1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ huyện Ý Yên ( Nam Định) lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2013

138 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên công tác xóa đói giảm nghèo đã thu được một số kết quả đáng kể, đời sống của nhân dân được cải thiện tính bình quân trong gia

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ HỒNG NGA

ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH)

LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ HỒNG NGA

ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH)

LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình học và luận văn này, tôi đã nhận được sự giảng dạy và giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Minh Hạnh đã dành rất nhiều tâm huyết, thời gian, công sức hướng dẫn giúp tôi hoàn thành luận văn cao học

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định, Ủy ban nhân dân huyện Ý Yên đặc biệt là Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện Ý Yên cùng các sở, phòng ban ngành có liên quan đã tận tình cung cấp số liệu cho tôi hoàn thành tốt luận văn

Mặc dù đã cố gắng hết năng lực của mình để hoàn thiện luận văn nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nên tôi rất mong nhận được những góp ý quý báu của quý thầy cô, anh chị và các bạn

Hà Nội, tháng 05 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Hồng Nga

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Học viên thực hiện luận văn

Nguyễn Thị Hồng Nga

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN 9

TỪ NĂM 2000 đến năm 2005 9

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng xóa đói giảm nghèo ở huyện Ý Yên trước năm 2000 9

1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Ý Yên 9

1.1.2 Tình hình xóa đói giảm nghèo ở huyện Ý Yên trước năm 2000 17

1.2 Chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2000 đến năm 2005 22

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Nam Định về xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2005 22

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên về xóa đói giảm nghèo 32

1.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2000 đến năm 2005 36

1.3.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo 36

1.3.2 Chỉ đạo thực hiện các chính sách, dự án xóa đói giảm nghèo 37

1.3.3 Kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện từ năm 2000 đến năm 2005 50

Tiểu kết chương 1 53

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013 55

2.1 Chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2006 đến năm 2013 55

2.1.1 Quan điểm của Đảng về xóa đói giảm nghèo 55

2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định 65

2.1.3 Chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên 67

Trang 6

2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ

huyện Ý Yên 71

2.2.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo 71

2.2.2.Chỉ đạo thực hiện các chính sách, dự án xóa đói giảm nghèo 71

Tiểu kết chương 2 92

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 94

3.1 Một số nhận xét 94

3.1.1 Ưu điểm của Đảng bộ huyện Ý Yên trong quá trình lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo 94

3.1.2 Hạn chế của Đảng bộ huyện Ý Yên trong quá trình lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo 102

3.2 Một số kinh nghiệm 105

KẾT LUẬN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 127

Trang 7

GQVL : Giải quyết việc làm

HĐND : Hội đồng nhân dân

HSSV : Học sinh sinh viên

LĐTB&XH : Lao động thương binh và xã hội MTTQ : Mặt trận Tổ quốc

UBND : Ủy ban nhân dân

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

XĐGN : Xóa đói giảm nghèo

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới đang tiến vào những thập niên đầu của thế kỉ XXI với một nền văn minh rực rỡ nhưng cũng xuất hiện không ít những vấn đề phức tạp, gay gắt đòi hỏi cả thế giới phải chung tay giải quyết Một trong những vấn đề đó

là đói nghèo, tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của các chế độ xã hội, của mỗi quốc gia trong suốt quá trình phát triển Cuộc chiến chống lại đói nghèo luôn được quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi toàn cầu hóa, quốc tế hóa nền kinh tế là xu hướng chủ đạo, chi phối sự phát triển của mỗi quốc gia Rất nhiều các cuộc hội thảo, hay các diễn đàn trên phạm vi toàn thế giới hay trong phạm vi một quốc gia được tổ chức nhằm đưa ra các chính sách hay những giải pháp để chống lại tình trạng đói nghèo

Ở Việt Nam, công tác xóa đói giảm nghèo được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước, đã và đang trở thành một nội dung quan trọng trong chương trình công tác của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đói nghèo là một trong ba thứ giặc phải chống Người nói: “ Giặc đói sắp theo gót giặc Pháp để chôn vùi nhân dân ta” [57,tr.85] Trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc Người đã chỉ ra mục đích đầu tiên của thi đua ái quốc là “ diệt giặc đói” và để thực hiện được mục đích này cần phải dựa vào lực lượng của dân Tinh thần của dân và

để gây hạnh phúc cho dân Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 06/1991), Đảng đã đề

ra chủ trương xóa đói giảm nghèo Đây là một chủ trương quyết sách lớn trong việc thực hiện mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân

Trang 10

chủ, văn minh” Ngay từ khi ra đời, chủ trương trên kết hơp với lòng dân nên chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành một phong trào rộng khắp các tỉnh, huyện và trên phạm vi cả nước.Thông qua quá trình khảo sát, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, năm 1998, Chính phủ đã xây dựng và phê chuẩn Chương trình xóa đói giảm nghèo với tư cách là “ Chương trình mục tiêu quốc gia” Chương trình được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 (2001 - 2005) và giai đoạn 2 (2006 - 2010) Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội có thể thấy rõ qua từng năm đã có sự chuyển biến rõ rệt về việc giảm tỉ lệ đói nghèo trong cả nước

Ý Yên là một huyện ngoại thành ở phía Tây Nam của tỉnh Nam Định Huyện Ý Yên ngày nay là phần đất quan trọng thuộc phủ Ứng Phong vào thế

kỷ XII - XIII Ý Yên vốn là một huyện nghèo của tỉnh Nam Định, với diện tích rộng, dân số đông, dân cư lại phân bố không đều, trình độ dân số còn nhiều hạn chế, kết cấu hạ tầng còn thấp, kinh tế phát triển không đồng đều giữa các vùng Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo của huyện còn rất cao

Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên công tác xóa đói giảm nghèo đã thu được một số kết quả đáng kể, đời sống của nhân dân được cải thiện tính bình quân trong giai đoạn từ 2000 - 2013 mỗi năm đã giảm được được khoảng 0,5% tỉ lệ hộ nghèo Từ năm 2007 trên địa bàn huyện đã không còn xã nghèo Công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ và sâu rộng trên nhiều mặt Tuy nhiên kết quả giảm nghèo còn chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn rất cao, chương trình xóa đói giảm nghèo ở các địa bàn không đều, nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của chương trình xóa đói giảm nghèo của các cấp lãnh đạo và người dân còn chưa đầy đủ

Do tính chất và tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu, đặc biệt xuất phát từ thực tiễn của công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam

Trang 11

Định, tác giả chọn đề tài “ Đảng bộ huyện Ý Yên ( Nam Định) lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2013” làm đề tài luận văn

thạc sỹ chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đói, nghèo và xóa đói giảm nghèo là vấn đề lớn, được Đảng, Nhà nước cũng như toàn xã hội quan tâm Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các cơ quan, các nhà khoa học về vấn đề này, có thể kể đến như:

Đầu tiên, phải kể đến là những công trình đề cập đến chính sách của

Đảng và Nhà nước nhưng liên quan đến xóa đói giảm nghèo Nguyễn Thị

Hằng (2001): Bàn về mục tiêu, nhiệm vụ và những biện pháp lớn của công tác

di dân xây dựng kinh tế mới đến năm 2000, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội; Lê Huy Ngọ (2001): Phát triển nông nghiệp, nông thôn miền núi trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội; Hà Quế Lâm (2002): Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Ngôn Nghiệp (2004): Công tác tuyên truyền ở vùng dân tộc và miền núi, Nxb văn hóa Dân tộc, Hà Nội; Hoàng Xuân Thuận (2004): Quản lý Nhà nước về khoa học công nghệ ở vùng dân tộc miềm núi, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Nguyễn Văn Thường (2004): Một số vấn đề kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, nêu lên sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam gắn liền với xóa đói giảm nghèo…Những công trình nghiên cứu cấp Nhà nước về xóa đói giảm nghèo đều đề cập đến thực trạng và những giải pháp giải quyết vấn đề đói nghèo ở cấp vĩ mô, nhấn mạnh sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam phải gắn liền với xóa đói giảm nghèo

Hai là, các công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung xóa

đói giảm nghèo, thực trạng xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam những năm qua như: Báo cáo chung của nhóm công tác chuyên gia Chính phủ - Nhà tài trợ -

tổ chức phi Chính phủ, Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam,

Trang 12

14-15/2-1999; Báo cáo phát triển của Việt Nam (2000): Tấn công nghèo đói; Công trình của Liên hiệp Hội khoa học Kỹ thuật ở Việt Nam (2001): Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số, phương pháp tiếp cận, nói lên những

phương pháp công tác, đặc biệt là công tác xóa đói giảm nghèo ở vùng dân

tộc ít người miền núi; Dương Phú Hiệp, Vũ Văn Hòa ( 2004): Phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội Báo cáo đã tổng kết kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của các tổ chức phi Chính phủ - Nhà tài trợ ở Việt Nam Ngân hàng thế giới cũng có công

trình: Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam Tác phẩm đã phân tích thực

trạng nghèo đói ở Việt Nam và đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới bất bình đẳng nhiều mặt của người nghèo Những công trình nghiên cứu về đề tài xóa đói giảm nghèo là khá đầy đủ khi đã đề cập tổng thể nhiều khía cạnh

về xóa đói giảm nghèo Đó là thực trạng đói nghèo ở nước ta nói chung và một số địa phương cụ thể nói riêng, từ đó đã phân tích nguyên nhân gây nên đói nghèo cũng như đề cập đến một số giải pháp thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo có hiệu quả

Ba là, các luận văn, luận án viết về xóa đói giảm nghèo ở các địa phương như: Đỗ Thế Hạnh (2000): Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở vùng định canh định cư Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ kinh tế,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Thị Hải (2000):

Những giải pháp chủ yếu về quản lý nhằm xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Phú Thọ hiện nay, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Trần Thị Hằng (2000): Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh

tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Trần Đình Đàn (2002): Những giải pháp kinh

tế - xã hội chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở Hà Tĩnh, Luận án Tiến sĩ kinh

tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Hoàng Thị Hiền (2005):

Xóa đói giảm nghèo với đồng bào dân tộc ít người ở tỉnh Hòa Bình - Thực

Trang 13

trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Thái Văn Hoạt (2007): Giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh doanh

và quản lý, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

Những luận văn, luận án này đều đã nêu lên được thực trạng xóa đói giảm nghèo, đồng thời cũng đưa ra được những giải pháp cụ thể xét cả về cơ chế chính sách và quá trình thực hiện tầm vĩ mô và vi mô Những công trình này thực sự có giá trị thực tiễn cao vì nó đưa ra những giải pháp tổng thể giải quyết tận gốc nguyên nhân gây nên tình trạng đói nghèo

Bốn là, các nghiên cứu của địa phương có liên quan đến xóa đói giảm nghèo như: Thực trạng và dự báo dân số - lao động - việc làm và các vấn đề

xã hội huyện Ý Yên - tỉnh Nam Định đến năm 2010 (08/ 2003) Trong báo cáo

này đã nêu được thực trạng đói nghèo của huyện Ý Yên trước năm 2003 và đưa ra dự báo về tình hình xóa đói trên địa bàn huyện từ đó đưa ra dự báo về tình hình đói nghèo đến năm 2010 Ngoài ra còn có tác phẩm nghiên cứu lịch

sử Đảng bộ huyện tập 1 và tập 2 trong đó đề cập đến lịch sử Đảng bộ của huyện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ý Yên…

Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận

và thực tiễn của vấn đề đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu của các công trình đó có giá trị tham khảo tốt để thực hiện đề tài luận văn Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ khoa học Lịch

sử Đảng Cộng sản Việt Nam về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên đối với công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện từ năm 2000 đến năm 2013

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

* Mục đích nghiên cứu

Trình bày một cách có hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình vận dụng của Đảng bộ huyện Ý Yên tỉnh Nam

Trang 14

Định trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện từ năm 2000 đến năm 2013, qua đó rút ra những kinh nghiệm để

vận dụng vào giai đoạn tiếp theo

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Trình bày khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình xóa đói giảm nghèo của huyện trước năm 2000

- Hệ thống hóa những chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Nam Định và Đảng bộ huyện Ý Yên về thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2013

- Phân tích quá trình Đảng bộ huyện lãnh đạo và tổ chức thực hiện xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Ý Yên từ năm 2000 đến năm 2013

- Đánh giá những kết quả, hạn chế, từ đó rút ra một số kinh nghiệm từ công tác lãnh đạo xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Ý Yên từ năm 2000 đến năm 2013

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu những chủ trương của Đảng bộ huyện

Ý Yên về xóa đói giảm nghèo

- Quá trình Đảng bộ huyện Ý Yên tổ chức thực hiện công tác xóa đói

giảm nghèo trên địa bàn huyện từ năm 2000 đến năm 2013

* Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Nghiên cứu công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2013 (từ Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX đến kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI và những năm đầu của nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII)

- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Ý Yên tỉnh Nam Định

Trang 15

- Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên về xóa đói giảm nghèo và quá trình Đảng bộ huyện Ý Yên lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo

5 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

* Cơ sở lí luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Nam Định, Đảng bộ huyện Ý Yên về xóa đói giảm nghèo

* Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận văn chủ yếu là phương pháp lịch sử

và phương pháp logic Ngoài ra còn kết hợp các phương pháp khác khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra, khảo sát thực

tiễn trên địa bàn huyện Ý Yên

* Nguồn tài liệu

Để thực hiện luận văn tác giả đã sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu sau:

- Các Văn kiện, văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo

- Các văn bản cụ thể hóa việc tổ chức thực hiện của Đảng bộ huyện Ý Yên trong thời kỳ 2000 - 2013

- Các Báo cáo tổng kết Chương trình xóa đói giảm nghèo qua các năm của Đảng bộ huyện Ý Yên, UBND huyện Ý Yên, các Ban, ngành và Phòng LĐTB&XH huyện Ý Yên và một số bài viết về Ý Yên…

Các tư liệu này được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là tại Trung tâm Lưu trữ của Tỉnh ủy Nam Định, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định, Sở LĐTB&XH tỉnh Nam Định, Thư viện tỉnh Nam Định, huyện

ủy Ý Yên, Phòng LĐTB&XH huyện Ý Yên, Phòng Nông nghiệp huyện Ý Yên, Phòng Tài chính – kế hoạch huyện Ý Yên

Trang 16

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa những chủ trương, chính sách của Đảng Cộng

sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Nam Định và Đảng bộ huyện Ý Yên về xóa đói giảm nghèo

- Phục dựng một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ huyện Ý Yên lãnh đạo, tổ chức thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2013 và bước đầu rút ra một số nhận xét và những kinh nghiệm có giá trị tham khảo

để giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo của huyện trong giai đoạn hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần cung cấp thêm nguồn tư liệu về quá trình Đảng bộ huyện Ý Yên lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo nói riêng, tư liệu lịch sử về huyện Ý Yên nói chung và làm cơ sở giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ trong quá trình xây dựng huyện Ý Yên hiện nay

- Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập Lịch sử Đảng địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, gồm có 3 chương:

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2000 đến năm 2005

Chương 2: Đảng bộ huyện Ý Yên lãnh đạo đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2013

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

Trang 17

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN

XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN

TỪ NĂM 2000 đến năm 2005

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng xóa đói giảm nghèo ở huyện Ý Yên trước năm 2000

1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Ý Yên

Điều kiện tự nhiên

*Vị trí địa lí

Huyện Ý Yên là một huyện nằm ở phía Tây tỉnh Nam Định, có diện tích tự nhiên là 24.024 ha, dân số 250.245 người, có vị trí rất quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng Về địa giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Bình Lục, Thanh Liêm của tỉnh Hà Nam, phía Đông giáp huyện Vụ Bản (sông Sắt là ranh giới tự nhiên), phía Tây và Nam có sông Đáy và sông Đào là ranh giới tự nhiên với các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, thành phố Ninh Bình của tỉnh Ninh Bình và huyện Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định

Huyện Ý Yên nằm vắt qua con đường chiến lược vùng duyên hải - quốc lộ 10 - đoạn từ thành phố Nam Định đi thành phố Ninh Bình, đó cũng là đoạn đường sắt Bắc - Nam chạy qua Huyện Ý Yên có mạng lưới đường bộ tương đối thuận tiện, có tuyến quốc lộ 1B đi qua các xã phía Tây của huyện, đặc biệt có những con đường tỉnh lộ chạy dọc và ngang huyện như 484 (Đường 64 cũ), tỉnh lộ 485( Đường 57 cũ), tỉnh lộ 486( Đường 12 cũ)… Đơn

vị hành chính của huyện gồm 31 xã và 1 thị trấn

Là vùng đất hình thành sớm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng,

Ý Yên nằm trong vùng đất trũng hơn cả, địa hình không đồng đều Địa hình Ý Yên chủ yếu là đồng bằng nhưng có vùng tương đối cao có vùng lại rất thấp

và bị chia cắt nhiều bởi hệ thống kênh mương dày đặc Nhìn chung địa hình

Trang 18

chính của vùng là địa hình đồng bằng độ dốc < 1% và có xen kẽ đồi thấp với một số đặc điểm riêng

* Tài nguyên đất đai

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Ý Yên là 24.024 ha Trong đó: Đất nông nghiệp là rất lớn: 17.472,89 ha (72,73%); Đất lâm nghiệp là 23,7 ha (0,09%); đất sử dụng để ở là 1.366,58 ha (5,86%); đất chuyên dùng là 3.301,6 ha (13,74%); đất xây dựng là 210,07 ha (0,87%); đất chưa sử dụng chiếm là 1.873,97 ha (7,8%)

Huyện Ý Yên thuộc vùng đất phù sa cũ do hệ thống sông Hồng bồi đắp

từ lâu, cho nên đất đai của huyện có thành phần cơ giới thịt trung bình pha cát rất thích hợp trồng các loài cây nông nghiệp và cây lâu năm Trong số đất còn chưa sử dụng thì có thể đưa vào sản xuất nông nghiệp 194,79 ha, sử dụng cho sản xuất lâm nghiệp 66,97 ha và sử dụng cho nuôi trồng thủy sản là 1.073,86

ha Ngay cả đối với số diện tích đang dùng cho sản xuất nông nghiệp thì khả năng nâng cao hệ số sử dụng đất vẫn còn (hiện mới chỉ đạt 2,3 lần và còn có thể nâng lên 2,5 - 2,6 lần)

Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Ý Yên năm 2005

Trang 19

*Chế độ thủy văn

Là một vùng có địa hình đồng bằng thấp trũng, trên địa bàn huyện Ý Yên có một hệ thống sông ngòi tương đối dày với mật độ khoảng 0,7 - 0,9/km2, mạng lưới sông ngòi là nơi cung cấp nguồn nước cho sản xuất và cho đời sống nhân dân, hướng dốc đặc trưng của lưu vực là hướng Bắc Nam Mạng lưới sông chính gồm hai con sông lớn chảy qua huyện là sông Đáy và sông Đào với tổng chiều dài khoảng 45km

Mạng lưới sông nội đồng gồm: Sông Sắt, sông Mỹ Đô, sông Chanh, sông Quỹ Độ, sông Kênh Thủy và một số tuyến sông Nội Đồng khác với tổng chiều dài khoảng 77 km

Hệ thống sông ngòi phân bố đều khắp trên địa bàn các xã, thị trấn rất thuận lợi cho việc tưới, tiêu phục vụ sản xuất và cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân

Tuy là nơi có trữ lượng nước ngầm khá lớn, nhưng lại tập trung ở độ sâu lớn (40 - 250m trong lòng đất) nên điều kiện khai thác rất khó khăn và tốn kém Bù lại, nguồn nước mặt lại dồi dào, đủ cung cấp cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

* Khí hậu

Huyện Ý Yên nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên ở đây mang đầy đủ đặc điểm khí hậu của vùng đồng bằng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với bốn mùa rõ rệt, có mùa đông lạnh khô do chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc và có một số đặc điểm khí hậu chung của tỉnh Nam Định Nhiệt độ Trung bình cả năm: 250C Lượng mưa trung bình lớn nhất cả tỉnh với lượng mưa bình quân cả năm là khoảng 1.500 - 1.700mm Hướng gió chính là hướng Đông Nam và hướng Tây Bắc Chế độ bức xạ mặt trời của vùng tương đối ổn định qua các năm với tổng số giờ nắng cả năm là 1.358 giờ Độ ẩm trung bình năm của huyện tương đối ổn định và khá cao: 86%

Trang 20

* Các nguồn tài nguyên

Thảm thực vật: Cây trồng chủ yếu là cây lúa, ngoài ra cũng có một số

loại cây hoa màu khác như ngô, khoai, đỗ và một số loại rau màu khác Các loài cây gỗ chủ yếu như bạch đàn, phi lao, xà cừ, phượng… Cây ăn quả: nhãn, táo, đu đủ, hồng xiêm… Cây mọc tự nhiên ở dạng cây bụi

Động vật: Thành phần các loài động vật trong huyện nghèo nàn, chủ yếu

là các loài gia cầm, gia súc như gà, lợn, trâu, bò… và các loại cá nước ngọt

Tài nguyên khoáng sản: Ý Yên là một huyện đồng bằng, chủ yếu có thế

mạnh về nông nghiệp Nguồn khoáng sản hầu như không đáng kể ngoài nguồn đất dùng cho sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, ngói…) Và chủ yếu tập

trung ở các xã Yên Lợi, Yên Nhân, Yên Minh, Yên Nghĩa

Điều kiện kinh tế - xã hội

*Giáo dục

Giáo dục - đào tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đào tạo nguồn tri thức cho cả nước nói chung và huyện Ý Yên nói riêng, vì vậy công tác giáo dục của huyện luôn được quan tâm, đầu tư và xây dựng Cơ sở vật chất các trường, các ngành học không ngừng được mở rộng

và xây dựng kiên cố, các loại hình đào tạo được mở rộng như: Trường dân lập, lớp bán công và dân lập trong trường quốc lập Toàn huyện đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, có 12 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, sự

Trang 21

nghiệp giáo dục của huyện nhiều năm liền được công nhận là đơn vị tiên tiến xuất sắc của tỉnh Huyện có 4 trường THPT, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên, 32 xã, thị trấn của huyện đều có trường mầm non, tiểu học, THCS

Bảng 1.2: Thống kê về trường, lớp, giáo viên, học sinh huyện Ý Yên

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Ý Yên

Qua số liệu trên cho thấy trung bình mỗi xã, thị trấn đều có 01 trường mầm non, tiểu học và THCS, thậm chí tỉ lệ trường tiểu học của huyện còn cao hơn, số lớp học đầy đủ đáp ứng yêu cầu so với số lượng học sinh

Nhìn chung huyện Ý Yên đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng cơ

sở vật chất và trang thiết bị trường học cho các trường trong huyện Nhiều trường đã quan tâm mua sắm trang thiết bị dạy học cho giáo viên Có 36 trường có thư viện đạt chuẩn quốc gia Tỷ lệ học sinh đủ sách giáo khoa quy định là 100% Tuy nhiên đồ dùng học tập, thiết bị, dụng cụ phục vụ cho công tác giảng dạy còn ít, học sinh và giáo viên chỉ học chay bằng lý thuyết, số lượng các giờ thực hành còn ít

* Y tế

Mạng lưới cơ sở vật chất của ngành y tế huyện có 2 phòng khám đa khoa khu vực và 1 bệnh viện đa khoa có 170 giường bệnh Huyện có 32/32 xã thị trấn có trạm y tế Đội ngũ cán bộ của ngành có 44 bác sỹ và 3 dược sỹ cao cấp; y sỹ, kỹ thuật viên là 18 và 2 dược sỹ trung cấp; y tá, nữ hộ sinh là 72 người và có 4 dược tá Các hoạt động y tế hằng năm đều được phát triển tích

Trang 22

cực, công tác khám, chữa, điều trị bệnh và hành nghề y dược được quản lý chặt chẽ Như vậy tổng số cán bộ y tế của toàn huyện là 143 người, số bác sỹ chiếm 30,7% tổng số cán bộ y tế, như vậy cứ trung bình 1.000 dân thì có 1,7 cán bộ y tế, trong đó 5,7 bác sỹ Mức độ chăm sóc y tế vẫn còn thấp Mặc dù

đã được đầu tư trang thiết bị và mở rộng hệ thống y tế tới tất cả các xã, thị trấn nhưng cơ sở vật chất phục vụ y tế còn thiếu thốn và lạc hậu Bệnh viện đa khoa của huyện vẫn còn thiếu máy móc và thiết bị hiện đại để chuẩn đoán và điều trị bệnh, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người dân, dẫn tới chi phí khám chữa bệnh còn cao vì họ phải chuyển lên tuyến trên điều trị nếu mắc phải bệnh nặng

* Hiện trạng phát triển và cơ cấu các ngành kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2000 - 2005 đạt 7,4%/năm Thu nhập bình quân đầu người/năm là 3,982 triệu đồng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm

Với diện tích đất nông nghiệp chiếm tới 72,73%, Ý Yên vốn được coi

là một huyện nông nghiệp của tỉnh Nam Định Kinh tế nông nghiệp của Ý Yên từ năm 1986 trở về trước luôn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của địa phương; 90% dân số của huyện gắn với nghề nông

Bên cạnh ngành chủ đạo là nông nghiệp thì tiểu thủ công nghiệp ở Ý Yên cũng rất phát triển với nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng cả trong và ngoài nước như: làng đúc đồng Vạn Điểm (thị trấn Lâm); làng đúc thép Tống

Xá (xã Yên Xá); làng điêu khắc đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên và các làng bên: Ninh Xá, Lũ Phong, Trịnh Xá (xã Yên Ninh); làng nghề sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến)…

Công nghiệp Ý Yên cũng đang đước đầu phát triển Đã hoàn thành 2 cụm công nghiệp tập trung (Yên Xá, Yên Ninh), 7 điểm công nghiệp (ở Yên

Trang 23

Trị, Yên Nghĩa, Yên Lợi, Yên Tiến, Yên Lương, Yên Cường, Yên Quang) đã

đi vào hoạt động, sản phẩm tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước

Hoạt động thương mại - dịch vụ đã và đang đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, hình thành nên một số trung tâm thương mại - dịch vụ: thị trấn Lâm, Bo (Yên Chính), Cát Đằng (Yên Tiến)…

Bảng 1.3: Cơ cấu kinh tế huyện Ý Yên

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Ý Yên

Qua số liệu trên cho thấy cơ cấu sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, năm 2000 là 62,95%; năm 2001 là 59,32%; năm 2002 là 55,28% Sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ còn thấp, tuy có tăng lên qua từng năm.

* Lịch sử và truyền thống

Ý Yên - một địa danh lịch sử có từ lâu đời Huyện Ý Yên trước thuộc phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam, sau thuộc tỉnh Nam Định Năm 1876, cùng huyện Phong Doanh đổi thuộc tỉnh Ninh Bình Năm 1890 trở lại thuộc tỉnh Nam Định gồm phần đất ngày nay của huyện tính từ bắc đường 12 cũ (trừ Yên Phong, Yên Hưng, Yên Minh) Tháng 3 năm 1934 chính quyền thực dân phong kiến nhập huyện Phong Doanh và huyện Ý Yên và lấy tên là huyện Ý Yên Tháng 5 năm 1953, để tiện cho việc chỉ đạo kháng chiến chống thực dân Pháp, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Nam Định nhập 7

xã phía bắc sông Đào của huyện Nghĩa Hưng vào Ý Yên Huyện Ý Yên lại được nhà nước cắt nhập về tỉnh Hà Nam Năm 1956, huyện Ý Yên lại được

Trang 24

trả về tỉnh Nam Định Trong thời gian tỉnh Hà Nam hợp nhất với tỉnh Nam Định, huyện Ý Yên thuộc tỉnh Nam Hà Thời kỳ hợp nhất hai tỉnh Nam Hà

và Ninh Bình (1976 - 1992) huyện Ý Yên thuộc tỉnh Hà Nam Ninh Từ tháng 4 - 1992, khi tỉnh Nam Hà được tái lập huyện Ý Yên thuộc tỉnh Nam

Hà Đến 01-01-1997 tỉnh Nam Định được tái lập, huyện Ý Yên là một trong

9 huyện của tỉnh Nam Định

Thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, Đảng bộ và nhân dân Ý Yên càng thể hiện rõ bản chất cách mạng của mình, phấn đấu không ngừng cho sự nghiệp: Dân giàu, huyện mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Chính những thành tích xuất sắc đó đặc biệt là trong kháng chiến chống Pháp xâm lược, ngày 28 tháng 4 năm 2000, Đảng bộ, nhân dân và lực lượng

vũ trang Ý Yên đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.Vinh dự cao quý này là nguồn cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh để Đảng bộ và nhân dân Ý Yên không ngừng phấn đấu vươn lên, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên quê hương Ý Yên yêu dấu

* Xã hội

Ý Yên có nền tảng chính trị - xã hội vững mạnh Trong những năm qua, cùng với tiến trình đổi mới, Đảng bộ huyện Ý Yên luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền các cấp và phát huy tối đa vai trò hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể quần chúng tạo nên sức mạnh tổng hợp, phát huy nội lực trong sự nghiệp xây dựng quê hương Ý Yên ngày càng giàu đẹp, văn minh

* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ý Yên

Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội là những nhân tố quan trọng tác động đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện Vì thế việc đánh giá đúng tiềm năng, lợi thế, khó khăn mà các yếu tố này mang lại có ý nghĩa rất

Trang 25

quan trọng, tạo điều kiện để các cấp, các ban ngành huyện Ý Yên có thể hoạch định quy hoạch phát triển trước mắt và lâu dài

Tuy nhiên, huyện Ý Yên cũng có những khó khăn nhất định về nhiều mặt như: Nền kinh tế đi lên với xuất phát điểm thấp, tỷ trọng nông nghiệp còn cao trong cơ cấu kinh tế của toàn huyện…Địa phương có nghề truyền thống

và nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau cả về mặt khách quan lẫn chủ quan vẫn chưa phát triển đúng với tiềm năng của huyện Công nghiệp của huyện cũng chưa phát triển Kết cấu hạ tầng vẫn còn kém, hạn chế sự phát triển kinh tế - xã hội Trình độ dân trí còn thấp, nền kinh tế thiếu lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật và đội ngũ công nhân lành nghề Diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp là chủ yếu Bên cạnh đó, khí hậu thất thường như rét đậm, rét hại, sương muối… gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

1.1.2 Tình hình xóa đói giảm nghèo ở huyện Ý Yên trước năm 2000

Đói nghèo tại các vùng nông thôn của Việt Nam lần đầu tiên được thừa nhận là một vấn đề lớn tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 Đại hội cũng cho rằng chính quyền còn chưa quan tâm đúng mức đến việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hạ tầng cơ sở xã, y tế và giáo dục cho đối tượng nghèo Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên trong cả nước khởi xướng phong trào xóa đói giảm nghèo cấp tỉnh vào năm 1992 Chính phủ bắt đầu thực hiện một số hoạt động xóa đói giảm nghèo trên quy mô cả nước vào năm 1993 như tín dụng không thế chấp của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho đối tượng nghèo và Chương trình 327 (phủ xanh đất trống đồi trọc và định canh định cư) và Chương trình 120 (Chương trình giải quyết việc làm)

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, những mục tiêu cơ bản về xóa đói giảm nghèo và các giải pháp chính sách liên quan cũng được đưa ra thảo luận và thông qua Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia đã

Trang 26

được hình thành từ việc ghi nhận những hạn chế trong cách tiếp cận xóa đói giảm nghèo hiện đang thực hiện trên phạm vi cả nước, đó là thiếu lồng ghép các chương trình hiện có dẫn đến chính sách thiếu điều phối chung và nguồn vốn dàn trải chưa thực sự đạt được những kết quả như mục tiêu của các dự án, chủ yếu chỉ tập trung về mặt tín dụng mà coi nhẹ các hoạt động về giáo dục, y

tế, phát triển hạ tầng cơ sở, chưa huy động được nguồn lực của toàn dân tham gia vào công tác xóa đói giảm nghèo Năm 1998, xóa đói giảm nghèo chính thức được thiết lập như một chương trình mục tiêu quốc gia và được triển khai trên phạm vi cả nước

Từ năm 1998 đến năm 2000 dưới sự chỉ đạo của Đảng và hoạch định chính sách của Nhà nước, xóa đói giảm nghèo được thực hiện một cách bài bản

và có hệ thống thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, cụ thể Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn

1998 - 2000 được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 133/1998/QĐ – TTg ngày 23/07/1998 Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo thường được gọi là Chương trình 133, với mục tiêu là xóa đói kinh niên và giảm nghèo trên cả nước xuống còn 10% vào năm 2000 Tháng 9 năm 2001 Chính phủ tiếp tục phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và việc làm giai đoạn

2001 - 2005 Chương trình xác định mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí mới) xuống dưới 10%, bình quân mỗi năm giảm từ 1,5% - 2%, không để tái đói kinh niên, các xã nghèo có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu (thủy lợi nhỏ, trường học, trạm y tế, đường dân sinh, điện, nước sinh hoạt, chợ)

Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu vùng xa (thường gọi là chương trình 135) được Thủ tướng chính phủ phê duyệt theo quyết định 135/1998/QĐ – TTg ngày 31/07/1998 nhằm tăng cường hoạt động xóa đói giảm nghèo cho các xã đặc biệt khó khăn, miềm núi và vùng sâu vùng xa tại 52 tỉnh Mục tiêu tổng quát của Chương trình là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc ở

Trang 27

các xã ĐBKK miền núi và vùng sâu vùng xa, tạo điều kiện để các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập cùng với

sự phát triển chung của cả nước Chương trình này được chia làm 2 giai đoạn với những mục tiêu cụ thể: Giai đoạn 1998 – 2005, giai đoạn 2006 – 2010 Đây là chương trình dành riêng cho các xã đặc biệt khó khăn của 52 tỉnh thành, tuy không mang quy mô của một chương trình mục tiêu quốc gia nhưng nó là trợ lực lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo tại các xã ĐBKK, vùng sâu, vùng xa

Từ khi xóa đói giảm nghèo mới được bắt đầu từ các phong trào ở các địa phương trên phạm vi cả nước những năm đầu thập niên 90, Ý Yên là một trong những địa phương đầu tiên của tỉnh Nam Định hưởng ứng phong trào xóa đói giảm nghèo, các xã, thị trấn trên địa bàn của huyện coi xóa đói giảm nghèo là một trong những chương trình hành động Các chương trình quốc gia như Chương trình 120, Chương trình 327… được lồng ghép và phối hợp với nhau, bước đầu đã đem lại kết quả tích cực, hỗ trợ hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo Tính đến năm 1999 có khoảng trên 30% số hộ nghèo được hưởng lợi từ chương trình này Tuy vậy trên phạm vi toàn huyện thì xóa đói giảm nghèo vẫn chỉ là một phong trào diễn ra lẻ tẻ ở các địa phương, chưa có những kế hoạch và mục tiêu cụ thể, những giải pháp chưa mang tính tổng hợp

và triệt để thực hiện vì vậy kết quả đạt được trong phong trào xóa đói giảm nghèo còn nhiều hạn chế

Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX nhiệm kỳ 1995 - 2000 đã xác định xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ cấp bách của huyện “ Xóa đói giảm nghèo là một trong những những nhiệm vụ trọng tâm cấp bách của huyện, phấn đấu cơ bản xóa được hộ đói và giảm tỷ lệ hộ nghèo ” [50, tr.73] Nghị quyết Đại hội cũng đưa ra các biện pháp để đạt được mục tiêu đề ra là “ Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể có kế hoạch cụ thể để xóa đói giảm nghèo Tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhất là kinh tế nông nghiệp, đẩy

Trang 28

mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tăng cường cho nhân dân vay vốn ưu tiên các hộ nghèo, cận nghèo, gia đình khó khăn, chính sách Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, thực hiện các biện pháp thiết thực, đồng bộ ổn định đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo bền vững”[50, tr.73] Theo số liệu thống kê năm 1997 tỷ lệ nghèo của Ý Yên là 13,95%, cả huyện có 15 xã nghèo, trong đó có 7 xã với số

hộ nghèo chiếm tới trên 30% Ngoài những nguyên nhân khách quan như điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản xuất, đất canh tác thiếu thốn và bị bạc màu… còn có nguyên nhân chủ quan do người dân thiếu kinh nghiệm sản xuất, vốn để đầu tư cho sản xuất còn thiếu và yếu, tỷ lệ sinh còn cao, chính sách đầu tư còn thiếu và hạn chế, các cấp chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo

Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng Chương trình xóa đói giảm nghèo

và giải quyết việc làm giai đoạn (1996 - 2000) và trong quá trình thực hiện đã triển khai việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên các địa bàn huyện, xã UBND huyện đã chỉ đạo thành lập BCĐ xóa đói giảm nghèo các cấp, huyện thị, thôn, xóm đã hình thành nên một hệ thống tổ chức

bộ máy thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo Chương trình xóa đói giảm nghèo do UBND huyện điều phối thông qua BCĐ xóa đói giảm nghèo do đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban, Trưởng Phòng LĐTB&XH là Phó Ban thường trực, Trưởng Phòng Kế hoạch đầu tư, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn làm Phó ban, thành viên Ban chỉ đạo là lãnh đạo các ngành Tài chính, Giáo dục đào tạo, Ý tế, Ngân hàng phục vụ người nghèo, Phòng Thống kê, Ủy ban dân số kế hoạch hóa gia đình… Ở các cấp xã và thị trấn cũng thành lập BCĐ xóa đói giảm nghèo có cơ cấu giống BCĐ cấp huyện, có ít nhất là 2 người phụ trách

Để triển khai chương trình có hiệu quả, BCĐ xóa đói giảm nghèo đã xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng năm, theo đó mục tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ

Trang 29

hộ nghèo của huyện từ 13,95% năm 1997 xuống còn dưới 11% vào năm

2000, bình quân mỗi năm giảm được 1% tỷ lệ hộ nghèo Về cơ bản hoàn thiện mạng lưới điện đến từng hộ gia đình, các xã đều có trạm y tế và hệ thống giao thông, phấn đấu đến năm 2000 giải quyết vấn đề điện, đường, trường, trạm ở các xã nghèo Trên cơ sở căn cứ vào nội dung của từng dự án mà BCĐ huyện

đã phân công cho các thành viên, các cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm

tổ chức và phối hợp thực hiện Chương trình XĐGN được thực hiện lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chương trình phát triển nông thôn, chương trình y tế, chương trình giáo dục, chương trình quốc gia về việc làm, chương trình xây dựng nông thôn mới

Chương trình xóa đói giảm nghèo được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của cấp ủy chính quyền các cấp với các giải pháp tích cực đồng bộ lồng ghép tốt các chương trình cùng với hoạt động tích cực của BCĐ các cấp, các ngành cùng với đội ngũ cán bộ tăng cường và quần chúng nhân dân, các chương trình dự án trên địa bàn huyện đã được triển khai một cách tích cực và hiệu quả góp phần giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo trên địa bàn toàn huyện

Kết quả sau khi thực hiện dự án, đời sống của những vùng nghèo, hộ nghèo được cải thiện, bớt khó khăn hơn, hạ tầng cơ sở các vùng đặc biệt khó khăn được đầu tư, đổi mới đáng kể Nhân dân đã có nhận thức bước đầu về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, về sản xuất hàng hóa để vươn lên thoát đói nghèo Sự điều hành của các cấp ủy Đảng, điều hành của chính quyền và vai trò của các tổ chức đoàn thể có sự đổi mới

Những kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo ở huyện Ý Yên trước năm 2000 chỉ mới là bước đầu Đảng bộ huyện đã tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các dự

án theo Chương trình 133, 120 của Chính phủ Tỷ lệ đói nghèo của huyện tuy

có giảm nhưng tình trạng đói nghèo của huyện còn rất cao, số hộ phát sinh nghèo mới còn cao, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng và các nhóm dân cư

Trang 30

chưa được thu hẹp, tiến độ xóa đói giảm nghèo chuyển biến chậm, kết quả đạt được chưa bền vững, còn nhiều yếu tố có khả năng dẫn đến đói nghèo Đói nghèo vẫn là một thách thức lớn đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và của toàn thể nhân dân huyện Ý Yên Vì vậy, trong giai đoạn tiếp theo, Đảng bộ huyện Ý Yên cần có những chủ trương, biện pháp phù hợp hơn nữa

để cùng với chính quyền, các ngành, các cấp, đoàn thể và nhân dân trong huyện thực hiện thành công công tác xóa đói giảm nghèo

1.2 Chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2000 đến năm 2005

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Nam Định về xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2005

*Quan niệm chung về nghèo đói và tình hình nghèo đói ở Việt Nam

Theo đánh giá của hội nghị chống đói nghèo của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 thì: “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được

xã hội thừa nhận.”[5, tr.20] Các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống bao gồm nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp, vệ sinh, y tế, giáo dục đào tạo, giải trí, văn hóa tinh thần Khái niệm này được đông đảo các nước trên thế giới thừa nhận

và sử dụng làm tiêu chí đánh giá, nhận diện nghèo đói

Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế

Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế

xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng

Trang 31

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhangen, Đan Mạch tháng 3-1995 đã đưa ra khái niệm về nghèo cụ thể hơn như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1USD/mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại

Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cho rằng con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực

Như vậy, ta có thể định nghĩa chung về đói, nghèo: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng

Trên đây là những khái niệm chung nhất, phương pháp đánh giá, nhận diện nét chủ yếu, phổ biến về nghèo, đói Trọng tâm của vấn đề là nhu cầu của con người Tuy vậy, trong khái niệm chưa thể hiện rõ chuẩn mực đánh giá

về mặt định lượng, chưa tính đến sự khác biệt, chênh lệch giữa các vùng lãnh thổ, quốc gia, các điều kiện cụ thể Sự phát triển của sản xuất, tăng trưởng kinh tế làm tăng thêm nhu cầu của đời sống con người, tạo ra những biến đổi của xã hội Do đó, khái niệm về “nghèo” và “đói nghèo ” cũng biến động theo nó Thực tế cho thấy các chỉ số xác định đói nghèo thường được gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội Hiện tượng đói nghèo có tính lịch sử và đang có

sự biến động trong sự vận động chung của đất nước

Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu

Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại

Trang 32

Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét

Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một

số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu

Khái niệm về hộ đói: Hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ

Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Ngoài ra còn có khái niệm xã nghèo và vùng nghèo

Xã nghèo là xã có những đặc trưng như sau: Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã; không có hoặc thiếu rất nhiều những công trình cơ sở hạ tầng như: Điện sinh hoạt, đường giao thông, trường học, trạm y tế và nước sinh hoạt; trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người mù chữ cao

Khái niệm về vùng nghèo: Vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng

có thể là một số xã liền kề nhau hoặc một vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không

có điều kiện phát triển sản xuất đảm bảo cuộc sống và là vùng có số hộ nghèo

Trang 33

Nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội hay lười lao động

Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn; chính sách khuyến khích sản xuất; vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm

ăn, khuyến nông - lâm - ngư nghiệp, chính sách trong giáo dục, đào tạo, y tế…

Đói, nghèo là hiện tượng kinh tế - xã hội, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cả cộng đồng xã hội, phổ biến ở mọi quốc gia nhưng không thể giải quyết triệt để vấn đề này trong một thời gian ngắn và trên quy mô toàn xã hội

Vì vậy, vấn đề xóa đói giảm nghèo chỉ có thể giải quyết dần từng bước

và là cả một quá trình lâu dài

Căn cứ vào điều kiện riêng của đất nước ,Việt Nam đã đưa ra chuẩn

để xác định nghèo, có những điều chỉnh khác nhau cho từng miền và từng thời điểm

Theo quy định tại Thông tư số 1751/LĐTB&XH ngày 22/05/ 1997 của

Bộ LĐTB&XH, hộ đói là hộ không có đủ cơm ăn, không có đủ áo mặc, con cái thất học, không có tiền để chữa bệnh, nhà ở rách nát; quy đổi bằng gạo thì

hộ này có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 13kg/tháng, quy thành tiền

là 45.000 đồng Hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, không đủ áo lành và áo ấm, không có khả năng phát triển sản xuất; tính theo thu nhập thì vùng nông thôn miền núi và hải đảo bằng dưới 15kg gạo/người/tháng, tương đương 55.000 đồng; đối với vùng nông thôn, đồng bằng và trung du là dưới 20kg gạo/người/tháng, tương đương 70.000 đồng; đối với thành thị là dưới 25kg gạo/người/tháng, tương đương 90.000 đồng

Ngày 27/9/2001 Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 143/QĐ-TTg trong đó phê duyệt “ Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo

Trang 34

giai đoạn 2001 - 2005”, những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/ người/tháng trở xuống là hộ nghèo

Chuẩn nghèo luôn thay đổi và mang giá trị tương đối vì vậy cũng tùy điều kiện cụ thể từng địa phương mà chuẩn nghèo được áp dụng một cách linh hoạt Theo quy định của Bộ LĐTB&XH định kỳ 6 tháng, 1 năm tiến hành khảo sát hộ nghèo để phân loại hộ nghèo để đánh giá đúng kết quả đạt được của công tác XĐGN và có những chính sách xóa đói giảm nghèo thích hợp

* Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Xóa đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Cùng với quá trình đổi mới tăng trưởng kinh

tế, phải tiến hành công tác XĐGN, thực hiện công bằng xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng diễn ra từ ngày 19/4 đến ngày 22/4/2001 tại Hà Nội Nhiệm vụ của Đại hội là nhìn lại chặng đường 71 năm cách mạng Việt Nam, tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII; 15 năm đổi mới đất nước, 10 năm thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội; rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc, từ đó phát triển và hoàn thiện đường lối đổi mới đất nước

Đại hội đã thông qua Chiến lược kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010)

và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2001 - 2005) Mục tiêu tổng quát được Đại hội xác định là: “Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[ 36, tr 261] Để đạt được mục tiêu, quan điểm phát triển

Trang 35

được Đại hội đề ra là tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong đó có XĐGN Mục tiêu xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm trong giai đoạn 2001-2005 được xác định “Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với các trung tâm của những vùng khác, nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn để phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập Phấn đấu đến năm 2005

về cơ bản không còn hộ đói và chỉ còn khoảng 10% số hộ thuộc diện nghèo Các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, các huyện đồng bằng miền Trung và các tỉnh Nam Bộ về cơ bản không còn hộ nghèo Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo”[36, tr.29], và “Trong 5 năm tới, tập

trung tạo việc làm và ổn định việc làm cho khoảng 7,5 triệu người, bình quân

trên 1,5 triệu người/năm; phấn đấu đến năm 2005 giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống còn khoảng 5,4% và nâng quỹ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 80%.Phát triển sản xuất, kinh doanh và các loại hình dịch vụ, thực hiện tốt các chương trình kinh tế - xã hội, tăng chất lượng xuất khẩu lao động được xem là những khâu quan trọng trong giải quyết việc làm

và tăng thu nhập cho người lao động”[ 36,tr 28]

Để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, Đại hội đã đề ra phương hướng: “Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm đối với những vùng nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng còn tiềm năng Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ người nghèo Thực hiện trợ cấp

Trang 36

xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo Thường xuyên củng cố thành quả xóa đói giảm nghèo.”[36, tr.211]

Đặc điểm đói nghèo của Việt Nam là tập trung ở vùng nông thôn, miền núi, vì vậy trong định hướng phát triển vùng, Đại hội đã đưa ra giải pháp phát triển khu vực nông thôn vùng trung du, miền núi: “Phát triển mạnh cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc và công nghiệp chế biến Bảo vệ và phát triển vốn rừng Hoàn thành và ổn định vững chắc định canh, định cư Bố trí lại dân cư, lao động và đất đai theo quy hoạch đi đôi với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh

tế, xã hội để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên Phát triển kinh tế trang trại Giảm bớt khoảng cách phát triển với nông thôn đồng bằng Có chính sách đặc biệt để phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, cửa khẩu”[36,tr.181]

Trên cơ sở những chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ cùng với các bộ, ban ngành có liên quan đã chỉ đạo triển khai công tác xóa đói giảm nghèo một cách đồng bộ bằng các chính sách và giải pháp thiết thực

Ngày 04/05/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 71/2001/QĐ - TTg về các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001 -

2005 trong đó Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 143/2001/QĐ – TTg ngày 27/09/2001 được đặt lên đầu tiên trong 6 Chương trình mục tiêu quốc gia Mục tiêu của Chương trình là: Giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí hộ nghèo mới) đến năm 2005 còn dưới 10%, bình quân mỗi năm giảm 1,5 - 2% (khoảng 28 - 30 vạn hộ/năm); không để tái đói kinh niên, các xã nghèo có đủ

cơ sở hạ tầng thiết yếu cơ bản; mỗi năm phấn đấu giải quyết việc làm cho khoảng 1,4 - 1,5 triệu lao động; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống còn khoảng 5 - 6%; nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực

Trang 37

nông thôn lên 80% vào năm 2005 Đây là một chương trình tổng hợp có tính chất liên ngành trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhằm tạo các điều kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo,

xã nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, xoá đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ

sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người có nhu cầu làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Để cụ thể hóa các mục tiêu, chính sách, giải pháp chung của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2005 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2005 được Đại hội IX của Đảng thông qua Ngày 21/05/2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo Chiến lược dành một nguồn lực lớn để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2001- 2006 khoảng 840 nghìn tỷ đồng cho đầu tư phát triển, bằng 1,5 lần so với vốn đầu tư thực hiện XĐGN giai đoạn 1996 - 2000 Mục tiêu của Chiến lược là đến năm 2010 giảm 2/5 tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế và giảm 3/4 tỷ lệ nghèo về lương thực, thực phẩm so với năm 2000 Đến năm 2005 giảm 2/5 tỷ lệ hộ nghèo và đến 2010 giảm 3/5 tỷ lệ hộ nghèo so với năm 2000 theo chuẩn của Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN và việc làm

Để hỗ trợ xã nghèo, người nghèo và tạo điều kiện hơn nữa cho họ phát triển sản xuất, XĐGN, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 134/2004/QĐ - TTg ngày 20/07/2004 về một số chính sách hỗ trợ đất sản

xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ nghèo, đời sống khó khăn. Quyết định thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, Nhà nước

Trang 38

trực tiếp hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo để có điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, sớm thoát nghèo

Như vậy, xóa đói giảm nghèo là chương trình lớn của Việt Nam có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng và Chính phủ Các mục tiêu xóa đói giảm nghèo luôn gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Những quan điểm, sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước về xóa đói giảm nghèo là định hướng và cơ sở pháp lý cho các địa phương thực hiện

* Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định

Quán triệt quan điểm của Đảng về xóa đói giảm nghèo, Đảng bộ tỉnh Nam Định luôn quan tâm và chú trong tới công tác xóa đói giảm nghèo Trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (2000) đã xác định mục tiêu tổng quát Chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm :

“ Phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện CNH - HĐH, phát triển kinh tế - xã hội nhanh, vững chắc ”[86, Tr 26] và đã đề ra nhiệm vụ quan trọng là “Đẩy mạnh công tác XĐGN - GQVL thực hiện tốt chính sách

xã hội”.[86, Tr.26]

Mục tiêu cụ thể về xóa đói giảm nghèo:

“- Phấn đấu đến cuối năm 2005 không còn hộ đói kinh niên, đưa tỷ lệ

hộ nghèo toàn tỉnh xuống dưới 10%, bình quân mỗi năm giảm tỷ lệ hộ nghèo

từ 1,5 - 2% như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã đề ra

- 100% hộ nghèo có khả năng sản xuất kinh doanh có nhu cầu vay vốn được vay vốn tín dụng ưu đãi từ nguồn vốn vay 120 và các chương trình, dự

án khác

- Thực hiện khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn cho 100% hộ nghèo có nhu cầu và có sức lao động

- 100% người nghèo được cấp thẻ Bảo hiểm y tế, khi ốm đau đi khám, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo quy định

Trang 39

- 100% học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường; được vay hỗ trợ học phẩm học tập

- Tập huấn nâng cao năng lực cho 100% cán bộ làm công tác GQVL.”[86, tr.46]

XĐGN-Để thực hiện mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra, trong năm 2001 và các năm tiếp theo cần hướng vào các nội dung sau:

“- Chỉ đạo các xã thoát nghèo chống tái nghèo và giảm nghèo bền vững Thu hẹp dần sự cách biệt về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư

- Phát triển mạnh sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế để phát triển thị trường lao động, khuyến khích người lao động tự tạo việc làm Tích cực tham gia thị trường lao động trong nước và xuất khẩu lao động, kết hợp chặt chẽ giữa công tác dạy nghề với chương trình giải quyết việc làm, thực hiện các dự án phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị hóa và ở khu vực nông nghiệp nông thôn để tạo việc làm

- Tiếp tục làm tốt công tác sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước Quan tâm phát triển các doanh nghiệp trên địa bàn cả về số lượng và chất lượng; làm tốt công tác xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện giúp các nhà đầu tư, các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh mạnh mẽ hơn nữa để tạo thêm việc làm tăng thu nhập cho người lao động, nhất là ở khu vực nông thôn

Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm dần tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động công nghiệp, dịch vụ Bảo đảm tính bền vững về việc làm cho người lao động, nhằm giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với cải thiện thu nhập của người lao động, áp dụng các tiến bộ của khoa học, đổi mới công nghệ sản xuất tạo việc làm có thu nhập cao.”[86, tr.34]

Trên cơ sở những mục tiêu, phương hướng thực hiện xóa đói giảm nghèo Nghị quyết Đảng bộ tỉnh đã đề ra những giải pháp chủ yếu:

Trang 40

“1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội

2 Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trình độ sản xuất - kinh doanh

3 Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước

4 Phát triển sản xuất - kinh doanh, nâng cao mức sống, tạo việc làm thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững

5 Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

6 Tổ chức thực hiện tốt các chính sách, dự án của Chương trình

7 Huy động nguồn lực thực hiện Chương trình”[ 86, tr 38 - 39]

Ngày 26/05/2001, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định UBND về việc thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo – Giải quyết việc làm Mục tiêu của Chương trình được xác định theo như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra nhưng nhấn mạnh đến các giải pháp để thực hiện Chương trình có hiệu quả

11/2002/QĐ-Những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định đề ra là cơ sở quan trọng giúp các địa phương trong tỉnh Nam Định nói chung và huyện Ý Yên nói riêng có những chính sách cụ thể phù hợp với thực tiễn ở địa phương

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên về xóa đói giảm nghèo

Dưới ánh sáng đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ tỉnh Nam Định nói chung, Đảng bộ và chính quyền huyện Ý Yên luôn quan tâm giải quyết các vấn đề xóa đói giảm nghèo, đề ra những chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của huyện, giảm tỷ lệ hộ đói nghèo từng bước đẩy lùi đói nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Ý Yên lần thứ XX (tháng 11/2000) đã nhấn mạnh: “Trong những năm tới cần khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng, thế mạnh đặc thù của huyện để phát triển kinh tế - xã hội

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w