Ở phần đầu tiên cuốn sách củamình, ông đã phân tích rất rõ tấm lòng yêu nước, khao khát được canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ, cũng như cuộc đời đầy sóng gió, có tài nhưng không đư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI GIÁO DỤC
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI GIÁO DỤC
VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 8
1.1 Bối cảnh lịch sử chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX 8
1.2 Tiền đề lý luận 16
1.3 Con người và sự nghiệp của Nguyễn Trường Tộ 20
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 26
2.1 Triết lý giáo dục 26
2.2 Đối tượng giáo dục 35
2.3 Nội dung giáo dục 38
2.4 Phương pháp giáo dục 52
Chương 3: Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC NGUYỄN TRƯỜNG TỘ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 57 3.1 Giá trị của tư tưởng giáo dục Nguyễn Trường Tộ 57
3.2 Những gợi ý từ tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ đối với việc cải cách, đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay 59
3.2.1 Xu thế và yêu cầu cần đổi mới giáo dục của nước ta 59
3.2.2 Ý nghĩa tư tưởng giáo dục Nguyễn Trường Tộ đối với cải cách, đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay 62
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo
vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Thị Nguyệt
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ thời đại nào, muốn phát triển kinh tế - xã hội cũng đều phải xuất phát từ nhân tố con ngườivà đồng thời đích đến cũng phải là nhân tố con người Để có được những con người phát triển toàn diện, phải coi trọng
sự nghiệp giáo dục và đào tạo Trải qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sửxã hội loại người, giáo dục và đào tạođã khẳng định được vai trò ưu việt trong việc hoàn thiện nhân cách con người
Trong thời đại ngày nay, thời đại của công nghệ thông tin, của tự động hóa, hiện đại hóa… thì giáo dục và đào tạo lại càng có ý nghĩa quan trọng Đối với Việt Nam,đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thì việc đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực được đặt ra là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định Do đó,đẩy mạnh công tác giáo dục- đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng
Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng lại tiếp tục khẳng định: “Phát triển
giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [16, tr.108 – 109] Như vậy, phát triển giáo dục- đào tạo là một
trong những nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân, có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp đổi mới đất nước
Nhiều năm qua, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh công cuộc cải cách giáo dục để có thể tiến kịp với giáo dục hiện đại thế giới, phục vụ hiệu quả cho sự nghiệpxây dựng và phát triển đất nước Bên cạnh những thành tựu đạt được, so sánh mối tương quan chung với các nền giáo dục trong khu vực và trên thế giới, nền giáo dục nước ta vẫn còn không ít hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu, học tập, kế thừa, phát triển cáctư tưởng cũng nhưkinh nghiệmgiáo
Trang 6bộ trong tư tưởng của ông Vượt lên khuôn khổ của ý thức hệ phong kiến cổ hủ,Nguyễn Trường Tộ đã đưa ra một hệ thống quan điểm giáo dục tiên tiến, mang ý nghĩa thời đạimà đến nay, không ít quan điểm vẫn còn nguyên giá trị Ngay từ đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu đã đánh giá Nguyễn Trường Tộ là
“một trong những người trồng mầm khai hóa đầu tiên ở nước ta”
Nghiên cứu để làm sáng tỏ tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong việc đúc kết những bài học kinh nghiệm để vận dụng vào thực tế công cuộc đổi mới giáo dục ở nước ta hiện
nay Chính vì vậy, tác giả luận văn chọn đề tài “Tư tưởng giáo dục của
Nguyễn Trường Tộ và giá trị của nó đối với giáo dục Việt Nam hiện nay”
nhằm làm rõ hơn những nội dung cơ bản và giá trị tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
* Nghiên cứu chung về Nguyễn Trường Tộ:
Trang 73
Nguyễn Trường Tộ là một nhà cải cách lớn trong lịch sử dân tộc
Những tư tưởng của ông không chỉ có ý nghĩa to lớn ở thời kỳ của ông mà còn nguyên giá trị với hiện tại Không ít học giả đã dày công sưu tầm những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ để nghiên cứu những tư tưởng cải cách trong đó Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Phải kể đến đầu tiên đó là giám mục Trương Bá Cần, người đã bỏ ra rất nhiều công sức nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trường Tộ, sưu tầm và tổng hợp lại gần như đầy đủ những bản điều trần mà Nguyễn Trường Tộ đã viết để gửi lên Triều đình trong cuốn sách “Trương Bá Cần(1988), Nguyễn Trường Tộ- con người và di thảo”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Trong tác phẩm này, Trương Bá Cần đã tìm hiểu rất kỹ về xuất thân và cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ Ở phần đầu tiên cuốn sách củamình, ông đã phân tích rất rõ tấm lòng yêu nước, khao khát được canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ, cũng như cuộc đời đầy sóng gió, có tài nhưng không được trọng dụng, và ra đi trong sự nuối tiếc vì những những tư tưởng cải cách của mình vẫn còn chưa được thực hiện, rằng vận nước còn đang nguy nan, dân tộc còn phải chịu nhiều nỗi đau… Nhưng ngay lúc đó, người đời vẫn nhìn ông với con mắt nghi ngờ
Phần thứ hai được coi như phần giá trị nhất của cuốn sách, thể hiện công sức cũng như tấm lòng của một người rất trân trọng đối với những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ Trương Bá Cần đã sưu tập gần như đầy đủ các di thảo của Nguyễn Trường Tộ, cụ thể trong cuốn sách này là gồm 58 di thảo tất cả Ông đã có công lao to lớn trong việc lưu giữ cho lịch sử tư tưởng dân tộc nhưng tư tưởng quý giá của một danh nhân tài ba, là cơ sở dữ liệu để cho cácnhà nghiên cứu hậu thế Tuy vậy, cuốn sách này của Trương Bá Cần chỉ là cuốn sách mang tính chất tổng hợp, chưa đi sâu và phân tích nghiên cứu
Trang 8Tiếp theo, chúng ta có thể nhắc đến nhóm chuyên gianghiên cứu lịch sử
đã có những công trình giá trị về Nguyễn Trường Tộ như:
- Đặng Huy Vận- Chương Thâu(1961), Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội
- Hoàng Thanh Đạm ( 2006), Thời thế và tư duy canh tân, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nôi
- Phạm Huy Thông (2008), Nguyễn Trường Tộ một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
- Nguyễn Đình Đầu (2013), Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức, Nxb Trẻ…
Nhóm tác giả này đã có sự nghiên cứu kỹ lưỡng những di thảo của Nguyễn Trường Tộ, về bối cảnh lịch sử của dân tộc lúc bấy giờ để đánh giá được những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ Các tác giả này đã có
sự phân tích sâu sắc về từng lĩnh vực mà NguyễnTrường Tộ mong muốn được cải cách từ chính trị, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao, cho đến các vấn đề về văn hóa- xã hội Tuy nhiên, họ vẫnchưa phân tích cụ thể từng di thảo của Nguyễn Trường Tộ cũng nhưnguyên nhân tại sao những tư tưởngđó lại không được thực hiện Nhóm tác giả này cũng chưarút ra được những bài học cần thiết cho công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Thứ ba, có thể kể đến tác giả Lê Thị Lan, người đã có nhiều công trình nghiên cứu giá trị về những tư tưởng cải cách cuối thế kỷ XIX, trong đó, các công trình viết về Nguyễn Trường Tộ tiêu biểu như:
Trang 9Các tác phẩm nói trên đã cung cấp nguồn tư liệu quan trọng có tác dụng định hướng cho việc nghiên cứu đề tài này
* Nghiên cứu tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ:
Những bài viết về Nguyễn Trường Tộ đã được hệ thống khá đầy đủ trên nhiều lĩnh vực khác nhau, như các quan điểm ngoại giao mở cửa, quan điểm cải cách kinh tế, giáo dục, đến tôn giáo, văn học Tuy vậy, quan điểm giáo
dục của ông chỉ được bàn đến qua những bài viết đơn lẻ, như bài Về quan
điểm học thực dụng của tác giả Đặng Đức Thi, hay một phần trong bài Đánh giá Nguyễn Trường Tộ,Con người và nhân cách của tác giả Lê Văn Sáu và
một số bài nghiên cứu khác đã đề cập đến văn hóa, giáo dục như một khía cạnh để làm nổi bật những nội dung khác
Năm 1993 đã có cuốn Khoa cử và giáo dục Việt Nam của Nguyễn
Thắng được nhà xuất bản Văn Hóa – Thông Tin Hà Nội ấn hành, đã giải quyết tương đối toàn diện và đáng giá những đề nghị cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ, nhưng nhìn chung tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ vẫn chưa được đề cập đến một cách thỏa đáng
Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thu Thủy “Tư tưởng canh tân giáo
dục của Nguyễn Trường Tộ- giá trị của nó với giáo dục Việt Nam hiện nay”
Trang 106
đã đưa ra được nội dung giáo dục toàn diện của Nguyễn Trường Tộ và đánh giá những đề nghị canh tân của ông Tuy nhiên, luận văn chưa đề cập rõ ràng
về triết lý giáo dục mà ông đưa ra
Trong các công trình khoa học trên, các tác giả cũng đã phần nào đề cập đến tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ cũng như những đề nghị cải cách giáo dục của ông, nhưng về cơ bản, những công trình đó vẫn chỉ là những góc nhìn đơn lẻ của các tác giả.Vì vậy, để khẳng định giá trị, vị trí của
tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ thì việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện tư tưởng giáo dục của ông là rất cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Chứng minh giá trị của tư tưởng giáo dục Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó đối với cải cách giáo dục Việt Nam hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ điều kiện khách quan và chủ quan của việc hình thành, phát triển tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
- Hệ thống hóa và phân tích những nội dung tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
- Tìm hiểu giá trị hiện thực trong tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
* Phạm vi nghiên cứu:Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ có đề
cập tới giáo dục và các nghiên cứu đánh giá của những người đi trước về tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Trang 117
Đề tài được nghiên cứu dựa trên những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời dựa trên quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề giáo dục và đào tạo
để thấy rõ được những giá trị tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ trong giai đoạn hiện nay
*Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn đã sử dụng các phương pháp: logic- lịch sử; phân tích- tổng hợp; so sánh và hệ thống hóa nhằm làm rõ nội dung, giá trị và đánh giá ý nghĩa quan trọng củatư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ đối với giáo dục nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa, làm sâu sắc hơn nhận thức về tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ giúp định hướng cho nhận thức và thực tiễn hoạt động giáo dục và đào tạo
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu thao khảo, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 128
Chương 1: CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
1.1 Bối cảnh lịch sử chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Kể từ năm 1802 đến năm 1858, triều đình nhà Nguyễn có hơn 50 năm xây dựng và củng cố Đó là một đất nước độc lập, thống nhất cao đầy đủ chủ quyền, có một nền kinh tế và tổ chức xã hội, một thế lực khá mạnh mẽ, không thua kém bất cứ quốc gia nào trong khu vực Đông Nam Á
Tuy vậy, chế độ phong kiến Việt Nam lúc này đã và đang vào giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng Để bảo vệ quyền lợi của giai cấp và dòng họ, ngay khi lên ngôi, các vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã tìm mọi cách phục hồi và củng cố quan hệ sản xuất cũ, bóp chế lực lượng sản xuất mới vừa manh nha xuất hiện
Về mặt chính trị, Việt Nam nửa cuối thế XIX là quốc gia phong kiến do triều Nguyễn nắm quyền thống trị Để tập trung tuyệt đối quyền hành vào tay mình và củng cố sự thống nhất đất nước, nhà Nguyễn đã lấy Nho giáo làm tư tưởng chính thống, với đường lối đối nội “ngoại Nho, nội Pháp” và đối ngoại
“bế quan toả cảng”
Bô ̣ máy chính quy ền triều Nguyễn cho xây dựng càng về sau càng mang nă ̣ng tính quan liêu, đô ̣c đoán và sâu m ọt Khác với các triều đại trước, triều Nguyễn được dựng lên là nhờ kết quả của một cuộc chiến tranh do những thế lực phong kiến suy đồi tiến hành, được thế lực quân sự nước ngoài giúp sức chống lại phong trào Tây Sơn- một phong trào đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân và dân tộc Sau khi tái lập nhà Nguyễn cho thiết lập một chế
độ chính trị bằng thể chếquân chủ chuyên ch ế, công khai chống lại các lực lượng xã hội và các phe cánh không cùng chính kiến
Nhà Nguyễn thiết lập nền cai trị bằng những hình phạt khắc nghiệt, mọi quyền hành đều tâ ̣p trung trong tay nhà vua Vua được coi là (thiên tử) “con
Trang 139
trời”, thay trời trị dân Đối với bất cứ ai, vua để được sống thì được sống, bắt chết thì phải chết Quan đại thần Trần Hi Tăng từng bị bắt uống thuốc độc chết vì phản đối hiệp ước năm 1862 Từ năm 1859-1884, hàng trăm quan văn
võ bị khép vào tử tội vì để thất trận, cho dù có lý do chính đáng.Quan lại trong triều và ở các địa phương có nhiều người hủ bại, chính trị thì bảo thủ, cầu an, kinh tế thì tham lam và cuồng bạo Từ vua đến quan đều rất tự cao tự đại với học thuyết Khổng, Mạnh lỗi thời, xem trật tự phong kiến là bất di bất dịch, mãi đến lúc súng giặc nổ ầm bên tai mới bàng hoàng tỉnh giấc
Về xã hội, Nhà Nguyễn dùng luật pháp hà khắc, quân đội đông đảo, nho giáo phản động làm công cụ kìm kẹp nhân dân về mọi mặt trong trật tự của nền chuyên chế cực đoan, cho nên mâu thuẫn xã hội vốn đã có nguồn cội ngay từ đầu, ngày càng bộc lộ sâu sắc và quyết liệt Ở các tỉnh, huyện thì quan lại tham nhũng, xưng hùng xưng bá, tác oai tác quái, áp bức tàn nhẫn những người dân nghèo, những kẻ cô thế, bòn rút sức lực và của cải của dân một cách không thương tiếc có thể nói là “ bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước”… Còn những người hận đời gét kẻ gian tà, những kẻ thất trí vong mạng, phần nhiều ẩn nấp nơi thảo dã, chính là cơ hội cho những cuộc bạo loạn, những nạn cướp bóc, thổ phỉ diễn ra ngày một nhiều, người thấu hiểu và chịu cảnh đau thương đó chính là những người dân nghèo Nhân dân thì chịu cảnh bị áp bức bóc lột của địa chủ cường hào một cách thậm tệ Ruộng đất phần lớn đều tập trung vào trong tay giai cấp địa chủ phong kiến Mâu thuẫn giữa lực lượng sản suất ở nông thôn diễn ra ngày càng gay gắt
Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra và kéo dài suốt từ thời Gia Long cho đến thời Tự Đức Cuộc khởi nghĩa này bị dẹp thì cuộc khởi nghĩa khác lại nổi lên bởi vì đời sống cơ cực, tô thuế, sưu dịch nặng nề và bởi
vô số các chính sách đối nội, đối ngoại thiển cận khác của triều đình phong kiến Nguyễn
Trang 1410
Cao trào nông dân khởi nghĩa đã làm cho nền tảng của chế độ phong kiến lung lay tới tận nền móng Theo thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1848 đến năm 1862 (từ khi Tự Đức mới lên ngôi đến khi thực dân Pháp đã chiếm được
3 tỉnh miền Đông Nam Kì) đã có 40 cuộc khởi nghĩa nổ ra Và tính đến năm
1883, khi triều đình nhà Nguyễn kí hiệp ước Hác-măng, thừa nhận sự chiếm đóng của Pháp trên toàn cõi Việt Nam thì số cuộc nổi dậy chống triều đình lên tới con số 103 Để đối phó với phong trào nổi dậy của nhân dân triều đình đã thẳng tay đàn áp, dìm các cuộc khởi nghĩa trong bể máu, khiến cho lòng dân oán thán, chia lìa, khối đại đoàn kết dân tộc bị rạn nứt, đó chính là nguyên nhân gián tiếp, khiến cho kẻ thù bên ngoài xâm lược nước ta
Về kinh tế dưới triều Nguyễn, nền nông nghiệp lạc hậu, phân tán, tiêu điều thể hiện những yếu kém của chế độ phong kiến nhà Nguyễn, của hệ tư tưởng chính thống với nòng cốt là Nho giáo Kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ là sản xuất nông nghiệp, triều đình Nguyễn thi hành chính sách “trọng nông” Nghề nông vừa là nguồn thu nhập kinh tế, vừa là chỗ dựa cho nền đạo đức và trật tự xã hội phong kiến được ổn định Vì vậy, nông nghiệp được coi là
“chính nghiệp” Thương nghiệp bị kinh rẻ về đạo đức, là tầng lớp dưới trong bốn giai tầng (sĩ, nông, công, thương) của xã hội phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ Cũng vì quan niệm như vậy mà nhà Nguyễn đề ra chính sách kinh tế-
xã hội theo hướng “trọng nông ức thương”, “bế quan tỏa cảng”
Nông nghiệp, tuy coi trọng nghề nông nhưng chế độ sở hữu ruộng đất
công đến thời Nguyễn dần dần bị thu hẹp Ruộng đất phần lớn đều tập trung vào trong tay giai cấp địa chủ phong kiến Mâu thuẫn giữa lực lượng sản suất
ở nông thôn diễn ra ngày càng gay gắt Mọi nhu cầu về vật chất của nhà nước đều phải thông qua chính sách bóp nặn nhân dân, nhất là thợ thủ công và nông dân- bọn cường hào lý địa phương vì thế càng có cơ hội lộng hành
Trang 1511
Do không còn ruộng đất công để phong cấp cho quan lại như các triều đại trước, cũng như cần phải có nhiều tiền để chi dùng cho các hoạt động của Nhà nước, nhất là các hoạt động về quân sự nên ngay từ thời Gia Long đã đặt
ra các loại ngạch thuế mới, quy định mỗi năm một lần tiểu tu, 5 năm một lần đại tu, trong đó thuế ruộng công nặng hơn thuế ruộng tư, tức là đánh nặng hơn vào người dân nghèo không ruộng, có thể nói rằng “dân chúng vô cùng đói khổ, vua quan bóc lột thậm tệ”
Ngoài tô thuế nhân dân triều Nguyễn phải đóng rất nhiều khoản phụ thu như tiền mân, tiền rượu, cước lễ, tiền dầu lạt, tiền thập vật, tiền khoán khố, tiền sai dư, tiền trước bạ, dầu đèn,… Tình trạng xiêu tán của nông dân diễn ra rất nghiêm trọng, nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng, ruộng ít dân đông Năm 1826, tại 13 huyện thuộc trấn Hải Dương dân xiêu tán mất 108 xã thôn, ruộng bỏ hoang hơn 12.700 mẫu Đói kém xảy ra thường xuyên Đó là chưa kể đến các nạn ôn dịch, vỡ đê, hạn hán Thời Tự Đức, đê Văn Giang ở Hưng Yên vỡ 18 năm liền,biến cả vùng đồng bằng phì nhiêu đi các nơi xin ăn Năm 1859, một trận đói ghê gớm cướp đi sinh mạng của 60 vạn nhân dân các tỉnh Trung kỳ và Bắc kỳ
Mặc dù triều đình nhà Nguyễn cũng có những chính sách khai khẩn đất hoang, nhưng rồi thành quả khai hoang hoặc trước hoặc sau lại rơi vào tay giai cấp địa chủ phong kiến Theo Đại Nam thực lục vào năm 1831, tại tỉnh Bình Định “Nhà hào phú kiêm tính đến 1-2 trăm mẫu mà người nghèo không một thước đất” Còn về ruộng công thì “ruộng tốt màu cường hào chiếm cả,
có thừa ra thì hương lí lại bao chiếm, dân chỉ được phần đất rắn, xác màu” [Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập XXI đệ nhị kí, quyển 20, nxb KHXH, 1969, tr 58]
Thực trạng trên khiến cho lực lượng sản xuất bị hao mòn, kinh tế nông nghiệp trở nên sa sút tiêu điều Người nông dân không thiết tha với sản xuất,
Trang 1612
canh tác Cơ sở kinh tế phong kiến tự cung tự cấp lại được phục hồi và củng
cố
Về công nghiệp, nhà Nguyễn nắm trong tay những ngành kinh doanh
lớn Các địa điểm thương mại trước đây bị thủ tiêu, các công xưởng lớn đúc, đóng tàu, đúc tiền, các xưởng nhỏ chuyên chế tạo đồ dùng riêng cho nhà vua, vàng bạc, gấm vóc đều do bộ Công của triều đình quản lý Chế độ làm việc trong các công xưởng này rất hà khắc
Các nghề thủ công dân gian bị hạn chế: do thiếu nguyên liệu, do sức tiêu thụ kém, do tục giấu nghề, và còn do vô số các quy định hà khắc, quái đản khác của triều đình như việc quy định màu vải, chất vải được dùng cho từng hạng người, kiểu cách và kích thước nhà cửa cho các hạng dân được làm… Việc cấm dân họp chợ và hạn chế việc chuyên chở lúa gạo, diêm tiêu, sắt, thép, đã làm cho giao lưu hàng hóa trong nước gặp khó khăn, thị trường thiếu tập trung và thống nhất
Những chính sách này đã giáng một đòn nặng nề vào nội thương Việt Nam Thủ công nghiệp hầu như bị tê liệt
Toàn bộ nền kinh tế Việt Nam lúc đó cần phải được giải quyết nhanh chóng để đưa đất nước thoát khỏi sự bế tắc, khủng hoảng Thế nhưng chính những chính sách nhà Nguyễn đưa ra đã làm thui chột những mầm mống tự nhiên của một nền kinh tế đã xuất hiện trong những thế kỷ trước
Về giáo dục: Triều Nguyễn sử dụng hệ thống giáo dục và thi cử tuyển
chọn quan chức theo Nho giáo để đào tạo đội ngũ quan liêu đáp ứng mục đích chính trị đặt ra
Về quy mô, tổ chức giáo dục nhà Nguyễn so với triều đại phong kiến Việt Nam trước đó, kể cả thời Lê Sơ đã vượt lên rất nhiều về hình thức, có hệ thống khá chặt chẽ Tuy nhiên, nội dung và cách học không có tiến bộ đáng
kể Vì nhà Nguyễn cũng tuân theo khuôn mẫu nhà Lê
Trang 1713
Khi trẻ em lên 7- 8 tuổi đi học theo các sách “Nhất thiên tự”, “Tam thiên tự” để biết mặt chữ, biết nghĩa Sau đó học tiếp “Sơ học vấn tâm”, “Ấu học ngũ ngôn thi”, “Minh đạo gia huấn” khuyên về luân thường đạo lý Tiếp đến là học sơ lược về “Tứ thư”, “Ngũ kinh” và các tác phẩm văn học cổ đại Trung Quốc Ngoài ra Bắc sử là môn học quan trọng, để học kinh nghiệm “trị quốc, bình thiên hạ”
Như vậy, giáo dục coi Kinh, Truyện của Trung Hoa là mẫu mực Khi đi thi, ai thuộc nhiều Kinh, Truyện, giỏi thơ phú là đỗ đạt Trong khi đó nhiều môn học không được biết đến, khoa học tự nhiên không hề được dạy Như vậy, giáo dục thời kỳ này không đáp ứng được việc đào tạo ra những con người có năng lực để đáp ứng những đòi hỏi bức bách của kinh tế, xã hội Việt Nam, càng không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước nhanh chóng
để có đủ sức mạnh chống lại kẻ thù xâm lăng đang lăm le cướp nước ta
Theo nhận định của tác giả Phạm Thu Thủy trong cuốn luận văn “Tư tưởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trường Tộ- giá trị của nó với giáo dục Việt Nam hiện nay”: Nền giáo dục của triều Nguyễn đã bộc lộ một tính chất chung là quá cũ kỹ và lệ thuộc vào nền giáo dục phong kiến Trung Quốc Khi đất nước phải đối mặt với kẻ thù thì trong các khoa thi nhà vua có đề cập, có chú ý đến thực tế xã hội, đòi hỏi những nhà quản lý đất nước phải giải quyết Trong các bài văn sách thi đình nhà vua có hỏi về nội trị, ngoại giao và quan niệm về nhân tài cũng có thay đổi, rộng rãi và toàn diện hơn Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo và quản lý giáo dục chưa có biện pháp cụ thể tạo điều kiện cho người đi học tiếp cận được với cái mới, để họ có điều kiện giải đáp những câu hỏi lớn đang đặt ra Do đó, cả một thời gian dài, nền giáo dục nước
ta vẫn cứ dậm chân tại chỗ mà không tạo ra được những kết quả phù hợp với hiện thực, với nhiệm vụ lịch sử mà nó phải gánh vác
Trang 1814
Như vậy, từ nửa cuối thế kỷ XIX, nhà nước phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, mâu thuẫn xã hội lên cao, mặt khác đất nước đứng trước nguy
cơ bị thực dân Pháp xâm lược Đây là tiền đề cơ bản làm nảy sinh yêu cầu phải cải cách, canh tân, thực hiện các chính sách quản lý phù hợp hơn để chấn hưng đất nước, giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại gay gắt trong xã hội
và chấm dứt sự phát triển trì trệ của quốc gia trong nhiều thập kỷ Chúng ta thấy rõ những vấn đề yếu kém của nền giáo dục thời Nguyễn, trong khi giáo dục là yếu tố quyết định cho sự phát triển của đất nước Do vậy, để tăng cường sức mạnh của đất nước, một yêu cầu tất yếu là phải tiến hành đổi mới
về giáo dục Qua đây, có thể xem sự khủng hoảng toàn diện của chế độ phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XIX là nguyên nhân khách quan đầu tiên tác động đến sự hình thành tư tưởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
Thế và lực của triều đình Nguyễn ngày càng bị suy yếu, đây chính là thời cơ cho việc thực dân Pháp nổ súng chiếm đóng Việt Nam
Tại sao triều Nguyễn lại không thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một kiểu tư duy mới có thể thức tỉnh ý thức dân tộc trước sự bành trướng của Phương Tây? Một vấn đề đặt ra cho Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam là làm sao bảo vệ độc lập dân tộc, chống xâm lược của phương Tây
và giữ gìn các giá trị truyền thống trên cơ sở Nho giáo? Từ nửa cuối thế kỷ XIX, các nước Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, tầng lớp trí thức đứng trước
sự đe dọa và xâm lược phương Tây đã cải cách ít nhiều trên bình diện tư tưởng với việc tìm cách hòa hợp giữa hai yếu tố: sự bảo tồn giá trị truyền thống- nền tảng của đạo lý xã hội và sự tiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật phương Tây Các nước đã đưa ra những khẩu hiệu: Hòa hồn Dương tài (tinh thần Nhật, kỹ thuật Tây Âu); Đông đạo Tây khí (đạo đức phương Đông, thực hành phương Tây), Trung thể- Tây dụng (thể chất Trung Hoa, công dụng
Trang 1915
phương Tây) Còn đối với Triều Nguyễn lại không vạch ra được một đường lối riêng cho dân tộc, khẩu hiệu làm bật dậy sự thức tỉnh chung cho dân tộc trước những biến đổi của tình hình Về mặt này, rõ ràng Việt Nam dưới thời
Tự Đức tỏ ra lạc hậu hơn các nước theo Nho giáo khác
Việc lược khảo tình hình kinh tế- chính trị- xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX dưới sự cai trị của triều Nguyễn bộc lộ những nhân tố dẫn tới mâu thuẫn giữa các hệ tư tưởng, sự suy thoái cả về tư tưởng chính trị, kinh tế- xã hội, nguồn gốc về sự sụp đổ của triều đình nhà Nguyễn vào giữa thế kỷ XIX khi phải đương đầu với thực dân Pháp, một kẻ thù xâm lược mới, có vũ khí tối tân
mà lần đầu tiên ta gặp phải Với việc mượn sức mạnh thực dân làm mạnh cho mình, vua quan triều Nguyễn đã không nhạy bén trước sự thay đổi nhanh chóng ngay trong quan hệ “bạn bè” giữa triều Nguyễn và thực dân Pháp, cũng như sự biến động của thế giới, không có nhận thức đúng đắn trước những thách thức mới của lịch sử Bởi vậy, triều đình Nguyễn liên tiếp thất bại trong những lần đấu tranh chống lại thực dân Pháp Và khi đó, triều đình đã buộc phải ký với Pháp Hiệp ước “Hòa bình và hữu nghị” mà thực chất đó là hiệp ước đầu hàng (5/6/1862) nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ
và đảo Côn Lôn, tiếp sau đó là Hiệp ước Pa-tơ-nốt (6/6/1884)- Hiệp ước đã chấm dứt sự tồn tại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn với tư cách là một quốc gia độc lập
Bên cạnh xu hướng chủ hòa của các sĩ phu khi phải đối diện với kẻ xâm lược, đến nửa cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện một xu hướng hoàn toàn mới trong lịch sử, đó là xu hướng canh tân đất nước với những đề nghị đa dạng, phong phú và có những điểm sâu sắc Những nhà tư tưởng tiêu biểu như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ, Trong đó, Nguyễn Trường Tộ là nhà tư tưởng số một của khuynh hướng canh tân cuối thế kỷ XIX với chương trình canh tân đất nước bao quát nhất trên tất cả các lĩnh vực
Trang 2016
Nguyễn Trường Tộ đã phân biệt được đâu là những vấn đề cần phải làm ngay, làm tức thì và đâu là những vấn đề cần phải thực hiện trong một thời gian dài mới có thể đem lại hiệu quả để có thể chiến thắng được kẻ thù
1.2 Tiền đề lý luận
* Một số hạn chế trong tư tưởng Nho giáo:
Nho giáo phát triển rất mạnh ở các thời đại trước, làm cơ sở cho việc
“trị nước bình thiên hạ” Do vậy không lấy làm lạ khi mà ngay từ khi Gia Long lên ngôi đã chọn Nho giáo là cơ sở cho hệ tư tưởng của triều đại mới và Nho giáo ông sử dụng đó là Tống Nho- hệ tư tưởng đã được Chu Hy thời Tống đồng nhất giữa vương quyền và thần quyền, được củng cố chặt chẽ ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ XV Triều đình Nguyễn và các nhà nho lúc bấy giờ quan niệm về đạo trời và đạo người: ý chí của trời được gọi là thiên mệnh,
đã là thiên mệnh thì không gì có thể thay đổi hay làm trái được Mệnh trời được coi như là thứ vũ khí chính trị, vua được trao lại mệnh trời để trị dân Mặt khác, mệnh trời cũng có tác dụng an thần đối với tầng lớp nhân dân (sướng khổ, giàu nghèo, đều do trời quyết định hết cả) Ở nước ta lúc bấy giờ, từ triều đình, quan thần cho đến thứ dân, từ sách vở cho đến phong tục tập quán đều chịu ảnh hưởng của thuyết âm dương, ngũ hành Với cả xã hội như vậy thì Nguyễn Trường Tộ cũng không khỏi bị ảnh hưởng của thuyết âm dương, ngũ hành Về đạo làm người, nhà Nguyễn cũng lấy “ngũ luân”, trung tâm là “tam cương, ngũ thường” làm nền tảng đạo đức xã hội Như vậy, triều đình nhà Nguyễn sử dụng hệ tư tưởng Nho giáo được cải biên, cụ thể hóa vào trong đời sống xã hội cuối thế kỷ XIX
Tuy nhiên thời kỳ này, trên thế giới có nhiều biến động thì việc nhà Nguyễn đưa Nho giáo trở thành vị trí độc tôn ở thời kỳ này lại bộc lộ sự lạc hậu về tư tưởng Khi Nho giáo trở thành quốc giáo độc tôn thì hậu quả là
“trong triều đình cũng như ở hàng sĩ phu, nhiều tập tục ngàn năm lắm khi khá
Trang 2117
tốt đẹp của dân tộc, của dân gian bị xem rẻ và ruồng bỏ để thay thế bằng tập tục gọi là tốt đẹp của văn hóa phương Bắc mà Nho giáo cho là mẫu mực, vì gốc ở lời dạy của thánh hiền, của tiên vương” [22,tr.71] Tư tưởng “mệnh trời” của Nho giáo được vua quan nhà Nguyễn đặc biệt đề cao bởi nó thể hiện cho tính chính thống của triều đại và củng cố ngôi báu Sự độc tôn của Nho giáo ảnh hưởng trên nhiều mặt, trước hết là văn hóa, học thuật dẫn đến Việt Nam thời kỳ này thiếu kiến thức về khoa học tự nhiên Nho giáo thực sự đã không giúp gì cho việc khắc phục thiên tai, cải thiện cuộc sống của con người Các chuẩn mực đạo đức của Nho giáo làm rường cột cho nền đạo đức chính thống, cho chế độ cai trị của triều Nguyễn là rất khắc nghiệt và thiếu tính nhân bản nhưng vẫn được đề cao nhằm suy tôn uy quyền của nhà vua, của chế
độ gia trưởng
Chế độ giáo dục theo Nho giáo ở nước ta thời kỳ này đã bộc lộ nhiều bất cập:
Thứ nhất, giáo dục Nho giáo thực chất là dạy đạo lý thánh hiền, răn dạy
về đạo đức Vì vậy, Nho học không tạo điều kiện cho khoa học phát triển
Thứ hai, triều đình nhà Nguyễn sử dụng Nho giáo làm công cụ tư tưởng
để thống trị nhân dân nên chỉ chú trọng những những nhân tố có lợi cho sự cai trị: tập trungvào các vấn đề đạo đức- chính trị, đề cao tư tưởng trung quân và các quan niệm Nho giáo mang tính thần bí dẫn đến giáo dục Nho giáo thời kỳ này hết sức gò bó, câu nệ vào từ chương, nghĩa lý sách vở, xa rời thực tế
Thứ ba, trên thế giới có nhiều biến động to lớn, hình thành nên các hệ
tư tưởng mới ở các nước tư bản Trong khi đó, học thuật dưới triều Nguyễn có nhiều bất cập, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước Vì thế, đội ngũ nhân tài, trí thức nho giáo đã tỏ ra bất lực với tình hình chính sự của nước nhà khi Pháp xâm lược Từ đó vấn đề đổi mới giáo dục được các nhà tư tưởng thời kỳ này chú trọng Nguyễn Trường Tộ xác định: “Việc chỉnh đốn
Trang 2218
học thuật là cái gốc lớn của quốc gia” [2, tr 277] và xem đó là một trong tám việc cần kíp lúc bấy giờ
* Sự tiếp thu các tri thức khoa học kỹ thuật phương Tây:
Nguyễn Trường Tộ có điều kiện được đi sang các nước lớn , được tiếp xúc với người nước ngoài và đặc biệt ông được tiếp cận với nền khoa học kỹ thuật hiện đại của phương Tây đã góp phần vào sự hình thành và phát triển tư tưởng giáo du ̣c của mình
Khi được đi sang nước phát triển , Nguyễn Trường Tộ đã tranh thủ học tập các ngành khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội, quân sự, hàng hải, kiến trúc, khoa học, công nghiệp tiên tiến Ngoài ra ông còn đi nhiều địa phương
để tham quan học hỏi, tai nghe, mắt thấy, thăm các nhà máy dệt, các vùng mỏ than ở phía Bắc, các xí nghiệp luyện kim miền Đông là những vùng công nghiệp rất phát triển của nước Pháp Bởi vậy mà vào đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã có được một số kiến thức khá rộng lớn về khoa học kỹ thuật cũng như khoa học xã hội
* Ảnh hưởng của Kitô giáo:
Ngay từ lúc còn nhỏ, Nguyễn Trường Tộ đã tiếp thu văn hóa Kitô giáo,
là người có học thức lại thường xuyên nghiên cứu các vấn đề nên ông hiểu sâu về kinh thánh Trong các bản di thảo, điều trần, khi lập luận ông thường viện dẫn kinh thánh một cách khéo léo Dù bị triều đình cấm đạo gắt gao nhưng ông đã không sợ liên lụy mà còn táo bạo gửi điều trần can gián vua Ông viết: xét ra đạo Công giáo vào nước ta từ thời Lê… Lúc bấy giờ giáo dân
và những người trong ba đạo (Phật, Lão, Khổng), tuy tín ngưỡng khác nhau nhưng vẫn ân ái tiếp đón nhau, lễ nghĩa đối đãi nhau, năng lui tới với nhau không có hiềm nghi, đều là con dân của nước nhà mà thôi Từ khi ban hành lệnh nghiêm cấm thì mới sinh ra ghen ghét kỳ thị nhau, do ghen ghét kỳ thị nhau mới sinh ra tội lệ Từ đấy giáo dân bị phiền nhiễu đến nỗi phải lưu ly
Trang 2319
thất sở mà mắc vào vòng hình phạt Nước vốn trong, có quấy lên mới bị đục, nếu ngừng thì chốc lát sẽ trong trở lại Ông đưa ra quan điểm chống lại sự kỳ thị, đối xử bất công với giáo dân, đảm bảo sự tự do tín ngưỡng, lại vừa chống
lại sự lợi dụng tôn giáo làm những điều sai trái Ông viết: “Giáo dân cũng là
do tạo vật sinh dưỡng và đạo giáo cũng do tạo vật bảo dưỡng huống chi giáo dân cũng là một thành phần của nhân dân trong nước? Trong số đó nếu có kẻ bội nghịch chẳng qua cũng chỉ một phần nghìn phần trăm mà thôi…bất kỳ trong đạo giáo nào, hễ ai phản nghịch loạn thường đều là người đắc tội trong tôn giáo, cứ áo dụng hình phạt không tha để cho tôn giáo được trong sạch Còn ai yên phận tuân theo pháp luật thì để cho họ tự nhiên, có hại gì đâu? Đồng hành mà không nghịch nhan là được, cần gì bắt phải nhất tề những cái
mà tạo vật không thể nhất tề, cũng không cần thiết phải nhất tề để làm tổn thương hòa khí” [2, tr.118] Không những vậy, Nguyễn Trường Tộ còn là
người luôn có ý thức về bổn phận công dân Ông luôn đặt lợi ích của quốc gia dân tộc lên hàng đầu, lên trên các lợi ích tôn giáo thông thường Chính ông đã đưa ra một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ là giáo hội Việt Nam phải giao cho người Việt Nam cai quản Điều này mãi đến những năm sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 mới được nhắc lại và đến năm 1960 mới thành hiện thực khi Giáo hoàng Gioan XXIII ra sắc chỉ thiết lập hàng giáo hẩm ở nước ta Ông viết: “… năm trước tôi đã bẩm miệng với quan Thượng thư bộ Binh và bộ Hộ muốn nhân lúc đi Tây mà xin với Giáo hoàng rút giáo sĩ Pháp về, và chỉ giao cho giáo sĩ nước ta trong nom hoàn toàn việc đạo giáo… Tôi nói như thế, không phải là phản đạo, mà chính là để bảo vệ đạo” Mặc dù đạo Kitô bị triều đình truy bức, bản thân ông bị nghi ngờ nhưng ông không oán trách, trước sau vẫn giữ tấm lòng trung quân ái quốc Nguyễn Trường Tộ là một tri thức, nhưng là trong tư tưởng và hành động của ông luôn thống nhất giữa tình yêu nước và lòng kính chúa Chúa luôn răn dạy những con chiên của mình sống
Trang 241.3 Con người và sự nghiệp của Nguyễn Trường Tộ
Nguyễn Trường Tô ̣ sinh năm 1830 tại làng Bùi Chu , huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An Khi còn nhỏ, ông theo học chữ Hán, với tư chất thông minh, ham học, năm 16 tuổi đã thông tha ̣o Nho ho ̣c với Tứ thư , Ngũ kinh, được mọi người yêu mến gọi là “Trạng Tộ” Thế nhưng ông không đỗ đạt gì,
có thể vì ông là một người công giáo nên không muốn đi thi hoặc không muốn đi theo con đường khoa cử Sau khi thôi học, ông mở trường học dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) Xã Đoài là thôn theo
đa ̣o công giáo từ lâu đời nên n ăm 1846, giáo phận Vinh được thành lập với giáo mục tiên khởi là Gauthier, ông ta liền lấy Xã Đoài làm trụ sở
Năm 1858, giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang Pháp để học tập, nâng cao kiến thức Hơn hai năm ở Pari , chẳng những ông đã hiểu biết thêm về khoa ho ̣c – kỹ thuật, có trình độ như một kiến trúc sư, mô ̣t người hiểu biết kỹ thuâ ̣t khai mỏ , mà còn nắm bắt được các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật và một số hoạt động công nghệ của Pháp
Năm 1861, trở về Tổ quốc, khi thành Gia Định đã bị quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha chiếm đóng, Nguyễn Trường Tộ bất đắc dĩ phải làm việc với quân Pháp, phiên dịch các công hàm trao đổi giữa triều đình Huế với Soái phủ Pháp ở thành Gia Định Trong bài “Trần tình” (viết xong ngày 7
Trang 2521
tháng 5 năm 1863), Nguyễn Trường Tộ phân trần rằng: lúc bắt đầu khởi hấn (đầu năm 1859, quân Pháp chuẩn bị tấn công thành Gia Định), quân Pháp mời ông cộng tác, nhưng ông một mực từ chối Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ (tháng 2 năm 1861), ông thấy rằng phải tạm hòa theo đề nghị của Pháp để dưỡng quân và củng cố lực lượng Chính vì thế mà Nguyễn Trường Tộ đã nhận làm từ dịch cho Pháp để mong góp phần vào việc hòa đàm Do có thời gian làm việc cho thực dân Pháp, lại là người giáo dân(vốn dĩ Triều đình đã căm ghét đạo Kitô)đã khiến cho Triều đình và nhân dân có thái độ nghi ngờông, vì vậy mà tài năng của ông không được đánh giá đúng mức, không được trọng dụng
Năm 1863, Nguyễn Trường Tộ tìm cách thoát ra khỏi khu vực chiếm đóng của quân Pháp, liên hệ được với triều đình Huế Từ đây cho đến cuối đời, ông viết hàng loạt điều trần, luận văn, tấu trình, kiến nghị có tầm chiến lược nhằm canh tân đất nước, tạo thế vươn lên cho dân tộc để giữ vững nền độc lập một cách khôn khéo mà vững chắc
Về nhân cách, ông trước hết là một giáo dân có tri thức nho học sâu rộng, vô cùng yêu nước thương dân Lòng yêu nước của ông dựa trên sự hiểu biết của một trí thức có “tài ứng dụng với đời”
Trong quá trình làm viê ̣c cho thực dân Pháp, ông tham gia các cuô ̣c hòa đàm giữa triều đình Huế về Hiê ̣p ước 1862 Vốn là người h iểu biết la ̣i được học tập ở phương Tây cùng tình yêu đất nước của một trí thức trẻ tuổi , ông đã liên tu ̣c dâng lên Triều đình nh ững bản điều trần với mong muốn đổi mới đất nước
Trong bản Bàn về việc hòa (Hòa từ, 1861) Nguyễn Trường Tô ̣ đã lý
giải về thời thế và viện dẫn các kinh nghiệm lịch sử để thuyết phục Triều đình hoà với Pháp, tạo thời cơ phục hồi sức mạnh, củng cố nền tảng vật chất, tạm
hy sinh phần nhỏ để mưu vào việc lớn, sau này có cơ hội sẽ đòi lại
Trang 2622
Đến đầu tháng 5 năm 1863 ông gửi Triều đình 3 văn bản quan trọng:
Tế cấp luận, Giáo môn luận, và Thiên hạ phân hợp đại thế luận
Nhận thức được bối cảnh và khuynh hướng vận động chung của thế
giới lúc bấy giờ, Nguyễn Trường Tộ có những nhận định: Ngày nay các nước
phương Tây đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trỏa Oa, Lữ Tống, Cao ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị chẹn họng bám lưng Nước Nga thì từ Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các xứ ở Bắc Mãn Châu, không đâu là không bị chiếm đất
và nô dịch dân những nơi đó Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời, mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân đến, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ[2,
tr.107] Song đều không được phúc đáp Đầu năm 1864, ông lại gửi cho đại thần Trần Tiễn Thành một bản điều trần nữa để thuyết phục Triều đình nên tạm hòa với Pháp và mở rộng bang giao
Năm 1866, vua Tự Đức có chú ý đến các văn bản của Nguyễn Trường
Tộ nên mời ông cùng với giám mục Gauthier về Huế để chuẩn bị mở trường dạy nghề Thời gian này ông đã viết rất nhiều bản điều trần về những việc cần gấp rút làm ngay để chống lại dã tâm xâm lược của Pháp, trong đó bản điều trần “Tế cấp bát điều” (Tám điều cần làm gấp) đã đề cập đến việc làm gấp rút
và quan tâm sâu sắc đến nội dung và sự cấp thiết cải cách giáo dục- cơ sở để thực hiện các cải cách khác
Trang 2723
Trong các năm từ 1866 đến 1868, ông được vua Tự Đức tin dùng, giao cho một chức quan nhưng ông đã từ chối Các văn bản của ông gửi lên được Vua giao cho Viện Cơ mật thu nhận và cùng với vua nghiên cứu
Năm 1866, ông được giao đi tìm và khai thác mỏ ở Hải Dương, nhưng đến cuối năm đó ông được Triều đình gọi về Huế để cùng giám mục Gauthier sang Pháp với mục đích mua máy móc, sách vở chuẩn bị cho việc mở trường dạy nghề Tuy nhiên, sau đó ông lại được lệnh gọi về nước ngay Tháng 2 năm 1868, ông về đến Sài gòn mang theo một ít sách vở khoa học và máy móc cùng với hai vị linh mục, một giáo dân và một người thợ máy (tất cả đều
là người Pháp do Giám mục Gauthier vận động được) Sau khi xem xét các thứ mua về cho trường học, vua Tự Đức đã ban thưởng cho mọi người trong đoàn và muốn xúc tiến ngay việc mở trường dạy nghề Nhưng sau đó trường dạy nghề đã không được mở, máy móc, sách vở được cất giữ, bảo quản trong kho và sau cũng không được nhắc đến
Tháng 4-1868 ông xin về ở quê nhà Nghệ An Thời gian này ông ốm nặng nhưng vẫn đêm ngày viết các bản điều trần đề nghị triều đình thức tỉnh, canh tân đất nước để đánh đuổi được kẻ thù Nhưng tiếng nói cháy bỏng yêu nước của ông lại không được phúc đáp Đau buồn vì những mong muốn thay đổi vận mệnh đất nước không được thực hiện, ông mắc bạo bệnh và qua đời ở tuổi 41tại làng quê Bùi Chu ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức thứ 24, tức ngày
23 tháng 11 năm 1871 Trước khi mất, ông vẫn gửi lên triều đình những bản điều trần với tâm huyết đổi mới đất nước để có thể đánh bại được kẻ thù xâm lược
Ngoài những hoạt động thực tiễn, trong khoảng 10 năm, Nguyễn Trường Tộ đã liên tục viết và dâng lên vua Tự Đức cùng Triều đình 58 bản điều trần trên tất cả các lĩnh vực Tư tưởng và mong muốn của ông đều thể hiện trong các bản điều trần, trong đó tư tưởng giáo dục, đổi mới giáo dục
Trang 2824
được đề cập ở vị trí hàng đầu để tạo điều kiện thực hiện được các mặt canh tân khác Qua các bản điều trần đã thể hiện tài năng, tư duy tài tình của ông trên nhiều phương diện về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, ngoại giao, quân sự
Tư tưởng của ông đã vượt hẳn lên trên tầm thời đại giữa thế kỷ XIX ở Việt Nam.Vua Tự Đức tuy đã có lúc triệu ông “vào kinh để hỏi việc lớn” nhưng nói chung, Triều đình nhà Nguyễn cũng như các nho sĩ, văn thân thời đấy chưa hiểu nổi tư tưởng của ông nên chưa coi trọng đúng mức những kiến nghị cách tân của ông Trí tuệ lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ bị lãng quên như một luồng ánh sáng rọi vào đám sương mù dày đặc
để có thể đào tạo ra những nhân tài có khả năng giúp đất nước thoát khỏi khó khăn, chống được kẻ thù xâm lược Bên cạnh sự khủng hoảng của nền kinh tế, chính trị- xã hội, một trong những yếu tố khách quan mang tính quyết định đối với sự xuất hiện tư tưởng giáo dục của ông đó là sự ảnh hưởng của văn minh phương Tây với khoa học kỹ thuật hiện đại
Đã đề cập bên trên ngoài yếu tố khách quan thì không thể thiếu nhân tố chủ quan để hình thành nên tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ, đó chính là năng lực tư duy, khả năng quan sát nhạy bén,tư duy mới mẻ, có một
Trang 2925
kiến thức sâu rộng, có tầm nhìn cởi mở với việc tiếp xúc học tập những thành tựu của phương Tây kết hợp với tinh thần yêu nước nồng nàn của ông Trước thời cuộc của đất nước, Nguyễn Trường Tộ đã nỗ lực tìm hướng giải quyết, là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên đưa ra được chương trình canh tân trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt ông đã nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục khi coi giáo dục là yếu tố quyết định để đưa dân tộc thoát khỏi họa mất nước, đưa đất nước đi đến giàu mạnh Có thể nói, Nguyễn Trường Tộ đóng vai trò “nguời trồng mầm khai hóa đầu tiên ở Việt Nam”
Trang 3026
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC
CỦANGUYỄN TRƯỜNG TỘ 2.1 Triết lý giáo dục
Nguyễn Trường Tộ đề cập đến một nền giáo dục mang tính “thực dụng”, đề cao thực tiễn Việc học theo ông phải phù hợp với hiện tại, đem nội dung học tập áp dụng vào thực tế
Tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trường Tộ toàn diện hơn so với các nhà canh tân ở nước ta lúc bấy giờ Chẳng hạn như Hồ Quý Ly đã sửa đổi phép thi, buộc sĩ tử phải thi môn toán và chính tả, mở thư viện quốc gia, cho lập các trường ở các phủ huyện… Lê Quý Đôn thì cho rằng học đi đôi với hành, phê phán cái học mà sự biết với sự làm là khác nhau, ông nói “…mồm đọc, bụng nghĩ khác nhau, sự biết với sự làm khác nhau, sự nghiệp danh tích không có gì đáng kể, thì hạ cho nhiều cung có làm gì” [32, tr.125] Nguyễn Thiếp thì cho rằng phải vừa học vừa biết làm thì cái học mới có ích cho đất nước, ông nói: “Hạ cho rộng, rồi ước lượng cho gọn theo điều học biết mà làm Họa may nhân tài mới có thể thành tựu, nhà nước nhờ đó mà yên [32, tr.125]
Xuất phát từ nhận thức thực tế sự yếu kém của nền giáo dục nước nhà,
từ sự so sánh về học thuật với các nước trên thế giới mà ông từng có dịp biết đến, ông đề xuất một đường lối giáo dục mang tính lý luận Ông cho rằng để thực hiện được lý tưởng chính trị thì việc bồi dưỡng nhân tài có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với sự thịnh suy của đất nước, việc học tập bồi dưỡng
nhân tài tức con đường rộng lớn để đi đến giàu mạnh Quan điểm giáo dục
của ông được thể hiện rõ nhất trong “Về việc học thực dụng” được viết tháng
7 năm 1866 và “Tế cấp bát điều” viết tháng 10 năm 1867
Nguyễn Trường Tộ xác định: “Việc chỉnh đốn học thuật là cái gốc lớn của quốc gia” và xem đó là một trong tám việc cần kíp lúc bấy giờ
Trang 3127
Tuy nhiên, đứng trước hiện trạng vận mệnh đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc”, ông thấy rằng mẫu hình đào tạo và sử dụng nhân tài theo kiểu Nho giáo triều Nguyễn đã trở nên lạc hậu trước yêu cầu bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đất nước Bằng tư duy phê phán, ông nhận thấy hệ thống đào tạo nhân tài theo chế độ khoa cử dưới triều Nguyễn khi đó chỉ cho ra đời những “hủ nho” nệ cổ, chỉ biết khư khư bám giữ những chân lý cũ kỹ, xa rời thực tiễn, không có khả năng nhận thức thời đại mới, không có năng lực hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội Cơ chế sử dụng, đãi ngộ nhân tài triều Nguyễn hầu như chỉ khai thác nguồn các nhà nho đỗ đạt mà không khuyến khích hay chú trọng tới các nguồn nhân tài ngoài Nho học Thực trạng nghèo nàn, lạc hậu, yếu kém về mọi mặt của đất nước khi đó có nguyên nhân chủ yếu từ việc duy trì lâu dài nền giáo dục, đào tạo khoa cử lạc hậu này
Theo Nguyễn Trường Tộ, nghìn vàng dễ được chứ người giỏi khó tìm Vì thế,
ông đã chủ trương phê phán tận gốc và có hệ thống các quan điểm Nho giáo
về giáo dục và đào tạo
Trước tiên, Nguyễn Trường Tộ phê phán giáo dục đương thời- nền giáo dục hướng về quá khứ, xa rời hiện tại, hướng về phương Bắc, xa rời nước Nam, ông đã chỉ rõ tác hại của việc “pháp tiên vương”, “hậu cổ”:
“Học xưa thì lòng người hướng về đường lối xưa, muốn được như xưa, học nay thì lòng người hướng về thời nay, mà muốn đạt một sự nghiệp gì, học xưa, học nay có thể đổi khác lòng người như thế” [2, tr.258]
Bên cạnh đó, Nguyễn Trường Tộ chỉ ra sự bất cập của lối học xưa với công việc hiện tại: “Ngày còn bé thì học Sơn Đông, Sơn Tây ở đâu đâu, đến lớn làm việc thì lại đi Nam Kỳ, Bắc Kỳ Hồi nhỏ học những sách thiên văn, địa lý, chính trị phong tập thời xưa của Trung Quốc (mà bây giờ đã sửa đổi khác rồi) đến lớn lại phải là theo thiên văn, địa lý, chính trị, phong tục nước Nam, không dính dáng gì với sách học Hồi nhỏ thì học lễ nhạc, cách ăn uống,
Trang 3228
cư xử, việc chiến đấu và doanh trại xưa của Trung Quốc, mà đến lớn thì làm
lễ nhạc, cách ăn ở, đánh giặc phải làm theo quan dân nước Nam ngày nay Còn biết bao nhiêu việc như thế, không sao kể xiết Các nước trên thế giới chưa bao giờ có cái học và dùng trước mắt mà chân không đi đến, mắt không trông thấy như nước ta vậy” [2, tr.22]
Ông cho rằng cách học đó rất lãnh phí Bởi vì, cũng là công lao học tập, nhưng nếu dành thời gian, công sức và tiền bạc đó mà học những điều thực dụng, học khoa học tự nhiên… thì sẽ có tác dụng ngay cho hiện tại Ông nói:
“Thuộc lòng những tên người, tên xứ, những chính sự, nghĩa lý lộn xộn của Ngu, Hạ, Thương, Chu… mà học những công việc hiện tại như học việc binh, hình, luật, lệ, tài chánh, kiến trúc, canh cửi,… có thể làm cho dân giàu nước mạnh được vậy” [2, tr.250]
Có thực trạng trên, theo Nguyễn Trường Tộ là do chế độ giáo dục khoa
cử Nho giáo triều Nguyễn đặt mục đích chủ yếu là cung cấp đội ngũ nhân tài trên khía cạnh quản lý xã hội: học để làm quan cai trị, dạy dỗ người dân yên phận làm ăn, đảm bảo xã hội ổn định, kỷ cương Vì vậy, khi đất nước trong vòng an nguy, cùng với Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ cũng là một trong những người đã nhận thức được sự hạn chế của nền giáo dục Nho giáo xa rời thực tiễn khi nhận định: “Thiên văn, toán học ta đều chưa biết hết nên sao hiểu được cơ trời để sớm lo toan được cho dân… Trải qua việc mới biết tài học ta nông cạn Văn chương có bao giờ chống nổi với gió bão” [Nhóm Trà Lĩnh, 1990, tr, 271]
Nguyễn Trường Tộ đặc biệt chú ý đến vai trò của giáo dục, đào tạo Với ông, giáo dục phải được đặt lên hàng đầu trong những vấn đề gấp rút phải giải quyết nhằm đào tạo những con người mới có đủ tài trí để đáp ứng với thời đại mới Việc chỉnh đốn học thuật là cái gốc lớn của quốc gia
Trang 33tư duy giáo dục mới Từ đó, Nguyễn Trường Tộ đã đề xuất một đường lối giáo dục mới
Nguyễn Trường Tộ đề xướng việc học thuật theo hướng thực dụng Theo đường lối học thuật này, mục tiêu giáo dục được xác định rõ ràng là học những điều cần cho ngày nay bởi vì “ngày xưa chống giặc bằng cung tên, ngày nay phải có đại bác mới chống được giặc” [2, tr.390] Vì vậy, không bảo thủ, nệ cổ được, cần phải học cái hay, cái mới của người ta Do đó, phải “học
là học những cái chưa biết để mà biết, biết để mà làm…làm những công việc thực tế trong nước hiện nay và để lại việc làm hữu dụng cho đời sau nữa” [2, tr.248] Quan điểm này của Nguyễn Trường Tộ là sự tiếp thu đường lối giáo dục phương Tây đề cao giáo dục thực hành, ứng dụng và khoa học
Với chủ trương cải cách đường lối học thuật theo hướng thực dụng như trên, Nguyễn Trường Tộ xây dựng một chương trình giáo dục mới, mà theo ông có thể đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đào tạo người có đủ năng lực gánh vác các trọng trách lúc bấy giờ Cải cách giáo dục là nhằm mục đích đào tạo lớp nhân tài mới để bổ sung những người giỏi thực nghiệp vào tầng lớp quan lại cũ chỉ giỏi Nho học Điều này nếu được thực hiện sẽ dần dần tạo ra sự thay đổi lớn về phẩm chất và năng lực đội ngũ quản lý điều hành các lĩnh vực kinh tế- xã hội, tạo ra sự cải cách chính trị theo mô hình mà Nguyễn Trường Tộ đề cao
Trang 3430
Ông nêu lên: một nước học thuật không sáng tỏ thì nước ngày càng đồi bại và nhân tâm cũng phụ bạc, dối trá và nhấn mạnh thêm: “học thực dụng thì kết quả sẽ được thực dụng, nếu học hư hèn thì rút cuộc sẽ phải hư hèn”, “học
cổ thì lòng người ta chăm chú về đạo cổ và muốn học được như cổ, học nay thì lòng người ta chăm chú về việc nay và muốn làm nên sự nghiệp ngày nay Học xưa và học nay, hai việc đó thay đổi lòng người khác nhau như thế” [14, tr.100] Nguyễn Trường Tộ muốn chỉ trích nền giáo dục của nước ta thời Nguyễn Ông phê phán một cách sâu sắc nền giáo dục, đồng thời đề ra quan điểm giáo dục đúng đắn, giải quyết mối quan hệ “xưa và nay”
Nguyễn Trường Tộ chủ trương giải quyết việc học trong mối quan hệ
“ta và người” Mối quan hệ này được ông chỉ rõ: từ xưa đến nay, ta đều học theo sách vở, văn hóa của Trung Quốc mà không lo học kinh nghiệm và sức mạnh văn hóa dân tộc mình một cách thiết thực để tạo ra sức mạnh tri thức Ông viết: “Nước ta trên cũng có trời che tức thiên văn, dưới cũng có đất chở tức địa lý Nước ta ở trong trời đất cũng là một đất nước rất tốt, không phải phụ thuộc Bắc quốc, tựu trung cũng có nhân sự, nhân lực, tức là cái hiện tại
và cái tương lai ta cần phải làm” [2, tr.22]
Trước tình hình của đất nước cộng với nền giáo dục đang ngày càng đi xuống, ông đưa ra lời cảnh báo: “Không lo những việc cần kíp trước mắt, cứ
lo những việc vô ích, xa xăm đời xưa, tôi e rằng kẻ địch xung quanh ta nay mai sẽ đến nô dịch ta bằng văn hóa, pháp luật của chúng, chừng đó dẫu ta có
ăn năn cũng muộn rồi” [5, tr.22] Kẻ thù mà Nguyễn Trường Tộ nói đến chính
là kẻ thù mới- thực dân Pháp với nền văn hóa, luật pháp hiện đại mang bản chất của phương Tây Ông cho rằng, nếu ta không nâng cao trình độ văn hóa, hướng tới mục tiêu phát triển văn hóa của mình để chống lại chúng, cứ mãi theo cái văn hóa phương Bắc thì sau này ta sẽ phải chịu sự nô dịch của thực dân phương Tây, lúc đó có nhận thức ra được thì cũng muộn rồi Từ đó, ông
Trang 3531
thẳng thắn nói lên trách nhiệm của triều đình trong vấn đề này: “Nói về học thuật, mà không có đường lối sáng suốt rõ ràng, một phần do sách vở, một phần lỗi tại triều đình” [2, tr.250] Tại sao vậy, theo ông thì “nhìn chung, người phương Tây học tùy theo tính chất của con người mà bắt chước nhiều
sự thực của tạo hóa, lấy chỗ sở đắt mà di dưỡng tình hình…cho nên người dân cũng được nhiều thành tựu để đáp ứng trăm nghìn công việc Nước ta chỉ quý trọng nho sĩ cho nên dân cũng chỉ biết theo con đường học Nho mà thôi Nay nếu dân biết rõ ràng Triều đình cũng quý cả nhiều nghề khác thì sẽ không mấy năm dân chúng sẽ cống hiến được nhiều nghề cho Triều đình” [2, tr.196]
Trong cuốn Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim cũng phê phán lối học dưới triều đình nhà Nguyễn Chương trình sự học cử nghiệp có những gì? Bao nhiêu công phu của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ những sách
Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng những lời thể chú của tiền Nho và học thêm mấy bộ
sử của Tàu Còn sự luyện tập hàng ngày, thì cốt tập cho thạo thuộc các lề lối ở chỗ khoa trường là: kinh nghĩa, tứ lục, thi phú, văn sách Ấy là dùng hư văn
mà xét tài thực dụng, đem sự hoa mỹ làm mực thước đo tài kinh luân Bởi vậy
ai hay kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị nước Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ kiêu căng, cho thiên
hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh
Nguyễn Trường Tộ cũng phê phán lối học của nước ta thông qua việc
so sánh nền học thuật với các nước Nhật Bản và Triều Tiên Các nước đó cũng giống với nước ta đều đọc và tiếp thu nho giáo, chịu ảnh hưởng của Nho giáo nhưng không phải cái gì nước họ cũng học theo nho giáo, đó là sự khác biệt trong tiếp thu nho giáo giữa các nền văn hóa chịu ảnh hưởng của nho giáo: “Tuy Nhật bản và Cao Ly cũng đọc sách Tàu nhưng chỉ để làm vui… Còn ra làm thì đều theo sách của nước họ, công việc của nước họ, chưa bao
Trang 36hư háng thì khó tìm được người chuộng nghĩa thực dân sốt sắng công việc” [2,tr.248]
Nguyễn Trường Tộ đưa ra quan điểm: giáo dục để đào tạo nhân tài cho
đất nước Ông cho rằng mấu chốt quan trọng của sự thịnh- suy, “con đường
rộng lớn để đi đến giàu mạnh” chính là việc học tập, bồi dưỡng nhân tài
Ông nhận thấy rằng, chính sách dùng người của triều đình nhà Nguyễn không khuyến khích được nhân tài tham gia xây dựng đất nước Nguyên nhân của vấn đề, theo ông là do nền giáo dục khoa cử của Triều đình chỉ trọng hư danh mà thiếu tính thực dụng đã khuyến khích nhân tâm lấy việc học để ra làm quan là trọng, là danh giá hơn những người giỏi nghề thực dụng Trong
Tế cấp bát điều, điều thứ hai, khoản “nhiêu học”,ông chỉ rõ: “Thế tại sao
nước ta không thấy có nhiều nhân tài, còn các nước nhân tài vẫn đủ dùng? Như thế có phải là ta thi ơn mà không được đền ơn chăng? Có lẽ các nước trên thế giới người ta cho rằng con người ai cũng cần giàu sang lợi nhuận nhưng mượn hai chữ “công danh” để che đậy cá nhân mình thôi Về mặt nhà nước cũng muốn cho đẹp lời là nói “tìm nhân tài” nhưng kỳ thực là mướn người làm Như vậy, người đi học ra làm quan cũng như người ở nhà làm ăn sinh sống Chỉ có điều là đi làm mướn thì nghe nó hèn mà không tình, không nghĩa, còn làm quan thì sang quý lại được danh nghĩa đem thân giúp nước…
Trang 37an tâm cống hiến tài năng, gây nên sự lãng phí: “Nay hễ nghe khen thì mời
về, nghe chê thì đuổi đi Việc chứa giữ nhân tài nguồn gốc của nó thật sâu xa,
mà việc dùng hay bỏ tài thì lại bỗng chốc tạm bợ Như vậy, chẳng những có phụ việc cầu tài của trên mà kẻ có tài cũng vô dụng, khiến đến nỗi kẻ có tài sau này bế tắc không đường thăng tiến, khiến kẻ có tài mà không gặp hội phải vất bỏ hết bao công lao trước kia mà thay đổi nghề nghiệp” [3, tr 208] Trước tình trạng bất ổn và rối ren của triều đình, trong “Thiên hạ địa thế luận” ông
đã cảnh báo hiện trạng sử dụng nhân tài như trên sẽ làm cho người tài ngày càng mai một: trời thì sinh tai biến, tiền của sức lực của dân thì kiệt quệ, trong triều đình thì quần thần chỉ làm trò mua vui lấy lòng vua, che đậy những việc
hư hỏng, ngăn chặn những bậc hiền tài
Nguyên nhân sâu xa của tình trạng thiếu vắng nhân tài theo Nguyễn Trường Tộ là xuất phát từ quan niệm hạn hẹp về nhân tài của Triều đình, chỉ coi trọng người học Nho và thành danh qua con đường khoa cử Ông đề nghị Triều đình từ bỏ quan niệm cũ là chỉ dùng các trí thức Nho học và thay đổi quan điểm chỉ dùng văn chương để chọn nhân tài: “Không có nước nào lấy văn chương để chọn nhân tài Đó cũng vì thơ phú không đuổi được giặc, nghìn lời không được một kế sách” Từ nguyên nhân sâu xa này, ông đề nghị triều đình sử dụng và khen thưởng bất cứ ai, dù họ là nhà buôn, thầy thuốc, nhà nông, nhà hoạt động xã hội… miễn là họ có khả năng đem lại lợi ích chung cho xã hội, cho đất nước “Nước ta thì chỉ quý trọng Nho sĩ… Nay nếu cho dân biết rõ rằng triều đình cũng quý cả nhiều nghề khác, thì sẽ không mấy năm dân chúng cũng sẽ cống hiến được nhiều nghề cho triều đình” [Di thảo
Trang 3834
số 18, trong Trương Bá Cần, 1991, tr 196] Đề ra kế hoạch đào tạo nhân tài trong nước qua hệ thống trường chính quy, chú trọng khoa học tự nhiên Đào tạo nhân tài qua các trường dạy nghề, qua hoạt động thực tế, nhưng là một thực tế hết sức mới mẻ ở Việt Nam chứ không phải chỉ có các điển tích từ chương trong sách vở của Trung Quốc cổ đại Ông đề nghị mở cửa cho nước ngoài vào khai thác một số mỏ ở nước ta, để ta ăn chia với họ, và cho dân ta theo làm cùng vừa kiểm tra được, lại vừa học được nghề “Hiện nay, cái mà chúng ta rất thiếu thốn là sự học tập tài nghệ… Nếu họ đến khai thác một chỗ nào, thì quan quân chúng ta cũng đến đó và sẽ thấy tận mắt những điều mà học tập được Còn thường dân của chúng ta thì làm cho họ cư xử gần nhau, ăn mặc như nhau, như thế không ngoài 10 năm tài nghệ của dân ta không kém gì
họ Như vậy, thì nhà nước không tốn một đồng tiền, mà nhân dân lại học được thành nghề cả” [1, tr.162] Ông nhấn mạnh “vả lại việc dùng người cũng tùy
sở năng” Nguyễn Trường Tộ đặt ra yêu cầu phải có một chính sách đào tạo
và sử dụng nhân tài một cách phù hợp với khả năng của từng người, như thế mới có thể thấy chỗ mạnh, yếu của mỗi người để bố trí sử dụng hợp lý
Trước vận mệnh dân tộc đang bị thực dân Pháp xâm lược- kẻ thù ưu việt hơn nhiều về mặt vũ khí, phương tiện chiến tranh và trình độ văn minh, thì kiểu nhân tài giỏi Nho học không còn đủ khả năng đảm đương những sứ mệnh lịch sử trong giai đoạn mới Yêu cầu đặt ra là Triều đình phải có một quan điểm mới về nhân tài và phải xây dựng được một hệ thống đào tạo và sử dụng nhân tài phù hợp Nguyễn Trường Tộ cho rằng, nhân tài không chỉ là người có đức, có nhân nghĩa mà còn phải là người có tài nghệ Người có tài nghệ thì mới thành công vì giỏi tài nghệ mới hiểu thấu lý lẽ của người và vật Tài nghệ ở đây được Nguyễn Trường Tộ xác định là tất cả những kiến thức và
kỹ năng khoa học kỹ thuật, kỹ xảo nghề thực nghiệp, có được nhờ học tập tự nhiên, bắt chước theo tự nhiên, khai thác tự nhiên, phát triển khoa học để làm
Trang 39là vì người đó biết mở mang các vật để phục vụ nhân sinh” [2, tr.192] Ví dụ
ở phương Tây “La Mã là một triều thống nhất, võ công vang lừng bốn biển,
uy linh rung chuyển ba phương, họ có nhiều chế tác kỳ dị lưu truyền mãi đến nay” [1, tr.192] So sánh với ta, ông chỉ rõ: Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh “những nhà sáng nghiệp mở mang cũng chưa từng thấy dùng
kẻ văn học ra làm quan, làm tướng” Nên khi việc học và việc sử dụng người chỉ chuyên về văn chương và bỏ qua cái học thực dụng thì “thế nước yếu đi
do thiếu người tài giỏi giúp đỡ”
Với sự đổi mới tư duy và quan niệm tiến bộ về con người và nhận thức
về vai trò to lớn của nhân tố con người trong tiến trình xã hội, Nguyễn Trường Tộ đã chú ý nhiều đến giáo dục và đặt vấn đề giáo dục lên hàng đầu trong những vấn đề gấp rút phải giải quyết, nhằm đào tạo những con người mới có đủ tài trí để đáp ứng nhu cầu của đất nước và thời đại Xác định được giáo dục là mục tiêu hàng đầu, Nguyễn Trường Tộ đã chỉ ra giáo dục đúng đắn là cần phải xóa bỏ sự trì trệ, lạc hậu của nền giáo dục Nho giáo Bởi vậy: lấy ngày nay, hướng tới mai sau, lấy hiện thực đất nước để phát triển giáo dục
2.2 Đối tƣợng giáo dục
Đối tượng giáo dục mà Nguyễn Trường Tô ̣ đề câ ̣p đến là toàn dân Nội dung học tập được Nguyễn Trường Tộ đưa ra trên tất cả các lĩnh vực Theo ông, học phải gắn liền với thực tế, do vậy đối tượng học tập cũng phải được
mở rộng để phù hợp với nội dung đó, không chỉ dừng lại ở tầng lớp trên mà những tất cả người dân đều phải trở thành đối tượng của giáo dục
Trang 4036
Trong bản điều trần “Về việc học thực dụng”, Nguyễn Trường Tộ cũng
đã nói: “truyền hỏi bất kỳ người nào, bất luận lương hay giáo, ai tìm được thực lý, thực sự thì theo đầu đề viết thành bài nạp lên Nếu việc làm phù hợp với lời nói và có ích cho việc công của nước nhà thì chiếu theo khoa mà bổ dụng Nếu như có ích cho việc tư trong dân gian thì được cấp bằng để tự chế tạo ra mà phát hành Nếu như quan địa phương có ý kỳ thị người nào mà giấu bài thi đi thì người ấy được phép lên tận Kinh tố cáo” Ở đây, Nguyễn Trường
Tộ đã đưa ra quan điểm rõ ràng tất cả mọi người, kể cả người dân hay quý tộc, lương thiện hay không miễn là có những sáng kiến, thực lý thì đều được viết thành bài và nộp đưa về Kinh và trở thành bài thi, tốt thì được bổ dụng Điều này đã khích lệ tinh thần sáng tạo của mỗi người với những tài năng trên tất cả các lĩnh vực, chứ không phải chỉ có Nho sĩ mới có thể ứng thi “Nay nếu cho dân biết rõ rằng Triều đình cũng quý cả nhiều nghề khác, thì sẽ không mấy năm, dân chúng cũng sẽ cống hiến được nhiều nghề cho Triều đình”
Trong chương trình giáo dục, Nguyễn Trường Tộ đề nghị lập thêm các khoa hải lợi, sơn lợi, địa lợi, thủy lợi, nông chính Có thể thấy rằng, quan niệm coi trọng khoa học tự nhiên, coi trọng tri thức của con người về thế giới khách quan, về tồn tại xã hội là một quan điểm mới đối lập với quan niệm đề cao đạo đức con người trong giáo dục Nho học Trong việc thành lập khoa nông chính, đối tượng học tập mà Nguyễn Trường Tộ hướng tới vừa là quan lại phụ trách ngành nông nghiệp vừa bao gồm cả người dân Đối với đội ngũ nông quan thông qua trường lớp đào tạo để trang bị những kiến thức cơ bản
về ngành nông nghiệp, am hiểu các giống cây, giống vật, khí hậu, đất đai của từng địa phương trong nước Ngoài đào tạo những kiến thức chuyên ngành còn đào tạo về năng lực chỉ đạo nông nghiệp cho nông quan Đối với người dân thì cần phải học tập các kỹ năng, kỹ thuật đúng trong cách trồng trọt, chăn