ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN MAI THỊ DUNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY LU
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ DUNG
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ DUNG
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Nguyễn Thế Kiệt
2 TS Phạm Thế Hùng
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt và
TS Phạm Thế Hùng Các số liệu đã được nêu và sử dụng trong luận án là trung thực, đảm bảo tính khách quan và khoa học Danh mục tài liệu dùng để tham khảo trong luận án có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Mai Thị Dung
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BGD&ĐT: Bộ Giáo dục và Đào tạo
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐĐTT: Đạo đức truyền thống ĐTNCS: Đoàn Thanh niên cộng sản
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8
1 Các công trình đề cập đến vấn đề đạo đức, đạo đức trong kinh tế thị trường 8
2 Các công trình đề cập đến đạo đức truyền thống, giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống, xây dựng đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ 12
3 Các công trình đề cập đến vấn đề lối sống, xây dựng lối sống, kế thừa các giá
trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 17
Chương 1 GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG
XÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 21 1.1 Vai trò, nội dung của việc xây dựng lối sống mới cho thế hệ trẻ Việt Nam
hiện nay 21 1.1.1 Khái niệm lối sống, phân biệt lối sống với một số khái niệm liên quan 21 1.1.2 Tầm quan trọng, nội dung xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ ở Việt
Nam hiện nay 28 1.2 Vai trò, nội dung, yêu cầu của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 43 1.2.1 Giá trị đạo đức truyền thống, các giá trị đạo đức truyền thống cơ bản
của dân tộc Việt Nam 43 1.2.2 Vai trò của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây
dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 51 1.2.3 Yêu cầu của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây
dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 58
Chương 2 GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG
XÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 64 2.1 Một số nhân tố tác động đến việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc nhằm xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 64 2.1.1 Tác động của toàn cầu hóa đến giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 64
Trang 62.1.2 Tác động của kinh tế thị trường đến giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 68 2.1.3 Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 71 2.1.4 Tác động của tình hình chính trị thế giới đến giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 73 2.2 Thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối
sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 75 2.2.1 Những thành tựu đạt được trong việc giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc nhằm xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 75 2.2.2 Những hạn chế của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 87 2.3 Những vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 96 2.3.1 Mâu thẫn giữa việc nâng cao hiệu quả giáo dục các giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ với hiện thực cuộc sống đang diễn biến phức tạp, xã hội tồn tại nhiều bất công nghịch lý đã gây khó khăn cho công tác giáo dục đó 96 2.3.2 Mâu thuẫn giữa yêu cầu không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ với những hạn chế của lực lượng giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống hiện nay 100 2.3.3 Mâu thuẫn giữa truyền thống với hiện đại trong giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc nhằm xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 104
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY 108
Trang 73.1 Phương hướng 108 3.1.1 Bảo đảm thống nhất giữa kế thừa và đổi mới trong giáo dục giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc nhằm xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 108 3.1.2 Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống
cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay gắn liền với thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới 112 3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 116 3.2.1 Nâng cao nhận thức, năng lực và phẩm chất của các chủ thể giáo dục
trong việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc nhằm xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 116 3.2.2 Đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ hiện nay Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 120 3.2.3 Hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật nhằm đẩy mạnh việc cải
tạo các phong tục, tập quán lạc hậu; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, tạo môi trường thuận lợi trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 125 3.2.4 Kết hợp gia đình, nhà trường và xã hội, đẩy mạnh xu hướng xã hội
hóa công tác chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ nhất là giáo dục các giá trị đạo đức, lối sống, nhân cách 130 3.2.5 Nâng cao tính tự giác học tập, phát huy các giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 134
KẾT LUẬN 140
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, thế hệ trẻ cũng là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của đất nước Trong tiến trình cách mạng, Chủ tịch Hồ chí Minh và Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của thế hệ trẻ và xác định việc “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”
Sau hơn 25 năm đổi mới, phát triển đất nước, chúng ta đã xây dựng được một thế hệ trẻ vừa có đức, vừa có tài, có sức khỏe, tư duy năng động và hành động sáng tạo tiếp nối truyền thống hào hùng của cha ông, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; có ý chí vươn lên trong học tập, lao động, lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và mong muốn được tin tưởng, cống hiến
Tuy nhiên, trước thực tế hiện nay, còn có một bộ phận thế hệ trẻ sống thiếu
lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, tuyệt đối hóa đời sống vật chất, ít quan tâm đến gia đình; coi thường và xa rời các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng lối sống, tình trạng mắc vào các tệ nạn xã hội… ngày càng có chiều hướng gia tăng đã gây ra nỗi lo chung của toàn xã hội
Hơn nữa, đặt vấn đề xây dựng lối sống mới không phải chỉ xuất phát từ tình hình suy thoái đạo đức và lối sống hiện nay cần phải cứu chữa, mà còn vì định hướng phát triển lâu dài trong tương lai với tầm nhìn và hành động chiến lược Phát triển kinh tế và hiện đại hóa xã hội rất cần đến sức mạnh của kinh tế, nhưng xét đến cùng kinh tế không phải là cứu cánh, không có mục đích tự thân Không xây dựng được nền tảng tinh thần, lối sống, đời sống tinh thần lành mạnh, xã hội không thể phát triển bền vững, cuộc sống của từng cá nhân và cả cộng đồng không thể bình yên, thế hệ trẻ không thể lập thân lập nghiệp một cách lành mạnh và tìm thấy triển vọng trong cuộc sống Càng hướng tới văn minh và hiện đại, xã hội càng phải chú trọng những đảm bảo đạo đức và văn hóa lao động lối sống trong phát triển
Trang 9Vì thế, nhận thức đúng đắn về khái niệm lối sống và định hướng xây dựng lối sống mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay là yêu cầu hết sức cấp bách Trong các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ thì giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc có vai trò quan trọng
Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống các truyền thống tốt đẹp của dân tộc đến sự phát triển tinh thần và thể chất của thế hệ trẻ để họ có định hướng đúng đắn trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách
Việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống như thế nào để xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay vừa kế thừa giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại là việc làm khó khăn, phức tạp Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, tuy nhiên, do tính phức tạp của đối tượng và mục tiêu của vấn đề, nên đòi hỏi cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm, có tính hệ thống để có phương hướng và giải pháp đúng đắn trong việc xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay Đề tài: “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” nhằm phục vụ mục tiêu trên
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Làm rõ vai trò, thực trạng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam thời gian qua, từ đó đề ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho đối tượng này ở Việt Nam hiện nay
Trang 10- Làm rõ thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra
- Đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng lối sống cho thế
hệ trẻ Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Luận án làm rõ giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng lối
sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay chủ yếu từ thời kỳ đổi mới đến nay dưới góc
độ triết học (giới hạn trong một số giá trị đạo đức truyền thống chủ yếu)
- Thế hệ trẻ là một khái niệm rộng, chỉ lực lượng xã hội đông đảo ở nhiều lứa tuổi, nhưng luận án chỉ giới hạn nghiên cứu chủ yếu ở nhóm thanh niên (từ 16 đến
30 theo quy định của Luật Thanh niên năm 2005)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án chủ yếu dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về lối sống, xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ, giáo dục giá trị đạo đức dân tộc, luận án có kế thừa các thành tựu của một số công trình có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích và tổng hợp, sự thống nhất giữa lịch sử và lô gích Ngoài ra, tác giả luận án còn sử dụng phương pháp hệ thống, khái quát hóa và một số phương pháp khác để tìm hiểu về thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án làm rõ vai trò và lượng hóa nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
Trang 11- Làm rõ thực trạng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
- Đưa ra được phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, kết luận, các công trình nghiên cứu của tác giả và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 2: Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
Trang 12TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, gắn liền với con người và xã hội loài người Đạo đức do các quan hệ kinh tế - xã hội quy định, song cũng có vai trò tác động trở lại đối với đời sống kinh tế - xã hội Công tác giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống (ĐĐTT) dân tộc và vấn đề xây dựng lối sống (XDLS) đã được nhiều tập thể, các nhà khoa học trên thế giới và trong nước
nghiên cứu ở các góc độ khác nhau và đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng
1 Các công trình đề cập đến vấn đề đạo đức, đạo đức trong kinh tế thị trường
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán và bác bỏ những học thuyết duy tâm, tôn giáo và phi lịch sử về đạo đức Điều này đã được hai ông trình bày trong các tác phẩm tiêu biểu như: “Lời nói đầu phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”; “Lút vích Phoi ơ bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”; “Chống Đuy rinh”… Qua đây, hai ông đã khẳng định: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ” [74, tr 137]
Khi bàn về đạo đức, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã sử dụng những thuật ngữ truyền thống như: thiện và ác, lương tâm, danh dự… Về thực chất, trên lập trường duy vật biện chứng, các ông đã gạt bỏ những nội dung mang tính duy tâm, tôn giáo và đem lại cho chúng những nội dung mới, đặt nền móng cho nền đạo đức mới - đạo đức cộng sản V.I.Lênin cũng nhận thức rõ quy luật kế thừa của đạo đức
và khẳng định: “Văn hóa vô sản không bỗng nhiên mà có, nó không phải do những chuyên gia về văn hóa về văn hóa vô sản sáng tạo ra Đó hoàn toàn là điều ngu ngốc Văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức
mà loài người tích lũy được dưới ách thống trị của xã hội tư sản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu” [62, tr 361] Bàn về công tác giáo dục đạo đức, ý thức trách nhiệm cho thanh niên, V.I.Lênin cho rằng: “Việc giáo dục thanh niên không phải là nói cho họ nghe những bài diễn văn êm dịu hay là những phép tắc đạo đức; không phải cái đó là giáo dục Khi người ta thấy được cha mẹ mình sống dưới ách của bọn địa chủ và bọn tư sản như thế nào, khi chính người ta chịu chung nỗi khổ đau với những người mở đầu cuộc chiến đấu với bọn bóc lột, khi người ta thấy
Trang 13rằng muốn tiếp tục chiến đấu thì phải hy sinh to lớn như thế nào để bảo vệ những thắng lợi mà cha, anh đã giành được và thấy rõ bọn địa chủ và bọn tư sản là những
kẻ hung tợn như thế nào thì khi đó người ta tự rèn luyện mình trong hoàn cảnh này
để trở thành những người cộng sản” [59, tr 351-357]
Tư tưởng về đạo đức của các nhà kinh điển mác xít cũng được quán triệt sâu sắc Cụ thể là, trong tác phẩm “Nguyên lý đạo đức cộng sản” A.Siskin tiếp tục làm sáng tỏ nguồn gốc của đạo đức và khẳng định đạo đức là một hình thái ý thức xã hội: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nói đến đạo đức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao dịch với nhau hàng ngày” [96, tr 4] Trong tác phẩm này, ông còn cho rằng: “Thế giới quan của chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở khoa học của đạo đức cộng sản” [96, tr 66] Cuốn “Đạo đức học - thử trình bày một hệ thống đạo đức học mácxít” của G.Bandzeladze đã làm sáng tỏ nhiều hiện tượng đạo đức và vai trò của đạo đức Tác giả cho rằng, đạo đức bắt nguồn từ chỗ con người quan hệ với người khác cũng như quan hệ với chính mình, đồng thời đi sâu phân tích mối quan hệ giữa đạo đức với tính cách của con người Con người sở dĩ là người bởi nhờ có đạo đức, “Đạo đức là phẩm giá cơ bản của con người, là bản chất của tính người, của nhân phẩm” [8, tr 197] Tác giả còn chỉ rõ đặc trưng cơ bản, bản chất nhất của đạo đức là “chí công vô tư”; “Bản chất của đạo đức là sự quan tâm tự giác của những con người đến lợi ích của nhau, đến lợi ích của xã hội” [8, tr 104] “Những cơ sở của giáo dục đạo đức và những cơ sở của sự tự giáo dục” của A.I.Côchêtốp khẳng định lại quan điểm của V.I.Lênin khi bàn về đạo đức cộng sản: “Chúng ta nói rằng: đạo đức - đó là những
gì góp phần đoàn kết tất cả những người lao động xung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới, cộng sản chủ nghĩa” [11, tr 6]
Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức, các phạm trù cơ bản của đạo đức học mác xít thường xuyên được quan tâm trong cả nghiên cứu lý luận và thực tiễn đời sống, góp phần làm sáng tỏ quan niệm mác xít về đạo đức Một số cuốn sách tiêu biểu trong nước bàn về đạo đức là: “C.Mác - Ph.Ăngghen - V.I.Lênin bàn về đạo đức”, Viện Triết học, 1972; “Đảng ta bàn về đạo đức”, Viện Triết học, 1973; “Đạo đức mới”, nhà xuất bản (Nxb) Khoa học Xã hội (KHXH), 1974 Trong cuốn “Đạo đức học”, biên soạn 1997, Nxb Giáo dục, khẳng định: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên
Trang 14tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội… Đạo đức học Mác-Lênin là khoa học nghiên cứu đạo đức” [48, tr 7] Trong tác phẩm này, tác giả còn phân tích một
số phạm trù cơ bản của đạo đức học cũng như phân tích một số nguyên tắc đạo đức
xã hội chủ nghĩa (XHCN), đạo đức học Mác- Lênin và yêu cầu của đạo đức trong một số lĩnh vực đời sống xã hội “Các dạng đạo đức xã hội” của tác giả Trần Hậu Kiêm, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1993 đã phân tích các dạng đạo đức của xã hội: xã hội nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và XHCN và đi đến kết luận: “Đạo đức là một hệ thống các chuẩn mực xã hội, quy định, điều chỉnh sự giao tiếp và hành vi xử sự của con người trong quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất lợi ích của cá nhân, tập thể và cộng đồng” [47, tr 112]
Trên các tạp chí chuyên ngành, các bài viết cũng phân tích sâu sắc các khía cạnh của đạo đức, đạo đức cách mạng Trong bài “Quan niệm mác xít về thiện và ác” của Vũ Văn Thuấn, tạp chí Nghiên cứu lý luận số 1, 1997, tác giả làm rõ hơn quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về các phạm trù đạo đức thiện, ác cơ bản; khẳng định “Theo C.Mác và Ph.Ăgghen, thiện và ác là khái niệm đối lập nhau, hoàn toàn thuộc về lĩnh vực đạo đức, do hình thái ý thức xã hội và tồn tại xã hội quyết định Cho nên, muốn tìm hiểu và đánh giá đúng đắn về thiện và ác, không thể chỉ dừng lại ở chỗ giải thích nội dung của khái niệm, mà phải đi sâu tìm hiểu nguyên nhân đích thực của nó là tồn tại xã hội, nghĩa là ở trong phương thức sản xuất của
xã hội chứ không phải ở bên ngoài xã hội hay ở trong đời sống tinh thần thuần túy của xã hội” [105, tr 37] Bài viết “Giá trị đạo đức trong xã hội ta ngày nay” của tác giả Vũ Khiêu, 1993, Tạp chí Triết học số 2, đã khẳng định: “Giá trị đạo đức của chúng ta phải là sự thống nhất chặt chẽ giữa động cơ và hiệu quả, phải là sản phẩm cao nhất của lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội (CNXH) và của tinh thần quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, đó là: Giá trị đạo đức là những hành vi được con người lựa chọn và đánh giá như việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội… Giá trị đạo đức vì thế có tính chất thiết yếu đối với đời sống xã hội Bài
“V.I.Lênin bàn về đạo đức cách mạng” của Trần Ngọc Linh (Tạp chí Khoa học chính trị, số 4/2005) phân tích quan niệm của V.I.Lênin về bản chất đạo đức cách
Trang 15mạng, Theo V.I.Lênin những biểu hiện của đạo đức cách mạng như: tinh thần giác ngộ cách mạng cao, lòng trung thành cao độ với lý tưởng, suốt đời phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, sẵn sàng hy sinh lợi ích của bản thân, thậm chí cả tính mạng vì sự nghiệp cách mạng và biến lý tưởng thành hiện thực, kỷ luật cách mạng… Qua đó tác giả đề cập những quan niệm của V.I.Lênin về xây dựng đạo đức cách mạng, song vẫn cần lưu ý rằng, “phải làm cho toàn bộ sự nghiệp giáo dục, rèn luyện, học tập trở thành sự nghiệp giáo dục đạo đức cộng sản và toàn bộ sự nghiệp này không được tách rời cuộc sống sôi nổi” [64, tr 5-7]
Nghiên cứu về vấn đề đạo đức trong nền kinh tế thị trường (KTTT), năm
1996 Viện Thông tin KHXH đăng một số bài viết đề cập đến sự tác động của KTTT tới đạo đức, mối quan hệ giữa đạo đức với KTTT… chẳng hạn: “Những vấn đề đạo đức trong điều kiện KTTT” [107, tr 14], các nhà khoa học Trung Quốc còn tập trung lý giải “Về kinh tế thị trường và đạo đức”, “Bàn về quan hệ kinh tế thị trường
và đạo đức” [107, tr 120] “Tình hình đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường và việc xây dựng nó” [107, tr 87] Trong bài “Định hướng xã hội chủ nghĩa về các quan hệ đạo đức trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học số 5,
1998, tác giả cho rằng, để giữ vững định hướng XHCN về đạo đức phải tiến hành đồng bộ ba việc lớn: thứ nhất là phải gắn đạo đức với pháp luật và khoa học, mặt khác, phải coi các chuẩn mực pháp luật và khoa học là cơ sở đánh giá và điều chỉnh các quan hệ đạo đức Thứ hai là xã hội phải có cơ chế phù hợp, trong đó đào tạo con người gắn liền đức với tài Thứ ba là giáo dục nhân dân biết hưởng quyền dân chủ
và biết dùng quyền dân chủ của mình để xây dựng quan hệ đạo đức mới Luận án tiến sỹ Triết học của Mai Xuân Hợi, Học viện Chính trị quốc gia (CTQG) Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005 với đề tài: “Vấn đề đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay”; “Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 đã đề cập đến vai trò của đạo đức và sự biến đổi của đạo đức người cán bộ, lãnh đạo quản lý trong điều kiện nền KTTT định hướng XHCN, từ đó các tác giả nêu ra phương hướng và giải pháp để nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quản lý trong điều kiện phát triển KTTT ở Việt Nam hiện nay
Trang 162 Các công trình đề cập đến đạo đức truyền thống, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống, xây dựng đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ
Về đạo đức truyền thống, giáo dục giá trị ĐĐTT có nhiều tác giả với các công trình nghiên cứu: đó là, “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của giáo sư (GS) Trần Văn Giàu, Nxb KHXH, Hà Nội, 1980 đã phân tích một cách sâu sắc về các giá trị tinh thần truyền thống của người Việt Nam Đặc biệt, dưới góc
độ sử học và đạo đức học, ông đã phân tích sự vận động của những giá trị tinh thần truyền thông qua những giai đoạn của lịch sử Việt Nam; “Truyền thống dân tộc trong công cuộc đổi mới và hiện đại hóa đất nước Việt Nam” của GS Phan Huy Lê,
đề tài KX 07- 02, Hà Nội, 1995; “Đạo đức học - mỹ học và đời sống văn hóa nghệ thuật” của GS Đỗ Huy, Nxb KHXH, Hà Nội 2002 bàn về “cái truyền thống và cái hiện đại trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta từ góc nhìn đạo đức học”; “các giá trị ĐĐTT ở nước ta và sự chuyển biến của chúng sang hiện đại”, đã khẳng định: “Bảng giá trị Việt Nam đang quá độ rất mạnh mẽ với mục tiêu kết hợp được các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại, kết hợp các giá trị dân tộc với các giá trị quốc tế, kết hợp các giá trị dân tộc với các giá trị sắc tộc, các giá trị cá nhân với các giá trị cộng đồng… Hiện nay trong xã hội đang thiết lập một hệ thống giá trị mà ở đó cái lợi phải thống nhất cái đúng, cái tốt và cái đẹp” [45, tr 40]; “Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay vấn đề và giải pháp” của tác giả Lê Quý Đức và Hoàng Chí Bảo (Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, 2007) góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về văn hóa đạo đức, phân tích thực trạng văn hóa đạo đức ở nước ta, đặc biệt là những biến đổi trong các giá trị chuẩn mực văn hóa đạo đức và đi đến khẳng định: “Ngày nay hệ giá trị đạo đức dân tộc đang chịu
sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội mà chủ yếu là việc xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, việc mở cửa hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa… Các giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống tất yếu cũng biến đổi theo xu hướng tích cực và tiêu cực, tạo nên những mảng sáng, tối của đời sống tinh thần đạo đức tinh thần hiện nay” [37, tr 85]; Phó giáo sư (PGS), tiến sĩ (TS) Nguyễn Thế Kiệt có các bài viết:
“Từ đạo đức truyền thống đến đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 7, 2006; “Quan hệ đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 6,1996; Trong cuốn “Triết học với đổi mới và đổi mới nghiên cứu giảng dạy triết học”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2007, TS Trần Thành (chủ biên), các tác giả khẳng định sức sống mãnh liệt của các giá trị đạo
Trang 17đức truỳên thống của dân tộc Việt Nam cũng như việc phát huy các giá trị đó trong quá trình giáo dục đạo đức, xây dựng con người mới XHCN Đồng thời các tác giả còn đưa ra dự báo về sự biến đổi của các giá trị ĐĐTT dân tộc trong điều kiện mới nhằm mục đích cảnh báo việc lựa chọn các giá trị truyền thống tốt đẹp để phát triển trong tương lai và hạn chế, loại bỏ những tập quán lạc hậu không còn phù hợp với
xã hội hiện đại Trong cuốn: “Giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc cho Thanh niên hiện nay” của Bùi Ngọc Minh, Nxb Thanh niên, tác giả viết: giáo dục các giá trị truyền thống cho thanh niên là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của Đoàn Thanh niên Cộng sản (ĐTNCS) Hồ Chí Minh mà còn là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội
Các bài viết, đề tài nghiên cứu sự kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong giáo dục đạo đức giai đoạn hiện nay ở Việt Nam như: “Quán triệt mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc định hướng giá trị đạo đức hiện nay” của GS.TS Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 2, 1995; “Suy nghĩ về một hệ giá trị tinh thần trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Tài Thư, Tạp chí Triết học số 1, 1998; “Về một số giải pháp xây dựng nhân cách đạo đức hiện nay”, Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học số 4 (110), tháng 8/1999; “Từ cái thiện truyền thống đến cái thiện trong cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Hùng Hậu, tạp chí triết học, số 8, năm 2002; “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và biến đổi giá trị khi nước ta chuyển sang KTTT” của GS Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học số1, 2005; “Giá trị ĐĐTT và những yêu cầu đạo đức đối với nhân cách con người Việt Nam hiện nay”, Cao Thu Hằng, Tạp chí Triết học, số7 (158), tháng7/2004… Các tác giả đề cập thực trạng vấn đề đạo đức nói chung cũng như của thế hệ trẻ nói riêng trong thời kỳ đổi mới, đánh giá những thành tựu đạt được cùng những trăn trở khi một số cán bộ, đảng viên và thanh, thiếu niên thoái hóa biến chất, phai nhạt lý tưởng cách mạng, từ đó các tác giả rất quan tâm đến việc giáo dục và phát huy giá trị ĐĐTT dân tộc cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hiện nay
Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của tập thể các nhà khoa học như:
“Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền KTTT với việc xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” do PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên) và sự tham gia của nhiều nhà khoa học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1999 đã gợi
mở một số vấn đề đạo đức mới, luận giải sự biến đổi thang giá trị đạo đức trong cơ chế thị trường, từ đó các tác giả đề xuất phương hướng và những giải pháp hình
Trang 18thành thang giá trị đạo đức mới, xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý trong nền KTTT định hướng XHCN… Một số luận án nghiên cứu về giá trị ĐĐTT dân tộc, sự tác động của đạo đức truyền thống đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam thời kỳ đổi mới như: “Giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đọan hiện nay”, luận án tiến sĩ triết học của Trần
Sỹ Phán, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999; “Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền KTTT ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sỹ triết học của Nguyễn Văn Lý, Học viện CTQG Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2000 đã phân tích những mặt tích cực và hạn chế trong ĐĐTT dân tộc, các tác giả đã xác định rõ những nội dung cần kế thừa đổi mới, bên cạnh đó chỉ ra những thiếu hụt cần bổ sung trong các giá trị ĐĐTT nhằm phát huy vai trò của đạo đức, nhất là đạo đức truyền thống trong đời sống xã hội hiện nay, từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản đảm bảo kế thừa và đổi mới các giá trị ĐĐTT trong quá trình chuyển sang KTTT ở Việt Nam; “Giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay”, luận án tiến sỹ triết học của Trần Minh Đoàn, học viện CTQG, Hà Nội, 2002; “Giá trị ĐĐTT trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên công an nhân dân Việt Nam hiện nay”, Phạm
Bá Lượng, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2009 cũng đã phân tích làm rõ những giá trị ĐĐTT dân tộc, những vấn đề nảy sinh trong quá trình giáo dục đạo đức cho sinh viên Công an nhân dân hiện nay, bước đầu nêu lên những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy giá trị ĐĐTT trong việc giáo dục đạo đức cho đối tượng này; “Kế thừa giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay” của Cao Thu Hằng, luận án tiến sĩ Triết học, Viện KHXH Việt Nam, 2011, đã làm
rõ giá trị ĐĐTT dân tộc, vai trò của nó trong hình thành, phát triển nhân cách con người, tính tất yếu phải kế thừa, tác giả đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp kế thừa các giá trị ĐĐTT dân tộc trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay; “Giá trị ĐĐTT với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” của Ngô Thị Thu Ngà, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2011 đã góp phần xác định rõ tầm quan trọng của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, việc phát huy các giá trị đó đối với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất phương
Trang 19hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tối đa các giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
Trên các tạp chí, hội thảo khoa học, tài liệu chuyên khảo cũng có đăng một
số công trình nghiên cứu việc giáo dục đạo đức truyền thống, định hướng những giá trị đó cho thế hệ trẻ hiện nay như: “Tình cảm đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức trong điều kiện hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học số 6, 2000; “Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay” của PGS
TS Trần Văn Phòng, Tạp chí Lý luận chính trị số 5, 2003; Trong bài viết “Giá trị ĐĐTT Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền KTTT” của Trần Nguyên Việt, Tạp chí Triết học số 5, 2002 cho rằng mỗi dân tộc đều có những chuẩn mực đạo đức riêng, trong đó có một số yếu tố được cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức chấp nhận làm cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề toàn cầu Giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta biểu hiện ở sự nhiệt tình, hăng say trong lao động sản xuất, yêu quê hương đất nước… giá trị đạo đức truyền thống đó quy định ý thức đạo đức của cả cộng đồng người Việt Nam và đa phần là phù hợp với đạo đức toàn nhân loại Do vậy, theo tác giả, trong nền KTTT phải đảm bảo việc duy trì các giá trị ĐĐTT tốt đẹp của dân tộc, giữ gìn phong hóa khỏi sự suy đồi do nền kinh tế phát sinh, như chạy theo lợi nhuận mà bất chấp nhân tính, chà đạp lên cái phổ biến nhân loại trong đạo đức
Ngày 18 tháng 10 năm 1996, Bộ giáo dục và đạo tạo (BGD&ĐT) đã tổ chức hội thảo khoa học “Định hướng giáo dục đạo đức trong các trường đại học”, các tham luận nêu rõ sự cần thiết phải có định hướng giáo dục đạo đức cho thanh niên, sinh viên trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, phát triển KTTT và hội nhập quốc tế hiện nay Các tác giả đề xuất giải pháp nhằm giữ vững bản săc văn hóa, giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Ngày 14, 15 tháng 5 năm 2001, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc hội thảo khoa học “Giá trị truyền thống và những thách thức của toàn cầu hóa”, do Viện Triết học Việt Nam và Hội đồng nghiên cứu triết học và giá trị Mỹ phối hợp tổ chức Các tham luận của đông đảo các nhà khoa học, quản lý trong và ngoài nước cùng đưa ra tiếng nói chung là làm thế nào để trong mọi hoàn cảnh chúng ta vừa giữ được bản sắc văn hóa vừa phát huy được giá trị truyền thống của mỗi dân tộc; vừa bảo tồn các giá trị văn hóa, vừa tiếp thu, kế thừa những tinh hoa của nền văn hóa nhân loại Tháng 8 năm 2004, Viện KHXH Việt Nam công bố kết quả nghiên cứu
Trang 20đề tài: “Đạo đức xã hội nước ta hiện nay - vấn đề và giải pháp” do GS Viện sĩ (VS) Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm cùng với sự tham gia của các nhà khoa học: GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn, GS.TS Hoàng Chí Bảo, GS Nguyễn Đức Bình, GS
Vũ Khiêu, PGS.TS Nguyễn Văn Phúc… Từ việc phân tích hiện thực cuộc sống trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, công trình đã phác họa khá trung thực và toàn cảnh đạo đức xã hội ta hiện nay cả mặt tích cực và tiêu cực với những số liệu điều tra thuyết phục đã phản ánh rõ thực trạng đạo đức của cán bộ, đảng viên, công chức, thanh niên, đạo đức trong lao động, giao tiếp và trong gia đình Từ đây các tác giả phân tích nguyên nhân của việc suy thoái đạo đức xã hội: “Ngoài những nguyên nhân khách quan, sâu xa, trực tiếp cần phải nhận diện những nguyên nhân chủ quan thuộc về chúng ta, từ lãnh đạo, quản lý, giáo dục và tổ chức đời sống xã hội Nhóm nguyên nhân này đã và đang trực tiếp dẫn tới sự suy thoái đạo đức xã hội” [109, tr 264], nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng đạo đức xã hội, nhất là đạo đức gia đình ở Việt Nam hiện nay
Thế hệ trẻ là những chủ nhân tương lai của đất nước, động lực chủ yếu của cách mạng, là nhân tố có ý nghĩa quyết định vận mệnh của dân tộc Vì thế, việc xây dựng đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề xã hội của mỗi quốc gia
mà còn mang ý nghĩa thời đại của nhân loại Với thế hệ trẻ Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung đó
Các tác phẩm tiêu biểu góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của đạo đức học mác xít và vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ để trở thành những con người chân chính là: Tác phẩm “giáo dục con người chân chính như thế nào” của nhà giáo dục Liên Xô - V.A.Xukhomlinxki, Nxb giáo dục, Hà Nội, 1981 đã đề cập: dưới hình thức những lời khuyên bảo của nhà giáo dục với trẻ
em, thanh thiếu niên và dưới hình thức những lời của tác giả nói với các nhà giáo dục, trước hết là với các thầy, cô giáo Tác giả trình bày cụ thể, sinh động các phạm trù đạo đức học, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, những phương pháp hình thành chúng trong học sinh Quan điểm triết học và tư tưởng nhân văn sâu sắc được thể hiện là hướng tới con người đang hình thành, ý thức sâu sắc tầm quan trọng và bức thiết của việc đào tạo thế hệ đang lớn lên thành những con người chân chính có nhân cách độc lập và sáng tạo cũng như sự khó khăn và phức tạp của nhiệm vụ to lớn này [87, tr 14-15]
Trang 21Ở Việt Nam, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định thanh niên là vấn
đề sống còn, quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng CNXH Trường Cán bộ thanh thiếu niên Trung ương - Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam giới thiệu cuốn sách “Vấn đề thanh niên nhìn nhận và dự báo”, Nxb Thanh niên, tập 1 (1992), tập 2 (1996) làm rõ những vấn đề quan trọng liên quan đến thanh niên như: phạm trù thanh niên, thanh niên với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước… KTTT đã tác động đến đạo đức
xã hội theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực, trong đó có thế hệ trẻ Những biểu hiện của đời sống đạo đức thế hệ trẻ rất phong phú, phức tạp Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này “Đạo đức học sinh - sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải pháp giáo dục” của tác giả Phạm Kim Anh đăng trên tạp chí dạy và học ngày nay, số 9- 2008 nhận định: Vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh - sinh viên ở nước ta mấy năm gần đây trở thành điểm nóng không chỉ của ngành giáo dục mà còn là của toàn xã hội… Có thể nói, bên cạnh số ít em vẫn giữ được lòng hiếu thảo với cha mẹ, vượt lên khó khăn, sống có mục đích, có hoài bão, thì phần lớn thế hệ trẻ hôm nay không xác định được mục đích cần làm, nhầm lẫn các giá trị trong cuộc sống, sống thực dụng, buông thả, phóng đãng, ích kỷ, lạnh lùng, vô cảm, thiếu trách nhiệm” [1, tr 4] Tác giả Phạm Thái Bình với bài “Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức trong các trường Công an nhân dân trên nền tảng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, Tạp chí Công
an nhân dân, số 1, 2009 cho rằng, bên cạnh những thành tựu đạt được thời kỳ đổi mới thì vấn đề suy thoái đạo đức là rất nghiêm trọng, đáng báo động, đòi hỏi phải đổi mới nhận thức và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho thanh niên, sinh viên, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức cho sinh viên Công an nhân dân
3 Các công trình đề cập đến vấn đề lối sống, xây dựng lối sống, kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
Vấn đề lối sống cũng được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều khía cạnh với những cách tiếp cận khác nhau Đặc biệt, từ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới thì vấn đề xây dựng lối sống cho thanh niên nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng càng được quan tâm nghiên cứu hơn bao giờ hết Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: “Lối sống xã hội chủ nghĩa” của tập thể tác giả tiến sỹ triết học, kinh tế học, viện sỹ thông tấn Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô (cũ), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982; và cuốn sách cùng tên “Lối sống xã hội chủ nghĩa” của Phó tiến sỹ
Trang 22triết học Liên Xô X X Visnhiốpxki, Nxb Lao động, Hà Nội, 1981 đã nghiên cứu, phân tích những vấn đề cơ bản của lối sống XHCN, đặc trưng cơ bản của nó, đưa ra các
phương hướng chủ yếu tiếp tục hoàn thiện lối sống XHCN Trong tác phẩm “Bàn về
nếp sống và nếp sống xã hội chủ nghĩa” của Trần Độ (chủ biên), Nxb Văn hóa, 1985, các tác giả không chỉ bàn về lối sống và nếp sống XHCN, mà còn tập trung bàn về các giải pháp xây dựng lối sống, nếp sống XHCN “Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hóa” của GS Thanh Lê (chủ biên), Nxb KHXH, Thành phố Hồ Chí Minh,
2001 đã phân tích cơ sở xã hội - kinh tế, chính trị, tinh thần của lối sống XHCN Các tác giả cho rằng lối sống XHCN là sự kết tinh cao nhất của sự phát triển xã hội
và kinh tế của xã hội ấy… Khái niệm lối sống cho phép đi sâu vào một hình thái kinh
tế - xã hội, hình dung nó như một “chỉnh thể sinh động cụ thể” với những “chi tiết” của các quan hệ xã hội khác nhau: sản xuất, sinh hoạt, văn hóa, gia đình… nói lên đặc trưng của một xã hội nhất định với tư cách một loại hình và một hình thức nhất định
về mặt lịch sử của hoạt động sống của con người Từ đó, đề ra vấn đề bảo vệ lối sống XHCN trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay
Các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước cũng nhận thức tầm quan trọng của vấn
đề lối sống và tập trung nghiên cứu Đề tài KX 06 - 13 đã nêu trong báo cáo tổng kết chương trình KX - 06 (1991- 1995): “Lối sống, trong chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những con người cụ thể, những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống Môi trường là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, lối sống của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư”
“Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” của GS.TSKH Huỳnh Khái Vinh (chủ biên) từ kết quả nghiên cứu đề tài cấp nhà nước KHXH 04-
03, Nxb CTQG, 2001 đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội cũng như mối quan hệ giữa chúng với phát triển văn hóa và con người Bên cạnh đó nhóm tác giả còn phân tích những ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội đến lối sống và việc kế thừa, phát huy nếp sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng, những kinh nghiệm, bài học xây dựng, phương hướng, quan điểm và giải pháp XDLS, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội
“Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” do TS Nguyễn Viết Chức (chủ biên), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001 bao gồm nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu,
Trang 23quản lý văn hóa đã đề cập ở những mức độ khác nhau về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội “Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học” của GS.TS Đỗ Huy, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa - Thông tin xuất bản, Hà Nội, 2001
đã trình bày khá chi tiết vấn đề xây dựng lối sống dân tộc - hiện đại trong môi trường văn hóa chung của CNXH ở nước ta hiện nay Cuốn sách “Bản sắc văn hóa trong lối sống hiện đại” của PGS, TS Lê Như Hoa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003 đã tiếp cận vấn đề nếp sống, lối sống, lối sống đô thị, lối sống gia đình trong giai đoạn hiện nay Với cách tiếp cận này, trong cuốn “Văn hóa và lối sống”, Nxb Thanh Niên, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, GS Thanh Lê lại xem xét vấn đề lối sống như một bộ phận của văn hóa, từ đây tác giả đề cập việc XDLS mới XHCN trong giai đoạn hiện nay Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) và tập thể tác giả thực hiện
đề tài khoa học cấp Nhà nước KHXH 04-02: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001; Đề tài khoa học cấp Nhà nước KHXH 04 “Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ CNH, HĐH” của Phạm Minh Hạc và Nguyễn Khoa Điềm (đồng chủ biên) cùng tập thể tác giả, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, các tác giả đã khảo sát thực trạng văn hóa, đạo đức lối sống, đặc biệt là của thanh niên Từ đó đề xuất một số giải pháp để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và XDLS trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước TS Đào Duy Quát (chủ biên) cuốn “Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên hiện nay - Thực trạng và giải pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, các nhà khoa học tiếp cận khái niệm lối sống như một phạm trù đạo đức học Các tác giả phân tích thực trạng đạo đức, lối sống và đề ra giải pháp giáo dục đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay
Dưới góc độ tâm lý, tập thể tác giả thuộc Hội khoa học tâm lý - giáo dục Việt Nam, Viện nghiên cứu con người và Viện khoa học xã hội Việt Nam do GS,VS Phạm Minh Hạc (chủ biên) với cuốn “Tâm lý người Việt Nam đi vào CNH, HĐH - Những điều cần khắc phục”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004 đã đề cập những mặt mạnh, yếu, khẳng định những cái hay cần kế thừa, phát huy, những điều dở cần khắc phục trong lao động, học tập và lối sống của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH, qua đó đề xuất một số kiến nghị về chiến lược, chính sách để phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay “Toàn cầu hóa và vấn đề kế thừa một số giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay”, Mai
Trang 24Thị Quý, Nxb KHXH, Hà Nội, 2009, đã khẳng định con đường hội nhập của Việt Nam là đúng đắn, song cũng chứa đựng nguy cơ đe dọa những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Từ đó đặt ra vấn đề làm thế nào để hội nhập mà vẫn giữ được những giá trị ấy, phát huy và đổi mới để biến thành sức mạnh phát triển đất nước; “Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc XDLS ở Việt Nam hịên nay” của Võ Văn Thắng, Luận án tiến sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005 luận giải khoa học việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là tất yếu trong xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay Tác giả đã làm rõ nội dung cơ bản của lối sống mà chúng ta xây dựng, chỉ ra ảnh hưởng của các nhân tố đến việc XDLS của con người Việt Nam hiện nay, đánh giá thực trạng của việc kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong thời gian qua, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm
kế thừa, phát huy tốt hơn các giá trị văn hóa truyền thống để xây dựng lối sống ở nước ta hiện nay “Ảnh hưởng của nền KTTT đến việc XDLS ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 10, tháng 5/2006 của tác giả Võ Văn Thắng đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của KTTT đến đời sống xã hội và việc XDLS ở nước ta, từ đó đặt ra vấn đề phải hình thành lối sống mới thích ứng với nhu cầu đời sống hiện thực để duy trì và thúc đẩy sự ổn định xã hội, vừa mang đậm bản sắc dân tộc, vừa mang tính nhân loại phổ quát
Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu trên cho thấy các công trình đã
có nhiều đóng góp trong việc làm sáng tỏ những vấn đề ĐĐTT, vai trò của nó trong việc xây dựng bản lĩnh con người Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay và XDLS của học sinh, sinh viên Các tác giả đã bước đầu nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất luợng, hiệu quả công tác giáo dục giá trị Đ ĐTT dân tộc, XDLS nói chung Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay, vấn đề giáo dục các giá trị ĐĐTT trong việc XDLS cho thế hệ trẻ Việt Nam - những con người giữ vận mệnh đất nước trong tương lai vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học Vì thế, đòi hỏi vấn đề này phải được tiếp tục đi sâu
nghiên cứu thêm Cho nên, tôi chọn đề tài: “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận
án tiến sĩ Triết học của mình
Trang 25Chương 1 GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Vai trò, nội dung của việc xây dựng lối sống mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
1.1.1 Khái niệm lối sống, phân biệt lối sống với một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm lối sống
Khái niệm “lối sống” từ lâu đã được các nhà văn hóa, xã hội học, triết học đề
cập, và đến nay khái niệm này vẫn còn nhiều cách tiếp cận khác nhau, chưa có một
định nghĩa tương đối thống nhất về nó, cho thấy tính chất phức tạp của khái niệm Trong tiếng Pháp, từ “Lối sống” được dịch từ chữ “Mode de vie”, còn trong tiếng Đức là dịch từ chữ “Labensweise”, trong tiếng Nga là “Obraz zhizni”, trong tiếng Anh là dịch từ chữ “Mode of life”; “Way of life” hay “ Lifestyle”
Lối sống là một thể thống nhất biện chứng giữa tự nhiên - cá nhân và xã hội, lối sống của con người được hình thành trong quá trình con nguời tham gia vào các hoạt động, trước tiên là lao động sản xuất, hoạt động chính trị xã hội và các hoạt động khác… đồng thời chịu sự chi phối của các hoạt động đó Khi nghiên cứu về lối sống, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt trong quan hệ với phương thức sản xuất và hình thái kinh tế - xã hội, trước hết là phương thức sản xuất Lối sống có nguồn gốc từ phương thức sản xuất C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức: “Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó
là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân Mà hơn thế, nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ” [70, tr 30] Như vậy, Mác đã khẳng định phương thức sản xuất quy định quá trình tái sản xuất
ra con nguời và đồng thời cũng quyết định đời sống của họ, là phương thức sinh sống của con người, là hình thức hoạt động cơ bản của con người, là mặt cơ bản của lối sống, là điều kiện kinh tế - xã hội của lối sống Theo Mác, lối sống chính là phương thức, là dạng hoạt động của con người, nó chịu sự quyết định của phương thức sản xuất Với cách tiếp cận này, VS Rútkêvích coi “lối sống” và “phương thức
Trang 26sản xuất” có quan hệ chặt chẽ với nhau Ông viết: “Lối sống là một trong những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nó liên quan chặt chẽ với một khái niệm có ý nghĩa mấu chốt với nó là phương thức sản xuất của cải vật chất” [97, tr 12] Lối sống phản ánh hoạt động của chủ thể Có thể xem “lối sống là sự khúc xạ hình thái kinh tế - xã hội trong nhận thức, tình cảm, thái độ và hoạt động xã hội, tổ chức đời sống và sinh hoạt cá nhân của con người” [106, tr 28] Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định mỗi phương thức sản xuất tạo nên một cách sinh hoạt, cách sống tương ứng Vì vậy, mỗi giai đoạn lịch sử của từng dân tộc, từng địa bàn dân cư, từng
cá nhân có lối sống riêng, nghĩa là không có lối sống cho mọi thời đại, đặc biệt trong
xã hội có giai cấp, bởi vậy trong cùng một phương thức sản xuất cũng tồn tại nhiều lối sống khác nhau thậm chí đối lập nhau Tuy nhiên, bản thân lối sống không phụ thuộc hoàn toàn vào phương thức sản xuất - mặc dù đây là yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định Sự phụ thuộc của lối sống đối với phương thức sản xuất mang tính tương đối Lối sống ngoài việc chịu sự quy định của kinh tế, còn chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Qua biểu hiện của lối sống, người ta có thể đánh giá trình độ văn hóa của một dân tộc, cộng đồng xã hội Phạm vi của lối sống có thể tương ứng với phạm vi hình thái kinh tế - xã hội Tuy nhiên hai khái niệm này không đồng nhất với nhau Hình thái kinh tế - xã hội bao gồm mọi hoạt động của con người, cái khách quan và chủ quan, nhưng lối sống chỉ phản ánh hoạt động của chủ thể bao gồm nhận thức, tình cảm, thái độ, động cơ trong các hoạt động của con người
Tiếp cận từ góc độ lối sống là phương diện phương thức hoạt động và tổng thể những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của những cá nhân trong một hình thái kinh tế- xã hội, VS Rútkêvích khẳng định: “Lối sống là một tổng thể, một
hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [102, tr 45] G.Glezerman lại quan niệm: “Lối sống là tổng hòa những nét cơ bản, nói lên những đặc điểm của các hoạt động sống của xã hội, các cá nhân trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [106, tr 18] Xem xét lối sống gắn liền họat động sống của con người với hình thái kinh tế - xã hội, V.I.Tônxtưkhơ cho rằng, “Lối sống là những hình thức cố định, điển hình của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người; những hình thức ấy nói lên các đặc điểm về sự giao tế, hành vi và nếp nghĩ của họ trong các lĩnh vực lao động, hoạt động xã hội - chính trị, sinh hoạt và giải trí” [106, tr 18-19]
Trang 27Ở Việt Nam, khái niệm “lối sống” được đề cập lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, các Đại hội tiếp theo đều đề cập khái niệm này Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu: “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền” [22, tr 160-161] Hội nghị lần thứ mười, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX họp tháng 7 năm 2004 về việc đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương năm, khóa VIII, Đảng ta đã nhắc đến từ lối sống tới 17 lần Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản việt Nam cũng khẳng định:
“Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp” [32, tr 173] Các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước cũng nhận thức tầm quan trọng của vấn đề lối sống và tập trung nghiên cứu Đề tài KX 06 - 13 đã nêu trong báo cáo tổng kết chương trình KX - 06 (1991- 1995): “Lối sống, trong chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những con người cụ thể, những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống Môi trường là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, lối sống của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư” Định nghĩa này một lần nữa đã nêu lối sống có quan hệ trực tiếp với môi trường sống, không những thế nó còn chịu
sự quy định của môi trường sống
Tiếp cận với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về lối sống, các nhà khoa học trong nước đã quan tâm và nghiên cứu về vấn đề này, chẳng hạn như GS Vũ Khiêu đã quan niệm: “Lối sống là phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [54, tr 514] Từ định nghĩa này đã khái quát được những nét đặc trưng cơ bản của lối sống Xét lối sống gắn liền với một hình thái kinh tế - xã hội GS Thanh Lê cho rằng: “Lối sống là một hệ thống những nét căn bản nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [57, tr 24] Xem xét
Trang 28lối sống từ tổng hòa các mặt cơ bản, khắc họa những đặc điểm cá nhân, tập thể, cộng đồng nhất định, GS.TS Nguyễn Văn Huyên viết: “Lối sống là tổ hợp toàn bộ các mô hình, cách thức và phong thái sống của con người thể hiện trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái
độ hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con ngưòi, giữa chủ thể với đối tượng giữa điều kiện với phương tiện và mục đích sống” [46, tr 29] Qua việc tìm hiểu quan niệm của các nhà nghiên cứu về lối sống, chúng tôi có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của lối sống như sau:
Một là, lối sống là phương thức sống của con người trong một chế độ xã hội nhất định, được thể hiện qua quan hệ của con người với tự nhiên, quan hệ giữa con người với con người trong lao động sản xuất, chính trị, tư tưởng, văn hóa và trong ứng xử giao tiếp hàng ngày
Hai là, phương thức sản xuất và các điều kiện sống của con người quy định lối sống của họ
Ba là, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản, nền tảng của lối sống Bốn là, phạm vi và nội dung của lối sống bao gồm: các khuôn mẫu ứng xử, các thể chế xã hội vận hành theo một bảng giá trị trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
Năm là, lối sống nói chung mang giá trị văn hóa, vì trong các quan hệ xã hội, thể chế xã hội, các khuôn mẫu ứng xử… của lối sống đều mang ý nghĩa văn hóa, hướng tới cái chân, thiện, mỹ
Sáu là, các quốc gia, dân tộc, giai cấp khác nhau trong các giai đoạn lịch sử khác nhau có lối sống khác nhau
Như vậy, lối sống bao gồm tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người Tuy nhiên, “Lối sống không phải là hoạt động mà là lối hoạt động; không phải là sự giải trí mà là lối giải trí; không phải là giao tiếp mà là lối giao tiếp” Từ đây có thể đưa
ra khái niệm lối sống như sau: Lối sống là cách thức sống, phương thức sống của
con người trong một chế độ xã hội nhất định được biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống như lao động sản xuất, hoạt động chính trị, hoạt động văn hóa tinh thần
và hoạt động hàng ngày
Lối sống của con người trong mỗi quốc gia, dân tộc được hình thành trên cơ
sở của điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, hệ động thực vật;
Trang 29của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng, truyền thống… Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong các yếu tố nêu trên thì điều kiện kinh tế-
xã hội có ý nghĩa quyết định Trong đó, phương thức sản xuất lại đóng vai trò quyết định đối với chính trị xã hội và văn hóa tư tưởng của mỗi quốc gia, dân tộc
1.1.1.2 Phân biệt lối sống với nếp sống, lẽ sống, phong cách sống:
Nếp sống là một mặt của lối sống; là những cách thức, quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất, sinh hoạt, trong tổ chức đời sống xã hội và trong đời sống gia đình Lối sống là một hệ thống những hành vi của con người trong lao động và các quan hệ xã hội khác Những hành vi được lặp đi lặp lại thành một quy định, nền nếp, một thói quen, phong tục, tập quán, lễ nghi… thì được gọi là nếp sống Những hành vi không được lặp đi lặp lại thì không gọi là nếp sống Theo GS Vũ Khiêu:
“Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi con người Những thói quen ấy còn được gọi
là tập quán” [53, tr 135] Nếp sống là sự biểu hiện sinh động của lối sống, nó không phải là cái vĩnh hằng, bất biến mà biến đổi Khi nếp sống thay đổi đến một độ nhất định thì lối sống sẽ biến đổi A.P.Bu - chen - kô khẳng định: “Nếp sống không phải
là một phần mà là một trong những hình thức biểu hiện của lối sống” [42, tr 23] Theo L.V Ko-kan: “Nếp sống của con người được coi như là sự phản ánh của cá nhân vào xã hội, còn lối sống của con người được coi như là sự phản ánh xã hội vào
cá nhân” [42, tr.23] Như vậy, lối sống và nếp sống không tách rời nhau nhưng không đồng nhất với nhau, nếp sống có ngoại diên hẹp hơn lối sống Đảng ta đã từng khẳng định sự khác nhau này như sau: “Kiên trì xây dựng nếp sống mới lành mạnh, khoa học, tiết kiệm và giản dị , bảo vệ và phát triển các giá trị tinh thần Kiên quyết bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tiếp tục đấu tranh quét sạch văn hóa thực dân mới và ảnh hưởng các loại văn hóa phản động, đồi trụy khác Tất cả những việc đó nhằm làm cho tư tưởng, tình cảm lối sống mới thật sự chiếm ưu thế trong đời sống nhân dân” [15, tr.100-101]
Lối sống và lẽ sống:
Theo Từ điển học sinh năm 1972, Lẽ sống là điều thường được người ta coi là mục đích của cuộc sống (và xuất phát từ đó mà suy nghĩ, hành động hàng ngày) Lẽ sống là vấn đề trung tâm của đời sống con người theo ý nghĩa xã hội và ý nghĩa cá nhân Có thể xem lẽ sống là nền tảng tinh thần của con người Nó chi phối và liên quan mật thiết đến những định hướng sống hết sức cơ bản của con người như: lý
Trang 30tưởng, niềm tin, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc, thiện, ác… Lẽ sống là biểu hiện của tự ý thức cao nhất của con người về cuộc sống của mình, là hội tụ của
sự trưởng thành và phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, tri thức, và kinh nghiệm [65, tr 93-94] Đối với mỗi người, lẽ sống là cơ sở, nền tảng để xây dựng lý tưởng sống, hướng con người xác định đúng mục đích cuộc sống Trong cuộc sống, người nào cũng đặt cho mình một câu hỏi: mình sống như thế nào, vì mục đích gì, tồn tại
để làm gì? Trả lời những câu hỏi này có những quan niệm khác nhau Thông thường người ta cho rằng sống để ăn, để mặc, thỏa mãn nhu cầu nên họ xác định sống để làm giàu , sống vì danh lợi, vì tiền, có người tìm thấy niềm vui ở sự thanh thản, có người sống vì đạo lý tốt đẹp Nói chung con người sống vì xã hội, vì hạnh phúc của người khác, sống để cống hiến và đem lại lợi ích nhiều nhất cho xã hội Sống và làm việc có mục đích là sống và làm việc theo những dự định đã đặt ra nhằm đem lại lợi ích chính đáng cho xã hội và bản than mình Hạnh phúc chân chính biểu hiện mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Lẽ sống chân chính giúp con người giữ gìn phẩm giá, danh dự, sống cao cả, biết hòa nhịp gắn bó với tập thể, tránh tư tưởng bè phái cục bộ, vị kỷ cá nhân và những thói đạo đức giả Một nhà khoa học, một sinh viên, một người lao động bình thường sống hướng lương thiện, lành mạnh, tận tâm với người khác, có ý thức giữ gìn phẩm hạnh của mình đó là những biểu tượng của lẽ sống đẹp Và chính lẽ sống giúp con người hoàn thành tốt nghĩa vụ đạo đức, vì con người tự ý thức được trách nhiệm của mình đối với gia đình, cộng đồng và dân tộc [49, tr 16] Người có lẽ sống tốt đẹp sẽ có khả năng vượt qua khăn để vươn lên trong cuộc sống Ngược lại, sự khủng hoảng về quan niệm lẽ sống sẽ có thể dẫn con người tới đổ vỡ niềm tin, chao đảo tinh thần, lệch hướng trong cuộc sống, rối loạn trong hành động, dẫn tới những hậu quả tiêu cực khôn lường trong lối sống Vì thế, trong giáo dục giá trị đạo đức để xây dựng lối sống phải đặc biệt coi trọng giáo dục lẽ sống
Như vậy, Lẽ sống là sự phản ánh mặt ý thức của của lối sống Nó là sự lựa chọn chủ quan của con người về lối sống, là mặt tự giác của lối sống, thể hiện sự khẳng định của mỗi cá nhân hay dân tộc đối với lối sống Tuy nhiên, lẽ sống không phải không bị quy định bởi các yếu tố khách quan như chế độ kinh tế, chính trị, xã hội… Lẽ sống có chức năng định hướng cho lối sống Vai trò của lẽ sống đối với lối sống giống như kim chỉ nam đối với việc điều chỉnh hành vi của con người, hướng con người xác định đúng đắn mục đích sống của mình, lẽ sống chi phối và liên quan
Trang 31rất nhiều đến định hướng sống của con người, những người có lẽ sống đúng đắn sẽ góp phần hình thành một lối sống đẹp, ngược lại những người xác định lẽ sống không đúng đắn có thể mất niềm tin vào cuộc sống dẫn tới những hậu quả khó lường Lẽ sống là mặt lý tưởng của lối sống, là mặt nhân lõi của lối sống Lối sống
là cơ sở đầu tiên hình thành nếp sống và lẽ sống Nếp sống làm cho lối sống được
ổn định và lẽ sống dẫn dắt cho lối sống ấy
Khái niệm phong cách có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Stylus, tiếng Hy Lạp là Stylos Ở phương Tây, khái niệm này đã đề cập từ lâu và thường được hiểu như một hiện tượng độc đáo, cá biệt trong văn học, nghệ thuật Các tác giả của cuốn “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” cho rằng: “phong cách không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp, giới hạn trong văn học nghệ thuật mà còn được hiểu theo nghĩa rộng tức là
lề lối, cung cách, cách thức, phong thái, phong độ và phẩm cách đã trở thành nề nếp
ổn định của một hay một lớp người, được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động như lao động, học tập, sinh hoạt, ứng xử, diễn đạt (nói và viết)…tạo nên những giá trị, những nét riêng biệt của chủ thể đó [55, tr 154] Như vậy, phong cách có thể được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ giới hạn trong văn học nghệ thuật và theo nghĩa rộng được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động của con người Dù theo nghĩa nào thì phong cách luôn là cái riêng, độc đáo có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của chủ thể đó Phong cách của một người luôn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố như truyền thống văn hóa, lối sống, thói quen, điều kiện sống, sự trải nghiệm thực tiễn, dấu ấn cá nhân… phong cách không mang tính cá nhân bẩm sinh, mà nó được hình thành bởi sự phấn đấu, rèn luyện, trau dồi không ngừng của chủ thể [90, tr 12]
Phong cách sống: GS.TS Đỗ Huy quan niệm: “Phong cách sống chỉ rõ thái
độ và cách thức sống, cách thức lao động, cách thức quản lý sản xuất và quản lý đô thị” [44, tr 200] Điều đó cho thấy phong cách sống dùng để chỉ thái độ và hành vi ứng xử cũng như định hướng giá trị trong đời sống hàng ngày của cá nhân và xã hội; phong cách sống còn được hiểu là hình thức biểu hiện của lối sống trong sinh hoạt, hoạt động xã hội của cá nhân và xã hội Phong cách sống nêu rõ tính chất chủ quan của quá trình thực hiện các hoạt động sống, nó không phụ thuộc hoàn toàn vào mức sống hay chất lượng sống
Trang 321.1.2 Tầm quan trọng, nội dung xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay
1.1.2.1 Thế hệ trẻ, đặc trưng của thế hệ trẻ
Thế hệ trẻ là khái niệm chỉ lực lượng xã hội đông đảo ở nhiều lứa tuổi khác nhau (có thể xác định là những người từ khi mới lọt lòng mẹ đến tuổi 30) Trong đó, thanh niên là những người đang trưởng thành về đạo đức, nhân cách Họ sẽ là lực lượng lao động chủ chốt của xã hội, là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế của nước ta Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu chủ yếu ở nhóm thanh niên (từ 16 đến 30 tuổi theo quy định của Luật Thanh niên năm 2005)
Ở tuổi thanh niên, con người đang trưởng thành, phát triển mạnh mẽ nhất về mọi mặt: sự phát triển chín muồi về thể lực, phát triển mạnh mẽ về trí tuệ, nhân cách, đặc điểm sinh lý… Con người có thể tiếp thu nhanh và hiệu quả nhất những tri thức khoa học; khả năng phân tích, đánh giá các vấn đề xã hội cũng như khả năng chịu ảnh hưởng của các giá trị, chuẩn mực, lối sống cũng nhạy bén hơn rất nhiều Từ những đặc điểm nêu trên cho thấy, thanh niên là lớp người có đặc điểm tâm lý xã hội rất đặc thù như: luôn muốn tự khẳng định mình; khát khao lý tưởng; thích cái mới lạ; ưa khám phá; sáng tạo; năng động; say mê các hoạt động xã hội; có nhu cầu về tinh bạn, tình yêu đôi lứa; chuộng công bằng, ghét bất công… Họ có sẵn trong mình bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, tinh thần xả thân vì nghĩa lớn Với ước mơ
và hoài bão cháy bỏng, nhạy cảm nên tiềm năng “vươn dậy” ở họ là rất lớn
Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm nổi bật, thanh niên nói riêng và thế hệ trẻ nói chung còn những hạn chế nhất định đó là, tinh thần dám nghĩ dám làm và tinh thần đổi mới rất cao đôi khi làm cho họ trở nên mạo hiểm, hành động tự do vô kỷ luật… do đó rất dễ thất bại Hoặc thanh niên giàu ước mơ và tinh thần lạc quan nhưng còn bồng bột nôn nóng, thiếu kinh nghiệm sống, xúc cảm nhiều khi mạnh hơn lấn át lý trí khoa học, vì vậy khi gặp thất bại dễ hoang mang, chán nản Óc tưởng tượng phong phú nhưng lại dễ ảo tưởng, mất phương hướng khi không đạt mục đích Họ rất thích cái mới, nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng bởi cái xấu, dễ bị kích động, lôi kéo… Những nhược điểm này ở thanh niên là khó tránh khỏi vì họ đang trong quá trình phát triển về mọi mặt Như vậy, càng thấy được vai trò quan trọng của giáo dục C.Mác đã nói về điều này: “Tất cả những gì đang phát triển đều là
Trang 33chưa hoàn thiện”, “sự không hoàn thiện cần đến sự giáo dục, nếu không giáo dục trở nên thừa” [69, tr 54-55]
Trên cơ sở nghiên cứu để có nhận thức đúng đắn về đặc điểm của thế hệ trẻ, chúng ta mới đưa ra được quan điểm khoa học trong XDLS cho thanh niên nói riêng, thế hệ trẻ nói chung, từ đó góp phần đưa sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam đạt được thành công tốt đẹp
Việt Nam là một quốc gia có dân số trẻ, tỷ lệ thanh niên trong cơ cấu dân số hàng năm tăng mạnh, năm 2007 con số này là 23.758.218 chiếm 28,1% dân số Điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay có nhiều tác động đến thế hệ trẻ, làm cho họ có những chuyển biến rõ rệt theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực trên các lĩnh vực,
bộ, đảng viên… làm cho nhiều thanh thiếu niên tỏ ra lo lắng, dao động về lập trường, tư tưởng; thậm chí bị cuốn vào lối sống cá nhân vị kỷ xa rời các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, không quan tâm đến các hoạt động chính trị - xã hội
Về đạo đức, lối sống: xuất phát từ ý thức chính trị đúng đắn cho nên thế hệ trẻ hiện nay về cơ bản có lối sống lành mạnh, nhân văn, kế thừa và phát huy tốt các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, ý thức sâu sắc về vai trò xung kích của tuổi trẻ trong xây dựng lối sống mới, dám đứng lên đấu tranh trước những hành vi sai trái, việc làm tiêu cực trong xã hội Song vẫn còn những thanh thiếu niên có biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống Đề cao lối sống thực dụng cá nhân vị kỷ, sùng bái nước ngoài, coi tiền là trên hết, quan niệm lệch lạc về tình yêu, hôn nhân, có những hành vi trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức của dân tộc
Về trình độ học vấn: thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay có điều kiện thuận lợi để học tập, nâng cao trình độ, tay nghề cùng với sự phát triển của kinh tế- xã hội đất nước
Trang 34Những năm gần đây, trình độ học vấn của họ nâng lên rõ rệt Số trường đại học, cao đẳng từ 191 trường (năm học 2001 - 2002) tăng lên 414 trường (năm 2010 - 2011) [2,
tr 260] Mặc dù vậy vẫn còn nhiều thanh thiếu niên ngại học, bỏ học, chưa chủ động, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu, nhất là thanh thiếu niên ở nông thôn, miền núi Trình độ ngoại ngữ, tin học còn yếu so với yêu cầu của đất nước và thời đại
Về lao động và việc làm: thanh niên là lực lượng xã hội chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động xã hội, số lao động thanh niên được đào tạo tay nghề có việc làm sau khi tốt nghiệp cao Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Hội nghị tổng kết 5 năm thi hành Luật Dạy nghề ngày 22/8/2012 tại Thành phố Hồ Chí Minh: Thời gian qua Luật Dạy nghề đã đạt được những kết quả to lớn như coi trọng dạy nghề trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo theo nhu cầu thị trường… có 80-85% số lao động qua đào tạo nghề được sử dụng đúng trình độ đào tạo; 30% có kỹ năng nghề từ khá trở lên; 70% số học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi tốt nghiệp Trình độ tay nghề ngày càng cao
và sự hăng say của tuổi trẻ, họ đã đóng góp rất hiệu quả vào hoạt động sản xuất của
xã hội Bên cạnh đó còn những bất cập như chưa định hướng nghề nghiệp rõ ràng, vấn đề phân luồng đào tạo, tỷ lệ thanh niên qua đào tạo tay nghề còn thấp, kỷ luật lao động kém dẫn đến tình trạng thất nghiệp, đời sống khó khăn, bấp bênh đối với nhóm người này Một số khác lười biếng, coi thường lao động chân tay
Từ sự phân tích những đặc điểm của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay, cho thấy
họ cần phải được quan tâm giáo dục và rèn luyện hơn nữa, đặc biệt phải được XDLS mới để vững bước trong cuộc sống
1.1.2.2 Xây dựng lối sống mới cho thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay
XDLS là quá trình tác động của chủ thể đến đối tượng nhằm hình thành và
hoàn thiện ở họ những nguyên tắc, chuẩn mực đúng đắn trong lối sống phù hợp với quá trình xây dựng, phát triển đất nước Nhờ đó, mỗi cá nhân có thể tự điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi lối sống của mình hướng tới các quá trình hiện thực hóa xã hội và con người mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn
Ở đây, cần chú ý một số nội dung sau:
Thứ nhất, lối sống mới ở Việt Nam mà chúng ta xây dựng là lối sống có chuẩn mức đạo đức, lý tưởng cao đẹp, có sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại
Trang 35Trong quá trình dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc Việt Nam, lối sống của con người được hình thành và phát triển mang bản sắc độc đáo, riêng biệt Đa số các nhà nghiên cứu nước ta đều cho rằng, lối sống truyền thống của người Việt được kết tinh từ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc: yêu nước, đoàn kết, thương người, cần kiệm, sáng tạo, thủy chung, ham học, trung thực, quý trọng người hiền tài, nhẹ nhàng, kín đáo, tế nhị, linh hoạt… các giá trị đó đã tạo nên bản sắc dân tộc
ta Khi nói về đặc trưng lối sống của con người Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lời một học giả người Pháp là Đơ Puphuôcvin: “Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, thờ kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, thương yêu giống nòi, tôn trọng lẽ phải, ghét xa hoa, không ham tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ hy sinh” [58, tr 265] Nhận xét trên đây của học giả pháp thể hiện sự nhận thức khá sâu sắc, toàn diện về con người Việt Nam Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết,
ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý đến tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong đời sống…” [21, tr 56]
Thứ hai, XDLS mới hiện nay là lối sống tuân thủ theo pháp luật; sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật Pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội Pháp luật muốn đi vào trong cuộc sống phải bao hàm trong nó những giá trị đạo đức, hướng tới một xã hội nhân văn, nhân đạo Việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thực thi pháp luật đúng đắn,
kỷ cương xã hội nghiêm minh sẽ góp phần phát triển giá trị đạo đức xã hội, làm cho đạo đức xã hội được thực thi trong cuộc sống Quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế thị trường định hướng XHCN, Đảng và nhà nước ta đã xác định phải xây dựng
hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thực hiện pháp luật nghiêm minh, từ đó tạo ra một
xã hội kỷ cương, xóa bỏ quan niệm lạc hậu của lối sống cũ: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế” [29, tr 247] Cùng với đó, chúng ta phải chăm lo xây dựng nhà nước vững mạnh, phát triển những hình thái ý thức xã hội khác, phát triển các loại hình nghệ thuật rộng rãi trong
Trang 36nhân dân, sử dụng những hình thức nghệ thuật để cổ vũ cái đúng, phê phán cái sai, ngăn chặn cái ác
Thứ ba, XDLS mới chính là nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn diện cả thể chất, tinh thần phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Việc XDLS mới cho con người ở nước ta trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước hiện nay cần tập trung vào xây dựng nhân cách con người Việt Nam với những phẩm chất nêu trên, những con người vừa có đức vừa có tài, vừa hồng vừa chuyên Hội nghị Trung ương năm khóa VIII đã đề ra nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay với những phẩm chất cơ bản sau:
Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH,
có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH
Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam
Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương, phép nước, quy ước cộng đồng, có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái
Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật sáng tạo, năng suất cao, vì lợi ích của bản thân, gia đình tập thể và xã hội
Thường xuyên học tập nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực [21, tr 58-59]
Khái niệm lối sống của thế hệ trẻ không vượt ra ngoài khái niệm lối sống Vì
thế, lối sống của thế hệ trẻ là cách thức, phương thức sống của họ thể hiện ở sự lựa chọn các hoạt động và cách thức thực hiện các hoạt động đó trong điều kiện sống
cụ thể trên các lĩnh vực như lao động sản xuất, học tập, hoạt động chính trị, hoạt động văn hóa tinh thần và hoạt động hàng ngày
Từ đây có thể hiểu: Lối sống mới là phương thức sống của con người thể
hiện ở sự lựa chọn các hoạt động và cách thức thực hiện các hoạt động đó mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn trong quá trình xây dựng CNXH nhằm thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện trên các lĩnh vực: đức, trí, thể, mỹ
Trang 37Xây dựng lối sống mới cho thế hệ trẻ là quá trình tác động đến thế hệ trẻ nhằm hình thành và hoàn thiện ở họ những nguyên tắc, chuẩn mực đúng đắn trong lối sống phù hợp với yêu cầu xây dựng đất nước theo định hướng XHCN Nhờ đó, mỗi cá nhân có thể tự điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi lối sống của mình hướng tới các quá trình hoàn thiện xã hội và con người mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay
XDLS của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay, chúng ta phải đặt nó trong bối cảnh cụ thể của đất nước và thời đại cũng như là những giá trị văn hóa nền tảng lâu đời của dân tộc đang được hiện thực hóa ra sao Nói về giới trẻ hiện nay, xã hội đều thừa nhận
“việc làm” và “lối sống” là hai từ khóa cấp thiết Điều này cho thấy lối sống là vấn đề được quan tâm lớn Lối sống của thế hệ trẻ được thể hiện trong học tập, lao động sản xuất, trong hoạt động xã hội và trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người Những lĩnh vực này không tách rời nhau mà tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau Ở đây, để xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ cần thực hiện các vấn đề sau:
Một là, Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng lối sống của thế hệ trẻ Và suy cho cùng môi trường xã hội là yếu tố quyết định đến việc hình thành nhân cách của con người Nó là tiền đề, điều kiện và là những yếu tố quyết định, tác động đến quá trình rèn luyện lối sống của thế hệ trẻ Nó tác động lớn đến nhận thức, tình cảm và sự hình thành nhân cách, lối sống của họ Một môi trường được coi là trong sạch, lành mạnh là môi trường trong đó có sự phát triển hài hòa, bền vững giữa kinh tế, chính trị, văn hóa và đạo đức Để thực hiện điều đó, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần làm cho chính sách phát triển kinh tế thống nhất với chính sách xã hội Phát triển kinh tế chính là tiền đề, cơ sở quyết định sự phát triển văn hóa- xã hội và sự phát triển cao của văn hóa xã hội trở thành động lực thúc đẩy trở lại nền kinh tế ngày càng phát triển Ở đây, những giá trị ĐĐTT tốt đẹp của dân tộc được lưu giữ và phát triển trở thành điểm tựa tinh thần của cả dân tộc, có tác dụng định hướng và điều chỉnh hành vi lối sống của thế hệ trẻ, giúp họ loại bỏ được những tàn dư văn hóa lạc hậu, tiếp nhận những giá trị mới, tiến bộ của dân tộc và nhân loại
Hai là, Đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức lối sống cho thế hệ trẻ, chú ý một số nội dung sau:
- Chủ động định hướng các giá trị đạo đức, giá trị văn hóa đúng đắn phù hợp với sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN vì các giá trị đạo đức truyền
Trang 38thống đóng vai trò góp phần định hướng, là động lực trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ, đồng thời còn bảo đảm cho cuộc sống của thế hệ trẻ phát triển tốt đẹp, đứng vững trước tác động mặt trái của KTTT và toàn cầu hóa, chẳng hạn như lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính trung thực, lòng vị tha, tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật, lễ độ, kính thày mến bạn Những giá trị truyền thống gia đình, tình nghĩa tiếp tục được phát huy Gia đình trở thành đơn vị sản xuất kinh doanh, là tổ ấm bình yên
an ủi con người trong một xã hội nhiều biến động, bất trắc Tình nghĩa gia đình, họ hàng, làng xã đồng hương là xu thế đang phát triển
- Đổi mới nội dung, phương pháp hình thức giáo dục đạo đức lối sống phù hợp với tâm sinh lý của thế hệ trẻ, hướng họ từng bước XDLS tốt đẹp Đối với thế hệ trẻ cần phát huy tính tích cực xã hội, tinh thần xung phong tình nguyện, ý chí chia sẻ với cộng đồng, xả thân vì cộng đồng, ý thức tiết kiệm, cần cù trong học tập, lao động, mạnh dạn đấu tranh quyết liệt với cái sai, cái tiêu cực, tệ nạn xã hội trong nhà trường và xã hội
- Ba là, nâng cao vai trò của các chủ thể giáo dục, các lực lượng giáo dục, đặc biệt
là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vai trò của các tổ chức chính trị xã hội, trực tiếp là Đoàn thanh niên, Hội sinh viên Cần chú ý là nhân cách là một sản phẩm đến muộn trong cuộc đời của mỗi con người Nếu thiếu vắng vai trò của giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức, tuổi trẻ có nguy cơ rơi vào sự chi phối của bản năng, dục tính một cách tự phát, ở bên ngoài tác động của văn hóa, tuổi trẻ sẽ phát triển lệch lạc, thậm chí rơi vào hư hỏng Vì thế, giáo dục giá trị đạo đức (trong đó có giá trị ĐĐTT dân tộc) cho thế hệ trẻ có vai trò cực kỳ quan trọng và đòi hỏi các chủ thể giáo dục phải am hiểu đối tượng thanh niên một cách tinh tế để từ đó sự tác động một cách tổng hợp cả lý trí và tình cảm, khoa học và nghệ thuật, cần đến cả trách nhiệm, sự tin cậy, tôn trọng, bao dung thuyết phục, văn hóa của nhà giáo dục đối với thế hệ trẻ
- Bốn là, phát huy tính tự giác, tự trọng, tự học tập, tự điều chỉnh của con người trong việc XDLS mới cho thế hệ trẻ Bởi vì, quá trình giáo dục chỉ thực sự có hiệu quả khi chuyển hóa thành quá trình tự giáo dục Kết quả giáo dục chỉ có được khi thế hệ trẻ biết biến những tri thức đã được học trong nhà trường, trong gia đình và xã hội thành sự hiểu biết của bản thân, từ đó hiểu được chân giá trị của nội dung giáo dục, biến nó thành tình cảm, niềm tin, nguyên tắc chi phối trong mọi suy nghĩ, hành động sống của chính mình, khi đó nó sẽ trở thành nội lực định hướng, hướng dẫn họ cần sống, học tập, rèn
luyện theo xu hướng tích cực, tiến bộ mà xã hội yêu cầu
Trang 391.1.2.3 Tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
Xây dựng lối sống mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay có tầm quan trọng đặc biệt mang ý nghĩa chiến lược bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, lối sống mới vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, hoàn thiện con người nói chung, thế hệ trẻ nói riêng
Quá trình XDLS mới gắn liền với cuộc đấu tranh gạt bỏ những tàn dư của lối sống cũ (lối sống phong kiến, tư sản, thực dân mới còn rớt lại) từng bước xây dựng lối sống mới văn minh tiến bộ Không phải chỉ đến khi xây dựng xong chế độ mới - chế độ XHCN mới XDLS mới mà phải xây dựng nó từ ngay giai đoạn đầu của thời
kỳ quá độ Việc XDLS mới có ý nghĩa định hướng, mở đường và lối sống mới như
là những nội dung lý tưởng bảo đảm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mà chúng
ta phấn đấu vươn tới Tất nhiên, chúng ta không bỏ qua những nguyên tắc xem xét
sự hình thành lối sống mới, bị chi phối bởi các quan hệ sản xuất, các phương thức sản xuất nhất định, các hình thái ý thức của mỗi kiến trúc thượng tầng
Lối sống nào cũng do ý thức hệ của nó quy định và nó đều có sự tiếp tục của truyền thống do các điều kiện địa lý, tâm lý, lịch sử đấu tranh của mỗi dân tộc
Lối sống mới góp phần quan trọng thúc đẩy và định hướng nền kinh tế phát triển lành mạnh, tạo cơ sở, tiền đề cho sự phát triển xã hội, hoàn thiện con người, trong đó có thế hệ trẻ Tùy thuộc vào lối sống của con người như thế nào, tác động của nó có thể làm cho nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái
KTTT với những tác động mặt trái của nó là nguyên nhân dẫn đến những thay đổi trong xã hội, làm suy thoái đạo đức, lối sống của con người Việc XDLS mới cho thế hệ trẻ hiện nay là giải pháp quan trọng đảm bảo sự phát triển lành mạnh và bền vững của nền kinh tế gắn với tiến bộ xã hội, khắc phục tác động xấu của KTTT
Lối sống mới góp phần hiện thực hóa mục tiêu chính trị của Đảng ta để giữ vững sự ổn định chính trị, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển xã hội và hoàn thiện con người Mục tiêu chính trị của giai cấp công nhân nước ta là xây dựng đất nước độc lập, giàu mạnh, dân chủ, nhân dân hạnh phúc XDLS cho thế hệ trẻ nhằm thực hiện mục tiêu trên Nền KTTT có thực sự phát huy những mặt tích cực của nó hay không còn phụ thuộc vào việc chúng ta có xây dựng được lối sống mới cho thế
Trang 40hệ trẻ văn minh, hiện đại hay không, cho thấy vai trò của lối sống mới trong việc củng cố và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Thứ hai, lối sống mới góp phần quan trọng trong việc “phòng ngừa”, “miễn dịch” cho toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ trước tác động mặt trái của cơ chế thị trường cũng như âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch
Tình hình thế giới, trong nước hiện nay có những biến động khó lường, kẻ thù luôn tìm cách chống phá nhằm lật đổ chế độ XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã gian khổ đấu tranh mới có được Mặt khác, những tác động mặt trái từ cơ chế thị trường đến đạo đức, lối sống của nhân dân trong đó có thế hệ trẻ là rất rõ ràng, nhưng để “miễn dịch” với nó lại không hề đơn giản Hành vi của con người luôn chịu sự chi phối bởi lợi ích Trong các chế độ xã hội có sự phân chia thành giai cấp đối kháng, lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với lợi ích của xã hội Trong CNXH có cơ
sở, điều kiện giải quyết mâu thuẫn cá nhân và xã hội Hồ Chí Minh đã nói: “Không
có một chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét lợi ích cá nhân đúng đắn và đảm bảo cho nó được thỏa mãn bằng chế độ XHCN - Chủ nghĩa cộng sản” Lối sống mới với yêu cầu của nó đòi hỏi con người phải có trình độ nhận thức cao và tính tự giác trong việc thực hiện các hành vi đạo đức của mình, biết đặt lợi ích của tập thể, cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân
Công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay ở nước ta đã và đang bị các thế lực thù địch chống phá ác liệt Chúng thực hiện âm mưu này trên mọi lĩnh vực nhưng chủ yếu là trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, nhằm làm tha hóa thế hệ trẻ, biến
họ thành những kẻ thực dụng, ích kỷ, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời truyền thống dân tộc… Chính vì vậy, nên cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, chúng ta phải quan tâm đến công tác tư tưởng, văn hóa, XDLS mới cho thế hệ trẻ để
họ có được niềm tin vào sự tất thắng của CNXH, tránh được những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, chống lại âm mưu của kẻ thù, làm chủ bản thân mình trong cuộc sống
Thứ ba, việc xây dựng lối sống mới xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thế
hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay
Thế hệ trẻ là lực lượng xã hội đặc biệt, là tương lai của đất nước Nhận thức sâu sắc điều này, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn gắn thế hệ trẻ với giai cấp công nhân
và Đảng cộng sản C.Mác cho rằng: “Những người công nhân tiên tiến nhất có thể