1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ngôn ngữ văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: Ngôn ngữ văn xuôi mới qua một số tác phẩm văn học chữ quốc ngữ

199 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu trong luận án của mình là: “Ngôn ngữ văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: Ngôn ngữ văn xuôi mới qua một số tác phẩm văn học chữ quốc ngữ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Hà Nội - 2016

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

T/M TẬP THỂ HƯỚNG DẪN

PGS.TS Hà Văn Đức

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN

PGS.TS Đoàn Đức Phương

Trang 4

Hà Nội - 2016

Trang 5

Tác giả luận án cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên trong các Hội đồng đánh giá luận án bởi những góp ý của Hội đồng sẽ giúp tác giả luận án

có những tiến bộ nhanh hơn trên con đường học tập và nghiên cứu

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Thị Hoa

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của ai khác

- Luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị

- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu một cách trung thực, cẩn trọng trong luận án

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Thị Hoa

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận án 5

6 Cấu trúc của luận án 6

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23

1.2 Giới thuyết về một số khái niệm 24

1.2.1 Văn xuôi và văn xuôi mới 24

1.2.2 Ngôn ngữ văn xuôi mới 27

1.2.3 Ngôn ngữ trần thuật 29

1.2.4 Ngôn ngữ hội thoại 30

Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ VĂN XUÔI MỚI NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 34

2.1 Nhân tố chính trị, xã hội 34

2.1.1 Thực dân Pháp đô hộ trên toàn xứ Đông Dương, đưa Việt Nam vào quỹ đạo Âu hóa 34

2.1.2 Sự hình thành và phát triển của đô thị Việt Nam theo mô hình phương Tây 36

2.2 Nhân tố văn hóa, văn học và tư tưởng 39

2.2.1 Sự tiếp xúc văn hóa Pháp - Việt qua hệ thống giáo dục Pháp - Việt 39

2.2.2 Chữ Quốc ngữ và sự hình thành một nền quốc văn mới 43

2.2.3 Ý thức cá nhân trong quan hệ: nhà văn - cuộc sống - tác phẩm - công chúng và trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa 47

Trang 8

2.2.4 Báo chí tiếng Việt đầu thế kỷ XX với sự hình thành và phát triển

của ngôn ngữ văn xuôi mới 52

2.2.5 Dịch thuật phát triển - thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển vượt bậc cho ngôn ngữ văn xuôi mới 55

Chương 3 ĐỔI MỚI VỀ KẾT CẤU VĂN BẢN VĂN XUÔI MỚI NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 59

3.1 Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ văn xuôi nửa đầu thế kỷ XX 59

3.1.1 Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi trước thế kỷ XX 59

3.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi từ năm 1900 đến năm 1930 63

3.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi từ năm 1930 đến năm 1945 68

3.2 Kết cấu văn bản văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX 71

3.2.1 Hình thái cốt truyện chịu ảnh hưởng của phương Tây 71

3.2.2 Phương thức triển khai tạo ra kịch tính 77

3.2.3 Thoát ra khỏi kiểu kết cấu truyền thống, có hậu 81

3.2.4 Ngôi trần thuật 86

3.2.5 Nhịp điệu trần thuật 92

3.2.6 Giọng điệu trần thuật 96

3.2.7 Đoạn văn mạch lạc, tổ chức chặt chẽ, tinh giản 100

Chương 4: NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT VÀ NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG VĂN BẢN VĂN XUÔI MỚI NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 105

4.1 Ngôn ngữ trần thuật 106

4.1.1 Ngôn ngữ người trần thuật 106

4.1.2 Các kiểu ngôn ngữ trần thuật 107

4.1.2.1 Lời kể 107

4.1.2.2 Lời tả 112

4.1.2.3 Lời bình 121

4.1.2.4 Lời nửa trực tiếp 123

4.2 Ngôn ngữ hội thoại 124

4.2.1 Ngôn ngữ nhân vật 124

4.2.2 Ngôn ngữ nhân vật qua hệ thống từ xưng hô 125

4.2.3 Ngôn ngữ nhân vật qua hệ thống từ ngữ dùng để kể, tả, bình luận 128

Trang 9

4.2.4 Ngôn ngữ nhân vật qua độc thoại 133 4.2.5 Ngôn ngữ nhân vật qua đối thoại 140

KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 161

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Bảng thống kê tỉ lệ % sử dụng ngôi trần thuật trong các truyện ngắn và tiểu phẩm 89 Bảng 2: Thống kê tần số xuất hiện lời độc thoại trong truyện ngắn và tiểu phẩm 135 Bảng 3: Thống kê tần số xuất hiện lời độc thoại trong tiểu thuyết 137 Bảng 4: Thống kê tần số xuất hiện lời đối thoại trong truyện ngắn và tiểu phẩm .142 Bảng 5: Thống kê tần số xuất hiện lời đối thoại trong tiểu thuyết 143

Trang 11

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bảng thống kê ngôi trần thuật trong truyện ngắn Thạch Lam .161 Phụ lục 2: Bảng thống kê ngôi trong truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng .162 Phụ lục 3: Bảng thống kê ngôi trần thuật trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố .163 Phụ lục 4: Bảng thống kê ngôi trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan .164 Phụ lục 5: Bảng thống kê ngôi trần thuật trong truyện ngắn của Nam Cao .165 Phụ lục 6: Bảng thống kê ngôi trần thuật trong truyện ngắn của Nhất Linh .166 Phụ lục 7: Bảng thống kê ngôi trần thuật trong truyện ngắn của Khái Hưng 167 Phụ lục 8: Bảng thống kê tỉ lệ % ngôi trần thuật trong các truyện ngắn .168 Phụ lục 9: Bảng thống kê tần suất đối thoại trong truyện ngắn của Khái Hưng 169 Phụ lục 10: Bảng thống kê tần suất đối thoại trong truyện ngắn của Nhất Linh 170 Phụ lục 11: Bảng 11 thống kê tần suất đối thoại trong truyện ngắn của Thạch Lam .171

Phụ lục 12: Bảng thống kê tần suất đối thoại trong truyện ngắn của Nam Cao 173

Phụ lục 13: Bảng thống kê tần suất đối thoại trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan 176 Phụ lục 14: Bảng thống kê tần suất đối thoại trong truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng .182 Phụ lục 15: Bảng thống kê tần suất đối thoại trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố 183 Phụ lục 16: Bảng thống kê tần số xuất hiện lời đối thoại trong truyện ngắn và tiểu phẩm 187 Phụ lục 17: Bảng thống kê tần số xuất hiện lời độc thoại trong truyện ngắn và tiểu phẩm .187 Phụ lục 18: Bảng thống kê tần số xuất hiện lời độc thoại trong tiểu thuyết .188 Phụ lục 19: Bảng thống kê tần số xuất hiện lời đối thoại trong tiểu thuyết .188

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nửa đầu thế kỷ XX đánh dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của đất nước, bảo tồn văn hóa, văn học Việt Nam, trong đó có ngôn ngữ Thời kỳ này diễn ra nhiều biến động lớn trên mọi phương diện: từ chính trị, xã hội, kinh tế đến văn hóa, tư tưởng, lối sống và các giá trị Nền văn học Việt Nam, trong đó có văn xuôi cũng diễn ra những biến đổi hết sức sâu sắc, toàn diện và vô cùng mau lẹ, với nhiều giá trị khác nhau, theo một lộ trình không đơn giản và bằng phẳng, nhưng nhìn bao quát vẫn là một hành trình theo hướng hiện đại hóa ngày càng sâu rộng và triệt để Ngôn ngữ văn học nói chung và ngôn ngữ văn xuôi trên nền Quốc văn nói riêng cũng là một bộ phận của quá trình văn học ấy, cũng vận động theo hướng hiện đại hóa ngày càng sâu sắc, trên mọi phương diện và cấp độ Như vậy, trong bối cảnh lịch sử, xã hội mới và trong môi trường văn hóa mới, văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX vận động theo hướng hiện đại hóa ngày càng mạnh mẽ

Giai đoạn 1930 - 1945 được nhiều nhà nghiên cứu coi như là giai đoạn phát triển đến độ ổn định, hoàn chỉnh của nhiều thể loại và thuần thục, trưởng thành của văn học mới Hơn nữa, tốc độ phát triển về số lượng, chất lượng của các tác phẩm văn học thời kỳ này cũng rất đáng nể Nhiều tên tuổi và kiệt tác có thể trường tồn với thời gian Nghiên cứu những tác giả, tác phẩm, những khuynh hướng văn học thuộc thời kỳ này đến nay đã có rất nhiều công trình, chuyên luận, luận án với những quy mô khác nhau Trong đó, hiển nhiên vấn đề ngôn ngữ cũng được nói đến không ít Nghiên cứu ngôn ngữ văn học giai đoạn 1930 - 1945 vẫn là một nhiệm vụ khá quan trọng của nhà nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại

Trang 13

Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, là chất liệu của văn chương

“văn học là nghệ thuật của ngôn từ” Ngôn ngữ văn học vừa là điều kiện, lại vừa là kết quả của quá trình vận động, biến đổi của văn học qua các thời kỳ, giai đoạn và qua đó phản ánh sự biến đổi của đời sống xã hội, của tư duy, của môi trường văn hóa tinh thần và các giá trị của quan niệm thẩm mỹ Do đó, nghiên cứu văn học nói chung và văn xuôi nói riêng nhất thiết không thể bỏ qua bình diện ngôn ngữ, không chỉ bởi mọi bình diện của văn học đều chỉ có thể được biểu đạt qua ngôn ngữ, mà còn vì sáng tạo ngôn ngữ là một trong những mục đích quan trọng, là một phần không nhỏ góp phần hình thành nên những giá trị độc đáo, riêng biệt của văn chương “Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là tấm gương sáng

về mặt hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù lao động để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác” [32, tr.186]

Như vậy, xét thấy tầm quan trọng của sự thay đổi chất liệu của một nền văn học và từ yêu cầu giải thích và làm rõ sự chuyển biến hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX, đi vào nghiên cứu văn xuôi quốc ngữ thời kỳ này từ góc độ ngôn ngữ là một việc làm có ý nghĩa Do đó, chúng tôi quyết

định chọn đề tài nghiên cứu trong luận án của mình là: “Ngôn ngữ văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: Ngôn ngữ văn xuôi mới qua một số tác phẩm văn học chữ quốc ngữ” Đây là hướng nghiên cứu mới có điều kiện đi sâu

cắt nghĩa về những biến đổi tư duy nghệ thuật, về kỹ thuật viết văn, sự phát triển của câu văn xuôi nghệ thuật trong một thời đại văn qua các sản phẩm sáng tạo của các tài năng tiểu thuyết và truyện ngắn ở nước ta đầu thế kỷ XX Luận án là một hướng tiếp cận liên ngành (ngôn ngữ và văn học) để có thể nhận diện quá trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX một cách khoa học Từ đó ghi nhận sự đóng góp của các nhà văn trên các bước

Trang 14

đường phát triển của văn học nước nhà, vượt ra ngoài khuôn khổ của văn xuôi thời phong kiến

2 Mục đích nghiên cứu

- Giới thuyết các khái niệm: văn xuôi, văn xuôi mới, ngôn ngữ văn xuôi mới, ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ hội thoại và xem đó là công cụ then chốt, chiếu ứng với đối tượng nghiên cứu;

- Đi sâu tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển của ngôn ngữ văn xuôi nửa đầu thế kỷ XX (chính trị, xã hội, văn hóa, văn học, tư tưởng…) từ đó có cơ sở để lý giải về sự cách tân của văn xuôi và ngôn ngữ văn xuôi mới;

- Phân tích những đổi mới trong kết cấu văn bản văn xuôi mới như: cốt truyện; phương thức triển khai tạo ra kịch tính; kết cấu văn bản, nhịp điệu, giọng điệu Từ đó làm rõ sự chuyển biến theo hướng hiện đại của văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX;

- Vận dụng các khái niệm vào nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ hội thoại trong các tác phẩm của các nhà văn trên Thông qua khảo sát thống kê, miêu tả đặc điểm các cấp độ ngôn ngữ trong ngôn ngữ người trần thuật và ngôn ngữ hội thoại chỉ ra những biến đổi tư duy nghệ thuật, kỹ thuật viết văn của từng tác giả và sự phát triển câu văn xuôi nghệ thuật của giai đoạn 1930 - 1945 so với giai đoạn trước đó

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng

Luận án nghiên cứu về ngôn ngữ văn xuôi mới giai đoạn 1930 - 1945 qua một số tác phẩm văn học chữ quốc ngữ của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao: các nhân

tố ảnh hưởng, sự đổi mới về kết cấu văn bản, ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ hội thoại

Trang 15

- Về nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX: luận án nghiên cứu các nhân tố chính trị, xã

hội, văn hóa, văn học, tư tưởng;

- Về sự đổi mới kết cấu văn bản: luận án nghiên cứu hình thái cốt

truyện, phương thức triển khai, kết cấu, giọng điệu, nhịp điệu, tổ chức;

- Về ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ hội thoại: luận án nghiên cứu các

kiểu ngôn ngữ trần thuật (kể, tả, bình, nửa trực tiếp); đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật qua từ xưng hô, qua hệ thống từ ngữ dùng để tả, kể, bình và qua độc thoại, đối thoại

- Nửa chừng xuân (Khái Hưng)

Và những truyện ngắn trong tuyển tập truyện ngắn của các nhà văn

sáng tác trong giai đoạn 1932 - 1945: Nhất Linh (13 truyện), Khái Hưng (26 truyện), Thạch Lam (33 truyện), Nguyễn Công Hoan (73 truyện), Vũ Trọng Phụng (15 truyện), Nam Cao (39 truyện) và Ngô Tất Tố (50 tiểu phẩm)

Trang 16

Trong số đó, nhà văn Ngô Tất Tố viết rất nhiều tiểu phẩm và những tiểu phẩm của ông được chọn làm đối tượng khảo sát trong luận án của chúng tôi (Xem

cụ thể ở phần phụ lục)

4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp lịch sử - xã hội: Do đối tượng lựa chọn nghiên cứu của

luận án có tính lịch sử nên khi nhìn nhận và phân tích vấn đề trong nguyên trạng hiện thời của nó thì chúng ta sẽ có được những đánh giá xác đáng, khoa học và khách quan

- Phương pháp phân tích văn bản: Đây là phương pháp cơ bản thường

được sử dụng trong khi nghiên cứu về văn học Phương pháp này sẽ được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phương pháp này được dùng khi

phân tích cấu trúc văn bản và các biểu hiện của ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ hội thoại

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương: Phương pháp tiếp cận hệ

thống, Phương pháp so sánh đối chiếu, Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Trang 17

- Đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về ngôn ngữ văn xuôi quốc ngữ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (giai đoạn 1930 - 1945) trên các bình diện: sự đổi mới kết cấu văn bản văn xuôi mới, ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ hội thoại

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Vận dụng kết quả nghiên cứu của luận án nhằm đưa ra những đề xuất, định hướng trong việc nghiên cứu và tiếp nhận ngôn ngữ văn xuôi chữ quốc ngữ;

- Với tư cách là một công trình nghiên cứu khoa học, những kết quả của luận án sẽ là tư liệu quan trọng cho những người nghiên cứu sau này và các sinh viên đang học ngành văn học và ngành ngôn ngữ

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển ngôn ngữ văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX

Chương 3: Đổi mới về kết cấu văn bản văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX Chương 4: Ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ hội thoại trong văn bản văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX

Trang 18

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Văn học nửa đầu thế kỷ XX là thời kỳ có nhiều biến đổi sâu sắc, mạnh

mẽ trên nhiều phương diện từ nội dung đến hình thức thể hiện, trong đó đặc biệt chú ý là sự hình thành và phát triển của văn xuôi mới (văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ) thay thế cho văn vần

Văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nhìn nhận đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được đánh giá rất cao Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về ngôn ngữ văn xuôi quốc ngữ giai đoạn 1930 - 1945, có chăng thì chỉ dừng lại ở từng tác giả, tác phẩm mà chưa có được cái nhìn toàn diện và có hệ thống về văn xuôi cũng như ngôn ngữ văn xuôi mới giai đoạn 1930 - 1945

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1 Trước năm 1945, các công trình, bài viết chủ yếu tập nghiên cứu

về thể loại và thi pháp của văn xuôi quốc ngữ Các nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Trúc Hà, Hải Đường, Vũ Ngọc Phan, Vũ Bằng… đều

có chung nhận định văn xuôi quốc ngữ ra đời đầu tiên ở Nam Kỳ nhưng phát triển rực rỡ ở Bắc Kỳ và đỉnh cao là giai đoạn 1930 - 1945

Người quan tâm đến văn xuôi mới đầu tiên phải kể đến, đó là Phạm

Quỳnh Trong công trình Bàn về tiểu thuyết (1921), tác giả nhận định hiện

trạng của tiểu thuyết đương thời “Mấy năm nay, ở nước ta người làm tiểu thuyết, người đọc tiểu thuyết đã thấy nhiều” nhưng “người làm tiểu thuyết còn ít thấy hay mà người đọc tiểu thuyết cũng chưa được sành Lối tiểu thuyết trong văn chương ta thật là chưa có phương châm, chưa có định thể vậy” [83, tr.658] Bên cạnh việc bàn về hai yếu tố then chốt liên quan đến một tác phẩm

Trang 19

văn học: nhà văn và người đọc thì tác giả còn giải thích rất rõ về tiểu thuyết

và phép làm tiểu thuyết ở các nước Âu - Mỹ “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự

lạ kỳ tích, đủ làm cho người đọc có hứng thú” [83, tr.237] Như vậy, bài viết chủ yếu định hướng sáng tác tiểu thuyết theo kiểu phương Tây cho những người làm tiểu thuyết chứ chưa bàn kỹ về sự tiến triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Cùng với xu hướng trên còn có công trình Lược khảo về sự tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết (1932) của Trúc Hà Đây là công trình

có tính chất tổng kết những thành tựu của văn chương giai đoạn đầu thế kỷ

XX Ngoại trừ cái lỗi lớn là bỏ qua văn xuôi quốc ngữ miền Nam, bài viết của ông đã bao quát được sự phát triển của quốc văn trong hơn mười năm, từ

1919 đến 1932, điểm qua được những nổi trội, những cây bút tiêu biểu và về sau vẫn được nhắc đến nhiều trong các công trình văn học sử Tác giả theo dõi từng bước phát triển của quốc văn, từ thuở còn là những câu văn đăng đối biền ngẫu cho đến khi trở nên hết sức linh hoạt uyển chuyển trong những tác phẩm tả chân hay lãng mạn Tác giả cũng tập trung giới thiệu thể thức và cách viết tiểu thuyết hơn là phê bình, đánh giá về hiện trạng tiểu thuyết đương thời

“Xét ra ngoài mười mấy năm nay về phương diện tiểu thuyết chưa nói đến các phương diện khác, quốc văn thật đã tiến nhiều” [30, tr.153] Ông cũng chưa phân biệt rạch ròi giữa tiểu thuyết và truyện ngắn Những truyện ngắn xuất hiện trên mặt báo lúc đó ông cũng đưa vào khái niệm tiểu thuyết

Thời kỳ này, một số nhà nghiên cứu còn nghiên cứu về kỹ thuật viết văn

của các nhà văn Theo giòng (1941) của Thạch Lam là công trình tiêu biểu bàn

về thể loại tiểu thuyết và cách tân trong cách viết tiểu thuyết của Phong hóa

Ông đã nhận xét về cách viết văn của Phong hóa như sau: “Phong - Hóa hết

sức phá bỏ các sáo cũ trong cách viết văn Một câu văn sáo là một câu văn có

Trang 20

những đối chọi nhau cho kêu, và những hình ảnh, những ý nghĩ, những hình ảnh sẵn sàng, chỉ việc chắp nối với nhau Phong Hóa phá bỏ lề lối, và gây nên một lối văn giản dị, dễ hiểu, bình dân hơn và hết sức tránh dùng chữ Hán Chính lối văn ấy, mỗi ngày một mềm dẻo hơn, giầu thêm vì những cách hành văn của chữ Pháp, là lối văn thịnh hành đến bây giờ” [53, tr.21]

Cùng với đó là công trình Khảo về tiểu thuyết (1941) của Vũ Bằng Tác

giả đã dành hẳn hai chương 10 và 12 để bàn luận về thi pháp tiểu thuyết như giọng điệu và tổ chức trần thuật Ý đồ của tác giả được thể hiện ngay ở cách đặt tên cho các chương: “Tiểu thuyết nên viết bằng giọng văn gì” và “Viết tiểu thuyết nên dùng ngôi thứ mấy?” [5, tr.80]

Nhìn chung, các công trình trên chỉ mang tính định hướng sáng tác hơn

là phê bình, đánh giá nhưng cũng hé mở sức hấp dẫn đối với những ai đang và

sẽ quan tâm đến văn xuôi quốc ngữ Điều đó cũng cho thấy văn xuôi đang tiến đến làm chủ văn đàn thay thế cho văn vần khi văn học được sáng tác bằng chữ quốc ngữ

2 Từ năm 1945 đến 1986, việc nghiên cứu văn xuôi quốc ngữ đầu thế thế kỷ XX được giới nghiên cứu quan tâm nhiều hơn Trong đó phải kể đến

cuốn văn học sử phổ thông bằng chữ quốc ngữ đầu tiên Việt Nam văn học sử yếu (1946) của Dương Quảng Hàm Ông cho rằng nền quốc văn mới hình

thành ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là một sự kiện hết sức quan trọng, một cột mốc trong sự hình thành ngôn ngữ văn học hiện đại tiếng Việt Theo tác giả, chỉ khi có chữ quốc ngữ thì văn xuôi mới hình thành “Xưa kia ta chưa

có văn xuôi Đến khi nền quốc văn mới thành lập, văn xuôi bắt đầu xuất hiện

và ngày một phát đạt mà thành ra thể văn chính trong nền Việt văn ngày nay” [31, tr.414] và đó là kiểu loại văn xuôi trước đây chưa từng có “Trong quốc văn mới các thể biền ngẫu (phú, tứ lục, kinh nghĩa, văn sách) hầu như không dùng đến nữa; các thể văn vần (thơ cổ phong, thơ đường luật, lục bát song

Trang 21

thất, hát nói, ngâm khúc) vẫn có một số ít người viết… duy có các thể văn xuôi là thịnh hành nhất” [31, tr.412] Khi nói về Tự lực văn đoàn và những đóng góp trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc, trong công trình

Việt Nam văn học sử yếu (1941), tác giả Dương Quảng Hàm cho rằng: “Phái

ấy (Tự lực văn đoàn) lại có công trong việc làm cho văn quốc ngữ trở nên sáng sủa, bình giản khiến cho nhiều người thích đọc” [31, tr.453] Đây cũng

là ý kiến chung của các nhà nghiên cứu phê bình sau này

Cuốn văn học sử Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957), tập 3, từ

giữa thế kỷ XIX đến 1945 của nhóm Lê Quý Đôn cũng đề cập khá kỹ đến bản chất của sự chuyển đổi từ văn vần sang văn xuôi Người viết đã tái hiện lại dòng chảy liên tục của lịch sử văn học thông qua những tác gia và tác phẩm lớn của văn học chữ Nôm và chữ quốc ngữ Tuy còn rất sơ lược nhưng cũng

đã bàn qua về cái mới của văn xuôi so với văn vần: “Tạo nên một nền nghệ thuật mới, làm phong phú thêm ngôn ngữ của ta…Văn xuôi trở thành một thứ văn trong sáng, khúc triết, đại chúng Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ về tình cảm, cảm giác, màu sắc trở nên phong phú và có khả năng diễn đạt những khía cạnh sâu xa nhất của lòng người” [62, tr.297]

Công trình nghiên cứu Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1960)

của Phạm Thế Ngũ bàn rất kĩ về thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Trong đó, người viết đã giới thiệu kỹ về các tập đoản thiên, đoản kịch của Khái Hưng, Nhất Linh và Thạch Lam Tác giả nhận xét “chú ý đến sáng tác hơn là dịch thuật nhất là sáng tác văn nghệ (tiểu thuyết, thơ) Cái tên Tự lực đây cũng còn có cái ý tự sức mình sáng tác, không

đi phiên dịch hay mô phỏng Đó là một phản ứng chống lại giai đoạn trước chỉ chuyên chú vào học thuật còn văn nghệ thì chỉ đi phiên dịch ngoại văn”

[72, tr.18] Bên cạnh đó, ông đưa ra nhận xét chung về văn phong của Tự lực văn đoàn “chủ trương viết một lối văn giản dị, dễ hiểu dùng ít chữ nho, có

Trang 22

tính cách An Nam, để chống lại lối văn “đại cà sa” nặng trĩu những chữ Hán, những thuật đối xứng và trùng điệp của giai đoạn trước” [72, tr.19], về Khái Hưng “Lối hành văn dung dị, điềm đạm và ở nhiều truyện, ngòi bút cổ tích đầy thi vị nhẹ nhàng” [72, tr.353], về Thạch Lam “Về văn, Thạch Lam trong một vài tác phẩm loạt đầu tỏ ra chưa được sành sỏi chặt chẽ, cách viết có khi non vụng, lê thê ở những đoạn tả cảnh ngượng ngập, thuật sự rời rạc Nhưng

về sau câu văn ông lần tiến đến vẻ tự nhiên, vị đậm đà Tuy nhiên, ông không

có cái hóm hỉnh giễu cợt của Khái Hưng hay Thế Lữ Ngòi bút giàu hình ảnh cảm giác, nhưng không rộn ràng khoe khoang mà thường lặng lẽ điềm tĩnh, kín đáo tế nhị” [72, tr.476] Tuy nhiên, công trình này chưa nghiên cứu sâu về

ngôn ngữ của Tự lực văn đoàn, vẫn chỉ dừng lại ở những nhận xét sơ lược,

chung chung

Công trình Văn học Việt Nam 1930 – 1945 (1961) của Bạch Năng Thi

và Phan Cự Đệ là công trình được chúng tôi đánh giá cao bởi những đóng góp của người viết trong việc sưu tầm tài liệu, giới thiệu, phân tích đánh giá từng nhà văn giai đoạn 1930 -1945 và chỉ ra những thành công cũng như những hạn chế của họ Tuy nhiên, công trình này cũng chưa đi sâu nghiên cứu phương diện ngôn ngữ, có chăng cũng chỉ là những nhận xét rất khái quát như

“Các nhà văn Tự lực văn đoàn cũng có công nhiều trong việc góp phần bảo vệ

sự trong sáng của tiếng Việt Văn chương Tự lực văn đoàn vượt xa thứ văn biền ngẫu, nặng điển tích trong Nho phong”, “Tự lực văn đoàn đã cố gắng Việt hóa những yếu tố ngoại lai và phát huy những âm thanh, tiết điệu của ngôn ngữ Việt Nam” [97]

Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng (quyển hạ) là

công trình tương đối lớn đề cập khá chi tiết và toàn diện về tiểu thuyết và truyện ngắn thời kỳ này Trong công trình này, tác giả đã đánh giá khái quát lại những gì mà tiểu thuyết làm được cho đến nay: “Tiểu thuyết Việt Nam

Trang 23

trong vòng 20 năm đã tiến rất nhiều Bước tiến của nó thực là rõ rệt Nếu với Phan Kế Bính, Tản Đà, lịch sử tiểu thuyết của thế hệ 1913 dường như bắt đầu chuyển mình thì với Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn, nó như một nỗ lực thoát xác, ly khai quan niệm nghệ thuật cũ Với Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Trọng Thuật nó dênh lên được một bước để đi đến trưởng thành Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Tường Tam mới là người đẩy nó đi tìm một chân trời mới hơn…các ông sửa soạn bế mạc một thời đại, một thế hệ…và chuẩn bị khai mạc một thời đại mới, một thế hệ mới…Cái nền nhà đã đổ xong Người sau chỉ còn phải mất công lên tường, đặt rui xà là ngôi nhà sẽ nổi lên giữa cảnh hoang vu” [55, tr.89] Công trình này đã phân biệt rõ ràng về thể loại Tiểu thuyết và truyện ngắn đã có những bước tiến mới đáng kể và tạo dựng được một cái nền vững chắc để các văn gia sau này tiếp tục xây đắp

Trong Phê bình văn học thế hệ 32, tập 3, Phong trào văn hóa, Sài Gòn

xuất bản năm 1972, Thanh Lãng lại tập trung nhiều hơn đến kỹ thuật viết văn của các nhà văn thời kỳ 1930 - 1945, nhưng vẫn còn rất sơ lược “văn độc đáo

họ (Tự lực văn đoàn), khởi một lối văn mới mẻ, đơn sơ bình dân, dễ hiểu, vui tươi” [55, tr.235]

Các công trình nghiên cứu lịch sử văn học mới chỉ dừng ở mức độ định hướng, tổng hợp ý kiến, tư liệu là chính, chưa có sự bình luận kỹ lưỡng của người soạn sách Phần lớn các công trình mới bàn về quá trình hình thành và phát triển văn xuôi mới hoặc chỉ giới thiệu sơ lược về một vài tác giả tiêu biểu Ngôn ngữ văn xuôi của các tác giả văn xuôi mới giai đoạn 1930 - 1945 chưa được bàn đến nhiều Tuy nhiên, những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn trong việc định hướng nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu sau này muốn tiếp tục tìm hiều về văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong đó có ngôn ngữ

Trang 24

3 Từ năm 1986 đến năm 2000

Trong công trình có tính lý luận Tự lực văn đoàn, nhìn từ góc độ tính liên tục của lịch sử, qua bước ngoặc hiện đại hóa trong lịch sử văn học phương Đông (1995), Trần Đình Hượu cũng đánh giá cao vai trò của Tự lực văn đoàn trong tiến trình hiện đại hóa văn học và ngôn ngữ văn học: “Tự lực

văn đoàn đã góp công nhiều vào việc trau dồi ngôn ngữ văn học và nghệ thuật viết tiểu thuyết và kịch, thơ để có sự chuyển hóa chất lượng từ văn học những

năm hai mươi sang những năm ba mươi” [49, tr.2]

Có thể liệt kê ra đây rất nhiều luận án nghiên cứu về văn xuôi và ngôn

ngữ ngữ văn xuôi quốc ngữ như Ba phong cách truyện ngắn trong văn học Việt Nam thời kỳ đầu những năm 1930 - 1945: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam và Nam Cao (1992) của Trần Ngọc Dung; Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn qua ba tác giả Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo (1994) của Lê Thị Dục Tú, Viện Văn học; Những đóng góp của Tự lực văn đoàn xây dựng cho một nền văn xuôi hiện đại Việt Nam (1996) của Trịnh Hồ Khoa, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Từ quan niệm nghệ thuật đến nghệ thuật ngôn từ trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan (1996) của Nguyễn Thanh Tú và Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 (Diện mạo và đặc điểm) (1998) của Bùi Văn Lợi…

Trong đó chúng tôi quan tâm đến luận án Ba phong cách truyện ngắn trữ tình trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 Thạch Lam - Thanh Tịnh -

Hồ Dzếnh (1995) của Phạm Thị Thu Hương bởi tác giả có bàn đến ngôn ngữ

truyện ngắn Thạch Lam Tuy nhiên, đó chỉ là những nhận xét sơ lược về ngôn

từ biểu cảm, giọng điệu nhẹ nhàng phù hợp với tâm trạng nhân vật

Luận án Từ quan niệm nghệ thuật đến nghệ thuật ngôn từ trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan (1996) của Nguyễn Thanh Tú, Đại

học Sư phạm Hà Nội là một công trình viết khá kỹ về nghệ thuật ngôn từ

Trang 25

trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, trong đó tác giả có nói đến lời văn trào phúng, kịch hóa ngôn ngữ nhân vật, kịch hóa lời bình luận…

Luận án Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho văn xuôi hiện đại Việt Nam (1997) của tác giả Trịnh Hồ Khoa cũng bàn luận khá kỹ về Tự lực văn đoàn và có đưa ra những nhận xét khá quan trọng về văn phong và ngôn

ngữ Trong đó, tác giả có dành nhiều trang bàn về những ngôn ngữ văn xuôi

của các nhà văn của nhóm Tự lực văn đoàn và sự đổi mới ngôn ngữ giọng

điệu văn xuôi: “Câu văn của Tự lực văn đoàn giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh, mềm mại và uyển chuyển có khả năng diễn đạt những cảm xúc tinh tế của tâm hồn, tuy chưa đạt đến trình độ cá thể hóa sắc sảo trong việc khắc họa tính cách nhân vật như ngôn ngữ của một số nhà văn hiện thực, nhưng trong tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng chúng ta cũng gặp được những đoạn độc thoại và đối thoại thành công Nhiều xen (scène) đối thoại trong đó ngôn ngữ nhân vật đan xen, quyện vào nhau, tác động lẫn nhau tạo nên kịch tính cao, bộc lộ những mâu thuẫn giữa các tính cách, phản ánh chân thực mâu thuẫn trong cuộc sống xã hội” [51, tr.181] và “Với Tự lực văn đoàn, tiếng Việt trong sáng hơn, chấm dứt những câu văn biền ngẫu chồng chất điển tích và từ Hán - Việt Với Tự lực văn đoàn cũng không còn những câu lai căng, cộc lốc như văn của Hoàng Tích Chu, mà là những lời ăn tiếng nói của nhân dân được chọn lọc gọt giũa, trau chuốt đưa vào tác phẩm Có thể nói: Tự lực văn đoàn đã góp phần hiện đại hóa ngôn ngữ văn chương Việt Nam” [51, tr.182]

Luận văn Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến

1945 (Diện mạo và đặc điểm) (1998) của Bùi Văn Lợi được chúng tôi quan

tâm hơn cả Luận văn giới thiệu khái niệm về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam và quá trình hình thành từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 và những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật “nghệ thuật diễn đạt của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của lối văn phong cổ điển, của lối thuật chuyện

Trang 26

theo tiểu thuyết cổ điển, nhiều câu văn mang tính chất biền ngẫu Nhưng càng

về sau các nhà văn càng xa dần với lối diễn thuật cũ để vươn tới một lối diễn thuật mới: diễn tả nhiều hơn Cách viết giản dị giàu hình ảnh, ngôn ngữ sinh động có sức chuyển tải tư tưởng lớn, có khi thuật cả ý nghĩ và diễn biến tâm lý tình cảm của nhân vật Đặc biệt ở một số tác phẩm thuộc giai đoạn sau, tác giả đã dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm để khắc họa tính cách nhân vật” [64, tr.95] Nhìn chung, luận án viết khá tỉ mỉ chi tiết về diện mạo tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 và những đặc điểm cơ bản về nội dung và thi pháp Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nhận xét chung chung mà chưa đi vào từng vấn đề cụ thể ở từng tác giả, tác phẩm và đặc biệt ngôn ngữ tiểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945 chưa được bàn kỹ

Thời kỳ này các công trình, luận án, luận văn và chuyên luận vẫn chưa

đi vào phân tích kỹ ngôn ngữ văn xuôi quốc ngữ Phần lớn các công trình, luận án, luận văn nghiên cứu về nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật và chỉ đưa ra những nhận xét sơ lược về ngôn ngữ Mặc dù vậy, đây vẫn là những tư liệu rất có ý nghĩa đối với đề tài của luận án khi nghiên cứu về ngôn ngữ văn xuôi quốc ngữ giai đoạn 1930 - 1945

4 Từ năm 2000 đến nay vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ văn xuôi của các nhà văn được giới nghiên cứu đi sâu khám phá và điều đó được minh chứng bằng việc thời kỳ này nhiều công trình tầm cỡ và nhiều luận án, luận văn, chuyên luận có giá trị được công bố

Những luận án tập trung nghiên cứu về văn xuôi và đặc biệt ngôn ngữ

văn xuôi 1930 - 1945 có thể kể như: Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (2001) của Nguyễn Thành; Ngôn từ nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng (2002) của Nguyễn Văn Phượng, Lời văn nghệ thuật của Nguyên Hồng (2006) của Lê Hồng My, Ngôn ngữ nghệ thuật trước cách mạng tháng Tám năm 1945 (2006) của Lê Hải Anh, Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ngô Tất Tố (2006) của Vũ

Trang 27

Duy Thanh, Ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh trong các sáng tác trước năm 1945 (2009) của Lê Thị Quỳnh…

Bài viết Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ in trong cuốn Thi pháp hiện đại (2000) của Đỗ Đức Hiểu phân tích khá kỹ về ngôn từ trong Số đỏ Ông coi Số đỏ là một hiện tượng ngôn từ hết sức độc đáo “Số đỏ là một văn

bản chứa đựng nhiều văn bản: nó là tiếng vang, là giao điểm của nhiều văn bản mang những mối quan hệ bên trong với các văn bản khác, đồng thời là một sáng tác mới của một tài năng nghệ sĩ, vì vậy, Số đỏ là một hệ thống ngôn từ đặc sắc mang tính xã hội và lịch sử cụ thể” [36, tr.202]

Luận án Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (2001) của Nguyễn Thành viết

khá kỹ về tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng từ góc độ đặc trưng thể loại, trong

đó có bàn đến kết cấu và ngôn ngữ tiểu thuyết (Dứt tình, Giông tố, Số đỏ, Vỡ

đê, Làm đĩ, Lấy nhau vì tình, Trúng số độc đắc, Người tù được tha (di cảo)

Tác giả luận án có chỉ ra những đặc trưng và tính hiện đại của câu văn tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng: “Các nhà văn thế hệ ba mươi mà tiêu biểu là Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Nam Cao…đã sử dụng một lối văn

ít nhiều có tiếp thu lối viết phương Tây ở việc dùng nhiều trạng ngữ, dùng cấu trúc câu bị động để nhấn mạnh hành động, danh từ hóa động từ và tính từ để tăng khả năng diễn đạt các ý tưởng khái quát” [94, tr.125] Những vấn đề nghiên cứu trong luận án này là tư liệu có giá trị đối với vấn đề nghiên cứu của chúng tôi

Luận án Ngôn từ nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trong phóng sự và tiểu thuyết (2002) của Nguyễn Văn Phượng, Đại học Sư phạm Hà Nội nhấn

mạnh đến thái độ dân chủ về ngôn từ, ngôn từ đối thoại và đổi mới câu văn xuôi với kiểu cú pháp mới mẻ, độc đáo Những luận án trên cũng ít nhiều có bàn luận đến vấn đề ngôn từ nghệ thuật, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở những nhận xét chung chung mà chưa có sự phân tích kỹ lưỡng

Trang 28

Luận án Những phương diện chủ yếu của thi pháp văn xuôi tự sự Nam Cao trước cách mạng tháng Tám (2001) của Đinh Ngọc Hoa tiêu biểu và gần

với vấn đề nghiên cứu của chúng tôi Luận án nghiên cứu thi pháp Nam Cao một cách khá toàn diện, hệ thống và nhấn mạnh ý thức chủ thể của nhà văn trong quá trình sáng tác và đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt

của Nam Cao Luận án đã có những nhận xét như sau: “Ngôn ngữ trần thuật

của ông có tính phức điệu và cùng với nó là tính chất đối thoại nội tại, rất tiêu

biểu cho ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại Ngôn ngữ đối thoại của Nam Cao sinh

động và nhất là rất chân thật Nó bộc lộ cá tính của nhân vật, tác động đến trạng thái tâm lý nhân vật Nam Cao là nhà văn sử dụng nhiều nhất, có hiệu quả nhất ngôn ngữ độc thoại nội tâm Một thứ ngôn ngữ có khả năng gợi lên chân thật diện mạo tinh thần của nhân vật, phơi bày những ý nghĩ, suy nghĩ

sâu kín nhất của nhân vật Với Nam Cao, kết cấu cú pháp và các phương thức

chuyển nghĩa cũng là phương diện thi pháp quan trọng góp phần thể hiện con người theo quan niệm của ông” [37, tr.116]

Bài viết Văn xuôi những năm 20 (thế kỷ XX) phòng chờ cho bước chuyển giai đoạn sau 1932 (2002) của Phong Lê đã chỉ ra hai dấu mốc quan

trọng đánh dấu tiến trình phát triển của văn xuôi quốc ngữ giai đoạn phôi thai,

đó là: “Khởi động ở Nam Bộ từ nửa sau thế kỷ XIX” và “Tiếp tục và phát triển ở Bắc Bộ vào hai thập niên đầu thế kỷ XX” [60, tr.4] Tác giả còn nhấn mạnh: “Mọi chuẩn bị cho một nền văn xuôi hiện đại trên tất cả mọi mặt ngôn ngữ, thể loại, chất liệu, chủ đề, tư duy nghệ thuật… đều đã trải qua một phòng chờ cần thiết và quyết định vào những năm 20 của thế kỷ XX trong sự hội sức của cả một lực lượng viết đông đảo trên cả hai miền, mà công khởi động và đi đầu thuộc về lực lượng viết Nam Bộ” [60, tr.5] Tuy nhiên, dưới khuôn khổ của một bài báo nên tác giả mới chỉ dừng lại việc phác thảo những nét khái

quát nhất về văn xuôi quốc ngữ bắt đầu từ Truyện thầy Lazarô Phiền (1887)

cho đến những sáng tác trước 1930

Trang 29

Công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lý luận do Phan Cự Đệ chủ biên (2004) là một công trình viết rất kỹ về các nhà văn hiện thực và Tự lực văn đoàn Tác giả Phan Cự Đệ đã chỉ rằng chỉ 15

năm, ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học đã có những thay đổi mạnh mẽ:

“Các nhà văn đã dần loại bỏ thứ ngôn ngữ ước lệ, khuôn sáo hay biền ngẫu trong văn học truyền thống, và đưa và tác phẩm một ngôn ngữ mới - đó là thứ ngôn ngữ của đời sống, gắn với lời ăn tiếng nói của quần chúng lao động Bởi vậy, ngôn ngữ truyện ngắn giai đoạn này có khả năng bám sát và phản ánh chân thực đời sống xã hội và biểu hiện sâu sắc, tinh tế đời sống nội tâm phức tạp của con người Có thể nói chưa bao giờ ngôn ngữ văn xuôi phát triển, phong phú và đa dạng như thời kỳ này Nếu như ngôn ngữ trong các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng…trong sáng, giản

dị và gần gũi với đời sống thì ngôn ngữ trong các tác phẩm của Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng, Thanh Tịnh…lại rất tinh tế, gợi cảm và có sức biểu hiện cao, giàu hình ảnh, cũng như được trau chuốt, gọt giũa” [17, tr.295] Bên cạnh đó, nhận xét về sự tiến bộ của nền quốc văn mới, nhà nghiên cứu Đinh Văn Đức cho rằng “ngôn ngữ văn xuôi giai đoạn 1930 -1945 là một cột mốc, một sự kiện quan trọng bậc nhất trong sự trưởng thành của ngôn ngữ văn học mới” [17, tr.840] và “chỉ trong một thời gian ngắn, không quá mười năm, văn xuôi quốc văn đã trưởng thành vượt bậc Đặc trưng nổi bật của nó là lối diễn đạt mệnh đề, với ưu thế của các câu đơn và câu ngắn Đoạn văn hình thành từ chuỗi các câu ngắn, liên kết mạch lạc là phương thức quan trọng, lối liên kết hình thức bằng liên từ giảm dần Nhờ đó câu văn trở nên nhẹ nhàng, uyển chuyển, có năng lực biểu đạt cao” [17, tr.844]

Những công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn vẫn ngày càng nhiều với nhiều đóng góp có giá trị Chúng tôi đánh giá rất cao công trình Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (2007) của Lê Thị Dục

Trang 30

Tú Tác giả có dành chương 4 để nói về ngôn ngữ văn học và nhận xét về

ngôn ngữ của Tự lực văn đoàn, tác giả có viết: “tính hiện đại của tiểu tuyết Tự

lực văn đoàn là ở sự đoạn tuyệt với những điển tích, những câu văn biền ngẫu, những câu văn với lối ngữ pháp dài dòng, dây cà, dây muống đầy rẫy trong những trang viết của các nhà tiểu thuyết trước đó để mở ra một loại hình câu văn xuôi mới” [107, tr.143] và “Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết của

Tự lực văn đoàn mang đậm phong cách tiểu tư sản Song chất tiểu tư sản ở đây cũng khác với chất tiểu tư sản trong ngôn ngữ của nhân vật Nam Cao Ngôn ngữ nhân vật tiểu tư sản của Nam Cao là thứ ngôn ngữ đầy chất bi kịch trong những dằn vặt triết lý nhân sinh và chuyện cơm áo đời thường Còn ngôn ngữ trong tiểu tư sản của Tự lực văn đoàn đó là thứ ngôn ngữ nhiều lý lẽ của những con người tiểu tư sản thời kỳ đầu mang đậm chất lạc quan luôn ý thức về quyền lợi và vị trí cá nhân mình trong xã hội, cũng như luôn tin tưởng vào những lý tưởng mà họ tiếp nhận trong sách vở” [107, tr.152]

Cùng với đó, bài viết Chuyên nghiệp hóa sáng tác - một đòi hỏi tất yếu của công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam trước 1945 (2010) của Nguyễn Thành Thi bàn khá kỹ về kỹ thuật viết văn của các nhà văn trong Tự lực văn đoàn Chẳng hạn, viết về Khái Hưng, tác giả cho rằng “thường chú trọng đặc

biệt đến ngôn ngữ đối thoại và luôn có ý thức miêu tả giọng điệu, lời nói của các loại nhân vật, các hạng người trong xã hội” và “Khái Hưng, với năng lực

ngữ cảm và các nhận xét tinh tế ít nhiều mang tính chất siêu ngôn ngữ”, về

Nhất Linh “trong kỹ thuật truyện ngắn, Nhất Linh, với năng lực ưu trội trong việc đi sâu vào thế giới tinh thần cá nhân của con người, thường nghiêng về những tìm tòi thể nghiệm miêu tả tâm lý, kỹ thuật phô diễn tiếng nói nội tâm của nhân vật (ngay cả khi ông dùng đến chất liệu kỳ ảo) [99, tr.13-15]

Trong công trình Tiểu thuyết Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa đầu thế kỷ (2010), nhà nghiên cứu Bích Thu cũng đã chỉ ra những đặc điểm

Trang 31

quan trọng về ngôn ngữ tiểu thuyết giai đoạn 1930 – 1945, đó là: “Ngôn ngữ tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã hoàn toàn vượt lên quy ước lấy sáo làm đẹp, đưa câu văn xuôi nghệ thuật lên một trình độ mới”, “Các nhà văn hiện thực đã

góp phần đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa của thể loại Qua tiểu thuyết Tắt đèn, Bỉ vỏ, Giông tố, Số đỏ, Sống nhờ, Sống mòn, Quê người… đã cho thấy

trong tay một thế hệ nhà văn đầy tâm huyết và tài năng, tiếng Việt đã phát huy ưu thế nội lực của nó” [100, tr.67] Đây cũng là nhận xét chung của nhiều nhà nghiên cứu

Công trình Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại (thế kỷ XX) (2013),

Phong Lê đã viết kỹ hơn về quá trình hình thành và phát triển văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Tác giả đã dành một phần trong chương 1 để nói về ảnh hưởng của văn học Pháp và văn học phương Tây đối với văn học Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX đến năm 1945: “Lịch sử đã khéo sắp xếp cho thế

kỷ XX nhiệm vụ giải quyết triệt để yêu cầu cách mạng hóa, nhằm giành lại Độc lập - Tự do trọn vẹn cho dân tộc; đồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ giải quyết yêu cầu hiện đại hóa để hướng dân tộc hội nhập một cách chủ động vào văn minh nhân loại, và từng bước thực hiện các mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ xã hội” [61, tr.539] và ở trong chương 3 (văn xuôi), ông cũng nhấn mạnh hành trình văn xuôi hiện đại khởi động từ cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ với những áng văn quốc ngữ đầu tiên của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản Song phải đến đầu thế kỷ XX, trong phong

trào báo chí xuất bản, với vai trò quan trọng của hai tờ báo Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí, văn xuôi mới có những chuyển động quyết định

đưa đến sự dồn tụ của các cây bút trong một phòng chờ là lên Hà Nội vào những năm hai mươi, với những người khởi nguồn cho hai trào lưu lãng mạn

và hiện thực: Tản Đà, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hoàng Ngọc Phách… Thời kỳ 1930 - 1945 là thời kỳ hoàn thiện diện mạo hiện đại của văn học trên

Trang 32

cả ba khuynh hướng lãng mạn, hiện thực và cách mạng với những gương mặt nổi bật cùng những tác phẩm kết tinh ở trình độ cao các giá trị hiện đại trên cả hai phương diện tư tưởng và nghệ thuật: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Ái Quốc… Như vậy, Phong Lê đã có những đóng góp quan trọng là dựng lại cả một tiến trình phát triển không hề

đơn giản của văn xuôi Quốc ngữ Việt Nam, bắt đầu từ Truyện thầy Lazarô Phiền (1887) cho đến những sáng tác trước 1945 Tuy nhiên, đây mới chỉ là

phác thảo những nét khái quát nhất về văn xuôi mới giai đoạn trước 1945, chưa có điều kiện để đi sâu vào tìm hiểu văn xuôi mới trên mọi phương diện, trong đó có ngôn ngữ, dù sao cũng là những gợi mở những đường hướng rất cần thiết để nghiên cứu những vấn đề cụ thể của văn xuôi mới nói chung và ngôn ngữ văn xuôi nói riêng

Gần đây nhất, Hội thảo khoa học “Một số vấn đề trong nghiên cứu ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỷ XX” (2013) do Khoa Ngữ văn, Đại học

Sư phạm Hà Nội tổ chức bàn luận về các vấn đề như diện mạo, đặc điểm và tiến trình vận động, biến đổi của ngôn ngữ văn học qua các giai đoạn văn học trong thế kỷ XX và nghiên cứu thành tựu về lời văn nghệ thuật của một số tác giả tiêu biểu Trong đó, tác giả Lê Hải Anh đã có bài viết “Một phương diện nghệ thuật đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật Nam Cao: Ngôn ngữ độc thoại nội tâm”, tác giả Lê Thị Dục Tú cũng khảo sát khá kỹ lưỡng với những cứ liệu phong phú về “Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong truyện ngắn quốc ngữ

1900 - 1930” khẳng định rằng những đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn quốc ngữ đầu thế kỷ XX cũng là sự phản ánh của ngôn ngữ tiếng Việt giai đoạn này, giai đoạn tiếng Việt đang định hình diện mạo bản sắc và ngôn ngữ trong truyện ngắn quốc ngữ từ 1900 - 1930 đi từ truyền thống đến hiện đại Quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ này gắn liền với quá trình hiện đại hóa thể

Trang 33

loại Tác giả Nguyễn Văn Tùng cũng tìm hiểu “Vấn đề hiện đại hóa câu văn xuôi văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX” và lý giả tại sao quá trình hiện đại

hóa câu văn xuôi tiếng Việt phải trải qua quá trình 30 - 40 năm kể từ Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản năm 1887, đồng thời tác giả cũng

dẫn ra và tán thành cách lý giải của nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi: “Điều quan trọng là tiếng Việt chưa có trình độ trừu tượng và cô đúc chữ nghĩa tối

ưu như chữ Hán Vì thế, một cuộc giao thoa giữa cách viết thông tục và cách viết mượn chữ Hán dứt khoát phải xảy ra, để nâng cấp dần sức sống của tiếng Việt văn chương” Cách cắt nghĩa đó hoàn toàn hợp lý với tình hình chung của văn xuôi quốc ngữ hồi đầu thế kỷ nhưng vẫn chưa thực sự giải đáp cho câu hỏi này: Câu văn xuôi của Nguyễn Trọng Quản đã cơ bản thoát khỏi biền ngẫu, thậm chí hiện đại hơn câu văn xuôi lên bổng xuống trầm của Hoàng Ngọc Phách viết sau hơn 30 năm Tại sao các nhà văn sau Nguyễn Trọng Quản lại không tiếp tục đà đổi mới câu văn của ông, mạnh dạn loại bỏ ngay lối văn biền ngẫu? Có lẽ phải tìm câu trả lời ở chỗ hiện tượng Nguyễn Trọng Quản mang tính đột biến, bởi tác giả được đào luyện bằng vốn văn hóa

phương Tây và Thiên Chúa giáo khá nhuần nhuyễn Nhưng Truyện thầy Lazaro Phiền của ông là một hạt giống mới gieo vào mảnh đất chưa được

chuẩn bị đầy đủ, nhất là đội ngũ sáng tác để có thể có được một mùa màng giống mới Do khuôn khổ có giới hạn của bài nghiên cứu gửi Hội thảo nên những bài viết đó cũng chỉ bàn đến một vài khía cạnh của ngôn ngữ văn xuôi của thế kỷ XX

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã không ngừng nỗ lực có nhiều đóng góp quý báu về sự biến đổi cơ bản của văn xuôi quốc ngữ với những bước đi chập chững đầu tiên Bên cạnh những công trình mang tính lịch sử, lý luận bàn về quá trình hình thành và phát triển văn xuôi quốc ngữ và thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn thì rất nhiều luận văn, luận án, chuyên luận đã tập trung

Trang 34

nghiên cứu về tác gia, tác phẩm nổi tiếng giai đoạn 1930 - 1945 và đưa ra những nhận định sơ lược về phương diện ngôn ngữ Như trên đã nói, nghiên cứu ngôn ngữ văn xuôi quốc ngữ giai đoạn 1930 - 1945 là việc làm rất có ý nghĩa nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về tất cả các phương diện của ngôn ngữ, nếu có thì chỉ nghiên cứu một vài phương diện ngôn ngữ, ở một hoặc một vài tác giả

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Theo như chúng tôi được biết thì những công trình nghiên cứu liên quan đến văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nói chung và ngôn ngữ văn xuôi mới nói riêng chưa có nhiều

Trước tiên, phải nói đến cuộc Hội thảo về đề tài Văn học Việt Nam qua hai cuộc thế chiến (1914 - 1945) do trường Đại học Harvard ở Mỹ tổ chức

1982 Đây là cuộc hội thảo quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại Mỹ về văn học Việt Nam với sự tham gia của hai đại biểu được mời là GS Phan Cự Đệ

và GS Hà Minh Đức Các nhà văn tiêu biểu như Ngô Tất Tố, Nam Cao…

được đánh giá cao Nhà nghiên cứu G.Boudarel, P.Brocheux đều xem Ngô Tất Tố như Lỗ Tấn ở Việt Nam

Tiếp đó, các công trình nghiên cứu của GS Kawaguchi Kenichi như

Thạch Lam - Tác phẩm và quan niệm Văn học (1996), Nhân vật trong Tiểu thuyết của Nhất Linh - Suy nghĩ về 3 tác phẩm (1999) Trong bài tham luận

Tự lực văn đoàn và văn học cận đại Việt Nam trong hội thảo Phong Hóa - Ngày Nay và Tự lực văn đoàn ở Hoa Kỳ, ông đã chọn ba trong số các nhà văn

Tự lực văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng và Thạch Lam) để suy nghĩ về tác phẩm, quan niệm văn học trong quá trình hình thành văn học Việt Nam hiện đại: “Tự lực văn đoàn là nhóm văn học đặc sắc đa dạng đã có những đóng góp hết sức quan trọng trong quá trình hình thành văn học hiện đại Việt Nam”, “Những nhà văn đóng góp công lao lớn nhất cho sự hình thành văn

Trang 35

học hiện đại Việt Nam là nhóm Tự lực văn đoàn, trong đó có thành viên Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu” [50]

Ngoài ra, còn có những bài viết của các nhà nghiên cứu Việt Nam tại nước ngoài như ở Mỹ có công trình nghiên cứu “Các công trình văn học quốc ngữ miền Nam” của Huỳnh Ái Tông hay ở Canada có công trình “Lục Châu

học” của Nguyễn Văn Trung, trong đó chương II nghiên cứu: Diễn tiến truyện văn xuôi quốc ngữ

Nhìn chung, những công trình, bài viết trên đều khẳng định vai trò to lớn của các nhà văn trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu kỹ ngôn ngữ văn xuôi của một tác gia hay cả giai đoạn 1930 -1945

1.2 Giới thuyết về một số khái niệm

1.2.1 Văn xuôi và văn xuôi mới

Văn xuôi là một khái niệm có nội hàm rộng, có nhiều loại: văn diễn giảng, văn lịch sử, văn nghị luận và văn tự sự Khi những tác phẩm triết học, lịch sử, giáo dục…có giá trị thẩm mỹ cũng được xem là văn xuôi Văn xuôi văn học có tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút, ký… Luận án này chỉ khảo sát và nghiên cứu ở hai thể loại cơ bản của văn xuôi: tiểu thuyết và truyện ngắn

Trong văn học, văn xuôi là nghệ thuật ngôn từ đối lập hoàn toàn với thơ ca Iu.S.Sorokin đã chỉ ra rằng, thi ca như “thế giới của lý tưởng”, lĩnh vực của tưởng tượng sáng tạo đối lập với văn xuôi như là thế giới hiện thực, đời sống thực tế Bà A.A.Potebnhia cũng viết: “Văn xuôi là lời nói trực tiếp hiểu theo nghĩa nó là lời nói hoặc chỉ có mục đích thực tiễn, hoặc phục vụ cho việc biểu đạt khoa học Lời văn xuôi là lời biểu đạt một cái gì đó trực tiếp, không có biểu tượng, và nhìn chung là lời nói không tạo ra hình ảnh, mặc dù những từ ngữ riêng lẻ cũng mang tính hình tượng” [28], “văn xuôi là hình

Trang 36

thức ngôn từ dùng để truyền đạt thông tin và các chân lí khoa học đối lập với sáng tạo thi ca, loại sáng tạo được thực hiện ở mọi tác phẩm ngôn từ, trong

đó, tính xác định của hình tượng làm nẩy sinh dòng chảy của ý nghĩa, tức là nảy sinh tâm trạng phía sau một vài nét vẽ hình ảnh và nhờ nhìn thấy những nét vẽ ấy mà sinh ra nhiều điều vốn chưa có lời kết trong đó, nơi xuất hiện lời bóng gió không có trong ý đồ, hoặc ngược với ý đồ của tác giả” [28] Ngôn ngữ trong văn xuôi là ngôn ngữ tổng hợp của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết như Bakhtin đã nhấn mạnh: “Nhà tiểu thuyết viết văn xuôi (và nói chung, mọi người viết văn xuôi) không cần tẩy sạch khỏi từ ngữ những ý chí và giọng điệu của người khác, không bóp chết những mầm mống ngôn từ xã hội khác biệt tiềm ẩn trong chúng, không gạt bỏ những gương mặt ngôn ngữ và cung cách nói năng (những nhân vật kể chuyện tiềm năng) lấp ló đằng sau các từ ngữ và các hình thức ngôn ngữ, nhưng anh ta xếp đặt tất cả những từ ngữ và hình thức ấy ở những khoảng cách khác nhau so với cái hạt nhân hàm nghĩa cuối cùng của tác phẩm mình, cái trung tâm ý chí của chính mình” [28]

Ở phương Đông, thời trung đại, văn xuôi không phải là không có, ở Trung Quốc, một thời gian dài nó cũng chỉ được xếp vào loại sáng tác tầm thường, phổ cập, không được coi trọng, trong khi đó, thơ mới được xem là thể loại chính, không gì thay thế nổi để biến lời nói thành nghệ thuật Ở Việt Nam, văn xuôi cũng nằm trong hoàn cảnh chung đó Thêm vào đó, phương tiện in ấn lạc hậu, sách in ra khó khăn nên văn xuôi càng không được khuyến

khích Hịch tướng sĩ và Bình ngô đại cáo, Vũ trung tùy bút và Thượng kinh ký sự là những ví dụ điển hình về sự có mặt của văn xuôi trong văn chương

trung đại Việt Nam

Đến thế kỷ XX, hầu như toàn bộ nền văn học Việt Nam được viết bằng chữ Quốc ngữ (so với các thế kỷ trước viết bằng chữ Hán và chữ Nôm) Ngoài ra, văn chương giai đoạn này còn lấy văn xuôi làm thể loại chính còn ở

Trang 37

thế kỷ trước, thơ lại đứng ở vị trí trung tâm Trong Việt Nam văn học sử yếu,

Dương Quảng Hàm có nói rất rõ điều này “Văn nôm cũ hầu hết là vận văn (thơ, ca, phú), hoặc là biền văn (kinh nghĩa, tứ lục) chứ văn xuôi hầu không

có Trong nền quốc văn mới, văn vần tuy cũng có nhưng chỉ giữ một địa vị nhỏ hẹp, còn văn xuôi là thể văn mới thành lập lại chiếm phần quan trọng hơn” [31, tr.370] Văn xuôi xem thực tại như đối tượng để khảo sát và sẵn sàng chấp nhận tất cả những cái đẹp và cả những cái chưa đẹp, chứ không phải gò bó theo khuôn mẫu văn chương cổ quy định Văn xuôi tự mở cho mình một chân trời rộng lớn, có sự đa dạng về thể tài và kiểu dạng

Cho đến cuối thế kỷ XIX chúng ta vẫn chưa có văn xuôi “chính danh” (thuật ngữ của nhà nghiên cứu Đinh Văn Đức) Theo Đinh Văn Đức, văn xuôi nói ở đây là văn xuôi mới, lối văn được viết trên chữ quốc ngữ, biểu đạt mệnh

đề, có quy tắc ngắt dấu câu Khác với thời kỳ trước đó, chúng ta chỉ dùng lối viết văn vận trên chữ Hán, chữ Nôm Đến đầu thế kỷ XX, nền quốc văn mới được hình thành dưới ảnh hưởng của Tân thư, học thuật pháp ngữ, đặc biệt nhờ ngôn ngữ báo chí và dịch thuật mà khởi đầu từ cuối thế kỷ XIX Đây được coi là sự kiện quan trọng nhất của ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỷ

XX mà nội dung cơ bản là sự thiết lập một cú pháp hoàn toàn mới mẻ cho văn viết, đó là lối biểu đạt mệnh đề được thiết lập trong văn phong các ngôn ngữ châu Âu từ trước với công cụ đánh dấu ngữ pháp là hệ thống các dấu câu Tuy nhiên, không có sự xuất hiện của chữ quốc ngữ không có văn xuôi mới (khác với văn xuôi cũ lấy văn học viết bằng chữ Nôm làm căn bản): “Xưa kia ta chưa có văn xuôi Đến khi nền quốc văn mới thành lập, văn xuôi bắt đầu xuất hiện và ngày một phát đạt mà thành ra thể văn chính trong nền Việt văn ngày nay” [31, tr.375], “Trong quốc văn mới, các thể biền văn (phú, tứ lục, kinh nghĩa, văn sách) hầu như không dùng đến nữa; các thể văn vần (thơ cổ phong, thơ Đường luật, lục bát, song thất, hát nói, ngâm khúc) vẫn có một số ít người

Trang 38

viết, nhưng, ngoài lối cũ, lại xuất hiện lối thơ mới; duy có các thể văn xuôi là thịnh hành nhất [31, tr.374] Dương Quảng Hàm đã chỉ ra được những thay đổi từ nền văn học trung đại sang nền văn học hiện đại, đó là sự xuất hiện của văn xuôi mới thay thế cho văn vần “Trong nền quốc văn mới, văn xuôi là thể văn đã biến hóa và có phần tiến bộ hơn cả, vì thể ấy là thể văn hay dùng đến nhất và được nhiều nhà trứ tác viết đến” [31, tr.376]

1.2.2 Ngôn ngữ văn xuôi mới

Ngôn ngữ văn xuôi kiểu mới bằng chữ quốc ngữ theo kiểu châu Âu xuất hiện khá sớm, nhưng không được quảng bá rộng, chỉ sử dụng trong các văn bản Giáo hội Thiên chúa giáo Lối văn này là bước đi tiên phong của lối văn diễn đạt mệnh đề Văn viết dùng dấu chấm câu, giữa hai dấu chấm có nhiều vế, có vế chính, vế phụ, các vế được nối với nhau bằng liên từ, cấu trúc câu còn khá phức tạp, cú pháp chưa chặt chẽ nên các ý còn lộn xộn, trùng lặp

Truyện thầy Lazaro Phiền là một ví dụ tiêu biểu

Bên cạnh đó, ngôn ngữ văn xuôi buổi đầu mới hình thành còn chịu nhiều ảnh hưởng của lối diễn đạt Hán ngữ trong Tân thư của Trung Quốc, các tác giả vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng câu văn phong chữ Hán (chưa phải là lối viết Bạch thoại) Lúc đó, người ta vẫn chưa quen với lỗi diễn đạt mệnh đề, logic của văn xuôi châu Âu Những cố gắng của tác giả vẫn là lấy diễn ý làm trọng do đó mạch lạc trong câu văn còn phức tạp, tôn ti cú pháp không rõ ràng Vì vậy, tuy là lối văn mới nhưng văn xuôi thời kỳ sơ khai còn rất nặng

về lối văn biền ngẫu, có cấu trúc đăng đối, diễn đạt cầu kỳ, kiểu cách, lạm dụng vốn từ ngữ Hán - Việt Về sau, các tác phẩm tự sự đều viết theo lối khác

vì loại văn trên khó đi vào ngôn ngữ văn học như một lối viết chính thức

Những thay đổi về giao lưu văn hóa, sự ra đời của báo chí quốc ngữ, sự xuất hiện của các tác phẩm dịch thuật từ văn học phương Tây, sự phát triển của ngành in và xuất bản cũng góp phần rất quan trọng trong tiến trình hình

Trang 39

thành văn hóa đọc và văn học Việt Nam hiện đại Văn học Việt Nam nói chung và văn xuôi mới nói riêng đã tiếp nhận những tinh hoa từ văn học phương Tây, chủ yếu là văn học Pháp và những thể loại văn xuôi tiếng Việt mới được thử nghiệm đầu thế kỷ XX nhưng đã nhanh chóng đạt được nhiều kết tinh nghệ thuật vào những năm 30 của thế kỷ XX Văn xuôi tiếng Việt phát triển tạo ra một diện mạo mới cho văn học Việt Nam, loại hình tự sự phát triển đa dạng như loại trữ tình, văn xuôi và văn vần đều đạt những thành tựu mới

Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam đã vận động sang phạm trù mới: văn học Việt Nam hiện đại Như vậy, khái niệm “văn xuôi mới” hay “văn xuôi quốc ngữ”, “văn xuôi Việt Nam hiện đại” ở đây được hiểu là văn xuôi Việt Nam từ đầu thế kỷ XX Trải qua gần một thế kỷ, văn học dân tộc chịu sự ảnh hưởng, chi phối sâu sắc của những tiền đề lịch sử, chính trị, văn hoá, tư tưởng trong và ngoài nước Đó là những nhân tố góp phần tạo nên diện mạo phong phú và tốc độ phát triển mau lẹ của văn học “Nền quốc văn mới ở nước ta thoát thai từ ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ dịch thuật văn học, ngôn ngữ khảo cứu học thuật và cùng với nó là ngôn ngữ trong các sáng tác văn chương mới (ngôn ngữ văn xuôi mới, kịch mới, thơ mới và ngôn ngữ của các loại tự sự mới)” [24, tr.168] Với sự xuất hiện nhiều bộ phận, trào lưu, khuynh hướng,

tổ chức văn học, kết tinh nhiều tác giả tài năng, nhiều tác phẩm xứng đáng là kiệt tác, văn xuôi mới từ đầu thế kỷ XX đến 1945, đặc biệt giai đoạn 1930 -

1945, đã góp phần đặc biệt quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại Đây chính đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu, phê bình văn học bởi không ít những vấn đề còn chưa được làm rõ Luận án này giới hạn vấn

đề nghiên cứu ở thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945

Trang 40

1.2.3 Ngôn ngữ trần thuật

Ngôn ngữ có một vai trò đặt biệt quan trọng đối với một tác phẩm văn

học, là tải thể chủ yếu của một văn bản tự sự Theo lý thuyết tự sự học thì văn bản tự sự là văn bản được tạo ra bởi hành động kể dưới dạng truyền miệng

Mỗi văn bản tự sự là sự móc nối và luân phiên giữa diễn ngôn ngữ của người

kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật Một văn bản tự sự thường bao gồm hai

thành phần diễn ngôn của người kể chuyện (ngôn ngữ trần thuật) và diễn ngôn của nhân vật (ngôn ngữ hội thoại)

Ngôn ngữ trần thuật là gì?

Trước hết, Ngôn ngữ trần thuật là một trong những thuật ngữ quan

trọng nhất của Tự sự học - một ngành khoa học lấy văn bản tự sự, trong đó gồm các yếu tố cơ bản cấu tạo nên một văn bản tự sự như trần thuật, người trần thuật/kể chuyện, sự tình, không gian…làm đối tượng nghiên cứu

Trần thuật được hiểu là một kết cấu đẳng lập chỉ hành vi kể, nó liên

quan mật thiết đến người kể chuyện/người trần thuật, thuộc về kỹ xảo trần thuật/kể chuyện trên bậc diễn ngôn trong văn bản văn học

Ngôn ngữ đã cấu trúc lên phương thức trần thuật Bởi vì, đối với một tác phẩm văn học tự sự (tiểu thuyết, truyện ngắn), cái quan trọng là nó được viết như thế nào, bằng một hệ thống ngôn từ gì và hình thức câu như thế nào để làm cho câu chuyện hay sự kiện hiện ra trước mắt người đọc Tất cả những thứ trên

có liên quan đến cấu tạo nội bộ trên bình diện ngôn ngữ của tác phẩm văn học

hay văn bản tự sự được tổng hợp lại trong khái niệm Ngôn ngữ trần thuật

Theo cách hiểu đơn giản nhất thì Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ của

người kể chuyện, kể lại diễn biến của câu chuyện theo một cách thức nào đó Người kể chuyện (người trần thuật) có thể xuất hiện gián tiếp qua nhân vật nào đó trong tác phẩm (ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba) Người kể chuyện có chức năng dẫn chuyện, gắn kết sự kiện, tạo nên quá trình hình thành và phát

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w