1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014 = The leadership of Thai Binh provincial party committee on general education career from 2001 to 2014

130 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được nhiệm vụ đó thì cần có sự quan tâm, sát sao trong công tác chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông, đó là yếu tố quyết định để đưa giáo

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Danh Tiên Các tài liệu, số liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 08 tháng 01 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo trong khoa Lịch

sử, bộ môn Lịch sử Đảng đã tận tình dạy bảo, truyền thụ kiến thức cho Tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS TS Nguyễn Danh Tiên, thầy giáo hướng dẫn tôi Thầy đã chỉ bảo, giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn của mình

Tôi cũng xin cảm ơn đến Trung tâm thư viện trường Đại học khoa học

xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thái Bình, Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình đã nhiệt tình giúp đỡ Tôi trong quá trình thu thập tài liệu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người bạn luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn của mình!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Kết cấu của luận văn 9

Chư ng 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ TH NG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 11

1.1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁO DỤC VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở THÁI BÌNH TRƯỚC NĂM 2001 11 1.1.1 Tầm quan trọng của giáo dục phổ thông 11

1 1 2 qu t u n t n n n t ộ t ộn n n t o ụ p ổ t n n 14

1 1 3 n n o ụ p ổ t n tỉnh n trướ năm 2001 16

1.2 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRONG NHỮNG NĂM (2001 – 2005) 21

1 2 1 ủ trư n ủ ản Cộng sản Vi t Nam v phát triển o ụ p ổ thông 21

1.2.2 Chủ trư n ủa ản ộ tỉn n v phát triển o ụ p ổ thông 25

1.2.3 ảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ ạo phát triển giáo dục phổ thông 27

Tiểu kết chư ng 1 37

Chư ng 2 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ TH NG TRONG NHỮNG NĂM (2005 – 2014) 39

Trang 6

2.1 CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH MỚI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 39

2 1 1 N n u ầu mớ t r 39

2 1 2 ủ trư n mớ ủ ản ộng sản Vi t N m v p t tr ển o ụ p ổ t n 43

2.2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 46

2.2.1 Chủ trư n ủ ảng bộ tỉnh Thái Bình 46

2.2.2 Quá trình tổ chức chỉ ạo th c hi n 49

Tiểu kết chư ng 2 64

Chư ng 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 66

3.1 NHẬN XÉT CHUNG 66

3.1.1 Thành t u 66

3.1.2 Nh ng hạn ch 76

3.2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM 79

3.2.1 Chú trọng công tác tuyên truy n giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ ảng viên và quần chúng nhân dân trong tỉnh v vị trí, vai trò của giáo dục phổ thông 79

3.2.2 Luôn quán tri t sâu sắc và vận dụng sáng tạo chủ trư n ín s

củ ản N à nước v phát triển giáo dục phổ t n vào u ki n th c tiễn của tỉnh 83

3.2.3 Coi trọng xây d n ộ n ũ o v n và n ộ quản lý giáo dục phổ t n ủ v số lượn p ứng yêu cầu v chất lượng 85

3.2.4 Th c hi n tốt công tác xã hội hóa giáo dục nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp cho s nghi p phát triển giáo dục phổ thông 87

Tiểu kết chư ng 3 90

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM HẢO 94

Trang 7

PCTHCS : Phổ cập trung học cơ sở

THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng hợp số lượng học sinh phổ thông tỉnh Thái Bình (2001-2005) 29 Bảng 1.2: Thống kê phổ cập trung học cơ sở ( từ 7-2001 đến 7-2004) 33 Bảng 2.2 Tỷ lệ thi học sinh giỏi quốc gia từ năm 2006 đến năm 2013 54 Bảng 2.3 Tổng hợp số lượng giáo viên đạt chuẩn năm học 2014 - 2015 57

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhận thức rõ vị trí, vai trò của giáo dục & đào tạo đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, nên ngay từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặc biệt quan tâm xây dựng và phát triển đến nền giáo dục nước nhà Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng đã kịp thời đề ra những chủ trương, nghị quyết đúng đắn để lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục & đào tạo

Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một nước nghèo Các chỉ số về kết cấu hạ tầng, phát triển con người vẫn ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn nhiều hạn chế và chưa đồng

bộ Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định

sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội Đại hội lần thứ IX (2001) của Đảng đã xác định: “Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện

để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [24, tr.90-91] Đến Đại hội lần thứ X (2006), Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [26, tr.94-95]

Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm nhiều cấp học như: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục dạy nghề, giáo dục cao đẳng, đại học….Các cấp học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và là một thể

Trang 10

thống nhất trong hệ thống giáo dục, tạo nên dòng chảy liên tục có chủ đích cho quá trình phát triển của con người Trong đó, giáo dục phổ thông có vị trí hết sức quan trọng, là chiếc cầu nối cơ bản, là cấp học mang tính nền tảng của

hệ thống giáo dục quốc gia Điều 27 trong Luật Giáo dục năm 2005 quy định:

“mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Viêt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân , chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Vì vậy, trong chiến lược phát triển giáo dục phát triển nguồn nhân lực của quốc gia, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu là chăm lo đầu tư, phát triển cấp học phổ thông

Nghiên cứu quá trình lãnh đạo công tác giáo dục phổ thông của Đảng cũng như ở Đảng bộ các địa phương là một việc làm cần thiết Qua đó, làm rõ những chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông cũng như việc vận dụng đường lối của Đảng vào thực tiễn tại địa phương Từ đó, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác giáo dục phổ thông của Đảng trong cả nước nói chung và ở các địa phương nói riêng

Là một tỉnh đang trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH, phát triển Giáo dục và Đào tạo của Tỉnh Thái Bình nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng

là giải pháp then chốt để nâng cao năng suất lao động Cùng với nhiệm vụ chung của cả nước, Đảng bộ tỉnh Thái Bình xác định nhiệm vụ trọng tâm là:

“Muốn phát triển kinh tế xã hội với tốc độ cao, đuổi kịp các tỉnh bạn và hội nhập quốc tế thì Thái Bình phải khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, trong đó nguồn nhân lực con người đóng vai trò quyết định” [18, tr34-35] Để thực hiện được nhiệm vụ đó thì cần có sự quan tâm, sát sao trong công tác chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông, đó là yếu tố quyết định để đưa giáo dục Thái Bình phát triển

Trang 11

Do đó, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về

công tác giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014 là việc cần thiết Qua

đó, khẳng định những kết quả, chỉ ra những hạn chế, bước đầu đúc kết những kinh nghiệm của thực tiễn phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến năm 2014

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Đảng bộ t n

Thái Bình lãn đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm

2014 ” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành ịch sử Đảng Cộng sản Việt

Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Phát triển giáo dục - đào tạo nói chung và phát triển giáo dục phổ thông nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương cũng như của cả nước Đây là vấn đề nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cho đến nay Đã có nhiều công trình nghiên cứu về GD&ĐT nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng ở nhiều góc độ khác nhau Có thể chia thành các nhóm công trình theo các nội dung sau:

N óm t ứ n ất: Các công trìn đề cập đến Giáo dục và Đào tạo nói chung

Các tác phẩm và bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước:

Trường Chinh “ n n v m t văn ó ”, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội 1976; Hồ í M n àn v n t

o ụ , Nxb Sự thật, Hà Nội 1995; Phạm Văn Đồng “Vấn o ụ - ào tạo” Nxb Chính trị quốc gia, số XB.01553/XB-Q XD 1/7/1999; Đỗ

Mười“P t tr ển mạn o ụ – ào tạo p ụ vụ ă l s n p n

n p ó n ạ ó ất nướ ”, Nxb Giáo dục – mã số: 8G230M6;

Nguyễn Trọng Bảo (1996), G n n à trườn ộ vớ v p t n

tu ển ọn ào tạo sử ụn và n ộ n ườ tà , Nxb Giáo dục, Hà Nội;

Trang 12

Phạm Minh Hạc (1996), P t tr ển o ụ - p t tr ển on n ườ - p ụ vụ

p t tr ển n t ộ , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Vũ Đình Cự (chủ

biên) (1999), G o ụ ướn tớ t ỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Hữu Châu (1999), V ịn ướn n lượ o ụ ầu t ỷ XXI

ủ một số nướ tr n t ớ , Viện Khoa học giáo dục; Phạm Minh Hạc

(1997), G o ụ n ân ào tạo n ân l , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phạm Minh Hạc (1999), G o ụ V t N m trướ n ưỡn ử t ỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phạm Minh Hạc (2001), N n ứu on

n ườ và n uồn n ân l vào n n p ó n ạ ó , Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên) (1996), Lị sử o ụ V t

Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Luận ứ o ọ o v ổ mớ ín s

ộ , (1994) Chương trình khoa học -công nghệ cấp nhà nước KX.04; C n lượ p t tr ển o ụ 2001-2010 (2002), Nxb Giáo dục, Hà Nội; Đặng Hữu

“P t tr ển n t tr t ứ rút n ắn qu tr n n n p ó n ạ ó ất nướ ”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; “P t tr ển o ụ p ứn u ầu

ào tạo n ân l p ụ vụ s n p n n p ó n ạ ó từn ướ

p t tr ển n t tr t ứ ” Kỷ yếu hội thảo khoa học: Kinh tế tri thức với đào

tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ XXI Đại học

Kinh tế Quốc dân, 8/2002; Nguyễn Thị Bình (2008) “Su n ĩ v n lượ

on n ườ tron oạn mớ ” Tạp chí Cộng sản Số 792/2008; “Một

t p ận p ạm trù N ân tố on n ườ tron lý t u t p t tr ển và p ư n n

o ạ ” của Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thúy Hằng, Tạp chí Thông tin Khoa

học xã hội, 4/2003, Viện Thông tin khoa học xã hội, Trung tâm Khoa học xã

hội và nhân văn Quốc gia; Hà Nhật Thăng (1999), “V s lý luận ủ v

t t n lượ o ụ ” Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, (10); Nguyễn Thị

Mỹ Trang (1997), “P t tr ển ản v n tron ộ n ũ n à o tư n l ”, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, (7); Tạ Thế Truyền (1997), “G ả

qu t tốt qu n un và r n tron n t n ộ n àn o

Trang 13

ụ – ào tạo” Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp (12); Bùi Mạnh

Hằng (1998), Một số qu n ểm ủ ản v o ụ và ào tạo tron n

uộ ổ mớ 1986 – 1996 ủ t t ễn tỉn ắ Lắ , uận văn thạc sĩ,

chuyển ngành ịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;

Các công trình đào tạo, bước đầu nêu thực trạng giáo dục Việt Nam, đồng thời, đề ra phương hướng, giải pháp để nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu mới của đất nước

Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục phổ thông ở một số địa p ương trên phạm vi cả nước

Công trình: N à trường phổ thông Vi t Nam qua các thời kỳ lịch sử, của Viện khoa học giáo dục, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2001; 35 năm

phát triển s nghi p giáo dục phổ thông, Võ Thuần Nho chủ biên, Nxb Giáo

dục, Hà Nội 1980; Nguyễn Sĩ Hà (2006), ảng bộ tỉnh Hò n l n ạo ổi

mới giáo dục phổ thông từ năm 1991 n năm 2001; Nguyễn Thị Hồng Hạnh

(2009), ảng bộ thành phố Hà Nộ l n ạo phát triển giáo dục phổ thông

oạn 1996-2006; Phạm Thị Giang (2009), ảng bộ tỉn Hà ĩn l n

ạo phát triển giáo dục phổ t n oạn 1965-1975; Nguyễn Thị Ánh

Tuyết (2009), ảng bộ tỉn Hưn Y n l n ạo n t ổi mới giáo dục

Trung học phổ thông từ năm 1997 n năm 2005

Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí như: Mai Hương

Giang, “ ó m ướng nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông

nước ta hi n n ” Tạp chí Cộng sản, tháng 5 năm 2008; Dương Văn Khoa,

“P t tr ển mạnh mẽ giáo dục phổ t n t eo ướng hi n ại, thi t th c, nhanh chóng nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân l c dồ ào và ội ngũ nhân

tà o ất nước”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 8 năm 2005…

Những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề

lí luận về giáo dục phổ thông của Việt Nam nói chung và ở một số địa phương trên nhiều phương diện khác nhau; đã phân tích vai trò của giáo dục phổ thông

Trang 14

trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, làm rõ được mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông với sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới… Đây là nguồn tư liệu quý, giúp tác giả định hướng nội dung trong quá trình nghiên cứu đề tài

Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu về Thái Bình và giáo dục t nh Thái Bình

Tiêu biểu là các công trình: Lịch sử ảng bộ tỉnh Thái Bình 1975-2000,

của Ban Chấp Hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình Cuốn sách đã đề cập đến sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục…Qua

đó dựng lại bức tranh về quá trình xây dựng và phát triển của Đảng bộ Tỉnh Thái Bình từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến năm 2000, đặc biệt là những chủ trương, sự chỉ đạo và những kết quả trong phát triển giáo dục - đào tạo của tỉnh Thái Bình

Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Bình: Lịch sử Giáo dụ và ào tạo Thái

Bình từ năm 1945 n năm 2004 Cuốn sách đã trình bày lịch sử phát triển của

ngành giáo dục tỉnh Thái Bình từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm

2004, nêu bật những chủ trương của Đảng bộ tỉnh và sự chỉ đạo của ngành giáo dục Thái Bình, làm rõ những thành tựu, hạn chế của giáo dục tỉnh Thái Bình Qua đó cung cấp những số liệu về thực trạng giáo dục tỉnh Thái Bình những năm đổi mới Bên cạnh đó là những công trình khoa học kỷ yếu 120 năm thành lập tỉnh Thái Bình do Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình phát hành năm 2014, công trình đã nêu bật quá trình hình thành và phát triển hơn 100 năm của tỉnh Thái Bình Trong đó, đề cập đến những thành tựu phát triển giáo dục nói chung, giáo

dục phổ thông tỉnh Thái Bình nói riêng Ngoài ra còn có các công trình Lịch sử

ảng bộ các huy n trong tỉnh, đề cập đến sự phát triển giáo dục – đào tạo của

các địa phương trong toàn tỉnh

Những công trình nghiên cứu chung về tỉnh Thái Bình đặc biệt là nghiên cứu về phát triển giáo dục của tỉnh là nguồn tài liệu quý để tác giả kế thừa trong quá trình viết luận văn

Trang 15

Như vậy, vấn đề GD&ĐT nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đó là nguồn tài liệu giúp tác giả hoàn thành luận văn Trong khuôn khổ luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đối với công tác giáo dục phổ thông trong giai đoạn 2001 - 2014; qua đó khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm để đưa

sự nghiệp giáo dục phổ thông ở một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 1 ục đ c ng i n cứu

Nghiên cứu làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014, trên cơ sở đó, phân tích những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm qua thực tiễn lãnh đạo

sự nghiệp giáo dục phổ thông của Đảng bộ tỉnh Thái Bình những năm (2001 - 2014)

Trang 16

- Bước đầu đưa ra những nhận x t và đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ tỉnh tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến năm 2014

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 1 Đối tượng ng i n cứu

uận văn nghiên cứu chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong chỉ đạo phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014

4 2 P ạm vi ng i n cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo Trong đó, tập trung làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong phát triển giáo dục phổ thông

- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2014

5 C sở lý luận, phư ng pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5 1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - ênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác GD&ĐT nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng

5 2 P ương p áp ng i n cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, đồng thời kết hợp hai phương pháp trên Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh…để làm rõ những vấn đề trong quá trình nghiên cứu đề tài

5 3 Nguồn tư liệu

uận văn được thực hiện trên cơ sở tham khảo, sử dụng các nguồn tư liệu chủ yếu sau:

Trang 17

- Các Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI của Đảng Cộng sản Việt Nam; các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị về lĩnh vực GD&ĐT nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng

- Các văn bản của Nhà nước, của Bộ GD&ĐT cùng các Bộ ngành có liên quan về công tác GD&ĐT (trong đó có giáo dục phổ thông) từ năm 2001 đến năm 2014

- Các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, báo cáo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thái Bình, các tài liệu của Sở GD&ĐT, các Sở, ban, ngành của tỉnh

Thái Bình về công tác giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2014

- uận văn kế thừa các kết quả của các công trình khoa học đã công bố

có liên quan đến đề tài của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần tổng kết quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch về giáo dục phổ thông Qua đó, đánh giá tính đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương và chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Luận văn đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu có giá trị tham khảo, vận dụng vào phát triển giáo dục phổ thông ở tỉnh Thái Bình hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và làm phong phú

tư liệu về lịch sử tỉnh Thái Bình, đặc biệt là tư liệu về lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy ở các trường học trên địa bàn tỉnh Thái Bình và cho công tác chỉ đạo, lãnh đạo thực tiễn đối với sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông nói riêng trên địa bàn tỉnh Thái Bình

7 ết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 18

- Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2005

- Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thái Bình tăng cường lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 2005 đến năm 2014

- Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Trang 19

Chư ng 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC

PHỔ TH NG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁO DỤC VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC PHỔ TH NG Ở THÁI BÌNH TRƯỚC NĂM 2001

1.1.1 Tầm quan trọng của giáo dục p ổ t ông

Giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người và của toàn xã hội Nó là yếu tố quan trọng nhất hình thành toàn bộ thể lực, trí lực, phẩm chất về đạo đức và nhân cách của con người, nhất là những kiến thức cơ sở trong các bậc học phổ thông Nó làm cho con người trở nên có ích, có giá trị, có chất lượng

để sản xuất ra nhiều của cải vật chất, tinh thần cho xã hội Trong bối cảnh thế giới bước vào kỉ nguyên thông tin, hội nhập và toàn cầu hóa về kinh tế, khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và cùng với công nghệ trở thành nền tảng của CNH, HĐH thì vai trò của giáo dục có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Nhận thức rõ vai trò, vị trí của giáo dục đối với sự nghiệp xây dựng

và phát triển đất nước, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII khẳng định:“Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới” [20, tr.29] Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa VII chỉ rõ:

“phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế xã hội” [20,tr.9]

Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực

Trang 20

trực tiếp của sự phát triển Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa VIII nhấn mạnh: “Thực sự coi Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục – đào tạo cùng với khoa học

và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội , đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo là đầu tư cho phát triển” [22, tr.29]

Với tư cách là một thành tố của nền văn hóa dân tộc, giáo dục có một vị trí trọng yếu hàng đầu trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [26, tr.94,95] Giáo dục & đào tạo là điều kiện phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tại ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có nhiệm vụ đào tạo ra các thế hệ công dân trung thành với sự nghiệp cách mạng, có đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để vượt qua những thách thức đưa đất nước tiến lên theo kịp trào lưu phát triển chung của khu vực và thế giới Giáo dục ngày càng có ý nghĩa quyết định trong việc làm thay đổi nền sản xuất vật chất của xã hội trong thời đại chuyển dịch mạnh mẽ của cuộc cách mạng kiểu cũ dựa vào sự bóc lột sức lao động và tàn phá môi trường tự nhiên là chính, sang cuộc cách mạng khoa học kiểu mới, hướng tới nâng cao năng suất lao động bảo vệ môi trường sinh thái

và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, hàm lượng kết tinh trong các sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội gắn liền với sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với phân công lao động

và hợp tác quốc tế, gắn liền với trình độ và năng lực sáng tạo, tiếp nhận và trao đổi công nghệ mới Xu thế toàn cầu hóa trong lĩnh vực kinh tế, xã hội làm cho các quốc gia kể cả các quốc gia, phát triển và các quốc gia đang phát triển phải cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng mở rộng liên kết để tối ưu hóa sức cạnh tranh và hợp tác toàn cầu “Kinh tế tri thức” trong “xã hội thông tin” đã

Trang 21

hình thành và phát triển trên cơ sở hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch

vụ và quản lí ở tất cả các quốc gia với mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự

chuẩn bị của hệ thống giáo dục quốc dân Tài năng và trí tuệ, năng lực và bản

lĩnh trong lao động sáng tạo của con người không phải xuất hiện một cách

ngẫu nhiên, tự phát mà phải trải qua một quá trình đào tạo công phu, bền bỉ,

có hệ thống Vì vậy, giáo dục được đánh giá không phải là yếu tố phi sản xuất,

tách rời sản xuất mà là yếu tố bên trong, yếu tố cấu thành của nền sản xuất xã

hội Không thể phát triển được lực lượng sản xuất nếu không đầu tư cho giáo

dục, đầu tư cho nhân tố con người, nhân tố quyết định của lực lượng sản xuất

Không thể xây dựng được quan hệ sản xuất XHCN nếu không nâng cao giác

ngộ lí tưởng chính trị xã hội, nâng cao trình độ học vấn, trình độ tổ chức và

quản lí xã hội cho đội ngũ lao động và quản lí lao động Vì vậy, đầu tư cho

giáo dục trước hết là giáo dục phổ thông là đầu tư cơ bản để phát triển kinh tế

xã hội, đầu tư ngắn nhất và tiết kiệm nhất để hiện đại hóa nền sản xuất xã hội

Như vậy, Giáo dục và Đào tạo có tác động to lớn đến toàn bộ các giá trị

vật chất và tinh thần của xã hội Phát triển giáo dục là cơ sở để thực hiện chiến

lược phát triển kinh tế xã hội, xây dựng chiến lược con người của Đảng và

Nhà nước Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH đã

khẳng định quan điểm cơ bản để xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục:

“Giáo dục & đào tạo gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa

học kỹ thuật, xây dựng nền văn hóa mới và con người mới Nhà nước có

chính sách toàn diện phổ cập giáo dục phù hợp với yêu cầu và khả năng của

nền kinh tế, phát triển năng lực và bồi dưỡng nhân tài” [22, tr.29]

Với tư cách là thành tố của GD&ĐT, giáo dục phổ thông có vị trí trọng

yếu hàng đầu trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh Thái

Bình Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT,

giáo dục phổ thông Thái Bình có nhiệm vụ giáo dục học sinh trung thành với

Trang 22

sự nghiệp cách mạng, có đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh, yêu Tổ quốc, yêu quê hương, yêu đồng bào

Giáo dục phổ thông Thái Bình là cấp học trong hệ thống giáo dục và đào tạo của tỉnh, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông của toàn quốc, chịu sự quản lí điều hành của chính quyền địa phương, đồng thời chịu sự quản

lí chung của Bộ GD&ĐT Giáo dục phổ thông của Thái Bình là một cấp học của nền giáo dục cả nước bao gồm: giáo dục Tiểu học, giáo dục THCS, giáo dục THPT Là một trong những mắt xích quan trọng của hệ thống giáo dục toàn tỉnh, dạy những kiến thức phổ thông chung cho học sinh từ lớp 1 đến lớp

12 Đây là lực lượng tương lai, là nguồn nhân lực chính góp phần thực hiện CNH, HĐH của tỉnh Thái Bình nói riêng cũng như của đất nước trong giai đoạn hiện nay

1.1.2 ái quát điều iện tự n i n in tế ã ội tác động đến công tác giáo dục p ổ t ông ở T ái ìn

1.1.2.1 Vị trí ị lí và u ki n t nhiên

Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc lưu vực sông Hồng, phía Bắc và Tây Bắc giáp các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương; phía Tây và Nam giáp các tỉnh Hà Nam, Nam Định; phía Đông giáp vịnh Bắc bộ Bờ biển dài 54km với 3 cửa sông lớn đổ ra biển là cửa sông Thái Bình, sông Trà Lý và Ba Lạt của sông Hồng Thái Bình có tổng diện tích tự nhiên là 1.542 km2, dân số 1,8 triệu người, bao gồm 7 huyện (Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy) và 1 thành phố, với tổng số 284 xã phường, thị trấn

Địa hình của tỉnh Thái Bình bằng phẳng, độ dốc nhỏ hơn 10, có đặc điểm rất độc đáo Là tỉnh đồng bằng, trên địa bàn tỉnh không có một ngọn núi, một vạt rừng già, độ cao so với mặt biển là 2-5m, chung quanh có sông lớn và biển bao bọc Giữa tỉnh có sông Trà Lý chảy qua từ Tây sang Đông chia tỉnh thành 2 phần Bắc, Nam

Trang 23

Thái Bình là tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Nhiệt độ trung bình hàng năm 230

- 240, độ ẩm trung bình là 31%-33%, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, luôn bị bão lũ đe dọa; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau khô nẻ, giá rét

Thái Bình có bờ biển dài, có những đoạn khá đẹp được xây dựng thành

khu du lịch nghỉ dưỡng như Đồng Châu, Cồn Vành, Cồn Đen Trên địa bàn tỉnh, có mạng lưới sông ngòi, cư lạch dày đặc, có nguồn nước phong phú và lượng phù sa lớn, thuận lợi cho tưới tiêu, phát triển nông nghiệp và giao thông vận tải đường thủy

Với lượng bức xạ cao, là tài nguyên vũ trụ vô cùng quý giá đối với phát triển nông nghiệp, lượng phù sa ở các dòng sông đã tạo nên độ phì nhiêu màu

mỡ của đất, nguồn nước vô tận để phục vụ cho nông nghiệp, biển đông cho muối, tôm, cá và nhiều nguồn hải sản quý Tài nguyên trong lòng đất có nguồn khí đốt và nước khoáng dồi dào Những điều kiện địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn, giao thông cùng với nguồn lao động dồi dào đã tạo cho Thái Bình một thảm xanh thực vật quanh năm, thích ứng với nghề nông trồng lúa nước, cây rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp cũng như việc nuôi dưỡng động vật nguồn gốc á nhiệt đới Trong tương lai, Thái Bình sẽ ngày càng có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân

1 1 2 2 u ki n kinh t - xã hội

Từ lâu, Thái Bình là “Kho người, vựa lúa” à một tỉnh nông nghiệp nhưng Thái Bình lại có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế toàn diện Sản xuất nông- lâm - thủy hải sản vẫn là ngành kinh tế quan trọng nhưng tỉnh cũng ưu tiên cho phát triển một số công trình trọng điểm, làm hạt nhân cho phát triển kinh tế - xã hội Thái Bình có cảng biển Diêm Điền, có khu công nghiệp sử dụng khí đốt Tiền Hải, bến cá Tân Sơn và chịu ảnh hưởng trực tiếp của tam giác kinh tế Hà Nội - Thái Bình - Quảng Ninh Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khu vực các tỉnh đồng bằng sông Hồng,

Trang 24

Thái Bình được coi là mắt xích quan trọng, góp phần tích cực vào sự phát triển, tăng trưởng kinh tế toàn khu vực

Thái Bình là vùng đất quê lúa có bề dày truyền thống lịch sử trong quá trình dựng nước và giữ nước Nơi đây là đất khởi nghiệp và phát triển của nhà Trần, với nhiều địa danh, tên tuổi con người Thái Bình gắn liền với những chiến công, những thời điểm quan trọng của lịch sử dân tộc Đây còn là vùng đất có truyền thống văn hóa với nhiều vị khoa bảng và danh nhân như trạng nguyên Phạm Đôn ễ, Đỗ Lý Khiêm, Khiếu Đình Tuân, Thám hoa Quách Đình Bảo, Bảng nhãn ê Quý Đôn, Nguyễn Kỳ Cẩm, Nguyễn Đức Cảnh Nhân dân Thái Bình có truyền thống cần cù, vượt khó, hiếu học, đội ngũ cán

bộ được rèn luyện, có kinh nghiệm và năng lực thích ứng với điều kiện hoạt động trong mọi thời đại

Thái Bình có nhiều tiềm năng, trong đó có nguồn tri thức Nguồn tri thức dồi dào được tích tụ nhiều năm trên nền tảng sự nghiệp giáo dục – đào tạo của tỉnh, được chính quyền và nhân dân địa phương vun trồng Đây chính là hành trang quan trọng để Thái Bình phát triển mạnh cùng cả nước trong thế kỷ 21

1.1.3.Tình hình giáo dục p ổ t ông t n Thái Bình trước năm 2001

Thái Bình là mảnh đất có những đóng góp đáng kể trong thành tựu văn hóa giáo dục Việt Nam Hầu như thời nào cũng có những người xuất chúng học rộng, tài cao đỗ đạt khoa bảng, được cả nước biết đến với truyền thống yêu nước, văn hóa, cách mạng và hiếu học Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tuyên

bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tạo tiền đề xây dựng và phát triển nền giáo dục mới Trải qua 7 thập kỷ xây dựng và trưởng thành, nền giáo dục nước ta gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Chính phủ đã chủ trương xây dựng một nền giáo dục nhân dân, dân chủ, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một nền giáo dục tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện trí khí, phát triển tài năng

Trang 25

à địa phương có truyền thống cách mạng và giáo dục lâu đời, lại được tôi luyện trong phong trào yêu nước, với khí thế hứng khởi sôi sục của những ngày đầu sau khi giành được chính quyền, Thái Bình đã phấn đấu xây dựng nền giáo dục cách mạng khá toàn diện, vững chắc và đúng hướng với nhiều chuyển biến sâu trong các ngành học

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Thái Bình cùng cả nước bước vào thời kỳ đổi mới Trong quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước đã xác định vai trò quốc sách hàng đầu là giáo dục, coi đó là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục phổ thông trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, trong những năm đổi mới, Đảng bộ tỉnh Thái Bình luôn chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng Do đó, đến năm 2001, giáo dục phổ thông tỉnh Thái Bình đạt được một số kết quả quan trọng như sau:

Từ vi c th c hi n xuất sắc nhi m vụ thanh toán nạn mù ch cho nhân dân trong tỉnh, giáo dụ n từn ước củng cố, m rộng các ngành học, cấp học, phát triển ạng các loạ n trường lớp

Ngay sau cách mạng Tháng Tám, hưởng ứng phong trào diệt giặc dốt, các lớp bình dân học vụ ra đời Thái Bình là tỉnh thứ 2 trong cả nước xóa nạn

mù chữ với 86% dân số và giành được Huân chương hạng nhất, hạng nhì do Nhà nước trao tặng Bên cạnh công tác xóa mù chữ, các trường cấp I(trường Tiểu học), cấp II(trường THCS) cũng được mở ở các xã Đến năm 2000, ngành học phổ thông bậc tiểu học và THCS đã được phát triển ở 100% xã, phường, thị trấn Ngành học THPT có 36 trường với đủ các loại hình; trường công lập (28 trường), bán công (7 trường), dân lập (1 trường) Ngành giáo dục

và đào tạo từng bước chú trọng công tác phổ cập giáo dục các cấp học Năm

1990, Thái Bình là một trong hai tỉnh đầu tiên của cả nước được Bộ Giáo dục

& Đào tạo công nhận đạt chuẩn XMC và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trở thành đơn vị dẫn đầu toàn quốc về giáo dục tiểu học

Trang 26

Chất lượng giáo dục từn ước nâng cao, bảo ảm ủ giáo viên các ngành học, cấp học

Giáo dục và Đào tạo Thái Bình ngày càng vươn tới, đáp ứng yêu cầu của sản xuất và chiến đấu bằng việc đào tạo ra những lớp người vững vàng trên cả hai mặt trận, góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước Từ khi đất nước thống nhất, đặc biệt là trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chất lượng giáo dục ngày càng được chú trọng Học sinh được chăm sóc cả về vật chất và tinh thần, được tổ chức vui chơi, khám chữa bệnh… Sự nghiệp giáo dục được tiến hành toàn diện: Giáo dục công dân, pháp luật, quốc phòng; hoạt động hướng nghiệp dạy nghề và phòng chống tệ nạn xã hội được đưa vào nhà trường Chất lượng học sinh giỏi được giữ vững

Trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, học sinh Thái Bình luôn đạt giải cao Tỷ lệ học sinh đỗ các trường cao đẳng, Đại học cũng khá cao Năm 2001, Thái Bình xếp thứ 5 các tỉnh phía Bắc và thứ 9 cả nước về kết quả tuyển sinh Đại học, Cao đẳng, THCN Tại Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ VI, Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới cho 2 đơn vị của ngành giáo dục và đào tạo Thái Bình là THCS An Bài (Quỳnh Phụ), THCS Minh Thành (Thành phố)

Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chuẩn hóa về chất lượng đào tạo, với hơn 2 vạn giáo viên đã được đào tạo cơ bản, trên 96% giáo viên đạt chuẩn (có 10,2% giáo viên đạt trên chuẩn) Trong đó, có 1 giáo viên được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động, 49 giáo viên được phong tặng nhà giáo ưu tú

ăn ườn s vật chất củ n à trườn p t ộng sâu rộng phong trào xã hội hóa giáo dục & ào tạo

Công tác xây dựng cơ sở vật chất được chú trọng Từ những cơ sở vật chất ban đầu, Giáo dục và Đào tạo Thái Bình đã có cơ sở vật chất khang trang, các trường học đều có thư viện, phòng thí nghiệm và luôn được bổ sung các

Trang 27

trang thiết bị hiện đại Đại bộ phận các trường học có sân lát gạch hoặc bê tông, khuôn viên đẹp, có công trình vệ sinh, nước sạch

Cùng với việc tăng cường cơ sở vật chất, công tác xã hội hóa giáo dục cũng luôn được Đảng bộ tỉnh quan tâm chỉ đạo Phong trào “diệt giặc dốt” được nhân dân hưởng ứng Trong hoàn cảnh chiến tranh, nhân dân trong tỉnh vẫn sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho thầy trò và động viên con em tích cực học tập Trong giai đoạn 1996 - 2001, nhân dân trong tỉnh đã đóng góp gần 10 tỷ đồng trong tổng số 212 tỷ đồng đầu tư cho xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học, 50% số phòng học đã xây dựng kiên

Các cơ quan, đơn vị đều tổ chức gặp mặt, động viên trao phần thưởng cho các cháu đạt thành tích cao trong học tập Nhiều dòng họ đã có những hình thức, nghi lễ cổ vũ cho con cháu học hành thành đạt Hội khuyến học tỉnh, huyện và 285/285 xã, phường, thị trấn được thành lập nhằm huy động toàn xã hội đóng góp cho sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo

Bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục phổ thông Thái Bình vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần khắc phục, đó là:

Mạng lưới trường, lớp và quy mô giáo dục ở Thái Bình tuy đã được sắp xếp phù hợp với từng giai đoạn cụ thể và ngày càng được ổn định hơn Song quy mô còn nhỏ, quy mô và đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và chất lượng còn chưa cân đối Tình trạng quá tải về quy mô đối với THPT ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục Việc phân luồng học sinh tốt nghiệp THCS, THPH còn hạn chế Đây thực sự là khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông của tỉnh Chất lượng giáo dục phổ thông chưa cao, chất lượng giáo dục đại trà của các cấp học, bậc học chưa đồng đều, giáo dục mũi nhọn chưa được quan tâm đúng mức Số học sinh tiếp cận công nghệ thông tin còn thấp, giáo dục toàn diện chưa tốt, giáo dục trí lực chưa thực sự kết hợp chặt chẽ với giáo dục phẩm chất nhân cách cho học sinh, nên tình trạng học sinh vi phạm nghiêm trọng đạo đức pháp luật vẫn diễn ra, gây

Trang 28

nhức nhối cho dư luận xã hội Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi phổ cập bỏ học để tham gia giúp đỡ gia đình sản xuất làng nghề truyền thống còn cao Công tác phổ cập THCS còn nhiều khó khăn do chưa có kinh nghiệm thực tế

Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý (nhất là bậc trung học phổ thông) còn thiếu, mất cân đối, dẫn đến tình trạng một giáo viên đảm nhiệm nhiều môn học …Ngoài những môn chính thì các môn học thể dục, giáo dục công dân, lịch sử, địa lý…) góp phần giúp học sinh phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mĩ chưa được coi trọng Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên và cán bộ quản lí còn ngại khó, ngại đi học để nâng cao trình độ, nên tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn thấp Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có trình độ trung cấp lý luận chính trị còn ít; chưa được đào tạo cơ bản và đồng bộ về kiến thức quản lý, về trình độ lý luận chính trị, thiếu kinh nghiệm, làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý Đời sống của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều khó khăn Công tác quản lý giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan ngoài quy định chưa được ngăn chặn có hiệu quả Việc bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý chưa hợp lý

về cơ cấu, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh về quy mô vừa phải nâng cao về chất lượng và hiệu quả đào tạo Việc tổ chức thi tuyển công chức hàng năm còn để lại những dư luận không tốt Số giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi mới chỉ dừng lại ở con số khiêm tốn

Công tác xây dựng cơ sở vật chất trường học còn hạn chế Hệ thống phòng học chức năng trong các trường học còn hạn chế, hệ thống nhà cấp 4 xuống cấp nghiêm trọng Việc trang bị, khai thác, sử dụng đồ dung dạy học còn thiếu hiệu quả, nhiều trường tiểu học và THCS bàn ghế không đúng quy cách, cũ nát, không đáp ứng được yêu cầu học tập của học sinh Tỉ lệ phòng học kiên cố, cao tầng còn thấp; việc xây dựng trường chuẩn quốc gia ở bậc Tiểu học, THCS, THPT còn rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau như thiếu đất đai để xây dựng khuôn viên, cơ sở vật chất không đạt chuẩn, tỉ lệ phòng học không đảm bảo

Trang 29

Công tác xã hội hóa về giáo dục phổ thông còn nhiều mặt hạn chế, phát triển chưa đồng đều ở các địa phương hiệu quả chưa cao Việc huy động các nguồn lực ở các huyện và các xã nghèo còn gặp nhiều khó khăn Chưa khai thác, phát huy được những tiềm năng, thế mạnh của địa phương

Hạn chế, khuyết điểm trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan

và chủ quan, trong đó đáng chú ý là: Một số cấp ủy Đảng, chính quyền, nhất

là ở cơ sở chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của sự nghiệp giáo dục phổ thông trong thời kỳ đổi mới; việc phối kết hợp giữa các cấp, các ngành nhiều nơi chưa chặt chẽ, chưa tạo nên được sự thống nhất trong toàn tỉnh trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ tỉnh nên dẫn đến tình trạng có nơi còn trông chờ, ỷ lại, thiếu chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông Năng lực, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên bất cập, có biểu hiện chạy theo thành tích, chưa chú ý đến chất lượng thực tế và chất lượng giáo dục toàn diện

Như vậy, đến trước năm 2001, sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông của tỉnh Thái Bình đã đạt được những kết quả bước đầu, đáng ghi nhận trên nhiều mặt và ở tất cả các cấp học Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, giáo dục phổ thông của tỉnh vẫn còn những tồn tại và bất cập từ quy mô giáo dục, đội ngũ giáo viên, chất lượng giáo dục đến cơ sở vật chất Thực trạng trên đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền và Sở giáo dục & đào tạo tỉnh Thái Bình phải kịp thời hoạch định chủ trương, giải pháp phù hợp để phát triển giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển của địa phương trong thời

Do nhận thức: “Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước,

là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất quan

Trang 30

trọng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [33, tr.593]; đồng thời, kế thừa và phát triển những quan điểm của Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) tiếp tục khẳng định quan

điểm:“P t tr ển giáo dụ và ào tạo là một trong nh n ộng l c quan trọng

t ú ẩy s nghi p công nghi p hóa,hi n ạ ó là u ki n phát huy nguồn

l c con ngời – y u tố ản ể phát triển xã hội, tăn trư ng kinh t nhanh

và b n v n ” [24,tr.108-109] Đại hội đã xác định nhiệm vụ và giải pháp chủ

yếu về phát triển giáo dục:

Một là, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội

dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”

Hai là, coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung

học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường kết hợp với xã hội

Ba là, củng cố thành tựu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học phấn

đấu để ngày càng có nhiều trường tiểu học đủ điều kiện học 2 buổi mỗi ngày tại trường, được học ngoại ngữ và tin học Đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục THCS để tạo điều kiện cho những địa phương có khả năng hoàn thành sớm việc phổ cập giáo dục bậc THPT qua việc mở rộng quy mô đào tạo và phát triển đa dạng các loại hình trường PTTH

Bốn là, tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo theo nhịp độ

tăng trưởng kinh tế Từng bước xúc tiến việc nối mạng internet ở trường học

để tạo điều kiện học tập, nghiên cứu trên mạng

Trang 31

Năm là tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong

học sinh

Sáu là, thực hiện công bằng xã hội, tạo điều kiện cho người nghèo có

điều kiện học tập, tiếp tục phát triển các trường phổ thông nội trú giành cho con em dân tộc thiểu số Có chính sách hỗ trợ đặc biệt với những học sinh có năng khiếu, có hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở các bậc học cao

Bảy là, thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển đa dạng các

hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng trẻ, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục

Tám là, giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc: sửa đổi chương

trình đào tạo đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực của sự nghiệp CNH, HĐH, cải tiến chế độ thi cử, khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa” giáo dục, ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục

Đại hội đề ra chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn 2001 -

2010, trong đó xác định: “ ể p ứng nhu cầu v on n ười và nguồn nhân

l c là nhân tố quy t ịnh s phát triển ất nước trong thời công nghi p hóa,

hi n ại hóa, cần tạo chuyển bi n ản, toàn di n v giáo dụ và ào tạo”

[24,tr.118-119]

Theo tinh thần trên, đến tháng 7/2002, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, sau khi kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương khóa VIII, Hội nghị đề ra 3 nhiệm vụ lớn Đó là: Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo nhân tài; phát triển hợp lý quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn trên cở sở bảo đảm chất lượng và nâng cao hiệu quả giáo dục, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội; thực hiện công bằng trong giáo dục, tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn ở mọi cấp học và trình độ đào tạo cho mọi tầng lớp nhân dân Để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trên, Hội nghị đưa một số giải pháp cơ bản: Đổi mới và nâng cao

Trang 32

năng lực quản lý nhà nước về giáo dục; xây dựng và triển khai chương trình xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện; tiếp tục hoàn thiện cơ cấu hệ thống quốc dân và sắp xếp, củng cố, phát triển mạng lưới trường lớp, cở sở giáo dục; tăng cường đầu tư cho giáo dục đúng với yêu cầu quốc sách hàng đầu; đẩy mạnh xã hội giáo dục coi đây là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục

Trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý toàn diện, ngày 15/6/2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng

ban hành Chỉ thị số 40/CT-TW v xây d ng nâng cao chất lượn ộ n ũ n à

giáo và cán bộ quản lý Mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

giáo dục được chuẩn hóa và đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ

về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo, thông qua quản lý, phát triển định hướng có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ ngày

18-4-2005 v ẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, y t văn ó t ể thao, trong đó có nội

dung khuyến khích đa dạng hóa các loại hình đào tạo ngoài công lập ở các cấp học, bậc học với sự tham gia của toàn xã hội, của các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, cá nhân, nhằm đa dạng hóa các loại hình trường lớp thực hiện các mục tiêu mà các Đại hội toàn quốc của Đảng đề ra

Như vậy, trong giai đoạn 2001-2005, chủ trương của Đảng và Nhà nước

về giáo dục phổ thông được xác định: giáo dục phổ thông có vai trò là bậc học nền tảng cho thế hệ trẻ cả về tri thức lẫn nhân cách, cần tiếp tục đổi mới và phát triển trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Trang 33

1.2.2 Chủ trương của Đảng ộ t n Thái Bình về phát triển giáo dục

p ổ t ông

Quán triệt và vận dụng chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Thái Bình luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội; xác định đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo là đầu tư cho sự phát triển Giáo dục và Đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện chức năng phát triển xã hội, phúc lợi xã hội, phục

vụ xã hội Kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục Phát huy năng lực nội sinh, gắn với phát triển giáo dục và đào tạo với nhiệm vụ chính trị của tỉnh, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần đưa Thái Bình vào thời kỳ phát triển mới

Đa dạng hóa các loại hình Giáo dục và Đào tạo, tạo điều kiện để ai cũng được học hành Người lao động được học tập tại các trung tâm học tập cộng đồng làng, xã, và cơ sở dạy nghề Người học giỏi được phát triển tài năng tại các trung tâm chất lượng cao Giữ vai trò nòng cốt là các trường công lập, đồng thời, phát triển mạnh các trường ngoài công lập để đẩy nhanh tiến trình xã hội hóa sự nghiệp giáo dục

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI (tháng 1-2001) xác định phương hướng phát triển giáo dục phổ thông trong định hướng phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2001 - 2005 là: “Phát huy nội lực, tăng cường hợp tác đầu tư, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao, bền vững, phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh sản phẩm, gắn với thị trường Phát triển khoa học công nghệ, Giáo dục và Đào tạo, coi trọng và phát huy nhân tố con ngời, chăm lo giải quyết các vấn đề bức xúc về xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện nâng cao đời sống nhân dân…”[17, tr.23]

Trang 34

Trên cơ sở Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI, Ban Thường vụ tỉnh ủy ra Nghị quyết số 06-NQ/TU (ngày 25-2-

2002) v phát triển s nghi p Giáo dụ và ào tạo oạn 2001 - 2010

Nghị quyết chỉ rõ mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của giáo dục phổ thông giai đoạn 2001 – 2005 là:

Thứ nhất: Tiếp tục nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng

độ tuổi, tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật, trẻ có hoàn cảnh khó khăn được học tập,

Thứ hai: Phổ cập THCS toàn tỉnh vào năm 2002, mở rộng diện phổ cập

đến độ tuổi 25 Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở THCS, chấm dứt tình trạng dạy chéo môn

Thứ ba: Nâng tỷ lệ học sinh phổ thông ở độ tuổi đạt 60% dân số vào

năm 2005 và 70% vào năm 2010, trong đó, 50% học sinh hệ ngoài công lập

Mở rộng trung học dạy nghề, phấn đấu đạt phổ cập trình độ THPT cho thanh niên vào năm 2010

Nâng tỷ lệ lao động nghề được đào tạo đến năm 2005 đạt 30%; cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành phải được bồi dưỡng, bổ sung kiến thức cần thiết theo chức trách, nhiệm vụ được giao và đào tạo đội ngũ cán bộ

dự bị cho giai đoạn kế tiếp…

Thứ tư: Triệt để xóa mù chữ và phổ cập tiểu học cho người lao động

đến 35 tuổi, thực hiện phổ cập THPT cho cán bộ chủ chốt xã, phường Phát triển trung tâm học tập cộng đồng làng, xã

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Nghị quyết 06-NQ/TU, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng Chương trình hành

động số 23- CTr/TU ngày 1/10/2002 v th c hi n k t luận Hội Nghị lần thứ 6

Ban chấp àn run ư n khóa IX v giáo dục & ào tạo; Chỉ thị số

135/UBND-VX v 6 hoạt ộng trọng tâm phát triển giáo dục, tron ó nhi m

vụ số 1 là phổ cập giáo dục THCS; Đề án số 15-ĐA/TU ịn p ư n

Trang 35

ướng, mục tiêu, giải pháp phát triển giáo dục – ào tạo, Nghị quyết số

13-NQ/TU v phát triển ào tạo, dạy ngh oạn 2004-2010, Chỉ thị của UBND v v t n n m vụ năm ọ từ 2001-2002 n năm ọc

2004 -2005 Có thể khái quát những chủ trương lớn về giáo dục phổ thông

tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2001 – 2005 như sau:

Một là, coi giáo dục phổ thông thực sự là một trong những nền tảng

động lực thúc đẩy quá trình CNH, HĐH đất nước

Hai là, phát triển giáo dục phổ thông nhằm tạo ra những con người

phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mĩ, có kiến thức văn hóa, có kĩ năng nghề nghiệp, có phương pháp tư duy khoa học, sáng tạo, tiếp thu nhanh cái mới, biết áp dụng công nghệ, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc CNH, HĐH

Ba là, phát triển giáo dục phổ thông là trách nhiệm của các cấp ủy đảng,

chính quyền địa phương, các đoàn thể quần chúng, gia đình và xã hội

Bốn là, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông góp phần

xây dựng tỉnh Thái Bình thành một tỉnh văn minh, hiện đại và phát triển bền vững

Những tư tưởng chỉ đạo trên là cơ sở, nền tảng để Đảng bộ tỉnh hoạch định chiến lược phát triển giáo dục phổ thông một cách đúng đắn, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phổ thông phát triển đúng hướng

1.2.3 Đảng ộ t n T ái ìn c đạo p át triển giáo dục p ổ t ông

Thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI (tháng 1- 2001), nhằm cụ thể hóa các chủ trương phát triển giáo dục phổ thông giai đoạn (2001 – 2005), ngày 25 tháng 2 năm 2002, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra

Nghị quyết 06-NQ/TU v tăn ường s l n ạo củ ản ối với nhi m vụ

nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh trong nh n năm (2001 – 2005) và n năm 2010 Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Nghị

quyết số 06-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các cấp ủy, chính quyền và các địa phương trong toàn tỉnh đã tăng cường phát triển giáo dục toàn diện Sự

Trang 36

nghiệp giáo dục phổ thông tỉnh Thái Bình trong những năm đầu thế kỷ XXI

sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất, kỹ thuật trường học Giai đoạn đầu, sát nhập tổ chức bộ máy, tập trung cán bộ giáo viên, hình thành khu tập trung; đồng thời, duy trì các khu vực lẻ, tạo điều kiện cho học sinh đi lại,

tổ chức một số trường tiểu học, THCS hệ bán công chất lượng cao, đi đầu trong thực hiện xây dựng trường chuẩn quốc gia

Mở rộng quy mô THPT theo hướng đa dạng hóa mỗi trường có 30 lớp trở lên, ổn định các trường công lập, xây dựng thêm mỗi huyện 1 trường bán công, khuyến khích thành lập trường THPT dân lập, tư thục

Kết quả, đến năm 2005, toàn tỉnh có 293 trường Tiểu học, 284 trường THCS và 28 trường THPT công lập, trong đó có 01 trường THPT chuyên và 1 trường dân lập, 10 trường bán công, với số lượng học sinh đến trường ngày càng tăng

Trang 37

Bảng 1.1: Tổng hợp số lượng học sinh phổ thông tỉnh Thái Bình (2001-2005)

(Nguồn S Giáo dục và ào tạo tỉnh Thái Bình)

Trong những năm (2001-2005), hệ thống giáo dục tỉnh Thái Bình từng bước được hoàn thiện, quy mô trường học, cấp học ổn định, các loại hình nhà trường được mở rộng đáp ứng nhu cầu người học Đây là một trong những điều kiện cơ bản để thúc đẩy giáo dục phát triển, đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh

Thứ hai: ộ n ũ o v n và n ộ quản lý, công tác quản lý giáo dục và chất lượng quản lý giáo dục

ối vớ ộ n ũ o v n: Từ năm 2001 đến năm 2005, Đảng bộ tỉnh

Thái Bình chỉ đạo phát triển chuyên môn nghiệp vụ, chuyên đề cho tất cả các ngành học, bậc học, cấp học thường xuyên theo chu kỳ, không ngừng được đẩy mạnh Tỷ lệ giáo viên Tiểu học tham gia bồi dưỡng lớp 4, lớp 9 với 27.534 lượt cán bộ, giáo viên THCS là 2300 người, giáo viên THPT là 3580 người, giáo viên tham gia đạt 160% so với yêu cầu của Bộ Giáo dục & Đào tạo [70, tr.9] Nhờ vậy, đội ngũ nhà giáo được chuẩn hóa, và được tập huấn thay sách đúng quy định Cán bộ quản lý giáo dục không ngừng được nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn của bậc tiểu học là 99,9% (trên chuẩn 57,7%), THCS là 98,6% (trên chuẩn 29%), THPT 100% (trên chuẩn

Trang 38

7,0%) [59,tr.5] Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều tiến bộ, việc thực hiện đổi mới chương trình dạy học 2 buổi/ ngày, dạy tiếng Anh cho học sinh tiểu học, đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học được nhiều đơn vị quan tâm chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc và đạt được kết quả tốt như huyện Thái Thụy, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, thành phố Thái Bình

Phong trào nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ sáng tạo kỹ thuật, đúc kết sáng kiến, kinh nghiệm cũng được đẩy mạnh Hàng năm, có từ

400 đến 600 đề tài nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm được công nhận ở các cấp, các ngành và hàng nghìn sáng kiến kinh nghiệm được công nhận ở cơ sở; nhiều sản phẩm sáng tạo kỹ thuật được ứng dụng vào chuyên môn, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác Đặc biệt, đã có nhiều đề tài khoa học cấp tỉnh được xếp loại suất sắc Đó là những đề tài giải quyết tốt các nhiệm vụ trước mắt, vừa mang tầm chiến lược, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần đáp ứng nhiều vấn đề trong quá trình hoạch định chính sách và chỉ đạo thực hiện phát triển Giáo dục và Đào tạo ở địa phương

Tuy nhiên, việc xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Thái Bình những năm (2001 - 2005) vẫn còn một số hạn chế: Đội ngũ giáo viên còn thiếu, nhất là ở các địa phương vùng biển như huyện Tiền Hải, vùng sâu vùng xa như Xã Hồng Lý, Hồng Phong huyện Vũ Thư Đời sống của giáo viên còn gặp nhiều khó khăn Tình trạng dạy thêm, học thêm còn tràn lan chưa được kiểm soát, gây phản ứng không tốt trong dư luận Đội ngũ cán bộ quản lý chưa được trang bị một cách hệ thống lý luận chính trị, chưa được đào tạo bài bản nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý

ối với công tác quản lý giáo dục: Toàn ngành quán triệt Nghị quyết

Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa VIII và kế hoạch của tỉnh ủy về Giáo dục và Đào tạo, xây dựng chương trình hành động thực hiện những mục tiêu của ngành đề ra Trên cơ sở đó, tăng cường chỉ đạo của

Trang 39

các cấp quản lý từ Sở GD & ĐT, đến các Phòng GD & ĐT, các đơn vị trực thuộc, đặc biệt là tăng cường chỉ đạo quản lý giáo dục trong đội ngũ cán bộ, giáo viên, trọng tâm là các hoạt động chuyên môn ở các ngành học, bậc học Công tác quản lý giáo dục được thực hiện theo hướng chuẩn hóa Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, chuẩn hóa cơ sở vật chất, chuẩn hóa việc xếp loại, đánh giá Quản lý theo hướng dân chủ hóa làm cho trường học thực sự là của dân, người dân có trách nhiệm xây dựng và quản lý nhà trường, đặc biệt là dân chủ hóa đối với giáo viên, phát huy mọi năng lực của các thành viên trong hội đồng giáo dục; thực hiện công khai, công bằng, cũng như thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Giáo dục và Đào tạo theo hướng tập trung làm tốt chức năng quản lý nhà nước

Ngoài ra, ngành giáo dục tỉnh Thái Bình còn tiếp tục triển khai chỉ đạo chặt chẽ Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT về chấn chỉnh công tác dạy thêm, phối hợp với công đoàn ngành thực hiện tốt cuộc vận động “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”, “Cô giáo như mẹ hiền”, “Giáo viên chủ nhiệm giỏi”, tổ chức gặp mặt các tập thế cá nhân điển hình tiên tiến xuất sắc trong toàn ngành nhằm cổ vũ, động viên giáo viên, học sinh hoàn thành tốt nhiệm

vụ được giao Quán triệt quan điểm GD&ĐT là sự nghiệp của toàn dân, toàn dân tham gia xây dựng phát triển Giáo dục và Đào tạo, công đoàn ngành giáo dục tỉnh phối hợp với Sở GD&ĐT, các huyện ủy, UBND các huyện, kết hợp với lực lượng tổng hợp của các tổ chức chính trị, đoàn thể, của mọi tầng lớp nhân dân đóng góp sức lực vào nhiệm vụ chính trị chung của ngành Do đó, công tác xã hội hóa giáo dục tập trung vào 3 mặt: Tạo lập phong trào học tập sâu rộng trong xã hội, mọi người đều được học thường xuyên, học suốt đời; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đẩy lùi mọi ảnh hưởng tiêu tực xâm nhập vào nhà trường; huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục Ý thức trách nhiệm với con em mình, từ năm 2001 đến năm 2005, nhân dân trong tỉnh đã đóng góp xây dựng trường lớp, đóng bàn ghế, tổng số

Trang 40

tiền ước tính hàng chục tỷ đồng Tuy nhiên, do khó khăn về kinh tế, đời sống của nhân dân ở các huyện ven biển, vùng sâu, vùng xa nhìn chung còn khó khăn, nên công tác xã hội hóa giáo dục ở Thái Bình chưa đáp ứng kịp với yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH

V chất lượng giáo dục; Thực hiện Chỉ thị số 61-CT/TW (12-2000) của

Bộ Chính trị v vi c phổ cập giáo dục THCS, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ

tỉnh lần thứ XVI và Nghị quyết số 06-NQ/TU, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng chương trình hành động số 23-CTr/TU (ngày 1-10-2002) về thực hiện

Kết luận Hội Nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX v

Giáo dụ và ào tạo, nhất là Chỉ thị số 135/UB-VX v 6 hoạt ộng trọng tâm phát triển giáo dục, trong đó nhiệm vụ số 1 là phổ cập giáo dục THCS đến

năm 2004

Phổ cập giáo dục luôn được xem là mục tiêu quan trọng trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông của tỉnh Thái Bình Công tác phổ cập giáo dục trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm được các tổ chức, nhà trường quan tâm tổ chức thực hiện Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, ban ngành liên quan trong tỉnh thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phấn đấu đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Công tác phổ cập giáo dục trong tỉnh những năm (2001 – 2005) đạt nhiều thành tích tốt, các tiêu chuẩn phổ cập không ngừng tăng lên

ối với phổ cập tiểu học, đến năm 2001, tỉnh Thái bình đã hoàn thành 100%

phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, với 293/293 trường trong toàn tỉnh

ối với THCS: Số đơn vị (xã, phường, thị trấn) đạt chuẩn quốc gia phổ

cập giáo dục Trung học cơ sở trong tỉnh năm 2001 có 279/284 đơn vị, đạt tỷ

lệ 97,89%; 8/8 huyện trong tỉnh đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w