng 100 nghìn dân thường Philippines thiệt mạng Vô số các tòa nhà chính phủ, đại học và trường đại học, tu viện và nhà thờ, các chứng tích ghi lại sự thành lập của thành phố đã bị biến thành đống đổ nát Các di sản văn hóa thuật, văn học và là kiến trúc cũng biến mất Mức độ ác liệt và gây tàn phá khủng khiếp của trận Manila được so sánh với trận Stalingrad (Nga) là một trong những trận chiến tại vùng đô thị đẫm máu nhất trên chiến trường Thái Bình Dương trong Thế chiến 2.10
Đối với Mỹ, Philippines nắm giữ vị trí quan trọng trong chiến lược đối phó với
Liên Xô của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, là một bộ phận trong “chuỗi đảo thứ
Trang 22nhất” bao gồm 3 bộ phận nối liền nhau, bắt đầu từ phía bắc với quần đảo Aleutian, quần đảo Kuril, quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, mắt xích ở giữa chính là đảo Đài Loan, nối tiếp xuống phía nam là quần đảo Philippines, quần đảo Indonesia (Khái niệm “chuỗi đảo” được cựu ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles đưa ra lần đầu tiên vào năm 1951 Đầu tiên, nó được Mỹ sử dụng trong chiến lược đối phó với Liên Xô, đặc biệt là ngăn chặn tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương của nước này).11
Dưới thời Chiến tranh Lạnh, để thực hiện chiến lược ngăn chặn tại khu vực châu Á – TBD, Mỹ chú trọng giúp đỡ các đồng minh tại đây phát triển kinh tế - xã hội
và củng cố quân sự, quốc phòng nhằm phục vụ mục đích chống lại phe chủ nghĩa xã hội và ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới Để đổi lại, các nước này ủng hộ Mỹ ở những mức độ khác nhau, ví dụ như Philippines và Thái Lan cho Mỹ quyền sử dụng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước mình hay Malaysia giúp Mỹ đào tạo các sĩ quan của lực lượng quân đội Việt Nam cộng hòa… Cùng với Philippines, trong khoảng thời gian này Mỹ cũng tiếp tục củng cố các liên minh quân sự song phương với các đồng minh trong khu vực bằng các Hiệp ước quan trọng như: Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật (9/1951); Hiệp ước an ninh Mỹ - Nam Triều Tiên (10/1953), Hiệp ước an ninh Mỹ - Australia (9/1951), Hiệp ước Mỹ - Thái Lan (9/1954)
1.3.1.2 Nội dung của Hiệp ước đồng minh
Hiệp ước Phòng thủ chung Mỹ - Philippines (Mutual Defense Treaty, MDT) được ký kết ngày 30/8/1951 tại Washington D.C là một trong những Hiệp ước quan trọng giữa Mỹ và Philippines, tạo nền tảng cho mối quan hệ đồng minh chiến lược về sau này
Nội dung chính của Hiệp ước bao gồm 8 điều như sau:
Điều I, các bên cam kết sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa
bình để nền hòa bình, an ninh và công lý quốc tế không bị đe dọa; đồng thời kiềm chế
đe dọa sử dụng vũ lực dưới bất kỳ hình thức nào trái với tôn chỉ của Liên Hợp quốc
11
Nguyễn Ngọc, Trung Quốc bối rối trước “Thanh kiếm sắc ẩn sau 2 chuỗi đảo” của Mỹ Đăng tải ngày
13/7/2013 tại cua-my/507398.antd Truy cập ngày 20/1/2015
Trang 23http://www.anninhthudo.vn/quan-su/trung-quoc-boi-roi-truoc-thanh-kiem-sac-an-sau-2-chuoi-dao-Điều II khẳng định rằng các bên hoặc riêng rẽ, hoặc phối hợp hỗ trợ lẫn nhau sẽ
duy trì và xây dựng khả năng tập thể và cá nhân để chống lại các cuộc tấn công vũ trang
Điều III, thông qua Ngoại trưởng và cấp phó của mỗi nước, các bên sẽ tham
vấn ý kiến của nhau theo từng thời điểm gắn với việc thực thi Hiệp ước này hoặc bất
cứ khi nào theo đề xuất của một trong hai bên khi các vấn đề toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chính trị hoặc an ninh của một trong hai bị đe dọa bởi các cuộc tấn công vũ trang từ bên ngoài ở Thái Bình Dương
Điều IV, các bên thừa nhận rằng một cuộc tấn công vũ trang tại khu vực Thái
Bình Dương của một trong hai nước sẽ đe dọa hòa bình và an ninh; mỗi nước sẽ hành động để đáp trả mối nguy hại chung đó phù hợp với quy trình lập pháp Bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào như vậy và các hành động đáp trả kéo theo đều được báo cáo ngay lập tức tới Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc Những hành động đáp trả này chỉ chấm dứt sau khi Hội đồng Bảo an đưa ra các biện pháp cần thiết nhằm khôi phục và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế
Điều V xác định một cuộc tấn công vũ trang vào một trong các bên bao gồm
cuộc tấn công vũ trang vào vùng đô thị hoặc trên vùng đảo Thái Bình Dương thuộc quyền tài phán của mỗi nước; hoặc các lực lượng vũ trang, tàu công vụ và máy bay tại Thái Bình Dương
Điều VI, Hiệp ước này không ảnh hưởng đến hay được hiểu theo bất kỳ cách
nào là có ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa vụ của các bên theo Hiến chương Liên Hợp quốc hoặc trách nhiệm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế của Liên Hợp quốc
Điều VII, Hiệp ước này sẽ được phê chuẩn bởi Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ và
Cộng hòa Philippines phù hợp với quy trình lập pháp của mỗi nước; sẽ có hiệu lực khi văn kiện phê chuẩn đó được trao đổi tại Manila (văn kiện phê chuẩn đã được trao đổi tại Manila từ ngày 27/8/1952)
Điều VIII, Hiệp ước này sẽ có hiệu lực vô thời hạn Một trong hai bên có thể
chấm dứt Hiệp ước 1 năm sau khi thông báo cho bên còn lại
Trang 241.3.2 Quan hệ đồng minh từ sau khi ký Hiệp ước MDT 1951 đến trước năm 1992
Sau khi Hiệp ước MDT được ký kết, hai nước trở thành đồng minh chính thức Hiệp định này đã thiết lập một khuôn khổ chung cho hợp tác quân sự giữa hai bên Hai nước cũng trở thành thành viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) năm
1954 Trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, chính sách đối ngoại của Philippines vẫn là chính sách đơn phương, chủ yếu hướng vào Mỹ và dựa vào Mỹ Philippines ủng hộ các chính sách của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh và tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam với vai trò đồng minh của Mỹ
Năm 1953, hai nước ký kết Hiệp định Hỗ trợ Phòng thủ chung (Mutual Defense Assistance Agreement, MDAA), cập nhật thêm một số hỗ trợ của Mỹ dành cho Philippines trên cơ sở hiệp định MAA năm 1947 Năm 1958, Hiệp định Serrano-Bohlen Memorandum of Agreement (MOA) đã thành lập Ủy ban Phòng thủ chung Mỹ
- Philippines (Philippine – U.S Mutual Defense Board, MBD) có thời hạn vĩnh viễn
Ủy ban này có nhiệm vụ thiết lập cơ chế liên chính phủ nhằm phối hợp và tham vấn trực tiếp về các vấn đề quân sự và mối quan tâm chung; qua đó phát triển và thúc đẩy phòng thủ chung Mỹ - Philippines cũng như bản thân mỗi nước.12
Giai đoạn 1965 – 1986, khi Ferdinand Marcos nắm quyền ở Philippines, quan
hệ đồng minh Mỹ - Philippines phát triển mạnh mẽ Trong Chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ tham chiến tại Việt Nam nhận được sự hỗ trợ thường xuyên từ căn cứ đặt tại Philippines Quân đội Philippines cũng tham gia vào Chiến tranh Việt Nam với vai trò hỗ trợ các hoạt động dân sự và y tế Lực lượng này được gọi là PHILCAG-V (Philippine Civic Action Group – Vietnam), có thời điểm lên đến gần 2.000 người13 Trong chiến tranh Triều Tiên, quân đội Philippines gửi khoảng 7.500 lính gia nhập vào lực lượng của Liên Hợp quốc chống lại quân đội Bắc Triều Tiên
Chính phủ Philippines sử dụng sức mạnh quân sự của đồng minh Mỹ ở Đông Nam Á như một lá chắn, một sự bảo đảm về an ninh trong suốt thời kỳ Chiến tranh
12
Embassy of the Philippines in U.S., PH – US Bilateral Relations
http://www.philippineembassy-usa.org/philippines-dc/embassy-dc/ph-us-bilateral-relations-dc/ Truy cập ngày 10/1/2016
13
Fidel V.Ramos, The Philippines and Vietnam: A Brotherhood Forged in Hardship archives/articles//view/the-philippines-and-vietnam:-a-brotherhood-forged-in-hardship-first-of-two-parts/110
http://rpdev.org/ramos-Truy cập ngày 3/1/2015
Trang 25Lạnh Ngoài ra, việc cho Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự Subic và Clark còn mang lại cho Philippines những nguồn lợi lớn Năm 1983, một hiệp định quy định Mỹ phải trả cho Philippines trong vòng 5 năm số tiền 900 triệu USD, trong đó 425 triệu USD cho viện trợ quân sự và 475 triệu USD cho viện trợ kinh tế để đổi lại quyền duy trì các căn
cứ quân sự tại đây.14 Sự có mặt của các căn cứ quân sự này còn mang lại khoảng 34.000 việc làm cho người Philippines…
Đến nhiệm kỳ Tổng thống Corazon Aquino, Philippines vẫn duy trì truyền thống ngoại giao tốt đẹp với Mỹ Ngay sau khi lên cầm quyền tháng 2/1986, Tổng thống Corazon Aquino đã lên đường thăm Mỹ nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ Qua chuyến đi thăm này, Philippines đã được Mỹ trao cho một khoản viện trợ tổng cộng
370 triệu USD, trong đó bao gồm 150 triệu USD dành cho kinh tế, quân sự; 20 triệu USD dành cho y tế và 200 triệu là viện trợ khẩn cấp.15 Năm 1988, Washington tiếp tục cam kết viện trợ quân sự - kinh tế cho Philippines 481 triệu USD cho 2 năm tiếp theo
Về kinh tế, trong giai đoạn này, kinh tế Philippines phụ thuộc phần lớn vào Mỹ; khi Mỹ là nhà đầu tư chính và đồng thời là thị trường xuất khẩu chính của Philippines
Từ năm 1946 – 1985, Mỹ viện trợ không hoàn lại và cấp tín dụng cho Philippines 3.780 triệu USD (không tính vốn đầu tư và viện trợ quân sự) Đầu tư của Mỹ trong tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào Philippines chiếm 59% (1969) và 54% (1986) Hàng năm Philippines xuất khẩu sang Mỹ ở mức trên dưới 35% tổng giá trị xuất khẩu, nhập khẩu từ Mỹ chiếm khoảng 22% tổng kim ngạch nhập khẩu Dưới sức ép của Mỹ, nhiều tổ chức như IMF, WB đã liên tục cho Philippines vay vốn mặc dù nước này đã tuyên bố không thanh toán được nợ từ cuối năm 1983
Năm 1991, cuộc tập trận chung Balikatan (Shoulder – to – shoulder) giữa Mỹ
và Philippines đã diễn ra lần đầu tiên Đây là một hoạt động quân sự thường niên giữa hai nước theo khuôn khổ cam kết của Hiệp ước MDT 1951 nhằm nâng cao khả năng phối hợp, sẵn sàng chiến đấu giữa lực lượng hai bên; thể hiện những hỗ trợ của Mỹ đối
14
Steve Lohr, Filipinos oppose bases after U.S plan to cut aid Đăng tải ngày 22/7/1985
http://www.nytimes.com/1985/07/22/world/filipinos-oppose-bases-after-us-plan-to-cut-aid.html Truy cập ngày 4/1/2015
15
Đức Ninh (1996), Tìm hiểu lịch sử - văn hóa Philipin, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996
Trang 26với Philippines nhằm chống lại sự tấn công từ bên ngoài đồng thời thắt chặt mối quan
hệ an ninh – quốc phòng giữa hai nước Sau này, các cuộc tập trận Balikatan còn nhằm tăng cường khả năng chống các lực lượng khủng bố tại Philippines và diễn tập giải quyết các vấn đề thiên tai, cướp biển
Sự thoái trào của quan hệ Mỹ - Philippines giai đoạn này bắt đầu xuất hiện từ cuối những năm 1970 – 1980 khi làn sóng chống Mỹ, bài Mỹ diễn ra mạnh mẽ tại Philippines, xuất phát từ những tác động tiêu cực từ sự hiện diện của quân đội Mỹ và các căn cứ quân sự Mỹ tại Philippines Một số lính Mỹ đã bị cáo buộc và kết tội có những hành vi sai trái với người dân Philippines Các câu lạc bộ đêm và các tụ điểm vui chơi xung quanh các căn cứ quân sự của Mỹ luôn là điểm nóng của các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm; đã xuất hiện những vụ việc lính Mỹ tấn công người dân địa phương và các vụ cưỡng hiếp mà nạn nhân không bao giờ có được công lý.16 Ngoài ra, tâm lý thù địch Mỹ của người dân Philippines còn do hệ quả từ việc Mỹ luôn ủng hộ chính quyền độc tài Marcos nắm quyền tại Philippines trong suốt hơn 20 năm (1965 – 1986)
Mặc dù Tổng thống Corazon Aquino sau khi lên nhậm chức vẫn coi trọng quan
hệ với Mỹ nhưng vị trí đặc biệt của Mỹ tại Philippines đến giai đoạn này đã bắt đầu có dấu hiệu giảm sút Trên thế giới, những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX chứng kiến nhiều thay đổi trong quan hệ quốc tế trong đó có mối quan hệ Mỹ - Philippines Trật tự thế giới hai cực không còn đồng nghĩa với việc vị trí địa – chính trị của Philippines đối với Mỹ giảm đi so với trước; trong khi đó, Philippines cũng không còn muốn thực thi các chính sách đối ngoại đơn phương với Mỹ mà chọn cho mình con đường đa phương hóa, đa dạng hóa Đến thời điểm này, những bản hiệp định giữa Philippines và Mỹ không còn được ký kết chóng vánh như trước; thay vào đó là những cuộc đàm phán kéo dài và đầy rẫy sự bất đồng về tương lai của các căn cứ quân sự của
Mỹ tại Philippines Liên quan đến các căn cứ này, Phía Philippines muốn Mỹ trả 825 triệu USD mỗi năm trong vòng 7 năm, trong khi ngân sách của Mỹ cho việc chi trả
Trang 27này chỉ là 360 triệu đô mỗi năm trong vòng 10 năm.17 Qua nhiều vòng đàm phán, hai nước ngày càng khó tìm được một điểm chung Người Philippines không chỉ cho rằng
Mỹ cần phải trả nhiều chi phí hơn mà còn muốn biết thực sự chính quyền Mỹ coi trọng các căn cứ này đến mức nào
Hiệp định MBA được hai bên ký kết từ năm 1947, qua những lần sửa đổi năm
1979, 1983 và 1988, đã được thiết lập để hết hạn vào tháng 9/199118 Cùng với việc không gia hạn cho hiệp định này, cùng năm 1991, Quốc hội Philippines cuối cùng quyết định từ chối đề nghị ký kết Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và An ninh (Treaty of Friendship, Cooperation and Security) do phía Mỹ đề xuất; đồng nghĩa với việc kết thúc hoạt động của các căn cứ quân sự Mỹ tại Philippines; chấm dứt hơn 90 năm hiện diện quân sự của Mỹ tại nước này Sự kiện này đánh một dấu mốc lớn, mở ra thời kỳ mới với trong mối quan hệ truyền thống đặc biệt của Mỹ và Philippines
1.4 Các nhân tố khác tác động tới quan hệ đồng minh
Từ sau năm 1992, trong mỗi thời điểm khác nhau, quan hệ Mỹ - Philippines nhiều lần được điều chỉnh và thúc đẩy cho phù hợp với lợi ích của mỗi nước và bối cảnh quốc tế Những nhân tố có tác động đáng kể đến mối quan hệ đồng minh thường
là mối đe dọa chung của hai nước và sự điều chỉnh chính sách của mỗi nước qua các thế hệ lãnh đạo cho phù hợp với lợi ích quốc gia trong giai đoạn đó Khi có đối thủ và mục tiêu chung, quan hệ đồng minh sẽ được thắt chặt hơn và ngược lại; cụ thể trong trường hợp này các mục tiêu chung của Philippines và Mỹ là chủ nghĩa khủng bố và sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc Đối với một siêu cường có lợi ích trên toàn cầu như Mỹ, ngoài đối thủ lớn nhất là Trung Quốc, các nhân tố khác - dù trong hay ngoài khu vực châu Á – TBD - nếu có can dự vào khu vực cũng ít nhiều tác động đến những tính toán chiến lược của quốc gia này Trong số rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quan
hệ đồng minh Mỹ - Philippines, luận văn này chỉ đề cập một số nhân tố dưới đây
17
Wyatt Olson, Recounting US military's last days in the Philippines Đăng tải ngày 29/6/2013 tại
http://www.stripes.com/recounting-us-military-s-last-days-in-the-philippines-1.228182 Truy cập ngày 4/6/2016
18
Federal Research Division of the Library of Congress, Country Studies, U.S Department of the Army, 1986 –
1998 http://countrystudies.us/philippines/92.htm Truy cập ngày 10/12/2014
Trang 281.4.1 Chiến tranh Lạnh kết thúc và Mỹ trở thành siêu cường duy nhất
Chiến tranh Lạnh chấm dứt, sự tan rã của Liên Xô tạo cho Mỹ cơ hội và lợi thế tạm thời khi là cực duy nhất còn lại Sức mạnh toàn cầu của Mỹ trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, quân sự, khoa học công nghệ và văn hóa là điều không thể phủ nhận được
Về thực lực kinh tế, kinh tế Mỹ liên tục đứng đầu thế giới Về thực lực quân sự, Mỹ là nước duy nhất có khả năng thực thi chuyển quân quy mô lớn trên toàn cầu và phát động chiến tranh cục bộ gần như ở bất cứ nơi nào trên thế giới Mỹ có kho vũ khí hạt nhân lớn nhất, chi phí quân sự và công nghiệp quốc phòng lớn nhất thế giới; đồng thời cũng có những trang bị quân sự tiên tiến nhất Ngay cả khi đã chiếm ưu thế tuyệt đối, quân đội Mỹ vẫn không ngừng đẩy mạnh đầu tư quân sự, phát triển vũ khí kiểu mới nhằm luôn duy trì ưu thế dẫn đầu Ưu thế quyền lực mềm của Mỹ vô cùng nổi trội, các lĩnh vực khoa học công nghệ và sáng tạo, thông tin đại chúng, văn hóa, phim ảnh… cũng khó có nước nào sánh được Dòng chảy nhân tài trên thế giới chủ yếu vẫn đổ về
Mỹ
Đến giai đoạn từ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI cục diện “nhất siêu đa cường” đã xuất hiện cùng với sự nổi lên mạnh mẽ của nhiều cường quốc trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ… bên cạnh siêu cường Mỹ Trên thế giới, hòa bình, hợp tác
và phát triển trở thành những trào lưu lớn, làm tăng lên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Nhân tố kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng và dần thay thế yếu tố quân sự
để đóng vai trò chủ đạo trong xu hướng quan hệ quốc tế cũng như trong việc nâng tầm
vị thế quốc gia Toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ trong nền kinh tế thế giới và ngày càng ảnh hưởng sâu rộng đến các mặt của đời sống nhân loại Những quan điểm cổ điển về ưu thế cạnh tranh bị đảo lộn, sự định vị hoạt động kinh tế xã hội không còn bị phụ thuộc một cách căn bản vào vị trí địa lý và nguồn tài nguyên như trước nữa Những tính toán chiến lược của Mỹ cho giai đoạn tiếp theo đều cần tính toán đến những nhân tố đó
Trang 291.4.2 Sự trỗi dậy mạnh mẽ và mở rộng không gian chiến lược của Trung Quốc
Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã trở thành một trong những đặc điểm nổi bật của
tình hình quốc tế hiện nay Sự trỗi dậy của Trung Quốc, hay việc Trung Quốc đang từng bước khẳng định cũng như nâng cao vị thế của mình để trở thành một cường quốc được cả thế giới dõi theo bởi những tác động mang tính toàn cầu của nó
Trung Quốc đang trỗi dậy trên nhiều lĩnh vực, trong cả quyền lực cứng và quyền lực mềm cũng như sự gia tăng ảnh hưởng văn hóa, ngôn ngữ… Sự trỗi dậy Trung Quốc được biểu hiện ở một số đặc điểm sau:
Về kinh tế, năm 2002 Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành quốc gia thu hút
Vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới với hơn 50 tỷ USD Về mức tăng trưởng trung bình trong cả thập kỷ, Trung Quốc cũng được xếp vào nhóm các nước tăng trưởng cao nhất thế giới Cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, năm 2010, khi toàn thế giới lao đao vì khủng hoảng từ giai đoạn 2007 – 2008 với nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm thì trung Quốc vẫn duy trì mức tăng thuộc loại cao nhất thế giới 9,5% Nhờ tăng trưởng cao, Trung Quốc đã bắt kịp với các quốc gia đi trước, tăng thứ hạng thế giới xếp theo quy mô kinh tế Nếu như năm 2001, Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Trung Quốc chỉ đứng thứ 9 thế giới thì đến năm 2005 đã vượt qua Anh, Pháp đứng
vị trí thứ 4 Năm 2007, Trung Quốc tiếp tục vượt qua Đức để đứng thứ 3 Năm 2010, đến lượt Nhật Bản phải nhường vị trí thứ 2 cho Trung Quốc Như vậy, chỉ trong 1 thập
kỷ, kinh tế Trung Quốc đã nhảy từ vị trí thứ 9 lên vị trí thứ 2, từ năm 2001 – 2011, tổng GDP của Trung Quốc tính theo đồng NDT tăng gấp 4,72 lần (từ 10000 tỷ NDT –
47156 tỷ NDT), còn tính theo USD tăng gấp khoảng 6 lần Năm 2009, xuất khẩu của Trung Quốc đã vượt qua Đức, vươn lên đứng đầu thế giới Với mức dự trữ ngoại tệ lớn, Trung Quốc cũng được biết đến như một chủ nợ lớn của Mỹ khi mua nhiều trăm tỷ USD trái phiếu của cường quốc số một thế giới này.19
Về quân sự, song song với sự thịnh vượng về kinh tế, Trung Quốc nỗ lực gia
tăng sức mạnh quân sự và hiện đại hóa quốc phòng Sự trỗi dậy về quân sự của Trung
19
Phạm Thái Quốc (2012), Trung Quốc và Ấn Độ trỗi dậy, tác động và đối sách của các nước Đông Á, Viện
Kinh tế và chính trị thế giới, tr.42-44
Trang 30Quốc thể hiện ở sự gia tăng chi tiêu quân sự, quá trình tái tổ chức, hiện đại hóa, chính quy hóa quân đội, chính sách bành trướng và thái độ cứng rắn trong các tranh chấp trong khu vực
Những năm 90 của thế kỷ trước, Trung Quốc đã tiêu 16,4 tỷ Euro mỗi năm để trở thành quốc gia mua sắm vũ khí lớn nhất thế giới Giai đoạn 2000 – 2009, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng trung bình 12%/năm Năm 2010 chi cho quốc phòng của Trung Quốc tăng 7,5%, các năm sau đó đều tăng ở mức 2 con số Năm 2015, ngân sách quốc phòng Trung Quốc đạt 144,2 tỉ USD, tăng 10,1%, tiếp tục là quốc gia chi cho quốc phòng nhiều thứ 2 thế giới (sau Mỹ).20
Quân đội Trung Quốc vẫn là lực lượng quân đội đông nhất thế giới với khoảng 2,3 triệu người Định hướng hiện đại hóa Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc là: đến 2010 xây dựng nền tảng quân đội vững mạnh, đến 2020 xây dựng nền tảng quân đội vững mạnh nhất châu Á, đến 2030 xây dựng nền tảng quân đội vững mạnh nhất thế giới Trung Quốc hiện đang dẫn đầu châu Á về hiện đại hóa lực lượng hải quân nhằm kiếm chế đối phương từ ngoài khơi và ngăn chặn sự đổ bộ của đối phương vào lãnh thổ Quan trọng hơn, chỉ có tăng cường sức mạnh Hải quân mới giúp Trung Quốc thực hiện những tham vọng của mình trên “đường lưỡi bò” chiếm 80% biển Đông hay còn gọi là “con đường tơ lụa trên biển”; xa hơn nữa là tham vọng tiến từ biển gần tới đại dương xa, phá vỡ sự bao vây của Mỹ và đồng minh thể hiện qua các chuỗi đảo Hải quân Trung Quốc được hi vọng sẽ cản trở Hải quân Mỹ tiếp cận vùng biển kế cận, kiềm chế Nhật Bản ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á, kiềm chế Ấn Độ ở Nam Á, kiểm soát các tuyến hàng hải gần và yểm trợ các đòi hỏi về chủ quyền trên biển Mục tiêu lâu dài là thay đổi cán cân lực lượng tại châu Á – TBD và giảm sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc cũng kéo theo nhu cầu mở rộng không gian chiến lược của nước này Những phát triển vượt bậc đã giúp cho Trung Quốc trở
thành một nước lớn với sức mạnh toàn diện trên nhiều lĩnh vực, do đó khẳng định vị
20
Xiang Bo, China Focus: China 2015 defense budget to grow 10.1 pct, lowest in 5 years Đăng tải ngày
5/3/2015 tại http://news.xinhuanet.com/english/2015-03/05/c_134040390.htm Truy cập ngày 20/8/2015
Trang 31trí cường quốc là mục tiêu lớn trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc Trung Quốc cũng tích cực tham gia, đóng góp vào các diễn đàn, tổ chức, cơ chế quốc tế và toàn cầu để tác động vào quá trình xây dựng thể chế và luật chơi mới trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng (Ví dụ như Trung Quốc đã nâng mức đóng góp tài chính cho các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) để đổi lấy quyền bỏ phiếu lớn hơn) Trung Quốc chú trọng phát huy sức mạnh mềm, xây dựng hình ảnh nước lớn có trách nhiệm, tích cực tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, chống khủng bố
Về mặt chính trị - an ninh, Trung Quốc cố gắng xây dựng khuôn khổ quan hệ
hợp tác toàn diện, ổn định và lâu dài với các nước lớn, coi đa phương là công cụ để khẳng định vị trí nước lớn của mình Trung Quốc ưu tiên quan hệ Trung – Mỹ lên hàng đầu, đồng thời tăng cường quan hệ với các nước lớn khác như Nga, EU, Nhật Bản, Ấn Độ để tạo đối trọng và kiềm chế vai trò, ảnh hưởng của Mỹ Về mặt kinh tế, Trung Quốc kiên trì chính sách mở của, đồng thời thúc đẩy việc đưa vốn ra bên ngoài
để nắm thị trường thế giới, trước hết là thị trường năng lượng, tài chính, chứng khoán Nhiều quốc gia cần sự giúp đỡ của Trung Quốc để ổn định nền kinh tế cũng đang lệ thuộc vào thương mại với Trung Quốc
Trung Quốc cũng tích cực đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực, đẩy mạnh tập hợp lực lượng để Trung Quốc trở thành một cực trên thế giới, phân hóa các lực lượng chủ trương kiềm chế Trung Quốc và đẩy mạnh tập hợp lực lượng và mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã
đề xuất nâng quan hệ Đối tác chiến lược Trung Quốc - châu Phi lên thành Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện; cam kết viện trợ 60 tỷ USD cho châu Phi để phát triển kinh tế
xã hội.21
Trong phạm vi khu vực châu Á – TBD, đặc biệt là Đông Nam Á, Trung Quốc mong muốn có vị thế và ảnh hưởng của một siêu cường, ít nhất là siêu cường khu vực Chính sách của Trung Quốc đối với khu vực này ngày càng quyết đoán và gây lo ngại
Trang 32hơn khi Trung Quốc luôn thể hiện thái độ nước lớn trong tranh chấp về chủ quyền tại biển Đông và biển Nhật Bản Trung Quốc rất mạnh tay với các nước láng giềng như trong tranh chấp với Nhật Bản khi tàu đánh cá Trung Quốc bị bắt Các tàu tuần tra của Trung Quốc đã bắt nhiều tàu đánh cá của Việt Nam, Philippines, giam giữ ngư dân đòi tiền phạt ngay cả khi họ đang đánh bắt cá ở vùng biển của nước mình Nhưng khi các nước này bắt giữ tàu Trung Quốc xâm phạm thì Trung Quốc lại sử dụng cách hành xử nước lớn: đưa lực lượng hải giám đến uy hiếp, gây áp lực buộc phải thả ngư dân hoặc
cá nhân người Trung Quốc có hành vi xâm phạm lãnh hải quốc gia khác Việc Trung Quốc đẩy nhanh các biện pháp, chính sách mở rộng và khẳng định vùng ảnh hưởng trong khu vực sẽ đưa tới căng thẳng mới trong quan hệ quốc tế tại khu vực, trong đó tiêu biểu là quan hệ của Trung Quốc với Mỹ, Trung Quốc với đồng minh của Mỹ và Trung Quốc với các quốc gia có tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc
1.4.3 Những chuyển biến trong chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á – TBD
từ sau Chiến tranh Lạnh
Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, sự sụp đổ của Liên Xô đồng nghĩa với việc chiến lược “ngăn chặn Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản” mà Mỹ theo đuổi trong thời gian dài trước đó không còn phù hợp Trong bối cảnh quốc tế mới, Mỹ đã từng bước điều chỉnh chiến lược toàn cầu với chủ trương “Cam kết và mở rộng” (Engagement and Enlargement) Nước Mỹ “cam kết” về vai trò lãnh đạo thế giới, về tiếp tục can dự vào các công việc và thể chế quốc tế, tiếp tục dẫn dắt kinh tế thế giới theo hướng tự do hóa và toàn cầu hóa Còn “mở rộng” được hiểu là Mỹ sẽ khuếch trương, mở rộng các cộng đồng tự do, các nền dân chủ, thực chất là khuếch trương, mở rộng dân chủ Mỹ, giá trị Mỹ, mô hình Mỹ ra toàn thế giới
Những mục tiêu chính của chiến lược “cam kết và mở rộng” của Mỹ gồm (i) phục hưng nền kinh tế Mỹ - xây dựng kinh tế vững mạnh và duy trì vị trí lãnh đạo trong nền kinh tế thế giới; (ii) duy trì và tăng cường ưu thế quân sự của Mỹ trên thế giới để làm công cụ răn đe chiến lược, nhằm khống chế và kiềm chế các nước đồng minh và đối thủ, đối phó với các cuộc xung đột khu vực; (iii) thúc đẩy dân chủ ở nước
Trang 33ngoài, nhằm phát huy ưu thế về chính trị của Mỹ, thiết lập trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo.22
Đối với khu vực châu Á – TBD, dù rút khỏi Đông Nam Á nhưng Mỹ không muốn cho các nước khác mở rộng ảnh hưởng tại khu vực này; Mỹ muốn dùng ASEAN làm đối trọng ngăn cản sự lớn mạnh của các nước lớn khác tại khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản hay về sau này là Ấn Độ Ngoài ra, khi ASEAN không ngừng phát triển và gia tăng vai trò trung tâm trong hợp tác quốc tế ở khu vực, Mỹ cũng muốn duy trì quan hệ quan hệ với các nước lớn trong khối này, cũng như tính đến vai trò của ASEAN trong các vấn đề quốc tế
Trong bản Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ cho thế 21 công bố vào năm
1999, Mỹ tiếp tục khẳng định sự quan tâm đến khu vực châu Á – TBD, hướng đến thiết lập “một cộng đồng Thái Bình Dương với sự gắn kết giữa lợi ích an ninh với phát triển kinh tế và những cam kết của nước Mỹ về dân chủ và nhân quyền” và “nước Mỹ giữ vai trò cán cân trong một khu vực châu Á TBD ngày càng hội nhập hơn.” Về lĩnh vực quân sự - an ninh, “nước Mỹ giữ vai trò duy trì hòa bình và an ninh để phát triển kinh tế vì lợi ích của toàn khu vực” và “vai trò an ninh của chúng ta tiếp tục được củng
cố bằng những hiệp định đồng minh song phương với Hàn Quốc, Australia, Thái Lan
và Philippines Chúng ta đang duy trì quan hệ mạnh mẽ với ASEAN và hỗ trợ những diễn đàn khu vực như ARF” và “Lợi ích chiến lược của chúng ta ở Đông Nam Á tập trung vào phát triển quan hệ an ninh và kinh tế ở cấp độ khu vực và song phương, điều
đó hỗ trợ việc ngăn chặn và giải quyết xung đột, mở rộng sự tham gia của Mỹ trong nền kinh tế khu vực Mục tiêu an ninh của Mỹ ở Đông Nam Á là duy trì quan hệ đồng minh với Australia, Thái Lan, Philippines và các thỏa thuận tiếp cận an ninh với Singapore và các nước ASEAN khác, đồng thời khuyến khích ASEAN vươn lên thành một khối mạnh mẽ và gắn kết, có khả năng bảo đảm ổn định và thịnh vượng trong khu vực.”23
22
The White House, A National Security Strategy of Engagement and Enlargement, February 1996 Đăng tải tại
http://www.fas.org/spp/military/docops/national/1996stra.htm Truy cập ngày 20/12/2014
23
The White House (12/1999), A national security strategy for a new century, United States
Trang 34Tóm lại, nếu như trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, chính sách của Mỹ đề cao chủ nghĩa song phương linh hoạt là mẫu hình chính trong quan hệ tại châu Á-TBD; kết hợp chặt chẽ can dự về quân sự, chính trị với can thiệp kinh tế thì lúc này, chính sách của
Mỹ tại khu vực này phát triển theo hướng đa cực, các cơ chế hợp tác đa phương đóng vai trò quan trọng bên cạnh các phương thức song phương Mỹ tiếp tục củng cố những liên minh tay đôi vốn luôn là trọng tâm trong chiến lược của Mỹ và tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương như Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF); không ngừng tăng cường quan hệ với các nước ASEAN thông qua AMM, đối thoại
Mỹ - ASEAN… Bằng cách thực hiện cam kết an ninh đa phương đồng thời với quan
hệ an ninh song phương, Mỹ có thể đạt được mục tiêu duy trì sự lãnh đạo của mình trong khu vực
Bước sang thế kỷ XXI, Tổng thống Mỹ Bush đã điều chỉnh chiến lược quốc gia trong bối cảnh mới sau sự kiện 11/9/2001, theo đó cuộc chiến chống khủng bố là một trong những ưu tiên chiến lược hàng đầu và Đông Nam Á đóng vai trò quan trọng do
có cộng đồng Hồi giáo đông đảo và sự tồn tại của một số nhóm Hồi giáo cực đoan có liên hệ với mạng lưới Al Qaeda
1.4.4 Philippines điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình từ năm 1992
Tháng 6/1992, Tổng thống Fidel Ramos nhậm chức tại Philippines, vào thời điểm mà quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ Mỹ - Philippines nói riêng đã có nhiều thay đổi Xu thế ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa và nhân tố kinh tế dần đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ quốc tế Việc trật tự thế giới hai cực không còn khiến cho vai trò địa – chính trị của Philippines đối với Mỹ giảm đi so với trước Thêm vào
đó, sau khi Philippines đóng cửa các căn cứ quân sự của Mỹ và mất đi những khoản thu từ viện trợ và chi phí cho các căn cứ quân sự này; Chính phủ buộc phải cân nhắc lại chính sách đối ngoại đơn phương chỉ hướng vào Mỹ, dựa vào Mỹ để điều chỉnh lại theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa
Những dấu hiệu cải cách chính sách đối ngoại của Philippines được thể hiện qua việc Tổng thống Fidel Ramos ngay sau khi nhậm chức đã chọn Nhật Bản - đối tác
Trang 35quan trọng thứ hai - chứ không phải Mỹ để thực hiện chuyến công du đầu tiên với tư cách người đứng đầu Philippines Đây là điều trái ngược với truyền thống ngoại giao Philippines từ trước tới thời điểm đó
Bên cạnh nhiều cải cách về đối nội, kinh tế, hiện đại hóa quân đội…, chính quyền của Ramos trong giai đoạn 1992 - 1998 xác định bốn ưu tiên cốt lõi của chính sách đối ngoại Philippines là: tăng cường an ninh quốc gia, thúc đẩy ngoại giao kinh tế, bảo vệ người lao động Philippines ở nước ngoài và công dân Philippines ở nước ngoài; xây dựng hình ảnh tốt đẹp về Philippines với quốc tế24 Để làm được điều này, Philippines tích cực đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với các nước, trước hết là các nước phát triển, các nước trong khu vực châu Á – TBD; tham gia và đóng góp tích cực vào các diễn đàn đa phương Đối với các nước lớn, Philippines duy trì quan hệ cân bằng với Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga
Philippines cùng với Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar đã ký Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) Đây là nhân tố quan trọng góp phần bảo đảm an ninh trong khu vực, tạo điều kiện cần thiết và thuận lợi cho việc phát triển kinh tế Chính phủ Philippines cũng tích cực tham gia các Hội nghị cấp cao của ASEAN để thảo luận những vấn đề đẩy mạnh sự phát triển về nhiều mặt của ASEAN, được cụ thể hóa bằng
“Tuyên bố Bangkok 1995” ký kết bởi các quốc gia thành viên; thể hiện quyết tâm của Philippines và các nước ASEAN trong việc tăng cường hợp tác phát triển trên nhiều lĩnh vực Các diễn đàn lớn tại khu vực như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – TBD (APEC) cũng ghi nhận nhiều hoạt động tích cực của Philippines từ những giai đoạn đầu thành lập
Một đóng góp quan trọng về đối ngoại của Philippines vào năm 1992 là đưa ra
sáng kiến về Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được các nước
thành viên ASEAN thông qua, kêu gọi các bên liên quan giải quyết tranh chấp trên biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, kiềm chế để tránh làm cho tình hình thêm
24
Department of Foreign Affairs (Republic of the Philippines), DFA History
http://www.dfa.gov.ph/index.php/about-us/history-of-dfa Truy cập ngày 6/4/2016
Trang 36căng thẳng, khuyến nghị các bên liên quan áp dụng các nguyên tắc của Hiệp ước thân
thiện và hợp tác tại Đông Nam Á để làm cơ sở xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển
Đông (COC)
1.4.5 Các nhân tố khác
1.4.5.1 ASEAN không ngừng phát triển và gia tăng vai trò trung tâm trong hợp tác quốc tế ở khu vực
Chiến tranh Lạnh chấm dứt đã thay đổi hẳn tình hình chính trị an ninh thế giới
và khu vực Đông Nam Á Sau gần 500 năm chủ nghĩa thực dân bành trướng đến Đông Nam Á, từ năm 1992 không còn thuộc địa hay căn cứ quân sự nước ngoài ở khu vực Những thay đổi trong tình hình quốc tế sau Chiến tranh Lạnh đã góp phần làm giảm những nghi ngờ, tạo điều kiện cải thiện quan hệ giữa các nước từng bị phân chia thành hai nhóm - với hai định hướng chính trị - kinh tế khác nhau, thậm chí có lúc đối đầu nhau - cũng không còn nữa Ngoài ra, sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh cũng như các thách thức của tình hình khu vực cũng phát sinh nhu cầu và thúc đẩy các nước ASEAN
mở rộng sự hợp tác sang lĩnh vực mới là an ninh Sự cạnh tranh và nghi kị giữa các nước lớn cũng tạo điều kiện cho ASEAN trở thành nhân tố chính xây dựng và thúc đẩy các cơ chế hợp tác trong khu vực
Tình hình đó mở ra cơ hội cho hòa bình, an ninh và hợp tác khu vực, tạo điều kiện cho ASEAN không ngừng phát triển và gia tăng vai trò trung tâm trong hợp tác quốc tế ở khu vực Từ đầu thập niên 1990, Đông Nam Á đã không ngừng phát triển và đạt được những mục tiêu về khu vực hòa bình, tự do, trung lập và không vũ khí hạt nhân Đồng thời ASEAN còn đề xướng và lãnh đạo một cơ chế an ninh tập thể là ARF quy tụ tất cả các cường quốc châu Á – TBD tham gia Lợi dụng xu thế vừa hòa hoãn vừa cạnh tranh giữa siêu cường, ASEAN trở thành người khởi xướng, dẫn dắt và điều phối một diễn đàn mở về hợp tác chính trị an ninh lớn nhất trên thế giới Đó cũng là một điểm độc đáo, biểu hiện sự trưởng thành của ASEAN và tính mềm dẻo, khôn khéo của tổ chức này, thường được nói đến như “bản sắc ASEAN” Ngày 31/12/2015, Cộng
Trang 37đồng kinh tế ASEAN chính thức thành lập khi Bản Tuyên bố thành lập Cộng đồng ASEAN được ký kết bởi 10 lãnh đạo của các nước thành viên ASEAN có hiệu lực
Sau khi Cộng đồng ASEAN được xây dựng như kế hoạch, tiến trình hợp tác sẽ được đẩy nhanh hơn với các cam kết thực chất hơn ASEAN sẽ tham gia ký kết nhiều thỏa thuận quan trọng – đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế - với nhiều đối tác lớn trên thế giới như đã và đang làm hiện nay; hình thành nên những khu vực thương mại tự do rộng lớn, trong đó Đông Nam Á là thành viên Trong lĩnh vực đối ngoại, ASEAN cũng thúc đẩy hợp tác trong các cơ chế đa phương nhằm tạo ra mạng lưới các mối quan hệ đối ngoại phong phú và sâu sắc, đủ khả năng đảm bảo không cường quốc bên ngoài nào có vị thế áp đảo trong khu vực Trong giai đoạn tới, ASEAN sẽ tiếp tục là trụ cột trong các hợp tác trên mọi mặt ở Đông Nam Á Nói cách khác, ASEAN đã và sẽ đóng vai trò đầu tàu trong việc đẩy mạnh hợp tác khu vực và điều này tạo nên đặt điểm quan trọng của hợp tác khu vực châu Á – TBD: tập hợp của các nước nhỏ được các nước lớn ủng hộ đang chi phối tiến trình hợp tác khu vực.25
1.4.5.2 Gia tăng của chủ nghĩa khủng bố thế giới và những vấn đề an ninh hàng hải ở khu vực ngày càng nổi cộm
Cùng với các vấn đề mang tính toàn cầu, xuyên quốc gia như buôn bán ma tuý,
cướp biển, bùng nổ dân số…, chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang một vấn đề thách thức
an ninh quốc gia và quốc tế, gây tác động tiêu cực đến hoà bình và ổn định của mỗi nước và trên toàn thế giới Kể từ sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ và hàng loạt các vụ khủng bố khác thì Mỹ, các cường quốc và nhiều nước trên thế giới đã có những động thái cứng rắn để chống lại chủ nghĩa khủng bố và đã thu được những kết quả nhất định Ngày 2/5/2011, sau thời gian dài truy lùng, các lực lượng của Mỹ đã tiêu diệt được Osama Binladen, người sáng lập tổ chức al-Qaeda và được coi là chủ mưu các vụ tấn công ngày 11/9 tại Mỹ
Tuy nhiên, sự thực là sự suy giảm của một số tổ chức khủng bố lớn như Al Qaeda không đồng nghĩa với việc chủ nghĩa khủng bố thế giới đang suy giảm Trái lại,
25
Phạm Bình Minh (2010), Cục diện thế giới đến 2020, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 223
Trang 38chủ nghĩa khủng bố quốc tế lại đang ngày càng gia tăng cả về lượng và diện, với những biểu hiện và thủ đoạn mới Sau cái chết của Osama Binladen, các nhóm khủng
bố đã có những thay đổi trong cách thức hoạt động, nhưng lại theo hướng tinh vi và xảo quyệt hơn rất nhiều như chia nhỏ lực lượng hay trà trộn vào các lực lượng nổi dậy
ở Syria, Mali, Sudan Sự ảnh hưởng của al-Qaeda giảm thì đã có các nhóm khủng bố khác như Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) thay thế Tổ chức này thậm chí còn được xem là còn mạnh hơn, quy củ và tàn bạo hơn cả al-Qaeda Trước tình hình đó, ngày 10/9/2014, Tổng thống Mỹ Obama đã phải công bố Chiến lược toàn diện chống IS Đây là lần thứ hai, người lãnh đạo cao nhất nước Mỹ tuyên bố về một chiến lược chống khủng bố đầy tham vọng sau “cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố” do Tổng thống G.W Bush phát động sau sự kiện 11/9/2001
Theo một báo cáo được đăng tải trên tờ The Guardian (Anh), các vụ khủng bố trên thế giới đã gia tăng gấp 5 lần kể từ sau sự kiện 11/9 ở Mỹ ISIS ở Iraq và Syria, Boko Haram ở Nigeria, Taliban và Al-Qaeda ở nhiều nơi trên thế giới đứng đằng sau hầu hết các vụ khủng bố và khiến khoảng 18.000 người bị chết vào năm 2013, tăng 60% so với năm 2012 Số người chết trong các vụ khủng bố đều tăng qua từng năm, từ 3.361 năm 2000 lên 11.133 năm 2012 và 17.958 vào năm 2013 Cũng như sự gia tăng các trường hợp tử vong, chủ nghĩa khủng bố ngày càng trở nên phổ biến hơn Số lượng các quốc gia có 50 trường hợp tử vong vì khủng bố đã tăng lên 24 vào năm 2013, con
số này năm 2008 là 19 nước 13 quốc gia được xác định có nguy cơ gia tăng hoạt động khủng bố là Angola, Bangladesh, Burundi, CH Trung Phi, Bờ Biển Ngà, Ethiopia, Iran, Israel, Mali, Mexico, Myanmar, Sri Lanka và Uganda.26
Hơn nữa, chủ nghĩa khủng bố thế giới không chỉ gia tăng mà còn có một số biểu hiện mới: (i) các thủ đoạn khủng bố có xu hướng kỹ thuật hoá; (ii) tổ chức khủng
bố ngày càng được quân sự hoá với những trang bị vũ khí hiện đại; (iii) hoạt động khủng bố ngày càng được toàn cầu hoá, do sự phát triển của Internet và kỹ thuật thông tin vô tuyến đã tạo thuận lợi cho việc xây dựng mạng lưới khủng bố quốc tế; (iv) các
26
Mạnh Tường, Khủng bố gia tăng gấp 5 lần sau sự kiện 11.9 Đăng tải ngày 30/11/2014 tại
http://laodong.com.vn/the-gioi/khung-bo-gia-tang-gap-5-lan-sau-su-kien-119-272638.bld truy cập ngày
10/12/2014
Trang 39phần tử khủng bố ngày càng chuyên môn hoá, được đào tạo tại các trung tâm đào tạo khủng bố và có thể sử dụng thành thạo nhiều loại vũ khí và trang thiết bị khác nhau; (v) động cơ khủng bố ngày càng được trở nên đa dạng và phức tạp 27
Khu vực Đông Nam Á là nơi có nhiều nhóm Hồi giáo vũ trang mang tính chất
cực đoan, có thời gian tồn tại và hoạt động từ lâu, trước cả sự kiện ngày 11/9/2001 ở
Mỹ Khủng bố ở khu vực này có thể chia thành hai nhóm chính, nhóm thứ nhất gồm các nhóm hoạt động mang tính địa phương với quy mô nhỏ và các mục tiêu chính trị mang tính địa phương, nhóm thứ hai có liên hệ với các nhóm khủng bố toàn cầu, nhằm vào các lợi ích của các nước phương Tây tại khu vực Đông Nam Á Nhiều nhóm Hồi giáo muốn thay đổi hiện trạng trong khu vực, lật đổ chính quyền để lập ra các nhà nước Hồi giáo tại những nơi mà người theo đạo Hồi chiếm số đông như Indonesia, Malaysia, Singapore, miền Nam Philippines và miền nam Thái Lan Đông Nam Á đã phải hứng chịu các vụ khủng bố đẫm máu như vụ đánh bom ngày 12/10/2002 ở khu du lịch Bali, Indonesia cướp đi sinh mạng của hơn 200 người, làm bị thương hàng trăm người, chủ yếu là thường dân và khách du lịch28; vụ đánh bom xe xảy ra ngày 5/8/2013 phía trước khách sạn J.W Marriott Hotel ở Jakarta, Indonesia cướp đi sinh mạng 12 người và khiến 150 người bị thương, v.v.29
Tại Philippines, phong trào Hồi giáo ly khai của người Moro đã có từ hơn một
thế kỷ trước; họ hoạt động tại Mindanao và quần đảo Sulu và có dịp phát triển nhờ sự bất ổn trên chính trường và khó khăn kinh tế của Philippines những năm cuối của thế
kỷ XX Tháng 3/2001, chính phủ Philippines đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn với MILF (Moro Islamic Liberation Front – Mặt trận giải phóng Hồi giáo Moro); nhưng một bộ phận của tổ chức này đã ly khai và thành lập lực lượng Abu Sayyaf và kiên quyết tiến hành những hoạt động chống lại nhà cầm quyền để lập ra nhà nước Hồi giáo
Tổ chức này nhiều lần bắt cóc con tin, tiến hành các hoạt động khủng bố chống chính
29
Le&Le, Những vụ tấn công nhằm vào các khách sạn lớn Đăng tải ngày 17/7/2009 tại tan-cong-nham-vao-cac-khach-san-lon.23.220439.htm Truy cập ngày 14/1/2015
Trang 40http://vtc.vn/nhung-vu-phủ, chống người Philippines theo đạo Thiên chúa Không những thế, Abu Sayyaf cũng đã có những mối liên hệ với các tổ chức khủng bố nước ngoài nhằm phát triển lực lượng của mình…
Ngoài sự gia tăng của chủ nghĩa khủng bố toàn cầu, khu vực Đông Nam Á còn phải đối mặt với những vấn đề về an ninh hàng hải đang ngày càng trở nên phức tạp
Biển chiếm tới 80% diện tích lãnh thổ của khu vực này, với những tuyến đường giao thông và thương mại lớn bậc nhất trên thế giới nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Ngoài ra, vùng biển Đông Nam Á còn giàu tài nguyên thiên nhiên, dầu mỏ, khí đốt và có tiềm năng trở thành nguồn thu du lịch quan trọng Hơn nữa, với vị trí quan trọng trong lưu thông hàng hải quốc tế, biển Đông được sự quan tâm đặc biệt của các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ… Đây là lý do an ninh hàng hải ở Đông Nam Á luôn luôn chiếm vai trò quan trọng trong các mối quan hệ quốc tế tại khu vực Hiện nay, những vấn đề nổi cộm trên biển ở Đông Nam Á là xung đột lãnh thổ; tội phạm trên biển và suy thoái môi trường
Xung đột lãnh thổ thể hiện ở tranh chấp chủ quyền một số đảo và vùng biển tại biển Đông
Quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của 6 quốc gia và lãnh thổ: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei Các quốc gia này tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa Giữa Trung Quốc và Philippines, giữa Đài Loan và Trung Quốc cũng tồn tại nhiều tranh chấp về đảo và vùng biển Những tranh chấp không chỉ dừng lại ở việc tuyên bố lãnh hải mà còn xảy ra nhiều cuộc đụng độ trên biển gây leo thang căng thẳng cho khu vực Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc với chính sách “vươn mình ra biển lớn” khiến cho các nước có tranh chấp tại Biển Đông cũng tăng cường sức mạnh của mình nhằm bảo vệ chủ quyền trên vùng biển này
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước xảy ra nhiều xung đột căng thẳng nhất trong số các quốc gia tuyên bố chủ quyền trên biển Đông Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiếm quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng hòa từ ngày 19/1/1974 khi quân đội