Hai là: Hiện nay nước ta đang trong tiến trình đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THANH NGA
TIẾP THU GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA THẾ GIỚI
VÀO VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-
NGUYỄN THANH NGA
TIẾP THU GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA THẾ GIỚI VÀO VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN THỊ MINH OANH
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TÍNH TẤT YẾU TIẾP THU VĂN HÓA THẾ GIỚI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA THẾ GIỚI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC HIỆN NAY 6
1.1 Tính tất yếu tiếp thu văn hóa thế giới trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam 6 1.1.1 Quan niệm chung về văn hóa và giá trị văn hóa thế giới 6 1.1.2 Tính tất yếu tiếp thu văn hóa thế giới trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam 9 1.2 Các giá trị văn hóa của thế giới trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học 17 1.2.1 Giáo dục nghề nghiệp 17 1.2.2 Giáo dục đại học 23
Chương 2 TIẾP THU GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA THẾ GIỚI VÀO VIỆC PHÁT TRIỂN VĂN HÓA GIÁO DỤC TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC
TẾ CỦA VIỆT NAM 28
2.1 Tác động của hội nhập quốc tế dối với việc phát triển văn hóa giáo dục Việt Nam 28 2.2 Thực trạng tiếp thu các giá trị văn hóa của thế giới trong lĩnh vực giáo dục của Việt Nam hiện nay và vấn đề đặt ra 37 2.2.1 Một số nét khái quát về giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ở Việt Nam 37 2.2.2 Thực trạng việc tiếp thu những giá trị trong văn hoá giáo dục thế giới vào phát triển văn hoá giáo dục nghề nghiệp và đại học ở Việt Nam hiện nay 46 2.3 Giải pháp cơ bản tiếp thu giá trị văn hóa của thế giới vào việc phát triển văn hóa giáo dục của Việt Nam hiện nay 55
Trang 4BẢNG QUY ƯỚC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
GDNN: Giáo dục nghề nghiệp GDĐH: Giáo dục đại học THCN: Trung học chuyên nghiệp
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tôi chọn vấn đề này làm đề tài luận văn thạc sĩ vì những lý do sau:
Một là: Giao lưu văn hóa là quá trình tiếp xúc, trao đổi và ảnh hưởng
lẫn nhau giữa các nền văn hóa, giữa các cộng đồng văn hóa khác nhau với những phương thức sống khác nhau Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới lại ngày càng sôi động, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó Với truyền thống nghìn năm văn hiến và luôn chủ động tiếp thu, chắt lọc giá trị của các nền văn hoá khác làm giàu nền văn hoá dân tộc đã và đang góp phần bảo vệ và phát triển, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế
Hai là: Hiện nay nước ta đang trong tiến trình đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì hơn lúc nào hết chúng ta cần tận lực phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc là nền tảng để giao lưu với con người và văn hóa khác trên thế giới để nhân dân thế giới hiểu thêm về đất nước, con người Việt Nam đồng thời chúng ta có cơ hội mở rộng thêm tầm nhìn, lựa chọn tiếp nhận những nhân tố tiến bộ, khoa học và nhân văn trong kho tàng văn hóa thế giới, xem đó là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới
Ba là: Trong sự giao lưu giữa các nền văn hóa của quá trình hội nhập,
văn hóa Việt Nam sẽ chịu sự ảnh hưởng của cả mặt tích cực và mặt tiêu cực, trong đó ảnh hưởng trước hết và mạnh mẽ là văn hóa lối sống, văn hóa giáo dục Vì vậy chúng ta phải bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống nhưng đồng thời phải biết tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại vào việc xây
Trang 6dựng văn hóa Việt Nam vừa mang đậm bản sắc dân tộc vừa phù hợp với thời đại
Bốn là: Với quan điểm giáo dục là nhân tố quyết định sự phát triển của
đất nước, là bộ phận quan trọng hàng đầu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế nên Đảng và Nhà nước ta đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là nền tảng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phải gắn với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh Việc phát triển giáo dục theo hướng hiện đại hoá, nhất là bậc học giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là yêu cầu tất yếu và trọng tâm để nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và có thể tham gia thị trường lao động quốc tế
Với những lý do trên, tôi chọn vấn đề: Tiếp thu giá trị văn hóa của thế
giới vào việc xây dựng văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Văn hóa nói chung và bàn về việc giao lưu văn hóa với các nền văn hóa trên thế giới nói riêng là một lĩnh vực đa dạng đã có nhiều học giả nghiên cứu
ở những khía cạnh khác nhau Đặc biệt, tác phẩm “Đề cương văn hóa Việt Nam” của Cố Tổng bí thư Trường Chinh đã nhấn mạnh ba nguyên tắc của cuộc vận động văn hóa là: “Dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa” Đó
là định hướng cho sự ra đời của nền văn hóa mới
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, xây dựng nền văn hóa dân tộc được Đảng, Nhà nước đặt ở tầm vĩ mô để từ đó góp phần giải quyết các nhiệm vụ thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Vì thế cùng với việc kế thừa văn hoá truyền thống, phát huy các giá trị văn hóa mới còn phải tiếp thu tinh hoa văn hóa các nước trên thế giới để xây dựng nền văn hóa mới
Trang 7là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta đối với công tác văn hóa Việc trao đổi văn hóa với các nước trên thế giới được chú ý ngay
từ sau hòa bình lập lại, đặc biệt kể từ khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới (1986) đến nay Đây là một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Một số công trình tiêu biểu là:
- Nguyễn Trọng Chuẩn: Vấn đề khai thác giá trị văn hóa truyền thống
vì mục tiêu phát triển
- Mai Thị Quý: Vấn đề kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống Việt nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
- Hồ Sỹ Vịnh: Giao lưu văn hóa thời hội nhập
- Phạm Thái Việt: Bản sắc văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
- Trần Thị Kim Cúc: Giao lưu văn hóa quốc tế nhìn từ góc độ quản lý
- Nguyễn Đình Hương: iệt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại
- Đoàn Duy Lục: Giáo dục đại học Việt Nam
- Phan Ngọc Liên: Hồ Chí Minh về giáo dục - Toàn thư
Những công trình nghiên cứu trên đã phân tích nhiều vấn đề, dưới những góc độ khác nhau về vai trò của sự giao lưu, hội nhập văn hóa Việt Nam với các nền văn hóa trên thế giới Song việc nghiên cứu vấn đề: Tiếp thu giá trị văn hóa của thế giới vào việc xây dựng văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế ở lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học được đề cập đến dưới góc độ triết học chưa thật đầy đủ
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn
Xác định một số giá trị hiện đại, phổ biến của văn hóa thế giới trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và giải pháp để chủ động tiếp thu những giá trị đó trong quá trình phát triển văn hoá giáo dục của Việt Nam
Trang 8* Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên luận văn cần giải quyết các vấn đề sau:
- Luận chứng tính tất yếu của việc tiếp thu văn hoá thế giới trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
- Xác định các giá trị hiện đại, phổ biến của văn hóa thế giới trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là trong giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học mà Việt Nam cần tiếp thu để phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay
- Trên cơ sở phương hướng của Đảng về giáo dục trong thời gian tới và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn giáo dục của nước ta, xác định các giải pháp mang tính định hướng để tiếp thu các giá trị văn hóa giáo dục của thế giới vào phát triển văn hoá giáo dục ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu các giá trị hiện đại, phổ biến của văn hóa thế giới ở lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học để tìm ra những giá trị mà Việt Nam cần tiếp thu trong quá trình phát triển đất nước hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
Văn hóa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học của một số nền giáo dục tiên tiến trên thế giới và của Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của luận văn
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, của UNESCO về văn hóa; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa
và xây dựng nền văn hóa mới
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trang 9Luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật, cùng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, lịch sử - logic, so sánh…
6 Đóng góp của luận văn
- Xác định một số giá trị hiện đại, phổ biến của văn hóa thế giới trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học mà Việt Nam cần tiếp thu trong quá trình phát triển đất nước
- Xác định một số giải pháp mang tính định hướng nhằm chủ động tiếp thu có hiệu quả những giá trị văn hóa giáo dục hiện đại, phổ biến của thế giới vào việc xây dựng văn hóa giáo dục Việt Nam trong thời kỳ hiện nay
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về văn hóa trong các nhà trường chuyên nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 5 tiết:
Chương 1: Tính tất yếu tiếp thu văn hóa thế giới trong quá trình hội
nhập quốc tế của Việt Nam và các giá trị văn hóa của thế giới trong lĩnh vực giáo dục hiện nay
Chương 2: Tiếp thu giá trị văn hóa của thế giới vào việc phát triển văn
hóa giáo dục trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Trang 10Chương 1 TÍNH TẤT YẾU TIẾP THU VĂN HÓA THẾ GIỚI VÀ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA HIỆN ĐẠI, PHỔ BIẾN CỦA THẾ GIỚI TRONG
LĨNH VỰC GIÁO DỤC HIỆN NAY
1.1 Tính tất yếu tiếp thu văn hóa thế giới trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Quan niệm chung về văn hóa và giá trị văn hóa thế giới
* Định nghĩa về văn hóa:
Trong lịch sử, ở phương Đông cũng như ở phương Tây xuất hiện rất sớm khái niệm văn hóa Trung Quốc thời kỳ Cổ đại, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị, dùng “văn hóa” và “giáo hóa”, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người Việt Nam gần
600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội
Ở phương Tây, văn hoá bắt nguồn từ tiếng Latinh, có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người Khái niệm văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú Đến nay đã có mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa Tuỳ cách tiếp cận khác nhau, mục đích khác nhau mà người ta nghiên cứu đưa ra định nghĩa văn hoá hoặc lựa chọn sử dụng định nghĩa đã có cho mục đích nghiên cứu của mình Tuy các định nghĩa khác nhau, nhưng đều thống nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc
về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản
để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên
Trang 11Mỗi nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về văn hóa đều xuất phát từ những
cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng cho phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu để đưa ra các định nghĩa về văn hoá nên việc xác định khái niệm văn hoá là rất khó và không đơn giản Vì vậy khi tiếp cận về văn hoá, tuỳ vào mục tiêu, mục đích cụ thể mà người nghiên cứu có thể dựa vào các cách tiếp cận khác nhau, những định nghĩa khác nhau về văn hóa Do đó, khi xét mối tương quan giữa văn hoá và xã hội chúng ta có thể lựa chọn ra bốn cách tiếp cận chủ yếu là: Tiếp cận giá trị học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách và tiếp cận ký hiệu học Tuy có sự khác nhau ở bốn góc tiếp cận này nhưng tất cả các cách tiếp cận đều dựa trên những nguyên tắc chung Đó là dựa trên mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, dựa trên hình thái kinh tế-xã hội
và những nguyên tắc hoạt động mà triết học Mác - Lênin đã xác định: nguyên tắc thực tiễn
Ở bốn cách tiếp cận trên thì cách tiếp cận văn hoá ở góc độ giá trị học
có lịch sử từ rất lâu đời, đa dạng và đến nay vẫn thể hiện vai trò quan trọng của mình Cách tiếp cận theo góc độ này không chỉ thâm nhập vào triết học
mà còn có cả lý luận văn hoá, mỹ học, đạo đức học cùng nhiều bộ môn khoa học khác và đã nổi lên những cuộc tranh luận gay gắt đến tận bây giờ Khi tiếp cận văn hoá ở khía cạnh giá trị học đã thể hiện được sự tìm kiếm bản chất của văn hoá theo ba cấp độ đối tượng: cấp độ vật chất, cấp độ chức năng và cấp độ hệ thống Việc mô tả văn hoá như thế giới các đồ vật được con người sáng tạo ra và sử dụng trong quá trình lịch sử là cấp độ tương ứng với cấp độ vật chất của đối tượng Iu.V.Brômlây và R.C.Pađôlưi đã khẳng định trong công trình: " Được sáng tạo bởi nhân loại" là " Văn hoá trong ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này, đó là cái đã và đang được tạo ra bởi nhân loại" Hoặc theo Trần Ngọc Thêm: "Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn,
Trang 12Tóm lại, xem xét mối tương quan giữa văn hoá và xã hội trên bình diện phương pháp luận ta có thể đưa ra bốn cách tiếp cận về văn hóa như đã nêu trên Từ bốn cách tiếp cận về văn hoá đó mà ta có những định nghĩa khác nhau về văn hoá Ta xem xét ở cách tiếp cận nào thì có định nghĩa về khái niệm văn hoá phù hợp Ở từng khái niệm văn hoá đều có khía cạnh khác nhau
và mỗi định nghĩa có những điểm mạnh, điểm yếu vì vậy ta có thể chỉ đề cập đến khía cạnh này mà bỏ qua khía cạnh khác của khái niệm văn hoá Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là khi nghiên cứu về văn hoá phải xuất phát từ đối tượng nghiên cứu mà chọn định nghĩa cho phù hợp, để qua đó giúp chúng ta làm rõ được nội dung cần nghiên cứu và làm cho hướng nghiên cứu thuận lợi
và hiệu quả hơn Nhưng dù các định nghĩa có khác nhau đi chăng nữa thì nó cũng có những điểm chung nhất định đó là văn hoá là cái do con người sáng tạo ra và mọi thứ văn hoá đều thuộc về con người
Với nội dung như vậy nên theo hướng nghiên cứu của mình tôi đã sử dụng định nghĩa về văn hoá như sau:
"Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích luỹ trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống
xã hội, được xã hội giữ gìn, trao chuyển cho thế hệ sau Văn hoá thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [31, tr.20]
* Giá trị văn hoá thế giới
Văn hóa là những giá trị được chọn lọc và thẩm thấu rất sâu rộng trong đời sống thực tiễn, trước hết là thực tiễn tồn tại và phát triển của con người Mặt khác, hoạt động tạo ra giá trị nên tiếp cận văn hóa từ hoạt động gắn liền với tiếp cận văn hóa từ giá trị Chỉ những hoạt động sáng tạo, tích cực, hướng tới sự phát triển và tiến bộ mới được coi là hoạt động văn hóa Do đó, về phương diện giá trị, cái gọi là văn hóa phải đi liền với những giá trị đích thực,
Trang 13dùng để nói về những gì tốt đẹp, đúng đắn, hướng tới phát triển và hoàn thiện nhân tính Những gì đối lập với nó không thể gọi là văn hóa và giá trị văn hóa
Giá trị văn hoá là những giá trị do con người sáng tạo ra và phải được
cộng đồng chấp nhận Vì vậy ta có thể nói rằng giá trị văn hoá thế giới là những giá trị thuộc về lĩnh vực vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
và nhằm phục vụ con người, được mọi dân tộc trên thế giới công nhận và hướng vào đó để học tập, tiếp thu, vận dụng vào dân tộc mình Hơn nữa
những giá trị của văn hoá thế giới là những giá trị tinh hoa của nhân loại được kết tinh trong cuộc sống và được các tổ chức trên thế giới thừa nhận
1.1.2 Tính tất yếu tiếp thu văn hóa thế giới trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta đã khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội bởi vì văn hoá thể hiện sức sống, sức sáng tạo phát triển và bản lĩnh của một dân tộc Văn hoá có mối quan hệ thống nhất biện chứng với kinh tế, chính trị Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu cuối cùng là văn hoá, vì văn hoá có khả năng khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người - nguồn nhân lực quyết định sự phát triển xã hội Trong Nghị quyết Hội nghị TW5 (Khoá VIII) Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Trong Nghị quyết Hội nghị đã nêu lên khái niệm văn hoá trong một nội hàm rộng, bao quát đời sống tinh thần nói chung, tập trung vào
Trang 14những lĩnh vực lớn: tư tưởng, đạo đức, giao lưu văn hoá với thế giới, các thể chế và thiết chế văn hoá Con người vừa là chủ thể của sự sáng tạo vừa là sản phẩm của văn hoá Trong quá trình vận động và phát triển, các quốc gia đều xây dựng và phát triển các giá trị văn hoá của dân tộc mình, bảo lưu và truyền đạt cho thế hệ tiếp nối, tạo thành một dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa dân tộc Các giá trị văn hóa này được kết tinh ở truyền thống văn hoá dân tộc
và được biểu hiện sinh động ở các giá trị văn hoá phi vật thể cùng phương thức ứng xử của con người trong hoạt động thực tiễn Toàn bộ các giá trị đó tạo thành nền tảng tinh thần của dân tộc, là cơ sở liên kết và đúc kết các thế
hệ, tạo nên sức sống của một dân tộc, tạo nên bản sắc và bản lĩnh của dân tộc trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước
Văn hoá là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của phát triển kinh tế Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống hoạt động xã hội trên mọi phương diện giá trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương, biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển
Văn hoá là mục tiêu của sự phát triển, bởi văn hoá là đại diện cho trình
độ văn minh, là thước đo phẩm giá con người Tuy nhiên xã hội không có những cá nhân có những phẩm giá ngang nhau mà có người tốt, có người xấu, hơn nữa trong mỗi con người bao giờ cũng có hai mặt: mặt tốt và mặt xấu Văn hoá có trách nhiệm kích thích mỗi con người phát huy mặt tốt, kiềm chế mặt xấu Trong cuộc sống của mình con người bị môi trường xã hội tác động
mạnh mẽ Dân gian đã đúc kết:“Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “Lúc ngủ ai cũng như lương thiện, tỉnh dậy phân ra kẻ
dữ hiền” Ở đây, văn hoá có vai trò điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa người
với người bằng hệ giá trị và chuẩn mực xã hội Sự điều tiết đó phải hướng tới mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống, vì hạnh phúc của con người, nối dài
Trang 15cuộc sống, an sinh xã hội, điều tiết các mối quan hệ hướng tới sự công bằng
xã hội
Văn hóa là động lực của sự phát triển vì văn hoá có vai trò trong sự phát triển kinh tế - văn hóa xã hội, bởi lẽ mọi sự phát triển đều do con người quyết định chi phối Văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát triển xã hội
Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu tố lao động của con người cho sự phát triển Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người cũng như của toàn xã hội
Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiều hay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu ở chỗ có khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người hay không? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu
thành văn hóa, nghĩa là trong ý chí tự lực, tự cường và khả năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng
Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóa trong sản xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình và ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế… Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, hàm
Trang 16lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng trở nên hiện thực bấy nhiêu
Vì vậy giao lưu văn hoá và tiếp thu những giá trị văn hoá là tất yếu và đặc biệt quan trọng, trong bối cảnh nước ta tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Tiếp thu văn hóa là sự bổ sung các giá trị văn hoá giữa các dân tộc Thông qua quá trình này mà mỗi nền văn hoá dân tộc có dịp quảng bá các giá trị văn hoá của riêng mình ra ngoài phạm vi truyền thống và đồng thời tiếp nhận những giá trị mới từ các nền văn hoá khác mà vẫn không làm phương hại đến bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc
Sự giao lưu văn hóa thế giới là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển và là điều kiện tiên quyết để phát huy năng lực sáng tạo độc đáo trong quá trình sản xuất các giá trị mới về vật chất cũng như về tinh thần Xây dựng đất nước Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, việc tiếp thu những giá trị văn hoá của thế giới là tất yếu vì bởi những lý do sau:
Thứ nhất: nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, mang nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội vừa kết tinh truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc vừa tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại, nhằm khẳng định được tầm vóc, trình độ, bản lĩnh
và bản sắc văn hóa Việt Nam trong giao lưu và hợp tác quốc tế
Quá trình mở cửa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã khẳng định hội nhập quốc tế là xu thế khách quan để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới tư duy về kinh tế, tạo cơ hội trong quá trình đổi mới tư duy về văn hoá và
mở rộng giao lưu văn hoá trong xu thế hội nhập quốc tế Đây là cơ hội rất lớn
để chúng ta xem xét, đánh giá vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội, gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa với nhiệm vụ
Trang 17phát triển kinh tế và xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị, khai thác văn hóa như một động lực, như một nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt trong thời kỳ kinh tế thị trường và xã hội thông tin, khoa học - công nghệ, thì sự sáng tạo văn hóa trở thành nguồn lực trực tiếp thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá
IX ) đã khẳng định: “phát triển văn hóa gắn liền với phát triển kinh tế và xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị” Đảm bảo thực hiện tốt ba lĩnh vực
trên là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước
Thứ hai: chúng ta đều biết, hội nhập quốc tế là cơ hội tốt để nước ta
tiếp cận và tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, nhằm làm phong phú thêm nền văn hoá dân tộc - hiện đại, đậm đà bản sắc của người Việt Nam và tạo cơ hội, khả năng tiếp xúc, giao lưu; làm xích lại gần nhau và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, qua đó góp phần nâng cao dân trí và tự khẳng định mình trước cộng đồng quốc tế Trước đây, nhiều người trên thế giới mới chỉ biết đến Việt Nam như một đất nước có chiến tranh liên miên và dân tộc Việt Nam đã giành thắng lợi to lớn trong các cuộc chiến tranh đó Ngày nay, nhờ mở rộng việc giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế mà thế giới đã biết đến Việt Nam như một đất nước yêu chuộng hòa bình, yêu độc lập, tự do, tôn trọng công lý, khoan dung, đầy năng động với một kho tàng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể hết sức phong phú, đầy bản sắc riêng Vì vậy hội nhập là một xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các quốc gia Chủ động để hội nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan, là khẳng định đường hướng có chiến lược,
có chiến thuật, có kế hoạch cho từng bước đi Chủ động hội nhập sẽ khai thác được nhiều nhất những thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có nhiều lợi ích nhất, hạn chế được đến mức thấp nhất những thách thức, những tiêu cực nảy sinh Công cuộc đổi mới của đất nước ta gần 25 năm qua chính là sự chủ động hội nhập quốc tế, từng bước vững chắc đạt được những thành tựu rất đáng tự
Trang 18hào Về kinh tế, Việt Nam là một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển khá cao, cơ cấu kinh tế được dịch chuyển theo hướng tích cực phát triển công nghiệp và dịch vụ, tốc độ hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ với những bước đi dài tất cả đã tạo điều kiện chín muồi để Việt Nam vững bước trên tiến trình hoà nhập thương mại quốc tế trở thành thành viên của WTO Bên cạnh việc hội nhập kinh tế, tiến trình hội nhập văn hoá cũng là một tất yếu khách quan Tiến trình giữa hội nhập kinh tế và hội nhập văn hoá không tách rời mà đồng thời và bổ sung cho nhau nếu coi nhẹ hội nhập kinh tế thì đất nước sẽ chậm thoát nghèo Còn coi nhẹ hội nhập văn hoá đôi khi lại nguy hiểm hơn bởi có thể bị các nền văn hoá khác đồng hoá Vì vậy toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng tạo nên những thách thức không nhỏ về văn hoá
Mặt khác trong bối cảnh quốc tế hiện thời, trào lưu hội nhập quốc tế không chỉ mang lại thời cơ lớn mà còn tạo ra những thách thức không nhỏ đối với tất cả các quốc gia, đặc biệt là với các nước đang phát triển Hội nhập đang đặt chúng ta trước những thách thức lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, nhất là lĩnh vực văn hoá Đảng và nhân dân Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng, đối với một nước đang phát triển như nước ta thì thách thức nhiều hơn thời cơ, khó khăn hơn nhiều hơn thuận lợi Trong xu thế toàn cầu hiện nay, văn hoá Việt Nam có cơ hội nhập và giao lưu với các nền văn hoá khác của thế giới để làm giàu và khẳng định bản sắc của mình Song hơn lúc nào hết, đây cũng là giai đoạn mà các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc phải đối diện với những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá, của hội hội nhập quốc tế như là một tất yếu khách quan; nó đòi hỏi chúng ta phải mở cửa, giao lưu với cộng đồng thế giới để đón nhận và tiếp thu những giá trị mới, tiến bộ của nhân loại Tuy nhiên một dân tộc nào đó sẽ không còn là chính mình nếu
Trang 19đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc Theo đó hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là những đòi hỏi tất yếu, khách quan để một dân tộc có thể tồn tại và phát triển trong xu thế toàn cầu hoá
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và tham gia hội nhập quốc tế đã tạo cho nền kinh tế Việt Nam có bước phát triển đáng kể, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, có mặt được nâng cao và điều này đã có tác động tích cực đối với việc đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội Xét từ phương diện văn hoá, hội nhập quốc tế đang tác động mạnh mẽ tới những giá trị truyền thống tốt đẹp - cái làm nên bản sắc văn hoá riêng của tất
cả các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam Một mặt nó góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của xã hội công nghiệp, thể hiện ở việc phổ biến các giá trị văn hoá công nghiệp, văn hoá thông tin cùng các hoạt động và loại hình văn hoá mới phục vụ cho việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và qua đó, góp phần làm giàu thêm, phong phú thêm các giá trị văn hoá Việt Nam truyền thống nhưng cũng là thách thức lớn đối với Việt Nam là làm thế nào để nền văn hoá dân tộc vừa có thể tiếp thu được các giá trị thời đại, tinh hoa văn hoá nhân loại, vừa có thể giữ được bản sắc dân tộc vốn có; tiếp tục phát triển trong sự giao lưu với cộng đồng thế giới mà không bị hoà tan, không bị nhấn chìm các nền văn hoá khác hoặc trở thành cái bóng mờ của dân tộc khác, nền văn hoá khác
Thứ ba: trong tiến trình hội nhập quốc tế bên cạnh sự phát triển khoa
học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin đã tạo ra những cơ hội, trở thành cầu nối cho các quốc gia, dân tộc mở rộng giao lưu, sự hiểu biết
và xích lại gần nhau hơn Chính nhờ cơ hội này mà nền văn hoá Việt Nam có điều kiện để giao lưu rộng rãi với nhiều nền văn hoá khác trên thế giới Thông qua đó, con người Việt Nam có điều kiện học tập, tiếp thu những giá trị, tinh
Trang 20hoa văn hoá của các dân tộc để làm phong phú thêm nền văn hoá của dân tộc mình
Đồng thời, thông qua hội nhập quốc tế, các dân tộc có thể thấy được cả những giá trị truyền thống cần phải bảo tồn, cần được phát huy, lẫn những hạn chế của những truyền thống có khả năng cản trở sự tiến bộ Tuy nhiên, cũng chính quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, dưới áp lực và do sự áp đặt của một số nước giàu, do sức lan truyền của những phản giá trị nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại, mà không ít những giá trị truyền thống lâu đời của các dân tộc, hoặc các giá trị có tính chất chung khu vực, đang đứng trước những thách thức, đang có nguy cơ bị xói mòn Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ
và làm phong phú thêm các giá trị truyền thống bằng cách tiếp thu có chọn lọc giá trị của các nền văn hóa khác cũng có tầm quan trọng giống như các biện pháp nhằm chống lại sự đồng hóa thông qua sức mạnh mềm của các nền văn hóa của những nước đang có nhiều lợi thế
Trong điều kiện như hiện nay, nếu biết kết hợp hài hòa các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại trên cơ sở bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ lấy những gì là tinh hoa, loại trừ dần các yếu tố lỗi thời, tăng cường giao lưu với bên ngoài thì sẽ vượt qua được những thách thức, sẽ khơi dậy được vai trò động lực của các giá trị truyền thống cho sự phát triển và tiến bộ
xã hội “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ
và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”, có thể coi đây là một giải pháp hữu hiệu để
phát huy vai trò động lực của các giá trị truyền thống cho sự phát triển và tiến
bộ xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay
Thứ tư: phải thấy rằng, hội nhập quốc tế hiện nay là một quá trình đi
lên của lịch sử nhân loại, cho nên, sẽ là sai lầm nếu có một nước nào đó tự
Trang 21mình tách ra đứng ngoài toàn cầu hóa, từ chối hợp tác, hội nhập hoặc đóng cửa với thế giới Để khỏi bị gạt ra ngoài lề sự phát triển chung và sự tiến bộ của lịch sử các nước, căn cứ vào mục tiêu phát triển và khả năng thực tế của mình, mà đề ra chính sách hội nhập quốc tế một cách có lợi nhất trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay Hội nhập với thế giới, tranh thủ tối đa các cơ hội
do toàn cầu hóa hiện nay mang lại là cách tốt nhất để các dân tộc, các quốc gia cùng tiến bước, cùng phát triển Đây cũng là cách có hiệu quả giúp cho các nước chậm tiến thực hiện con đường phát triển rút ngắn, có cơ may thu hẹp khoảng cách và từng bước đuổi kịp các nước tiên tiến về kinh tế Bài học của các nước công nghiệp mới ở châu Á (NICs) là minh chứng rõ ràng nhất cho điều vừa nói Qua những bài học đó, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã dứt khoát chọn cho mình một con đường hội nhập quốc tế và khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Trái lại, có một số nước bảo thủ, quá lo sợ những tác động tiêu cực của
mở cửa của hội nhập quốc tế đến tình hình chính trị ở trong nước nên đóng cửa với thế giới, kết quả là họ gặp phải vô vàn khó khăn, không chỉ nghèo và tụt hậu về kinh tế, mà còn lạc hậu về văn hóa, khoa học, kỹ thuật và công nghệ Dù ở thời nào chăng nữa thì sự biệt lập hoàn toàn với thế giới cũng đều mang lại những hậu quả trái với mong muốn của những người chủ trương tiến hành sự biệt lập đó Biệt lập tuyệt nhiên không đưa lại sự phồn vinh về văn hóa, cũng không làm tăng thêm các giá trị văn hoá
Như chúng ta biết, thời cổ đại, trong khi Athens, nhờ việc mở rộng cửa đón mọi ảnh hưởng từ khắp các nơi, đã trở thành biểu tượng của sự phồn vinh
về mọi mặt như nghệ thuật, triết học, chính trị, sử học, và nói chung về các giá trị văn hóa, thì Sparte, vì cố chấp để giữ những nét độc đáo của mình, đã ngăn cấm ảnh hưởng từ bên ngoài, nên trở thành thành phố duy nhất của Hy Lạp không có lấy một nhà tư tưởng, một nhà văn hóa có khả năng tạo nên một
Trang 22giá trị văn hóa hay khoa học có tiếng nào Chẳng hạn, Myanma ở châu Á, Anbani ở châu Âu, đã tự cô lập mình đến mức cực đoan vì sợ những ảnh hưởng và tác động từ bên ngoài vào làm xói mòn các giá trị dân tộc, đồng thời cũng còn vì sợ chế độ chính trị bị lung lay do các tác động từ bên ngoài Hậu quả là văn hóa và khoa học của các nước này đã bị lạc hậu thảm hại, mà thậm chí có người còn cho là tàn lụi một cách tuyệt đối Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh
đã nói trong Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất ngày 24/11/1946 là:
“Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại….” Có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam Như vậy tiếp thu văn hóa nhân loại, của cả kim cổ Đông Tây là một vấn đề lớn trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh Nhưng đây không phải
là sự tiếp thu xô bồ mọi thứ của thiên hạ, mà có chọn lọc những cái hay, cái tốt, cái đẹp để làm giàu thêm cho văn hóa dân tộc Như Hồ Chí Minh quan niệm, trong nền văn hóa Việt Nam có sự chung đúc lại những tinh hoa văn hóa Đông phương và Tây phương Có nghĩa là nền văn hóa Việt Nam do dân tộc Việt Nam tạo dựng không chỉ từ những yếu tố nội sinh, mà còn kết hợp với sự chiếm lĩnh, thâu tóm những giá trị của nhiều nền văn hóa khác Là người mở đường cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam, là nhà văn hóa kiệt xuất, Hồ Chí Minh là hiện thân tiêu biểu nhất của sự kế thừa truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, kết hợp với việc tiếp thu văn hóa nhân loại, kết hợp tính dân tộc với tính nhân văn trong văn hóa đặc biệt trong thời kỳ đất nước ta mở rộng giao lưu quốc tế, hội nhập khu vực và thế giới Do vậy, có đầy đủ cơ sở để nói rằng, trong thời đại chúng ta, hợp tác và hội nhập quốc tế đang là mệnh lệnh, là thước đo khả năng thích nghi của một dân tộc, tầm nhìn
và năng lực quản lý đất nước của các chính phủ đương quyền vì mục tiêu phát triển
Trang 231.2 Các giá trị văn hóa hiện đại, phổ biến của thế giới trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
Phần lớn các nước coi giáo dục nghề nghiệp là sự gắn kết với các ngành nghề trong xã hội ở các trình độ khác nhau Người học sau khi hoàn thành chương trình giáo dục nghề nghiệp có thể tiếp tục tham gia thị trường lao động theo ngành nghề đã học Người ta có thể học tiếp cao hơn ngành nghề của mình hoặc chuyển sang học ngành nghề khác theo yêu cầu của cuộc sống Các nước thực hiện giáo dục nghề nghiệp rất đa dạng và mềm dẻo với các chương trình đào tạo nghề chính quy, đào tạo trước khi tuyển dụng vào làm việc, đào tạo lại và có thể học tại chức, từ xa
Ngày nay do sự phát triển của công nghệ với nhiều ngành nghề chuyên sâu, đặc biệt là hệ thống ngành nghề kĩ thuật, giáo dục nghề nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới gắn chặt với giáo dục phổ thông và đại học Bên cạnh giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp được thực hiện trong nhà trường cho học sinh trong độ tuổi để có thể học xong văn hoá phổ thông và có tay nghề tham gia vào thị trường lao động
Phần lớn các nước coi giáo dục nghề nghiệp theo phạm trù rộng và nằm trong hệ thống, liên thông với nhau từ thấp đến cao, tạo cơ hội việc làm và giáo dục suốt đời cho mọi người kể cả nhận thức tư duy và hành động thực tế
Trang 24Cơ cấu trình độ của hệ thống giáo dục nghề nghiệp của các nước có thể phân làm hai loại khác nhau về thời gian ra đời và cách giáo dục của từng loại Loại giáo dục nghề nghiệp điển hình thứ nhất là của nước Pháp và các nước nói tiếng Pháp và mô hình loại giáo dục nghề nghiệp điển hình thứ hai là của nước Anh, nước Mỹ
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Pháp:
Giáo dục nghề nghiệp của nước Pháp đã có lịch sử trên một trăm năm,
và các trường kĩ nghệ thực hành kiểu Pháp thành lập tại Việt Nam ở Huế, Hà Nội, Sài gòn, đã có từ lâu Nội dung giáo dục nghề nghiệp nói chung của Pháp là nhấn mạnh trước tiên ở cá nhân con người hoàn thiện về mặt tinh thần
và trí tuệ Con nguời tự chủ có năng lực được coi là mực thước để đương đầu với mọi thách thức thông qua sự rèn luyện của bản thân mình trong một nền giáo dục hiện đại Nhà trường giúp con người phát triển cá nhân thông qua sự giáo dục chuyên nghiệp sớm Chiến lược giáo dục của Pháp trước hết mở rộng giáo dục tiểu học để mọi người biết chữ có thể tư duy thực sự và tiến tới một sự hiểu biết cơ sở về toàn bộ cuộc sống (văn hoá phổ thông)
Cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Pháp đã thay đổi theo các thời
kỳ thích hợp với nền kinh tế của đất nước Giáo dục nghề nghiệp ở nước Pháp được thực hiện trong các loại hình trường lớp từ trình độ thấp lên trình độ cao Ví dụ, trường trung học nghề, viện đại học công nghệ Trường trung học nghề tuyển học sinh đã học xong lớp đệ tam, tương đương với lớp 9 ở nước ta Ngay khi bước vào lớp đệ tứ tương đương với lớp 10 ở nước ta học sinh được phân làm hai luồng: phổ thông và công nghệ Những học sinh được
đi theo luồng công nghệ mới vào học trường trung học nghề, để sau này chủ yếu ra làm thợ Phần đông đi theo luồng phổ thông để sau này chủ yếu học lên cao đẳng hoặc đại học Trong trường trung học kỹ thuật có thể có ban kỹ thuật viên cao cấp, tuyển sinh chủ yếu những người có bằng tú tài nghề, nhằm đào
Trang 25tạo kỹ thuật viên cấp cao Viện đại học công nghệ tuyển sinh những người có bằng tú tài nghề, tú tài công nghệ hoặc bằng kỹ thuật viên đào tạo hai năm để trở thành cán bộ kĩ thuật viên cấp cao Các loại văn bằng, chứng chỉ trong giáo dục nghề nghiệp ở nước Pháp có các loại văn bằng:
- Bằng học nghề BET: học sinh lấy được bằng này sau khi học xong hai năm: năm thứ nhất học ở lớp đề nhị nghề, năm thứ hai học ở lớp kết thúc bằng học nghề, sau đó có thể ra làm thợ Tuy nhiên, có một con đường liên thông ngang từ năm thứ hai sang luồng phổ thông, học sinh trường trung học nghề học hết lớp đệ nhị có thể chuyển sang học lớp đề nhất thích nghi, sau đó học lớp tốt nghiệp giáo dục phổ thông để lấy bằng tú tài công nghệ hoặc bằng
kỹ thuật viên Cả hai bằng này đều là điều kiện để học tiếp lên cao đẳng và đại học, trong đó thời gian đào tạo kỹ năng nghề không nhiều Có bằng kỹ thuật viên, người tốt nghiệp có thể ra làm việc ngay trong một số ngành nghề
- Chứng chỉ năng lực nghề: học sinh lấy được bằng này sau khi học xong ba năm và chủ yếu ra làm thợ Có chứng chỉ năng lực nghề có thể chuyển sang lớp đệ nhất nghề, sau đó học lớp kết thúc giáo dục nghề để lấy bằng tú tài nghề
- Bằng tú tài nghề: học sinh lấy bằng này sau khi học xong ba năm (đệ nhị nghề, đệ nhất nghề và kết thúc nghề), có thể học lên tiếp cao đẳng, đại học
và ra làm nghề
Nhìn chung, giáo dục nghề nghiệp và văn bằng chứng chỉ ở Pháp có thể chia ra làm ba trình độ:
+ Thợ lành nghề hay kỹ thuật viên
+ Kỹ thuật viên cấp cao
+ Kỹ thuật viên cấp cao chuyên môn hoá
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Anh, Mỹ
Trang 26Hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở nước Anh ra đời theo yêu cầu mới của thị trường lao động đối với công nhân và kỹ thuật viên các cấp trình độ Cùng với sự thay đổi xã hội, kinh tế và công nghệ, đòi hỏi đào tạo nghề và kỹ thuật phải có tính năng động, mềm dẻo linh hoạt và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động Cơ sở đào tạo nghề là dựa trên năng lực thực hiện Kết quả học tập cần đạt được thể hiện bằng khái niệm năng lực thực hiện Đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của mô đun hóa quá trình đào tạo nghề Giáo dục nghề nghiệp của Anh và Mỹ gần giống nhau
Khái niệm mô đun trong giáo dục và đào tạo lần đầu tiên năm 1869 ở Trường Đại học Harvard nước Mỹ do Hiệu trưởng trường lúc đó là Eliot đưa
ra, với mục đích cho sinh viên có khả năng tự chọn các học phần thích hợp với mình nhưng vẫn phải đảm bảo khối lượng và trình độ học tập Đến những năm 50 của thế kỷ XX sau những nghiên cứu về phương pháp dạy học chương trình hoá của B F.Skinner, khái niệm mô đun mới được phổ biến rộng rãi trong nhà trường của Mỹ Hàng thập kỷ sau nguyên tắc mô đun mới được đưa vào đào tạo nghề, thí dụ ở nước Anh đó là năm 1968 Theo nguyên tắc này các học phần có thể chuyển đổi được cho nhau Mỗi trình độ trong một hệ thống giáo dục nghề nghiệp bao gồm một số nhất định các học phần chuyển đổi, và như vậy để đạt được một trình độ không có quy định trước một khoá học hay một chương trình đào tạo nào theo năm học Mỗi trình độ trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp tương ứng với một trình độ của năng lực thực hiện
Hệ thống văn bằng chứng chỉ của giáo dục nghề nghiệp ở nước Anh với tên gọi là National Vocational Qualifications (NVQ) bắt đầu áp dụng ở nước Anh, xứ Wales và Bắc Ailen vào những năm 80 của thế kỷ XX Theo nguyên tắc kể trên, người ta đưa ra nguyên tắc khái niệm kiểm định quá trình
Trang 27học trước, liên quan đến toàn bộ phương thức học tập và kiểm tra đánh giá kết quả học tập Người ta không quy định năng lực thực hiện để đạt được một lúc, miễn là sau khi qua một kiểm tra đánh giá được xác nhận đã đạt trình độ đó Như vậy, kiểm định quá trình học trước được tích hợp rất chặt chẽ trong mô hình của NVQ
Việc đưa hệ thống NVQ là một sự cải cách rất rộng lớn trong hệ thống giáo dục ở nước Anh vì nó không chỉ liên quan đến đào tạo nghề Riêng trong lĩnh vực dào tạo nghề, mô hình NVQ một mặt tạo nên cơ sở cho việc tiêu chuẩn hoá các văn bằng chứng chỉ đào tạo nghề, mặt khác các khả năng kiểm định quá trình học trước (APL) có thể làm giảm đi tỷ lệ những người công nhân lao động đơn giản không lành nghề trong lĩnh vực lao động Mô hình NVQ cũng tạo khả năng mềm dẻo hoá và phân hoá văn bàng đào tạo nghề, tạo nên nhiều con đường học tập khác nhau phù hợp với nhu cầu cá nhân của người học
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp của một số nước khác trên thế giới:
Từ hai mô hình giáo dục nghề nghiệp điển hình của Pháp và Anh, trên thế giới hiện nay, ở các nước khác nhau cũng sẽ có những mô hình đào tạo nghề nghiệp khác nhau, đáp ứng với nhu cầu cụ thể của từng đất nước Các nước có mô hình giáo dục nghề nghiệp giống Pháp phần lớn là các nước nói tiếng Pháp hoặc gần Pháp trong khu vực châu Âu như Đức, Nga Các mô hình giáo dục nghề nghiệp giống Anh, Mỹ như Úc và các nước nói tiếng Anh hoặc chịu ảnh hưởng của các nước nói tiếng Anh
Giáo dục nghề nghiệp của Đức tuy có nhiều nét đặc biệt nhưng về cơ bản vẫn theo hệ niên chế giống Pháp Nét giống nhau của hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Pháp và Đức là có loại hình trường hoặc văn bằng, nhằm hai mục tiêu vừa đào tạo nghề vừa giáo dục phổ thông tạo nguồn vào đại học phù hợp Đức là một trong những nước có sự đa dạng về các văn bằng, chứng chỉ
Trang 28nhất thế giới Ở Đức mục tiêu đào tạo nghề ở các cấp khác nhau gồm có các trường nghề, trường nghề chuyển tiếp, trường nghề chuyên ngành, trường kĩ thuật viên, trường thợ cả và vừa đào tạo nghề vừa giáo dục phổ thông với tỷ lệ
kĩ năng nghề khác nhau gồm có trường trung học nghề, trường nghề trung học
Tóm lại, giáo dục nghề nghiệp là mục tiêu hướng tới của các nền giáo
dục trên thế giới Mục tiêu đó phải phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế mỗi nước và khả năng, năng lực của dân chúng
Giáo dục nghề nghiệp phải hiểu theo phạm vi rộng và thực hiện ở nhiều trình độ, nhiều cách kết hợp để thoả mãn tối đa nhu cầu của người học Không nhất thiết phải trang bị đủ kiến thức phổ thông mới đi vào giáo dục nghề nghiệp, tuỳ theo từng nghề mà phải bổ sung kiến thức văn hoá phù hợp theo từng đối tượng ở các thời kỳ khác nhau
Xây dựng các cơ sở nghề nghiệp đa mục tiêu tạo nên sự liên thông giữa các cấp trình độ trong giáo dục nghề cần được đặt ra trong hệ thống giáo dục quốc dân Nhìn chung, xét về chương trình giáo dục thì giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp có sự liên quan chặt chẽ với nhau, nối tiếp nhau, nhưng mỗi ngành nghề lại đòi hỏi kiến thức khác nhau nên có thể thực hiện bổ sung kiến thức cơ bản trong khi học nghề Nghề nghiệp là những nấc thang dài vô tận, cần được nối tiếp, liên thông và có thể đi bằng nhiều con đường khác nhau Mỗi nghề không nên có thời gian đào tạo quá dài, quá lâu trên ghế nhà trường mà nên rút ngắn thời gian cá bậc học, cấp học để sau từng đợt, cấp học lại tiếp tục học lên các thang bậc cao hơn
Mục tiêu học nghề là để có việc làm, có việc làm để có thu nhập Hiệu quả giáo dục nghề nghiệp là tạo ra những con người có nghề nghiệp trình độ cao được thị trường chấp nhận trong điều kiện chi phí tài chính và thời gian đào tạo thấp, chất lượng cao
Trang 291.2.2 Giáo dục đại học
Giáo dục đại học ngày nay của các nước đã phát triển nhanh, mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu lao động có trình độ kỹ thuật cao, đa dạng của nhiều ngành nghề và thích ứng với nền kinh tế tri thức
Thực chất giáo dục đại học cũng là giáo dục nghề nghiệp nhưng ở trình
độ cao Các nước phát triển có nền công nghiệp hiện đại và các nước công nghiệp mới đều có tỷ lệ cao về sinh viên đại trên số dân Kinh tế phát triển là điều kiện cho giáo dục phát triển Giáo dục phát triển là động lực cho kinh tế phát triển Kinh tế phát triển là điều kiện để phát triển xã hội.Hạt nhân của sự phát triển và tăng trưởng bền vững là lực lượng lao động được đào tạo, làm việc có năng suất và hiệu quả cao Đây là nguồn tài nguyên vô giá mà chỉ khi biết đầu tư, sử dụng có hiệu quả sẽ là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc vươn lên làm giàu cho bản thân và đất nước
Theo truyền thống các trường đại học trước đây thường đi theo hai hướng: hướng gắn đại học với nghiên cứu ở tỷ trọng cao về cơ sở lý thuyết, hàn lâm và hướng đại học thực hành, chuyên nghiệp chủ yếu là rèn luyện kĩ năng theo nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm của thị trường lao động
Ngày nay, các trường đại học trên thế giới không phân rõ ranh giới hai hướng đào tạo này, mà ưu thế thiên hướng đại học khoa học ứng dụng, đào tạo nghề nghiệp, kĩ năng thực hành đang thu hút nhiều người học Trình độ dân trí ngày càng cao, kinh tế tri thức càng phát triển thì việc chuyển từ đại học tinh hoa sang đại học đại trà là xu thế phù hợp với yêu cầu của cuộc sống
Về chương trình, nội dung và phương pháp, các trường đại học trên thế giới cũng đang chuyển đổi, cải cách theo hướng đa dạng ở nhiều cấp, trình độ khác nhau
Trang 30Chương trình giáo dục đại học đa phần là bốn năm và sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng, gọi chung là cử nhân
Một số nước có chương trình đại học hai năm như ở Mỹ và các nước có nền kinh tế phát triển dành cho những người đã có việc làm hoặc học sinh có bằng phổ thông trung học Sinh viên vào đại học hai năm ra trường có thể đi lao động trực tiếp hoặc sẽ học tiếp theo chương trình đại học bốn năm tuỳ theo năng lực và hoàn cảnh của từng người như ở Mỹ
Trường đại học cũng như công xưởng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm
ở các cấp độ khác nhau Tuỳ theo thời gian và trình độ đào tạo hoàn thành, ngoài bằng cử nhân, người học có thể nhận được các chứng chỉ khác nhau Để đáp ứng nhu cầu người học, người lao động học suốt đời, vừa làm vừa học, bổ sung nâng cao kiến thức, các trường đại học phần lớn đã chuyển phương pháp học theo niên chế sang học phần, tín chỉ Người học không phải học liên tục theo thời gian mà có thể tích luỹ kiến thức bằng học phần, tín chỉ của chương trình chuẩn Khi tích luỹ đủ học phần, tín chỉ theo quy định và giới hạn thời gian, người học sẽ được nhận bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ
Mặt khác mô hình giáo dục đại học của các nước cũng có sự khác nhau
Ví dụ như một số nước điển hình tiên tiến sau:
Mô hình giáo dục đại học ở Mỹ
Giáo dục đại học ở Mỹ có đặc điểm là, vận hành theo nguyên tắc tự trị rộng lớn của các trường đại học Hiến pháp Mỹ quy định, trách nhiệm quản lý giáo dục không thuộc về Chính phủ liên bang mà thuộc về mỗi bang Chính quyền bang cũng chỉ quản lý giáo dục bậc cao một phần, bằng việc đầu tư một khoản kinh phí và cử một người đại diện tham gia Hội đồng quản trị của các trường đại học công Các trường này gần như có toàn quyền quyết định mọi việc của mình, bao gồm cả thuê mướn, tuyển dụng, sa thải giảng viên,
Trang 31nhân viên… Riêng các trường tư nhân (chiếm gần một nửa trong số 3.500 trường đại học, cao đẳng ở Mỹ), quyền tự trị của họ còn lớn hơn nhiều
Nguyên tắc tự trị quản lý giáo dục đại học Mỹ trong cơ chế thị trường tất yếu nảy sinh nguyên tắc tự do cạnh tranh giữa các trường đại học Ưu điểm của nó là tạo ra một nền giáo dục bậc cao đại chúng gắn bó chặt chẽ và bền vững với cộng đồng địa phương, có quan hệ mật thiết với nền kinh tế, bám sát nhu cầu của thị trường lao động Nguyên tắc cạnh tranh giáo dục cũng buộc các trường đại học phải không ngừng đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, thu hút và khuyến khích những giảng viên giỏi làm việc cho trường, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Ngoài bộ phận giáo viên cơ hữu, các trường đại học còn mời các chuyên gia thỉnh giảng có danh tiếng ở trong và ngoài nước, đặc biệt là những người đang hoạt động thực tế (kinh doanh, kỹ thuật, quản lý…) tham gia giảng dạy Các phòng thí nghiệm, trung tâm và công ty thuộc trường đại học cũng tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học Nhiều giáo sư ở các trường đại học cũng là những nhà kinh tế chủ chốt của các ngân hàng, công ty lớn và
là cố vấn chính phủ
Mô hình giáo dục đại học Liên Xô (cũ)
Mô hình này trái ngược hoàn toàn với mô hình của Mỹ Nguyên tắc tập trung hóa và thống nhất về chính trị chi phối toàn bộ hoạt động và quản lý, quy mô và nội dung chất lượng đào tạo của các trường đại học trong một hệ thống Hoạt động của tất cả các trường đại học hầu như nhờ nguồn kinh phí của nhà nước cấp Các trường đại học được tự soạn giáo trình và chọn phương pháp giảng dạy, song phải theo chương trình và kế hoạch học tập của Bộ Đại học Ưu điểm của mô hình này là Nhà nước có thể quản lý chặt chẽ và toàn diện giáo dục bậc đại học, tạo ra nền giáo dục đại học có tính đại chúng cao
Trang 32Song, mặt kém của mô hình này là thiếu sự năng động và kém thích ứng trước
sự biến đổi của môi trường kinh tế-xã hội quốc gia và quốc tế
Mô hình giáo dục đại học Đức
Mô hình giáo dục đại học Đức do Uyn-hem Vôn Hăm-bôn sáng lập từ thế kỷ XIX với mục đích xây dựng những trung tâm nghiên cứu đại học hiện
đại để “đẩy lùi những biên giới của kiến thức” Mô hình này không coi trọng
sự can thiệp của chính trị và quyền lực nhà nước đối với giáo dục đại học Nó đảm bảo tính độc lập, tự quyết của các trường đại học và quyền tự do của các thành viên được theo đuổi việc nghiên cứu mà không có sự can thiệp của chính quyền Chính phủ liên bang và các bang chỉ có quyền hạn quản lý một phần công việc của các trường đại học, thông qua việc cấp phát tài chính và qua Hội đồng đại học để bàn bạc đánh giá công việc của các trường Các trường đại học ở Đức có toàn quyền tuyển dụng, trả lương và thưởng - phạt nhân sự của mình
Mô hình giáo dục đại học Anh
Mô hình giáo dục đại học ở xứ sở sương mù được nêu lên như một tấm gương sáng về một hệ thống giáo dục bậc cao được hưởng sự tự trị về thể chế rất rộng rãi Nhà nước chỉ quản lý các trường đại học thông qua việc cấp phát tài chính Các trường đại học ở đây hoàn toàn có quyền sử dụng kinh phí đã được cấp mà không có sự can thiệp hay kiểm tra của nhà nước.Sinh viên ở đây bắt buộc phải ở trong ký túc xá, hợp thành một cộng đồng sinh hoạt và học tập dưới sự quản lý của nhà trường Tuy nhiên, hạn chế của giáo dục đại học ở Anh so với các nước khác chi phí trung bình 15000 USD một năm đối với một sinh viên là quá cao, chỉ có những gia đình khá giả mới có khả năng chi trả khoản tiền khổng lồ này Hiện nay, có thể thấy rằng, giáo dục đại học ở Anh dường như chỉ mở cửa đối với tầng lớp giàu có ở trong và ngoài nước
Mô hình giáo dục đại học Pháp
Trang 33Giáo dục đại học Pháp do Na-pô-lê-ông khởi xướng, là một trong những ví dụ cổ xưa nhất về việc Nhà nước sử dụng đại học như một công cụ hiện đại hóa xã hội Các trường đại học ở Pháp có quyền chủ động xây dựng chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy cũng như nghiên cứu khoa học Năm 1968, Pháp tiến hành cải cách giáo dục, quyền tự trị của các trường đại học được mở rộng thêm về lĩnh vực tài chính, nhân sự… Mô hình giáo dục đại học Pháp được hình thành trong cơ chế thị trường, do đó có thể khuyến khích sự cạnh tranh về nhân lực và chất lượng giữa các trường đại học
Giáo dục đại học Pháp được chia thành hai hệ: đào tạo tổng quát và đào tạo nghề nghiệp Hai hệ này không tách rời nhau: giữa hai hệ thường có cầu nối để sinh viên có thể chuyển từ hệ này sang hệ kia
Từ những mô hình giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học của một số nước trên thế giới đã trình bày ở trên, bước đầu có thể khái quát những giá trị hiện đại, phổ biến từ các hệ thống giáo dục đó trên một số khía cạnh sau:
Xét từ khía cạnh cơ cấu tổ chức quản lý
Giúp cho người học linh hoạt hơn trong công việc có nghĩa là ngưòi học không chỉ đóng cứng trong một nghề mà có thể thay đổi nghề theo nhu cầu của cuộc sống và xã hội Mặt khác cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp thay đổi theo các thời kỳ thích hợp với nền kinh tế của đất nước
Trên thế giới đào tạo nghề thường gắn với nhu cầu của thị trường lao động làm cho người sử dụng lao động không bị thiếu hụt về nhân công
Người lao động được đào tạo bổ sung nghề ngay trong khi hoạt động nghề nghiệp và khi nghề nghiệp của họ không còn phù hợp với nhu cầu của
Trang 34Thay đổi theo các thời kỳ thích hợp với nền kinh tế của đất nước
Hình thức học tín chỉ làm cho sinh viên không còn thụ động trong việc học điều này không chỉ cho người học mà cho cả người dạy nữa, đồng thời có thể giảm tải được chương trình học nặng về lý thuyết mà còn gắn được việc học với thực hành
Cơ sở vật chất và kỹ thuật hiện đại giúp cho người học có thể đáp ứng được nhu cầu của nền giáo dục hiện đại
Thời gian đào tạo linh hoạt không quy định cứng nhắc cho người học
mà phụ thuộc vào tính chất từng ngành nghề và trình độ của người được đào tạo làm cho người được đào tạo có nhiều thời gian hơn trong việc thích nghi với việc học của mình và đặc biệt là phù hợp với nhiều đối tượng tham gia, nhiều khi quy định khung về thời gian cũng làm cho nhiều đối tượng muốn học cũng không có điều kiện để tham gia
Xét ở khía cạnh hiệu quả kinh tế xã hội
Với cơ cấu tổ chức và thời gian linh hoạt như vậy đã mang lại hiệu quả kinh tế rất cao đó là: mặc dù thời gian đào tạo ngắn nhưng chất lượng đào tạo lại cao, đối tượng được đào tạo có tay nghề cao nên thích ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động Mặt khác tiết kiệm được chi phí ngân sách cho giáo dục, đồng thời giúp cho người sử dụng lao động không bị thiếu hụt nhân công và có được những nhân công lành nghề và có tay nghề cao mà không tốn kém khi đào tạo họ Vì thế đã tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cao đem lại được nhiều lợi nhuận và làm cho kinh tế ngày càng phát triển mạnh
mẽ
Xét ở khía cạnh chính trị xã hội
Trang 35Kinh tế phát triển, con người được đào tạo giúp cho xã hội ổn định, phát triển và đem lại một xã hội tri thức, mặt khác con người trong xã hội được phát triển toàn diện, đầy đủ thể hiện qua các chính sách an sinh xã hội
và hơn nữa đã tạo ra cho xã hội những con người có phẩm chất đạo đức tốt, thiết tha gắn bó với lợi ích của nhà nước và của nhân dân, trên nền tảng đó góp phần xây dựng chính trị xã hội dân chủ vững mạnh, trong sạch
Với những ưu điểm của hệ thống giáo dục trên nếu Việt Nam tiếp thu, vận dụng phù hợp với điều kiện nước thì sẽ đáp ứng được những yêu cầu phát triển đất nước được biểu hiện ở nhiều lĩnh vực như:
Về kinh tế: vận dụng những giá trị hiện đại, phổ biến trên thế giới trong giáo dục vào Việt Nam sẽ giúp cho việc đào tạo nguồn nhân lực dồi dào và có tay nghề cao để đáp ứng được sự phát triển kinh tế, tạo điều kiện để xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại như các khu công nghiệp, khu chế xuất mọc lên nhiều các liên doanh, liên kết kinh tế quốc tế mở rộng, các khu vui chơi giải trí, văn hóa, thể thao được nâng cấp, tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao
Về xã hội: để giữ vững và phát triển xã hội tiến lên thì chủ yếu là phải đáp ứng đầy đủ những nhu cầu, lợi ích cơ bản, hợp pháp không chỉ về đời sống vật chất mà cả về đời sống tinh thần: được học tập, được công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển, công bằng trong tiếp cận các dịch vụ, phúc lợi
xã hội của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội nên việc phát triển giáo dục
để đáp ứng được nhu cầu của xã hội là điều tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 36Về văn hoá: Mục tiêu giáo dục là hình thành nhân cách con người, đồng thời giáo dục chính là nơi gìn giữ, truyền thụ và phát huy những giá trị chung của con người, hệ thống giá trị chung của dân tộc
Về chính trị: Giáo dục, xây dựng những con người và thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Kết luận chương 1
Tiếp thu văn hoá thế giới là sự vận động thường xuyên gắn với sự phát
triển của văn hóa xã hội Trong đời sống xã hội, giao lưu càng mạnh mẽ thì mọi sáng tạo văn hóa được phổ biến và chuyển tải càng rộng rãi, sẽ góp phần nâng cao đời sống văn hóa của cộng đồng Ngược lại, đời sống cộng đồng càng được nâng cao càng có điều kiện mở rộng giao lưu văn hóa Đó là phép biện chứng của sự phát triển văn hóa trong cộng đồng xã hội Việt Nam có nguồn gốc văn hóa bản địa, là một nền văn hóa nông nghiệp lúa nước (phi Hoa, phi Ấn), có quá trình giao lưu văn hoá với phương Bắc (1000 năm Bắc thuộc) Từ thời kỳ Đại Việt vẫn duy trì giao lưu văn hoá với các nước láng giềng, phía bắc với văn hoá Trung Hoa, phía Nam với văn hoá Chiêm Thành, Chân Lạp (Khơme) Trong 100 năm thuộc Pháp, chúng ta có điều kiện nhất định trong giao lưu với văn hoá Pháp, tuy bị cưỡng bức văn hoá nhưng do văn hoá bản địa có truyền thống lâu đời nên đã không Pháp hoá được văn hoá Việt Nam
Những năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc chúng ta có một giai đoạn ảnh hưởng sâu sắc văn hóa của các nước Liên Xô, Đông Âu Trong miền Nam Việt Nam có giai đoạn chịu ảnh hưởng văn hoá Mỹ
Từ 1986 đến nay, với đường lối mở cửa “đa phương hoá, đa dạng hoá” trong quan hệ đối ngoại, đất nước ta có điều kiện giao lưu văn hoá với
Trang 37rất nhiều nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, trong châu lục Để vừa kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống, vừa tiếp nhận được những thành tựu của loài người, trong các nghị quyết của Đảng đều chỉ rõ: Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới Trong đó vấn đề tiếp thu những giá trị văn hoá hiện đại, phổ biến ở lĩnh vực giáo dục là vấn đề được Đảng và nhà nước quan tâm hơn cả vì giáo dục là yếu tố luôn giữ vai trò quyết định trong sự phát triển của một quốc gia trong quá trình hội nhập Việt Nam đã và đang có những cơ hội và thách thức vô cùng to lớn trong việc khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Muốn tận dụng triệt để mọi cơ hội để khắc phục tối đa những khó khăn thì không có con đường nào khác là con đường xây dựng một nền giáo dục tiên tiến
Trang 38Chương 2 TIẾP THU GIÁ TRỊ VĂN HÓA HIỆN ĐẠI, PHỔ BIẾN
CỦA THẾ GIỚI VÀO VIỆC PHÁT TRIỂN VĂN HÓA GIÁO DỤC TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
- Về kinh tế, như chúng ta đã biết, kinh tế là nhân tố quan trọng đóng
vai trò quyết định đối với sự phát triển của văn minh nhân loại đồng thời tạo
ra một sự thay đổi căn bản trong hoạt động kinh tế của con người, làm thay đổi tính chất và vị trí của thị trường Nếu như trước đây, thị truờng mang tính chất quốc gia thì hiện nay, thị trường mang tính quốc tế Về bản chất, hội nhập kinh tế là sự ra tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia và khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh
tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế giới hội nhập và thống nhất đó là:
+ Tạo ra sự tự do hoá các yếu tố của tái sản xuất xã hội mang tính toàn cầu hoá được thể hiện qua tự do hoá thương mại đang trở thành nội dung quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế Bằng chứng là, mục tiêu của các thể chế kinh tế thương mại song phưong, đặc biệt là WTO, đều tập trung giải quyết vấn đề tiếp cận thị truờng thông qua cam kết cam kết về tự do hóa
Trang 39thương mại Đây là quá trình dỡ bỏ dần những cản trở trong hoạt động thương mại, xóa bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng, nhằm làm cho hoạt động thương mại trên phạm vi quốc tế ngày càng tự do hơn thông qua việc cắt giảm dần thuế quan; giảm bớt, tiến tới loại bỏ hàng rào phi thuế quan, như hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, quản lý ngoại hối, phụ thu hàng nhập khẩu, các loại lệ phí và nhiều cản trở vô hình khác; bảo đảm cạnh tranh công bằng và không phân biệt đối xử
+ Đẩy mạnh tự do hóa các hoạt động tài chính và đầu tư quốc tế được đẩy mạnh Toàn cầu hóa trong lĩnh vực tài chính được đẩy mạnh thông qua
việc tự do hóa rộng rãi các giao dịch tài chính quốc gia và phát triển các thị trường tài chính quốc tế, hướng tới một thị trường tài chính mang tính toàn cầu Tự do hóa tài chính bao gồm như: nới lỏng kiểm soát tín dụng; tự do hóa lãi suất; tự do hóa tham gia hoạt động ngân hàng và các dịch vụ tài chính trên toàn thế giới, không phân biệt biên giới; tự do hóa việc di chuyển của các luồng vốn quốc tế Quá trình này dẫn đến hệ thống các nền tài chính quốc gia hội nhập và tùy thuộc, tác động lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ
+ Các công ty đa quốc gia (MNCs) ngày càng đóng vai trò quan trọng
và chủ đạo trong các quan hệ kinh tế thế giới Tính đến năm 2004, toàn thế giới có khoảng 63.000 công ty đa quốc gia với trên 800.000 chi nhánh Các công ty đa quốc gia hiện chi phối hơn 80% giá trị thương mại quốc tế, chiếm hơn 90% tổng giá trị vốn đầu tư và thành tựu khoa học, công nghệ trên thế giới Với sức mạnh ngày càng lớn, các công ty đa quốc gia ngày càng mở rộng ảnh hưởng, duy trì và nâng cao quyền lực kiểm soát trong các lĩnh vực quan trọng như tài chính, công nghệ, dịch vụ và lao động Các công ty xuyên quốc gia chính là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình toàn cầu hóa kinh tế Trong hơn một thập kỷ gần đây, các công ty xuyên quốc gia đã tăng cường hoạt động mua lại và sáp nhập, hình thành các
Trang 40công ty quốc tế khổng lồ có ảnh hưởng ngày càng lớn đến quá trình phân công lao động quốc tế
+ Hình thành ngày càng nhiều tổ chức liên kết kinh tế quốc tế ở những
cấp độ khác nhau (khu vực và thế giới) và vai trò quan trọng của WTO trong
quá trình hội nhập kinh tế Trong những thập kỷ gần đây, nền kinh tế thế giới
đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của các hoạt động liên kết kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế đã thúc đẩy kinh tế phát triển với tốc độ cao, nếu nửa đầu thế kỷ XX, tổng GDP của thế giới tăng 2,7 lần, thì đến nửa cuối thế kỷ, tổng GDP thế giới đã tăng 5,2 lần Đầu năm 1950, tỷ trọng thương mại trong GDP toàn cầu là 7%, thì hiện nay đã tăng lên hơn 50% Năm 2004, tổng giá trị thương mại toàn cầu đạt hơn 22.267 tỉ USD, làm cho thương mại thực sự trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển và tăng
trưởng của nền kinh tế thế giới Mặt khác quá trình hội nhập kinh tế dẫn đến
việc những hàng rào kinh tế ngăn cách giữa các quốc gia dần được dỡ bỏ, điều này đã mở ra những cơ hội thị trường to lớn cho tất cả các nước, mà trước hết là thị trường xuất - nhập khẩu và cùng với các quan hệ trao đổi hàng hóa dịch vụ tăng lên mạnh mẽ là sự gia tăng nhanh chóng các dòng lưu chuyển của vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, được đẩy mạnh
Vì vậy, việc tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, các quốc gia có cơ hội to lớn trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhận được các công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới, đồng thời rút ngắn khoảng cách tụt hậu Còn đối với các nước đang phát triển, hội nhập kinh tế đã tạo điều kiện cho các quốc gia nhanh chóng tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Từ đó hình thành nên một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, rút ngắn được tiến trình hiện đại hóa
Xu hướng phân công lao động quốc tế ngày nay đã chuyển dịch từ chiều dọc