1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ

358 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 358
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà folklore học đã tiến hành nghiên cứu sự ra đời và nhận diện truyện cổ tìch thần kí, xem xét đặc trưng và tình chất, nội dung và hính thức của chúng; tím hiểu mối quan hệ, ảnh hưở

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THU TRANG

SO SÁNH TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ

VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THU TRANG

SO SÁNH TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ

VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ

Chuyên ngành: Văn học dân gian

Mã số: 62 22 01 25

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Chí Quế

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các kết quả nghiên cứu trính bày trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố dưới bất kí hính thức nào Khi sử dụng các thông tin, tài liệu tham khảo của các nhà khoa học khác, tôi đều thực hiện trìch dẫn một cách đầy đủ, rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận án của mính

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện luận án này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Lê Chì Quế - người thầy đáng kình đã luôn chỉ bảo tận tính cho tôi trong suốt quá trính thực hiện luận án

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với các thầy cô Khoa Văn học, các chuyên gia thuộc Trường ĐH KHXH&NV, ĐH QG Hà Nội và các thầy cô, các nhà nghiên cứu trân quý thuộc các trường Đại học, Viện nghiên cứu,… đã cho tôi những góp ý đầy giá trị, chia sẻ cho tôi những thông tin quý báu đối với luận án của tôi

Tôi cũng xin cảm ơn những người bạn ở Mỹ, Ấn Độ luôn nhiệt tính tím kiếm giúp tôi những tài liệu cần thiết, khó tiếp cận, phục vụ cho việc khảo sát và nghiên cứu luận án

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đính, người thân và bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, chia sẻ, và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Những đóng góp mới của luận án (Ý nghĩa khoa học thực tiễn của luận án) 12

6 Cấu trúc của luận án 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 14

1.1 Một số khái niệm liên quan đến luận án 14

1.1.1 Khái niệm và bản chất truyện cổ tích 14

1.1.2 Phân loại truyện cổ tích 18

1.1.3 Khái niệm và bản chất của truyện cổ tích thần kì 21

1.1.4 Nhận diện những type truyện cổ tích thần kì tương đồng của Việt Nam và Ấn Độ 24

1.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 29

1.2.1 Phương pháp loại hình học trong khoa nghiên cứu văn học dân gian 29

1.2.2 Phương pháp so sánh trong văn học so sánh 31

1.2.3 Nghiên cứu truyện kể dân gian theo type và motif truyện 34

1.2.4 Nghiên cứu so sánh truyện cổ tích thần kì từ phương diện kết cấu và motif 39

1.3 Tổng quan Tình hình nghiên cứu truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ 42

1.3.1 Tình hình nghiên cứu truyện cổ tích thần kì Việt Nam 42

1.3.2 Tình hình nghiên cứu truyện cổ tích thần kì Ấn Độ 51

1.3.3 Tình hình nghiên cứu type truyện Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường và nhóm type Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt 56

Tiểu kết chương 1 62

Trang 6

CHƯƠNG 2 SO SÁNH TYPE TRUYỆN CHÀNG TRAI KHỎE VÀ NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH CÓ KHẢ NĂNG KHÁC THƯỜNG TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ 63 2.1 Nhận diện type truyện 63 2.2 So sánh kết cấu type truyện Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường của Việt Nam và Ấn Độ 68

2.2.1 Kết cấu theo tuyến tính 68

2.3.2 Một số motif khác góp phần xây dựng nhân vật Chàng trai khỏe trong truyện của Ấn Độ 91

2.3.2.1 Motif tình yêu qua sợi tóc của nàng công chúa chưa biết mặt (T11.4.1) 92 2.3.2.2 Motif linh hồn được cất giấu (E710) và motif dấu hiệu sinh tử (E761] 93 2.3.2.3 Motif tái sinh (E1) 97

Tiểu kết chương 2 99 CHƯƠNG 3 SO SÁNH NHÓM TYPE TRUYỆN NGƯỜI TỐT BỤNG ĐƯỢC BAN THƯỞNG VÀ KẺ XẤU BỤNG BỊ TRỪNG PHẠT TRONG TRUYỆN

CỔ TÍCH THẦN KÌ VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ 100 3.1 Nhận diện và hệ thống nhóm type truyện Người tốt bụng được ban thưởng và

kẻ xấu bụng bị trừng phạt trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ 100

3.1.1 Nhận diện các type truyện 100 3.1.2 Hệ thống nhóm type truyện Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ 103

3.1.2.1 Những type truyện tương đồng 103 3.1.2.2 Một số type truyện về Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt khác của Việt Nam 108

Trang 7

3.1.2.3 Một số type truyện về Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị

trừng phạt khác của Ấn Độ 111

3.2 So sánh kết cấu của các type truyện thuộc nhóm type Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt 112

3.2.1 Kết cấu đồng quy 113

3.2.2 Kết cấu theo tuyến tính 119

3.3 So sánh những motif chính xây dựng nên cốt truyện và nhân vật trong nhóm type Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt 125

3.3.1 Motif sự trợ giúp thần kì (Sự trợ giúp của lực lượng thần kì) 125

3.3.2 Motif cái thiện được ban thưởng 130

3.3.3 Motif cái ác bị trừng phạt 135

3.3.4 Motif sự bắt chước thất bại 141

Tiểu kết chương 3 145

CHƯƠNG 4 LÝ GIẢI SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ 146

4.1 Khái quát đặc trưng truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ 146

4.2 Lý giải về sự tương đồng trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ 149

4.2.1 Tương đồng về quan niệm thẩm mĩ và phương thức sáng tạo nghệ thuật do đặc trưng loại hình, do thời đại ra đời của thể loại truyện cổ tích hai nước 149

4.2.2 Tương đồng do quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa và tiếp thu những nguồn ảnh hưởng 151

4.3 Lý giải về sự khác biệt trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ 156 4.3.1 Khác biệt do khác nhau về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, lịch sử, văn hóa tộc người 156

4.3.2 Khác biệt do phong tục tập quán hai nước khác nhau 162

4.3.2.1 Vài nét về văn hóa ẩm thực và phong tục trong một số bản kể 162

4.3.2.2 Sự khác nhau về quan niệm hôn nhân 166

4.3.3 Khác biệt do ảnh hưởng của tôn giáo tín ngưỡng 170

4.3.3.1 Sự khác biệt về nguồn gốc thần kì của nhân vật 170

4.3.3.2 Sự khác biệt về lực lượng trợ giúp thần kì 172

4.3.4 Khác biệt do cách tư duy 177

4.3.4.1 Thiết chế làng xã và tính thực tiễn của tư duy Việt Nam 177

Trang 8

4.3.4.2 Tính siêu hình và giàu tưởng tượng của tư duy Ấn Độ 179

Tiểu kết chương 4 182 KẾT LUẬN 183 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 187 TÀI LIỆU THAM KHẢO 188 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Truyện cổ Lô Lô Truyện cổ Tây Nguyên Truyện cổ tìch Việt Nam (Nguyễn Cường) Truyện cổ các dân tộc Thanh Hóa

Truyện dân gian Thái, Tập 2 Văn học dân gian Sóc Trăng Truyện cổ Mường

Truyện cổ tìch miền núi Văn học dân gian Lào Cai

Sơ bộ tím hiểu truyện Tấm Cám Truyện cổ dân gian các dân tộc thiểu số Ấn Độ

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng thống kê các bản truyện của Việt Nam 65

Bảng 2.2: Bảng thống kê các bản truyện của Ấn Độ 66

Bảng 2.3: Bảng thống kê kết cấu type truyện Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường của Việt Nam và Ấn Độ 68

Bảng 2.4 Dạng thức motif sự sinh nở thần kí/ sự xuất thân kí lạ 79

Bảng 2.5 Các dạng chiến công của nhân vật Chàng trai khỏe 87

và những người bạn đồng hành 87

Bảng 3.1: Bảng thống kê kết cấu nhóm type truyện Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt của Việt Nam và Ấn Độ 113

Bảng 3.2 Các dạng motif sự trợ giúp thần kí 126

Bảng 3.3 Các dạng motif cái thiện được ban thưởng 130

Bảng 3.4 Các hính thức ban thưởng 134

Bảng 3.5 Các dạng motif cái ác bị trừng phạt 135

Bảng 3.6 Các hính thức trừng phạt 140

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Truyện cổ tìch là một thể loại lớn trong loại hính tự sự dân gian có một sức hấp dẫn kí lạ và có một đời sống học thuật phong phú Trong đó, tiểu loại chiếm ưu thế và tiêu biểu nhất là truyện cổ tìch thần kí Nổi bật với những quan niệm nghệ thuật độc đáo, những hính thức nghệ thuật riêng biệt, nội dung phản ánh hấp dẫn, cho đến nay, truyện cổ tìch thần kí luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của đông đảo giới folklore học.

thần kí ở Việt Nam và ở nhiều nước trên thế giới vẫn luôn được coi trọng và thu được nhiều thành tựu Các nhà folklore học đã tiến hành nghiên cứu sự ra đời và nhận diện truyện cổ tìch thần kí, xem xét đặc trưng và tình chất, nội dung và hính thức của chúng; tím hiểu mối quan hệ, ảnh hưởng giữa truyện cổ tìch thần kí và các thể loại khác, với các loại hính văn nghệ dân gian và văn hoá dân gian; tím hiểu giá trị văn học và văn hoá học của truyện; nghiên cứu so sánh truyện cổ tìch thần kí các

Bản, Hàn Quốc…, hay ứng dụng một số phương pháp nghiên cứu truyện cổ tìch của các nước trên thế giới vào việc nghiên cứu truyện cổ tìch thần kí ở Việt Nam…

Nhín chung, trong khoa nghiên cứu văn học dân gian nói chung, ngành cổ tìch học nói riêng, những vấn đề của truyện cổ tìch thần kí đã được đặt ra, đã có một số công trính nghiên cứu chuyên sâu, song vẫn còn nhiều vấn đề mới chỉ là những nghiên cứu sơ bộ ban đầu hoặc có những lĩnh vực nghiên cứu còn bỏ ngỏ

Truyện cổ tìch thần kí là tiểu loại vừa giàu tình dân tộc vừa mang tình quốc

tế Khi đối chiếu so sánh Bảng mục lục tra cứu type và motif truyện kể dân gian của

Aarne – Thompson với bảng mục lục type và motif của một số nước, chúng ta nhận

thấy rằng tiểu loại này của các quốc gia trên thế giới có mối tương đồng về loại hính, có những truyện giống nhau về đề tài, kết cấu, motif, nhân vật, cốt truyện Bởi vậy, nghiên cứu so sánh truyện cổ tìch thần kí tương đồng của các dân tộc để

Trang 12

tím ra những nét giống và khác trong cùng một loại hính, chỉ ra mối quan hệ quốc tế

và lì giải chúng là việc làm có ý nghĩa khoa học và thiết thực Đây cũng là hướng nghiên cứu quan trọng, vừa có tình thời sự lâu dài, vừa có ý nghĩa chình trị sâu sắc trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc thời đại toàn cầu hóa hiện nay

Ấn Độ là một quốc gia lớn ở Châu Á, là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại, có nền văn hóa lâu đời, phát triển rực rõ với nhiều thành tựu, có sức lan tỏa và ảnh hưởng tới nhiều nền văn hóa khác trong đó có Việt Nam Nhiều nhà nghiên cứu văn học Ấn Độ ở Việt Nam đã chú ý giới thiệu, biên dịch, nghiên cứu văn học Ấn Độ, nghiên cứu ảnh hưởng của văn học Ấn Độ tới Đông Nam Á và Việt Nam Tuy nhiên, việc nghiên cứu truyện cổ tìch Ấn Độ ở Việt Nam cho đến nay hầu như vẫn chưa được quan tâm Còn đối với mảng đề tài nghiên cứu văn học so sánh thí hoàn toàn vắng bóng những đề tài so sánh truyện cổ tìch Việt Nam và Ấn Độ

Nhận rõ vị trì, tầm quan trọng của việc tím hiểu những nền văn học, văn hóa khác nhau trên thế giới, góp phần vào việc thúc đẩy tiến trính hội nhập và phát triển,

chúng tôi qua nhiều năm nghiên cứu khoa học đã lựa chọn đề tài: So sánh truyện cổ

tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đìch nghiên cứu của luận án là nghiên cứu so sánh một số type truyện

cổ tìch thần kí của Việt Nam và Ấn Độ từ phương diện kết cấu và motif để tím ra những nét tương đồng, khác biệt trong truyện cổ tìch thần kí hai nước, tím ra những mối quan hệ ảnh hưởng do quá trính giao lưu, tiếp xúc văn hóa Trên cơ sở đó thấy được những nét giống và khác nhau của văn hóa hai dân tộc và văn hóa quốc tế Ở mức độ cao hơn, luận án muốn hướng tới việc nhận thức rõ hơn về bản chất và đặc trưng của truyện cổ tìch thần kí Việt Nam và Ấn Độ

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án mà chúng tôi thực hiện là: sưu tầm, tập hợp, dịch thuật, hệ thống các văn bản truyện thuộc type truyện Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường, nhóm type truyện Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt của Việt Nam và Ấn Độ; khảo sát, so sánh về kết cấu và những motif chình xây dựng nên cốt truyện và nhân vật

Trang 13

Trên cơ sở khảo sát, so sánh, tím ra những nét tương đồng và khác biệt, đồng thời lì giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tiểu loại truyện cổ tìch thần kí của Việt Nam và Ấn Độ Trong đó, phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung thống kê và khảo sát so sánh những bản truyện thuộc type Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường và nhóm type Người tốt bụng được ban thưởng

và kẻ xấu bụng bị trừng phạt Cùng với việc nghiên cứu văn bản học, luận án cũng hướng tới tím hiểu một số hính thức sinh hoạt văn hóa, tìn ngưỡng, phong tục trong đời sống có liên quan đến những tính tiết, motif trong các type truyện

Chúng tôi nhận thấy type Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường và nhóm type Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt là hai nhóm type phong phú về số lượng bản truyện, đa dạng về nội dung phản ánh, có tình khái quát và tình xã hội cao, có những loại nhân vật tiêu biểu cho nhân vật truyện cổ tìch thần kí Những type truyện này thể hiện được những đặc trưng cơ bản và là những nhóm truyện cổ tìch thần kí phổ biến Trong

đó, loại truyện về Chàng trai khỏe là ―loại truyện có tình chất kế tiếp, gần gũi với thần thoại, chủ yếu nói về những nhân vật tham gia vào công cuộc đấu tranh thiên nhiên rộng lớn của mỗi dân tộc‖ [Đinh Gia Khánh, 2005, tr 617] Các nhân vật Chàng trai khỏe cũng gần gũi với các nhân vật vũ trụ trong thần thoại Nhóm truyện

về Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt ra đời sau, khi gia đính mẫu quyền của thị tộc mẫu hệ tan rã nhường chỗ cho gia đính phụ quyền với

uy quyền tập trung vào người đàn ông trong gia đính Trên cơ sở xã hội và cơ sở kinh tế sâu xa ấy đã xuất hiện loại truyện về các nhân vật tốt bụng là những con người bất hạnh, mồ côi, người em… trong nhóm truyện này

Việc lựa chọn hai nhóm type ra đời ở hai giai đoạn khác nhau, phản ánh về những chủ đề và loại nhân vật khác nhau phần nào giúp chúng tôi có cái nhín đầy

đủ và bao quát hơn về tiểu loại truyện cổ tìch thần kí để từ đó đưa ra những nhận định thật sự khoa học

Trang 14

Về phạm vi tư liệu của luận án, chúng tôi đã khảo sát 131 bản truyện cổ tìch thần kí thuộc hai nhóm type truyện nêu trên, trong đó có 96 truyện của Việt Nam và

35 truyện của Ấn Độ từ các tập và tuyển tập truyện cổ dân gian của hai nước đã được xuất bản Với tài liệu của Việt Nam, chúng tôi khảo sát văn bản trong một số

cuốn: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam 5 tập của Nguyễn Đổng Chi (1978, 2013),

Truyện cổ tích Việt Nam do Nguyễn Cừ tuyển chọn và giới thiệu (2006); Tập VI về Truyện cổ tích thần kỳ và tập VII về Truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích sinh hoạt

trong bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt (2004, 2005) Ngoài ra chúng tôi

còn sử dụng khá nhiều cuốn sách sưu tầm, biên soạn truyện kể dân gian các tỉnh

hoặc của một số dân tộc như: Truyện cổ Việt Bắc; Truyện cổ Tây Nguyên; Truyện

cổ các dân tộc thiểu số Việt Nam; Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, phần Truyện cổ tích thần kỳ, tập 15; Truyện dân gian Lai Châu; Truyện dân gian Thái; Truyện cổ H’mông; Truyện cổ Mường; Truyện cổ Tày – Nùng…

Với tài liệu truyện Ấn Độ, chúng tôi chủ yếu thống kê trong các tuyển tập

bằng tiếng Anh: Tuyển tập truyện kể dân gian và văn vần Kachari (A Collection of

Kachari Folktales and Rhymes); Truyện kể dân gian Santal (Santal Folk Tales); Hòn ngọc phương Đông: Văn hóa dân gian Ấn Độ (The Orient Pearls: Indian Folklore); Người Baiga (The Baiga); Ngôn ngữ Pashai, Ngôn ngữ biên giới Ấn- Iran, tập III (The Pashai Language, Indo-Iranian Frontier Languages, vol III); Truyện kể dân gian Ceylon (Village Folk-Tales of Ceylon); Truyện cổ Punjab

(Tales of the Punjab); Truyện cổ tích Bengal (Bengal Fairy Tales); Truyện kể dân

gian Bengal (Folk-Tales of Bengal); Văn hóa dân gian Salsette (Folklore in Salsette); Những người Shan ở nhà (The Shans at Home); Văn hóa dân gian miền Tây Ấn Độ (Folklore in Western India); Ngôn ngữ Pashai (The Pashai Language); Văn hóa dân gian Telegus (Folklore of the Telegus); Truyện cổ Deccan (Deccan Nursery Tales); Câu chuyện về mặt trời hay Văn hóa dân gian miền Nam Ấn Độ

(Tale of the Sun or Folklore of Southern India); Truyện kể dân gian Tây Tạng (Folk

Tales from Tibet); Truyện kể dân gian Himalaya (Folk Tales from Himalayas); Truyện kể dân gian Kashmir (Folk Tales of Kashmir); Truyện cổ tích Ấn Độ (Indian

Trang 15

Fairy Tales)…Trong số 35 truyện của Ấn Độ chỉ có 5 truyện đã được dịch sang

tiếng Việt là Hoàng tử Serđin, Hãy chập vào, Các chàng trai dũng cảm làng

Kônmen, Chàng Đhur Xing tốt bụng, Người em chột mắt 30 truyện còn lại, chúng

tôi dịch mới từ tiếng Anh sang tiếng Việt (xem phụ lục 3 và 7)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp so sánh loại hình

Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu đề tài này Chúng

tôi sử dụng phương pháp này để so sánh, đối chiếu loại hính một số type truyện cổ tìch thần kí của Việt Nam và Ấn Độ về mặt kết cấu và các motif truyện Chúng tôi cũng so sánh cả về mặt nội dung và hính thức nghệ thuật nhằm tím hiểu mối quan

hệ giữa các yếu tố đó, đồng thời chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa các truyện

và văn hóa giữa các dân tộc trong sự vận động của thời gian và không gian văn hóa của hai nước Từ những bảng mục lục tra cứu type và motif truyện kể dân gian, chúng tôi tập hợp những bản truyện theo các type truyện Những bản truyện không

có trong bảng mục lục tra cứu type mà chúng tôi khảo sát được cũng sẽ được bổ sung vào type tương ứng Thực chất của việc nghiên cứu này là nghiên cứu kết cấu, hính thức của tác phẩm truyện cổ tìch nhằm mô tả mô hính kết cấu của type truyện và các motif truyện Việc so sánh những motif chình của type truyện cũng đồng thời với việc

so sánh những motif cấu thành cốt truyện và xây dựng nên hính tượng nhân vật

4.2 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này được sử dụng trong quá trính khảo sát, thống kê các type truyện, các dị bản truyện, các motif tiêu biểu về cả ý nghĩa và những dạng thức cơ bản trong một số type truyện cổ tìch thần kí của Việt Nam và Ấn Độ để có những số liệu, tỉ lệ làm cơ sở triển khai các nội dung của luận án và đưa ra những lì giải, kết luận khoa học

4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Sau khi hoàn thành bước thống kê tư liệu, phương pháp này được sử dụng để phân tìch nội dung các bản truyện, phân tìch dạng thức, đặc điểm của kết cấu

Trang 16

truyện, phân tìch những motif chình cấu thành cốt truyện và xây dựng nên hính tượng nhân vật, từ đó tổng hợp, khái quát về đặc điểm nhân vật và cốt truyện, đặc điểm thẩm mĩ và phương thức sáng tạo nghệ thuật của truyện cổ tìch thần kí

4.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành để xem xét các cốt truyện cổ tìch thần kí dưới nhiều góc độ, tạo nên cái nhín tổng thể và toàn diện về thể loại truyện

cổ tìch của Việt Nam và Ấn Độ Phương pháp nghiên cứu liên ngành được sử dụng

để tiếp cận văn bản, tiếp cận nhân vật và các motif truyện dưới góc độ lịch sử, địa lì, văn học, văn hóa, dân tộc học, xã hội học…từ đó lì giải nguồn gốc lịch sử xã hội của motif truyện cổ tìch và lì giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt trong truyện cổ tìch thần kí và trong văn hóa hai nước

5 Những đóng góp mới của luận án (Ý nghĩa khoa học thực tiễn của luận án)

- Về kết quả nghiên cứu: Luận án là công trính khoa học đầu tiên nghiên cứu

so sánh một cách chuyên sâu và hệ thống về truyện cổ tìch thần kí Việt Nam và Ấn

Độ Luận án đã khảo sát, phân tìch so sánh 16 type truyện cổ tìch thần kí tương đồng gồm 131 bản truyện của Việt Nam và Ấn Độ về phương diện kết cấu và motif, khái quát những giá trị tiêu biểu, tím ra những nét tương đồng và khác biệt, đồng thời lì giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó

- Về mặt tư liệu: Luận án đã dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt 30 bản truyện cổ tìch thần kí của Ấn Độ, giúp người đọc hiểu biết thêm về truyện cổ tìch, văn hóa, đất nước và con người Ấn Độ

- Về mặt nghiên cứu và giảng dạy: Luận án sẽ cung cấp tài liệu tham khảo và nội dung giảng dạy cho những môn học liên quan như: Văn học dân gian Việt Nam, Văn học Ấn Độ, Nghiên cứu văn học dân gian theo phương pháp loại hính, Nghiên cứu văn học so sánh trong trường đại học, Motif văn học dân gian Việt Nam và Châu Á

- Về mặt đối ngoại: Luận án nghiên cứu so sánh truyện cổ tìch Việt Nam và

Ấn Độ trong sự đối sánh hai nền văn hóa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần tăng cường

sự hiểu biết lẫn nhau trong quá trính hội nhập để phát triển

Trang 17

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận

án gồm có 4 chương:

Chương 1 Cơ sở lì luận và tổng quan về đề tài

Chương 2 So sánh type truyện Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường trong truyện cổ tìch thần kí Việt Nam và Ấn Độ

Chương 3 So sánh nhóm type truyện Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt trong truyện cổ tìch thần kí Việt Nam và Ấn Độ

Chương 4 Lý giải sự tương đồng và khác biệt trong truyện cổ tìch thần kí Việt Nam và Ấn Độ

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Một số khái niệm liên quan đến luận án

1.1.1 Khái niệm và bản chất truyện cổ tích

Truyện cổ tìch là một thể loại lớn trong loại hính tự sự dân gian, phổ biến ở hầu hết các quốc gia Việc nghiên cứu truyện cổ tìch, xác định bản chất thể loại và đưa ra một định nghĩa chình xác thực sự không phải là việc làm đơn giản Để xác định đúng bản chất thể loại truyện cổ tìch, một số nhà nghiên cứu trước đây đã có

sự phân định ranh giới giữa truyện cổ tìch với một số thể loại gần gũi khác như thần thoại, truyền thuyết

Ở Việt Nam, từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX đến những năm đầu của thế kỉ XXI, nhiều chuyên khảo, nhiều bộ giáo trính đi sâu nghiên cứu đặc điểm các thể loại truyện kể dân gian, đã đưa ra những giới thuyết, xác định bản chất, khái niệm, bổ sung nội dung vào những định nghĩa về truyện cổ tìch

Các tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong giáo trính Lịch sử văn

học Việt Nam- Văn học dân gian đã đưa ra những cơ sở so sánh thần thoại với

truyện cổ tìch để từ đó chỉ ra ba đặc điểm chình và xác định nội hàm, bản chất truyện cổ tìch như sau:

- Thần thoại là những truyện trong đó nhân vật là thần, còn những truyện cổ tìch là truyện trong đó nhân vật là người,… Nhân vật chình trong truyện cổ tìch là người, lấy nguyên mẫu trong xã hội loài người

- Thần thoại là sáng tác dân gian thời nguyên thuỷ, là đặc sản chủ yếu của xã hội thị tộc, khi chưa phân biệt giai cấp… khác với thần thoại, truyện cổ tìch phần lớn xuất hiện khi xã hội thị tộc tan rã và được thay thế bằng gia đính riêng lẻ khi xã hội có phân chia giai cấp, và ―truyện cổ tìch chủ yếu phản ánh cuộc đấu tranh xã hội, nội dung chình của lịch sử khi ấy‖

- Thần thoại hấp dẫn chúng ta bằng những hính tượng mỹ lệ và táo bạo ví nội dung chất phác nhưng kí vĩ của sự tìch Truyện cổ tìch lôi cuốn chúng ta vào những nỗi niềm vui khổ, vào không khì đấu tranh chống cường quyền của những con

Trang 19

người bị áp bức Hai thể loại, hai tình cách, hai cách tác động đến ý thức thẩm mĩ [Đinh Gia Khánh, 1973, tr 86-170]

Theo quan điểm này thí thời điểm ra đời và tồn tại, đặc điểm nhân vật, nội dung phản ánh và hính thức nghệ thuật của truyện cổ tìch đã nói lên bản chất thể loại, nội hàm truyện cổ tìch

Nghiên cứu cụ thể nhiều truyện cổ tìch Việt Nam, chúng ta cũng thấy rõ mối quan hệ đan xen giữa thần thoại, truyền thuyết với truyện cổ tìch Chẳng hạn trong nhiều truyện của type truyện Thạch Sanh và dũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp hay trong type truyện Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường… chúng ta thấy rõ có lớp thần thoại dưới lớp cổ tìch Lớp thần thoại

ẩn trong những motif như sự xuất thân kí lạ, sinh nở thần kí, tài năng và sức vóc của người anh hùng khổng lồ… Những lớp truyện cổ tìch xuất hiện trong giai đoạn xã hội có sự phân chia giai cấp ở thời kí xã hội phong kiến nổi bật với những hính tượng nông dân và địa chủ, phú ông; những vị vua, hoàng tử, công chúa và người dân thường

Về bản chất thể loại của truyện cổ tìch, nhóm tác giả Lê Chì Quế (chủ biên),

Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ, trong cuốn giáo trính Văn học dân gian Việt

Nam cũng chỉ rõ:

- Truyện cổ tìch là sáng tác dân gian trong loại hính tự sự mà thuộc tình của

nó là xây dựng trên những cốt truyện

- Truyện cổ tìch là tác phẩm nghệ thuật được xây dựng thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kí

- Truyện cổ tìch là một thể loại hoàn chỉnh của văn học dân gian, được hính thành một cách lịch sử

- Sự hư cấu thần kí trong truyện cổ tìch do hiện thực đời sống quyết định và

nó cũng chịu sự biến đổi theo tiến trính lịch sử [Lê Chì Quế, 1990, tr 132]

Chu Xuân Diên trong Từ điển văn học (Bộ mới) trên cơ sở tổng hợp một số ý

kiến của các tác giả đã nêu ra khái niệm về truyện cổ tìch, khái quát nội hàm truyện

cổ tìch: Truyện cổ tìch đã nảy sinh từ trong xã hội nguyên thuỷ… phát triển chủ yếu trong xã hội có giai cấp; chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề xã hội; Truyện cổ tìch biểu

Trang 20

hiện cách nhín hiện thực của nhân dân đối với thực tại, đồng thời nói lên những quan điểm đạo đức, những quan niệm về công lý xã hội và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại; Truyện cổ tìch là sản phẩm của trì tưởng tượng phong phú của nhân dân và ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tưởng tượng thần kí tạo nên một đặc trưng nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ [Đỗ Đức Hiểu, 2004]

Gần đây, trong cuốn Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, Nguyễn Bìch

Hà dựa trên những nghiên cứu về truyện cổ tìch đã tạm nêu định nghĩa về truyện cổ tìch: ―Truyện cổ tìch là những truyện kể có yếu tố hoang đường kí ảo Nó ra đời từ sớm nhưng đặc biệt nở rộ trong xã hội có sự phân hóa giàu nghèo, xấu tốt Qua những số phận khác nhau của nhân vật, truyện trính bày kinh nghiệm sống, quan niệm đạo đức, lý tưởng và mơ ước của nhân dân lao động về một xã hội công bằng, dân chủ, hạnh phúc.‖ [Nguyễn Thị Bìch Hà, 2012, tr 75]

Trong cuốn Giáo trình Văn học dân gian xuất bản mới nhất (năm 2014) do

Vũ Anh Tuấn chủ biên đã đưa ra nhận định khái quát về truyện cổ tìch: ―Truyện cổ tìch là những sáng tác dân gian thuộc loại hính tự sự, chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thuật kí ảo để thể hiện cái nhín hiện thực của nhân dân với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng như về công lý xã hội và ước mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân lao động‖ [Vũ Anh Tuấn, 2014, tr 116]

Ở Ấn Độ, việc phân loại truyện kể dân gian để xác định từng thể loại đã được nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian quan tâm đến Tuy nhiên, theo K.D Upahhyaya ―rất khó để phân loại truyện kể dân gian Ấn Độ Bởi các thể loại thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tìch, truyện ngụ ngôn và những thể loại truyện truyền miệng khác là gần như không có ranh giới‖ [K.D Upahhyaya, tr 225] Ví vậy, truyện cổ tìch có thể xuất hiện trong nhiều loại truyện theo các chủ đề khác nhau như truyện về tính yêu, truyện mang yếu tố siêu nhiên, truyện tôn giáo

Khái niệm và bản chất truyện cổ tìch theo quan điểm của Ấn Độ cũng được

một số nhà nghiên cứu Folklore Ấn Độ đề cập đến Trong bài báo ―Bản chất của

truyện dân gian Ấn Độ‖, Shubha Tiwari, giáo sư đại học Pandit Ravi Shankar,

Raipur, Chhatisgarh, Ấn Độ phân biệt sự khác nhau giữa truyền thuyết và truyện cổ

Trang 21

tìch: ―Truyền thuyết thường có nguồn gốc trong lịch sử Truyền thuyết dựa trên những sự kiện có thật và những con người thực tế Những câu chuyện này được phóng đại và sáng tạo Trong khi truyện cổ tìch hoàn toàn là những điều tưởng tượng; truyền thuyết là hiện thực và có cơ sở lịch sử Truyền thuyết nhắc nhở mọi người về những nỗ lực tiềm năng của con người.‖ Về bản chất truyện cổ tìch, ông cho rằng ―những câu chuyện cổ tìch có một chút phép thuật Phép lạ và những điều

kí lạ xảy ra dễ dàng trong truyện cổ tìch‖ Chứng minh cho điều này, Shubha đưa ra một vì dụ cụ thể về một cốt truyện cổ tìch như sau:

―Có một bà lão nuôi một con chuột cái Bà luôn yêu thương và chăm sóc nó chu đáo Sau đó, bà sắp xếp cho con chuột kết hôn với một người đàn ông Người đàn ông này cảm thấy rất xấu hổ về cô vợ chuột của mính Anh ta yêu cầu cô chỉ được sống ở tầng trên của ngôi nhà Cô vợ chuột hoàn thành tất cả các nhiệm vụ của mính trong đêm một cách tốt đẹp Điều này đã diễn ra trong một thời gian dài Cuối cùng thần Shiva và nữ thần Parvati đã ban phước cho cô trở thành một người phụ

nữ xinh đẹp và sống hạnh phúc‖ [Shubha Tiwari, 2013,

https://www.boloji.com/articles/14698/the-essence-of-indian-folk-tales]

Silima Nanda, Tiến sĩ trường Đại học Mở Quốc gia Indira Gandhi trong bài

báo ―Chân dung phụ nữ trong truyện cổ tích‖ cho rằng: ―Truyện cổ tìch được xem

là những câu chuyện hoang đường hay phép thuật, có nguồn gốc từ nhiều câu chuyện nhỏ có từ hàng ngàn năm trước Chúng liên quan đến tìn ngưỡng, nghi lễ, giá trị và kinh nghiệm của những người ngoại đạo Tuy nhiên, trải qua thời gian, chúng đã biến đổi và lan tỏa một cách tự nhiên trong đời sống tinh thần của họ.‖ [Silima Nanda, 2014, tr 246]

Như vậy, từ những định nghĩa, giới thuyết về truyện cổ tìch nêu trên, có thể

tóm lược về khái niệm, bản chất, đặc trưng của thể loại cổ tìch: Truyện cổ tích chủ

yếu ra đời trong thời kì công xã thị tộc tan rã, phát triển mạnh trong xã hội có giai cấp; là những câu chuyện tưởng tượng phản ánh thế giới hiện thực bằng những yếu

tố hư cấu, phép thuật và kì ảo; là những truyện kể theo những công thức định sẵn,

có tính hoàn tất; phản ánh những triết lí, thái độ nhân sinh, quan điểm đạo đức, ước mơ của tác giả dân gian

Trang 22

1.1.2 Phân loại truyện cổ tích

Cho đến nay, căn cứ vào hiện thực sáng tác và lưu truyền truyện cổ tìch cũng như căn cứ vào bản chất, đặc điểm cốt truyện, trong giới nghiên cứu văn học dân gian ở Việt Nam đã tương đối thống nhất phân loại truyện cổ tìch ra thành ba tiểu loại là: truyện cổ tìch loài vật (hay động vật), truyện cổ tìch thần kí và truyện cổ tìch sinh hoạt

Trong Bảng chỉ dẫn các type truyện dân gian của Aarne (Phần Lan) xây dựng năm 1910 và Bảng mục lục các type truyện dân gian của Aarne – Thompson

năm 1932, truyện cổ tìch được phân loại gồm ba nhóm chình: truyện cổ tìch loài vật,

truyện cổ tìch thuần túy và truyện hài hước Cuốn Từ điển Type truyện dân gian Việt

Nam do Nguyễn Thị Huế chủ biên soạn 33 type truyện cổ tìch loài vật, 108 type

truyện cổ tìch thần kí và 75 type truyện cổ tìch sinh hoạt [Nguyễn Thị Huế, 2012, tr

247 - 286]

Truyện cổ tích loài vật:

Loại truyện này có kết cấu đơn giản thường gồm một lớp truyện, phản ánh về thế giới động vật Nhân vật chình trong các truyện là các con vật nhưng qua ngôn ngữ và nghệ thuật của người kể truyện, chúng cũng có suy nghĩ như con người Hính tượng con vật đóng vai trò chình trong kết cấu và dẫn dắt cốt truyện Qua cuộc sống sinh tồn và mối quan hệ của loài vật, truyện cũng có liên hệ với những mối quan hệ của con người

Loại truyện cổ tìch loài vật ở Việt Nam hiện nay còn được sưu tập trong các

bộ truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số nhiều hơn là ở người Việt, vì dụ các

truyện Hổ và thỏ (Chăm), Thỏ và hổ, Khỉ và rùa; Thỏ, Y Rit và các con vật (Ê đê),

Cọp và thỏ, Thỏ cứu hổ thoát chết (M‘Nông), Con thỏ ranh mãnh (Xơ Đăng), Gà rừng, hoẵng và rựa (Nùng), Hươu và rựa (Tày), Gà, khỉ và hoẵng (Thái), Con ếch tinh ranh (Xê Đăng), Sự tích vết rạn trên mai rùa, Hai con rái cá và chó sói (Khơ

Me Nam Bộ), Bướm và sâu (Khơ Me), Rết và ốc sên (Dao), Loài kiến và những con

vật trong rừng (Chăm), Vụ kiện châu chấu (Kinh), Châu chấu và đàn khỉ (Nùng,

H‘mông, Giáy, Hà Nhí), Gà mượn mào vịt (Cao Lan), Gà và vịt (Lô Lô), Trâu và

Trang 23

ngựa (H‘Rê), Mèo và cò (Mảng), Tình nghĩa gà vịt (Vân Kiều), Trâu thiếu răng, ngựa không sừng (Xê Đăng), v.v…

Truyện cổ tích thần kì:

Loại truyện này chiếm tỉ lệ nhiều nhất, phong phú nhất trong truyện cổ tìch, lấy yếu tố thần kí làm thủ pháp nghệ thuật cơ bản, tạo nên đặc điểm loại hính của cốt truyện Yếu tố thần kí đóng vai trò quan trọng trong kết cấu và diễn biến của cốt truyện, làm phương tiện trợ giúp cho nhân vật trong những hoàn cảnh khó khăn, đồng thời để truyền đạt những quan niệm đạo đức hay một bài học giáo huấn đối với con người

Truyện cổ tìch thần kí phổ biến ở nhiều dân tộc, là tiểu loại thể hiện rõ tình tương đồng về loại hính Những truyện cổ tìch thần kí tiêu biểu là những truyện về các nhân vật hay mang chủ đề phản ánh về: người lao động nghèo khổ, đứa trẻ mồ côi, người con riêng, người em út, người khỏe tài ba, người xấu xì có tài, chàng dũng sĩ …

Truyện cổ tích sinh hoạt:

Truyện cổ tìch sinh hoạt có nội dung phản ánh những sinh hoạt gia đính như quan hệ vợ chồng, quan hệ bố mẹ với con cái, quan hệ anh, chị em; quan hệ xã hội như giữa chủ và tớ, nông dân với địa chủ, phú ông, tăng lữ, người dân lao động với

vua, quan phong kiến; truyện về người thông minh và kẻ ngốc Giáo trính Văn học

dân gian do Vũ Anh Tuấn chủ biên phân chia truyện cổ tìch sinh hoạt theo hai

mảng: Mảng truyện về trì tuệ của con người và những truyện về đề tài đạo đức [Vũ Anh Tuấn, 2014, tr 123]

Những truyện cổ tìch sinh hoạt tiêu biểu như: Gái ngoan dạy chồng, Truyện

Vợ chàng Trương hay Người thiếu phụ Nam Xương, Giết chó khuyên chồng, Mài dao dạy vợ, Sự tích chim quốc, Sự tích năm trâu sáu cột hay Bắt cô trói cột, Cô bé chăn vịt, Cậu bé thông minh, Người vợ thông minh, Giận mày tao ở với ai hay Phương hoàng đất, Con vợ khôn lấy thằng chồng dại, Kén rể, Chàng ngốc đi buôn, Làm theo lời vợ dặn, Chàng ngốc học khôn…

Ở Ấn Độ, các nhà nghiên cứu truyện kể dân gian Ấn Độ có những cách phân loại truyện dân gian theo nhiều cách khác nhau, hầu như không tách rời các thể loại

Trang 24

Phân loại truyện dân gian có thể được thực hiện theo mô hính, chủ đề, nội dung và mục đìch kể chuyện.

A.K Ramanujan là nhà nghiên cứu văn học, văn hóa dân gian và ngôn ngữ học Ấn Độ Khi phân loại truyện dân gian Ấn Độ, ông đặc biệt chú ý đến bối cảnh của câu chuyện Ông phân loại truyện kể dân gian thành: truyện người đàn ông làm trung tâm, truyện người phụ nữ làm trung tâm, truyện gia đính làm trung tâm, truyện thần làm trung tâm, truyện động vật làm trung tâm, truyện hài hước, truyện trong truyện Trong đó, truyện cổ tìch gồm: truyện người đàn ông làm trung tâm, truyện người phụ nữ làm trung tâm và truyện động vật làm trung tâm

Theo Ramanujan, truyện người đàn ông làm trung tâm (Male- centered tales)

kể về một người đàn ông là nhân vật chình của truyện Nhân vật ra đi để thực hiện những nhiệm vụ khó khăn và trải qua nhiều thử thách Nhân vật nhận được sự giúp

đỡ của thế lực siêu nhiên…, giành chiến thắng và được ban thưởng, được kết hôn với cô gái đẹp

Trong truyện phụ nữ làm trung tâm (Women- centered tales), phụ nữ vượt trội hơn đàn ông, là nhân vật chình, thể hiện sự năng động, dũng cảm và thông minh Họ thường giúp đỡ những người đàn ông đang gặp rắc rối Trong những câu chuyện này, vai trò của nhân vật bị đảo ngược, đàn ông thí ngu ngốc còn phụ nữ thí khôn ngoan Họ giải cứu những người đàn ông ngu ngốc và yếu đuối

Truyện động vật làm trung tâm (Animal centered tales) được phân loại rất rộng Có một số lượng truyện lớn dưới dạng truyện Jataka và Panchatantra, nhân cách hóa động vật và truyền lại những giá trị vĩnh cửu một cách thú vị Câu chuyện

về Khỉ và Cá sấu, Rùa và Ngỗng, Hang động được nói đến là một số vì dụ phổ biến [Ramanujan, 1991, tr XXIII-XXIX]

K.D Upahhypaya, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Ấn Độ và cũng là người thành lập Viện Văn hóa Dân gian Ấn Độ tại Allahbad đã đưa ra một cách phân loại

khác của truyện dân gian Ấn Độ trong công trính Phân loại và đặc điểm chính của

truyện kể dân gian Ấn Độ (2009), với các loại truyện như sau:

- Truyện tôn giáo (Religious tales) là những câu chuyện đã được xác định từ tôn giáo cốt lõi

Trang 25

- Truyện giáo huấn (Didactic tales) như Jatak kathas kể về những lần sinh

trước của Đức Phật Loại truyện này không thiên về tình giải trì mà quan trọng hơn

là thiên về việc đưa ra những bài học và truyền đạt một thông điệp đạo đức

- Truyện tính yêu ( Love stories) dành cho tất cả các truyện dân gian của Ấn

Độ K.D Upahhypaya giới thuyết: Tính yêu luôn là một động lực mạnh mẽ của văn

học nói chung Saleem và Anarkali, Sohni và Mahiwal, Bajirao và Mastani, Prithvi

Raj và Sanyukta, Shivaji và Saibai, Dhola và Maru, Mirza và Saahiba, Sassi-

- Truyện giải trì (Tales of Entertainment) là loại truyện được tạo ra chỉ để

giải trì với mục đìch gây cười và kết nối với mọi người

- Truyền thuyết địa phương ( Local Legends): Ấn Độ là vùng đất của những

huyền thoại địa phương Mỗi vùng miền, xứ sở đều có những anh hùng địa phương

Vì dụ Alha và Udal, hai anh em dũng cảm là những huyền thoại địa phương của

Bundelkhand và Baghelkhand Pahalwan Gama, người hầu của gia đính Hoàng gia

và Ghag, Dak là những huyền thoại địa phương của vùng đông bắc và các khu vực lân cận

- Huyền thoại (Myths): Đây là nơi ranh giới giữa dân gian và thần thoại được

hợp nhất Vikram và Baital, Sulsa và Satuka và những câu chuyện về những giấc

mơ khác nhau của các vị vua và hoàng hậu tạo thành những câu chuyện thần thoại Câu chuyện về Savitri và Satyavan cũng có thể được tham gia vào nhóm này [Upadhyaya, 2009, tr 225-226]

Như vậy truyện cổ tìch nằm trong loại truyện giáo huấn và truyện tính yêu

1.1.3 Khái niệm và bản chất của truyện cổ tích thần kì

Ở Việt Nam, về khái niệm truyện cổ tìch thần kí, ý kiến của các nhà nghiên cứu như Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu, Lê Chì Quế, Đức Ninh… là tương đối thống nhất khi phân biệt với những tiểu loại truyện cổ tìch khác ở cách xây dựng nhân vật, xây dựng cốt truyện, phương pháp phản ánh thực tại… Trong đó tiêu chì xác định tiểu loại truyện cổ tìch thần kí là vai trò quan trọng của yếu tố thần kí trong việc xây dựng cốt truyện và xây dựng nhân vật

Trang 26

Trên cơ sở phân biệt truyện cổ tìch thần kí với các tiểu loại truyện cổ tìch khác, Hoàng Tiến Tựu đưa ra đặc điểm của truyện cổ tìch thần kí là: ―bộ phận cơ bản cổ điển và tiêu biểu nhất của truyện cổ tìch, đồng thời là một trong những bộ phận quan trọng nhất và tiêu biểu của nền văn học dân gian mỗi dân tộc… Tiêu chì quan trọng và chủ yếu nhất để phân biệt truyện cổ tìch thần kí và truyện cổ tìch sinh hoạt (hay hiện thực) là phương pháp sáng tác tức là phương pháp chiếm lĩnh và phản ánh hiện thực Cả hai đều dùng hư cấu và tưởng tượng để khái quát hóa và cụ thể hóa hiện thực xã hội và lì tưởng của nhân dân nhưng cơ sở và tình chất của sự

hư cấu và tưởng tượng ấy lại khác nhau rất xa Ở cổ tìch sinh hoạt đó là sự hư cấu

và tưởng tượng trên cơ sở thực tại của đời sống xã hội, còn ở truyện cổ tìch thần kí, thí sự hư cấu và tưởng tượng lại dựa trên hai cơ sở thực tại và phi thực tại (tức là cái

có thực hoặc có thể có thực với cái ảo tưởng, không có thực và không thể có thực) [Hoàng Tiến Tựu, 1990, tr 55]

Đức Ninh trong cuốn Về một số vấn đề văn hóa dân gian (Folklore) Đông

Nam Á đã xác định bản chất của truyện cổ tìch thần kí là ―một kiểu loại cổ hơn cả

được sinh ra bằng con đường ―sinh hoạt hóa‖ của thần thoại Truyện cổ tìch thần kí

là kiểu loại cổ nhất được phát sinh từ thần thoại Những yếu tố chủ yếu của cổ tìch mang tình hoang đường có nguồn gốc thâm căn cố đế từ một số quan niệm và thói quen nguyên sơ: chủ nghĩa đa thần giáo, tô tem giáo, ma thuật, điều kiêng kỵ, những nghi lễ, là những motif cổ xưa của truyện cổ tìch, được kế thừa từ xã hội tiền giai cấp Khác với thần thoại, trong truyện cổ tìch điều quan tâm trên hết là số phận của cá thể - của thành viên bính thường trong xã hội cổ xưa Đặc biệt truyện cổ tìch thần kí đã trực tiếp phản ánh những quan niệm và sinh hoạt xã hội Dần dần những xung đột trong cốt truyện của cổ tìch trở thành những xung đột xã hội và càng về sau ìt nhiều mang tình xung đột giai cấp‖ [Đức Ninh, 2008, tr 81-82]

Chu Xuân Diên trong Từ điển văn học (Bộ mới) cho rằng trong truyện cổ

tìch thần kí cũng có nhiều yếu tố cổ xưa có liên quan đến những quan niệm thần thoại và tìn ngưỡng của con người thị tộc thời bộ lạc ―Những yếu tố của quan niệm thần thoại và tìn ngưỡng ấy một mặt đã có sự pha trộn với các quan niệm tôn giáo của xã hội có giai cấp (như Phật giáo, đạo giáo… ) mặt khác lại có ý nghĩa xã hội và

Trang 27

thẩm mĩ, phản ánh những nét tiêu biểu trong quan hệ với thực tại của con người thời

kí xã hội có giai cấp Cho nên tuy truyện cổ tìch thần kí có những yếu tố liên quan với thần thoại hoặc kế thừa thần thoại, song nội dung chình của truyện cổ tìch thần

kí là đời sống xã hội của con người và số phận của con người sống trong xã hội có giai cấp‖ [Chu Xuân Diên, 2005, tr 1811]

Ở Ấn Độ, như trên chúng tôi đã phân tìch, truyện cổ tìch thần kí thường không được xác định theo thuật ngữ như quan điểm của các nhà folklore Việt Nam

mà được xếp theo chủ đề, nội dung, bối cảnh… cùng với những thể loại truyện dân gian khác

Chẳng hạn, theo cách phân loại của A.K Ramanujan, truyện cổ tìch thần kí tương đương với truyện người đàn ông làm trung tâm (Male- centered tales) Đó là những cốt truyện kể về nhân vật chình là một người đàn ông thường rời khỏi quê hương của mính để kiếm sống hoặc tím kiếm một kho báu bì mật hoặc chỉ để thực hiện một nhiệm vụ Trong cuộc hành trính, nhân vật phải đối mặt với nhiều thử thách Nhân vật vượt qua những thử thách và cuối cùng giành chiến thắng Kết thúc, nhân vật nhận được phần thưởng là sự giàu có, được kết hôn với cô gái đẹp Trong những câu chuyện này, cuộc hành trính dài và nguy hiểm, và con đường bị bao vây với những hiểm họa dưới dạng động vật hoang dã hoặc những sinh vật siêu nhiên Trong khi nhân vật chình là những người đàn ông giành được chiến thắng, hoàn thành những nhiệm vụ vô cùng khó khăn, thí những người phụ nữ thường chỉ là những phần thưởng hoặc những người trợ giúp [Ramanujan, 1991, tr XXIII]

Stith Thompson xếp truyện cổ tìch thần kí vào truyện thường gặp (Ordinary

Folk – tales) Cuốn Những type truyện truyền miệng của tiểu lục địa Ấn Độ của

Stith Thompson and Warren E Roberts đã đưa đến một cái nhín đầy đủ và rộng hơn

về truyện kể dân gian Ấn Độ Cuốn sách này không bao gồm các Type truyện thần

thoại và truyền thuyết Ấn Độ như tác giả giới thuyết bởi ―Bảng phân loại và thư

mục loại hình truyện dân gian ngay từ đầu đã không bao gồm thần thoại và truyền

thuyết, kể từ khi loại truyện này được sử dụng ở một số chi tiết trong Những truyện

truyền miệng của Ấn Độ của Thompson – Balys chúng đã không được liệt kê ở đây‖

[Stith Thompson, 1960, tr 6 ] Chúng tôi nhận thấy nhóm lớn nhất – truyện thường gặp (truyện kể dân gian thông thường), được chia thành truyện thần kí hoặc kí lạ,

Trang 28

truyện tôn giáo, truyện lãng mạn, và các truyện về quái vật Về sự phân chia này, Stith Thompson lý giải:

―Trong truyện thần kí luôn luôn có yếu tố siêu nhiên nào đó, và nhín chung truyện tôn giáo cũng thế; ngược lại những truyện lãng mạn lại hoàn toàn khuôn trong phạm vi thực tế Những truyện về quái vật thí khó phân loại cho thỏa đáng Đây thực chất là những truyện thần kí và như thế đáng lẽ được đặt cùng với những truyện thần kí khác, nhưng ví, mặt khác, đặc tình và bản chất của chúng lại gần giống truyện hài hước, nên chúng được đặt vào nhóm cuối của truyện kể dân gian thông thường, ở ngay gần với truyện khôi hài Trong việc sắp xếp các truyện thần kí thành các nhóm nhỏ hơn thí yếu tố kí ảo, các yếu tố siêu nhiên giữ vai trò chi phối

Theo đó có các nhóm: kẻ thù siêu nhiên (supernatural adversary)- nhóm này có

thêm phần trìch ngang gắn với truyện về kẻ độc ác; chồng hoặc vợ siêu nhiên

(supernatural husband or wife); nhiệm vụ siêu nhiên (supernatural task); lực lượng phù trợ siêu nhiên (supernatural helper); đồ vật siêu nhiên (supernatural object); tri thức hay sức mạnh siêu nhiên (supernatural knowledge or power); và cuối cùng là

nhóm mà có một số yếu tố siêu nhiên khác Những nhóm này tiếp tục được phân chia thành các phân nhóm dựa theo nội dung; cũng như cách làm với truyện tôn giáo và truyện lãng mạn.‖ [Stith Thompson, 1977, tr 418-419] (Xem phụ lục 2)

Như vậy, truyện cổ tìch thần kí luôn tồn tại hai mạch truyện rõ ràng: mạch thần thoại cổ hơn và mạch hiện thực sinh hoạt xã hội của con người ra đời muộn hơn Trong đó, nội dung chình của truyện là đời sống xã hội và số phận của con người trong xã hội có giai cấp Đối tượng phản ánh là con người với nhiều kiểu nhân vật phong phú

Yếu tố thần kí ngoài việc đóng vai trò trong kết cấu truyện còn là phương tiện hỗ trợ cho hoạt động của con người Hầu hết các vấn đề nêu lên trong truyện cổ tìch thần kí đều được giải quyết bằng lực lượng thần kí Lực lượng thần kí chình là loại ―nhân vật đặc biệt‖ có vai trò quan trọng trong việc phát triển cốt truyện

1.1.4 Nhận diện những type truyện cổ tích thần kì tương đồng của Việt Nam và

Ấn Độ

Qua đối chiếu Bảng phân loại và thư mục loại hình truyện dân gian của Stith Thompson, Bảng danh mục Những type truyện truyền miệng của tiểu lục địa Ấn Độ

Trang 29

của Stith Thompson - Warren E Roberts và Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam

của Nguyễn Thị Huế và nhóm nghiên cứu, chúng tôi sơ bộ tím ra 5/34 Type truyện cổ tìch loài vật; 26/108 Type truyện cổ tìch thần kí; 20/75 Type truyện cổ tìch sinh hoạt tương đồng với hệ thống Type truyện cổ tìch mà A – T xếp vào loại truyện loài vật, truyện thường gặp, truyện cười và giai thoại (Xem phụ lục 1)

Sau đây là bảng thống kê những type truyện cổ tìch thần kí tương đồng của Việt Nam và Ấn Độ mà chúng tôi đã khảo sát (Mã số type truyện của Việt Nam

chúng tôi ghi theo Từ điển type truyện dân gian Việt Nam, mã số type truyện Ấn Độ chúng tôi đề theo Những type truyện truyền miệng của tiểu lục địa Ấn Độ):

Những Type Truyện cổ tích thần kì của Việt Nam và Ấn Độ tương đồng

215 Ai mua hành tôi 516B Nàng công chúa bị bắt cóc (Tính

yêu khi thấy sợi tóc nổi trên mặt nước)

216 Ăn trộm bảo vật của yêu tinh 328 Cậu bé ăn trộm kho báu của người

khổng lồ

218 Cây tre trăm đốt 571 Tất cả đều dình vào nhau

219 Chàng đốn củi và con tinh 563 Cái bàn, con la và cái gậy

223 Chàng trai khỏe và những người

bạn có khả năng khác thường

301B Người đàn ông khỏe mạnh và những người bạn đồng hành

226 Chum vàng và chum rắn 834A Chum vàng và chum rắn

232 Cô gái và chiếc thoi dệt vải bị

đánh rơi

480 Cô gái tốt bụng và cô gái xấu bụng

233 Con chim khách màu nhiệm 567 Trái tim chim màu nhiệm

238 Con hùm bị lừa bởi những vật

dụng được đưa ra trong cuộc đọ sức

1152 Con yêu tinh nể sợ những vật được trưng bày

240 Con quỷ trong cái lọ 331 Vị thần trong cái chai

243 Cuộc phiêu lưu của những người

Trang 30

248 Đứa trẻ bị bỏ rơi và con hổ 535 Cậu bé là con nuôi của hổ

254 Hai cô gái và cục bướu 503 Món quà của người tì hon

257 Hợp sức giết con vật hung ác 210 Gà trống, gà mái, đinh ghim, cái kim

trong một chuyến hành trính

260 Lũ trẻ lừa yêu tinh và trốn thoát 327 Con yêu tinh và bọn trẻ

264 Nàng ngón út 700 Tôm ngón tay cái

266 Nghề đặc biệt 653 Bốn anh em khéo léo

271 Người chồng bị hành hạ ví có

người vợ đẹp

465 Người đàn ông bị hành hạ ví có vợ đẹp

273 Người chồng là người mang lốt

động vật

425A Người chồng là động vật

277 Người giết rắn cứu công chúa 300 Người giết rồng

289 Những điều bì mật của các con vật 613 Hai người lữ khách

292 Những người anh em thông thái 655 Những người anh em thông thái

315 Tấm Cám 510A Cô bé Lọ Lem

317 Tấm lòng vàng được thưởng bằng vàng 750B Lòng hiếu khách được ban thưởng

318 Thỏa thuận chia nông sản 1030 Chia lương thực

Trong 26 type truyện cổ tìch thần kí tương đồng của Việt Nam và Ấn Độ, chúng tôi nhận thấy có một số type truyện rất phổ biến ở Việt Nam, Ấn Độ và trên thế giới Những type truyện này có sự tương đồng về mặt chủ đề, ý nghĩa, kết cấu, nội dung, những motif xây dựng nên kiểu truyện, cốt truyện và nhân vật Để cung cấp một cái nhín tổng quan về truyện cổ tìch thần kí của Việt Nam và Ấn Độ, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một số type truyện phổ biến tương đồng của hai nước mà chúng tôi cho là nổi bật:

Type truyện Người chồng là người mang lốt động vật: Type truyện này

bao gồm nhiều bản truyện với nội dung cốt truyện đa dạng Nguyễn Thị Huế gọi type truyện này là kiểu truyện về nhân vật xấu xì mà tài ba Nguyễn Thị Nguyệt gọi

là kiểu truyện về chú rể là người đội lốt Kiểu truyện này kể về những nhân vật –

những người chồng mang lốt các con vật hay đồ vật như chàng Cóc, chàng Ếch,

Trang 31

chàng Sọ Dừa, chàng Rùa, chàng Trăn, chàng Rắn, chàng Lợn, chàng Dê, chàng Chồn, chàng Sóc, chàng Rết, chàng Khỉ, Chàng Gù, chàng Ghẻ Lở, Sọ Dừa…

(trong truyện của Việt Nam) và truyện Hoàng tử Cua, Vua cá sấu, Món quà của

sói… (trong truyện của Ấn Độ) Các truyện đều kể về những nhân vật mang lốt các

con vật xấu xì, dị thường, xuất thân thần kí, thể hiện tài năng, có phép thuật, gặp cô gái đẹp tốt bụng, vượt qua thử thách của người cha cô gái đặt ra cho nhân vật, được kết hôn với cô gái đẹp, trút bỏ cái lốt xấu xì trở thành một chàng trai tuấn tú, tài ba,

trở thành người giàu sang, có địa vị trong xã hội

Type truyện về Người giết rắn (Việt Nam)/giết rồng (Ấn Độ) cứu công chúa: Nguyễn Bìch Hà gọi kiểu truyện này là ―Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ‖,

Cao Huy Đỉnh gọi là ―Dũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp‖ Kiểu truyện này kể về những nhân vật có xuất thân thần kí, lớn lên trở thành những người anh hùng, dũng

sĩ có tài trì và sức mạnh, đã chiến đấu quyết liệt và giết được yêu tinh hay mãng xà, rắn thần; cứu được công chúa hay cô gái đẹp bị rắn thần, chằn tinh, quỷ, rồng hay mãng xà bắt giữ; bị kẻ mạo danh cướp công, nhờ vật làm tin mà nhân vật đã chứng minh được thân phận của mính và được ban thưởng, được kết hôn với công chúa, còn kẻ mạo

danh bị trừng phạt bằng cái chết Những truyện Tiêu diệt mãng xà, Giết quỷ bốn mồm

năm mũi , Hơ Mênh chém rắn thần, Thạch Sanh, Chàng Sính, Ai Chàng Nọi (Chàng Voi nhỏ), Ra Đam, Yrit giết đại bàng… (truyện của Việt Nam) và truyện Dũng sĩ diệt yêu quái, Dũng sĩ diệt rồng cứu công chúa… (truyện của Ấn Độ) thuộc type

lớn, đem lại sự bính yên cho cộng đồng Những truyện như Lê Như Hổ, Bốn anh tài (Kinh); Ba chàng trai khỏe (Phù Lá); Ba anh em khỏe (Hà Nhí); Sáu chàng trai

khỏe, Chê Hấu, Chàng Bí, Ba chàng trai tài giỏi, TuBơ Lăng Xu, Chín chàng trai kì

Trang 32

tài (H‘mông); Chàng Voi, Bảy dũng sĩ chọi vua Man (Thái); Cẩu Khây, Bốn chàng trai (Tày); Anh Bảy Chõ (Dao) của Việt Nam và các truyện Bảy nhà vô địch, Người anh hùng Gumda, Người đấu voi, Chàng thợ gốm thông minh, Jau Bahàdur

và những gã khổng lồ, Câu chuyện về bốn gã khổng lồ, Hoàng tử có trái tim sư tử

và ba người bạn, Hoàng tử Serđin, Những chàng trai dũng cảm làng Kônmen…của

Ấn Độ thuộc type truyện này

Nhóm type truyện Người tốt bụng được ban thưởng và người xấu bụng

bị trừng phạt: gồm nhiều bản truyện kể về những nhân vật tốt bụng, hiền lành,

chăm chỉ, trung thực, nhân hậu như: đứa trẻ mồ côi, đứa con riêng, người em út, chàng trai nông dân nghèo, vị hoàng tử út, cô gái con vị thầy tu…Đối lập với những nhân vật tốt bụng là những nhân vật xấu bụng, lười biếng, tham lam, độc ác, keo kiệt và nhẫn tâm như người anh, chị dâu, mẹ con mụ dí ghẻ, người cha lấy vợ lẽ, lão địa chủ, phú ông, tên nhà giàu, những hoàng tử anh… Nhân vật tốt bụng thường bị những thế lực có quyền lực, có địa vị, giàu có bóc lột, bắt nạt hay đối xử nhẫn tâm Nhân vật tốt bụng đã bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của mính trong mọi hoàn cảnh, họ nhận được sự trợ giúp thần kí và đổi đời Còn những nhân vật xấu bụng đã bộc lộ bản chất độc ác, xấu xa nên bị trừng phạt thìch đáng Những truyện như

Chiếc thoi vàng, Tấm Cám, Tua Gia – Tua Nhi, Ý Ưởi – Ý Noọng, Nàng Khao – Nàng Đăm, Gầu Nà Mùi Mụi - Mùi Nái, Inh và Ính, Ú và Cao, Kajong và Halek, Niêng Kòn -Tuốc, Niêng Chông - Ầng – Kam, Hai chị em Vùi và Lu, Bính và Đinh, Tấm lòng vàng, Cái ang vàng, Người anh tham lam, Tấm da trâu, Cây khế, Hai anh em và con chó đá, Người anh tham, Anh em mồ côi, Hai anh em, Sự tích con khỉ, Tại sao nước biển lại mặn … của Việt Nam và những truyện như: Khiêm nhường được đền đáp và kiêu căng bị trừng phạt, Người vợ trọc đầu, Cuộn bông, Peasie and Beansie, Ông bác hổ, Con gái của Brahmin, Mẹ vợ biến thành lừa, Câu chuyện về con chó cái, Bâpkhâdi (Một biến thể của Lọ Lem), Chuyện một mụ phù thủy, Dévki Rání, Người

mẹ kế và đứa con gái xấu xa, Chúa sơn lâm và quần thần, Hãy chập vào, Chuyện chàng Ayiwanda, “Lòng nhân ái chinh phục tất cả”, Câu chuyện ngày thứ bảy, Chuyện Hoàng tử một nửa, Bốn nàng công chúa với bốn món quà, Quả Kaekiri vàng, Chiếc bình thần kì, Vua Lựu, Chàng Dhur Xing tốt bụng, Người em chột mắt,

Trang 33

Con gái của một Jogi (thánh nhân), Chuyện hai người hàng xóm… của Ấn Độ

thuộc nhóm type truyện này

Từ việc khảo sát một cách tổng quát truyện cổ tìch thần kí của Việt Nam và

Ấn Độ, chúng tôi có cơ sở để lựa chọn những type truyện có sự tương đồng và những bản truyện thuộc vào từng type để nghiên cứu và so sánh

1.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Phương pháp loại hình học trong khoa nghiên cứu văn học dân gian

Loại hính học nói chung là lý thuyết, phương pháp nghiên cứu các lĩnh vực khoa học theo loại hính, xuất phát từ gốc tiếng Hy Lạp là TYPOS, tiếng Anh là Typology Trong khoa nghiên cứu văn học dân gian, thuật ngữ này xuất hiện từ cuối thế kỉ XIX, được khẳng định là phương pháp nghiên cứu hiện đại, có hiệu quả vào thế

kỉ XX Các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã đưa ra những cách hiểu dưới những góc độ rộng hẹp khác nhau về loại hính học văn học dân gian như cấu trúc, type - kiểu truyện, dạng truyện, mẫu kể; motif – mẫu đề, tính tiết; các yếu tố thi pháp, mối

quan hệ giữa các yếu tố, thể loại…

Các sáng tác văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại với những đặc trưng riêng, với các tác phẩm có cấu trúc đa dạng, phức tạp, luôn biến đổi diện mạo Muốn hiểu đầy đủ, chình xác về các tác phẩm văn học dân gian, các nhà nghiên cứu thấy rõ cần phải phân chia ra thành các yếu tố và tím hiểu mối quan hệ giữa các yếu

tố đó Đó là căn cứ thực tiễn để họ tím đến phương pháp nghiên cứu văn học dân

gian theo loại hính

Giới thiệu phương pháp loại hính học trong khoa nghiên cứu văn học dân gian, nhà nghiên cứu văn học dân gian Lê Chì Quế đã đưa ra một định nghĩa về phương pháp loại hính học thìch ứng với đối tượng của khoa văn học dân gian:

―Loại hính học trong khoa văn học dân gian là phương pháp nhận thức các hiện tượng và tác phẩm văn học dân gian thông qua việc khám phá các yếu tố cấu thành cũng như quá trính, những mối liên hệ biện chứng giữa chúng trong sự vận động của thời gian và không gian‖ [Lê Chì Quế, 1990a, tr 196] Nguyễn Văn Dân ―quan niệm thuật ngữ ―loại hính‖ là một thuật ngữ chức năng‖ [Nguyễn Văn Dân, 2000, tr

Trang 34

20] và cho rằng trong văn học so sánh, ―Phương pháp loại hính dùng để nghiên cứu các hiện tượng tương đồng không do tiếp xúc trực tiếp‖ [Viện Văn học, 2001, tr 51]

Từ cuối thế kỉ XIX đến cuối thế kỉ XX, nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian quốc tế và Việt Nam bằng những công trính nghiên cứu lì luận và ứng dụng đã đưa ra những trường phái có những quan niệm học thuật khác nhau, phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưng đều có những đóng góp tìch cực cho việc nghiên cứu văn học dân gian theo loại hính Phương pháp nghiên cứu văn học dân gian theo loại hính cũng được các tác giả nhín nhận và đưa ra những phương pháp cụ thể hơn như: phương pháp loại hính lịch sử, phương pháp loại hính cấu trúc, loại hính học

về cấu trúc tự sự, phương pháp nghiên cứu theo type và motif truyện… Chúng ta có thể kể đến một số nhà nghiên cứu với những công trính tiêu biểu như: Cha con Krohn, sau đó là Aarne với trường phái lịch sử - địa lý Phần Lan đã vận dụng phương pháp so sánh loại hính để nghiên cứu những dị bản của tác phẩm dân gian, nghiên cứu so sánh văn học dân gian Phần Lan với những hiện tượng tương đồng của văn học dân gian các nước khác nhau trên thế giới, nghiên cứu type và motif của chúng V.Ia.Propp (Nga) với lý thuyết chức năng – phương pháp cấu trúc – loại hính, phân tìch loại hính chức năng dựa vào nghiên cứu hành động – chức năng của

nhân vật qua cuốn Hình thái học truyện cổ tích chỉ ra 31 chức năng của truyện cổ

tìch thần kí Antti Aarne (Phần Lan) và Thompson (Mỹ) với khái niệm type truyện

và motif truyện kể dân gian cùng cách khảo sát, phân loại, nghiên cứu truyện kể dân

gian theo type và motif qua các công trính: Bảng chỉ dẫn các type truyện dân gian (Verzeichnis der Marchen typen) của Antti Aarne năm 1910; Bảng mục lục các

motif văn học dân gian (Motif – Index of Folk Literature) năm 1932 – 1937; Bảng tra cứu các type truyện dân gian của Aarne – Thompson năm 1955 – 1958 và Truyện dân gian (The folktale) của Thompson (1977) V.M.Girmunxki (Nga) với

phương pháp so sánh loại hính – lịch sử qua cuốn sách Sáng tác sử thi của các dân

tộc Slavơ và những vấn đề nghiên cứu sử thi theo phương pháp so sánh (sách Khoa văn học so sánh) A.Dundes (Mỹ) với công trính Loại hình học – cấu trúc truyện cổ tích của người In-diêng ở Bắc Mỹ và Ý nghĩa của văn hóa dân gian (The meaning

of folklore), ông thay thế khái niệm chức năng của Propp bằng khái niệm motif, tiếp

Trang 35

cận cốt truyện dân gian bằng cách phân tìch motif Đinh Gia Khánh – nhà folklore học nổi tiếng của Việt Nam là người mở đường cho phương pháp so sánh loại hính

truyện cổ tìch qua cuốn Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện

Tấm Cám năm 1968

Cùng với việc dịch thuật, giới thiệu những công trính lì luận và nghiên cứu ứng dụng phương pháp loại hính học trong văn học dân gian, nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã vận dụng phương pháp nghiên cứu văn học dân gian theo loại hính nghiên cứu các thể loại văn học dân gian và những vấn đề của thể loại; nghiên cứu, biên soạn các type truyện kể dân gian Việt Nam; nghiên cứu so sánh một số type truyện và motif truyện kể dân gian, trong đó có truyện cổ tìch thể hiện qua các cuốn Giáo trính văn học dân gian, các chuyên luận, bài báo khoa học (xem phần 1.3.1 Tính hính nghiên cứu truyện cổ tìch thần kí Việt Nam)

1.2.2 Phương pháp so sánh trong văn học so sánh

Văn học so sánh

Về văn học so sánh, Nguyễn Văn Dân nhận xét: ―Văn học so sánh ban đầu chỉ là một phương pháp so sánh văn học… Trong nghiên cứu văn học, nó là một phương pháp dùng để xác định đánh giá các hiện tượng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau‖ [Viện Văn học, 2001, tr 36] Nguyễn Văn Dân cũng giải thìch nội hàm của văn học so sánh gồm ba bộ phận nghiên cứu: Những mối quan hệ trực tiếp giữa các nền văn học dân tộc; những điểm tương đồng, những điểm khác biệt độc lập [Nguyễn Văn Dân, 2000, tr 20] ―Phương pháp so sánh khi trở thành phương pháp luận thí nó sẽ là một bộ môn khoa học có tên là ―văn học so sánh‖ [Viện Văn học, 2001, tr 52]

Tuy nhiên, theo chúng tôi, định nghĩa của nhà nghiên cứu Daniel – Henri Pageaux là khá đầy đủ: ―Văn học so sánh là chuyên ngành nghiên cứu những mối quan hệ tương đồng, quan hệ họ hàng hay ảnh hưởng giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật hay các lĩnh vực tư duy khác, giữa các sự kiện hay văn bản văn học, những mối quan hệ này có thể gần hay xa, trong không gian hay trong thời gian, miễn là chúng thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, hoặc nhiều văn hóa khác nhau, cho

dù có chung một truyền thống‖ [Daniel, 1994, tr.12]

Trang 36

So sánh văn chương là một phương pháp nghiên cứu văn học có đối tượng bất

kí Người ta có thể so sánh hai hay nhiều đoạn văn, đoạn thơ với nhau, hoặc có thể so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia, tác giả này với tác giả khác, giai đoạn với giai đoạn, trào lưu với trào lưu, so sánh niên đại, lịch đại, các hiện tượng tương đồng hoặc tương phản, so sánh thể loại văn học, so sánh đề tài, type truyện và motif truyện …

Mục đìch của so sánh văn học là từ những đối tượng nghiên cứu rút ra được bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của văn học Như vậy, văn học so sánh chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ tương đồng và khác biệt giữa các nền văn học trên thế giới

Phương pháp so sánh trong văn học dân gian

Cũng như một số ngành khoa học, trong văn học dân gian, nếu không vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh thí không thể giải quyết được những vấn đề

cơ bản phát sinh trong quá trính nghiên cứu đối tượng Mục đìch của việc so sánh không phải để đi đến kết luận về sự cao - thấp, hơn – kém mà là tím đến sự tương đồng và khác biệt

Phải bắt đầu từ giữa thế kỷ XX, việc nghiên cứu văn học dân gian ở nước ta mới được coi như một ngành khoa học độc lập Ban đầu, phương pháp nghiên cứu văn học dân gian còn mang nặng truyền thống nghiên cứu văn học (tức văn học thành văn) Dần dần qua thực tiễn nghiên cứu văn học dân gian, các nhà khoa học phải chú ý tới phương pháp so sánh Cụ thể, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã tiếp xúc và kế thừa những thành tựu của phương pháp so sánh trong folklore học phương Tây Một trong những người có ý thức sâu sắc nhất về việc nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian tại Việt Nam theo phương pháp so sánh là giáo sư Đinh

Gia Khánh Trong công trính Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam

Á, tác giả đã tập trung làm nổi bật những điểm tương đồng cũng như những điểm

khác biệt giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa các nước Đông Nam Á và Trung Quốc Công trính này có ý nghĩa phương pháp luận rất lớn đối với các nhà nghiên

cứu văn học dân gian Việt Nam sau này Trong công trính Sơ bộ tìm hiểu những vấn

đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám, Đinh Gia Khánh đã liên hệ kiểu truyện

Tấm Cám của Việt Nam với type truyện Cô Lọ Lem – Tro Bếp trên thế giới Cuốn

Trang 37

chuyên luận này là một bước tiến trong việc nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian Việt Nam và thế giới

Trong bài viết ―Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóa dân

gian‖, tác giả Chu Xuân Diên cũng đã chỉ rõ: ―Phương pháp so sánh có thể có nhiều

dạng thức khác nhau, tùy theo từng tình chất của những hiện tượng được dùng làm đơn vị so sánh (mô tìp, cốt truyện, cấu trúc thể loại, mô hính văn hóa địa phương hoặc dân tộc…) tùy theo cấp độ và quy mô so sánh (giữa các địa phương, các dân tộc, các khu vực lịch sử văn hóa…) tùy theo mục đìch của việc nghiên cứu so sánh (tím hiểu ý nghĩa hoặc các lớp ý nghĩa của một đơn vị folklore, nghiên cứu nguồn gốc hay đời sống lịch sử hay quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau của folklore thuộc các nền văn hóa khác nhau), tùy theo cách tiếp cận (tiếp cận lịch đại hay đồng đại) [Chu Xuân Diên, 1977, tr.84]

Việc áp dụng phương pháp nghiên cứu so sánh như vậy không những đã bước đầu phát hiện ra nhiều lớp nghĩa phong phú trong folklore Việt Nam, mà còn

có khả năng điều chỉnh lại những nhận định, vốn được coi như là đã ổn định, song dưới ánh sáng của phương pháp nghiên cứu so sánh, lại có thể hóa ra là chủ quan, phiến diện…

Bằng những phương pháp khác nhau, các nhà nghiên cứu văn học dân gian thế giới đã tiếp cận truyện dân gian dưới những góc độ khác nhau và họ đã phát hiện ra được quy luật phát sinh, phát triển và giao lưu tiếp biến, lan tỏa… của truyện dân gian Họ đã phát triển đến cùng lì thuyết của mính dẫn đến những trường phái nổi tiếng thế giới, góp phần xây đắp một khoa học: Khoa học nghiên cứu truyện kể dân gian Theo chúng tôi để nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian của hai dân tộc hoặc mở rộng ra nhiều dân tộc trên thế giới thí phương pháp so sánh loại hính, xử lì văn bản truyện dân gian bằng phân tìch so sánh type truyện và motif truyện thực sự có hiệu quả Việc nghiên cứu truyện kể dân gian của các dân tộc bằng phương pháp phân tìch so sánh type và motif đã cho thấy tình dị bản của nó rất phổ biến Thậm chì, có những type truyện ở ngay trong một dân tộc đã tồn tại nhiều

dị bản Chẳng hạn, trong nhiều type truyện tương đồng của Việt Nam và Ấn Độ đã

có sự gần gũi, sự gặp gỡ nhau không những về mặt chủ đề, mà cả về mặt kết cấu và

Trang 38

hành động của các nhân vật trung tâm Tuy vậy, trong từng type truyện đó vẫn có những chỗ khác nhau, thể hiện những nét đặc thù ở từng dân tộc… Truyện kể dân gian nảy sinh, lưu truyền ở các dân tộc khác nhau trong điều kiện về địa lì, môi trường, xã hội khác nhau đã tạo nên những dạng biến thể phong phú, vừa có những nét tương đồng vừa mang những nét đặc thù, tạo nên những dáng vẻ đa dạng cho nhân vật, thể hiện màu sắc độc đáo trong sáng tác dân gian ở từng dân tộc Điều khác biệt này không nhiều thí ìt cũng mang dấu ấn địa bàn sinh sống của các vùng

cư trú của các dân tộc ấy quy định

1.2.3 Nghiên cứu truyện kể dân gian theo type và motif truyện

Từ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trong khoa nghiên cứu văn học dân gian đã xuất hiện thuật ngữ chuyên ngành hay khái niệm Type và motif văn học dân gian gắn với trường phái lịch sử - địa lì Phần Lan Những đại biểu xuất sắc của trường phái này là Julius Leopold Fredrik Krohn, Kaarle Krohn và Antti Aarne Nguyên tắc của trường phái lịch sử - địa lì Phần Lan là đi từ việc khám phá dạng thức ban đầu đến quê hương ban đầu, dõi theo con đường di chuyển của truyện kể dân gian và sự biến đổi của những dị bản theo tiến trính thời gian và không gian, cuối cùng nghiên cứu type và motif của chúng Các nhà nghiên cứu văn học dân gian Phần Lan đã thực hiện việc nghiên cứu so sánh văn học dân gian Phần Lan với những hiện tượng tương đồng của văn học dân gian các nước khác nhau trên thế giới Họ đã đưa đến những nhận định về tình quốc tế của truyện kể dân gian, về những motif nhất định cấu thành cốt truyện và muốn nghiên cứu một cách đầy đủ, chình xác thí cần thiết phải có đầy đủ các dị bản của các vùng

Antti Aarne (1867-1925) đã tập hợp các truyện kể dân gian các dân tộc ở

Châu Âu, xây dựng Bảng chỉ dẫn các type truyện kể dân gian xuất bản lần đầu tiên

bằng tiếng Đức (Henxinki, 1910) Bảng chỉ dẫn này chia làm ba phần:

1 Truyện cổ về các loài vật từ số 1 đến 290

2 Truyện cổ tìch thuần túy bao gồm các tiểu loại: truyện cổ tìch thần kí, truyện cổ tìch truyền thuyết, truyện cổ tìch về con quỷ ngu ngốc từ số 300 đến 1199

3 Truyện giai thoại từ số 1200 đến 1999

Trang 39

Bảng chỉ dẫn của Antti Aarne được giới nghiên cứu văn học dân gian quốc tế đánh giá là đơn giản, tiện dụng, có tình quốc tế Dựa trên khuôn mẫu này của Aarne

mà các nhà văn học dân gian ở Thụy Điển, Tiệp Khắc, Đức, Ai Len, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc… đã xây dựng các bảng chỉ dẫn type, motif văn học dân gian của nước

mính Trong đó nổi bật là Bảng mục lục các motif văn học dân gian (Motif index of

folk literature) gồm 6 tập sách của Stith Thompson người Mỹ biên soạn dưới sự

giúp đỡ của Aarne xuất bản ở Henxinki từ năm 1932 đến năm 1937 Sau đó, Stith

Thompson và Antti Aarne đã nâng cấp, bổ sung hoàn thiện hơn công trính Bảng tra

cứu các type truyện dân gian của Aarne vào những năm 1955 – 1958 Hai công

trính của Aarne – Thompson thường được gọi là Hệ thống Antti Aarne – Thompson hoặc gọi tắt là Hệ thống A – T, có ý nghĩa mở đầu cho việc nghiên cứu truyện kể dân gian bằng type truyện và motif truyện, trong đó có thể loại truyện cổ tìch Stith

Thompson xuất bản công trính thứ hai có tên là Bảng phân loại và thư mục loại

hình truyện dân gian (The type of the folktale - a classificasion and bibliography)

Công trính đã được xuất bản và tái bản nhiều lần, vào các năm 1946, 1964, 1973,

1981 Công trính thứ ba của Stith Thompson là cuốn sách giới thuyết đầy đủ, rõ

ràng và cụ thể nhất về định nghĩa hai khái niệm ―type‖ và ―motif‖ có tên Truyện

dân gian (The Folktale) năm 1977

Về khái niệm type và motif từ khi ra đời đã có những cách hiểu khác nhau

Chúng ta đã được tiếp cận khái niệm này với cách gọi type là dạng, dạng thức hay

kiểu, kiểu truyện; còn motif là mẫu đề, mô tip, tình tiết

Stith Thompson trong cuốn sách Truyện dân gian (The Folktale) khi nghiên

cứu truyện kể dân gian Mĩ, Ấn Độ và Châu Âu đã đưa ra định nghĩa về Type: ―Type

là những cốt truyện có thể tồn tại độc lập trong kho tàng truyện kể truyền miệng, có thể coi nó như một truyện hoàn chỉnh, ý nghĩa của nó không giống với bất kí một truyện nào khác Tất nhiên, nó cũng có thể kết hợp với một truyện khác một cách ngẫu nhiên, nhưng xuất hiện một cách riêng rẽ thí cũng đã có thể chứng minh tình độc lập của nó Nó có thể gồm một hoặc nhiều motif Phần lớn truyện động vật, truyện cười và giai thoại là những type truyện chỉ gồm có một motif Truyện thần kí như Cô Lọ Lem hoặc Nàng công chúa Bạch Tuyết thí là type gồm nhiều

Trang 40

motif‖[Stith Thompson, 1977, tr 415] Về motif, Stith Thompson cho rằng: Trong folklore, motif là thuật ngữ chỉ bất kí một phần nào mà ở một tiết (item) của folklore có thể phân tìch ra được Lĩnh vực mà motif được nghiên cứu nhiều nhất, phân tìch cẩn thận nhất là truyện kể dân gian bao gồm các loại truyện cổ tìch, truyền thuyết, huyền thoại, ballad Stith Thompson phân biệt rõ sự khác nhau giữa type truyện và motif truyện: ―motif‖ là thành phần nhỏ nhất có thể tồn tại liên tiếp trong truyền thống ―Type‖ là một loạt motif kết hợp theo thứ tự tương đối cố định‖ [Stith Thompson, 1977, tr 415]

Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Đắc là người đã giới thiệu công

trính Bảng mục lục tra cứu type và motif văn học dân gian của Aarne – Thompson,

đã nhận xét: ―Type và motif là những phần tử đơn vị vừa mang tình đặc trưng vừa mang tình bền vững của truyện kể dân gian‖ [Nguyễn Tấn Đắc, 2001, tr 11] Nguyễn Tấn Đắc đã diễn đạt lại nội dung khái niệm type và motif truyện dân gian của Stith Thompson: ―Type chỉ một tập hợp những truyện có cùng một cốt kể thuộc cùng một kiểu truyện, hay một truyện đơn vị‖; ―Motif truyện đôi khi là những khái niệm rất đơn giản, thường gặp trong truyện kể truyền thống, có thể đó là những tạo vật khác thường, như thần linh, phù thủy, rồng, yêu tinh, người mẹ ghẻ ác nghiệt, con vật biết nói,…có thể là những thế giới kí diệu…, là tất cả các loại vật thiêng có phép, những hiện tượng tự nhiên khác thường‖; ―Motif chỉ một thành tố nhỏ của truyện, thường có thể tách rời được, có thể lắp ghép được, ìt nhiều khác lạ, bất thường, đặc biệt, là yếu tố đặc trưng của truyện kể dân gian‖ ―Bản thân motif cũng

có thể đã là một mẩu kể ngắn và đơn giản, một sự việc đủ gây ấn tượng hoặc làm vui thìch cho người nghe,… phải có cái gí đó làm cho người ta nhớ và lặp đi lặp lại

nó, nó phải khác với cái chung chung.‖, ―Motif là nguyên liệu để xây dựng nên các type truyện‖ [Nguyễn Tấn Đắc, 2001, tr 27] Về cách khảo sát một type truyện, Nguyễn Tấn Đắc cũng nhấn mạnh là cần phải nghiên cứu những dị bản của type đó Khi lập một type truyện thấy nhiều truyện có những chỗ giống nhau rõ rệt thí xếp chúng vào cùng một loại, rồi nghiên cứu những chỗ giống nhau đó và ghi giữ những đặc điểm chung

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w