Từ khi tái lập huyện 1 - 4 - 1997 đến nay, Đảng bộ huyện Kim Thành đã có những chủ trương, quan điểm mới, đúng đắn, với tư duy kinh tế năng động, đã lãnh đạo phát huy tiềm năng, thế mạnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỒNG THỊ MAI HOA
ĐẢNG BỘ HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Yên
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy Lê Văn Yên - người
đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới thầy cô, bạn bè, những người thân đã động viên, khích lệ tôi cũng như các chú, các cô, các anh chị đang công tác tại tỉnh Hải Dương, huyện Kim Thành đã nhiệt tình cung cấp tư liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Luận văn của tôi chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong được sự góp ý của các thầy cô, bạn bè, những người quan tâm đến vấn
đề này để nội dung của bản luận văn hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày… tháng… năm…
Tác giả luận văn
Đồng Thị Mai Hoa
Trang 4MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU 2 Chương 1: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ TÌNH HÌNH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA HUYỆN KIM THÀNH TRƯỚC NĂM 1997 10
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội huyện Kim Thành 10 1.2 Chủ trương của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 16 1.3 Tình hình cơ cấu kinh tế huyện Kim Thành trước năm 1997 và những vấn đề đặt ra 29 Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ HUYỆN KIM THÀNH (HẢI DƯƠNG) LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010 39 2.1 Chủ trương và quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1997 - 2000 39 2.2 Chủ trương và quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001 - 2005 Chủ trương và quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2006 - 2010 69 Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM 90 3.1 Một số nhận xét 90 3.2 Bài học kinh nghiệm 101
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 123
2.3 …
55
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung cốt lõi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Để có một nền kinh tế phát triển, có tốc độ tăng trưởng cao đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh
tế hợp lý Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối đổi mới, mở ra bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước Từ đó đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, phát triển
và từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới, đặc biệt là những chủ trương, chính sách đổi mới về kinh tế Nhờ đó, mà kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng và phát triển khá toàn diện, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội lần thứ XI của Đảng (2011) cũng đã chỉ rõ:
“Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại và điều chỉnh chiến lược phát triển doanh nghiệp, tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế” [26, 191 - 192].
Huyện Kim Thành thuộc tỉnh Hải Dương là một huyện đồng bằng có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, đất đai phì nhiêu, về tiềm lực lao động, con người cần cù, thông minh lại nằm giáp thành phố Hải Phòng có đường quốc lộ 5A và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, ở vào khu tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Những thuận lợi trên là điều kiện quan trọng
để Đảng bộ huyện Kim Thành lãnh đạo khai thác tiềm năng, lợi thế thực hiện
Trang 6chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước nói chung và của huyện Kim Thành nói riêng đang đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết nhằm thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý và đạt hiệu quả cao
Từ khi tái lập huyện (1 - 4 - 1997) đến nay, Đảng bộ huyện Kim Thành
đã có những chủ trương, quan điểm mới, đúng đắn, với tư duy kinh tế năng động, đã lãnh đạo phát huy tiềm năng, thế mạnh và truyền thống vẻ vang của quê hương, đã thu hút mạnh nguồn vốn trong và ngoài nước, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Huyện Kim Thành đang được biết đến như một vùng kinh tế khởi sắc và hứa hẹn phát triển mạnh mẽ trong tương lai
Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Đảng bộ huyện Kim Thành chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có mà còn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức nên chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu về phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Nhằm đánh giá đúng thực trạng với những ưu điểm, hạn chế và tìm ra những nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế; từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn huyện là việc làm cần thiết
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Đảng bộ huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2010" làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta Tiêu biểu là các nhóm sau:
Trang 72.1 Nhóm chuyên luận, chuyên khảo của các nhà khoa học
- GS Đỗ Đình Giao: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa nền kinh tế quốc dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tác giả
luận giải quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta với những thành tựu và bài học kinh nghiệm
- GS.TS Trần Ngọc Hiên: Mối quan hệ công - nông nghiệp - dịch vụ
trong sự hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997 Tác giả đi sâu phân tích mối quan hệ giữa các ngành kinh tế công, nông, thương và dịch vụ ở nước ta trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường
- TS Đặng Văn Thắng, TS Phạm Ngọc Dũng: Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế công, nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng - thực trạng và triển vọng, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Nhóm tác giả đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với một vùng trọng điểm kinh tế là Đồng bằng sông Hồng, nêu lên thực trạng và triển vọng phát triển kinh tế của vùng này
- TS Nguyễn Thị Bích Hường: Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2005 Tác giả làm rõ thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế ở nước ta trong tiến trình ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế
- V.v
2.2 Nhóm đề tài luận án, luận văn
- Phạm Văn Quế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bình Dương theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội,1999
Trang 8- Nguyễn Ngọc Thanh: Đảng bộ huyện Gia Lâm (Hà Nội) lãnh đạo thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991 - 2000), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004
- Đào Thị Vân: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1997 - 2003,
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2004
- Chu Thị Thanh Tâm: Đảng bộ Từ Sơn chỉ đạo quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong những năm 1999 - 2005, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2006
- Lê Tiến Dũng: Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế thời kỳ 1986 - 2005, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2007
- Nguyễn Văn Triệu: Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh
tế (1991 - 2006), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn, Hà Nội, 2009
- Nguyễn Thúy Hoa: Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế những năm 1996 - 2006, Luận văn Thạc sĩ Lịch
sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2011
- Đào Thị Bích Hồng: Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2006, Luận văn Tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2011
- V.v
2.3 Một số bài viết trên tạp chí
- Phạm Ngọc Anh: Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 5, thành tựu và những vẫn đề đặt ra, Tạp chí Lịch sử Đảng, 1998
Trang 9- Nguyễn Sinh Cúc: Chuyển dich cơ cấu kinh tế trong 20 năm đổi mới, Tạp chí Lịch sử Đảng, 2005
- Đặng Kim Anh: Những quan điểm cơ bản của Đảng về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế (1986 - 2006), Tạp chí Cộng sản, 2008
- Trần Anh Phương: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - thực trạng và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Cộng sản, 2009
- Bùi Đức Thọ: Chất lượng tăng trưởng kinh tế và vấn đề chuyển dịch cơ
cấu kinh tế tỉnh Hải Dương, Tạp chí Kinh tế và phát triển, 2011
- Nguyễn Trọng Thừa: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây
dựng nông thôn tỉnh Hải Dương, Tạp chí Cộng sản, 2012
- V.v
Những công trình khoa học, sách, báo, tạp chí nêu trên đã khẳng định tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng phát triển kinh tế, nêu bật được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, được thể hiện bằng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế và sự vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách đó ở các địa phương cụ thể
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nội dung lớn và phức tạp trong quá trình nước
ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên vẫn còn nhiều nội dung cụ thể mà các công trình nghiên cứu chưa đề cập tới, nhất
là chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Làm sáng tỏ thêm chủ trương và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên
Trang 10địa bàn huyện từ năm 1997 đến năm 2010; từ đó, rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm, nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ trên địa bàn huyện
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng và của
Đảng bộ tỉnh Hải Dương những năm 1997 - 2010
- Làm rõ chủ trương của Đảng bộ huyện Kim Thành về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2010
- Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành lãnh đạo thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện từ năm 1997 đến năm 2010
- Bước đầu đánh giá những ưu điểm, hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm tiếp theo
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn huyện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về địa bàn: huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
bộ huyện Kim Thành thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn huyện
Về thời gian: từ năm 1997 đến năm 2010 Tuy nhiên, để có cái nhìn rõ nét
về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành trong quá trình lãnh đạo
Trang 11chuyển dịch cơ cấu kinh tế, luận văn trình bày khái quát tình hình kinh tế - xã hội của huyện trước năm 1997 và so sánh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế với các huyện khác trong tỉnh Hải Dương
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu
Luận văn trình bày dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng qua các kỳ Đại hội, các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các kết luận được tổng kết trong văn kiện Đảng Đồng thời sử dụng có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học mácxít, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh Đặc biệt, luận văn sử dụng nguồn tài liệu thu thập qua thực tế điền dã ở địa phương để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra
6 Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa toàn diện quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Làm rõ chủ trương và quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tế địa phương nhằm chỉ đạo thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện từ năm 1997 đến năm
2010
- Chỉ rõ thành tựu, hạn chế của quá trình đó, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ huyện Kim Thành
Trang 12- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho Đảng bộ huyện Kim Thành và các ngành có liên quan, đồng thời góp phần phục
vụ cho giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Chủ trương của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tình hình cơ cấu kinh tế của huyện Kim Thành trước năm 1997
Chương 2: Chủ trương và quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành (Hải
Dương) lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2010
Chương 3: Một số nhận xét, bài học kinh nghiệm
Trang 13Chương 1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ TÌNH HÌNH
CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN KIM THÀNH TRƯỚC NĂM 1997 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội huyện Kim Thành
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Năm 1997, cùng với việc chia tách tỉnh Hải Hưng thành 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, huyện Kim Môn cũng được chia thành 2 huyện Kim Thành và Kinh Môn, đều thuộc tỉnh Hải Dương Kim Thành là huyện đồng bằng, nằm ở phía Đông của tỉnh Hải Dương, trung tâm huyện cách trung tâm thành phố Hải Phòng 23 km về phía Đông, cách Thủ đô Hà Nội 79 km về phía Tây Kim Thành tiếp giáp với bốn huyện: phía Bắc giáp huyện Kim Môn, phía Đông giáp huyện An Dương (Hải Phòng), phía Nam giáp huyện Thanh Hà, phía Tây Bắc giáp huyện Nam Sách Về mặt hành chính, huyện Kim Thành có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thị trấn: Phú Thái và 20 xã: Lai Vu, Cộng Hòa, Thượng Vũ, Cổ Dũng, Tuấn Hưng, Việt Hưng, Kim Xuyên, Phúc Thành, Kim Anh, Kim Lương, Kim Khê, Ngũ Phúc, Kim Đính,
Kim Tân, Bình Dân, Liên Hòa, Cẩm La, Đồng Gia, Đại Đức, Tam Kỳ
Nằm giữa vùng tam giác động lực phát triển kinh tế Hà Nội - Hải Phòng
- Quảng Ninh, huyện Kim Thành có lợi thế nổi bật về thu hút đầu tư phát triển nhiều ngành công nghiệp như cơ khí đóng tàu, sản xuất kim loại, sản xuất hàng xuất khẩu, dịch vụ vận chuyển và còn có lợi thế để tiếp nhận phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ đào tạo Nằm ở khu vực trung độ của hành lang kinh tế Hà Nội - Hải Phòng theo tuyến quốc lộ 5A, huyện Kim Thành còn có cơ hội hợp tác, liên kết phát triển kinh
Trang 14tế, hình thành trục công nghiệp, đô thị kết nối thành phố Hải Phòng - thành
phố Hải Dương - Thủ đô Hà Nội
Huyện Kim Thành có hệ thống mạng lưới giao thông đường bộ, nằm trên quốc lộ 5A, tỉnh lộ 188, 186, đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, đường sông dài trên 50 km phân bố khá đồng đều rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, tạo thế mạnh trong việc giao lưu kinh tế của huyện với các địa phương khác Đồng thời, Kim Thành cũng gần các thị trường lớn để tiêu thụ sản phẩm như Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội Đây là thuận lợi lớn để huyện Kim Thành hội nhập vào khu vực phát triển kinh tế năng động của vùng trọng điểm phía Bắc
1.1.1.2 Địa hình
Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, đất đai của huyện Kim Thành được hình thành bởi sự bồi lắng phù sa của các con sông Rạng và sông Kinh Môn trong hệ thống sông Thái Bình, địa hình thổ nhưỡng mang đặc tính điển
hình của phù sa châu thổ sông Hồng
Địa hình của huyện nghiêng dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Đất đai được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Thái Bình, địa hình tương đối bằng phẳng Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, huyện Kim Thành có nhiều sông ngòi ăn sâu vào nội đồng tạo thành những vùng úng cục bộ Địa mạo đất đai nằm trong vùng đồng bằng phù sa, thuộc dải đất phù sa do các con sông lớn tạo thành, điển hình là sông Hồng và sông Thái Bình Đất đai tương đối màu mỡ và phì nhiêu, độ sâu canh tác từ 15 đến 18 cm Thành phần
cơ cấu đất chủ yếu là đất thịt nặng, độ dày tầng canh tác đất thuộc loại trung bình Vì vậy, phù hợp với việc thâm canh lúa nước, cây ăn quả và các loại cây
rau màu thực phẩm khác
Trang 15Huyện Kim Thành có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp tổng hợp, đa dạng với một tập hợp cây trồng, vật nuôi phong phú Tuy nhiên, để biến tiềm năng, lợi thế thành hiện thực cần phải có các chương trình, dự án cụ thể nhằm khai thác hiệu quả trong những năm trước mắt.
1.1.1.3 Thủy văn
Huyện Kim Thành có hệ thống sông ngòi tự nhiên khá dày đặc Hệ thống sông của huyện Kim Thành gồm: sông Kinh Môn thuộc hạ lưu của sông Cầu, chảy qua địa phận huyện Kim Thành với chiều dài 15 km, tạo thành ranh giới với huyện Kinh Môn; sông Rạng cũng thuộc hạ lưu của sông Cầu, chảy qua địa phận huyện Kim Thành với chiều dài 32 km, tạo thành ranh giới với huyện Thanh Hà và thành phố Hải Phòng Hệ thống sông An - Kim - Hải là sông nội đồng có nhiệm vụ cung cấp thoát nước, với tổng chiều dài 47 km
Do ảnh hưởng của khu vực thủy triều nên mực nước của sông Rạng, sông Kinh Môn và một phần sông Lạch Tray làm chênh lệch giữa đầu nguồn
và hạ nguồn rất cao Điều này, ngoài việc mang lợi ích về giao thông đường thủy, về nguồn nước tưới tiêu, mà còn thường xuyên phải đối phó với nguy cơ úng lụt Ngoài nguồn nước của các con sông chính thì hệ thống sông ngòi, ao
hồ, đầm của Kim Thành rất phong phú tạo nên một lượng nước lớn rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản
Với hệ thống sông của huyện Kim Thành (sông Kinh Môn, sông Rạng,
hệ thống sông An - Kim - Hải) tạo nên nguồn tài nguyên nước mặt lớn, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về nước để phát triển nông nghiệp và sinh hoạt tại địa phương Đồng thời, còn cung cấp nước ngọt đảm bảo cho nhu cầu sử dụng nước của thành phố Hải Phòng
Do quy luật thuỷ triều của sông Rạng, huyện Kim Thành có diện tích nước lợ gần 200 ha Nước lợ tập trung ở khu vực Đầm Tôm, đầm Cây Chanh
Trang 16của xã Đại Đức, Đầm Nái của xã Tam Kỳ Các vùng này là những vùng có tiềm năng lớn để khai thác và nuôi trồng thuỷ sản đặc sản nước lợ như rươi, tôm Theo kết quả khảo sát sơ bộ, nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện có trữ lượng lớn, phân bố ở độ sâu 15 - 25 m Đây là nguồn nước dự trữ cho phát triển kinh tế trong tương lai, nhất là các khu công nghiệp đã, đang hình thành
và phát triển
1.1.1.4 Thời tiết, khí hậu
Huyện Kim Thành thuộc vùng Đồng bằng Bắc Bộ nên thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều và có gió bão; mùa đông thường lạnh, khô hanh, cuối mùa có sương muối Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 - 24 độ, có ngày nhiệt độ lên đến 39 độ, thấp nhất là 6 đến 7 độ tập trung vào tháng 1 và tháng 2 hàng năm Độ ẩm bình quân năm là 89% đến 90%, số giờ nắng trung bình 1.400 - 1.500 giờ/năm Lượng mưa bình quân năm khoảng 1.600 - 1.800mm, tập trung chủ yếu vào khoảng các tháng 6, 7, 8 hàng năm nên thường gây tình trạng thừa nước, úng lụt cục bộ vào mùa hè Điều kiện thời tiết này đã tạo cho huyện có khả năng phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng với nhiều sản phẩm chất lượng cao và rất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây trồng vụ đông, tạo cho huyện có cây trồng phong phú đa dạng về cây lương thực (lúa, ngô), cây thực phẩm (rau, hành, tỏi, dưa hấu, đậu…)
1.1.1.5 Đất đai, khoáng sản
Với tổng diện tích địa giới hành chính của huyện năm 2010 là 11.563,98
ha Trong đó, nhóm đất nông nghiệp có diện tích 6.432,57 ha chiếm 55,63% tổng diện tích tự nhiên; nhóm đất phi nông nghiệp là 5.048,45 ha chiếm 43,65% và đất chưa sử dụng có diện tích 82,96 ha chiếm 0,72% tổng diện tích đất tự nhiên Đất đai huyện Kim Thành thuộc nhóm đất đồng bằng chủ yếu là
Trang 17phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp, nhóm này khá phì nhiêu và màu mỡ Đây là điều kiện để phát huy lợi thế phát triển ngành nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, bao gồm các sản phẩm chính là: lúa nước, cây ăn quả, các loại cây rau thực phẩm, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
Khoáng sản của huyện Kim Thành không nhiều và chủ yếu là cát xây dựng, với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện thì nguồn cát để san lấp mặt bằng và xây dựng công trình cũng là tiềm năng lớn Song, cần có quy hoạch chi tiết để vừa đảm bảo khai thác tốt nguồn cát cho xây dựng, vừa bảo
vệ hệ thống đê điều tránh gây sạt lở, ảnh hưởng đến đê kè lũ lụt vào mùa mưa
1.1.2 Điều kiện văn hóa, xã hội
1.1.2.1 Về văn hóa
Kim Thành là huyện có nhiều di tích đình, đền, chùa, tháp, miếu, là nơi ghi công những người con của quê hương đã có công đóng góp cho sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước Trên địa bàn huyện Kim Thành có 116 di tích lịch sử văn hóa được đăng ký theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Trong đó có 7 di tích lịch sử được xếp hạng di sản quốc gia ở 5 xã: đình, chùa Phúc Thành (xã Phúc Thành); đình, chùa Kiên Lao (xã Đại Đức); chùa, tháp gạch Cửu Phẩm Liên Hoa (xã Kim Lương); Chùa Muống (xã Ngũ Phúc); tháp Đá Cửu (xã Kim Tân) Hầu hết các di tích hiện có đều có khả năng khai thác phục vụ tín ngưỡng, tham quan, du lịch Toàn huyện có 82 lễ hội, trong đó có 15 lễ hội đình, 8 lễ hội đền, 2 lễ hội làng và 51 lễ hội chùa Đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Kim Thành khá phong phú Các hội làng, đình đám, hội thi hát dân ca, diễn kịch… là những nét văn hóa truyền thống đáng quý của người dân nơi đây, nếu biết khai thác sẽ thu hút nhiều khách du lịch
Trang 18Sự gắn kết của các điều kiện tự nhiên với các danh lam thắng cảnh, các
di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội trên địa bàn huyện và vị trí địa lý thuận lợi là điều kiện tốt để huyện Kim Thành có thể phát triển du lịch
1.1.2.2 Về điều kiện xã hội
Dân số toàn huyện tính đến tháng 12 - 2011 là 123.816 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,06%, trong đó, tổng dân số nông thôn là 118.297 người chiếm 95,54%, dân số đô thị là 5.519 người chiếm 4,46% dân số toàn huyện Mật độ dân số trung bình là 1.078 người/km2 Tại thị trấn Phú Thái có mật độ dân số cao nhất huyện là 2.349 người/km2 Cư dân Kim Thành chủ yếu là người Kinh Trong suốt quá trình lịch sử, nhân dân huyện Kim Thành đoàn kết, gắn bó với nhau chống giặc ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để xây dựng quê hương
Tính đến năm 2011, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 81.507 người: lao động nông nghiệp - thủy sản là 63.995 người chiếm 77,56%, lao động công nghiệp - xây dựng là 8.826 người chiếm 10,7%, lao động thương mại - dịch vụ là 9.687 người chiếm 11,74% Lực lượng lao động dồi dào, cần cù, trình độ dân trí khá, có trình độ và kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, có khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học - công nghệ nhanh, khả năng sáng tạo cao; có một bộ phận dân cư và cán bộ quản lý đã bước đầu tiếp cận và làm quen với nền sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường Nếu được đào tạo, bồi dưỡng và có những chính sách sử dụng tốt thì nguồn nhân lực này sẽ trở thành một trong những nội lực quan trọng góp phần đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tốc độ tăng dân số của huyện Kim Thành không cao Đối với một đất nước đang thừa lao động như Việt Nam hiện nay, đây có thể xem là một lợi
Trang 19thế của huyện trong việc nâng cao mức sống, giảm áp lực việc làm Công tác giải quyết việc làm cho người lao động được tích cực triển khai thực hiện bằng nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ với sự tham gia của các thành phần kinh tế Chú trọng phát triển ngành nghề mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nhất là chế biến nông sản để giải quyết lao động tại khu vực nông thôn Hàng năm tạo việc làm mới cho khoảng 1.700 lao động Nhìn chung, lao động trong huyện lớn, lao động thiếu việc làm nhiều, chủ yếu là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp Người dân cần cù, năng động trong sản xuất kinh doanh
1.2 Chủ trương của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.1 Các khái niệm cơ bản về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các
ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [64, 762] Cơ cấu của nền kinh tế thường được gọi gọn lại là cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế, thể hiện tính chất và trình độ phát triển hệ thống kinh tế của một quốc gia, mà hình thức biểu hiện là tỷ trọng của các bộ phận hợp thành, còn bản chất của cơ cấu kinh tế là quan hệ tương tác giữa các bộ phận hợp thành đó Nội dung cơ cấu kinh tế có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực nhưng về cơ bản nội dung đó bao gồm: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng theo đơn vị hành chính - lãnh thổ
Cơ cấu ngành kinh tế là bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc
dân, là nòng cốt của chiến lược phát triển kinh tế Nền kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực và các thành phần Trong ngành và lĩnh vực kinh tế, quan
Trang 20trọng nhất là nông nghiệp và công nghiệp Hai ngành này muốn phát triển phải thông qua hệ thống dịch vụ Do đó, cơ cấu ngành kinh tế bao gồm ba
ngành cơ bản: Nông nghiệp bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp gắn với phát
triển công nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu ở nước ta hiện
nay Công nghiệp bao gồm: công nghiệp chế tạo, công nghiệp khai khoáng và
luyện kim, công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và tin học… Công nghiệp đóng
vai trò quyết định sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Dịch vụ là
cầu nối giữa sản xuất nông nghiệp với công nghiệp, sản xuất với tiêu dùng, thực hiện quá trình trao đổi giữa các vùng, miền, thành thị và nông thôn, trong nước và ngoài nước Sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng thì tỷ
lệ dịch vụ trong cơ cấu kinh tế ngày càng lớn
Cơ cấu kinh tế vùng là chỉnh thể liên kết các ngành kinh tế và các ngành
sản xuất trong một vùng theo kiểu cấu trúc nhất định mà cơ chế vận động có thể tạo ra khả năng tăng trưởng kinh tế Cơ cấu kinh tế vùng thể hiện sự phân công lao động trên lãnh thổ với lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng, hình thành các vùng chuyên môn hóa, đa dạng hóa nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực, tiềm năng kinh tế trong vùng và giá trị kinh tế Cơ cấu kinh tế vùng gắn chặt chẽ với cơ cấu ngành kinh tế, hợp thành hai mặt của một quá trình kinh tế
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là cơ cấu nền kinh tế quốc dân gồm
nhiều thành phần với những hình thức sở hữu khác nhau Hiện nay, nước ta đang tập trung thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa với năm thành phần cơ bản (quốc doanh, tập thể,
cá thể, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước) Năm thành phần kinh tế đều được bình đẳng trước pháp luật, phát triển trong nền kinh tế quốc dân Sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu khách quan
Trang 211.2.1.2 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là việc cải biến nền kinh tế từ trạng thái này
sang trạng thái khác, mà trạng thái ấy được quyết định bởi các bộ phận hợp thành và kiểu kết cấu Mỗi trạng thái được hiểu trước hết qua tỷ trọng của mỗi
bộ phận cấu thành nên hệ thống, thể hiện qua tính vững chắc của hệ thống và
chất lượng phát triển của hệ thống kinh tế Theo Từ điển bách khoa Việt Nam:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình cải biến kinh tế - xã hội từ trạng thái lạc hậu mang nặng tính chất tự cấp, tự túc từng bước vào chuyên môn hóa hợp lý, tạo ra năng suất, hiệu quả kinh tế cao” [64, 669]
Những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô bao gồm: tỷ trọng các thành phần trong cơ cấu của hệ thống (theo GDP, lao động)
và các tiêu chí chất lượng (năng suất lao động, tiêu hao điện năng/1 đồng GDP, tỷ lệ đói nghèo, tỷ lệ người thất nghiệp…)
Nước ta đi lên từ một nước có nền kinh tế kém phát triển Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là con đường tất yếu từng bước đi lên dựa trên sự kết hợp hữu cơ giữa các điều kiện chủ quan và khách quan, các lợi thế kinh tế -
xã hội, tự nhiên trong nước, trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả năng đầu tư, hợp tác, liên kết, liên doanh với nước ngoài về sản xuất và dịch vụ
1.2.2 Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.2.2.1 Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng những năm
1996 - 2000
Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội
bị sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu dẫn đến những biến đổi to lớn trong quan hệ quốc tế Trật tự hai cực bị tan rã và trật tự thế giới mới đang dần hình thành
Trang 22Nguy cơ chiến tranh hủy diệt bị đẩy lùi, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hành động can thiệp, lật đổ, khủng bố còn diễn ra ở nhiều nơi Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển, trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất; đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế
và đời sống sản xuất
Đầu năm 1996, công cuộc đổi mới ở nước ta đã tiến hành được 10 năm
và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh được củng cố Thành tựu của 10 năm đổi mới đã tạo nhiều tiền đề thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nước ta cũng phải đối đầu với nhiều thách thức như: nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế, “diễn biến hòa bình”, tệ quan liêu, tham nhũng, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh đó, Đảng đã tiến hành Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) xác định đường lối phát triển kinh tế là: “Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [21, 84] Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm còn lại của thập kỷ
90 là: Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ Đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại Hình thành dần một số ngành mũi nhọn như chế biến nông, lâm, thủy sản; khai thác và chế biến dầu - khí, một số ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin; du lịch
Trang 23Đại hội lần thứ VIII của Đảng, khẳng định tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép nước ta chuyển sang thời kỳ mới
- thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội đã xác định mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Ngày 10 - 11 - 1998, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 06-NQ/TW Về một
số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong đó khẳng định quan
điểm: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để hình thành
sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước Đồng thời, xác định mục tiêu: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là hàng nông, lâm, thủy sản qua chế biến; tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu” [22, 265]
1.2.2.2 Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng những năm
2001 - 2005
Tiếp tục đường lối phát triển kinh tế mà Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã vạch ra, Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001) xác định đường lối phát triển kinh tế là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo hướng
xã hội chủ nghĩa Đại hội nêu rõ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân
Trang 24Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Mở rộng kinh tế đối ngoại
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa được coi là nhiệm vụ chiến lược, phù hợp với thực tiễn khách quan nhằm khai thác tốt các ưu, lợi thế các ngành, các lĩnh vực, các vùng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ là quá trình chuyển nền kinh tế có cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang
cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển dịch là giá trị sản xuất của ba ngành đều tăng qua các giai đoạn, nhưng tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ tăng; tỷ lệ lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ lệ lao động
trong công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng
Trong đường lối chung về kinh tế, Đảng ta nhận thấy tầm quan trọng của việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nên Hội
nghị Trung ương 5 khóa IX (3 - 2002) đã ra Nghị quyết Về đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 Nội
dung tổng quát của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn:
"Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường” [ 24, 93]
Trang 25Nội dung cụ thể của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong Nghị quyết cũng đã nêu, đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn Nghị quyết nêu rõ những quan điểm về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, trong đó chú trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hóa quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao
1.2.2.3 Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng những năm
2006 - 2010
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ một trong những khuyết điểm và yếu kém đó là: Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Lĩnh vực dịch vụ phát triển chậm Nội dung và các biện pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn chưa cụ thể
Vì thế, Đại hội nêu phương hướng: Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao
Trang 26động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp
Đại hội lần thứ X của Đảng còn nêu định hướng phát triển về kinh tế, trong đó xác định:
“Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng trên cơ sở áp dụng các quy trình sản xuất đồng bộ và tiên tiến, quy hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn định Xây dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung gắn với chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến
và bảo quản” [25, 191 - 192]
Chủ trương của Đảng ta về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước hết là quá trình phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp, thông qua đó giảm bớt lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng khả năng tích luỹ trong dân cư Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn là quá trình chuyển biến căn bản về phân công lao động xã hội theo lãnh thổ; xoá bỏ tình trạng chia cắt về thị trường giữa các vùng; xoá bỏ tình trạng tự cung, tự cấp, đặc biệt về lương thực của từng vùng, từng địa phương Mỗi địa phương cần đặt mình trong một thị trường thống nhất, không chỉ là thị trường trong nước mà còn là thị trường quốc tế; trên cơ sở đó xác định những khả năng, thế mạnh của nước ta để tập trung phát triển, tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế
có hiệu quả
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với quá trình hình thành các trung tâm kinh tế thương mại, gắn liền với quá trình đô thị hoá Mặt khác, việc quy hoạch xây dựng các khu đô thị, trung
Trang 27tâm kinh tế, thương mại có ảnh hưởng trực tiếp trở lại tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình phân công lao động xã hội, là quá trình chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ, nhằm giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn hiện nay; đồng thời là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng như đã trình bày ở trên thể hiện quá trình nhận thức, phát triển tư duy lý luận và là quá trình hoàn thiện dần hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nói chung và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng Đây thực sự là một quá trình trăn trở, tìm tòi liên tục của Đảng ta Những quan điểm chỉ đạo đó được triển khai quán triệt và vận dụng trên phạm vi cả nước
1.2.3 Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Hải Dương
1.2.3.1 Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Hải Dương những năm 1997 - 2000
Thực hiện Nghị quyết lần thứ 10, Quốc hội khóa IX ngày 6 - 11 - 1996, tháng 1 - 1997 tỉnh Hải Dương được tái lập Trên cơ sở những định hướng lớn
đã được đề ra trong Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Hưng lần thứ VII (5 - 1996) và các thành tựu đã đạt được trong năm 1996, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XII1 (11 - 1997) đã đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1997, đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 3 năm 1998 -
2000
1 Đại hội lần thứ XII lấy theo các kỳ Đại hội của tỉnh Hải Dương cũ
Trang 28Về thành tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Đại hội đánh giá: Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng chăn nuôi, cây công nghiệp, cây ăn quả và rau màu thực phẩm, giảm dần tỷ trọng lương thực
Về hạn chế, Đại hội đánh giá: “Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chậm Ngành công nghiệp địa phương lạc hậu về thiết bị công nghệ và trình độ quản lý Tiếp cận thị trường hạn chế, hoạt động nội, ngoại thương chưa gắn kết tốt với sản xuất” [8, 297]
Về phương hướng tổng quát, Đại hội nêu rõ: “Khai thác và sử dụng có
hiệu quả mọi nguồn lực, vượt qua thách thức; giữ nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là khâu quan trọng, đảm bảo tính vững chắc và hiệu quả” [8, 298]
Về các mục tiêu, Đại hội xác định: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 12,5 -
13%/ năm; trong đó sản xuất nông nghiệp đạt 6 - 6,5 %, công nghiệp đạt từ 16
- 18%, dịch vụ đạt từ 13 - 13,5% GDP năm 2000, bình quân đầu người đạt
500 - 525 đôla, cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp 30% - công nghiệp, xây dựng 38% - dịch vụ 32%
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Đại hội nêu mục tiêu: Đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn cần có sự chuyển dịch cơ cấu, tạo tiền đề để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh Phấn đấu đến năm 2000 đạt cơ cấu: lương thực 36%, rau quả, cây công nghiệp 30%, chăn nuôi 34%
Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng bộ tỉnh, tháng 4 -
1998, Tỉnh ủy Hải Dương ra Nghị quyết số 05-NQ/TU Về chương trình phát
triển nông thôn và kinh tế nông thôn đến năm 2000, trong đó chủ trương:
Trang 29“Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh
tế nông thôn Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với thâm canh tăng vụ nhằm nâng cao hiệu quả trên diện tích canh tác” [8, 303]
1.2.3.2 Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Hải Dương những năm 2001 - 2005
Tỉnh Hải Dương bước vào công cuộc đổi mới nền kinh tế với nhiều khó khăn, song với những thành tựu đạt được đã chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Phát huy những thành quả đã đạt được, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII được tổ chức vào những ngày cuối năm 2000, là lúc
cả nước đang phấn đấu đón chào Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001), nên có
ý nghĩa chiến lược cho việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ mới Đại hội đề ra các mục tiêu cụ thể trong 5 năm
2001 - 2005, trong đó: Tổng sản phẩm GDP trong tỉnh tăng bình quân 9 - 10%/năm (cả nước 7%) Giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản tăng 4,5% - 5%/năm Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13% - 14%/năm Các ngành dịch
vụ tăng 9% - 10%/năm Cơ cấu kinh tế đến năm 2005 gồm nông, lâm, thủy sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 30% - 40% - 30% Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 12% - 13%/năm
Triển khai Nghị quyết lần thứ XIII, Tỉnh ủy Hải Dương xây dựng
Chương trình số 11-CTr/TU Về đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp Hải
Dương giai đoạn 2001 - 2005 theo hướng sản xuất hàng hóa với quan điểm:
“Chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa… Đẩy mạnh việc ứng dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật, công nghệ sinh học, đưa các giống cây, con có năng suất, chất lượng vào sản xuất” [8, 339]
Trang 301.2.3.3 Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Hải Dương những năm 2006 - 2010
Năm 2005, sau 9 năm tái lập, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hải Dương chưa cao và chưa vững chắc, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, sản xuất chưa gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm Sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng chưa thu hút được nhiều ngành công nghệ cao, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn thấp, lao động thiếu việc làm còn nhiều, tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn còn ở mức cao Vì thế, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIV được tổ chức vào cuối năm 2005, đã vạch ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng bộ giai đoạn 2006 -
2010, trong đó chỉ rõ:
“Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt mức tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân chung cả nước, tạo tiền đề vững chắc để phấn đấu cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015” [8, 381]
Đại hội cũng đề ra các mục tiêu cụ thể: Tổng sản phẩm GDP tăng
11,5%/năm trở lên Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,5%/năm Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 20%/năm Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 13%/năm Cơ cấu kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp
- công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 19% - 48% - 33%; cơ cấu lao động tương ứng: 53% - 27% - 20% vào năm 2010 Kim ngạch xuất khẩu tăng 25%/năm Với chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Hải Dương
đã tạo cơ sở và tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, trong
đó có Đảng bộ huyện Kim Thành tiếp tục vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 311.3 Tình hình cơ cấu kinh tế huyện Kim Thành trước năm 1997 và những vấn đề đặt ra
1.3.1 Tình hình cơ cấu kinh tế trước năm 1997
1.3.1.1 Giai đoạn 1986 - 1990
Cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX, kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn do sự tồn tại của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội lần thứ VI của Đảng (12 - 1986) đã đề ra đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy kinh
tế, trong đó đề ra ba chương trình kinh tế lớn, trọng điểm: sản xuất lương thực
- thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu nhằm đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và tiếp tục đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội khẳng định: “Trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1986 - 1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [17, 47]
Tiếp tục bước chuyển đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa VI (8 - 1987) đã
ra Nghị quyết Về chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang
hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế
Tiếp đó, ngày 5 - 4 - 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW Về đổi
mới quản lý kinh tế nông nghiệp Nội dung chính của Nghị quyết xác định hộ
nông dân là đơn vị tự chủ, xác định quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân còn hợp tác xã chuyển sang làm dịch vụ những khâu mà hộ nông dân không làm được hoặc làm không có hiệu quả Vì thế, sức sản xuất được giải phóng một bước, tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán trong nông nghiệp Đây là
Trang 32một bước đột phá có tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế sau này
Nhằm vận dụng đúng đắn, sáng tạo và cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) vào thực tiễn địa phương, Tỉnh ủy Hải Hưng có nhiều nghị quyết bổ sung vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội như trong việc triển khai khoán 10, Tỉnh ủy Hải Hưng có Nghị quyết số 28-
NQ/TW, Ủy ban nhân dân tỉnh có Quyết định số 525-QĐ/UB Về hoàn thiện
khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và hộ trong hợp tác xã nông nghiệp
Nhận rõ yêu cầu và tầm quan trọng của các nghị quyết trên, Huyện ủy Kim Môn tập trung chỉ đạo học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị cho toàn Đảng bộ và nhân dân trong huyện Cùng với các buổi sinh hoạt học tập và tuyên truyền phổ biến nội dung Nghị quyết trên các phương tiện thông tin đại chúng, cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Kim Môn tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, củng cố, mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phát triển đúng đắn các thành phần kinh tế Đặc biệt là giao ruộng đất lâu dài, ổn định cho nông dân, chuyển nhượng các tài sản cố định hoặc khoán gọn đến nhóm và hộ xã viên… Để từng bước chuyển nền kinh tế mang nặng tính chất tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hóa với
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hóa sản phẩm, có sự quản lý của Nhà nước
Thực hiện Chỉ thị 12-CT/TW của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Hưng, đầu năm 1987, Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện Kim Môn đã xây dựng kế hoạch tổng thể về kinh tế, xã hội đến năm 1990 Trước hết, Ủy ban nhân dân chỉ đạo các ngành chức năng, các xã tiến hành điều tra nắm chắc điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội trên toàn huyện Trên cơ sở đó, huyện tiến hành quy hoạch phân bố lại ruộng đất, ngành trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ
Trang 33công nghiệp, các ngành phục vụ sản xuất, đời sống của nhân dân và bước đầu
đã đạt được những thành tựu nhất định
Về trồng trọt, trong 2 năm 1987 - 1988 đạt khá cao Năng suất lúa năm
1987 đạt bình quân 52,22 tạ/ha, sản lượng đạt 66.000 tấn Vụ chiêm xuân năm
1988 đạt bình quân 40,12 tạ/ha, đây là vụ lúa cao nhất từ trước đến nay Diện tích cây vụ đông hàng năm từ 3.500 - 4.000 ha bằng 30% diện tích canh tác, tăng 6% so với năm 1986 Trong đó, cây tỏi chiếm 1.250 ha, sản lượng đạt từ 5.600 tấn đến 6.000 tấn là huyện có sản lượng tỏi cao nhất tỉnh Tổng sản lượng lương thực của huyện năm 1988 đạt 93.000 tấn, tăng 26% so với năm
1987, bình quân lương thực đầu người 410 kg/năm, cao hơn năm 1987 là 21% Huyện đã hoàn thành 100% nghĩa vụ lương thực cho Nhà nước, từ 16.000 - 17.000 tấn/năm
Diện tích, năng suất và sản lượng lương thực 1988 - 1990 tuy chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch, song cũng đã tăng hơn mức bình quân năm 1985 - 1987 Diện tích gieo trồng hàng năm: 28.786 ha, trong đó lúa là 24.202 ha, năng suất 2 vụ lúa bình quân: 64,8 tạ/ha; tổng sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 84.384 tấn/năm, tăng 13% so với bình quân 3 năm 1985 - 1987 Cây công nghiệp như cói, dâu tằm, lạc… được mở rộng về diện tích, không chỉ góp phần giải quyết nguyên liệu tại chỗ cho các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp,
mà còn phục vụ cho xuất khẩu
Về chăn nuôi, trong hai năm 1987 - 1988 đàn gia súc, gia cầm của huyện
có tăng so với các năm trước, nhưng so với chỉ tiêu kế hoạch thì chưa đạt Tổng đàn lợn mỗi năm là 60.000 con, bằng 92% kế hoạch; đàn trâu bò là 9.400 con, bằng 90% kế hoạch, đàn gia cầm 800.000 con Đàn trâu bò, lợn, gia cầm, diện tích nuôi trồng thủy sản đều tăng so với năm 1985 - 1987 Bình quân hàng năm đàn trâu bò tăng từ 5 - 6%, đàn lợn tăng 1,5 - 2%, đàn gia cầm tăng cao nhất từ 10 - 12% Nhiều diện tích mặt nước trước đây bị bỏ hoang, nay được khôi phục cải tạo đưa vào thả cá, trồng sen
Trang 34Sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã có nhiều cố gắng trong phong trào thi đua giành ba mục tiêu: năng suất, chất lượng, hiệu quả Huyện đã xây dựng được chương trình mục tiêu sản xuất hàng tiêu dùng, đề ra những chủ trương, biện pháp để tháo gỡ khó khăn về vật tư, nguyên liệu Nhờ đó, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 1987 đạt 77 triệu đồng, bằng 102% kế hoạch, 9 tháng đầu năm 1988, giá trị tổng sản lượng là 66 triệu đồng bằng 82% kế hoạch cả năm Trong đó, vôi củ: 55.000 tấn, gạch nung: 37 triệu viên, ngói các loại 6 triệu viên…
Nhìn chung, nông nghiệp của huyện trong những năm 1986 - 1990 đã có những bước phát triển mới, tiềm năng lao động, đất đai, tiền vốn trong nhân dân bước đầu được khai thác và đưa vào sử dụng Các công trình thủy lợi, kết cấu hạ tầng được củng cố và xây dựng mới đã phát huy tác dụng tích cực Bộ mặt nông thôn thay đổi tích cực, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện khoán 10 đã nảy sinh nhiều hạn chế: ruộng đất canh tác còn manh mún dẫn đến lãng phí, cơ giới hóa đồng ruộng khó khăn, hiệu quả lao động thấp Mặt khác, kinh tế tập thể không phát triển, nhiều cơ sở ngành nghề của hợp tác xã ngừng hoạt động, việc điều hành các khâu dịch vụ còn lúng túng, vốn quỹ của hợp tác xã cạn kiệt, các tổ chức đoàn thể gặp khó khăn Nhiều hộ nông dân rơi vào cảnh đói nghèo và số hộ nghèo ngày càng tăng do không có vốn để sản xuất
1.3.1.2 Giai đoạn 1991 - 1997
Bước sang thập kỷ 90, tình hình thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam Tình hình kinh tế - xã hội nước ta vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng, lạm phát ở mức độ cao, nhưng qua 5 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước đã thu được những thành tựu nhất định Đó là
đã giải quyết được vấn đề lương thực, thực phẩm, đời sống nhân dân được ổn định, an ninh chính trị được giữ vững… Đây là tiền đề quan trọng để tiếp tục thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng
Trang 35Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6 - 1991) đã tổng kết 5 năm đổi mới, khẳng định thành tựu trên lĩnh vực kinh tế: “Công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng Tình hình chính trị của đất nước ổn định Nền kinh tế có những chuyển biến tích cực: bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước” [18, 49]
Đại hội đề ra nhiệm vụ 5 năm (1991 - 1995), thông qua Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh chỉ rõ:
Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại hóa gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân
Đại hội cũng chỉ ra nhiệm vụ hết sức quan trọng là phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu lên cơ cấu kinh tế hiện đại: Khi kết thúc thời kỳ quá độ,
hình thành về cơ bản nền công nghiệp với cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp -
dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu lên cơ cấu kinh tế hiện đại, nền kinh tế quốc dân sẽ gồm nhiều ngành, nghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghệ chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội Đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng Xây dựng công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là các ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp Thực hiện chuyên môn hóa và liên kết kinh tế giữa các vùng, các địa phương Xây dựng các trung
Trang 36tâm kinh tế của từng vùng để tạo điều kiện liên kết công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn
Nhằm thực hiện cơ chế quản lý mới theo tinh thần Nghị quyết 10- NQ/TW của Bộ Chính trị, 28 - 4 - 1992, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Hưng ra
Nghị quyết 03-NQ/TU tiếp tục Đổi mới tổ chức và quản lý hợp tác xã nông
nghiệp, với nội dung cơ bản là: để đảm bảo tính công bằng, hợp lý, đoàn kết
nội bộ và sử dụng có hiệu quả, thì ruộng đất phải được giao lâu dài cho hộ xã viên Nhà nước cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng để đảm bảo tính pháp
lý cho hộ xã viên yên tâm đầu tư, khai thác, sử dụng
Để cụ thể hóa Nghị quyết 03-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy
ban nhân dân tỉnh Hải Hưng có Quyết định 721-QĐ/UB Về giao ruộng đất
cho hộ nông dân và Nghị quyết 722-NQ/UB Về đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp Tiếp đó, ngày 9 - 3 - 1993, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Kim
Môn họp thông qua Nghị quyết 15-NQ/HU Về việc tập trung đổi mới tổ chức
và quản lý hợp tác xã nông nghiệp để thực hiện Nghị quyết 03- NQ/TU của
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trong giai đoạn này, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Kim Môn lần thứ V và lần thứ VI, kinh tế - xã hội của huyện
có sự chuyển biến quan trọng Sản xuất nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng trung bình 7,63% năm, năng suất lúa không ngừng được nâng cao Bình quân lương thực đầu người đạt 430 kg/năm Diện tích đất canh tác tăng từ 2,07 lần lên 2,14 lần Chăn nuôi tăng nhanh, trong đó nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh mẽ, bình quân tăng 7%/ năm Phong trào vật nuôi đặc sản được mở rộng, nhờ đó mà tỷ trọng chăn nuôi chiếm 25% cơ cấu nông nghiệp
Phong trào thâm canh VAC có chuyển biến tích cực, cơ cấu cây trồng đã
có nhiều tiến bộ Trong nông thôn ngày càng có nhiều hộ đầu tư hàng chục triệu đồng để phát triển chăn nuôi, làm dịch vụ, cải tạo vườn tược, trồng cây đặc sản: vải, cam, quýt…, nghề trồng dâu nuôi tằm được khôi phục Phong
Trang 37trào phủ xanh đất trống đồi núi trọc đem lại hiệu quả, toàn huyện trồng được
120 ha rừng đặc dụng
Tuy nhiên, Kim Môn là huyện có trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu, việc tiếp thu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật còn hạn chế Vì vậy, nền nông nghiệp của huyện còn mang tính độc canh, phụ thuộc nhiều vào thời tiết Lương thực bình quân đầu người còn thấp, đạt 410 kg/năm Giá trị thu nhập 1 ha canh tác mới đạt 20.700.000 đồng Thu nhập bình quân là 235 USD/người/năm So với các huyện trong tỉnh Hải Hưng, huyện Kim Môn có tốc độ tăng trưởng chủ yếu dựa vào trồng trọt và chăn nuôi Kết quả trên chưa tương xứng với tiềm năng của huyện, thu nhập bình quân đầu người thấp Trong giai đoạn này hộ nghèo đói của huyện tương đối cao
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, sau nhiều năm giảm sút đã dần được phục hồi Cơ cấu sản xuất thời kỳ này đang chuyển dần sang cơ chế thị trường Một số ngành sản xuất chế biến gỗ, may mặc, xay xát… tăng khá nhanh, ngành nghề truyền thống được khôi phục, số hộ làm công nghiệp nhỏ, vận tải, khai thác vật liệu xây dựng, dịch vụ nông thôn tăng nhanh Năm
1997, có 412 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp chiếm 80% giá trị tiểu thủ công nghiệp của huyện, đảm bảo trên 70% hàng hóa bán ra thị trường Toàn huyện
có một doanh nghiệp tư nhân, ba xưởng tư nhân và một công ty trách nhiệm hữu hạn đã giải quyết được một lực lượng lao động đáng kể trong nhân dân Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện do chưa đổi mới đồng bộ thiết bị công nghệ và trình độ quản lý tay nghề, vốn, thị trường tiêu thụ còn chưa được mở rộng nên một số ngành nghề truyền thống chưa được phát triển mạnh Đầu tư cho phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chưa cao, chất lượng sản phẩm còn thấp, doanh thu mà ngành này mang lại cho nhân dân trong huyện chưa tương xứng với tiềm năng
Trang 38Xây dựng cơ sở hạ tầng được huyện Kim Môn ưu tiên hàng đầu, tiến hành tu sửa đường giao thông liên huyện, liên xã, tu sửa đê điều và xây dựng công trình điều tiết nước qua đê, nạo vét một số kênh mương; đồng thời đầu
tư nâng cấp các trạm biến áp, tu sửa và mở rộng mạng lưới điện, nâng cao chất lượng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Kinh tế đã đạt được trình độ tăng trưởng khá, bước đầu đã có tích lũy, số lao động có việc làm tăng cao, đời sống của nhân dân được cải thiện
1.3.2 Một số vấn đề đặt ra trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tình hình kinh tế của huyện Kim Thành trước năm 1997 cho thấy, Đảng
bộ và nhân dân trong huyện luôn nỗ lực, cố gắng vận dụng linh hoạt các chủ trương của Đảng, của Đảng bộ tỉnh Hải Dương vào tình hình thực tiễn của địa phương, bước đầu khắc phục những khó khăn, phát huy những thế mạnh, tiềm năng của huyện và đạt được những kết quả khả quan, cơ cấu kinh tế bắt đầu
có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Tuy nhiên, sự chuyển dịch đó còn chậm và thiếu đồng bộ giữa các ngành, các địa phương trong huyện Điều này
đã nảy sinh một số vấn đề mới cần giải quyết để tạo động lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện
Trong nông nghiệp, nhiều cơ sở chưa chú trọng và mạnh dạn chuyển đổi
cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi để thúc đẩy sản xuất phát triển Cho nên, tốc
độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Kim Thành còn chậm, thiếu các chương trình cụ thể và các giải pháp
có hiệu quả, nhất là về vốn, công nghệ, thị trường Nông nghiệp còn mang tính độc canh, số hộ thuần nông trong nông thôn chiếm tỷ lệ lớn Năng suất cây trồng còn thấp, chưa ổn định, chưa gắn với công nghệ chế biến Chưa hình thành các vùng chuyên canh tập trung cây ăn quả, tiêu thụ sản phẩm luôn
bị động Năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa thấp
Trang 39Đại bộ phận lao động xã hội vẫn còn tập trung trong ngành trồng trọt, vì thế phân công lao động chậm phát triển
Các vùng chuyên canh trong nông nghiệp chưa được hình thành rõ rệt, kinh tế hộ tuy phát triển, song vẫn còn mang nặng tính tiểu nông, chưa chuyển mạnh sang nền kinh tế hàng hóa, chưa có những mô hình tốt dẫn tới chủng loại nông sản thì nhiều nhưng số lượng thì ít, chất lượng thấp, giá thành không cao, không đáp ứng được nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến
và tổ chức tiêu thụ
Kinh tế tập thể còn lúng túng trong chuyển đổi hình thức quản lý, quy
mô còn nhỏ, sức cạnh tranh yếu, kinh doanh thấp Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển còn mang nhiều yếu tố tự phát, manh mún, công nghệ lạc hậu, thiếu
sự quản lý và giám sát chặt chẽ của các cấp chính quyền Các loại hình hợp tác xã kiểu cũ không còn thích hợp, hoạt động không hiệu quả nhưng lại không mạnh dạn trong việc chuyển sang mô hình mới Sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước về định hướng phát triển, thông tin thị trường và tài chính đối với kinh tế ngoài quốc doanh chưa được coi trọng
Trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, hiệu quả sản xuất của nhiều doanh nghiệp còn thấp, thiếu vững chắc, thiết bị công nghệ lạc hậu, còn thiếu vốn sản xuất, cạnh tranh thị trường chưa mạnh, nhất là khu vực kinh tế nhà nước Một số cơ sở chưa năng động trong việc đổi mới phương hướng sản xuất, chậm đổi mới trong cơ chế quản lý và lúng túng trong việc huy động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ Nông sản hàng hóa ít, lao động dư thừa nhiều Công nghiệp, dịch vụ nông thôn chưa phát triển, thu ngân sách thấp Bên cạnh đó, còn tồn tại nhiều mất cân đối như thiếu vốn đầu tư, thừa lao động phổ thông nhưng lại thiếu lao động kỹ thuật,… Đây là những hạn chế lâu dài cần khắc phục từng bước
Trang 40Nền kinh tế huyện phát triển chưa vững chắc, cơ cấu kinh tế chuyển biến chậm, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa gắn với thị trường Đời sống nhân dân trong huyện dần được cải thiện, song thu nhập bình quân đầu người còn thấp, đạt dưới mức trung bình toàn tỉnh Điều này cho thấy tiềm lực kinh
tế của huyện chưa được khai thác hiệu quả, khó có thể huy động được các khoản đầu tư lớn từ nội bộ nền kinh tế huyện
Huyện Kim Thành nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, gần Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh cũng có mặt hạn chế, đó là sẽ bị cạnh tranh gay gắt, đặc biệt là trong việc thu hút đầu tư bên ngoài, thu hút lao động kỹ thuật cao, tiêu thụ sản phẩm còn thấp Điều kiện phát triển kinh tế giữa các khu vực (các tiểu vùng) trong huyện còn chưa đồng đều Một số xã trong huyện hàng năm bị ảnh hưởng của các đợt triều cường làm nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất như xã Liên Hòa, Đại Đức, Tam Kỳ và Kim Lương, dẫn đến kinh tế ở những khu vực này kém phát triển hơn các khu vực khác
Đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ tuy đã có nhiều cố gắng
để bắt kịp với phương thức quản lý và công nghệ mới, song cũng có nhiều bất cập với thực tế, đặc biệt là chưa nhạy bén với điều kiện của cơ chế thị trường
và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
Tiểu kết chương 1
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong những chủ trương, chính sách lớn và quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Huyện Kim Thành có vị trí địa lý gần cửa ngõ Thủ đô, nằm giữa vùng tam giác động lực phát triển kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh,
là một vùng có tiềm năng phát triển nông nghiệp, có nguồn nhân lực dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn và có bộ máy hành chính các cấp, các ngành đoàn kết, thống nhất Đây là những lợi thế để Đảng bộ huyện phát huy tiềm năng