Nguồn tư liệu gốc quan trọng nhất và sử dụng chủ yếu nhất trong luận án là các tư liệu được khai thác từ các phông lưu trữ hiện được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II gồm: Phông
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ HỒNG NGA
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC DƯỚI CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA
(1956 - 1975)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ HỒNG NGA
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC DƯỚI CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
GS.TS Đỗ Quang Hưng PGS.TS Nguyễn Đình Lê
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Tên đề tài luận án không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, khách quan, rõ ràng
về xuất xứ Những kết quả nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận án
Hoàng Thị Hồng Nga
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trương Thị Tiến - người đồng hướng dẫn khoa học Được cô dìu dắt từ những bước đầu tiên làm khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và giờ đây là hoàn thành luận án tiến sĩ lịch sử là một may mắn lớn Với
sự nhiệt tình, tỉ mỉ, cẩn trọng của mình, Cô đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi từ những điều nhỏ nhất như diễn đạt, ý tưởng, cấu trúc của luận án từ lúc khởi thảo và cho tới lúc hoàn thiện
Xin cảm ơn thầy cô giáo và đồng nghiệp tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là Bộ môn Lịch sử Việt Nam cận hiện đại vì những chỉ bảo, góp ý cũng như sự quan tâm, động viên, khích lệ dành cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án này
Tôi cũng muốn dành cơ hội này để gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, nhân viên công tác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II - nơi lưu trữ nguồn tài liệu gốc quan trọng nhất cho luận án của tôi; Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Đại học Toronton (Canada) đã nhiệt tình cung cấp tư liệu cho tôi Xin cám ơn GS Trần Tuyết Nhung (Đại học Toronto)
vì những giúp đỡ quý báu trong thời gian tôi thực tập tại đây và đã tìm kiếm được những nguồn tư liệu vô cùng bổ ích
Cuối cùng, xin dành lời tri ân tới gia đình, bè bạn, đặc biệt là chồng và hai con
vì đã luôn chỗ dựa và động lực cho tôi trong cuộc sống cũng như trong khoa học
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
Hoàng Thị Hồng Nga
Trang 5i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận án 7
6 Bố cục luận án 8
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 9
1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 15
1.3 Kết quả nghiên cứu và một số vấn đề cần giải quyết 19
Chương 2: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH LỊCH SỬ
MIỀN NAM TỪ NĂM 1956 ĐẾN NĂM 1964 21
2.1 Bối cảnh lịch sử và những nhân tố tác động tới giáo dục đại học 21
2.1.1 Nền tảng giáo dục đại học trước năm 1956 21
2.1.2 Tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam từ năm 1956 đến năm 1964 25
2.1.3 Chính sách xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục của chính quyền
Việt Nam Cộng hòa 27
2.2 Giáo dục đại học miền Nam duy trì ảnh hưởng của mô hình đại học Pháp 30
2.2.1 Cấu trúc hệ thống giáo dục đại học 30
2.2.2 Mục tiêu, chương trình, phương pháp đào tạo 35
2.2.3 Đội ngũ cán bộ giảng dạy và sinh viên 46
2.2.4 Cơ sở vật chất, ngân sách và quản lý 53
Tiểu kết chương 2: 57
Chương 3: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH LỊCH SỬ
MIỀN NAM TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975 59
3.1 Hoàn cảnh lịch sử mới và một số tác động tới giáo dục đại học 59
3.1.1 Bối cảnh lịch sử miền Nam Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975 59
3.1.2 Chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa 61
3.1.3 Những tác động của viện trợ Hoa Kỳ đối với giáo dục đại học 64
3.2 Sự chuyển hướng của giáo dục đại học miền Nam trong quá trình tiếp cận và chịu ảnh hưởng của mô hình đại học Mỹ 67
3.2.1 Thay đổi bước đầu trong cấu trúc hệ thống 67
3.2.2 Chuyển hướng về mục tiêu, chương trình và phương pháp đào tạo 78
Trang 6ii
3.2.3 Tiếp cận với cách thức quản lý mới 90
3.2.4 Sự thay đổi cơ sở vật chất, ngân sách, đội ngũ giảng viên - sinh viên 94
Tiểu kết chương 3: 102
Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 103
4.1 Một số nhận xét về giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa
(1956 - 1975) 103
4.1.1 Sự vận động của giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa có sự chuyển hướng từ ảnh hưởng của mô hình đại học Pháp sang tiếp nhận ảnh hưởng của mô hình đại học Hoa Kỳ 103
4.1.2 Quá trình tiếp nhận ảnh hưởng của hai mô hình đại học Pháp và Hoa Kỳ
diễn ra trong bối cảnh chiến tranh và đã làm hạn chế sự chủ động của chính quyền Việt Nam Cộng hòa 107
4.1.3 Tiếp nhận xu hướng giáo dục hiện đại, giáo dục đại học dưới chế độ
Việt Nam Cộng hòa đã có những đóng góp nhất định trong việc đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ cao 113
4.1.4 Dưới góc độ văn hóa - tư tưởng, giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam
Cộng hòa góp phần phát huy văn hóa dân tộc, mở rộng giao lưu với bên ngoài và
tạo điều kiện cho tri thức, sinh viên được tiếp cận với nhiều trào lưu tư tưởng 117
4.1.5 Quy mô đào tạo của giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa
có sự phát triển nhưng thiếu cân đối, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp thấp, không đáp ứng được nhu cầu của xã hội 126
4.2 Một số kinh nghiệm lịch sử 132
4.2.1 Xác định tự trị đại học là một trong những yếu tố tiên quyết để phát triển
đại học 132
4.2.2 Xây dựng mô hình đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, mang tính cập nhập 135
4.2.3 Áp dụng các mô hình đại học trên thế giới một cách chủ động, linh hoạt
và phù hợp với nền tảng và nhu cầu của Việt Nam 138
4.2.4 Gắn liền giáo dục đại học với nghiên cứu khoa học 140
Tiểu kết chương 4: 143
KẾT LUẬN 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG NƯỚC NGOÀI
Trang 8iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
I Danh mục sơ đồ
Sơ đồ 2.1: Các viện đại học công lập (năm 1960) 31
Sơ đồ 2.2: Các trường cao đẳng - chuyên nghiệp (năm 1956) 32
Sơ đồ 2.3: Các trường đại học tư lập (năm 1956) 33
Sơ đồ 3.1: Các trường đại học công lập (năm 1973) 67
Sơ đồ 3.2: Các viện đại học tư lập thành lập mới từ năm 1965 đến năm 1975 74
II Danh mục bảng Bảng 2.1: Ngân sách giáo dục của Việt Nam Cộng hòa từ năm 1962
đến năm 1964 54
Bảng 3.1: Tỷ lệ ngân sách giáo dục và ngân sách đại học so với ngân sách quốc gia từ năm 1968 đến năm 1973 94
Bảng 4.1: Sĩ số của các viện đại học tư lập (năm học 1972 - 1973 và năm học
1973 - 1974) 129
III Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2.1: Đội ngũ cán bộ giảng dạy phân theo giới tính
từ năm học 1961 - 1962 đến năm học 1964 - 1965 47
Biểu đồ 2.2: Tương quan số lượng giảng viên với sinh viên đại học
từ năm học 1961 - 1962 đến năm học 1964 - 1965 47
Biểu đồ 2.3: Sĩ số giáo dục đại học
từ năm học 1956 - 1957 đến năm học 1964 - 1965 50
Biểu đồ 3.1: Số lượng sinh viên đại học công lập và tư lập từ năm 1966
đến năm 1974 75
Biểu đồ 3.2: Đội ngũ cán bộ giảng dạy phân theo giới tính
từ năm học 1965 - 1966 đến năm học 1973 - 1974 97
Biểu đồ 3.3: Tương quan số lượng giảng viên và sinh viên đại học Việt Nam
Cộng hòa từ năm học 1965 - 1966 đến năm học 1973 - 1974 97
Biểu đồ 3.4: Số lượng sinh viên từ năm học 1965 - 1966 đến năm học
1973 - 1974 100
Biểu đồ 4.1: Tương quan sĩ số giữa các viện đại học công lập Việt Nam Cộng hòa (năm học 1973 - 1974) 128
Trang 9Trong quá trình tồn tại, giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam thể hiện sự vận động và chuyển hướng dưới một số ảnh hưởng giáo dục đại học phương Tây mang giá trị tích cực, hợp lý, tuy nhiên cũng có một số bất cập, hạn chế Tình hình
đó cần được nghiên cứu, phân tích để có thể cung cấp thêm cơ sở khoa học cho những nhận định khách quan và khoa học về giáo dục đại học dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa Từ đó có thể liên hệ tìm ra những điểm tham chiếu, so sánh cũng như đúc rút được một số kinh nghiệm cho đổi mới giáo dục đại học Việt Nam hiện tại Lựa chọn nghiên cứu đề tài này, luận án không chỉ góp phần bổ sung nội dung nghiên cứu về lịch sử giáo dục, chủ yếu là lịch sử giáo dục đại học năm 1956 đến năm
1975, mà còn đúc rút những kinh nghiệm thiết thực phục vụ sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện lĩnh vực giáo dục - đào tạo của nước ta hiện nay trong đó có giáo dục đại học Thực tế trong các giáo trình, tài liệu giảng dạy về lịch sử nói chung và về lịch
sử giáo dục nói riêng hầu như không giới thiệu hoặc có giới thiệu thì cũng chưa có những đánh giá khách quan, những kiến giải khoa học về đặc điểm, sự vận động của
Trang 102
toàn bộ nền giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam Vì vậy, luận án cũng hướng tới đáp ứng nhu cầu bổ sung tư liệu, kết quả nghiên cứu vào chương trình giảng dạy về lịch sử giáo dục đại học Việt Nam và lịch sử Việt Nam hiện đại
Với những lý do khoa học và thực tiễn trên, tôi đã quyết định chọn Giáo dục
đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa (1956 - 1975) làm đề tài luận án tiến sĩ,
chuyên ngành lịch sử Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Từ góc độ lịch sử, luận án phục dựng bức tranh về giáo dục đại học dưới chế
độ Việt Nam Cộng hòa từ năm 1956 đến năm 1975 Đồng thời luận án hướng tới việc làm rõ sự vận động của mô hình giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam qua hai phân đoạn: từ năm 1956 đến năm 1964 và từ năm 1965 đến năm 1975 Từ đó phân tích một số đặc điểm nổi bật, vai trò của giáo dục đại học đối với xã hội miền Nam Việt Nam từ năm 1956 đến năm 1975 và đúc kết một số kinh nghiệm
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tập hợp các nguồn tư liệu để mô tả diễn tiến về tổ chức, hoạt động của giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa (1956 - 1975)
- Phân tích làm sáng tỏ sự chuyển hướng của giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa từ ảnh hưởng của mô hình đại học Pháp sang ảnh hưởng của mô hình đại học Mỹ trên các phương diện: cấu trúc hệ thống đại học, mục tiêu, chương trình, phương pháp đào tạo, đội ngũ giảng viên - sinh viên, cơ sở vật chất - ngân sách
và tổ chức quản lý đại học
- Rút ra một số nhận xét để làm rõ đặc điểm nổi bật và vai trò của giáo dục đại học, đúc kết một số kinh nghiệm của giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa từ năm 1956 đến năm 1975
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ
Việt Nam Cộng hòa từ năm 1956 đến năm 1975
Luận án sử dụng khái niệm “giáo dục đại học” trong Dự thảo Luật giáo dục
đại học năm học 1972 - 1973 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Theo Dự thảo
này thì giáo dục đại học được định nghĩa là “giáo dục ở bậc kế tiếp giáo dục trung học, chung cho những ai đã hoàn tất chương trình giáo dục trung học, và tiếp tục học thêm ít nhất là hai năm ở trình độ cao hơn” [29, tr 1] Bậc kế tiếp đó có thể được hiểu bao gồm cả bậc học đại học và sau đại học Trong phạm vi luận án của mình, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về bậc đại học (gồm cả các trường cao đẳng chuyên nghiệp và viện đại học), còn bậc sau đại học không nằm trong đối tượng nghiên cứu của luận án và chỉ được đề cập tới trong một số vấn đề có liên quan khi cần thiết
Trang 113
Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung nghiên cứu: Thời kỳ 1954 - 1975 ở Việt Nam tồn tại hai hệ thống giáo dục đại học; một ở miền Bắc và một ở miền Nam Luận án tập trung nghiên cứu
về giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa Luận án làm rõ sự chuyển biến của giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa dưới ảnh hưởng của hai khuynh hướng giáo dục đại học Pháp (1956 - 1964) và Mỹ (1965 - 1975) trên cơ
sở các phương diện như sau: Cấu trúc hệ thống của bậc giáo dục đại học; Mục tiêu, chương trình, phương pháp đào tạo của giáo dục đại học; Đội ngũ người dạy - người học; cơ sở vật chất; tổ chức quản lý [142, tr 115,116] Trên cơ sở đó, luận án đúc kết một số nhận xét và kinh nghiệm từ việc nghiên cứu về giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa
Về thời gian nghiên cứu: Khung niên đại nghiên cứu của đề tài luận án là từ năm 1956 đến năm 1975 Mốc bắt đầu được lựa chọn là năm 1956 gắn liền với sự ra đời chính thể Việt Nam Cộng hòa, đó là năm Quốc hội Lập hiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa thời Ngô Đình Diệm chính thức ban hành Hiến pháp (ngày 26/10/1956), trong đó có những quy định về hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Mốc kết thúc là mốc chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ (ngày 30/4/1975), giáo dục đại học phát triển theo khuynh hướng mới
Về các mốc phân kỳ của giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, tác giả luận án đưa ra cách phân chia như sau:
Từ năm 1956 đến năm 1964: giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa tồn tại và
phát triển chủ yếu dưới sự quản lý của chính quyền Ngô Đình Diệm (nền Đệ nhất Cộng hòa) và 1 năm sau sự kiện đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963) Tư tưởng, quan điểm giáo dục và cách thức tổ chức giáo dục đại học trong thời gian này chủ yếu vẫn chịu ảnh hưởng của Pháp
Từ năm 1965 đến năm 1975: quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến ở chiến
trường miền Nam Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1973; nền Đệ nhị Cộng hòa (1967
- 1975) được thiết lập, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phụ thuộc ngày càng sâu vào
Mỹ Chủ trương cải cách giáo dục của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cùng với sự
cố vấn sát sao của Mỹ đã đi theo hướng loại bỏ dần những ảnh hưởng giáo dục của Pháp, đưa giáo dục miền Nam đi theo con đường Mỹ hóa thông qua việc thực hiện những dự án cải tổ giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa
Về không gian nghiên cứu: là những vùng ở miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến
17 trở vào Nam theo giới hạn của Hiệp định Genève 1954 có sự tồn tại của các cơ sở giáo dục bậc đại học Tuy nhiên, vì giáo dục bậc đại học chỉ có ở một số đô thị nằm trong vùng kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa nên trong luận án, thuật ngữ “miền Nam Việt Nam” gắn với giáo dục đại học để chỉ giới hạn hành chính của
Trang 124
vùng nằm dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, không bao gồm vùng do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam làm chủ1
Vì vậy, khi nói
về giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam trong luận án cũng thường viết là giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa
4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu: gồm có nguồn tư liệu gốc và nguồn tư liệu khác
Nguồn tư liệu gốc quan trọng nhất và sử dụng chủ yếu nhất trong luận án là các tư liệu được khai thác từ các phông lưu trữ hiện được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II gồm: Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (1954 - 1963); Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1949 - 1954); Phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (1954 - 1975); Phông Hội đồng Quân nhân Cách mạng; Phông Cơ quan Viện trợ quốc tế Hoa Kỳ (USAID); Phông Bộ Đặc nhiệm Văn hóa Xã hội; Phông Văn phòng Quốc Vụ khanh Đặc trách Văn hóa; Phông Hội đồng Văn hóa Giáo dục…
Nguồn tài liệu lưu trữ tại các phông nói trên có liên quan trực tiếp tới đề tài về giáo dục đại học dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa có thể được khái quát thành các dạng thức như sau:
+ Các bản Hiến pháp Đệ nhất Cộng hòa, Hiến ước, Hiến chương của Hội đồng quân nhân Cách mạng, Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa… với những điều khoản liên quan tới chính sách, quan điểm của chính quyền Việt Nam Cộng hòa về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng
+ Các phát biểu, các thông điệp của Tổng thống Đệ nhất, Đệ nhị Cộng hòa trong các dịp lễ quan trọng như khai giảng năm học ở các trường đại học, Thông điệp của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước Quốc hội Lưỡng viện với những chính sách liên quan tới văn hóa, giáo dục…
+ Các hồ sơ về thành lập, tổ chức, hoạt động của các viện đại học dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ năm1956 đến năm 1975 như các viện đại học công lập: Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Đà Lạt; các viện đại học tư lập như Vạn Hạnh, Minh Đức, Cao Đài, Hòa Hảo…; các viện đại học cộng đồng như Duyên Hải, Tiền Giang; Quảng Đà…; viện đại học bách khoa Thủ Đức…; một số trường cao đẳng chuyên nghiệp khác
+ Các phiếu trình, bản phúc trình của Bộ Quốc gia Giáo dục (giai đoạn đầu) cũng như về sau là Bộ Văn hóa Giáo dục, Thanh niên về hoạt động của các viện đại học, tiêu biểu là viện đại học Sài Gòn qua các bản phúc trình về thực trạng của giáo dục đại học… qua các năm từ năm1956 đến năm 1975
1
Do hoàn cảnh lịch sử, hệ thống giáo dục vùng giải phóng mới phát triển đến hết bậc phổ thông chưa có bậc đại học
Trang 135
+ Các phiếu trình về giải quyết các vấn đề như áp lực sĩ số của các viện đại học miền Nam Việt Nam, các đề xuất, đề nghị giải quyết những vấn đề khó khăn, tồn tại về sĩ số, về chương trình, về học vụ, về ngân sách, về tự trị đại học…
+ Các hồ sơ, dự luật, dự thảo Luật giáo dục đại học, Quy chế đại học…
+ Các tập bản tin của Việt Tấn xã Việt Nam Cộng hòa, Bộ Giáo dục và Thanh niên về hoạt động của các viện đại học…
+ Các hồ sơ, hợp đồng về các kế hoạch hợp tác, viện trợ, giúp đỡ của các phái đoàn đại học Hoa Kỳ đối với các viện đại học dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa
+ Các bảng biểu, số liệu liên quan đến sĩ số sinh viên, cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất, ngân sách… của các viện đại học miền Nam Việt Nam
+ Các bản phúc trình của các chuyên viên Hoa Kỳ trong phái đoàn hỗn hợp Việt - Mỹ, các phái đoàn cố vấn đại học từ các trường đại học Hoa Kỳ như Michigan, Wisconsin, Souther Illinois, Floria, Ohio…
Đây là khối lượng tài liệu gốc mà dựa vào đó tác giả luận án có thể có cơ sở
để phục dựng lại bức tranh về giáo dục đại học dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ năm 1956 đến năm 1975
Bên cạnh nguồn tư liệu gốc ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP HCM), luận
án đã khai thác và sử dụng một nguồn tư liệu phong phú khác gồm nhiều dạng khác nhau như sau:
Sưu tập báo chí miền Nam Việt Nam từ năm 1956 đến năm 1975 gồm:
+ Công báo Việt Nam Cộng hòa
Nguồn báo chí đầu tiên được tác giả luận án lựa chọn tiếp cận để có thể khảo sát và nghiên cứu cụ thể, chi tiết về đường lối, chính sách liên quan tới giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đó chính là Công báo Việt Nam Cộng hòa Số đầu tiên của Công báo ra ngày 26/10/1956 và số cuối cùng ra ngày 08/03/1975, một năm ra 52 số, có năm đặc biệt ra 59 số, có số cuối năm dành riêng đăng mục lục các văn bản đã đăng trên Công báo trong năm Tác giả luận án khai thác và sử dụng nguồn Công báo Việt Nam Cộng hòa lưu trữ tại Thư viện Viện Sử học Việt Nam Nội dung mà luận án khảo sát trên Công báo Việt Nam Cộng hòa chủ yếu là những Sắc lệnh, những Nghị định, Đạo dụ và các công văn hành chính liên quan đến những vấn đề giáo dục nói chung, đặc biệt là ở bậc cao đẳng - đại học, chuyên nghiệp của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, trong thời gian
từ năm 1956 đến năm 1975
+ Các tạp chí, tập san về văn hóa giáo dục, xã hội tiêu biểu của miền Nam Việt Nam (1956 - 1975): Nguồn tạp chí, tập san về văn hóa giáo dục và xã hội ở
miền Nam Việt Nam là một nguồn tư liệu được tác giả lựa chọn tiếp cận Từ rất sớm
ở miền Nam Việt Nam, các giới trí thức đại học đã quy tụ chung quanh những tập
san độc lập như các Tạp chí Bách khoa, Sáng tạo, Văn hóa Nguyệt san, Giáo dục
nguyệt san, Phát triển xã hội, Quê hương, Văn hóa Á châu, Báo Chính luận… để
Trang 146
đóng góp ý kiến với các nhà làm chính sách bằng các bài luận thuyết về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Trong số đó các bài viết liên quan tới giáo dục đại học cũng chiếm một số lượng khá phong phú trong các vấn đề nổi cộm của miền Nam Việt Nam
+ Các tập san của các đại học: Lần lượt trong quá trình phát triển, các phân
khoa hay các viện đại học có điều kiện đều phát hành các ấn phẩm định kỳ trình bày những kết quả nghiên cứu học thuật của khoa hay viện mình Các tạp chí tiêu biểu
phải kể đến Tạp chí Đại học của viện đại học Huế, Tập san Trí thức và thụ nhân của viện đại học Đà Lạt, Tạp chí Acta Medica Vietnamica của trường Y Dược, Luật học
kinh tế Tạp chí của trường Luật, Tập san Nghiên cứu Hành chánh của Học viện
Quốc gia Hành chánh, Tập san Sử Địa của trường Sư phạm Sài Gòn, Tạp chí Tư
tưởng của viện đại học Vạn Hạnh, Tập san Minh Đức của viện đại học Minh Đức, Nội san của các trường đại học Văn khoa, Y khoa, Luật khoa… Thông quá các tạp
chí, tập san và nội san này của các đại học tác giả luận án có thể nắm được những đường lối, mục tiêu đào tạo, lề lối giảng dạy, học tập cũng như những sinh hoạt giải trí, văn hóa - xã hội, đoàn thể trong môi trường đại học của sinh viên và giảng viên
Một nguồn tài liệu đặc thù trong nghiên cứu giáo dục đại học Việt Nam Cộng
hòa được tác giả luận án sử dụng chính là Chỉ nam Đại học, cao đẳng Chỉ nam là
một loại tập tài liệu giới thiệu về các trường đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp tại
miền Nam Việt Nam Thông thường trước khi năm học mới bắt đầu, các viện đại học
phát hành Chỉ nam sinh viên để những người ghi danh có thông tin về cơ sở đào tạo
Trong các cuốn chỉ nam đó, ghi rất đầy đủ và cụ thể (giới thiệu cơ cấu tổ chức của trường, đội ngũ cán bộ giảng dạy, nội dung, chương trình đào tạo, học trình, văn bằng, chứng chỉ, các thông tin về học bổng, học phí, các thông tin để đăng ký nhập học, thi cử… Chỉ nam thường có các loại hình như sau: Chỉ nam chung cho cả giáo dục đại học, cao đẳng; ngoài ra các viện đại học lại có chỉ nam riêng của mình như
Chỉ dẫn Phân khoa Văn học và Khoa học nhân văn của Viện Đại học Vạn Hạnh
(1971); Chỉ nam sinh viên niên khóa 1972 - 1973 của Viện Đại học Đà Lạt (1972);
Chỉ nam Đại học Sư phạm 1972 - 1973 do Đại học Sư phạm Huế xuất bản năm
1973; Chỉ nam Ban Sử học (niên khóa 1972 - 1973) do trường Đại học Văn khoa - Viện Đại học Sài Gòn xuất bản năm 1972; Đây đại học (nhà in Việt Liên xuất bản tại Sài Gòn năm 1962), Chỉ nam giáo dục cao đẳng Việt Nam (giới thiệu các trường đại
học, cao đẳng, chuyên nghiệp) năm 1973, năm 1974 do Phòng Tâm lý và Hướng
nghiệp Đắc Lộ xuất bản… giới thiệu tổng quát về các viện đại học ở miền Nam Việt Nam, về lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, thể thức ghi danh nhập học, chương trình học, văn bằng tốt nghiệp Các cuốn chỉ nam này đã cung cấp những thông tin hữu ích về hoạt động, cơ cấu tổ chức, đặc trưng học chế… của giáo dục đại học dưới chế
độ Việt Nam Cộng hòa
Trang 157
Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu có chọn lọc một số hồi ký của các nhân
vật từng làm việc trong chế độ Việt Nam Cộng hòa để có được một số góc nhìn nền
tảng và đa diện về các vấn đề kinh tế, chính trị và giáo dục thời kỳ này Hồi ký Bên
giòng lịch sử 1940 - 1965 của Linh mục Cao Văn Luận [120] - người sáng lập Viện
Đại học Huế Hồi ký Tâm sự tướng lưu vong của Hoành Linh - Đỗ Mậu [125]…
Bên cạnh đó tác giả cũng tiếp cận một số hồi ký đơn lẻ, các bài viết, các công trình nghiên cứu của một số nhân vật từng tham gia vào hoạt động giáo dục của Việt Nam Cộng hòa như: Vũ Quốc Thúc, Trần Ngọc Ninh [16], Nguyễn Lưu Viên, Võ Long Triều [193]…
Tác giả luận án còn tiếp cận khối lượng sách và tƣ liệu liên quan đến đề tài
được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II như: Niên giám thống kê, các
chương trình dự án và các sách đã xuất bản… liên quan đến chế độ Việt Nam Cộng hòa và giáo dục đại học được xuất bản ở trong nước và nước ngoài Ngoài ra tác giả luận án còn tham khảo các công trình nghiên cứu là các luận văn thạc sĩ, luận án tiến
sĩ về lịch sử Việt Nam hiện đại của các tác giả đi trước cùng với các tác phẩm, bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài này hiện
có tại Thư viện Tổng hợp TP HCM, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM, Trường Đại học Sư phạm TP HCM và Thư viện Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội…
Phương pháp nghiên cứu:
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, kết hợp phương pháp logic Hai phương pháp này không chỉ giúp cho việc tái hiện lịch sử, phân tích và đánh giá các vấn đề lịch sử, mà còn cho phép xem xét mối quan hệ bản chất của các vấn đề lịch sử, bình luận và phê phán các quan điểm chính trị và học thuật
Ngoài ra luận án cũng sử dụng những phương pháp cụ thể khác trong khoa học lịch sử hiện nay, nhất là khi thống kê, so sánh, đối chiếu để xác định các cứ liệu lịch sử và các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội Luận án sử dụng phương pháp thống kê, định lượng trong phân tích các số liệu liên quan đến số lượng sinh viên, giảng viên, trường lớp, tỷ lệ tốt nghiệp, ngân sách giáo dục… của các trường đại học miền Nam Việt Nam…
5 Đóng góp của luận án
- Luận án đem đến nhận thức tương đối toàn diện và có hệ thống về giáo dục
đại học ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa (1956 - 1975) Luận
án đặt toàn bộ giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa trong bối cảnh các điều kiện lịch
sử kinh tế, văn hóa, xã hội của miền Nam Việt Nam cũng như cả nước từ năm 1956 đến năm 1975 để xem xét diện mạo cấu trúc, sự vận động biến chuyển trong giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa
Trang 168
- Luận án phân tích làm rõ những đặc trưng nổi bật cũng như một số tác động của giáo dục đại học tới xã hội miền Nam Việt Nam Qua đó góp phần nhận định, đánh giá một cách khách quan, khoa học hơn về giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975
- Luận án góp phần bổ sung và làm phong phú thêm nguồn tài liệu lưu trữ và tài liệu từ nhiều phía nhằm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và tổng kết về lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) cũng như lịch sử giáo dục và giáo dục đại học Việt Nam hiện đại
- Trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học hiện nay, việc nghiên cứu giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam (1956 - 1975) góp phần đúc rút những kinh nghiệm thiết thực phục vụ sự nghiệp đổi mới cơ bản và toàn diện lĩnh vực giáo dục đào tạo, trong đó có giáo dục đại học
Chương 3: Giáo dục đại học trong bối cảnh lịch sử miền Nam từ năm 1965
đến năm 1975
Chương 4: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
Trang 179
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa (1956 - 1975) ở trong nước có thể chia làm hai giai đoạn: trước năm 1975; từ năm 1975 đến nay
Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam, xu hướng nghiên cứu về thực trạng giáo dục, trong đó có giáo dục đại học, và từ đó nêu lên những đề nghị cải tổ giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam là một trong những xu hướng nổi bật, đặc biệt là trên các tạp chí văn hóa - xã hội và giáo dục Trong số các tạp chí có mật độ dày đặc
các bài viết về các vấn đề văn hóa, giáo dục lúc bấy giờ phải kể đến Tạp chí Bách
khoa Với mong muốn cải tổ nền giáo dục đại học miền Nam Việt Nam, các nhà báo,
các nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục đã đi sâu nghiên cứu, phân tích làm rõ thực trạng, đặc điểm, những tồn tại và đề ra những giải pháp cho giáo dục đại học Các bài viết này có giá trị như những “công trình” khảo cứu sớm nhất về giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa Tiêu biểu là học giả Nguyễn Hiến Lê với loạt bài
“Góp phần phê phán chính sách của Bộ Giáo dục”; “Phải mạnh dạn cải tổ nền giáo
dục Việt Nam” đăng trên Tạp chí Bách khoa từ 01/05/1962 đến 01/07/1962, cùng một số bài khác bàn về vấn đề chuyển ngữ đại học đăng trên các Tạp chí Bách Khoa,
Mai, Tin văn (như “Dùng Tiếng Việt làm chuyển ngữ ở bậc đại học, sau đó đăng lại
trong cuốn Vài lời ngỏ với bạn trẻ [115]) Giáo sư Nguyễn Văn Trung - giảng viên
Đại học Văn khoa Sài Gòn, có loạt bài về “Đại học và phát triển Quốc gia” [197],
[198], [199] đăng liên tiếp ở Tạp chí Bách khoa năm 1967 đã thể hiện những phân tích
sắc sảo về “Phê bình nền đại học Việt Nam”, sau đó được tập hợp và phát triển thêm
trong chuyên khảo Góp phần phê phán giáo dục và đại học Việt Nam [201] Qua
chuyên khảo ông cũng đề xuất những đề nghị cải tổ “gốc rễ” nền đại học miền Nam Việt Nam trên các vấn đề đại học với phát triển quốc gia, đại học với chính trị…
Tạp chí Tư tưởng là cơ quan ngôn luận về mặt tư tưởng, triết lý, giáo dục và
văn hóa của Viện Đại học Vạn Hạnh Tạp chí đã là diễn đàn về giáo dục đại học của giới trí thức miền Nam Việt Nam Trên tạp chí này, các vấn đề liên quan đến giáo dục đại học là một mảng nội dung rất sống động Loạt bài của giáo sư Đoàn Viết Hoạt - Phụ tá Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh như “Cơn sốt đại học miền Nam Việt Nam” [87], [88]; “Đại học Việt Nam quá khứ và hiện tại” [89], “Vai trò của giáo dục đại học” [91] …; giáo sư Tôn Thất Trình với “Đào tạo một lớp người mới của đại học Việt Nam để phục vụ xứ sở đắc lực hơn?”[194]; giáo sư Nguyễn Chung Tú với “Vai trò của khoa học trong Giáo dục đại học chuyên nghiệp” [202] … Tạp chí có những số chuyên đề về giáo dục đại học như “Vấn đề quốc học và vai trò của đại học, ý nghĩa văn khoa và khoa học nhân văn” [54], “Đại học tư và phát triển” [192]… Đặc biệt
Trang 1810
trong các mục về sinh hoạt đại học, tạp chí luôn theo sát diễn biến của các khóa hội thảo, các hoạt động giáo dục đại học của chính quyền Việt Nam Cộng hòa
Tạp chí Đại học, cơ quan ngôn luận của Viện Đại học Huế cũng là một diễn
đàn của nhiều vấn đề liên quan tới giáo dục đại học miền Nam Việt Nam Tiêu biểu
là loạt bài phỏng vấn về “Đường lối xây dựng đại học quốc gia - Vài ý kiến về vấn
đề đại học” [210] Tạp chí đã có những chuyên đề thảo luận về vấn đề đại học bằng việc tiến hành gửi những câu hỏi phỏng vấn tới đa số các viện trưởng các viện đại học lớn ở miền Nam Việt Nam Sau đó, trên cơ sở các hồi đáp của các lãnh đạo chủ chốt các viện đại học lớn kể cả công và tư, tạp chí cụ thể hóa các quan điểm, đường lối về mục tiêu, sứ mạng của giáo dục đại học
Ngoài ra, còn có các bài viết đăng trên các tạp chí khác có liên quan tới giáo
dục đại học miền Nam Việt Nam, như Tạp chí Sáng tạo với các bài viết của Nguyễn
Quang Đàm về “Vài ý kiến về trường đại học Văn khoa”[64]; Doãn Quốc Sỹ về
“Hãy xây dựng nền đại học Việt Nam thuần túy”; “Một vài ý kiến xây dựng nền
quốc học trường Đại học Văn Khoa Việt Nam” [154]; Văn hóa Nguyệt san với “Lễ chuyển giao Viện Đại học hỗn hợp”[16]; Tập san Phát triển xã hội với Tạ Văn Tài,
“Vai trò đại học trong phát triển quốc gia chậm tiến” [156]; Đỗ Bá Khê với loạt bài đăng trên các tạp chí về tình trạng của giáo dục kỹ thuật và đề xuất, phân tích về mô
hình đại học cộng đồng theo mẫu hình Hoa Kỳ [101], [102], [103], [104]; Tập san
Nghiên cứu Hành chính đăng bản phúc trình “Các đề nghị cải tổ nền đại học Việt
Nam: các đề nghị cải tổ của phái đoàn Wiconsin” [47]…
Các công trình nghiên cứu về giáo dục đại học còn xuất hiện ở một số chuyên
khảo của một số giảng viên các trường đại học miền Nam Việt Nam, như Xây dựng
và phát triển văn hóa giáo dục [83] của giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch (Đại học Văn
khoa Sài Gòn) trong đó có một số bài viết đề cập tới vai trò của đại học trong phát triển Việt Nam Cộng hòa trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa Đồng thời ông cũng chỉ ra những vấn đề tồn tại của nền giáo dục đại học Việt Nam và đề xuất những hướng cải
tổ cho từng vấn đề Thu Giang Nguyễn Duy Cần - Trưởng ban Triết học Đông
phương tại Đại học Văn khoa Sài Gòn xuất bản cuốn Văn hóa giáo dục Việt Nam đi
về đâu? [49], trong đó cũng đi vào phân tích một số thực trạng giáo dục đại học,
đồng thời bày tỏ sự băn khoăn của mình trước thời cuộc và nền giáo dục nói chung của miền Nam Việt Nam
Bên cạnh đó là một số bài viết mang tính nhận định, tổng kết về giáo dục miền Nam Việt Nam nói chung, trong đó có giáo dục đại học như các bài “Một vài nhận định về hiện trạng của nền giáo dục Việt Nam” của tác giả Vũ Quốc Thông (1969); “Năm năm đã qua hay là một vài nhận định về công việc làm của Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục” của tác giả Nguyễn Chung Tú và nhiều bài nhận định
khác in trong Kỷ yếu của Hội đồng Quốc gia Giáo dục năm 1969 [107] Kỷ yếu đã
trình bày thực trạng của nền giáo dục và giáo dục đại học miền Nam thông qua lăng
Trang 19Văn Tân đã trình bày những nghiên cứu: Đánh giá về đóng góp của đại học đối với
sự phát triển quốc gia của Đỗ Bá Khê; Một vài dấu ấn trong việc hợp nhất các trường đại học ở Việt Nam của Trần Văn Tân; Xác định xu hướng hiện tại của giáo dục đại học Việt Nam trong việc đáp ứng nhu cầu quốc gia của Phạm Hữu Hiệp…
Trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1975, ở miền Bắc, chủ đề về giáo dục đại học miền Nam chỉ xuất hiện trong một số bài viết tạp chí và các công trình nghiên cứu liên quan đến phong trào học sinh sinh viên miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ Tiêu biểu là một số bài viết của tác giả Tô Minh Trung như “Nền giáo dục phản động của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam” [196]; “Phong trào đấu tranh chống Mỹ và tay sai của học sinh, sinh viên miền Nam (1954 - 1965)” [195]; “Nền giáo dục đại học thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam” [69] của tác giả Trần Ngọc Định; “Tổ chức hoạt động của có quan USAID trong lĩnh vực giáo dục thực dân mới ở miền Nam trước đây” [68] của Long Điền… Khuynh hướng chủ yếu của các tác giả miền Bắc trong thời điểm này tập trung chỉ ra những đặc điểm phiến diện, tiêu cực của giáo dục đại học miền Nam Việt Nam, một số khác tập trung làm rõ phong trào đấu tranh của giáo chức, sinh viên miền Nam Việt Nam trong việc đấu tranh chống lại những khủng hoảng, tiêu cực của nền giáo dục, góp phần vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam
Năm 1975, đất nước thống nhất, giáo dục cũng bước vào giai đoạn thống nhất giữa hai miền Trong bối cảnh đó, Viện Khoa học Giáo dục có tiến hành một nghiên cứu
về chính sách giáo dục ở miền Nam Việt Nam Kết quả của đề tài này được xuất bản
thành chuyên khảo (hai tập): Tìm hiểu chính sách giáo dục thực dân mới ở miền Nam
Việt Nam và tác hại của nó [228], [229] tại NXB TP HCM, năm 1980 Đây là công
trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, giúp người đọc hình dung được bức tranh chung
về giáo dục miền Nam Việt Nam, đồng thời phục vụ kịp thời nhu cầu cải tạo cấp bách nền giáo dục cũ, xây dựng và phát triển nền giáo dục mới ở miền Nam Việt Nam sau ngày thống nhất đất nước Trong nghiên cứu này, một số nét lớn về chính sách giáo dục đại học của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng được đề cập đến
Cùng xu hướng đó, năm 1982, trong công trình nghiên cứu Từ cơ sở lý luận
dạy học đại học, bước đầu tìm hiểu mục tiêu, phương hướng và chất lượng đào tạo của hệ thống đại học miền Nam Việt Nam trước 1975 [81] của Huỳnh Văn Hoa (Đại
học Sư phạm Hà Nội), tác giả sưu tầm và xử lý tư liệu, nghiên cứu tìm hiểu mục
Trang 2012
đích, phương hướng và kết quả đào tạo của hệ thống đại học miền Nam trước 1975 Qua đó công trình đi vào lý giải những vấn đề do hệ thống đại học miền Nam Việt Nam trước 1975 đặt ra, chỉ ra những điểm không phù hợp với thời đại, những nét mang đậm dấu ấn chủ nghĩa thực dân mới… Nghiên cứu này tiếp cận vấn đề từ cơ sở
lý luận dạy học đại học của ngành sư phạm
Trong một số các công trình chuyên khảo nghiên cứu về văn hóa ở miền Nam
Việt Nam, như Chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam - khía cạnh
văn hóa, tư tưởng 1964 - 1975 [79] của Phong Hiền xuất bản tại NXB Thông tin lý
luận, Hà Nội, năm 1984; Cuộc xâm lăng về văn hóa - tư tưởng của đế quốc Mỹ ở
miền Nam Việt Nam [149] do Lữ Phương chủ biên xuất bản tại NXB Văn hóa, Hà
Nộ, năm 1985… Trong các công trình này, giáo dục đại học miền Nam Việt Nam xuất hiện như là một thành tố cấu thành nên văn hóa Các công trình này đều đề cập đến tình hình giáo dục mang màu sắc “thực dân mới” nhưng cũng ở mức độ khái quát, thiên về phân tích những mặt trái của nó
Trong nỗ lực khảo cứu về giáo dục và khoa cử của Việt Nam, nhà biên khảo văn học và sử học Nguyễn Quyết Thắng (bút danh là Nguyễn Q Thắng) là giáo sư của Đại học Văn khoa Sài Gòn, Viện Đại học Vạn Hạnh, Đại học Sư phạm Sài Gòn,
Đại học Sư phạm Cần Thơ… đã cho xuất bản công trình Khoa cử và giáo dục Việt
Nam [160] lần đầu vào năm 1993 ở NXB Văn hóa và sau đó được tái bản nhiều lần
(vào các năm 1994, 2003) Đây là một công trình rất cơ bản về giáo dục Việt Nam, trong đó tác giả cũng cung cấp nhiều kiến thức cơ bản về giáo dục miền Nam Việt Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa và hệ thống các trường đại học ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975
Trong xu hướng nghiên cứu về giáo dục miền Nam Việt Nam, cuốn Lịch sử
giáo dục Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh (1868 - 1998) [134] do Hồ Hữu Nhật chủ
biên xuất bản năm 1998 tại NXB Trẻ TP HCM có đề cập tới giáo dục đại học Các tác giả trong công trình này đã mô tả sơ lược một vài nét đặc điểm của giáo dục đại học và tập trung vào mô tả hệ thống mạng lưới các viện đại học công lập và tư thục
Công trình Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Tập 2 về lịch sử, giáo dục)
[74]… của Trần Văn Giàu (chủ biên) xuất bản tại NXB TP HCM năm 1998, trong phần về nội dung giáo dục thời kỳ Mỹ và chính quyền Sài Gòn, sau khi mô tả tổng quan về giáo dục vùng chính quyền Sài Gòn quản lý, các tác giả phân tích về các cấp
bậc học trong đó có giáo dục đại học với những nét cơ bản nhất Công trình Giáo dục
cách mạng ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 - những kinh nghiệm và bài học lịch
sử [137] xuất bản tại NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 2004 của tác giả Nguyễn
Tấn Phát là một công trình đầy đủ về giáo dục trong vùng giải phóng và phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên yêu nước và tiến bộ trong vùng địch tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam Vài nét về giáo dục đại học ở vùng tạm chiếm cũng được tác giả nêu ra trong một số liên hệ, so sánh
Trang 2113
Bên cạnh đó, những nét khái quát về giáo dục miền Nam Việt Nam, cũng như chính sách giáo dục của chính quyền Sài Gòn và Mỹ trong giáo dục cũng được điểm qua trong một số công trình viết về trí thức Sài Gòn và về phong trào đấu tranh cách mạng của học sinh, sinh viên, giáo chức, trí thức miền Nam Việt Nam dưới sự chủ
biên của Hồ Hữu Nhật như Trí thức Sài Gòn - Gia Định 1945 - 1975 [135], Phong
trào đấu tranh chống Mỹ của giáo chức, học sinh, sinh viên Sài Gòn [133]
Đầu thế kỷ 21, xu hướng nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt Nam bắt đầu mạnh lên với sự nở rộ các công trình Một số công trình tiêu biểu cho hướng này là:
Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam [72] của Lê Văn Giạng; Lịch
sử giáo dục Việt Nam [80] của tác giả Bùi Minh Hiền, Sơ khảo giáo dục Việt Nam
1945 - 1992 [75] của Phạm Minh Hạc (chủ biên); Năm mươi năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo: 1945 - 1995 [151] của tác giả Trần Hồng Quân Một số
giáo trình về lịch sử giáo dục cho sinh viên các trường Sư phạm như Lịch sử giáo
dục Việt Nam [143] của Nguyễn Gia Phu (Đại học Đà Lạt), Giáo dục đại học Việt Nam [122] do Đoàn Duy Lục chủ biên… Trong các công trình về lịch sử giáo dục
này đều ít nhiều có đề cập đến tổ chức, hoạt động của các đại học miền Nam Việt Nam nhưng ở mức độ hết sức khái quát và sơ lược
Trong những năm gần đây, xuất hiện các đề tài của một số tập thể, cá nhân các Viện nghiên cứu như Viện Sử học, Viện Khoa học Giáo dục, một số đại học lớn trong cả nước có liên quan trực tiếp tới giáo dục miền Nam Việt Nam
Đề tài cấp Viện Khoa học giáo dục Việt Nam được tiến hành trong hai năm từ
năm 2009 đến năm 2011 của Bùi Đức Thiệp về Hệ thống giáo dục miền Nam Việt
Nam giai đoạn 1954 - 1975 [164] đã phục dựng lại quá trình phát triển của hệ thống
giáo dục miền Nam Việt Nam, gồm hệ thống giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng
và hệ thống giáo dục ở vùng do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát Nghiên cứu này rút ra những kinh nghiệm, giá trị và những hạn chế của giáo dục miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 Công trình nghiên cứu này tiếp cận giáo dục trên phương diện về hệ thống giáo dục (cấp bậc học) trên các tiêu chí về giáo dục học
Đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia TP HCM về Giáo dục đại học miền
Nam Việt Nam (1954 - 1975) [153] của Võ Văn Sen là những phác thảo cơ bản nhất
về hệ thống các trường đại học, quá trình hoạt động của các trường đại học miền Nam Việt Nam… Trong đề tài này, các tác giả mới chỉ dừng lại ở những tập hợp tư liệu và mô tả tập trung về hiện trạng của giáo dục đại học thông qua các dự án cải tổ giáo dục của một số học giả ở miền Nam Việt Nam và các bản phúc trình của cố vấn Hoa Kỳ Các nội dung liên quan đến sự chuyển biến về đặc trưng và đặc biệt là vai trò của giáo dục đại học tới xã hội miền Nam Việt Nam chỉ mới được mô tả, phân
tích ở mức độ hạn chế Một số luận văn thạc sĩ như, Giáo dục đại học ở miền Nam
Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 của Phạm Ngọc Bảo Liêm (Đại học Khoa học, Đại học
Huế) [118] phác dựng được cơ bản về hệ thống và quá trình hoạt động, luận văn cũng đi đến một số nhận định ban đầu về hệ thống các trường đại học miền Nam Việt
Trang 2214
Nam; luận văn này cũng bước đầu đã nhận ra được đặc điểm về chuyển biến của giáo dục đại học miền Nam Việt Nam từ mô hình Pháp sang mô hình Hoa Kỳ song điểm hạn chế của luận văn này chưa làm rõ được mốc phân kỳ và các dấu ấn cụ thể của sự
chuyển biến này; Lịch sử hình thành và phát triển của Viện Đại học Cần Thơ của
Phạm Thị Phương (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM) [150] chỉ mô tả khá chi tiết về lịch sử và hoạt động, vai trò của Viện Đại học Cần Thơ trong hệ thống giáo dục đại học miền Nam Việt Nam Những thông tin về giáo dục đại học miền Nam Việt Nam cũng được tác giả luận văn đề cập tới nhưng chỉ là khái quát, không phải là nội dung chính của luận văn Tóm lại, các công trình này đã lựa chọn đề tài giáo dục đại học để nghiên cứu nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở những khảo sát tư liệu, những phác thảo cơ bản… Đặc biệt là việc tiếp cận các nguồn tư liệu lưu trữ và tư liệu tiếng nước ngoài, từ nhiều phía của các công trình này còn hạn chế Trong công trình nghiên cứu về giáo dục Hoa Kỳ [165] và một số ảnh hưởng của giáo dục Mỹ vào miền Nam Việt Nam tác giả Lâm Quang Thiệp đã bắt đầu quan tâm tới giáo dục miền Nam Việt Nam Ông đưa ra quan điểm về tiếp thu những hạt nhân tích cực của giáo dục đại học Hoa Kỳ và ông cho rằng miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 đã là thời kỳ du nhập những ảnh hưởng này
Năm 2010, kỷ niệm một sự kiện có ý nghĩa trong lĩnh vực giáo dục đại học thế giới: đó là sự kiện Đại học Humboldt - một thể chế đại học có giá trị lớn lao của
“tinh thần đại học” tròn hai trăm năm tuổi (1810 - 2010), một số người Việt Nam
trong và ngoài nước quan tâm đến giáo dục đại học xuất bản công trình Kỷ yếu
Humboldt 200 năm xuất bản tại NXB Tri thức, Hà Nội [51] Trong cuốn kỷ yếu này
xuất hiện một số bài viết đề cập tới giáo dục đại học miền Nam Việt Nam như Lê Xuân Khoa với bài viết “Đại học miền Nam Việt Nam trước 1975: Hồi tưởng và nhận định” [106] phân tích được những đặc điểm nổi bật của nền giáo dục đại học miền Nam Việt Nam như: tự trị đại học, một số vấn đề về đào tạo…
Tháng 7/2014, một chuyên đề nghiên cứu về Giáo dục miền Nam Việt Nam
(1954 - 1975) đã được tiến hành tập hợp và giới thiệu trên Tạp chí Khoa học và Phát
triển (Sở Khoa học và Công nghệ Huế) Trong chuyên đề này, có một số bài viết của một số tác giả nghiên cứu về giáo dục đại học miền Nam Việt Nam, như bài viết của Nguyễn Văn Nhật về “Nền giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam trước 1975” [132] trình bày quá trình hình thành hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và nêu lên những nhận định tổng quát về nền giáo dục đó dưới nhiều góc độ khác nhau Tác giả Khánh Uyên với bài viết “Viện Đại học Sài Gòn và các trường trực thuộc” [208] đã giới thiệu tóm tắt quá trình thành lập và hoạt động của Viện Đại học Sài Gòn; Nguyễn Tuấn Cường (Viện Hán - Nôm Việt Nam) với nghiên cứu về “Viện Hán học Huế trong những biến động văn hóa xã hội (1959 - 1965)” [61] Cũng trong năm 2014, tác giả Vũ Cao Đàm - một chuyên gia nghiên cứu về chính sách quản lý và phát triển khoa học và giáo dục Việt Nam, xuất bản
một chuyên khảo “Nghịch lý và lối thoát, Bàn về triết lý phát triển khoa học và giáo
Trang 2315
dục Việt Nam” ở NXB Đại học Quốc gia Hà Nội [65] Tác giả có đề cập tới hệ thống
giáo dục đại học dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đi vào phân tích một số ưu điểm về thiết chế tự trị của nền giáo dục này
Tóm lại, trong những năm gần đây, ở nhiều vấn đề liên quan tới lịch sử giáo dục đại học nói chung và giáo dục đại học miền Nam Việt Nam nói riêng đã trở thành hướng nghiên cứu thu hút được nhiều sự quan tâm
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Từ những năm 1950 đến năm 1960 cùng với sự can thiệp của người Mỹ vào miền Nam Việt Nam, giáo dục dần dần nổi lên như là một trong những ưu tiên hàng đầu của chương trình viện trợ Hoa Kỳ về văn hóa, giáo dục Trong quá trình thực hiện các viện trợ đó, các cố vấn giáo dục Hoa Kỳ đã tiến hành hai nghiên cứu được tài trợ bởi Phân bộ Giáo dục Hoa Kỳ thuộc Cơ quan phát triển Hoa Kỳ - USAID về giáo dục Việt Nam, một vào năm 1955 [245] và một vào năm 1957 [246] của D.C Lavergne và Abul H.K.Sassani Song trong hai nghiên cứu này, sự phát triển của giáo dục đại học không được đề cập chi tiết
Vào năm 1956, Phân bộ Giáo dục của Cơ quan Viện trợ Hoa Kỳ (USOM) ở Sài Gòn đã tài trợ cho một nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục đại học Việt Nam của
Charles T.Falk với tựa đề Higher education in the Republic of Vietnam, provisional
report [230] Đó là nghiên cứu đầu tiên và chuyên sâu về lịch sử phát triển của đại
học miền Nam Việt Nam Ngoài ra còn phải kể đến một số một nghiên cứu tiếp theo
của cả những nhà giáo dục Việt Nam và Mỹ như: John Gardner trong AID and the
universities [242] với phân tích vai trò của tổ chức viện trợ của Hoa Kỳ trong giáo
dục đối với các trường đại học miền Nam Việt Nam; Phái đoàn nghiên cứu phát triển Văn hóa Đông Nam Á dẫn đầu là Granville S.Hammond đã tổng kết về sự phát triển
của giáo dục đại học miền Nam Việt Nam trong A brief review of the development of
higher education in South Vietnam [235] Trên Tạp chí Asian culture có bài viết của
Nguyễn Quang Quýnh về “Education in underveloped countries” [251] Ngoài ra
trên VietMy magazine có đăng bản báo cáo “The role of the Michigan State
university group in Vietnam” của Fishel Wesley R về vai trò của phái đoàn cố vấn đại học Michigan ở miền Nam Việt Nam [234]
Từ năm 1965 đến năm 1973, có khá nhiều nghiên cứu về giáo dục đại học Việt Nam đã được tiến hành bởi người Mỹ [240] Dự án quan trọng nhất cho cải tổ giáo dục đại học Việt Nam được tổng kết trong nghiên cứu của Charles B.Green về
Some current observations, general information and data on higher education in Vietnam Trong nghiên cứu của mình, ông chỉ ra xu hướng của giáo dục đại học như
là quy chế lập pháp cho sự hợp tác giữa các viện đại học, chương trình đại học cộng đồng (community college) và đại học bách khoa (polytechnic college)
Ngày 11/4/1967, một phái đoàn hỗn hợp Việt - Mỹ được thành lập để phụ trách nghiên cứu tình hình đại học Việt Nam Sau bốn tháng làm việc, các chuyên viên Hoa Kỳ trong phái đoàn đã chuyển đến Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng
Trang 24of Vietnam của phái đoàn Earl C.Seyler (5/1967) Trong các bản báo cáo này, các cố
vấn đại học Mỹ đã có những nghiên cứu và những nhận định khá tỉ mỉ về thực trạng của giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa
Cũng trong năm 1967, một nghiên cứu gồm 4 tập được tài trợ bởi UNESCO
và Hội Liên hiệp các trường đại học quốc tế (The International Association of
Universities - IAU) [261] về Higher education and development on Southeast Asia
đã đại diện cho một nỗ lực của tổ chức UNESCO trong việc nghiên cứu xác định rõ vai trò của giáo dục đại học trong mối quan hệ với sự phát triển của mỗi quốc gia ở
Đông Nam Á Trong phần nghiên cứu về Hồ sơ các quốc gia cụ thể (Country files)
có nghiên cứu trường hợp giáo dục đại học của Việt Nam Cộng hòa với những số liệu khá chi tiết về giáo dục đại học
Năm 1973, trong một nghiên cứu được xuất bản của Viện Nghiên cứu đại học vùng Đông Nam Á (Regional Institute of Higher Education and Development) với
tiêu đề Development of higher education in Southeast Asia - development and issues
[262] là tập hợp các bài viết của các nhà giáo dục vùng Đông Nam Á nghiên cứu về giáo dục đại học gắn với các quốc gia khu vực này Trong đó có bài viết của Tôn Thất Thiện (giáo sư viện đại học Vạn Hạnh)1
và Nguyễn Trường2 (giáo sư kinh tế Viện Đại học Huế và Sài Gòn) - Giám đốc các dự án nghiên cứu của Viện RIHED Hai công trình của hai tác giả trong chuyên khảo này đã đi sâu vào phân tích một số vấn đề thực trạng, những vấn đề đặt ra của giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa
Các sinh viên Việt Nam học ở các trường đại học Mỹ cũng đóng góp vào việc nghiên cứu sự phát triển giáo dục ở Việt Nam Vũ Tam Ích ở Đại học Kentucky xuất
bản một nghiên cứu về giáo dục Việt Nam năm 1959 về A historical survey of
education development in Vietnam tập trung diễn tiến lịch sử giáo dục Việt Nam
trong đó có giáo dục đại học miền Nam Việt Nam từ năm 1954 một cách khái quát nhất [241] Về giáo dục đại học nói riêng, Đoàn Viết Hoạt - Phụ tá của Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, đã bảo vệ luận án Tiến sĩ giáo dục học năm 1971 tại Đại
học Florida với đề tài The development of modern higher education in Vietnam: a
focus on cultural and social - political forces [239] Luận án này tập trung vào phân
tích sự phát triển giáo dục đại học hiện đại trong tương quan sự tác động của các
1
Ton That Thien, “Higher education in transitional country plagued by conolism and war: the case of South
Vietnam”, Yip Yat Hoong (1973), Development of higher education in Southeast Asia- development and issues, Regional Institue of Higher education and Development, Singapore
2
Nguyen Truong, “Higher education in Vietnam: consolidation versus Expansion”, Yip Yat Hoong (1973),
Development of higher education in Southeast Asia- development and issues, Regional Institue of Higher
education and Development, Singapore
Trang 2517
nhân tố văn hóa, xã hội và chính trị Luận án này là một công trình nghiên cứu khá chuyên sâu về giáo dục đại học Việt Nam, trong đó có cả giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa Đỗ Bá Khê cũng có một luận án
tiến sĩ bảo vệ ở Đại học Southern California với tựa đề The community college
concept: a study of its relevance to postwar reconstruction in Vietnam đề cập tới
khái niệm trường đại học cộng đồng - một mô hình đại học phổ biến của Hoa Kỳ [243] Nguyễn Hữu Phước trong luận án Tiến sĩ triết học (lý thuyết giáo dục học) về
Contemporary education philosophy in Vietnam 1954 - 1975: a comparative analysis
[249] tại Đại học Souther California lại tập trung phân tích các truyền thống giáo dục
về mặt lý thuyết tác động tới giáo dục Việt Nam trong đó có nhấn mạnh ba truyền thống giáo dục: Nho giáo, truyền thống giáo dục cổ điển Pháp và truyền thống giáo dục thực dụng của Mỹ
Năm 1988, xuất hiện một công trình nghiên cứu trường hợp viện trợ của tổ
chức Y khoa Hoa Kỳ cho giáo dục y khoa miền Nam Việt Nam với tựa đề là Saigon
medical school: an experiment in international medical education [253] Cuốn này
đã cung cấp khá chi tiết các số liệu về những viện trợ của tổ chức Y khoa Hoa Kỳ (AMA) cũng như của Tổ chức Cơ quan viện trợ Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) về viện trợ cho giáo dục đại học y khoa cũng như các hoạt động liên quan tới các trường đại học y khoa miền Nam Việt Nam
Ngoài ra đầu những năm 90 của thế kỷ XX nghiên cứu về giáo dục đại học miền Nam Việt Nam còn có thể kể đến một số khảo cứu của các tác giả người Việt sống ở nước ngoài như: Đỗ Hữu Nghiêm với khảo cứu “Viện Đại học Đà Lạt giữa lòng dân tộc Việt Nam 1957 - 1975” (2006) Đây là tài liệu giới thiệu tương đối đầy
đủ về Viện Đại học Đà Lạt (về quá trình ra đời, tổ chức, các trường thành viên, các
số liệu thống kê…) [128] Bên cạnh đó, tác giả Đỗ Hữu Nghiêm còn có bài viết về
“Câu lạc bộ Phục Hưng, một cư xá sinh viên góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước” (2007) trình bày về hệ thống cư xá sinh viên được thành lập ở miền Nam sau năm 1954 và một số vấn đề liên quan đến giáo dục đại học [130] Tác giả Lâm Vĩnh Thế có bài viết “Phát triển thư viện tại miền Nam trước 1975” (công bố năm 2006 trên diễn đàn của Hội hỗ trợ thư viện và giáo dục Việt Nam) [163] giới thiệu về hệ thống thư viện tại miền Nam Việt Nam trong đó trình bày khá chi tiết về hệ thống thư viện tại các viện đại học; tác giả Đỗ Bá Khê, với các bài khảo cứu về hệ thống các viện đại học cộng đồng “The difficult path toward an integrated university and community college system in Vietnam” (1993)… [244] đã cung cấp những tư liệu phong phú và bổ ích về mô hình giáo dục đại học này Đặc biệt, năm 2006 xuất hiện
cuốn Giáo dục ở Miền Nam tự do trước 1975 ở Hoa Kỳ do tác giả Nguyễn Thanh
Liêm1 chủ biên [117] Đây là tập sách tập hợp nhiều bài viết của các tác giả Việt Nam ở nước ngoài viết về giáo dục và giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam từ
1
Cựu Thứ trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục Thanh niên Việt Nam Cộng hòa
Trang 2618
năm 1954 đến năm 19751 Những tư liệu trong cuốn Giáo dục ở Miền Nam tự do
trước 1975 tuy chưa có sự khái quát và hệ thống cao nhưng cũng đã cung cấp một
lượng thông tin đáng kể về giáo dục miền Nam nói chung và giáo dục đại học ở miền Nam nói riêng Nhiều bài viết đã ít nhiều đề cập đến sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam, về chương trình, nội dung giảng dạy, về vai trò của hệ thống giáo dục đại học đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở miền Nam Việt Nam… Tuy nhiên, những bài viết trên do những hạn chế khách quan lẫn chủ quan cũng chỉ phản ánh được một số mặt, một số vấn đề mà chưa có sự nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam Do những mối liên hệ vốn có của các tác giả với các viện đại học ở miền Nam Việt Nam trước đó nên các bài viết của các tác giả này có lợi thế về nguồn tài liệu, số liệu phong phú… Tuy nhiên, các bài viết này hầu hết chỉ dừng lại ở việc trình bày, giới thiệu, hoặc chỉ đơn giản là những cảm nhận, hồi tưởng về các viện đại học ở miền Nam và sự phân tích, đánh giá, so sánh là rất hạn chế
Những nghiên cứu ở Pháp liên quan đến giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa
có thể kể đến một số những nghiên cứu đơn lẻ của tổ chức UNESCO trong các dự án nghiên cứu về giáo dục đại học của các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có nghiên
cứu về chính quyền Việt Nam Cộng hòa Đó là hai nghiên cứu sau: Projection à long
term des l’education en Respublique du Vietnam, Rapport de la Mission Consultative Régionale de l’UNESCO pour la Planification de l’education en Asie Đây là báo
cáo dự án về giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ủy ban tư vấn vùng của UNESCO về kế hoạch giáo dục ở châu Á do Văn phòng Giáo dục châu Á của
UNESCO ở Bangkok (Thái Lan) tiến hành năm 1965 và Mission d’Etude au
programmes d’investissement en Matière d’education, Vietnam (Octobre - Novembre 1963) - Báo cáo dự án nghiên cứu về chương trình đầu tư tài liệu giáo dục cho Việt
Nam 10-11/1963 của UNESCO xuất bản ở Paris vào tháng 1, năm 1964 Gần đây, ở Pháp hướng nghiên cứu về giáo dục học đặc biệt là giáo dục thời Pháp thuộc và những ảnh hưởng của giáo dục Pháp ở Việt Nam từ năm 1954 đến 1975 cũng được quan tâm nghiên cứu Trong số đó phải kể đến những công trình nghiên cứu Tiến sĩ
Nguyễn Thụy Phương (bảo vệ luận án Tiến sĩ bằng tiếng Pháp về École française au
Vietnam 1945 - 1975: la mission civilisatrice de la diplomatie culturelle về hệ thống
trường Pháp ở Việt Nam (1954 - 1975), chuyên ngành Giáo dục học, tại Đại học Paris Descartes năm 2009) [264] Trong luận án này tác giả có đề cập đến giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa trong một số ảnh hưởng của chính sách giáo dục của
1
Đáng chú ý có thể kể đến các bài như “Giáo dục ở miền Nam Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Liêm (từ
tr 12 đến tr 50), “Sự liên tục của lịch sử trong nền giáo dục của miền Nam trước năm 1975” của tác giả Phạm Cao Dương (từ tr 126 đến tr 133), tác giả Nguyễn Hữu Phước với bài “Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam (1954 - 1974): Dân tộc, nhân bản, khai phóng” (từ tr 134 đến tr 151), tác giả Đỗ Bá Khê với các bài “Phát triển đại học miền Nam trước 1975” (từ tr 152 đến tr 157), bài “Giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa” của tác giả Huỳnh Văn Thế (từ tr 167 đến tr 174) [117]
Trang 271.3 Kết quả nghiên cứu và một số vấn đề cần giải quyết
Các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước ít nhiều đều có đề cập tới giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa Xét trên ba tiêu chí: tư liệu, phương pháp tiếp cận, nhận thức lịch sử, các công trình nghiên cứu này đã giải quyết được nhiều vấn đề nhưng vẫn còn một số vấn đề chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa được thật sự thấu đáo
Về mặt tư liệu: Các nghiên cứu trên cung cấp một số số liệu, các kế hoạch cải
tổ giáo dục đại học miền Nam Việt Nam của các phái đoàn cố vấn đại học đến từ Hoa Kỳ cũng như một số nhà giáo dục, một số giáo sư giảng dạy trong các viện đại học ở miền Nam Việt Nam… Đồng thời một số nghiên cứu của các tổ chức như UNESCO, các tổ chức viện trợ cho giáo dục Việt Nam Cộng hòa cũng cung cấp các
số liệu thống kê khá chi tiết về hiện trạng của giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa Song các tư liệu gốc liên quan đến giáo dục đại học của chính quyền Việt Nam Cộng hòa hầu như chưa được khai thác triệt để và hiệu quả Sự hệ thống hóa đi kèm với so sánh, phê phán sử liệu trong và ngoài nước về giáo dục đại học chưa được thực hiện một cách bài bản
Về mặt phương pháp tiếp cận: Các công trình về giáo dục đại học miền Nam
Việt Nam chủ yếu là các công trình tiếp cận ở khía cạnh giáo dục học, triết lý giáo dục, lý thuyết mô hình giáo dục… Trong các nghiên cứu đó có đề cập tới lịch sử hình thành, quá trình phát triển của giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa nhưng không phải là hướng tiếp cận chính Các công trình nghiên cứu lịch sử về giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa có tính hệ thống và có sự liên ngành giữa lịch sử và giáo dục học còn thiếu vắng
Về nhận thức lịch sử: Nhìn tổng thể, có thể thấy rằng các công trình khảo
cứu đã được xuất bản ở trong cũng như ngoài nước ít nhiều đã đề cập đến giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam (1956 - 1975) ở nhiều góc độ khác nhau như tìm hiểu về lịch sử hình thành, các hoạt động chính và một số đóng góp của các Viện đại học ở miền Nam hoặc mô tả khái quát về các viện đại học Song trong các vấn
đề nhận thức lịch sử về giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa của các công trình nghiên cứu từ trước đến nay vẫn còn một số vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo
Các công trình chủ yếu đánh giá từng mặt, từng khía cạnh của giáo dục đại học
mà chưa đi sâu nghiên cứu về mô hình tổ chức, hoạt động cũng như vai trò của các viện đại học ở miền Nam Việt Nam một cách có hệ thống Còn lại nhiều vấn đề về tổ chức, phương thức hoạt động cũng như đặc trưng của giáo dục đại học chưa được nghiên cứu, phân tích sâu, có tính hệ thống dựa trên những nghiên cứu đầy đủ, khách quan
Trang 2820
Các nghiên cứu trước đây đều chưa đi sâu vào phân tích sự chuyển hướng của giáo dục đại học miền Nam Việt Nam từ ảnh hưởng Pháp sang ảnh hưởng Mỹ Trong một số công trình đã nhận ra được xu thế vận động này của giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa nhưng hầu như chưa có công trình nào làm rõ được các biểu hiện của
sự biến chuyển này một cách cụ thể cũng như đánh giá các mức độ, hệ quả của sự chuyển hướng nêu trên
Các xu hướng nghiên cứu trong các công trình đi trước ít nhiều đều chưa đạt được tính khách quan trong các nhận định, đánh giá về giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa Có xu hướng quá chú trọng vào việc đánh giá giáo dục gắn liền với chính trị một cách hơi gay gắt quá đà, nặng phê bình quy kết Từ những phê bình có phần thái quá đó dẫn tới xu hướng muốn phủ nhận sạch trơn hoàn toàn trong khi xét một cách khách quan nền giáo dục cũng để lại những kinh nghiệm, những giá trị hạt nhân hợp lý Xu hướng khác lại nặng về ca ngợi thái quá những ưu điểm mà không đặt nền giáo dục này trong chỉnh thể của bối cảnh lịch sử, của những hạn chế, tồn tại
mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa không khắc phục được trên nền tảng kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của miền Nam Việt Nam từ năm 1956 đến năm 1975
Trên cơ sở những phân tích về kết quả đạt được cũng như những vấn đề còn chưa được giải quyết của các công trình nghiên cứu về giáo dục đại học Việt Nam Cộng hòa từ trước đến nay, tác giả luận án nhận thấy rằng việc tiếp tục tìm hiểu những vấn đề còn chưa đủ, chưa đúng, chưa sâu về giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam (1956 - 1975) là việc làm cần thiết Trong phạm vi luận án của mình, tác giả tập trung vào giải quyết các vấn đề sau:
+ Về mặt tư liệu: Tập trung khai thác sâu tư liệu gốc liên quan đến giáo dục nói
chung và giáo dục đại học nói riêng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa hiện được lưu trữ chủ yếu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và một số thư viện, các trường đại học ở miền Nam Việt Nam… cùng với các nguồn tư liệu khác liên quan như báo chí, chỉ nam đại học… Luận án bổ sung thêm nghiên cứu các tư liệu nước ngoài và các công trình xuất bản ở hải ngoại để có cái nhìn đa diện, khách quan về vấn đề nghiên cứu
+ Về phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở nền tảng của phương pháp nghiên
cứu lịch sử kết hợp với một số lý thuyết về giáo dục học đại học… cùng các phương pháp bổ trợ để giải quyết những vấn đề đặt ra của đề tài luận án
+ Về nhận thức lịch sử: Tập trung khắc họa sự vận động của mô hình giáo dục
đại học ở miền Nam Việt Nam trên các phương diện như cấu trúc hệ thống, mục tiêu chương trình, phương pháp đào tạo, đội ngũ người dạy và học, cơ sở vật chất dạy và học; tổ chức quản lý đại học giữa hai phân đoạn lịch sử: từ ảnh hưởng của mô hình đại học Pháp (1956 - 1964) sang tiếp cận mô hình đại học Mỹ (1965 - 1975) Đồng thời đánh giá mức độ, hệ quả của sự chuyển biến đó trong diễn trình của giáo dục đại học miền Nam Việt Nam Đánh giá khách quan và khoa học vai trò của giáo dục đại học miền Nam Việt Nam trong bối cảnh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa nói riêng và xã hội miền Nam Việt Nam nói chung
Trang 2921
Chương 2: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH LỊCH SỬ MIỀN NAM
TỪ NĂM 1956 ĐẾN NĂM 1964
2.1 Bối cảnh lịch sử và những nhân tố tác động tới giáo dục đại học
2.1.1 Nền tảng giáo dục đại học trước năm 1956
Đại học Đông Dương là mẫu hình đại học hiện đại phương Tây đầu tiên được người Pháp thành lập tại Việt Nam trong thời thuộc địa Đại học Đông Dương thành lập ngày 16/5/1906 không chỉ là cái mốc đánh dấu sự ra đời một trường đại học mà còn là sự khởi đầu của mô hình giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam1
Ngày 16/05/1906, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương là Paul Beau đã ký Nghị định số 1514a chính thức khai sinh ra trường đại học Đông Dương Điều 1 của Nghị định này ghi rõ: "Nay thành lập ở Đông Dương, với tên gọi trường Đại học (Université) một tập hợp các khoá đào tạo bậc đại học cho các sinh viên xứ thuộc địa và các nước láng giềng" [174, tr 1] Sứ mệnh của Đại học Đông Dương là: "Cơ sở đào tạo này có nhiệm vụ phổ biến ở Viễn Đông, chủ yếu là thông qua tiếng Pháp, những kiến thức
và phương pháp châu Âu” [174, tr 1] Về cơ cấu tổ chức, Đại học Đông Dương gồm
có 5 trường thành viên là trường Luật và Hành chính, trường Khoa học (gồm các ngành Toán, Vật lý, Hóa học và Sinh vật), trường Y khoa, trường Xây dựng và trường Văn khoa2 Khóa đầu tiên với 193 sinh viên bắt đầu năm học mới vào tháng 10/1907 Tuy nhiên, sau khi năm học đầu tiên này kết thúc, đại học Đông Dương đã đột ngột đóng cửa
Mười năm sau, vào năm 1917, Đại học Đông Dương mở cửa trở lại vào dịp Albert Sarraut - Toàn quyền thứ 23 của Pháp ở Đông Dương lên nhậm chức Toàn quyền lần thứ hai3
Ngày 08/07/1917, Nha Cao đẳng (Direction de l’Enseignement
Supérieur) thành lập4 Nha Cao đẳng có chức năng thiết lập, tổ chức các trường đại học và đề xuất chương trình cho các trường cao đẳng và đại học ở Đông Dương Tất
cả các trường cao đẳng đều quy tụ trong Đại học Đông Dương5, đặt tại Hà Nội Tại thời điểm mở cửa trở lại lần thứ hai, Đại học Đông Dương vẫn chưa phải là một đại học được công nhận ngang bằng với các đại học bên Pháp vì đây chỉ là nơi đào tạo
1
Trong lịch sử đại học truyền thống Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Quốc Tử Giám là mốc khởi đầu của giáo dục đai học ở Việt Nam, còn Đại học Đông Dương (1906) là sự mở đầu cho mẫu hình đại học phương Tây hiện đại
Trang 3022
các “kỹ thuật viên lành nghề” chứ chưa phải là “một tòa lâu đài hàn lâm” đào tạo nên các học giả” [152, tr.145, 152] Điểm yếu của Đại học Đông Dương chính là ở việc thiếu nguồn nhân lực, giáo viên cũng như sinh viên, đồng thời kinh phí cho hoạt động của trường cũng còn nhiều hạn chế Năm 1941 mặc dù Chiến tranh thế giới thứ hai gây gián đoạn với Pháp, Đại học Đông Dương mở thêm trường Kiến trúc Đại học Đông Dương sau khi được tái lập hoạt động cho đến tận năm 1945 và là cơ sở giáo dục bậc đại học duy nhất ở Đông Dương Năm học cuối cùng trước khi chính quyền Pháp bị Nhật đảo chính (ngày 9/3/1945), Đại học Đông Dương có 1575 sinh viên ghi danh với dân số lúc đó khoảng 2,5 triệu người, đại đa số là người Việt, nhưng cũng có 18 người Khmer, 12 người Lào, 8 người Hoa [250, tr 235]
Năm 1946, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược và tạm chiếm một số vùng Việt Nam Các trường đại học ở Hà Nội1, một phần sơ tán theo kháng chiến, phần còn lại ở Hà Nội, vì tình hình chiến sự nên đến năm 1947 mới dạy và học lại Do tình hình hình chính trị nên thực dân Pháp bỏ tên gọi Đại học Đông Dương, khai giảng lại các trường Y Dược, Luật, Khoa học và mở chi nhánh 3 trường đó ở Sài Gòn Ngày 8/3/1949, Thủ tướng Pháp là Vicent Auriol đã ký với Quốc trưởng Bảo Đại bản Hiệp ước Elyseé (tiếng Pháp là Accords de l'Elysée) trong đó Pháp thừa nhận nền độc lập của chính quyền Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại lập ra Trong bản hiệp ước này, các điều khoản về giáo dục vẫn thể hiện rõ những ràng buộc đối với chính quyền Pháp đối với Việt Nam như sau:
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt Quốc gia Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường đại học của mình; cũng vậy, Quốc gia Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục duy trì tại Việt Nam các trường đại học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp [173, tr 89]
Sau đó, chính quyền Pháp lại ký với Bảo Đại một bản Hiệp ước Văn hóa vào ngày 30/12/1949 và Bản bổ sung (các điều khoản chuyển tiếp) ngày 08/01/1951 Các Hiệp ước văn hóa quy định cụ thể hóa những điều khoản ràng buộc giáo dục đại học với chính quyền Pháp Trong ở phần 3 của Bản bổ sung năm 1951, Điều 21 ghi:
Vì những khó khăn thực tiễn hiện tại và nhất là để đào tạo một nhân viên giáo dục Việt Nam thích hợp nên hai bên nhất trí thiết lập một trường đại học trang bị một quy chế đặc biệt xác định ở những điều sau Trường đại học này bố trí ở Hà Nội và được đặt tên là Viện Đại học hỗn hợp Việt Pháp” (Unversité mixte Franco - Vietnamienne) [263]
1
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Trường Đại học Quốc gia Việt Nam trên cơ sở kế thừa Viện Đại học Đông Dương Ngày 15/11/1945, trường Đại học Quốc gia Việt Nam dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa đã long trọng tổ chức lễ khai giảng năm học đầu tiên tại Giảng đường lớn của Toà nhà chính của Đại học Đông Dương cũ, tại số 19 Lê Thánh Tông
Trang 3123
Đại học Đông Dương trở thành “Viện Đại học hỗn hợp Việt - Pháp” đứng đầu
là một Hiệu trưởng người Pháp và được bổ nhiệm bởi Tổng thống Pháp và với tư cách được biệt phái đến Chính phủ Quốc gia Việt Nam, trong một nhiệm kỳ là 3 năm Chính phủ Quốc gia Việt Nam quyết định và bổ nhiệm một Hiệu phó là người Việt trong số những giáo sư của trường (Điều 24) [263] Viện đại học này bao gồm một phân khoa Luật, một phân khoa Y Dược, một phân khoa Khoa học, một lớp dự
bị đại học của văn khoa Pháp Trong trường hợp cần thiết, và với sự đồng ý của chính phủ Việt Nam, mỗi phân khoa sẽ có thể mở thêm cơ sở phụ ở Sài Gòn (Điều 26) [263] Tiếng Pháp vẫn là ngôn ngữ chính dùng trong giảng dạy, ngoại trừ một số môn học về văn hóa Việt Nam Chương trình giảng dạy vẫn mô phỏng chương trình giáo dục đại học Pháp và chỉ tuyển chọn giảng viên đại học là những người có bằng cấp Pháp
Về mặt pháp lý, những thỏa thuận đó đảm bảo cho quyền của người Pháp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam Trong thực tế, đại bộ phận trí thức miền Nam Việt Nam đều được đào tạo từ Pháp hoặc tại Đại học Đông Dương - cái nôi của giáo dục đại học Pháp, nên họ chịu ảnh hưởng của giáo dục Pháp Bộ phận trí thức này trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1964 có tầm ảnh hưởng lớn đối với giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam Chính bởi hai yếu tố đó dẫn tới thực tế là mặc dù người Pháp đã chấm dứt ràng buộc về mặt hành chính - quân sự với Đông Dương từ sau Hiệp định Genève và rút quân về nước nhưng trong lĩnh vực giáo dục đại học, ảnh hưởng của giáo dục Pháp vẫn là ảnh hưởng nổi trội và chi phối sâu đậm Sau Hiệp định Genève (1954), ở Việt Nam đã diễn ra một cuộc di cư của gần
1 triệu người, chủ yếu là đồng bào Công giáo, từ miền Bắc vào miền Nam Trong cuộc di cư đó, các cơ sở giáo dục đại học cùng bộ phận lớn giảng viên và sinh viên Viện Đại học hỗn hợp Việt - Pháp ở Hà Nội đã di chuyển vào miền Nam Việt Nam Chính quyền Quốc gia Việt Nam1
lúc bấy giờ đã chủ trương “huy động các phương tiện cấp bách để di tản ưu tiên các nhà chuyên môn, đặc biệt là các thầy thuốc, các kỹ
sư, các giáo sư” [65, tr 145] Đích thân Ngô Đình Diệm, lúc bấy giờ trong cương vị Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã từ Sài Gòn ra Hà Nội tiếp xúc với giới sinh viên Hà Nội trong một cuộc họp ở một biệt thự tại phố Hàm Long gồm một số trí thức và sinh viên các trường đại học ở Hà Nội để bàn về việc tổ chức cuộc di tản này Chính từ buổi họp này đã đưa đến quyết định đưa khoảng 1.200 sinh viên từ
1
Quốc gia Việt Nam (tiếng Pháp: État du Viêt Nam) là một chính thể thuộc Liên bang Đông
Dương thuộc Liên hiệp Pháp, hình thành từ Hiệp ước Elysée (8/3/1949) ký giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại tuyên bố xác nhận "nền độc lập của Việt Nam", chính thức thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, tồn tại từ giữa năm 1948 đến năm 1955 Về mặt hình thức, nhà nước quốc gia này gần như là một quốc gia quân chủ lập hiến (nhưng chưa có Hiến pháp và Quốc hội) với Quốc trưởng là cựu hoàng Bảo Đại (tương tự nhà nước Lào và Campuchia được công nhận ngay sau đó), trong khi đó, Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát tài chính, thương mại và chính sách đối ngoại và quân sự của Quốc gia Việt Nam
Trang 3224
miền Bắc vào Sài Gòn Kết quả là trong số các phương tiện chuyên chở gần 1 triệu người di cư miền Bắc, Bộ Tư lệnh Pháp đã dành 12 chuyến bay DC4 vào ngày 12 và 13/8/1954 để chuyên chở giáo viên và sinh viên Đại học Hà Nội vào Sài Gòn Việc
di chuyển phần lớn các trí thức, giảng viên và sinh viên, cơ sở của các viện đại học ở
Hà Nội vào miền Nam đã tạo ra nhiều tác động đối với sự hình thành giáo dục đại học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa sau này Phần lớn các nhân viên hành chính và giảng viên cũng như sinh viên từ đại học Hà Nội di chuyển vào miền Nam là lực lượng nòng cốt giúp chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái cơ cấu, duy trì và phát triển
hệ thống giáo dục đại học
Tháng 11/1954, trung tâm đại học ở Hà Nội chính thức di chuyển vào miền Nam đã chính thức sáp nhập với trung tâm ở Sài Gòn Ban đầu gồm có các trường: Đại học Luật khoa, Đại học hỗn hợp Y - Dược khoa, Đại học Khoa học, Cao đẳng Kiến trúc, Ban Dự bị Văn khoa
Ngày 11/5/1955, Viện Đại học hỗn hợp Việt - Pháp được đổi tên là Viện Đại học Quốc gia Việt Nam và được người Pháp chuyển giao cho chính quyền Quốc gia Việt Nam trong một buổi lễ khá long trọng tại trụ sở của Viện Đại học hỗn hợp ở số
28, đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn1 Kết thúc buổi lễ ông Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và ông Wintrebert ký bản văn kiện chuyển giao [116, tr 394]
Ngày 11/5/1955 trở thành mốc đánh dấu ngày thành lập Viện Đại học Quốc gia Việt Nam của chính phủ Quốc gia Việt Nam2, được đặt dưới sự điều hành của một Viện trưởng người Việt Nam Trong buổi lễ chuyển giao này, ông Nguyễn Dương Đôn - Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã đọc diễn văn, trong đó nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiện này đánh dấu “Viện đại học hỗn hợp đã chuyển thành Viện Đại học Quốc gia Việt Nam, đặt dưới quyền điều khiển độc nhất của chính phủ Việt Nam, cho nên sự chuyển giao ngày hôm nay là một việc quan trọng” [126, tr 391] Ngoài ra, ông còn nhấn mạnh “sự chuyển giao ngày hôm nay không có ý nghĩa là thời kỳ hợp tác về đại học đã chấm dứt Trái lại, đây là buổi bình minh của một thời kỳ hợp tác đẹp đẽ về văn hóa giữa hai nước Việt Nam, nước Pháp và tất cả các dân tộc tự do” [116, tr 393]
Đến năm 1956, khi chính thể mới Việt Nam Cộng hòa được tuyên bố thành lập, Viện Đại học Quốc gia vẫn giữ nguyên tên gọi và là Viện Đại học Quốc gia duy
1
Tới dự lễ có Thủ tướng Ngô Đình Diệm, Đại tướng Pháp - Paul Ely, Đại sứ Anh - ông Stephenson, Sứ thần toàn quyền Italia - ông Vitale Giovanni Gallina, quyền Tùy viên ngoại giao Hoa Kỳ - ông A Kidder, ông Nguyễn Dương Đôn - Tổng trưởng Giáo dục chính phủ Quốc gia Việt Nam, ông Vũ Văn Mẫu - Ngoại trưởng Quốc gia Việt Nam, ông Vũ Quốc Thông - Tổng trưởng Bộ Xã hội Quốc gia, ông Dương Tấn Tài và
Vũ Quốc Thúc - Toàn quyền và phó Toàn quyền Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, ông Wintrebert và ông Lassus - Viện trưởng trường Đại học hỗn hợp, ông Nguyễn Quang Trình - Viện trưởng trường Đại học Quốc gia, các vị Khoa trưởng các trường Đại học và một số các giáo sư đại học và trung học
2
Phân biệt khác với trường Đại học Quốc gia Việt Nam do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập cũng trên cơ sở Đại học Đông Dương ở miền Bắc năm 1945
Trang 3325
nhất ở miền Nam lúc bấy giờ Giáo dục đại học từ đó thuộc về quyền quản lý, tổ chức, điều hành của chính quyền Việt Nam Cộng hòa
2.1.2 Tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam từ năm 1956 đến năm 1964
Sau Hiệp định Genève (7/1954), ở miền Nam Việt Nam, Mỹ tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Genève, hất cẳng Pháp, xây dựng chế độ do Ngô Đình Diệm đứng đầu Ngày 23/10/1954, Tổng thống Mỹ - Dwight David Eisenhower gửi cho Ngô Đình Diệm một bức thư đặt mối quan hệ viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm Từ
đó Mỹ giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc thiết lập và củng cố chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam Mỹ cho rằng, với Hiệp định Genève, Pháp không những không thực hiện được “chính sách ngăn chặn cộng sản” của Hoa Kỳ
mà còn giao miền Bắc cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1954) và sẽ giao nốt miền Nam hai năm sau đó (1956) Vì vậy, Hoa Kỳ quyết định loại bỏ Pháp khỏi miền Nam, đồng thời can thiệp trực tiếp hơn để ngăn chặn việc thi hành Hiệp định Genève (đặc biệt là không để cho tổng tuyển cử diễn ra), thiết lập ở miền Nam một chế độ thân Mỹ
Được sự giúp đỡ của Mỹ, Ngô Đình Diệm loại trừ các thế lực thân Pháp, tổ chức “trưng cầu dân ý”, phế truất Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam là Bảo Đại và lên làm Tổng thống (10/1955), bầu ra Quốc hội lập hiến (3/1956) và ban hành Hiến pháp của chính thể mới (26/10/1956) Chính thể mới này được xây dựng theo mô hình Cộng hòa Tổng thống chế, với bản Hiến pháp mới năm 1956 [76] quy định sự phân nhiệm (ở Điều 3 và Điều 4) giữa các quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp Từ đấy, tên gọi Quốc gia Việt Nam không còn nữa mà thay vào đó là chính thể Việt Nam Cộng hòa theo thể chế chính trị đa đảng, kinh tế phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, được Hoa Kỳ giúp đỡ, bảo vệ để chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc
Để tạo hậu thuẫn cho chính quyền, Ngô Đình Diệm còn lập ra một hệ thống đoàn thể chính trị xung quanh mình gồm Đảng Cần lao Nhân vị, Phong trào cách mạng quốc gia, Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ liên đới… từ trung ương xuống địa phương nhằm tranh thủ sự ủng hộ của giai cấp tư sản, địa chủ, những người theo Thiên Chúa giáo làm chỗ dựa cho mình Để xây dựng chế độ ở miền Nam theo mô hình của Mỹ, Cơ quan hợp tác quốc tế của Hoa Kỳ (viết tắt tiếng Anh là USAID hay
là AID) thay mặt Bộ Ngoại giao Mỹ, ký hợp đồng thuê một số giáo sư của trường đại học tiểu bang Michigan (Michigan State University) sang làm cố vấn cho Tổng thống Ngô Đình Diệm về nhiều mặt: hành chánh, an ninh, kinh tế, xã hội Phái bộ cố vấn cho Việt Nam của đại học bang Michigan (Michigan State University Vietnam Advisory Group) do tiến sĩ Wesley R Fishel, trợ lý giáo sư môn chính trị học của trường, một nhân viên cao cấp của CIA, từng cố vấn cho Ngô Đình Diệm trong thời gian ở Mỹ, đứng đầu Trong 7 năm hoạt động ở Sài Gòn (từ 20/5/1955 đến 30/6/1962), phái đoàn đại học Michigan cố vấn cho Ngô Đình Diệm một số việc
Trang 3426
quan trọng như biên soạn Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa1 Theo Hiến pháp (được ban hành ngày 26/10/1956), Việt Nam Cộng hòa áp dụng chế độ Tổng thống theo kiểu Mỹ, trong đó Tổng thống có quyền hạn rộng rãi, đứng đầu ngành hành pháp, điều khiển trực tiếp chính phủ (không có Thủ tướng) kiêm Tổng tư lệnh quân đội Để tập trung quyền lực vào tay Tổng thống, các cố vấn của đại học bang Michigan tư vấn bỏ chức Thủ hiến (đứng đầu các miền) như dưới thời Bảo Đại, thay vào đó chỉ
có chức đại biểu chính phủ với quyền hạn hạn chế Phái đoàn Michigan nhấn mạnh tầm quan trọng phải đào tạo đội ngũ công chức (mới) theo kiểu Hoa Kỳ và đào tạo lại đội ngũ công chức (cũ) từng làm việc cho Pháp trước năm 1954
Trải qua một số năm đầu ổn định, cho tới đầu những năm 1960, chính quyền
Đệ nhất Cộng hòa của Ngô Đình Diệm lâm vào một số khủng hoảng về kinh tế, chính trị Để giải quyết khủng hoảng đó, năm 1963, một số tướng lĩnh Sài Gòn được
sự giúp đỡ của Mỹ đã làm cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 lật đổ Ngô Đình Diệm, kết thúc thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, một Hội đồng Quân nhân Cách mạng gồm các tướng lĩnh tham gia cuộc đảo chính được thành lập do Dương Văn Minh làm Chủ tịch và chỉ định Nguyễn Ngọc Thơ - nguyên Phó Tổng thống thời Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng để tiến hành thành lập Chính phủ lâm thời vào ngày 4/11/1963 và Hội đồng này chỉ tồn tại được 3 tháng Đến ngày 30/4/1964, một cuộc đảo chính lại nổ ra, chính quyền về tay tướng Nguyễn Khánh và Nguyễn Tôn Hoàn, một Hội đồng quân đội mới do tướng Nguyễn Khánh đứng đầu được thành lập Ngày 8/2/1964, Nguyễn Khánh lên làm Thủ tướng và đứng
ra thành lập Chính phủ, ban hành “Hiến chương Vũng Tàu” (16/8/1964) Trong chính phủ mới đó, Dương Văn Minh được giao vai trò là Quốc trưởng để triệu tập
“Thượng Hội đồng Quốc gia” do Phan Khắc Sửu làm Chủ tịch Nhưng sau đó, Thượng Hội đồng Quốc gia không cử Dương Văn Minh mà cử Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và chỉ định cho Trần Văn Hương làm Thủ tướng, tuy nhiên quyền hành vẫn nằm trong tay Nguyễn Khánh Ngày 20/12/1964 do phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân phản đối Nguyễn Khánh diễn ra rất gay gắt nên Nguyễn Khánh giải tán Thượng Hội đồng Quốc gia
Tất cả các sự kiện trên phản ánh sự khủng hoảng lãnh đạo diễn ra dẫn đến sự thiếu ổn định về chính trị ở miền Nam Việt Nam từ sau cuộc đảo chính lật độ chính quyền Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963 Nhiều nhân vật ở miền Nam Việt Nam như
“Nguyễn Ngọc Thơ, Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát… tất cả đều lần lượt có cơ hội cầm đầu guồng máy cai trị quốc gia nhưng không ai giải quyết được mâu thuẫn nội bộ của
1
Phái đoàn cố vấn đại học Michigan có hai chuyên gia về Hiến pháp là tiến sĩ J.A.C Grant (Mỹ) và luật gia Juan C Orendain (Philippines)
Trang 3527
miền Nam Việt Nam…” [193, tr 6] Sự bất ổn về mặt chính trị là một nhân tố ảnh hưởng tới giáo dục, đặc biệt là công tác điều hành, quản lý Bộ máy lãnh đạo giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị xáo trộn liên tục Mỗi Bộ trưởng Giáo dục mới lên lại đưa ra chủ trương mới và gần như những chủ trương mới của mỗi Bộ trưởng lại không có đủ thời gian và phương tiện để hiện thực hóa
2.1.3 Chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa
Trong giai đoạn đầu của Đệ nhất Cộng hòa, chính quyền Ngô Đình Diệm có
đề ra một số chương trình phát triển kinh tế và đạt được một số kết quả Kinh tế Việt Nam Cộng hòa phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa và chủ yếu dựa vào vốn viện trợ của Mỹ Nhà nghiên cứu Đặng Phong trong công trình nghiên cứu về viện trợ Mỹ
ở miền Nam Việt Nam nhận định: Mỹ “đã nuôi cả xã hội và nền kinh tế (Việt Nam Cộng hòa) như nuôi một đứa trẻ bằng bầu sữa của viện trợ” [138, tr 38] Ngay từ cuối năm 1950, Mỹ đã thiết lập tại miền Nam Việt Nam đoàn cố vấn quân sự được gọi là Phái bộ viện trợ và cố vấn quân sự Mỹ - United States Military Assistance Advisory Group (viết tắt là MAAG) Bên cạnh phái bộ MAAG, Mỹ còn lập tại miền Nam cơ quan viện trợ kinh tế - United States Operations Mission (viết tắt là USOM) Đến năm 1961 các tổ chức viện trợ trên được đổi thành Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ - United States Agency for International Development (viết tắt là USAID) [68, tr 74] Từ năm 1954 trở đi viện trợ Mỹ dần thay thế Pháp về tất cả các phương diện Bên cạnh số ít người có quan hệ với Mỹ và làm việc thân cận trọng chính quyền Việt Nam Cộng hòa được hưởng lợi từ viện trợ, đại bộ phận công nhân và nhân dân lao động có cuộc sống khó khăn do lương thấp và lạm phát cao Tình hình kinh tế đó tác động sâu xa tới giáo dục, đặc biệt là đời sống giáo chức Kể từ sau đảo chính 11/1963, chiến sự leo thang, nội bộ chính trị lộn xộn, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đời sống vật chất, tinh thần của giáo chức có xu hướng ngày càng sa sút
Về mặt văn hóa, chủ nghĩa nhân vị được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thời Đệ nhất đưa ra làm cơ sở tư tưởng văn hóa chính trị Ngày 31/12/1957, Ngô Đình Diệm ban hành văn bản số 172/TTP/VP buộc các công chức trong chính quyền
và quân nhân từ cấp bộ trưởng trở xuống đều phải lần lượt đi thụ huấn lớp nhân vị trong đó có cả giáo chức đại học Bằng cách này, Ngô Đình Diệm có một đội ngũ công chức phần lớn là những người cần lao công giáo và cần lao nhân vị trở thành cái “mốt chính trị” dưới chế độ Ngô Đình Diệm Theo tài liệu hiện có về trung tâm huấn luyện nhân vị của Ngô Đình Thục tại Vĩnh Long, các khóa huấn luyện nhân vị được tổ chức thành hai chương trình: trung cấp và sơ cấp Mỗi chương trình lại tổ chức các khóa cho nam và nữ công chức riêng Tùy theo năm, mỗi khóa có từ 100 đến 300 khóa sinh Và đến năm 1963, trung tâm huấn luyện nhân vị đã tổ chức được
từ 41 đến 43 khóa cho mỗi chương trình Như vậy, tính từ năm 1956 đến năm 1963, trung tâm này đã đào tạo cho chính quyền Ngô Đình Diệm khoảng 25.000 cán bộ,
Trang 3628
viên chức nhân vị phục vụ cho chế độ Chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập nhiều
tổ chức chính trị, văn hóa, xã hội để tác động đến văn hóa giáo dục như Liên đoàn học sinh hỗ trợ tuyên truyền, Hội thanh niên thiện chí Việt Nam, Phong trào du ca, Tổng hội sinh viên học sinh
Từ năm 1956 đến năm 1964, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã từng bước định hình những quan điểm, chính sách xây dựng giáo dục Trong Điều 26, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1956 ghi:
Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con
em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định Văn bằng do những trường ấy cấp phát
có thể được Quốc gia thừa nhận [76]
Trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1964 có hai kỳ đại hội giáo dục quốc gia của Việt Nam Cộng hòa bàn về cải tổ giáo dục lần 1 năm 1958, và lần 2 từ ngày
10 đến ngày 22/10/1964 đều tổ chức tại Sài Gòn Đại hội giáo dục quốc gia lần 1 năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào, nhân sĩ, học giả, đại diện quân đội, chính quyền và các
tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… đã chính thức đưa ra ba nguyên tắc: “nhân bản, dân tộc, khai phóng” Đại hội giáo dục quốc gia của Việt Nam Cộng hòa lần 2 năm 1964 tiếp tục tái xác nhận ba nguyên tắc định hướng căn bản nhưng sửa lại thành: “nhân bản, dân tộc, khoa học”
Hệ thống giáo dục dưới thời Việt Nam Cộng hòa từ năm 1956 đến năm 1964 chia thành ba bậc: Bậc tiểu học: học trình 5 năm (từ lớp Năm đến lớp Nhất) Bậc trung học: học trình 7 năm, chia thành hai cấp: Trung học đệ nhất cấp (học trình 4 năm, từ lớp Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ đến Đệ Tứ); Trung học đệ nhị cấp (học trình 3 năm, từ lớp Đệ Tam, Đệ Nhị lên đến Đệ Nhất) Bậc đại học (học trình từ 5 - 7 năm)
và trường cao đẳng (trên 2 năm) và chuyên nghiệp
Dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa (1956 - 1963), cơ quan quản lý giáo dục đứng đầu là Bộ Quốc gia giáo dục có Tổng Nha Tiểu học và Bình dân Giáo dục phụ trách giáo dục tiểu học và trung học Còn phụ trách giáo dục đại học có Phòng Đại học (trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục)
Trong thời gian này, viện trợ giáo dục của Hoa Kỳ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa thông qua cơ quan viện trợ cơ bản của Mỹ tại miền Nam Việt Nam là USAID có 6 khối: khối quản trị tài chính, khối yểm trợ thương mại, khối phát triển địa phương, khối chính sách kinh tế và chương trình, khối hành chánh
Trang 3729
và khối phương tiện hậu cần Đứng đầu cơ quan USAID là 1 giám đốc, 1 phó giám đốc và 6 phụ tá giám đốc [68, tr 75] Khối phát triển địa phương gồm 6 phân bộ: phân bộ giáo dục, phân bộ lao động, phân bộ phát triển làng xã, phân bộ
tổ chức hành chính, phân bộ y tế công cộng và phân bộ sinh hoạt tuổi trẻ Phân bộ giáo dục làm việc thẳng với Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa để thực thi những chương trình do tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đề ra và được sự đồng ý của Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ ở Washington Chức năng, nhiệm vụ của phân bộ giáo dục thuộc USAID ở Sài Gòn là:
1 Duy trì nền kinh tế khả sinh: người ta thường công nhận rằng khi trình
độ giáo dục của một quốc gia tăng tiến thì mức độ kinh tế của quốc gia ấy cũng tăng tiến theo; 2 Bình định: Cơ quan giáo dục đóng góp trực tiếp vào công cuộc bình định qua các chương trình giáo dục tiểu học và giáo dục tráng niên; 3 Xây dựng một quốc gia: Cơ quan giáo dục đóng góp vào mục tiêu xây dựng quốc gia bằng cách trong việc phác họa kế hoạch
và đem ra thực hiện một hệ thống giáo dục bền vững và có thể tồn tại một mình được…[68, tr 75]
Để thực hiện những kế hoạch do Mỹ vạch ra, cơ quan USAID dựa vào các tổ chức chuyên môn về giáo dục, khoa học và văn hóa để hoạt động Trong đó, có hai tổ chức gắn bó chặt chẽ nhất với nền giáo dục chế độ Việt Nam Cộng hòa là Tổ chức
Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam - Southeast Asian Ministers of Education Organization (viết tắt là SEAMEO); Tổ chức canh tân và kỹ thuật giáo dục - Innovation Technology (viết tắt là INNOTECH) Ban đầu, thông qua trung tâm này,
Mỹ đã điều khiển một số mặt hoạt động giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa như in sách giáo khoa, nghiên cứu kỹ thuật truyền thanh và truyền hình trong giáo dục… Về sau, Mỹ sử dụng trung tâm này chi phối sâu hơn vào các hoạt động cụ thể của giáo dục ở miền Nam Ngoài viện trợ trực tiếp thông qua tổ chức USAID,
Mỹ còn huy động viện trợ tư nhân hay viện trợ đa phương cho những đơn vị khác nhau của hệ thống giáo dục Sài Gòn như: quỹ tài trợ Châu Á (Asia Foundation), quỹ tài trợ Ford Foundation, Cơ quan cứu trợ Công giáo Mỹ…[74, tr 764] Về ngân sách viện trợ giáo dục, từ năm 1954 đến năm 1964, đều đặn hàng năm viện trợ Mỹ dành cho giáo dục Việt Nam Cộng hòa từ khoảng 1 đến hơn 2 triệu đôla Mỹ Viện trợ Mỹ
có tính cách vụn vặt và tùy thuộc vào sự cắt giảm hàng năm của Quốc hội Mỹ1
Chương trình viện trợ năm 1957 gồm 93 dự án khác nhau, từ dự án cung cấp sách giáo khoa cho các trường tiểu học cho đến dự án cải tổ Phủ Tổng thống [87, tr 93] Tính cách vụn vặt này đã hạn chế sự thực hiện các kế hoạch phát triển giáo dục dài hạn của miền Nam Việt Nam
1
“không có một đồng Mỹ kim viện trợ nào do Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sử dụng mà không có sự chấp thuận (hay cho phép) của cơ quan Hoa Kỳ” [155, tr 12]
Trang 3830
Tóm lại, để bắt đầu xây dựng “quốc gia” mạnh của “thế giới tự do”, được sự hậu thuẫn và viện trợ của Mỹ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1964 đã ra sức củng cố sức mạnh quân sự và hệ thống chính trị, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái thiết kinh tế, đầu tư cho văn hóa, giáo dục nhằm tạo nên
bộ mặt mới cho chế độ tại miền Nam Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học trở thành một trong những chính sách quan trọng mà chính quyền phải chú ý nhằm giải quyết vấn đề thiếu chuyên gia, đào tạo một đội ngũ công chức phục vụ chế độ
2.2 Giáo dục đại học miền Nam duy trì ảnh hưởng của mô hình đại học Pháp 2.2.1 Cấu trúc hệ thống giáo dục đại học
Về mặt cấu trúc, hệ thống của giáo dục đại học miền Nam Việt Nam dựa theo
mô hình kiểu Pháp Các trường đại học thường được tổ chức giống nhau và gồm các phân khoa như nhau; mỗi trường đại học mở một số phân khoa và dạy đủ các môn Nguồn gốc sâu xa của lối cấu trúc đại học đó chính là ảnh hưởng từ phong trào
“Bách khoa toàn thư Pháp” trong Cách mạng Pháp năm 1789 với quan niệm đại học
“là một học hội, bao gồm toàn thể những khoa học lý thuyết và thực hành, tất cả phạm vi tri thức, tất cả những đề tài học hỏi khảo cứu và giáo khoa để đi đến một hệ thống nhất quán của sự hiểu biết nhân loại” [171, tr 14] Nhận định về lối cấu trúc này, một số nhà giáo dục ở miền Nam Việt Nam cho rằng “cái mộng bách khoa toàn thư ấy khi thực hành đã sớm bị phân hóa thành các ngành chuyên biệt để trở nên các phân khoa (Faculté) hầu như biệt lập trong một đại học (Univesité), nào là phân khoa Văn học, Luật học, Khoa học, Y học” [171, tr 14], mỗi phân khoa ấy hoạt động độc lập và tổ chức giống nhau về hành chính
Cho đến năm 1964, toàn miền Nam có 4 viện đại học, gồm cả loại hình trường công lập (public college) với 2 viện đại học là Viện Đại học Sài Gòn và Viện Đại học Huế và loại hình trường tư lập (private college) với 2 viện đại học là Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Vạn Hạnh Ngoài ra, trong hệ thống giáo dục đại học công lập còn bao gồm các trường cao đẳng và các trường chuyên nghiệp
2.2.1.1 Hệ thống đại học công lập
Các viện đại học quốc gia công lập là loại hình giáo dục đại học do nhà nước thiết lập Về mặt tổ chức, các viện đại học công lập ở một mức độ nào đó vẫn chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục Viện trưởng viện đại học công lập do Bộ trưởng Bộ Giáo dục đề nghị và phải được Thượng viện chuẩn y, Sắc lệnh của Tổng thống bổ nhiệm Tài chính hoạt động của các viện đại học công lập phụ thuộc vào tài khóa của ngân sách quốc gia phân bổ qua Bộ Giáo dục và phải được Quốc hội thông qua Ngoài các mặt trên, các viện đại học gần như được tự chủ về nhân sự nội bộ (tuy về nhân sự cũng phải được sự chuẩn y của Tổng trưởng Giáo dục, chương trình và nội dung giảng dạy)
Trang 39Ngày 26/8/1958, trường Cao đẳng Sư phạm được sáp nhập vào Viện Đại học Sài Gòn và đổi thành trường Đại học Sư phạm [203] Ngày 31/8/1961, trường Đại học Y - Dược khoa trong Viện Đại học Sài Gòn được tách làm hai trường, và bắt đầu từ đó, trường Đại học Dược khoa hoạt động độc lập Ngày 12/8/1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh tách Ban Nha khoa thuộc trường Đại học Y khoa để thành lập trường Đại học Nha khoa và trường này bắt đầu hoạt động độc lập
từ năm học 1964 - 1965
Viện Đại học Huế được thành lập theo Sắc lệnh số 45 - GD, ngày 01/3/1957, của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa [179] Được sự nâng đỡ đặc biệt của chính quyền đương thời và công lao vận động của Viện trưởng sáng lập - Linh mục Cao Văn Luận, đến niên khóa 1960 - 1961, Đại học Luật khoa, Đại học Văn khoa, Đại học Khoa học và Đại học Sư phạm đã được kiện toàn và cấp phát văn bằng tốt nghiệp đầu tiên Đến năm 1959, Viện Đại học Huế thành lập thêm trường Đại học Y khoa [184] Ngoài ra Viện Đại học Huế còn có trường Cao đẳng Mỹ thuật nhưng lại sáp nhập vào Nha Mỹ thuật học vụ từ tháng 7/1960
Viện Đại học Sài Gòn và Viện Đại học Huế là hai viện đại học có truyền thống nhất trong hệ thống giáo dục đại học miền Nam Việt Nam
Viện Đại học Sài Gòn Viện Đại học Huế
Sư
Luật khoa
Khoa Học
Cao đẳng Kiến trúc
Khoa học
Sư phạm
Y khoa
Đại học công lập
Trang 4032
Sơ đồ 2.2: Các trường cao đẳng - chuyên nghiệp (năm 1956)
Nguồn: Tổng hợp từ [66]
Bên cạnh hai viện đại học lớn là Sài Gòn và Huế, từ năm 1956 đến năm 1964,
ở miền Nam còn có một hệ thống các trường cao đẳng, chuyên nghiệp gồm:
Học viện Hành chính Quốc gia (trực thuộc Phủ Tổng thống) Trường Quốc gia Hành chánh được Quốc trưởng Bảo Đại ký Sắc luật thành lập ngày 7/4/1952 Hạt nhân của trường lúc đầu là trường Đại học Luật khoa ở Hà Nội với một bộ phận chuyển lên Đà Lạt Trường lúc đó thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục với học trình 2 năm nhưng sau giao cho Phủ Thủ tướng rồi Phủ Tổng thống Theo khuyến cáo của phái đoàn cố vấn Đại học Michigan, ngày 9/8/1955, Ngô Đình Diệm cho dời trường Hành chính ở Đà Lạt xuống Sài Gòn Trường chuyển về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre
de Rhodes gần Dinh Độc lập rồi lại dời về số 10 đường Trần Quốc Toản, Quận 3, vào năm 1958 Theo sử gia Bernard Fall, “Phái đoàn cố vấn đại học Michigan đã cải
tổ học viện quốc gia hành chính theo mô hình Mỹ” [85, tr 37] Các giảng viên người Pháp dần dần bị thay thế bằng những cố vấn của đại học Michigan (Mỹ)
Trung Tâm Kỹ thuật Phú Thọ (trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục) được thành lập theo Sắc lệnh của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ký vào 6/1957 gồm bốn trường phụ thuộc gồm: Trường Cao đẳng Công chánh (có từ năm 1947); Trường Hàng Hải (1948); Trường Quốc gia Kỹ Sư Công Nghệ (1956) [178]; Trường Cao Đẳng Điện Học (1957) Vì học trình khác nhau nên bắt đầu năm học 1958, Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa điều chỉnh lại để cả 3 ngành công chánh, công nghệ và điện học đều đào tạo kỹ sư bốn năm học hoặc cán sự hai năm học Năm
1962, tăng cường thêm Trường Cao Đẳng Hóa Học và đến năm 1968 thì bắt đầu phát bằng kỹ sư hóa học
Trường Quốc gia Nông - Lâm - Mục Bảo Lộc (trực thuộc Bộ Canh nông), được thành lập ngày 19/1/1955 do Nghị Ðịnh số 112 - BCN/NÐ của Bộ Canh Nông Trường tọa lạc trên một thửa đất khoảng 500 mẫu, trên quốc lộ 20, phía Tây Thị xã Bảo Lộc Trường Quốc gia Nông - Lâm - Mục Bảo Lộc ban đầu được biết dưới tên trường Quốc gia Nông - Lâm - Mục B’lao Cho đến khi Thị xã B’lao đổi tên
là Bảo Lộc, trường mới có tên Bảo Lộc Theo Nghị định thành lập, trường là một trường cao đẳng gồm có: một cấp cao đẳng; một cấp trung đẳng, và những lớp theo
Cao đẳng và chuyên nghiệp
Học viện Hành
chính Quốc gia
Trung tâm kỹ thuật Phú Thọ Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc Các trường bậc trung đẳng