1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX : Luận án TS. Nhân văn khác: 62 22 03

164 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay cả khi Nho giáo được độc tôn và kéo theo sự suy giảm về vị thế của Phật giáo thì tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo vẫn đứng vững, luôn là tư tưởng chủ đạo của Phật giáo Việt Nam và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



LÊ THÙY DƯƠNG

TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ CỦA THIỀN PHẬT GIÁO QUA PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO

VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



LÊ THÙY DƯƠNG

TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ CỦA THIỀN PHẬT GIÁO

QUA PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

PGS.TS Nguyễn Thúy Vân PGS.TS Trần Nguyên Việt

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN NGUYÊN VIỆT

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, chính xác và có xuất xứ rõ ràng

Tác giả

Lê Thùy Dương

Trang 4

Xin trân trọng cảm ơn./

Tác giả

Lê Thùy Dương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Các công trình nghiên cứu tư tưởng nhập thế của Phật giáo và Thiền Phật giáo Việt Nam 5

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu nhập thế của Phật giáo 5

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam 10

1.2 Các công trình nghiên cứu chấn hưng và chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 17

1.2.1 Các công trình về chấn hưng 17

1.2.2 Các công trình về chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 19

1.3 Các tài liệu đánh giá mối quan hệ giữa nhập thế và cuộc chấn hưng của Thiền Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 21

1.4 Luận án tiếp tục làm rõ tư tưởng nhập thế trong phong trào Chấn hưng của Thiền Phật giáo Bắc Kỳ 23

Tiểu kết chương 1 24

Chương 2 NHẬP THẾ VÀ TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ XUẤT HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH CHẤN HƯNG CỦA THIỀN PHẬT GIÁO 25

2.1 Nhập thế và lịch sử tư tưởng nhập thế của Phật giáo 25

2.1.1 Khái niệm nhập thế 25

2.1.2 Khái quát về lịch sử tư tưởng nhập thế của Phật giáo 32

2.2 Đặc trưng tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo và Thiền Phật giáo Việt Nam 35

2.3 Quan hệ giữa chấn hưng Phật giáo và tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo 41

2.3.1 Chấn hưng Phật giáo 41

2.3.2 Sự xuất hiện một số tư tưởng nhập thế từ các cuộc chấn hưng của Thiền Phật giáo 42

Trang 6

2.3.3 Tác động trở lại của tư tưởng nhập thế đối với các chấn hưng Thiền Phật

giáo trong lịch sử 64

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3 PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO BẮC KỲ ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ CỦA THIỀN PHẬT GIÁO 73

3.1 Tính tất yếu của phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 73

3.1.1.Những tiền đề cơ bản cho sự xuất hiện phong trào Chấn hưng Phật giáo 73

3.1.2 Khái quát diễn biến của phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 81

3.2 Phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX - nội dung, phương phức 85

3.2.1 Một số nội dung cơ bản của phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 85

3.2.2 Phương thức triển khai trong phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 99

3.3 Một số tư tưởng mới về nhập thế của Thiền Phật giáo xuất hiện trong phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 104

3.3.1 Từ góc độ giáo lý Thiền Phật giáo 105

3.3.2 Từ đời sống tôn giáo của các sa môn 110

Tiểu kết chương 3 113

Chương 4 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ THIỀN PHẬT GIÁO QUA PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO BẮC KỲ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY 115

4.1 Giá trị của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 117

4.1.1 Phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX góp phần làm phong phú thêm tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo trong đời sống tinh thần của dân tộc 118

4.1.2 Phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX làm xuất hiện những đặc điểm riêng có của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo Việt Nam 122

Trang 7

4.1.3 Phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX với tư tưởng nhập thế tích cực đã phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong bảo vệ và xây dựng đất nước 126

4.2 Một số hạn chế của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX 128

4.2.1 Hạn chế trong lĩnh vực giáo lý 131 4.2.2 Hạn chế trong lĩnh vực đời sống tôn giáo 134

4.3 Bài học lịch sử của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX đối với hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay 133 Tiểu kết chương 4 140 KẾT LUẬN 141 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 147 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ khi du nhập vào Việt Nam đến nay, Phật giáo đã được bản địa hóa, từ đó với triết lý nhân sinh sâu sắc đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống con người và xã hội Việt Nam Là một tôn giáo thế giới, trong quá trình phát triển, giáo

lý cũng như chủ trương hành đạo của Phật giáo đã góp phần hình thành nên các giá trị truyền thống của dân tộc, trong đó có triết lý nhập thế

Phật giáo ra đời với mục đích mang lại hạnh phúc cho mọi người, đoạn tuyệt với khổ đau ở cuộc sống hiện tại Con đường thực hiện mục tiêu ấy được thể hiện rõ nét không chỉ trong hệ thống lý luận, mà cả trong đời sống tôn giáo ở thế giới hiện thực Thiền là một trong những tư tưởng cơ bản của Phật giáo nhằm điều chỉnh ý thức để đạt tới trạng thái tịnh tâm, từ đó có cái nhìn sáng suốt về cuộc sống, đồng thời giúp con người luôn có định hướng đúng đắn trong hoạt động sống của mình cũng như tới sự giác ngộ (giải thoát)

Hiện nay, Thiền không chỉ là một tông phái của Phật giáo, mà còn là pháp môn thực hành điều chỉnh hiệu quả về hoạt động tâm sinh lý của con người Do đó,

sự phổ biến của Thiền trên thế giới ngày càng rộng, và có sức hút đối với nhiều người Đặc biệt, với đạo đức từ bi, hỷ xả và tinh thần yêu chuộng hòa hợp, hòa bình, Phật giáo xứng đáng là một tôn giáo thế giới đáng được trân trọng

Theo Thiền uyển tập anh, một tác phẩm mang tính phả hệ của các dòng

Thiền Phật giáo du nhập vào Việt Nam thì Phật giáo truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau Công nguyên Quá trình truyền bá, về cơ bản được chia thành hai giai đoạn trong thời kỳ Bắc thuộc, đợt đầu với sự truyền bá Giáo tông, nhưng phải đến thế kỷ VI mới bắt đầu có sự truyền bá Tâm tông hay còn gọi là Thiền tông với các dòng thiền từ Trung Quốc như Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thiền phái Vô Ngôn Thông (thế kỷ IX) Thiền phái Thảo Đường vào Việt Nam từ thời Lý (thế kỷ XI) Trên cơ sở của các dòng Thiền du nhập và tồn tại ở Việt Nam, đến cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV, sự truyền thừa của các dòng Thiền này là sự chuẩn bị cần thiết cho

sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - một dòng Thiền đại diện cho Phật giáo

Trang 9

Việt Nam Một trong những nét đặc trưng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là tư tưởng nhập thế của nó do những điều kiện lịch sử cụ thể, hay nói cách khác, do tồn tại xã hội Đại Việt đương thời quy định Ngoài ra phải kể đến Thiền phái Lâm Tế và Tào Động đã du nhập và được Việt hóa để phù hợp và tồn tại song song cùng với các hình thức tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Trong điều kiện hội nhập và phát triển của đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân cùng với chủ

trương “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những

giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của

xã hội, là một động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; coi trọng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ” 1 Với tinh thần đó, việc nghiên cứu những yếu tố tích cực

về tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo, theo chúng tôi là hết sức cần thiết Ngay

cả khi Nho giáo được độc tôn và kéo theo sự suy giảm về vị thế của Phật giáo thì tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo vẫn đứng vững, luôn là tư tưởng chủ đạo của Phật giáo Việt Nam và trên một số phương diện vẫn tiếp tục phát triển với tư cách là một tôn giáo của dân tộc, đã và đang có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam ngày nay

Đặc biệt, trong phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX - một phong trào với tinh thần nhập thế sôi động đã tạo nên dấu ấn và ý nghĩa to lớn đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam Tuy không phải là một học thuyết tôn giáo - triết học có mục đích, tôn chỉ liên quan đến các vấn đề chính trị - xã hội, song trước những nhiệm vụ quan trọng của dân tộc, Phật giáo nói chung và Thiền Phật giáo nói riêng đã thể hiện được khả năng thích ứng với tinh thần “Phật pháp tại thế gian, không lìa thế gian giác” Phật giáo đã tự mình vượt ra ngoài phạm vi một tôn giáo

Trang 10

và kiến tạo nên nét đặc trưng riêng của Thiền Phật giáo Việt Nam như một tôn giáo

dân tộc Xuất phát từ thực tế đó, tác giả quyết định chọn đề tài Tư tưởng nhập thế

của Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX

cho luận án tiến sĩ triết học của mình Luận án góp phần làm rõ những đóng góp của Thiền Phật giáo vào các giá trị truyền thống của dân tộc trong lịch sử cũng như trong thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước ta hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án: Luận án làm rõ những nội dung, đặc điểm trong tư

tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng đầu thế kỷ

XX Trên cơ sở đó chỉ ra đặc trưng, giá trị, hạn chế của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo đối với đương thời và rút ra bài học lịch sử đối với hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ của luận án: Luâ ̣n án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Một là, phân tích mối quan hệ giữa tư tưởng nhập thế như một đặc trưng

của Thiền Phật giáo nói chung và Thiền Phật giáo Việt Nam nói riêng với Chấn hưng Phật giáo

- Hai là, phân tích nguyên nhân, diễn biến của phong trào Chấn hưng Phật

giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX và làm rõ một số nội dung, đặc điểm của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào này

- Ba là, làm rõ những giá trị và hạn chế của tư tưởng nhập thế Thiền Phật

giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX đối với đương thời từ đó rút ra bài học lịch sử đối với hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo

Việt Nam qua phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX

Phạm vi nghiên cứu của Luận án: Tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo

Việt Nam qua phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Cơ sở lý luận của luận án: Đề tài dựa trên lý luận duy vật biện chứng và duy

vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối,

Trang 11

chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, các lý luận về giá trị đạo đức, lối sống, chính trị - văn hóa của tôn giáo

Phương pháp nghiên cứu của luận án: Luận án vận dụng phương pháp luận

nghiên cứu của chủ nghĩa Mác - Lênin về lịch sử triết học, gồm các phương pháp logic lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, hệ thống hóa, khái quát hóa,v.v trong sự phối thuộc với các phương pháp nghiên cứu liên chuyên ngành Khoa học xã hội như: Tôn giáo học, Sử học, Văn học, Phật học

5 Cái mới của luận án

Luận án làm rõ một số nội dung, đặc điểm, giá trị và hạn chế của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ

XX Luận án đã phân tích, làm rõ tính linh hoạt của thiền trong đời sống thực tiễn của Phật giáo dẫn đến tính tất yếu của nhập thế

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Về mặt lý luận:

Luận án góp phần làm rõ khái niệm, nguồn gốc và một số nội dung cơ bản của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX

- Về mặt thực tiễn:

Luận án làm rõ vai trò của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo Việt Nam qua

phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX đối với đời sống tôn giáo

của các phật tử, cư sĩ Việt Nam đương thời cũng như trong điều kiện hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 4 chương

và 13 tiết

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Cho đến nay, nghiên cứu về Phật giáo đã có một bề dày lịch sử với một kho tàng thư tịch về kinh sách, lý luận, con đường tu tập Hơn nữa, nghiên cứu về Thiền Phật giáo hiện nay đã trở thành một trào lưu khá phát triển Ý thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhằm mục đích lưu truyền và phát triển mạch thiền của dân tộc, trong đó tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo là một trong những tư tưởng chủ đạo của Phật giáo Việt Nam, các học giả trong và ngoài Giáo hội Phật giáo đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng nhập thế của thiền Phật giáo Việt Nam Đặc biệt, tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng của nó đầu thế kỷ XX đã và đang để lại nhiều dấu ấn quan trọng không chỉ trong lịch sử Phật học Việt Nam, mà cả trong đời sống tinh thần của các phật tử, cư sĩ và của cả những người ở ngoài hai giới này Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi tạm phân định ba hướng nghiên cứu với những công trình tiêu biểu thời gian qua về tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam nói chung, qua phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX nói riêng

1.1 Các công trình nghiên cứu tư tưởng nhập thế của Phật giáo và Thiền Phật giáo Việt Nam

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu nhập thế của Phật giáo

Cuốn Lược sử Phật giáo Ấn Độ (PL: 2533 - 1989) của Thích Thanh Kiểm,

do Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh ấn hành được chia làm bốn (04) thiên: Thời đại nguyên thủy Phật giáo, Thời đại bộ phái Phật giáo, Thời đại Đại thừa Phật giáo và Thiên cuối cùng là: Thời đại Mật giáo Tại mục III khi nói về “Trạng thái chính trị và xã hội trong thời đại Đức Thích Tôn” ở chương thứ nhất có viết:

“Giai cấp Bà la môn và vua chúa là giai cấp thống trị; hai giai cấp bình dân

và tiện dân là hai giai cấp bị trị… Dòng họ Bà la môn đã chế định ra bốn giai cấp, tự cho mình ở địa vị tối cao, và chia sự tu hành làm bốn thời kỳ, sinh

hoạt theo l‎ý tưởng Nhưng trái lại còn ba giai cấp khác, nhất là giai cấp tiện

Trang 13

dân lại bị xã hội khinh miệt, không được pháp luật bảo hộ… Do đó mà gây thành sự tổ chức xã hội bất công, dân chúng họ hằng khát vọng có bậc thánh nhân xuất hiện cứu đời Để đáp lại lòng mong mỏi đó, nên đã phát sinh một tôn giáo tha thiết với mục đích nhất vị bình đẳng cứu đời, chính là đức Phật Thích ca Mâu Ni sáng lập” [77, tr.23-24]

Điều này cho thấy, tư tưởng nhập thế đã hình thành ngay trong đời sống thực tiễn của chính người dân xã hội Ấn Độ cổ đại Bởi lẽ, khát vọng của chúng sinh trước sự giải thoát được đáp ứng và sự xuất hiện Phật giáo với hình tượng Phật Thích Ca

Mâu Ni, về nguyên tắc, là sự đáp ứng nhu cầu thời đại Công trình Lịch sử Phật

giáo do tác giả Thích Thanh Kiểm biên soạn cung cấp cho chúng ta bức tranh chung

về lịch sử Phật giáo, ở đó cái lịch sử cụ thể và cái logic được thống nhất với nhau hết sức chặt chẽ

Bộ sách Thiền luận của Suzuki D.T., do Trúc Thiên dịch (1992), NXB Thành

phố Hồ Chí Minh gồm ba quyển Tác giả của công trình này là một học giả nổi tiếng người Nhật, ông là người đã có công rất lớn trong việc giới thiệu tư tưởng Thiền tông sang các nước phương Tây Suzuki đã đi sâu phân tích tư tưởng Thiền học của Huệ Năng, trong đó tác giả chỉ ra một số tư tưởng cơ bản của Thiền mà theo ông, nhờ đó Huệ Năng là vị sư tổ thứ sáu đã góp phần to lớn vào việc định hình một cách hoàn chỉnh Thiền tông Trung Hoa vào thế kỷ thứ VIII

Thứ nhất, Suzuki cho rằng, kiến tính (thấy tính) là điểm chủ yếu và cốt lõi

trong tư tưởng Thiền học của Huệ Năng (chỉ luận kiến tính, chẳng luận thiền định hoặc giải thoát), mà những bài thuyết pháp sau này chỉ triển khai khái niệm đó

Thứ hai, theo Suzuki, từ những quan niệm đặc sắc về kiến tính như là đích

cuối cùng của con đường đi đến giải thoát, thì “đốn ngộ” chính là phương pháp luôn được đề cao trong yếu chỉ Thiền Nam tông của Huệ Năng

Thứ ba, Huệ Năng có nhiều quan điểm mới về “Tọa thiền”, “Thiền định”,

v.v Đối với Huệ Năng, tất cả các phép tu tập chỉ là phương tiện trên con đường giác ngộ Khi đề cao kiến tính, học thuyết của Lục Tổ luôn cổ súy sự trực ngộ thay

vì nghiên cứu triết luận cao siêu, theo đó quan niệm về thiền định truyền thống bị Huệ Năng xem nhẹ, thậm chí ông còn phủ định ngay cả việc chấp trước vào việc tọa thiền mà đương thời đang rất thịnh hành

Trang 14

Thứ tư, phương pháp thể hiện chân lý Thiền của Huệ Năng là phương pháp

thuần túy Trung Hoa Suzuki cho rằng, Huệ Năng là người đi tiên phong mở đường cho phương pháp hiển thị chân lý thuần túy mang màu sắc Trung Hoa, đó là phương pháp mang tính trực chỉ, giản dị, cụ thể và thực tế, v.v Có thể nói, Suzuki là người

có đóng góp rất lớn trong việc nghiên cứu và quảng bá tư tưởng Thiền học nói chung, tư tưởng của Thiền Huệ Năng nói riêng, mặc dù ông không phải là người Trung Quốc Tuy nhiên, Suzuki lại đứng trên lập trường tôn giáo để nghiên cứu Thiền tông

Có thể nói, công lao của Suzuki ở chỗ chỉ ra logic của con đường nhận thức chân lý trong Thiền học Trung Hoa

Cuốn Lịch sử tư tưởng Thiền từ Vêđa Ấn Độ tới Thiền tông Trung Quốc của

Hoàng Thị Thơ (2005), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tập trung nghiên cứu về lịch

sử Thiền, giúp độc giả hiểu một cách khái quát hơn về Thiền Phật giáo nói chung và Thiền Phật giáo Việt Nam nói riêng

Cuốn Lịch sử Thiền học, tập 1: Thiền Trung Quốc, Tản Mộng Từ (biên dịch

và chú giải) (2007), NXB Phương Đông khẳng định:

“Thiền hay định vốn có nguồn gốc từ Ấn Độ nói lên sự thể nghiệm tâm

linh cao độ mang lại một ý nghĩa vô cùng quan trọng ngay từ khi Phật giáo xuất hiện… Đồng thời, “Thiền” còn thể hiện tính thích ứng “tùy duyên bất biến” của Phật giáo Vì thế lịch sử Thiền không phải chỉ dừng ở đó mà thôi

“Thiền” thuận theo đà chuyển biến của xã hội sau này, trải qua biết bao nhiêu biến thiên tạo ảnh hưởng to lớn cho xã hội, được truyền bá vào Việt Nam và hình thành nên “Thiền” mang sắc thái độc đáo của mỗi quốc độ” [116, tr.16-18]

Cuốn Thiền tông Phật giáo (2008), Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, NXB Tôn

giáo, Hà Nội đã trình bày về Thiền Phật giáo và sự hình thành Thiền tông Phật giáo Trung Quốc Tác giả viết: “Thiền tông là một tông phái quan trọng của Phật giáo Trung Quốc Phật giáo Ấn Độ chỉ có Thiền mà không có Thiền tông, Thiền tông do Phật giáo Trung Quốc sáng tạo nên ” [21, tr.11] Thiền có nguồn gốc từ Ấn Độ và được Bồ Đề Đạt Ma truyền vào Trung Quốc, làm hình thành nên Thiền tông Trung Hoa và sau đó được tiếp tục truyền bá vào Việt Nam

Trang 15

Ấn Độ Phật giáo sử luận (Từ đức Phật đến thời kỳ Bộ Phái), Viên Trí (Biên

soạn) (2009), NXB Phương Đông, đã trình bày tổng quan về xã hội Ấn Độ thời kỳ tiền Phật giáo, thời kỳ Phật giáo và lược sử Đức Phật Những giáo lý căn bản của Phật giáo cũng được giới thiệu như: Tứ Diệu đế, Duyên khởi, Ngũ uẩn, Nghiệp, v.v

Quan điểm cho rằng, “Đạo Phật dấn thân vì xã hội” chính là tinh thần nhập

thế có thể tìm thấy trong cuốn Socially Engaged Buddhism (Dimensions of Asian

Spirituality), University of Hawai Press; 1 edition (February 19, 2009) của Sallie B.King Tác giả cuốn sách này giới thiệu về các phong trào hiện đại của phật tử phương Đông và phương Tây, họ là những người tích cực tham gia vào việc giải quyết các vấn đề của thế giới - xã hội, chính trị, kinh tế và môi trường của thế giới đương đại trên tinh thần giáo lý Phật giáo Sallie B King, một trong những chuyên gia hàng đầu của Bắc Mỹ về xác định bằng ngôn ngữ cho dễ hiểu tư duy triết học và đạo đức của phong trào này, đồng thời xem xét những nguyên tắc quan trọng như nghiệp, Tứ Diệu Đế, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các “đế”,… liên quan đến tinh thần dấn thân của Phật giáo Nhiều người cho rằng phật tử chú trọng hoàn toàn vào cấp

độ tâm linh, nhưng tác giả cuốn sách lại tập trung xem xét lý do tại sao các phật tử không đứng ngoài những vấn đề của thế giới, và làm thế nào mà họ giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa giáo lý của Phật giáo với thế giới trần tục Phật giáo chỉ ra rằng, gốc rễ khổ đau của con người từ chính tâm trí của nó chứ không phải từ thế giới trần tục, cho nên việc theo đuổi tới mục đích giác ngộ không đòi hỏi phải biến khỏi thế giới đó Làm việc là để giảm bớt đau đớn trong con người, cho nên thế giới đó trở thành đối tượng không thể thiếu để phật tử hoạt động tâm linh, và đó cũng là nơi để con người có được lòng vị tha và từ bi Chúng tôi cho rằng, cuốn sách là một công trình phân tích sự hoạt động xã hội của các phật tử như một hình thức tâm linh được thể hiện trong hành vi của lòng từ bi và bất bạo động Nó cung cấp một ví dụ đầy cảm hứng về việc làm thế nào mà con người có thể giải quyết những rắc rối đang đe dọa hòa bình, hạnh phúc của loài người trên hành tinh chúng ta

Bộ sách Nguyên thủy, Tiểu thừa, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận của tác

giả Kimuara Taiken do Thích Quảng Độ dịch (2012), NXB Tôn giáo, Hà Nội Tác

giả đã dành chương thứ sáu trong Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận để nói về Thiền

Trang 16

và ý nghĩa triết học của nó, chương thứ bảy nói về sự khai triển của tư tưởng Phật giáo và sự khảo sát về Thiền Tác giả Kimuara Taiken người Nhật đã trình bày tương đối khái quát ý niệm về Thiền, ông khẳng định:

“Nghĩa căn bản của thiền không phải cốt ở sự thống nhất tinh thần, bởi lẽ sau khi đã thống nhất tinh thần mà không tư duy về một sự kiện hoặc một cảnh giới nào đó thì ý nghĩa của thiền hiển nhiên là chưa hoàn thành” [45, tr 285]

Bài Thiền Phật giáo: nguyên lý và một số phạm trù cơ bản của Hoàng Thị

Thơ (Tạp chí Triết học số 12/2005) cho rằng, Thiền thực sự có vị thế trong triết học Phật giáo Ngày nay, Phật giáo đang phát huy một số đặc trưng độc đáo để hội nhập

và lan tỏa sang phương Tây một cách thành công, trong đó có sự góp phần của Thiền Bài viết cố gắng làm rõ một số đặc trưng của Thiền Phật giáo từ góc độ vấn

đề cơ bản của triết học để góp phần nhận diện và phát huy cũng như bảo tồn những đặc sắc của tư duy phương Đông, cũng là của Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng

Đỗ Quang Hưng với Phật giáo Viê ̣t Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn

cầu hóa (Tạp chí Khoa học xã hội số 9/2006, [74, tr.58-66] Trong bài viết này , tác

giả đề cao vai trò của Phật giáo trong xã hội hiện đại và những thay đổi của Phật giáo nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đa ̣i mới Tác giả nhấn mạnh rằng , Phâ ̣t giáo hiê ̣n nay là Phâ ̣t giáo nhâ ̣p thế Tình hình tôn giáo thế giới hiện nay đang diễn ra mang tính “toàn cầu hóa”, do đó, cần có sự phân biệt sự khác nhau giữa thế tục hóa trong đời sống tôn giáo ở phương Tây và tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam Theo ông:

“Đặc điểm cơ bản nhập thế của Phật giáo Việt Nam là không hề đồng nhất với khái niệm tục hóa (sécularisation) của phương Tây trên hai mặt: Tách quyền lực tôn giáo ra khỏi quyền lực nhà nước và tục hóa đời sống tăng lữ

Về cơ bản, xu hướng nhập thế của Phật giáo Việt Nam đặc biệt từ thế kỷ XX

là hướng tới một Đạo Phật dấn thân vì xã hội (Bouddhisme engagé socialement)”

Hoàng Thị Thơ với bài Thiền trong kinh văn nguyên thủy của Phật giáo -

Tạp chí Triết học, số (4/2008) Trong bài viết, tác giả trình bày nội dung và ý nghĩa

Trang 17

của Thiền Phật giáo trong một số tác phẩm tiêu biểu của Phật giáo Sự hiện diện của Thiền trong kinh điển Phật giáo Mặt khác, tác giả còn chỉ ra sự khác biệt giữa Thiền Phật giáo và Thiền trong Yoga của Bàlamôn giáo Từ góc độ lịch sử tư tưởng, bài viết nêu rõ:

“Ngay trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy đã có tư tưởng Thiền, đó chính

là tư tưởng và phương pháp tu tập của đức Phật trên con đường Người tìm đạo Thiền là một sản phẩm độc đáo của tư duy lý luận tổng hợp của triết học

- tôn giáo không tách rời thực tiễn tu tập và đạo đức truyền thống Ấn Độ mà đức Phật đã kế thừa một cách có chọn lọc từ truyền thống Bàlamôn giáo Thiền luôn là cơ sở lý luận và thực hành tu tập để triển khai tinh thần triết học tôn giáo từ Phật giáo Nguyên thủy cho tới Thiền tông Trung Quốc, đồng thời luôn trong khuynh hướng hiện đại hóa của Đại thừa Phật giáo”

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam

Hầu hết các tác phẩm về Thiền Phật giáo của các nhà Thiền học, Phật học, các nhà nghiên cứu Việt Nam đều ít nhiều đề cập hoặc vận dụng tư tưởng nhập thế của Thiền

Lịch sử Phật giáo Việt Nam do Nguyễn Tài Thư (chủ biên) (1991), NXB

Khoa học xã hội, Hà Nội Các tác giả đã đề cập đến tư tưởng triết học của các nhà Thiền học tiêu biểu của thời Trần như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Tư tưởng triết học của các nhà Thiền học, đồng thời là những thiền sư nói trên được trình bày ở phương diện bản thể luận, nhận thức luận… Khi đề cập đến tư tưởng triết lý của các nhà Thiền học nói trên, công trình đã đối chiếu, so sánh với tư tưởng của Huệ Năng về các vấn đề đốn ngộ, triết lý nhập thế, qua đó làm rõ tinh thần dung hợp giữa chủ trương đốn ngộ và tiệm ngộ, triết lý nhập thế cởi mở, rộng rãi hơn của các nhà Thiền học thời Trần

Việt Nam Phật giáo sử luận I - II - III của tác giả Nguyễn Lang (1992, 1994),

NXB Văn học, Hà Nội Trong tập I, ở chương III, IV,VI,VII, XII, XIII, XIV tác giả

đã đề cập đến Thiền học Việt Nam, các phái Thiền, và các thiền sư: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang… Ở đây

Trang 18

Thiền được nghiên cứu ở góc độ lịch sử, được soi chiếu về sự hình thành và phát triển trong tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam

Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam của tác giả Nguyễn

Hùng Hậu (1996), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Tác giả đã đề cập đến điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa trong việc hình thành nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đồng thời đi sâu tìm hiểu vấn đề bản thể luận, nhận thức luận trong triết học Trần Thái Tông và một số tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng Sỹ với mục đích làm nổi bật tiền đề tư tưởng trực tiếp cho sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Tác giả cho rằng, Tuệ Trung Thượng Sỹ quan niệm việc đi tìm sự giác ngộ

ở ngay trong đời sống hiện thực Điều này phù hợp với với chủ trương của Lục Tổ

Huệ Năng: “Phật pháp tại thế gian, không lìa thế gian giác” Khác với nhập thế

mang tính chất cá nhân của Huệ Năng và một số thiền sư Trung Hoa, nhập thế của thời Trần là nhập thế vì cộng đồng, xã hội, vì quê hương, đất nước… Những nhận định nêu trên đã gợi mở cho tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu và đánh giá một cách đúng đắn, khách quan về tư tưởng nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng

và tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam nói chung

Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam (T.1) do Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ

biên) (2007) cùng các tác giả của Viện Khoa học xã hội Việt Nam NXB Khoa học

xã hội, Hà Nội, Cuốn Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (Từ thời kỳ dựng nước

đến đầu thế kỷ XX) do Doãn chính (chủ biên) (2013) NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, là sự khái quát về lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, sách đã chỉ ra

tư tưởng Thiền Phật giáo và đề cập đến nội dung của tư tưởng nhập thế Sách đã phân tích và chỉ ra: Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi có tinh thần nhập thế rõ nét, đồng thời cũng nói lên tinh thần nhập thế tích cực thể hiện ở thiền phái Vô Ngôn Thông

Tác giả Nguyễn Tuấn Anh (2010) với bài viết Vài nét về vấn đề “nhập thế”

của Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong “Phâ ̣t giáo thời Đinh và Tiền Lê trong

công cuô ̣c dựng nước và giữ nước” , NXB Khoa ho ̣c xã hô ̣i [35, tr 31-39] đã đi ̣nh nghĩa nhập thế với hai phương diện : đem đa ̣o vào đời và đem đời vào đạo , cách hiểu này đã phản ánh được phần nào khái niê ̣m nhâ ̣p thế Tác giả Lê Đức Hạnh với

bài viết Sự “nhập thế” của các thiền sư thời Đinh - Tiền Lê [35, tr.89] đã khẳng

Trang 19

định: “Các thiền sư vừa “nhập thế” hướng về thế tục, vừa “xuất thế” hướng về thế giới tâm linh Cả hai định hướng này vừa đồng thời diễn ra trong cuộc đời một vị thiền sư….”

Luận án của Hoàng Văn Cảnh (2003) với đề tài “Pháp bảo Đàn kinh” và

ảnh hưởng của nó đối với các nhà Thiền học thời Trần”, Viện Triết học, Hà Nội đã

đề cập đến triết lý nhập thế và ảnh hưởng của nó từ góc độ bản thể luận, nhận thức luận, triết lý nhập thế của các nhà Thiền học tiêu biểu thời Trần như: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang

Luận án của Đoàn Văn An (2013) với đề tài Tư tưởng triết học trong kinh

Kim Cương, Học viện Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam cũng bàn

về triết l‎ý nhập thế trong Thiền học thời L‎ý - Trần Theo đó, luận án đã khảo sát, phân tích và cung cấp một cái nhìn tổng quan về bối cảnh lịch sử, văn hóa, chính trị,

xã hội Ấn Độ từ thế kỷ III trước Tây lịch đến cuối thế kỷ II sau Tây lịch; làm rõ các tiền đề tư tưởng có tác động trực tiếp đến sự ra đời của phong trào Phật giáo Đại

thừa, sự hưng khởi của trào lưu văn học Bát nhã, trong đó có kinh Kim Cương Luận án đã đưa ra được một cái nhìn hệ thống khi tiếp cận kinh Kim Cương từ

phương diện triết học, qua việc phân tích, làm rõ những nội dung triết học cơ bản trong bản kinh này, như vấn đề Bản thể luận, Nhận thức luận, Mẫu người lý tưởng

và triết lý nhập thế Từ những phân tích về nội dung triết học trong kinh Kim

Cương, đặc biệt là về mẫu người lý tưởng và triết lý nhập thế, luận án đã bước đầu

chỉ ra những ảnh hưởng của kinh Kim Cương đến việc hình thành một đặc điểm nổi

bật trong Thiền học Việt Nam thời Lý - Trần, đó là tinh thần nhập thế

Luận án của Đỗ Ngây (2013) với đề tài Triết lý nhập thế của Phật giáo Việt

Nam thời Lý - Trần Luận án đã góp phần làm rõ sự ảnh hưởng của Nho giáo, Đạo

giáo và các hình thức tín ngưỡng dân gian, cũng như sự tác động của điều kiện kinh

tế, chính trị, văn hóa giáo dục thời Lý -Trần đối với triết lý nhập thế của Phật giáo giai đoạn này Ngoài ra, luận án đã nêu rõ những đặc điểm nổi bật như quan niệm xuất thế, quan niệm nhập thế cũng như mối quan hệ biện chứng giữa xuất thế và nhập thế; và một số nội dung cơ bản trong triết lý bình đẳng, triết lý đoàn kết, triết

lý dấn thân phục vụ đất nước của triết lý nhập thế của Phật giáo thời Lý - Trần

Trang 20

Tuy nhiên, một số luận án trên chỉ tập trung tìm hiểu triết l‎ý nhập thế, ảnh hưởng của nó dưới thời L‎ý - Trần, mà chưa khái quát được tư tưởng nhập thế của các dòng thiền du nhập vào Việt Nam cũng như sự duy trì và phát triển nguồn mạch Thiền đến phong trào Chấn hưng để thấy được Thiền Phật giáo Việt Nam tồn tại

đến ngày nay như thế nào Luận án Tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo qua

phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX sẽ kế thừa những điểm

nổi bật của tư tưởng nhập thế Thiền thời L‎ý - Trần và cố gắng bổ sung vào những

khoảng trống cần được nghiên cứu làm rõ

Bên cạnh những công trình nghiên cứu khoa học nêu trên, còn có nhiều bài đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu về Thiền Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là tư tưởng nhập thế của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, qua đó làm nền tảng để nghiên cứu về tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam

Tác giả Đặng Thị Lan với Tìm hiểu về tinh thần nhập thế của Phật giáo Viê ̣t

Nam (Tạp chí Khoa học xã hội n hân văn số 01/2003) đã chỉ ra tinh thần nhâ ̣p thế

của Phật giáo được thể hiện rất rõ ở hai khía cạnh : “Dùng đạo để hướng dẫn đời và dùng đời để thực hành đạo” Tác giả nhấn mạnh “tại thế gian giác ” - viê ̣c giác ngô ̣ thế gian, hiểu rõ thế gian của người tu sĩ Phâ ̣t giáo Tuy nhiên, việc dùng đạo để hướng dẫn đời là mảng lý luận rất rộng và sâu, đồng thời đòi hỏi một loạt các phương pháp, cách thức truyền tải tới những người mến mộ đạo Phật, do đó với phạm vi một bài viết cho tạp chí, tác giả không thể trình bày được nhiều hơn về vấn

đề này

Tác giả Nguyễn Tài Đông trong bài Việt Nam hóa Phật giáo ở Trần Nhân

Tông (Tạp chí Triết học, số 12(211)-2008) cho rằng: “Trần Nhân Tông là người đã

sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và qua đó đánh dấu một bước hoàn tất quá trình Việt Nam hóa Phật giáo” Để làm sáng tỏ vấn đề này, trước hết tác giả

phân tích tiền đề thiền học của Trần Nhân Tông cùng những thiền sư đã có ảnh hưởng lớn đến Trần Nhân Tông Tiếp đó, tác giả phân tích ba vấn đề đặc sắc trong

tư tưởng của Trần Nhân Tông: Quan niệm tâm chính là Phật, học thuyết vô niệm và tinh thần nhập thế tích cực Trong đó, với tinh thần nhập thế cởi mở và khai phóng, Trần Nhân Tông đã khiến giáo pháp Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trở thành cầu nối

Trang 21

giữa triều đình và người dân Tuy nhiên, sự suy yếu của Phật giáo từ thế kỷ XV xuất hiện vấn đề, liệu các thế kỷ sau sự Việt Nam hóa Phật giáo có tiếp tục diễn ra nữa không? Trả lời cho vấn đề này là các sự kiện xẩy ra ở thế kỷ XVIII, khi Ngô

Thì Nhậm viết Trúc Lâm Yên Tử tông chỉ nguyên thanh, đồng thời ông được các

đệ tử tôn là Trúc Lâm Yên Tử đệ tứ tổ Tiếp đến là phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Các sự kiện ấy chứng tỏ rằng, để tiếp tục tồn tại

và phát triển, Phật giáo Việt Nam cần được tiếp tục nâng cao về mặt học thuật, một mặt, để đối trọng với các tôn giáo khác đang thâm nhập vào Việt Nam ngày càng mạnh, và mặt khác, nếu không phát triển, không Việt Nam hóa nó bằng những nhu cầu thực tiễn của đời sống tinh thần, thì Phật giáo sẽ đi tới chỗ diệt vong Do đó, theo quan điểm của tác giả, sự xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm Yên

Tử là sự kết thúc các dòng Thiền đã truyền thừa trước đó là: Tỳ Ni Đa Lưu Chi,

Vô Ngôn Thông và Thảo Đường

Theo quan điểm của Nguyễn Kim Sơn (Trường ĐH KHXH và Nhân văn -

ĐH Quốc gia Hà Nội) trong bài Cội nguồn triết học của tinh thần thiền nhập thế

Trần Nhân Tông (Tạp chí Khuông Việt, Số 6/Tháng 4, 2009), tinh thần nhập thế,

khuynh hướng nhập thế hay tư tưởng nhập thế của Thiền học Trần Nhân Tông cần

được nhìn nhận từ hai phương diện, một là những căn cội triết học và hai là, cơ sở

thực tiễn, những lý do thực tiễn Cách tiếp cận như vậy, có thể nói, là khá chính xác

và cần được tham khảo và làm rõ thêm vai trò của thực tiễn đối với sự hình thành triết lý nhập thế của Phật hoàng Trần Nhân Tông

Trong bài viết này, tác giả đã tiếp cận một cách tổng quan về căn cội triết

học của tinh thần nhập thế, nói theo cách của Trần Nhân Tông, là “cư trần lạc đạo”,

đó là một hệ thống với Phật tính luận, phương pháp tu luyện, con đường giác ngộ

của Thiền Tông, đặc biệt là lấy Thiền Huệ Năng làm trục tâm Ở hệ thống ấy có sự

kết hợp các tư tưởng Hòa quang đồng trần trong triết học Lão Tử, tư tưởng Vô sở

đãi và tùy tục trong tư tưởng Trang Tử, và đương nhiên, không thể thiếu tư tưởng lạc đạo của Nho gia Xét về cơ cấu, nó là sự hội nhập triết học và phương pháp tu dưỡng,

cảnh giới tinh thần của cả Tam giáo, lấy Thiền làm cơ sở để tiến hành hội nhập

Trang 22

Lê Thị Lan trong bài Một số tư tưởng thiền học cơ bản của Trần Thái Tông

(Tạp chí Triết học, số 4(227)-2010) đã tập trung giải thích các khái niệm cơ bản:

“tâm”, “không”, “Phật tính”, “giới”, “định”,“tuệ” Tiếp đó bài viết phân tích các giai đoạn của con đường tu tập mà thiền gia phải trải qua Theo tác giả, Trần Thái Tông đã thâu tóm được toàn bộ những yếu chỉ cơ bản về tư tưởng và phương pháp

tu thiền của Thiền học Vô Ngôn Thông, đồng thời diễn giải chúng hết sức dễ hiểu

và qua đó, đã góp phần phổ biến thiền học trong dân chúng

Trong bài Tư duy hướng nội của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy

người Việt (Tạp chí Triết học, số 5/228) của Hoàng Thị Thơ (2010) đã trình bày sự

du nhập Phật giáo vào Việt Nam với nội dung chủ yếu của Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc, với các thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường Song, sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - dòng Thiền Phật giáo

của Việt Nam, hình thành vào đời Trần đã “dứt bỏ các truyền thừa từ trước có

nguồn gốc bên ngoài”, đồng thời khẳng định được đường hướng và phong cách độc

lập với những đóng góp to lớn mà dòng Thiền này đem lại cho dân tộc

Các công trình nghiên cứu về Thiền không chỉ giới hạn trong nguồn tài liệu sách vở mà còn được công bố rộng rãi trên các diễn đàn, trang điện tử và báo điện

tử khác nhau như:

Trần Hoàng Hảo trong Tư tưởng biện chứng trong thiền học nhà Trần

chung-trong-thien-hoc-nha-tran.html) đã viết rằng, “Các thiền sư nhà Trần đã truyền tải được tư tưởng Phật pháp bất ly thế gian, đem việc đạo đối chứng với sự đời và họ cũng là những tấm gương sáng của tinh thần biện chứng ấy Triết lý Phật giáo đã được các thiền sư nhà Trần vận dụng một cách biện chứng đầy sáng tạo vào

(http://diendankienthuc.net/diendan/triet-hoc-phuong-dong/20018-tu-tuong-bien-cuộc sống: sống thiền”

Tinh thần nhập thế của Phật giáo thời Trần của Như Hạnh ở

http://daitangkinhvietnam.org cho rằng, chính giai đoạn thời Trần với luồng gió

“nhập thế” lớn mạnh của Phật giáo đã dựng nên một bối cảnh huy hoàng của lịch

sử Việt Nam trải dài gần hai trăm năm, tạo nên những trang sử hào hùng oanh liệt của dân tộc Đại Việt đã ba lần chiến thắng đội quân xâm lược Nguyên - Mông Một

Trang 23

thời đại điển hình về những vị vua anh minh: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông Một thời đại Phật giáo Việt Nam chuyển sang bước ngoặt mới mà đỉnh cao là sự khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đứng đầu là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đắc đạo nhờ vị thầy lãnh đạo tinh thần phong cách siêu phóng Tuệ Trung Thượng Sĩ và các đệ tử kế thừa xuất sắc: Pháp Loa, Huyền Quang, Không những thế, chính tinh thần nhập thế của Phật giáo thời Trần đã làm xã hội Việt Nam rực rỡ cả về văn hóa mỹ thuật lẫn quân sự chính trị Phải nói rằng, Phật giáo thời Trần với tinh thần nhập thế đã tạo nên âm hưởng vang dội không chỉ một thời, mà còn vọng mãi không bao giờ dứt

Trong thời đại phong kiến, phải kể đến một kho tàng lý luận phong phú về

lịch sử Phật giáo như: Thiền Uyển tập anh ngữ lục Trong cuốn sách này phả hệ của

hai dòng Thiền Việt Nam là Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông được hệ thống hóa một cách khá đầy đủ Đây là nguồn tài liệu làm nền tảng để nghiên cứu về sự du

nhập của các dòng Thiền vào Việt Nam Ngoài ra còn cuốn Tam Tổ Thực Lục ghi

về hành trạng và sự truyền thừa của ba vị tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử là Trần

Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Cuốn Thiền uyển kế đăng lược lục, trên cơ

sở nhắc lại nội dung của Thiền Uyển tập anh ngữ lục đã đề cập, sách còn bổ sung

thêm sự phát triển của Phật giáo đầu triều Nguyễn…

Ngoài ra, phải kể đến tư tưởng Thiền của một số nhà tư tưởng tiêu biểu của Thiền Phật giáo Việt Nam như:

Khóa Hư Lục (1972), Trần Thái Tông, Nguyễn Đăng Thục dịch và chú thích,

Khuông Việt, Sài Gòn, Việt Nam; Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục giảng giải (1996),

Trúc Lâm Yên Tử tổ sư Trần Nhân Tông, người dịch và bình giảng là Hòa thượng

Thích Thanh Từ, Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN xuất bản

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về Thiền của các nhà Phật học, chúng ta không thể bỏ qua nguồn tài liệu vô cùng quý giá về Thiền của giới Tăng Ni Phật giáo Những tư liệu trên đề cập đến các tông phái và các thiền sư Việt Nam trong lịch sử, giúp chúng tôi có cơ sở để nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam Hiện nay, phong trào Chấn hưng Thiền học ở

Trang 24

nước ta đã và đang được dấy lên nhằm bảo tồn mạng mạch Thiền vốn có ở nước ta hơn mười thế kỷ

Nội dung của Thiền đã hiện diện trong tất cả các bài giảng của Hòa Thượng Thích Thanh Từ cho các Thiền sinh tại Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, được các đệ

tử của Ngài soạn thành tác phẩm Phụng Hoàng Cảnh Sách và Phụng Hoàng Sách

Tấn; trong một loạt sách mới xuất bản của Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng chứa

đựng nội dung của Thiền như Giận, Thả Một Bè Lau, Cho Đất Nước Đi Lên, Tuổi

Trẻ Lý Tưởng và Hạnh Phúc

1.2 Các công trình nghiên cứu Chấn hƣng và Chấn hƣng Phật giáo Bắc

Kỳ đầu thế kỷ XX

1.2.1 Các công trình về Chấn hưng

Cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Tài Thư (chủ biên) (1991), Viện

Triết học, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, trong chương XVII phần thứ năm, các tác giả đã đề cập đến Phong trào Chấn hưng Phật giáo những năm đầu thế kỷ XX ở ba miền: Bắc, Trung, Nam Sau khi trình bày khái quát nguyên nhân ra đời, các tác giả tập trung phân tích về những vấn đề tư tưởng triết học Phật giáo mà phong trào Chấn hưng đặt ra Tuy nhiên, nội dung của phong trào Chấn hưng Phật giáo được đề cập đến trong công trình này còn chung chung, mang tính sơ lược Song có thể nói, đây là một công trình tham khảo khá phù hợp với việc nghiên cứu thực tiễn về Phật giáo thời bấy giờ Các tác giả đã viết:

“Phong trào Chấn hưng Phật giáo rõ ràng đã có ảnh hưởng lớn Ngay từ lúc đương thời đã có nhiều người đánh giá Nho sĩ, người của các tôn giáo khác, người không đảng phái, không tôn giáo, người macxit và cả những người trong hàng ngũ Phật tử đều có ý kiến Họ đánh giá phong trào, đồng thời cũng đánh giá cả vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội Ngày nay, lịch

sử đã qua một chặng đường, ta đã có đủ thời gian và sự kiện để nhìn nhận các loại ý kiến đó một cách khách quan hơn, để phân tích ý kiến nào đó là đúng hay sai, hợp lý hay không hợp lý, sáng suốt hay không sáng suốt, và nếu có giá trị thì giá trị đến mức độ nào” [146, tr.491-492]

Trang 25

Trong bộ Việt Nam Phật giáo sử luận, (1994), NXB Văn học, Hà Nội, tác giả

Nguyễn Lang đã dành riêng tập III (ba) để tổng hợp và đưa ra một số quan điểm, nhận định về phong trào Chấn hưng Phật giáo, đồng thời khái quát về công cuộc chấn hưng từ 1930 đến 1945 Tác giả đã giới thiệu một số thiền sư tiêu biểu trong

cuộc chấn hưng Phật giáo này, phân tích một số nội dung mang tính “Phật học”,

chẳng hạn ở chương XXXVII, tác giả đã dành riêng một phần cho việc trình bày

Phật học và Phật giáo [83, tr.389] Tuy nhiên, trong phần này, Nguyễn Lang chỉ

nhận định một cách chung chung rằng: “chìa khóa của sự thay đổi là sự khác nhau

giữa chữ Phật học và Phật giáo” [83, tr.390] Sự thay đổi ở đây là đổi tên Hội Việt

Nam Phật học thành Phật giáo Việt Nam tại trung phần Nhưng theo quan điểm của

Nguyễn Lang: “Một hội Phật học có thể được chính quyền cho là một tổ chức học

Phật chứ không phải là một Giáo hội tôn giáo” [83, tr.390] Vậy Phật học có phải

là Phật giáo không? Theo quan điểm của chúng tôi, Phật học không đồng nhất với Phật giáo, mà chỉ là một phương diện học thuật nhằm làm sáng tỏ những nội dung của giáo lý Phật giáo Tác giả chưa đưa ra những lý lẽ thuyết phục ở quan điểm này

Trong cuốn Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách

mạng Tháng Tám, Tập II: Hệ ý thức Tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm

vụ lịch sử, của Trần Văn Giàu (1997), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, có sự phân

tích các vấn đề tư tưởng triết học Phật giáo của phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam như: quan điểm của Phật giáo về vấn đề Thượng đế tạo vật; về linh hồn bất tử; vấn đề có hay không “thiên đường” Ở thời kỳ cận hiện đại như thế này thì tác phẩm của Trần Văn Giàu là một dấu mốc lớn trong nghiên cứu tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam

Khi bàn về phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Duy Hinh

(1999) trong cuốn Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội cho rằng, phong trào Chấn hưng Phật giáo có hai đặc điểm cơ bản như sau: một là,

Phật học thay cho Phật giáo, với những biểu hiện như hiện đại hóa Tăng già, hiện

đại hóa việc truyền đạo; hai là, “tân” Phật giáo thay cho “cổ” Phật giáo, với sự ra

đời của nhiều nhóm tôn giáo trên cơ sở Phật giáo cổ truyền, tiêu biểu là Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài Ở đây xin lưu ý điều là đạo Cao Đài không phải là nhóm

Trang 26

tôn giáo trên cơ sở Phật giáo cổ truyền như tác giả nhận định, mà là tôn giáo hỗn dung cả về hình thức lẫn nội dung, thậm chí yếu tố Đạo giáo còn chiếm tỉ trọng cao hơn Phật giáo

Ngoài ra, khi nói về nội dung tư tưởng Phật giáo trong phong trào Chấn hưng

Phật giáo ở Việt Nam, tác giả tiếp cận ở ba phương diện: thứ nhất, là công tác đào tạo Tăng tài; thứ hai, là công tác dịch thuật, giới thiệu kinh sách và những khái niệm cơ bản trong giáo lý Phật giáo; thứ ba, là các phương pháp tu tập của Phật

giáo trong phong trào Trong ba nội dung cơ bản trên, nội dung về phương pháp tu tập của Phật giáo trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo được tác giả đề cập đến đặc điểm phương pháp tu tập, đó là: “Thiền - Tịnh song tu” nhưng ở đó người ta chú

trọng đến Tịnh hơn là Thiền Do đó, tư tưởng niệm Phật được coi là chủ đạo của

Phật giáo Việt Nam đương thời Khi đánh giá chung về tư tưởng Phật giáo trong phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam, tác giả đã chỉ ra rằng, những tranh luận về giáo lý Phật giáo thời kỳ này không đưa ra một tư tưởng Phật giáo nào mới như ở các nước khác Chúng tôi đồng ý với nhận định trên của tác giả

1.2.2 Các công trình về Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX

Trong năm 2008, tác giả Nguyễn Đại Đồng đã chủ biên và xuất bản các cuốn

như: Biên niên sử Phật giáo miền Bắc (1920 - 1953) (2008), NXB Tôn giáo, Hà

Nội Nội dung cuốn sách ghi chép các Phật sự theo tháng năm, tính từ năm 1920 là năm có thể coi là tiền Chấn hưng Phật giáo cho đến năm 1953, đây cũng chính là năm Giáo hội Tăng già Việt Nam cử những Tăng sinh đầu tiên ra nước ngoài tu học Cuốn sách được chia làm bốn chương mang tính chất tương đối tương ứng với các thời kỳ Chấn hưng Phật giáo Việt Nam Việc phân chia này thể hiện sự việc diễn ra theo một dòng chảy liên tục cụ thể như sau: Chương 1: Thời kỳ tiền Chấn hưng Phật giáo (1920 - 1934), tại chương này, tác giả đã sưu tầm, nghiên cứu tài liệu và cho ta rõ những người khởi xướng phong trào Chấn hưng Phật giáo trên báo chí như ông Nguyễn Mục Tiên, Giáo thụ Thiện Chiếu, sư Tâm Lai… và cũng ngay

từ chương này, chúng ta biết được nguyên nhân vì sao phải vận động phong trào Chấn hưng Phật giáo những năm 1926 - 1928 ở miền Bắc; Chương 2, tác giả trình

Trang 27

bày chấn hưng Phật giáo từ năm 1935 - 1944, Hội Phật giáo Bắc Kỳ chính thức đi vào hoạt động và tiến hành Chấn hưng; Chương 3 là thời kỳ 1945 đến toàn quốc kháng chiến vào 19/12/1946 và chương cuối nêu thời kỳ kháng chiến chống Pháp từ

1947 đến 1953

Cuốn Phong trào Chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam từ 1927 -

1938), (Tư liệu báo chí Phật giáo Việt Nam 1929 - 1945) của Nguyễn Đại Đồng -

Nguyễn Thị Minh (2008), NXB Tôn giáo, Hà Nội Các tác giả đã tổng hợp các bài viết đăng trên báo, tạp chí nói chung và những bài viết nói riêng về chấn hưng Phật giáo ở ba miền trong giai đoạn từ 1927 đến 1938, 1929 - 1945, được tổng hợp từ Thư viện Trung ương Hà Nội, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Thư viện TP Hồ

Chí Minh, một số tư liệu tập hợp thành cuốn sách nhan đề Chấn hưng Phật giáo

gồm: Tình hình chính trị - xã hội, nguyên nhân cơ bản cho sự xuất hiện phong trào Chấn hưng Phật giáo ở ba miền; Ý nghĩa, vai trò của việc Chấn hưng Phật giáo

Cuốn Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929 - 2008) của Nguyễn Đại Đồng

(2008), NXB Tôn giáo, Hà Nội, là một trong những cuốn cung cấp đầy đủ, hoàn chỉnh về báo chí Phật giáo trong khoảng thời gian mà tác giả đã khảo cứu và sưu tầm

Luận án của Lê Tâm Đắc (2008) với đề tài “Phong trào Chấn hưng Phật

giáo ở Bắc Kỳ”, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hà Nội đã tập trung nghiên cứu về

phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ như: Sự ra đời, nội dung, đặc điểm và vai trò của phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ Đây là một công trình trình bày hệ thống về sự chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ từ sự ra đời, nội dung và đặc điểm của nó với những nguyên nhân nội tại cũng như sự tác động từ bên ngoài, cùng những diễn biến của sự phục hưng ấy trong lý luận, tổ chức và hành động Từ

đó cho thấy một trào lưu phát triển của Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Bắc Kỳ nói riêng với đầy đủ những bối cảnh, chính trị, xã hội và văn hóa của nó trong giai đoạn đầy biến động này Qua tài liệu nghiên cứu tham khảo của Lê Tâm Đắc, chúng tôi thấy được vai trò của những trí thức Phật giáo trong việc tham gia vào đời sống chính trị của đất nước

Trang 28

1.3 Các tài liệu đánh giá mối quan hệ giữa nhập thế và cuộc Chấn hƣng của Thiền Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX

Cuốn Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902 - 1954) (2008), Viện Nghiên cứu

Phật học Việt Nam, NXB Tôn giáo do Nguyễn Đại Đồng thực hiện Sách là tập hợp những bài tham luận viết về Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, trong đó Vũ Tuấn Sán

với bài Thiều Chửu - Một tấm gương sáng kết hợp tinh thần yêu nước với đạo Thiền

đã phân tích và chỉ rõ tinh thần yêu nước đến chí hướng hăng say phục vụ Phật pháp Đặc biệt trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo với những hành động cụ thể của mình như: đem máy in của mình cho Hội Phật giáo Bắc Kỳ ngay khi Hội được thành lập, dịch kinh sách, viết bài cho báo Dù bận rộn công việc tại báo Đuốc Tuệ nhưng Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha còn tham gia vào hoạt động trong các tổ chức cứu tế xã hội như “năm 1936, ông vào giúp việc cho Hội Tế sinh của cụ Cả Mọc - một nhà từ thiện nổi tiếng đương thời Thiều Chửu đã cùng cụ Cả Mọc và nhiều nhà hoạt động xã hội như ông Hoàng Đạo Thúy, Trần Duy Hưng đem tiền gạo đến tận nơi trao thẳng tới những gia đình bị nạn” [49, tr.40] Tác giả Đặng Vũ Khiêu

trong bài Phát biểu tại sinh hoạt lịch sử tưởng niệm 100 năm sinh nhà Văn hóa

Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (6.1902 - 6.2002) rằng “là một người nhập thế, cụ đã

đem hết cả trí tuệ và tâm hồn của mình để phục vụ nhân dân, phục vụ cho Tổ quốc Cứu dân và báo quốc là hai điều đã trở thành lẽ sống của dân tộc chúng ta, trở thành truyền thống của dân tộc, thành đạo lý làm người, quán triệt từ đời này qua đời khác” [49, tr.71]

Cuốn Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải (1906 - 1979) (2009), NXB Tôn giáo, Hà Nội và cuốn Kỷ yếu Hội thảo Đại lão Hòa thượng Tố Liên (1903 - 1977)

(2009), NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách là tập hợp những bài viết về Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải và Đại lão Hòa thượng Tố Liên - những con người với sự giác ngộ và tự giác ngộ của tinh thần thiền nhập thế thể hiện qua những hành động cụ thể, đem đạo vào đời, giúp ích cho công cuộc chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX

và đặt nền tảng cho sự phát triển Phật giáo về sau Trong bài Phong trào Chấn hưng

Phật giáo miền Bắc (1930 - 1945) - một số thành tựu và kinh nghiệm của Bạch

Thanh Bình cho biết “thiền sư Trí Hải đã có nhiều tâm huyết và sáng kiến về lý

Trang 29

thuyết “Nhân gian Phật giáo” Có thể coi đây là tư tưởng và chủ trương nhập thế, bước đầu phác thảo và đề xuất “học thuyết xã hội Phật giáo” trên các lĩnh vực cứu

tế tương trợ từ thiện nhân đạo; xây dựng cá nhân, gia đình và xã hội; phát triển kinh

tế và văn hóa v.v ” [37, tr.183] Như vậy, thiền sư Trí Hải với sáng kiến về lý thuyết “Nhân gian Phật giáo” hay chính là “đạo Phật giữa đời” đã nhập thế tích cực với việc đem đạo vào đời, nhận thức rõ “Phật pháp bất ly thế gian giác”, đạo Phật luôn gần gũi, tham gia tích cực vào đời sống sống, gắn bó dân tộc với dân chúng

Bùi Hữu Dược với Đôi nét về cuộc đời và đóng góp của Hòa thượng Tố Liên cho

đạo pháp và dân tộc đã làm rõ tiểu sử cũng như những đóng góp của Hòa thượng

Tố Liên trong phong trào Chấn hưng Phật giáo với những hành động cụ thể như với cương vị được bầu làm Trưởng ban cứu tế, dùng căn nhà trong chùa Quán Sứ để làm nơi nuôi dậy Bùi Hữu Dược khẳng định “Cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Tố Liên là một tấm gương tiêu biểu của một vị cao tăng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam” [81, tr.39] Với những công lao và đóng góp của thiền sư Trí Hải và Hòa thượng Tố Liên, đã làm bật tinh thần thiền nhập thế thể hiện qua phong trào Chấn hưng Thiền Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX

Bên cạnh những tờ báo Phật giáo đầu tiên là Nguyệt san Pháp Âm, tiếp đến

là Phật hóa Tăng Thanh niên, Từ Bi Âm, Viên Âm, Tập Kỷ yếu, Tiếng chuông sớm đến Đuốc Tuệ rồi Duy tâm Phật học, Pháp Âm, Bồ Đề tạp chí, Tam Bảo chí, Tiến Hóa, Quán Âm, Tinh Tiến, Tòa Sen, Diệu Âm, Giải thoát Trong số đó, tại miền Bắc, nổi bật là báo Đuốc Tuệ với các số liên quan đến Phật giáo nói chung và phong

trào Chấn hưng Thiền Phật giáo nói riêng với một số bài như: Một vài ý kiến về việc

chấn hưng Phật giáo của Samôn Thanh An (Báo Đuốc Tuệ, số 41, năm 1936), Trưng cầu về ý kiến cải cách trong Phật giáo (báo Đuốc Tuệ số 89 năm 1938), Ý kiến về vấn đề cải cách trong Phật giáo của Thích Thanh Đặc (báo Đuốc Tuệ số 108 năm 1939), Tôi tu Tịnh Độ của T.C (các số 154, 155, 160, 161, từ 165 đến 166, năm 1941), Phật giáo với Nhân gian của T.C (Báo Đuốc Tuệ, số 190, 191, năm 1942), v.v

Tóm lại, cuộc chấn hưng của Thiền Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX là sự kiện lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Nó diễn ra như một tất yếu lịch sử do sự yếu kém tới mức báo động của giới Tăng già có thể dẫn đến sự tồn vong của Phật giáo ở Việt

Trang 30

Nam nói chung, của Thiền Phật giáo Bắc Kỳ nói riêng Sự kiện đó diễn ra rõ ràng là từ

sự đòi hỏi về tồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam Nó kéo theo một hiệu ứng, có thể nói, chưa từng có trong lịch sử Phật giáo về vấn đề lý luận, làm cho tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Bắc Kỳ mang những sắc thái mới thông qua một số quan điểm xoay quanh các nội dung giáo lý mà trước đó hàng trăm năm dường như nó chỉ chú trọng đến thực hành thiền để các nhà tu hành dựa vào đó để điều chỉnh ý thức, hành vi tới con đường giải thoát

1.4 Luận án tiếp tục làm rõ tư tưởng nhập thế trong phong trào Chấn hưng của Thiền Phật giáo Bắc Kỳ

Từ những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án được các nhà khoa học đề cập ở trên, tác giả luận án nhận thấy những vấn đề cần tiếp tục giải

quyết như sau:

Về lý luận, nghiên cứu về Thiền Phật giáo là vấn đề rộng, đã có nhiều công

trình được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Điều mà chúng tôi nhận thấy cần tiếp tục khái quát những vấn đề chung về Thiền Phật giáo dưới sự tác động qua lại giữa các tông phái khác nhau của Phật giáo ở Việt Nam trong lịch sử như: Mật Tông, Tịnh Độ Tông Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy không thể bỏ qua ảnh hưởng của hai học thuyết khác trong tổ hợp Tam giáo là Nho giáo và Đạo giáo Do vậy, vấn đề lý luận đặt ra trong luận án là làm thế nào để trình bày những nét chung nhất về tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo theo nguồn mạch tư tưởng của nó trong lịch sử Phật giáo Việt Nam trong sự tương tác nói trên

Về thực tiễn, mặc dù các nhà khoa học, các thiền sư, học giả đã tập trung

nghiên cứu nhiều về vấn đề về tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, song vấn đề cần làm

rõ là Thiền Phật giáo qua các thời kỳ đó có lúc thăng, lúc trầm, lúc thịnh, lúc suy thì

tư tưởng nhập thế của nó có ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống, xã hội như thế nào? Ở thời kỳ Chấn hưng của Phật giáo thì ảnh hưởng của tư tưởng Thiền nhập thế được thể hiện ra sao?

Trang 31

Về phương hướng và giải pháp, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu tư

tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo… nhưng các công trình đó chủ yếu tập trung về

tư tưởng nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần bởi dưới thời đại này, Phật giáo không chỉ được tôn vinh như một tôn giáo chủ đạo đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội thời kỳ này Từ đó, các công trình nghiên cứu

đã rất linh hoạt, rất biện chứng bởi những nét đặc thù của nó cả trong lý luận (bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật) lẫn trong thực tiễn hành đạo (tùy duyên, tự tại, phóng khoáng, miễn là giữ được nguyên tắc bất di bất dịch: Phật tại tâm), đánh giá vai trò của Phật giáo như một tôn giáo đã góp phần làm nên một thời kỳ thịnh vượng, yên bình nhưng không kém phần hiển hách trong các cuộc kháng chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia Do đó, luận án tiếp tục giải quyết nhiệm vụ đã đặt ra thông qua việc khảo cứu, khái quát những nét chung nhất nhằm nói lên vai trò của tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo mang tính thời đại trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Những vấn đề đặt ra trên đây được chúng tôi xác nhận sơ bộ, là mảng trống mà luận án phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn

tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Bắc Kỳ qua phong trào chấn hưng của nó đầu thế kỷ XX

Tiểu kết chương 1

Nghiên cứu về phong trào Chấn hưng Phật giáo nói chung, Thiền Phật giáo nói riêng ở Việt Nam đầu thế kỷ XX là lĩnh vực được đặt ra hết sức cấp bách bởi đây là giai đoạn lịch sử gắn liền với những biến động lớn của đất nước Các công trình nghiên cứu được chúng tôi khảo sát trên đây chủ yếu được tiếp cận từ các chuyên ngành cụ thể như: Tôn giáo học, Sử học, Văn học, v.v., nếu có các công trình tiếp cận triết học thì điều đó chỉ ở những mức độ nhất định, nghĩa

là chưa đi sâu lý giải về nguyên nhân, hệ quả cũng như giá trị và hạn chế của phong trào Chấn hưng Thiền Phật giáo đầu thế kỷ XX Những vấn đề được chúng tôi xác định ở tiểu tiết 1.4 nhằm góp phần bổ sung cho sự thiếu hụt trong các công trình nói trên

Trang 32

Chương 2

NHẬP THẾ VÀ TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ XUẤT HIỆN TRONG

QUÁ TRÌNH CHẤN HƯNG CỦA THIỀN PHẬT GIÁO

2.1 Nhập thế và lịch sử tư tưởng nhập thế của Phật giáo

2.1.1 Khái niệm nhập thế

Nhập thế (入世) và xuất thế (出世) là hai khái niệm đối lập nhau được dùng

để chỉ tư tưởng và hành động của con người trong đời sống xã hội Việc tìm hiểu nội hàm của hai khái niệm này trong Phật giáo, là cần thiết để hiểu rõ hơn về tư tưởng nhập thế của Phật giáo nói chung và Thiền Phật giáo Việt Nam nói riêng

Theo Hán Việt Từ điển thì “thế” (世) được giải nghĩa theo 12 (mười hai)

trường hợp, vì vậy phải tùy vào tính chất và hoàn cảnh để hiểu nghĩa của “thế”

Trong ngữ cảnh của luận án, “thế” trước hết được hiểu là đời Ba mươi năm cũng là

một đời Hết đời cha đến đời con cũng là một đời Tựu trung lại, cả cuộc đời chính

là thế

“Thế” còn được hiểu là “thế sự” (世事), tức là việc đời, và “thế tục” (世俗), tức là tục đời

“Nhập” là vào, đối lập với “xuất”

Khái niệm nhập thế đối lập với xuất thế Theo Từ điển Tiếng việt: xuất thế là

“lánh đời, lui vào ở ẩn hoặc đi tu, không tham gia hoạt động xã hội” [122; tr

1875], còn nhập thế là “gánh vác việc đời, không xa lánh cõi đời” [122; tr 1243]

Nếu hiểu theo Hán Việt Từ điển, thì nhập thế mang tính chiết tự, còn hiểu theo Từ điển Tiếng việt thì nhập thế mang ý nghĩa miêu tả

Phải chăng Phật giáo là một tôn giáo xuất thế? Có phải chính Phật giáo là một tôn giáo không trực tiếp đặt vấn đề hoạt động chính trị - xã hội trong các giáo

lý của nó mà phương diện nhập thế bị lu mờ? Thực ra, trong giáo lý của Phật giáo không đề cập đến các vấn đề xã hội, ngay cả triết lý về sự khổ đau của con người vốn rất căn bản cũng không được nó lý giải bởi nguyên nhân từ xã hội, mà là nghiệp của các kiếp trước của bản thân cá nhân để lại Do đó, tinh thần nhập thế của Phật

Trang 33

giáo không xuất phát từ bản chất của nó trong học thuyết, mà do đòi hỏi của đời sống tôn giáo, thông qua đời sống tôn giáo thường ngày (chính trị, kinh tế, văn hóa) làm cho giáo lý Phật giáo được giải thích lại hoặc đưa thêm nội hàm mới (thường dẫn tới sự phân phái) - từ đó mở ra khả năng tham gia của Phật giáo vào những việc vượt ra ngoài phạm vi tu dưỡng tâm linh của Phật giáo

Trong Phật giáo, “nhập thế” là sự thể hiện quá trình thích ứng của Phật giáo trước những đòi hỏi mới của thực tiễn

Phật giáo là một tôn giáo xuất thế Điều đó đã được thừa nhận một cách phổ biến trong giới nghiên cứu Tuy nhiên, cũng như bất kỳ một tôn giáo nào trên thế giới, Phật giáo cũng có cả những nội dung và hình thức biểu hiện về nhập thế Khái

niệm “nhập thế” của Phật giáo dùng để chỉ hoạt động của tăng sĩ nói riêng và phật

tử nói chung dưới nhiều hình thức khác nhau trong nếp sống sinh hoạt xã hội như các hoạt động từ thiện, cứu trợ thiên tai, giúp đỡ người nghèo gặp nạn.v.v Bên cạnh

đó, còn góp phần giải quyết những vấn đề môi sinh, ý thức hệ, giáo dục thanh thiếu niên.v.v trên tiêu chí phụng sự nhân sinh xã hội, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, con người được bình yên, hạnh phúc ngay tại thế giới hiện thực

Thời đức Phật, khái niệm “nhập thế” đã được định hình trong văn hóa Ấn

Độ: “Này các Tỳ - kheo, hãy đi đi, đi khắp nơi vì lợi lạc và hạnh phúc của số đông, do

lòng từ bi đối với cuộc đời, vì lợi lạc và hạnh phúc của trời và người, chớ đi hai người chung đường với nhau…” (Mahavagga, 11 - Đại phẩm) - Đó chính là nhập thế Ngoài

ra, từ thực tiễn đời sống tôn giáo, từ cách tiếp cận với những biến đổi của thời đại như chính trị - xã hội, khoa học - kỹ thuật mà Phật giáo cần phải tính đến để làm cho giáo lý cũng như các cách thức đạt đến mục đích, tông chỉ của nó phù hợp hơn Nói cách khác, những cuộc chấn hưng trong lịch sử Phật giáo trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều

có xu hướng tôn giáo là luôn đề cao tính tự do, tự tại, không câu nệ vào giáo lý cũng như ngôn ngữ tôn giáo của Phật giáo Nguyên thủy

Phật giáo Nguyên thủy quan niệm đời người là bể khổ, kiếp người là trầm luân Nỗi khổ truyền kiếp ấy không phải do nguyên nhân xã hội, mà do nghiệp (karma) của kiếp trước quy định Nguyên nhân đầu tiên mang tính bao trùm tất cả là

do con người không có tri thức (vô minh) về thế giới và bản thân là giả tạm, cứ bám

Trang 34

đuổi theo để thỏa mãn lòng tham, khiến cuộc đời bị trói buộc trong tam độc (tham, sân, si) Khi coi thế giới này là giả tạm, Phật giáo tiến tới phủ nhận đời sống hiện thực của con người, từ đó đưa ra chủ trương xuất thế để hướng tới Niết bàn

Phật giáo chia làm hai nhánh lớn: Phật giáo Nguyên thủy (Phật giáo Nam Tông) và Phật giáo Đại thừa (Phật giáo Bắc Tông) Hai nhánh này có quan niệm không giống nhau về đích giải thoát (tức nhập Niết bàn - Nirvana) Niết bàn là một trong những trạng thái tinh thần hoàn toàn được giải thoát ra khỏi mọi đau khổ của cuộc đời Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn) Phật giáo Nguyên thủy hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế và sau khi chết không còn tái sinh, không còn luân hồi nữa Đó là mục đích cuối cùng của các tín đồ Phật giáo Nguyên thủy Từ đó họ đi tới kết luận chỉ có thể giải thoát khổ đau bằng con đường

lánh đời, thoát tục, xuất gia tu hành, lấy “diệt tận làm cứu cánh” với phương châm diệt (滅 - diệt mọi phiền não), tận (儘 - chấm dứt mọi nghiệp sinh tử), ly (離 - giải thoát khỏi nỗi khổ trong ba cõi), diệu (妙 - đạt tới Vô dư Niết bàn)

Niết bàn mà Phật giáo Nguyên thủy hướng tới là Niết bàn xuất thế, lánh đời, đạt được bằng lối tu nhẫn nhục chịu đựng khổ nạn, lánh đời Vì vô ngã là Niết bàn nên muốn đến được Niết bàn, con người phải từ bỏ những niềm vui và những yêu thương, khát khao ở hiện tại

Trong khi đó, Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn - một Niết bàn nhân bản, sống trong thế gian mà đạt cảnh giới Niết bàn Hữu dư Niết bàn quan niệm rằng, con người tuy đã đoạn diệt phiền não, song vì nghiệp cũ vẫn còn sắc thân, vì vậy mới mở ra con đường nhập thế cho tín đồ Phật giáo để nó hoạt động cùng những vui buồn nhân thế

Theo Phật giáo Đại thừa, để tới được Niết bàn, một mặt, con người phải giác ngộ được lẽ vô thường; mặt khác, phải đạt được tự do tinh thần, không bị ngoại cảnh chi phối, chỉ khi nào thoát khỏi chấp ngã (mắc vào cái tôi cá nhân), mới đạt tới Niết bàn Con đường tu hành đó không bao giờ chấm dứt, cho nên Đại thừa thường

có câu: “Tu đến thành Phật cũng không thôi” Hoặc cũng có thể nói rằng, đó là con

Trang 35

đường vĩnh viễn luân hồi, giải thoát ngay trong luân hồi Sự khác nhau trong quan niệm về Niết bàn của Nguyên thủy và Đại thừa quy định hai lối tu khác nhau

Với Vô dư Niết bàn, Nguyên thủy thực hành lối tu xuất thế, lánh đời Với Hữu dư Niết bàn, Đại thừa thực hành lối tu nhập thế, sống hòa cùng đời tục, giác ngộ giữa cuộc đời, đời là Đạo, Đạo là đời

Trong “Bát chính đạo”, chủ trương xuất thế tập trung Thiền định để đi đến giác ngộ của Nguyên thủy Phật giáo, tuy không bị Thiền tông hoàn toàn phủ nhận nhưng phát kiến phương pháp mới của Thiền là tự do, tự tại như đi thiền, đứng thiền, ngủ thiền Chúng tôi cho rằng, giữa quan điểm tu thiền của Thiền tông và nhập thế có sự tương hỗ thúc đẩy

Nhập thế ở Phật giáo trong so sánh với Nho giáo và đạo Lão Trang sẽ làm rõ hơn đặc trưng riêng của Phật giáo

Nho giáo - một hệ thống lý luận mang tính thực tế chính trị và luân lý, dựa trên nền tảng đạo đức chân chính mà từ thời nhà Hán trở đi, các triều đại phong kiến Trung Quốc đều lấy Nho giáo làm đạo trị nước Học thuyết của Nho giáo có nội dung mang đậm tính chất nhập thế Tâm tính học của Nho giáo chủ trương tu tâm dưỡng tính ngay trong các quan hệ nhân tình thế tục là cha - con, anh - em, chồng -

vợ Nho giáo nhấn mạnh mặt xã hội của con người, nó đòi hỏi con người phải có ý chí tiến thủ mạnh mẽ, tinh thần tự cường không nghỉ, có trách nhiệm về sứ mệnh lịch sử đối với xã hội Các nhà Nho là những người được đào tạo ra để làm quan, làm tướng giúp vua trị dân, trị nước Thái độ nhân sinh tích cực này của Nho giáo

thường được gọi là: nhập thế để phân biệt và đối với khuynh hướng xuất thế trong

triết học Lão Trang Để xứng đáng là mẫu người có tài, có đức mà Nho giáo coi đó

là hiền nhân, quân tử, trượng phu trong việc “trị nhân”, con người trước hết phải ý thức rõ quá trình tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Đó là con đường “tu kỷ” hết sức khó khăn không phải ai cũng tới đích để trở thành con người hoàn toàn, hay nói cách khác, là mẫu người lý tưởng

Tư tưởng Lão Trang xem cuộc đời chỉ là hư ảo, như một giấc chiêm bao Cụ thể là Trang Tử, người được coi như là nhân vật tiếp nối tư tưởng Lão Tử, sau này

còn nâng cuộc đời lên một mức cao hơn qua chuyện Trang Chu hóa bướm Ông

Trang 36

nằm mơ thấy mình hóa bướm và khi thức giấc băn khoăn tự hỏi, không biết mình nằm mơ hóa bướm hay bướm nằm mơ hóa ra mình? Tuy nhiên, khi đã nhìn cuộc đời như vậy, thái độ của người theo khuynh hướng Lão Trang là xuất thế, hướng nhàn, theo đuổi một triết lý sống “tri túc” (biết đủ), tự bằng lòng với những gì mình

có do tự nhiên ban tặng Vì vậy, triết lý của Lão - Trang theo cách “xử thế nhược

đại mộng, hồ vi lao kỳ sinh?” (Nghĩa là: Đã xem cuộc đời như một giấc mộng lớn

thì tội gì phải lao nhọc cho khổ thân?) Tinh thần xuất thế của Lão Trang như vậy là

mang nặng màu sắc bi quan, tiêu cực, yếm thế, trong khi cái nhìn của Phật giáo là cái nhìn xuyên suốt bản chất của hiện tượng, theo hướng trung đạo, do đó tinh thần xuất thế của Phật giáo mang tính chất tích cực và năng động được thể hiện qua tinh thần Bồ tát đạo của Phật giáo Đại thừa Dù có ly gia xuất thế thì người phật tử cũng luôn có tâm nguyện tu đạo để thành Bồ tát Phật, để đến lượt mình cứu độ chúng sinh thoát khỏi những khổ đau, đưa chúng sinh ra khỏi cơn mê dài đến bến bờ giác ngộ Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề nhập thế của Phật giáo để tìm hiểu mối quan hệ của nó với giải thoát luận

Bên cạnh khái niệm nhập thế còn có nhiều nhà nghiên cứu, các học giả ở trong và ngoài nước đã đồng nhất khái niệm “nhập thế” và khái niệm “thế tục hóa”

Khái niệm “thế tục hóa” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “seaculum” (thetransfer of power to the secular) Khởi đầu từ này được dùng trong bối cảnh văn hóa Kitô giáo, để chỉ việc chuyển giao một số quyền lực chính trị, tôn giáo và lãnh địa vốn thuộc Giáo hội thần thánh cho xã hội thế tục; như việc tách nhà trường, tòa

án ra khỏi nhà thờ Dần dần, khái niệm thế tục hóa được dùng để mô tả sự tự chủ hóa của các hoạt động, các hình thức tư tưởng so với nền văn hóa truyền thống mà

các giá trị Kitô giáo lấy đó làm cơ sở Đó cũng chính là “quá trình công năng của một

bộ phận tôn giáo bị công năng xã hội có tính chất phi tôn giáo thay thế” [80, tr 12]

Theo tác giả Đỗ Quang Hưng,

“quá trình thế tục hóa liên quan đến sự giải phóng hữu hiệu mối quan hệ giữa con người với thế giới mà không bị các truyền thống tôn giáo kiềm chế Kéo theo đó là việc thiết lập mối quan hệ về luật pháp trong đó nhà nước hoàn toàn trung lập về mặt tôn giáo đồng thời dẫn đến sự hình thành một xã hội

Trang 37

dân sự mà ở đó công dân được hưởng các quyền về luật pháp cá nhân cũng như được giải phóng một cách tương đối trong việc thực hành đời sống tôn giáo so với các học thuyết, giáo luật của tôn giáo đã được Giáo hội chế định” [74, tr 62]

Như vậy có thể hiểu “thế tục hóa” là quá trình giải thiêng, giải thần thánh hóa của các tổ chức, thể chế xã hội, tách dần và độc lập khỏi tôn giáo

Mặc dù, hai thuật ngữ “nhập thế” và “thế tục hóa” đều phản ánh quan hệ tôn giáo với xã hội ngoài tôn giáo, song hai thuật ngữ này khác nhau về mặt ngữ nghĩa: nếu “thế tục hóa” là sự chuyển giao các quyền chính trị, giáo dục cho các tổ chức ngoài tôn giáo (các lực lượng thế tục) như: tách dần nhà nước khỏi tôn giáo, Giáo hội trao lại quyền lực chính trị cho Nhà nước (tức là Nhà nước thế tục hóa quyền lực điều hành chính trị mà trước đó quyền lực cao nhất này thuộc về Giáo hội, như

ở Bà La Môn giáo (Ấn Độ) và Công giáo (Châu Âu thời Cổ đại và Trung cổ), hay tương tự như việc tách tòa án và nhà trường ra khỏi nhà thờ ở Châu Âu thời Khai sáng…, thì thuật ngữ “nhập thế” lại chỉ sự chủ động tham gia của các lực lượng tôn giáo vào các vấn đề thế tục như chính trị, kinh tế, văn hóa, thậm chí cả quân sự…

Là một tôn giáo xuất thế, nhưng trong quá trình du nhập, truyền giáo và hòa nhập với nền văn hóa, văn minh bản địa của mỗi quốc gia, Phật giáo đã không ngừng nhập thế Trong xu hướng hội nhập hiện nay, khi đời sống tôn giáo thế giới đang đứng trước xu thế đa nguyên tôn giáo, “nhập thế” và “thế tục hóa” bổ trợ và cộng hưởng nhau Quá trình thế tục hóa có thể góp phần làm cho các tôn giáo chủ động nhập thế hơn, và ngược lại, nhập thế cũng làm cho quá trình thế tục hóa diễn

ra nhanh hơn Cùng với sự biến động của lịch sử, các tôn giáo liên tục thay đổi và hội nhập cùng đời sống

Như vậy, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thời đại mới, các tôn giáo đã không ngừng thay đổi, điều chỉnh để phù hợp với sự biến đổi của xã hội Ở Việt Nam, các tôn giáo đều chủ trương hòa hợp, tích cực hội nhập vào cuộc sống, tạo phúc lợi cho xã hội, thông qua đó để thể hiện tinh thần nhập thế tích cực Phương châm hoạt động của Phật giáo trong sự đồng hành với vận mệnh dân tộc là “Đạo pháp - Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”; của Công giáo là “Sống phúc âm giữa lòng

Trang 38

dân tộc, để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” Tại Trung Quốc các tôn giáo cũng có khuynh hướng tương tự như ở Việt Nam, Phật giáo đã đề xướng tư tưởng “trang nghiêm quốc thổ, lợi lạc hữu tình”, “hiện thực nhân gian tịnh thổ”; Islam giáo thì nhấn mạnh: “Yêu nước là một bộ phận của đức tin”; Công giáo còn chủ trương:

“Yêu nước yêu đạo đều là giới răn của Thiên Chúa”… [80, tr.17] Tại Nhật Bản, trong khung cảnh toàn cầu hóa, “các tôn giáo đều đổi mới không ngừng của tính hiện đại và góp phần to lớn tạo ra môi trường cho mỗi con người có thể hòa hợp với những thay đổi liên tục của xã hội” [74, tr.63] Nhìn chung các tôn giáo ở các quốc gia trên thế giới đều đang phát triển mạnh theo xu hướng nhập thế, chủ động thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập, đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người, góp phần làm cho xã hội ngày một tiến bộ

và nhân văn hơn… Ngày nay, Phật giáo đã từ Châu Á truyền sang hầu hết các châu lục Phật giáo có sức sống và sự lan tỏa lớn như vậy là nhờ tinh thần nhập thế tích cực Vốn là một tôn giáo xuất thế, song từ nền móng triết học của Phật giáo đã có tính vô thần và giả thần quyền cùng với tinh thần bình đẳng tôn giáo sâu sắc, đồng thời chứa đựng sẵn trong hệ thống giáo lý là tinh thần nhập thế

Hơn nữa, tư tưởng nhập thế của Phật giáo là nội dung được bàn nhiều ở các công trình nghiên cứu khoa học trong xã hội hiện đại Tại hội thảo “Phật giáo nhập thế trong thế kỷ XXI” được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 12 năm 2006, khái niệm Phật giáo nhập thế được nhìn nhận từ góc độ chức năng, nhiệm vụ của tăng sĩ Theo đó, tăng, ni có hai nhiệm vụ cơ bản là học tập giáo pháp (thông Tam tạng kinh điển) và thiền định Hội thảo cũng đã đưa ra các dạng thức của Phật giáo nhập thế: nhập thế xuất phát từ pháp môn thiền định về lòng từ ái, phát khởi tâm từ bi, đi vào cuộc đời để giúp cuộc đời; đem giáo pháp của đức Phật đi vào cuộc sống Phật giáo nhập thế còn quan tâm đến vấn đề chính trị, văn hóa, đạo đức lối sống…

Như vậy, nhập thế ngay từ giáo lý nguyên thủy là Phật giáo từ bi, Phật giáo đáp ứng, đối mặt với đau khổ của con người và giải thoát con người khỏi mọi khổ đau Điều đó thể hiện ngay trong quan niệm “Tứ vô lượng tâm” (Từ, Bi, Hỉ, Xả) của Phật giáo Từ là tâm yêu thương luôn đem lại niềm vui cho tất cả chúng sinh Bi là

Trang 39

tâm thương xót, san sẻ như bớt niềm đau của muôn loài Hỉ là tâm vui mừng khi thấy người khác hết đau khổ Xả là tâm không chấp cả những hành vi tốt đẹp đã làm

vì tha nhân Ngoài nghĩa từ bi hỉ xả như vậy, Phật giáo nhập thế còn có nghĩa là Phật giáo áp dụng Tức là áp dụng những gì đã có trong giáo lý, trong thực hành thiền định, trong trí tuệ đã đạt giác ngộ của thiền định… vào điều kiện cụ thể của cuộc sống hiện tại Như vậy, hai nội dung hành động cơ bản của tinh thần nhập thế của Phật giáo chính là việc đem tư tưởng từ bi của nhà Phật vào giúp đời và bằng trí tuệ bát nhã áp dụng các tư tưởng đắc dụng của Phật giáo vào giải quyết các vấn đề

xã hội

Phật giáo thường được coi là một tôn giáo xuất thế, lánh đời, song xem xét

kỹ thì ngay trong nền tảng triết học của hệ thống giáo lý cho thấy nhập thế là một yếu tố có sẵn trong giáo lý Phật giáo nguyên thủy Đó là triết lý Vô ngã trên cơ sở học thuyết Duyên khởi, Vô thường được luận chứng trên tinh thần bình đẳng tôn giáo về bản chất “khổ” của cuộc đời, bác bỏ vị trí thần thánh tối thượng của đẳng cấp Bà La Môn trong Bà La Môn giáo ở Ấn Độ đương thời Và tinh thần nhập thế

đó của Phật giáo vẫn đang tiếp tục được phát huy trong xã hội hiện đại cùng với xu hướng chung của các tôn giáo trên thế giới hiện nay Phật giáo đã thực sự đổi mới

và thích ứng với xã hội trong thời đại toàn cầu hóa

2.1.2 Khái quát về lịch sử tư tưởng nhập thế của Phật giáo

Triết lý nhập thế hay tư tưởng nhập thế của Phật giáo có từ rất sớm, thể hiện

rõ từ thời đức Phật

Phật giáo ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là những tư tưởng triết học và đạo đức nhân văn trong kinh điển Veda, Brahmana (Phạm thư) và triết học Upanisad (Áo nghĩa thư) Trong

đó, Kinh điển Veda là nguồn tư tưởng thứ nhất của thời kỳ Bà La Môn giáo với nội

dung mang tính thần thoại về vũ trụ và nhân sinh Đây là tư tưởng mở đầu cho triết học Ấn Độ, “là cơ sở để khai triển cho những trào lưu tư tưởng hậu lại” [77, tr.15]

Thời đại Brahmana là nguồn tư tưởng ở thời kỳ thứ hai của Bà La Môn giáo “Vì giai cấp Bà La Môn chủ trương công việc lễ nghi, tôn giáo, nên đã chế tạo ra bộ kinh điển Brahmana, để chú thích và thuyết minh kinh điển Veda” [77, tr.15] Vì

Trang 40

những chủ trương cụ thể của Bà La Môn giáo nên nội dung của kinh điển Brahmana

tất yếu mang tính thần học Tiếp đến là triết học Upanishad với nội dung là Phạm

ngã đồng nhất và lý tưởng giải thoát Ba tư tưởng trên là tư tưởng căn bản của Bà

La Môn giáo Tuy nhiên, về sau do thế lực của Bà La Môn giáo giảm sút nên đã phát sinh nhiều tư tưởng, tôn giáo triết học mới như Kỳ na giáo (Jaina), Lục sư ngoại đạo phái (không thuộc tư tưởng Bà La Môn giáo, hai phái này chủ yếu là tu hành khổ hạnh) và sáu phái triết học gồm: Samkhya, Yoga, Nyaya, Vaisesika, Mimamsa, Vedanta (chịu ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp của ba thời kỳ Veda, Brahmana, Upanishad) Trong sáu phái triết học trên thì phái Yoga chú trọng nhiều đến pháp môn thiền định để giải thoát

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, thành đạo năm 35 tuổi (có thuyết 30 tuổi), 45 năm (có thuyết 49 năm) thuyết pháp độ đời

và nhập Niết bàn năm 80 tuổi Phật là người sáng lập ra một tôn giáo với mục đích bình đẳng cứu đời, đó là nhập thế Đức Phật không phân định con người dựa vào dòng họ như Bà La Môn giáo, điều này cho thấy Phật giáo mang tinh thần bình đẳng - phi thần quyền chống lại tôn giáo thần quyền của Bà La Môn giáo Ngài căn

cứ vào phẩm hạnh đạo đức của từng cá nhân trong xã hội để phân định Hơn nữa, đức Phật không tán thành với giai cấp bất công, thống trị mà luôn lấy sự bình đẳng

áp dụng vào từng người, dù họ thuộc tầng lớp quý tộc, bình dân hay tiện dân Trong

xã hội Ấn Độ cổ, với sự phân biệt đẳng cấp và tôn giáo nghiệt ngã của Bà La Môn giáo thì đẳng cấp Thủ đà la (Sudra) và phụ nữ là đẳng cấp và giới bị khinh rẻ, bị đối

xử gần như súc vật Với tư tưởng giải phóng con người khỏi bất bình đẳng tôn giáo thần quyền, đức Phật đã sáng lập đạo Phật Đó chính là tinh thần nhập thế tích cực

Chính tinh thần nhập thế tích cực đó của đức Phật mà “mọi người trong xã hội đương thời, bất luận thuộc giai cấp nào cũng đều ngưỡng mộ cái đức độ Từ Bi

Hỷ Xả của Ngài tới cực độ” [77, tr.24]

Đức Phật chủ trương lấy tinh thần bình đẳng với mọi người, với lòng từ bi trí tuệ, đã vượt ra khỏi định kiến bất bình đẳng về đẳng cấp tôn giáo Như vậy, ở phương diện tôn giáo, với chủ trương giải thoát con người khỏi nỗi khổ trong giáo

lý nhà Phật, đó là: không có sự phân chia đẳng cấp, không phân biệt về tuổi tác, giới

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w