1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa khu vực phía tây Yên Tử ( tỉnh Bắc Giang )

122 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề ã có nhiều nghiên cứu văn hóa và du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử, ví dụ như: “Tục hát Sli với phát triển du lịch văn hóa huyện Lục Ngạn” tác giả Nguyễ

Trang 1

QU N

TRƢ Ọ Ọ XÃ HỘ VÀ Â VĂ

-

NGUYỄN THỊ YẾN

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊ VĂ Ó U VỰC

PHÍA TÂY YÊN TỬ (TỈNH BẮC GIANG)

LUẬ VĂ T SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2015

Trang 2

QU N

TRƢ Ọ Ọ XÃ HỘ VÀ Â VĂ

-

NGUYỄN THỊ YẾN

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊ VĂ Ó U VỰC

PHÍA TÂY YÊN TỬ (TỈNH BẮC GIANG)

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG BIÊU 5

DANH MỤC BIỂU Ồ VÀ MÔ HÌNH 6

MỞ ẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 ối tượng, phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 óng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc của luận văn 11

ƢƠ 1: Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊ VĂ HÓA 12

1.1 Những căn cứ xác định khu vực Tây Yên Tử 12

1.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử 12

1.1.2 Những căn cứ pháp lý 16

1.2 Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa 17

1.2.1 Du lịch văn hóa 17

1.2.2 Tài nguyên du lịch văn hoá 17

1.2.3 Điểm đến du lịch văn hóa 18

1.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa 19

1.2.5 Sản phẩm du lịch văn hóa 20

1.2.6 Khách du lịch văn hóa 22

1.2.7 Nhân lực trong du lịch văn hóa 22

1.2.8 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa 23

1.2.9 Xúc tiến du lịch văn hóa 25

Trang 4

1.2.10 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch 26

1.3 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử - tỉnh Bắc Giang 29

1.3.1 Tầm quan trọng của du lịch văn hóa trong hoạt động du lịch phía Tây Yên Tử 29

1.3.2 Những thuận lợi trong hoạt động du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử - tỉnh Bắc Giang 30

1.3.3 Những khó khăn trong hoạt động du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử - tỉnh Bắc Giang 31

Tiểu kết chương 1 33

ƢƠ 2: T ỰC TR NG HO T ỘNG DU LỊ VĂ Ó Ở KHU VỰC PHÍA TÂY YÊN TỬ ( TỈNH BẮC GIANG) 34

2.1 Hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử 34

2.1.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể 34

2.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể 36

2.2 ác điểm du lịch văn hóa tiêu biểu 45

2.2.1 Chùa Vĩnh Nghiêm 45

2.2.2 Khu di tích và danh thắng Suối Mỡ 48

2.2.3 Khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông 51

2.3 Khảo sát thực trạng du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử 54

2.3.1 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa 54

2.3.2 Nhân lực du lịch 58

2.3.3 Thị trường khách du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử 64

2.3.4 Sản phẩm, tour tuyến du lịch văn hóa 68

2.3.5 Tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa 70

2.3.6 Xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa 73

Tiểu kết chương 2 76

ƢƠ 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU

Trang 5

QUẢ HO T ỘNG DU LỊ VĂ Ó U VỰC PHÍA TÂY

YÊN TỬ 77

3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 77

3.1.1 Chủ trương chính sách nhà nước 77

3.1.2 Căn cứ thực tiễn 87

3.2 Những giải pháp phát triển du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử 88

3.2.1 Giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa 88

3.2.2 Giải pháp về đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật 92

3.2.3 Giải pháp về nguồn nhân lực du lịch 94

3.2.4 Giải pháp về thị trường du lịch 97

3.2.5 Giải pháp về sản phẩm du lịch văn hóa 98

3.2.6 Giải pháp đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch 101

3.2.7 Giải pháp về bảo tồn di sản 103

Tiểu kết chương 3 105

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 112

Trang 6

Q -SVHTTDL Quyết định – Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural

Organization) Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

Tổ chức Du lịch thế giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIÊU

Bảng 2.1: ác di tích được xếp hạng cấp quốc gia ở khu vực phía Tây Yên Tử………34 Bảng 2.2: Hiện trạng phân bổ cơ sở lưu trú tại các huyện đến tháng 4/2015……… 54 Bảng 2.3: Hiện trạng chất lượng cơ sở lưu trú của khu vực phía Tây Yên Tử đến hết tháng 4/2015……… 55 Bảng 2.4: Hiện trạng đơn vị kinh doanh lữ hành tại khu vực phía Tây Yên Tử………56 Bảng 2.5: Các lớp nghiệp vụ du lịch đã được tổ chức………59 Bảng 2.6: Lao động trực tiếp trong du lịch của khu vực phía Tây Yên Tử giai đoạn 2010 - 2014 ………60

Trang 8

DANH MỤC BIỂU Ồ VÀ MÔ HÌNH

Sơ đồ 1.1: Quy trình bảo tồn di sản……….27 Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ trình độ lao động của khu vực Tây Yên Tử năm 2014… 61 Biểu đồ 2.2: Mục đích đi du lịch của khách du lịch đến khu vực Tây Yên Tử năm 2014 66

Trang 9

MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến Nhu cầu du lịch ngày càng tăng lên chính là lúc khách du lịch mong muốn được tìm hiểu khám phá những nét phong phú và đa dạng trong nếp sinh hoạt văn hóa của người dân tại các quốc gia, các địa phương, vùng miền khác nhau Vì thế mà bên cạnh những loại hình như du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch chữa bệnh gần đây du lịch văn hóa được xem là sản phẩm du lịch đặc thù của các nước đang phát triển thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, lễ hội truyền thống, phong tục tín ngưỡng…để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và khách du lịch quốc tế

Du lịch văn hóa rất phù hợp với điều kiện của Việt Nam, khi nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc văn hóa dân tộc Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị to lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát triển của cộng đồng xã hội

Khu vực phía Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang) trải dài từ Sơn ộng, dọc theo sông Lục Nam xuống đến Yên Dũng Dọc sườn Tây Yên Tử còn lưu lại nhiều di tích, công trình lịch sử văn hóa liên quan đến quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Hệ thống các chùa tháp, di tích lịch sử, lễ hội văn hóa cùng sự kỳ vĩ của rừng, núi trùng điệp kết hợp cùng với khu phía ông dãy Yên Tử (thuộc tỉnh Quảng Ninh) đã tạo thành một quần thể danh thắng Yên

Tử thống nhất, có tiềm năng lớn cho phát triển du lịch

ăn cứ vào thực trạng và tính cấp bách của vấn đề, tác giả đã lựa chọn

đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử (tỉnh

Trang 10

Bắc iang)” nhằm tìm ra những định hướng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hóa của khu vực này trong thời gian tới, đưa du lịch văn hóa trở thành loại hình chủ đạo đem lại nhiều lợi ích kinh

tế xã hội cho khu vực

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

ã có nhiều nghiên cứu văn hóa và du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử, ví dụ như: “Tục hát Sli với phát triển du lịch văn hóa huyện Lục Ngạn” tác giả Nguyễn Thị Phương, “Truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội đền

Hả Lục Ngạn – Bắc iang” tác giả Trần Duy Phương, “Tiềm năng du lịch văn hóa huyện Lục Nam” tác giả ỗ Huỳnh Bộ, Trần Văn òa, “Bảo tồn và khai thác các giá trị di sản văn hóa khu thắng cảnh Suối Mỡ” tác giả Trần Văn Lạng

Năm 2006, Bắc Giang cho ấn hành cuốn sách Dân ca Cao Lan của tác giả Ngô Văn Trụ, đã cho thấy loại hình văn hóa phi vật thể được người già, thanh niên, trẻ nhỏ, ai cũng say mê “Sịnh ca”, bởi nó không chỉ là những bài hát giao duyên của trai gái, mà còn là những bài hát ca ngợi sản xuất, hát

“phụng” Thổ công và Thần Nông, hát mừng nhà mới, hát ru con, hát đố, hát ghẹo…Qua những làn điệu dân ca này, người Cao Lan có thể gửi gắm những tâm tư, tình cảm với nhau, những ước mơ, nguyện vọng của người lao động với thiên nhiên và thần linh…Mỗi khi có dịp gặp nhau, người Cao Lan hát cho nhau nghe những bài hát ca ngợi cảnh đẹp quê hương, làng bản Những lúc lao động vất vả, mệt nhọc, họ thường cất lên tiếng hát ca ngợi tinh thần lao động, cầu chúc những mùa tươi tốt Khi trai gái làm quen hay bén duyên nhau, họ hát những làn điệu dân ca để ngỏ ý giao duyên và hẹn ước…

Năm 2011, trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa khu thắng cảnh Suối Mỡ xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, với 21 tham luận khoa học đã nêu bật hệ thống di tích thắng cảnh Suối Mỡ và

đã đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hết các giá trị của khu di

Trang 11

tích danh thắng này Muốn làm được điều đó phải quảng bá du lịch một cách bền vững

Tháng 10 năm 2015, trong hội thảo khoa học Xây dựng phát triển sản phẩm du lịch Văn hóa tâm linh – Sinh thái vùng Yên Tử, với 12 tham luận khoa học đã nêu bật hệ thống các di tích khu vực Yên Tử và đã đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị các di tích để phát triển du lịch vùng Yên

Tử nói chung cũng như du lịch Bắc Giang nói riêng ngày càng phát triển

Tuy nhiên các công trình trên chưa nghiên cứu tổng thể, toàn diện về

du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử Cùng với đó, thực tiễn hoạt động

du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử hiện nay cho thấy sản phẩm du lịch ở đây còn nghèo, đơn điệu, chưa tương xứng với tiềm năng, vì thế chưa thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của du khách Nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa được nghiên cứu thấu đáo, chưa được đầu tư phát triển dẫn tới việc chưa thể thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến khu vực Tây Yên Tử

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn khi thực hiện là góp phần phát triển du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử, cũng như góp phần bảo tồn di sản văn hóa trong kinh doanh du lịch của Bắc Giang nói chung

ể đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tiến hành giải quyết các nhiệm

vụ chính là:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch văn hóa như: tài nguyên du lịch nhân văn, điểm đến du lịch văn hóa, thị trường, nguồn khách để từ đó xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, tổ chức thực hiện và quản lý chúng nhằm mục đích phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử

- Nêu ra những đề xuất góp phần phát triển du lịch văn hóa và bảo tồn

di sản văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử

Trang 12

4 ối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn

ối tượng nghiên cứu của luận văn là các điều kiện phát triển du lịch văn hóa; iện trạng hoạt động du lịch văn hóa; ác tổ chức, quản lý, cơ sở vật chất, sản phẩm du lịch văn hóa

* Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Giới hạn không gian nghiên cứu gồm toàn bộ bốn huyện khu vực Tây Yên Tử (Bắc Giang): huyện Yên Dũng, huyện Lục Ngạn, Huyện Lục Nam, huyện Sơn ộng

- Phạm vi về thời gian: số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ thời điểm năm

2010 đến nay, các định hướng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa của khu vực Tây Yên Tử và các giải pháp được đưa ra trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

- Phương pháp nghiên cứu thực địa

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Luận văn cũng sử dụng các tài liệu thứ cấp, các nguồn thông tin từ các

sở, ban ngành, thư viện, các tổ chức hiệp hội khoa học lớn, các diễn đàn chuyên môn để làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình

6 óng góp của luận văn

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa

- Hệ thống hóa giá trị nguồn tài nguyên du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử

- ưa ra những nhận định đánh giá thực trạng của du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử

- ề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử

Trang 13

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn chia làm 3 chương:

hương 1: ơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hóa

hương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang)

hương 3: Các giải pháp phát triển du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử

Trang 14

ƢƠ 1: Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊ VĂ Ó

1.1 Những căn cứ xác định khu vực Tây Yên Tử

1.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử

Núi Yên Tử nằm trên cánh cung ông Triều, ôm gọn vùng ông Bắc Sườn ông Yên Tử chủ yếu thuộc tỉnh Quảng Ninh, sườn Tây Yên Tử thuộc các huyện Yến Dũng, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn ộng tỉnh Bắc Giang Từ

xa xưa, Yên Tử đã được các nhà địa lý cổ phương ông ghi nhận là một trong những nơi phúc địa của Giao Châu Nơi tích tụ khí thiêng sông núi, nơi trời đất giao hòa, giúp con người thoát tục để đến với một không gian thanh tịnh Yên Tử còn được biết đến là một trong những trung tâm Phật giáo hàng đầu của cả nước, gắn liền với vai trò của đức vua Trần Nhân Tông, người sáng lập

ra thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền nổi tiếng của quốc gia ại Việt Ngày này, Yên Tử là một quần thể di tích với nhiều kiến trúc cổ có giá trị lịch sử văn

hóa, được xây dựng qua nhiều thời kỳ khác nhau Lý, Trần, Lê, Nguyễn

Về địa lý, Yên Tử là dãy núi thấp, thuộc hệ thống cánh cung ông Triều, một vùng địa chất được hình thành từ kỷ ệ tứ, với các loại đá gốc như

sa thạch, sỏi kết sạn và phù sa cổ… Cánh cung ông Triều chạy từ Quảng Ninh qua ải Dương và Bắc Giang, án ngữ bên bờ tả sông Lục Nam ộ cao, thế núi của từng ngọn cũng rất phong phú Ở sơn phận này có các mạch núi chính như: Lôi Âm (tức Yên Tử), Phật Sơn, Am Ni, Chúng Sơn, Thanh Mai, Bác Mã, Côn Sơn, uyền inh, Tượng Sơn, Khám Lạng… ỉnh cao nhất của dãy Yên Tử là ngọn Lôi Âm (khoảng 1200m so với mực nước biển) Tiếp theo là ngọn Phú Lâm của núi Phật Sơn (khoảng 1000m) Trong các mạch núi này có hai loại thảm thực vật nguyên sinh là thảm thực vật rừng nhiều tầng và thảm thực vật rừng xavan khô hạn ịa hình, địa chất phức tạp của khu vực đã kiến tạo nên các cảnh quan kỳ vĩ như: thác Ngự Dội, thác Vàng, thác Bạc, cổng Trời, đường Tùng, rừng trúc, đỉnh núi Yên Tử…

Trang 15

Khu vực Yên Tử có tổng diện tích tự nhiên khoảng 2686ha Trong đó

có 1736ha rừng tự nhiên, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng ông Bắc, nơi còn bảo tồn được nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm Xen kẽ với thiên nhiên là hệ thống chùa, am, tháp… Ven lối dẫn lên các chùa, am, tháp thường trồng rất nhiều tùng Trong khu vực này hiện còn khoảng hơn 200 cây tùng đại thụ, thuộc 4 nhóm quý hiếm, được trồng cách đây khoảng 700 năm Ngoài đường tùng cổ thụ, rừng trúc ở đây cũng đã nổi tiếng từ ngàn xưa Trúc là sản phẩm độc đáo của Yên Tử, tượng trưng cho sức sống dẻo dai, vẻ đẹp thanh bạch và tao nhã của tạo hóa Có lẽ, đó cũng chính là lý do mà Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây để tu hành, lấy tên là rừng trúc (Trúc Lâm), để đặt tên cho dòng thiền do ông sáng lập

Trong vẻ đẹp hùng vĩ và hoang sơ, núi rừng gắn với cõi Thiền xưa, nơi phát tích của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Nơi đây còn in đậm dấu tích lịch

sử và di tích văn hóa gắn với sự ra đời và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm

và hệ thống lăng mộ các vua Trần

Từ khi hình thành, trải qua nhiều năm tháng, Thiền phái Trúc Lâm Yên

Tử ngày càng thu hút được nhiều phật tử, có lúc lên tới 1.500 người, nên việc xây dựng những chùa, miếu, am, thiền viện để phục vụ sinh hoạt tôn giáo được xây cất ở nhiều nơi Tuy nhiên do thời gian xây dựng cách đây quá lâu (thế kỷ XIII và XIV) lại thêm thiên nhiên khắc nghiệt, nên những di sản này chỉ còn lại dấu tích Mặc dù vậy, nó đã minh chứng cho sự hiện hữu của một chốn Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử iện nay, hệ thống chùa, miếu,

am, thiền viện phân bố ở không gian Yên Tử:

Tỉnh Quảng Ninh: Chùa ồng trên đỉnh cao nhất Yên Tử, chùa Bảo

Sái, chùa Một Mái, chùa Tiêu, chùa Hoa Yên, Ngự Dược am, Tử Tiêu am, Thạch Thất Ngộ Ngữ viện, chùa Long ộng, chùa iải Oan, chùa Lân, chùa

Tú Lâm, chùa Quan Âm, chùa Quỳnh Lâm, chùa Ngũ ài Sơn, Chùa Bắc Mã

Trang 16

Tỉnh Bắc Giang: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa ồ Bấc, chùa Bình Long,

chùa Cao, chùa Hang Non, chùa Hòn Tháp, chùa Yên Mã, chùa AmVãi, chùa ồng Vành, chùa hỉ Tác

Tỉnh ải Dương: ền, chùa Côn Sơn – Kiếp Bạc, chùa Thanh Mai,

chùa Thời Lời, Ngũ ài, á Bạc, chùa Dạo, chùa Kỳ Lân,

Có thể thấy Tây Yên Tử (Bắc Giang) là một phần quan trọng trong sự hình thành và phát triển của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử Trong đó Bắc Giang, Quảng Ninh, ải Dương còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quan trọng và độc đáo của Thiền Phái Trúc Lâm minh chứng những giá trị văn hóa tinh thần từng ngự trị ở nơi đây

Theo tài liệu của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, vùng Tây Yên Tử trải dài qua 4 huyện: Yên Dũng, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn ộng Trừ huyện Yên Dũng là vùng trung du, 3 huyện còn lại đều là các huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang Các huyện này nằm ở phía ông của tỉnh, có các tuyến giao thông là quốc lộ 1A, quốc lộ 31, quốc lộ 279… chạy qua ịa bàn 4 huyện này tiếp giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh Tuy là địa bàn miền núi, song Tây Yên Tử nằm trong vùng có điều kiện khá thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa với các huyện trong tỉnh, các tỉnh lân cận như: Hà Nội, Quảng Ninh, Lạng Sơn, giao lưu với Trung Quốc qua cửa khẩu của các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn

ây là vùng có 13 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó chủ yếu là Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Dao, Sán Chí ồng bào các dân tộc trong vùng

đa số vẫn còn giữ được nhiều nét sinh hoạt truyền thống trong đời sống văn hóa, tập quán sản xuất… tạo nên sự đa dạng và phong phú Bên cạnh đó, khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử với hàng nghìn loài động thực vật quý hiếm được quy hoạch diện tích rộng, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp Khá gần với

Hà Nội, ải Phòng, khu di tích Yên Tử tỉnh Quảng Ninh, có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch văn hóa, tâm linh, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng

Trang 17

Trong vùng có khá nhiều con sông chảy qua, nhất là huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Yên Dũng Với 3 con sông lớn là: sông Thương, sông ầu và sông Lục Nam, chiều dài chừng 130km, các con sông này có lượng nước dồi dào quanh năm, không chỉ cung cấp nước tưới cho nông nghiệp mà còn phục

vụ việc đi lại, đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hóa, thông thương hàng hóa, phát triển du lịch từ xưa đến nay và mai sau ệ thống đê bao của các con sông này khá vững chắc đã ngăn được những ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống dân sinh và sản xuất Rừng trong khu vực chiếm khoảng trên 60% diện tích Trong đó chủ yếu diện tích rừng đặc dụng thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử và một phần là rừng trồng kinh tế Thảm thực vật rừng ở đây vẫn còn

có độ che phủ lớn, chủ yếu là các loại cây bản địa và các loại gỗ quý như: lim, lát, pơmu, dẻ…

ệ thống di tích Tây Yên Tử cơ bản được xây dựng dưới thời Lý – Trần Thời kỳ đầu, các nhà tu hành thường áp dụng phương pháp thiền định khổ hạnh, tìm những nơi núi cao, cảnh đẹp mà hoang vắng để lập am, dựng chùa tu hành Ngoài ra còn có những di sản văn hóa phi vật thể khác liên quan như: lễ hội, truyền thuyết, phong tục tập quán, tri thức dân gian, thi ca và di sản Hán – Nôm khác…

Khu vực Tây Yên Tử tập trung khá đa dạng các di tích văn hóa Chùa Vĩnh Nghiêm (xã Trí Yên, huyện Yên Dũng) là thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, chốn đào luyện tăng đồ Phật giáo, do Trần Nhân Tông tạo dựng, là nơi khởi đầu của hành trình Tây Yên Tử Chùa Hòn Tháp (xã ẩm Lý, huyện Lục Nam) xây dựng từ thời Trần TK XIII-XIV, chùa trong núi, kề khe suối hạ nguồn Vực Rêu, có thác nước Trên đường đi Yên Tử, đức Phật hoàng Trần Nhân Tông đã từng cư ngụ tại đây Chùa Yên Mã (xã ẩm Lý, huyện Lục Nam) do Pháp Loa thiền sư và các tăng ni tạo dựng Chùa Non, chùa Cao, đền Thượng, đền Trung, đền ạ (xã Khám Lạng, huyện Lục Nam) có từ thời Trần, nằm trên núi Khám Lạng, gắn liền với nhiều tích lạ có liên quan đến Phật giáo

Trang 18

theo lối tu hành khổ hạnh (dấu chân Phật) Chùa Bình Long (xã uyền Sơn, huyện Lục Nam) gồm núi uyền inh, núi Hòn Chùa có từ thời Lý, Trần iện chỉ là phế tích với một số di vật đá, chữ khắc trên vách đá Thắng cảnh suối Mỡ, hồ Bấc (xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam) là thắng cảnh suối, thác, gắn với hệ thống đền, chùa Thắng cảnh suối nước Vàng (xã Lục Sơn, huyện Lục Nam) là thắng cảnh gắn với chùa ồng Vàng, nơi sinh sống của dân tộc Dao, Thanh Phán Chùa Am Vãi (xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn) xây dựng thời Lý, Trần iện nay, cảnh quan di tích đang được đầu tư, tôn tạo Khu ồng Thông (xã Thanh Sơn, Sơn ộng) là nơi sinh hoạt văn hóa của dân tộc Dao…

1.1.2 Những căn cứ pháp lý

Trong giai đoạn đầu xây dựng các định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch văn hóa, vai trò của Nhà nước có một vị trí quan trọng Với ý nghĩa này, từ những ý tưởng của các nhà khoa học, nhà quản lý tỉnh Bắc Giang đã đề xuất với Chính Phủ về những giá trị di sản ở khu vực Bắc Giang liên quan đến các giá trị di sản văn hóa ở vùng Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh Những đề xuất của tỉnh Bắc Giang đã được Chính phủ quan tâm và cho phép quy hoạch bảo tồn các di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử ược thể hiện ở các văn bản sau:

- Thông báo số 162/TB-VPCP ngày 14/6/2010 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ, tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bắc Giang, về việc cho phép tỉnh Bắc Giang lập quy hoạch di tích và danh thắng Tây Yên Tử

- Quyết định số 855/Q -UBND ngày 08/6/2010 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu du lịch sinh thái Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang

- Quyết định số 223/Q -UBND ngày 20/6/2011 của UBND tỉnh Bắc Giang, về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch vùng bảo tồn tổng thể di tích và

Trang 19

danh thắng Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang

- Quyết định số 105/Q -UBND ngày 29/01/2013 của UBND tỉnh Bắc Giang, về việc phê duyệt quy hoạch vùng bảo tồn tổng thể hệ thống di tích và danh thắng Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang

1.2 Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa

1.2.1 Du lịch văn hóa

Theo khảo sát đánh giá của chuyên gia Tổ chức Du lịch Thế giới, trong những năm gần đây, tại hầu hết các quốc gia, điểm đến, đặc biệt là những nước có ngành du lịch đang phát triển ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang từng bước điều chỉnh định hướng chiến lược sản phẩm, tập trung quan tâm đầu tư nhiều hơn vào việc phát triển và quảng bá xúc tiến du lịch văn hóa, một loại hình sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn và tính trường tồn cao, đó là nhân tố thiết yếu góp phần đáng kể cho sự nghiệp phát triển bền vững

“Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim”1

Theo Luật Du lịch, “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”

Hoặc “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên cơ sở khai thác các giá rị di sản văn hóa dân tộc và được tổ chức một cách có văn hóa”2

Như vậy, du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà điểm đến là các địa chỉ văn hóa, dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc,

kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và khắp nơi trên thế giới

1.2.2 Tài nguyên du lịch văn hoá

1

Trần Thúy Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Anh Hoa (2010), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb ại

học Quốc gia Hà Nội, tr22

2

Nguyễn Văn Bình (2005), Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – một công cụ bảo vệ môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội, Bảo vệ môi trường du lịch, Tổng cục Du lịch

Trang 20

Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trên Trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình

Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con người và xã hội Tài nguyên du lịch

là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch

Theo Luật Du lịch Việt Nam, Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch;

là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch

Tài nguyên du lịch văn hóa là một bộ phận quan trọng của tài nguyên

du lịch Hiểu theo cách này thì các thành tố văn hóa được xếp vào dạng tài nguyên du lịch văn hóa như truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian và đây cũng là nguồn tài nguyên hết sức độc đáo trong du lịch Tuy nhiên, tài nguyên văn hóa được chia ra làm hai loại cơ bản là tài nguyên văn hóa vật thể thì tồn tại dưới dạng hữu hình mà con người có thể thấy và chạm vào được như các công trình kiến trúc, hàng thủ công, các công cụ ; còn tài nguyên văn hóa phi vật thể thì tồn tại ở dạng vô hình, không hiện hữu trong không gian con người chỉ có thể cảm nhận thông qua các giác quan như

lễ hội, các loại hình nghệ thuật, giao tiếp, ứng xử

ể phát triển du lịch văn hóa thì cần có tài nguyên du lịch văn hóa, đây

là yếu tố quyết định Tài nguyên du lịch văn hóa với những đặc điểm kỳ diệu,

đa dạng, độc đáo sẽ ngày càng thu hút đông đảo khách du lịch đến thăm quan nhằm thỏa mãn trí tò mò cũng như đáp ứng phần nào lòng mong muốn hiểu biết sâu rộng về cái hay, cái đẹp của mỗi vùng, mỗi địa phương

1.2.3 Điểm đến du lịch văn hóa

Trang 21

Theo M.Buchvarov (1982) điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị du lịch gồm 5 cấp: điểm du lịch – hạt nhân du lịch – tiểu vùng du lịch – á vùng du lịch – vùng du lịch Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ,

“là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa – lịch sử hoặc

kinh tế xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp

cả hai ở quy mô nhỏ.”3

“ iểm đến du lịch là một thành phố, thị xã, khu vực mà có sự phụ thuộc đáng kể vào nguồn lợi nhuận thu được từ du lịch Nó có thể chứa một hoặc nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn”.4

iểm đến du lịch chính là sự kết hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, nhằm cung cấp cho du khách khi lưu trú và dừng chân tham quan tại một điểm du lịch của địa phương, làm bàn đạp cho sự tăng trưởng và phát triển du lịch của một điểm đến, tạo được bản sắc hấp dẫn, đủ để cạnh tranh, đó không chỉ là lời phản ánh, một lời hứa kinh nghiệm của điểm đến mà còn chứng minh khả năng đáp ứng các dịch vụ của điểm đến du lịch

Như vậy, điểm đến du lịch văn hóa là nơi có tài nguyên du lịch văn hóa hấp dẫn, có khả năng thu hút và thỏa mãn các yêu cầu của du khách về du lịch văn hóa như: những di tích văn hóa lịch sử, những danh thắng, các công trình cổ đại và đương đại, các cổ vật, những giá trị văn hóa phi vật thể, truyền miệng, phong tục tập quán, ứng xử, các lễ hội, làng nghề, nghệ thuật ẩm thực, những tác phẩm văn học, nhạc họa, thơ ca, những sự kiện, những hoạt động văn hóa, thể thao, khoa học, kinh tế, xã hội

1.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa

Muốn khai thác tài nguyên du lịch thì phải có cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đi kèm ơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là yếu tố đảm bảo điều kiện thuận lợi cho du khách trong quá trình tham quan tìm hiểu về tài nguyên du lịch,

4 http://en.wikipedia.org/wiki/Tourist destination

Trang 22

góp phần quyết định đến chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh tế của điểm đến

du lịch văn hóa

Hiểu theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch được xem là toàn bộ cơ sở hạ tầng, phương tiện, vật chất và kỹ thuật tham gia vào hoạt động du lịch Bao gồm cả cơ sở vật chất của bản thân ngành du lịch như nhà hàng, khách sạn, hệ thống điện, nước, vệ sinh phục vụ tại điểm du lịch và cơ

sở vật chất của các ngành kinh tế khác có liên quan như: mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện, nước của vùng

Hiểu theo nghĩa hẹp, thì cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch là toàn bộ những cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật được các nhà làm du lịch đầu tư xây dựng để phục vụ cho hoạt động du lịch như nhà hàng, khách sạn, đường giao thông nội bộ trong khu, điểm du lịch, công trình điện nước tại khu điểm du lịch, các khu vui chơi giải trí, phương tiện giao thông, camping, và các công trình bổ trợ khác gắn liền với hoạt động du lịch

Theo hai cách hiểu trên, cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch là toàn bộ các cơ sở vật chất của bản thân ngành du lịch và cả cơ sở hạ tầng của các ngành nghề khác có liên quan đến hoạt động du lịch ơ sở vật chất kỹ thuật

có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển du lịch của một địa phương hay một quốc gia

Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa là toàn bộ các cơ

sở vật chất kỹ thuật tại điểm du lịch văn hóa và cơ sở hạ tầng của ngành nghề khác tham gia vào hoạt động du lịch văn hóa như: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, các công trình cung cấp điện nước, cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú, các cửa hàng, khu giải trí, thể thao, cơ sở y tế, trạm xăng dầu, nhà ga, bến cảng phục vụ trực tiếp cho du khách đến tham quan tìm hiểu du lịch văn hóa

1.2.5 Sản phẩm du lịch văn hóa

Văn hóa có ý nghĩa quyết định trong các mối quan hệ giữa các cá nhân

và cộng đồng, giữa các quốc gia trên thế giới Trong nền kinh tế tri thức, mọi

Trang 23

sản phẩm đều chứa đựng hàm lượng trí tuệ và hàm lượng văn hóa cao Do vậy

có thể nói mỗi sản phẩm do con người tạo ra trong giai đoạn hiện nay đều là một sản phẩm văn hóa Từ đó cho thấy, các sản phẩm du lịch đều phải là những sản phẩm văn hóa

Theo Tiến sĩ Dương Văn Sáu thì “Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế; đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng bản địa, đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa phương nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch”

Sản phẩm văn hóa chỉ biến thành sản phẩm du lịch khi nó tham gia vào các quá trình hoạt động kinh doanh du lịch, phục vụ các nhu cầu khác nhau của khách du lịch Khi đó, nó được gọi tên là sản phẩm du lịch văn hóa, trở thành một yếu tố hợp thành của các chương trình du lịch văn hóa để thỏa mãn nhu cầu của du khách tham gia loại hình du lịch này Có xuất xứ từ sản phẩm văn hóa, nhưng sản phẩm du lịch văn hóa mang nhiều đặc trưng của sản phẩm

du lịch húng đã trở thành hàng hóa phục vụ kinh doanh, đem lại lợi ích kinh

tế Tuy nhiên, từ thực tế của hoạt động kinh doanh du lịch cho thấy, tất cả các sản phẩm du lịch đều là sản phẩm văn hóa nhưng không phải sản phẩm văn hóa nào cũng trở thành sản phẩm du lịch

Như vậy, sản phẩm du lịch văn hóa là là tập hợp các dịch vụ cần thiết

để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch văn hóa trong chuyến đi du lịch

Tuy nhiên, nếu xem sản phẩm du lịch chỉ là dịch vụ thì mới chỉ chú ý đến sự tham gia của yếu tố chủ thể là con người, người phục vụ nhu cầu của

du khách, hay các hình thức phục vụ nhu cầu của du khách Sản phẩm du lịch bắt buộc phải cần đối tượng khách thể, nằm ngoài người phục vụ, hay hình thức dịch vụ, chi phối nhu cầu của du khách, để có khả năng và hình thức

Trang 24

phục vụ thích hợp, đó là tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch nào thì dịch

vụ du lịch ấy, sản phẩm du lịch ấy Không có tài nguyên du lịch thì không có sản phẩm du lịch Vì vậy, sản phẩm du lịch phải là sự kết hợp giữa toàn bộ các loại tài nguyên du lịch và toàn bộ các loại dịch vụ du lich thích hợp nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm về những điều khác biệt,

mới lạ của du khách Sản phẩm du lịch văn hóa phải là sự kết hợp giữa tài

nguyên du lịch văn hóa và các dịch vụ du lịch văn hóa thích hợp phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm của du khách về những điều khác biệt, mới lạ của các nền văn hóa khác nhau.5

1.2.6 Khách du lịch

“Du khách là những người từ nơi khác đến với (hoặc kèm theo) mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên hoặc cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là những người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống 6

Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế (Luật

1.2.7 Nhân lực trong du lịch văn hóa

Nguồn nhân lực được hiểu là tất ca người lao động làm việc trong một

tổ chức, bao gồm trí lực và thể lực Nguồn nhân lực luôn được xem là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng và hiệu quả công việc

đề lý luận ề tài khoa học trọng điểm nhóm , ại học Quốc gia Hà Nội

Trang 25

Nguồn nhân lực trong du lịch hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ đội ngũ lao động làm việc có liên quan đến lĩnh vực du lịch Bao gồm cả nguồn nhân lực thường xuyên và nguồn nhân lực không thường xuyên như nhân viên quản lý nhà nước về du lich, quản lý trong các doanh nghiệp du lịch, nhân viên nhà hàng, khách sạn, bán vé tại các điểm du lịch, hướng dẫn viên du lịch, nhân viên y tế, ngân hàng, hàng không

Hiểu theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực du lịch là đội ngũ nhân viên làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch, các khu, điểm du lịch

Do vậy, nguồn nhân lực trong du lịch văn hóa là toàn bộ những người

trực tiếp và gián tiếp làm việc có liên quan đến du lịch văn hóa ội ngũ này

có vị trí rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm du lịch, đến ấn tượng về đất nước, văn hóa và con người Việt Nam, ảnh hưởng đến hiệu quả cạnh tranh cũng như khả năng hội nhập và cạnh tranh quốc tế

1.2.8 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa

Ngành kinh doanh du lịch giống như một cơ thể sống và luôn đòi hỏi sự quản lý sáng tạo để duy trì và phát triển Việc thành công hay thất bại của ngành Du lịch cũng như nhu cầu nền kinh tế của một nước phụ thuộc hoàn toàn vào việc xây dựng một cách sáng tạo những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước Do vậy, vấn đề quản lý Nhà nước đối với du lịch là một vấn đề cần thiết được đặt lên hàng đầu

Công tác tổ chức quản lý du lịch văn hóa và quản lý di sản nhằm mục đích khai thác, phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa trong du lịch theo hướng bền vững ăn cứ vào Luật Du lịch quy định nội dung quản lý nhà nước về du lịch, có thể suy ra công tác tổ chức, quản lý du lịch văn hóa là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, của các cấp chính quyền địa phương cũng như của chính các đơn vị, công ty hoạt động trong lĩnh vực du lịch Mỗi cơ quan sẽ có chức năng, nhiệm vụ khác nhau trong

Trang 26

công tác tổ chức, quản lý du lịch văn hóa

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch:

- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch văn hóa

- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm về tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch văn hóa

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch văn hóa

- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch văn hóa; nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ

- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch văn hóa để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch văn hóa, xác định tuyến du lịch văn hóa, điểm du lịch văn hóa

- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của cac cơ quan nhà nước trong việc quản lý du lịch văn hóa

- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch văn hóa

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động du lịch văn hóa

Đối với chính quyền địa phương:

Ủy ban nhan dân tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch văn hóa tại địa phương; cụ thể hóa quy hoạch, kế hoạch,

cơ chế, chính sách phát triển du lịch văn hóa phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội vệ sinh môi trường tại khu du lịch văn hóa, điểm du lịch văn hóa, tuyến du lịch văn hóa

Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh du lịch:

Thực hiện các hoạt động của đơn vị, tuân thủ các quy đinh của nhà nước và sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương, như quy đinh về khai thác tài nguyên du lịch văn hóa, kinh doanh du lịch văn

Trang 27

hóa, quy định về đóng góp cho mục đích bảo tồn di sản văn hóa

1.2.9 Xúc tiến du lịch văn hóa

Như chúng ta đã biết, nhu cầu du lịch không phải là nhu cầu thiết yếu của con người, nó được xem là nhu cầu thứ hai, sau khi đã đủ ăn, ở, mặc và

có phương tiện đi lại… Vì thế, nó sẽ dễ bị thay đổi nếu không có sự tác động mạnh mẽ của tuyên truyền, quảng cáo du lịch lên động cơ đi du lịch, thì người

có nhu cầu về du lịch dễ chuyển hóa sang nhu cầu khác như: mua sắm hàng hóa hoặc dùng để tiết kiệm… Mặt khác, khi có cùng một nhu cầu về đi du lịch, nhưng con người dễ thay đổi nơi đến về du lịch, do sự tác động mạnh mẽ của tuyên truyền, quảng cáo Vì vậy, tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch được xem như một biện pháp hữu hiệu để cạnh tranh thu hút nguồn khách

Luật Du lịch 2005 quy định các hình thức và nội dung xúc tiến du lịch bao gồm:

- Các hình thức xúc tiến du lịch là: (chương 7, điều 37)

+ Tuyên truyền, quảng bá du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và nước ngoài;

+ Xây dựng các sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch;

+ Công bố các sản phẩm du lịch mới;

+ Khảo sát điểm đến;

+ Tổ chức và thực hiện các chương trình, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm, hoạt động thông tin du lịch (ở trong nước và nước ngoài) của quốc gia, khu vực và địa phương;

+ Hợp tác quốc tế về xúc tiến du lịch

+ Lập văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài

+ Các hình thức xúc tiến du lịch khác

Trang 28

- Nội dung xúc tiến là: (chương 7, điều 38)

+ Tuyên truyền, quảng bá về đất nước, con người, văn hóa Việt Nam về các doanh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hóa,

về các khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch, về tiềm năng, thế mạnh về du lịch của cả nước, nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn;

+ Nghiên cứu, tìm hiểu thị trường trong nước và nước ngoài, xây dựng

cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia, xây dựng, quảng bá các sản phẩm du lịch

+ Xây dựng các tiêu chí và tổ chức việc trao tặng các danh hiệu du lịch quốc gia cho các doanh nghiệp tiêu biểu trong lĩnh vực kinh doanh du lịch;

+ Kết hợp với xúc tiến đầu tư, thương mại, giao lưu văn hóa và các lĩnh vực khác nhằm xúc tiến du lịch ở trong nước va nước ngoài;

+ Các nội dung xúc tiến du lịch khác

Như vậy, xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá trong du lịch văn hóa là tranh thủ mọi cơ hội có thể để quảng bá hình ảnh du lịch văn hóa đến với thị trường du lịch trong và ngoài nước

1.2.10 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt, hay nói một cách khác, du lịch chỉ có thể phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch ứng ở góc độ này, các giá trị văn hóa được xem là dạng tài nguyên du lịch để khai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt và có khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các vùng miền, các địa phương trong nước mà còn giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế

Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia luôn phải đối mặt với một bài toán khó là giải quyết hài hóa mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế với giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, di sản văn hóa Bởi vậy, việc bảo tồn, khôi phục, gìn giữ những

Trang 29

tài sản quý báu đó vừa là nhu cầu tự thân, vừa là yêu cầu bắt buộc đối với hoạt động du lịch và được tiến hành theo quy trình cụ thể như sau7:

Sơ đồ 1.2 Quy trình bảo tồn di sản

Nhận diện di sản

Nghiên cứu và kiểm kê di sản

Xây dựng chính sách bảo tồn

Chỉ định cơ quan bảo tồn

Trùng tu, tôn tạo và phát triển

Quản lý và quảng bá di sản

- Nhận diện di sản: là bước nhận xét, xác định khoanh vùng di sản,

chứng minh các đặc điểm, đặc tính cần được quan tâm của di sản

- Nghiên cứu và kiểm kê di sản: là bước xác định và phân loại các đặc

điểm của di sản được nêu ở bước 1 Công việc này thông thường sẽ nghiên cứu những ý nghĩa về lịch sử, sinh thái, khảo cổ học để tìm ra giá trị văn hóa

và quy mô của di sản; đồng thời xác định những điều kiện bắt buộc đối với thực tiễn quản lý di sản đó

- Xây dựng chính sách bảo tồn: ở bước này, mục đích của việc bảo tồn

cũng nhu khung chương trình bảo tồn được thiết lập Nội dung trên phụ thuộc rất nhiều vào giá trị văn hóa của di sản và những quy định bắt buộc trong

Trang 30

quản lý di sản đó

- Chỉ định cơ quan bảo tồn di sản: Xác định cơ quan tổ chức thực hiện

công tác bảo tồn di sản theo các quy định của Luật Di sản ơ quan được xác định sẽ có một phần hay toàn bộ trách nhiệm huy động nguồn vốn cho bảo tồn Nếu di sản là sở hữu của cá nhân hay tổ chức khác với cơ quan đang có trách nhiệm triển khai thì cần mua lại di sản từ các tổ chức hay cá nhân đó

- Trùng tu, tôn tạo và phát triển: bước này chú trọng tới các công việc

cụ thể, như là trùng tu, tôn tạo, làm mới, đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất cho di sản Trong nhiều trường hợp, công việc cấp bách nhất là tu tạo lại các công trình kiến trúc đang bị hư hỏng nặng và hạn chế sự xuống cấp của các công trình

- Quản lý và quảng bá di sản: đây là bước cuối cùng của công tác bảo

tồn di sản, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục giám sát, theo dõi và đánh giá di sản Ở bước này phải quan tâm tới tốc độ tăng lên của số lượng du khách tới di sản

và mục đích hướng tới của việc quảng bá di sản

Trong hoạt động du lịch văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa không phải là công việc của riêng ai, mà là trách nhiệm chung của cả 4 thành phần tham gia cấu thành hoạt động du lịch:

+ ơ quan quản lý du lịch: là cơ quan xây dựng các văn bản quy phạm

về bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch làm chế tài quản lý các cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch Xây dựng các chương trình giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm của các đơn vị kinh doanh du lịch và cư dân địa phương về bảo tồn di sản Hiện nay ở nước ta đã có các văn bản pháp luật để tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho việc thực hiện công tác bảo tồn di sản trong hoạt động du lịch như: Luật Di sản Văn hóa 28/2001/QH10, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa 32/2009/Q 12, Nghị định 98/2010/N – CP, Luật Du lịch 44/2005/QH11

Trang 31

+ ơn vị cung ứng du lịch: có trách nhiệm thực hiện những quy định của cơ quan quản lý về bảo tồn di sản cũng nhu đóng góp vào nguồn quỹ bảo tồn, trùng tu di sản văn hóa trong quá trình khai thác du lịch

+ Khách du lịch: thực hiện những quy định của điểm đến về bảo vệ môi trường, gìn giữ di sản óng góp vào quỹ bảo tồn di sản

+ ư dân địa phương: là chủ nhân của các di sản văn hóa nên họ cần nhận thức được tầm quan trọng của việc gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống đối với sự phát triển du lịch; từ đó có những hành động cụ thể trong bảo tồn

1.3 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử - tỉnh Bắc Giang

1.3.1 Tầm quan trọng của du lịch văn hóa trong hoạt động du lịch phía Tây Yên Tử

Khu vực Tây Yên Tử nói riêng, Bắc Bộ nói chung được coi là vùng đất hướng đạo cho cả nước về văn hóa Mật độ lễ hội dày đặc, các giá trị nổi trội của di sản văn hóa, sự cuốn hút về ẩm thực, sự yên tĩnh của làng quê, sự đa dạng văn hóa của các tộc người…là những lý do mang tính quyết định trong việc hình thành và xây dựng loại hình du lịch văn hóa trở thành loại hình quan trọng và chủ yếu

Trên phương diện lý luận và thực tế, con người – với tư cách là chủ thể văn hóa, ở đây cụ thể là cư dân khu vực Tây Yên Tử không thể quyết định cuộc sống của mình về mọi mặt, trong đó có du lịch với tư cách là một ngành kinh tế có đóng góp vào sự phát triển chung của địa phương mà không tính đến yếu tố đầu tiên là địa lý tự nhiên của vùng đất mình sinh sống Tất yếu họ phải nương theo những đặc điểm địa lý mang chất thuộc tính riêng Tây Yên

Tử để xây dựng các nội dung cuộc sống, xây dựng kế hoạch phát triển du lịch tương thích với tự nhiên ấy Nếu Yên Tử là nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông

tu tập, nơi lưu giữ xá lị sau khi viên tịch, thì Tây Yên Tử là con đường hoằng dương phật pháp của Ngài Nơi đây gồm nhiều di tích được phân bố dọc theo

Trang 32

tuyến đường 293 Khu di tích, danh thắng Tây Yên Tử thuộc quần thể di tích Phật giáo Yên Tử nằm trong vùng đất địa linh, có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ Vị trí địa lý với núi cao, rừng rậm, thiên nhiên kỳ thú, hội tụ khí thiêng rất phù hợp với việc dựng chùa, tu thiền, giác ngộ đạo pháp xứng đáng

là vùng đất linh thiêng, là chốn Tổ của thiền phái Trúc Lâm, tiêu biểu cho bản sắc văn hóa và ý thức độc lập tự chủ của dân tộc Với đặc điểm quan trọng về nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú và các yếu tố mang tính chất

“sinh”, “dưỡng” cho nguồn tài nguyên ấy như hệ thống lễ hội, các di sản (đình, chùa, tư liệu ký ức, các làn điệu dân ca…), những điểm linh thiêng về mặt tâm linh, một số làng nghề có lịch sử lâu đời tạo thành tiền đề trong lộ trình phát triển du lịch của khu vực phía Tây Yên Tử

Có những khu vực, địa phương khác trên cùng một vùng văn hóa – du lịch Bắc Bộ như khu vực Tây Yên Tử nhưng do những điều kiện khác về tự nhiên cũng như về văn hóa xã hội mà du lịch văn hóa sẽ không phải là lựa chọn thích hợp Với những lý do riêng biệt về tự nhiên –xã hội thì du lịch văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc dùng doanh thu từ loại hình du lịch này

để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương

1.3.2 Những thuận lợi trong hoạt động du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử - tỉnh Bắc Giang

Tây Yên Tử nằm trong vùng đất địa linh, có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ với núi cao, rừng rậm, thiên nhiên kỳ thú, hội tụ khí thiêng,

là chốn Tổ của thiền phái Trúc Lâm, tiêu biểu cho bản sắc văn hóa và ý thức độc lập tự chủ của dân tộc Là miền đất được thiên nhiên ưu ái ban tặng với địa hình có sông núi xen cài hài hoà từ miền thượng du đến hạ nguồn con sông Lục Ở đâu có núi là ở đó có sông, có suối phong thuỷ giao hoà Núi ở Lục Nam hùng vĩ xanh thẫm bốn mùa cây lá Con sông Lục hiền hoà được tiếp nhựa sống dồi dào từ muôn vàn suối khe Sông Lục Nam được tôn vinh là

Trang 33

con sông đẹp hàng đầu trên đất Việt

Khu vực Tây Yên Tử cách trung tâm thành phố Bắc Giang 87 km và Thành phố Hà Nội 130 km về phía Tây, phía Bắc và ông giáp Lạng Sơn, phía Nam giáp Hải Dương và Quảng Ninh, đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng chương trình du lịch có lưu trú qua đêm

Hiện, dọc sườn Tây Yên Tử còn lưu lại nhiều các di tích, công trình lịch sử văn hóa liên quan đến quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là vào thời Lý - Trần trải dài từ Sơn ộng dọc theo sông Lục Nam xuống đến Yên Dũng Qua khảo sát bước đầu đã thống kê trên 130 di tích lớn nhỏ nằm trong khu vực Tây Yên Tử, tỉnh Bắc iang đã lập hồ sơ đề nghị và công nhận 26 điểm di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia

Với hệ thống các chùa tháp, di tích cùng sự kỳ vĩ của rừng, núi trùng điệp, thảm thực vật và nhiều loài động vật phong phú đã tạo cho nơi đây tiềm năng, cùng với khu phía ông dãy Yên Tử (thuộc tỉnh Quảng Ninh) kết nối tạo thành một quần thể danh thắng Yên Tử thống nhất, tạo điều kiện cho phát triển du lịch, phát huy giá trị các di sản văn hóa mà cha ông chúng ta đã để lại

Lực lượng lao động trẻ, cần cù, linh hoạt là yếu tố tích cực trong phát triển dịch vụ du lịch

ơ sở hạ tầng kinh tế xã hội đang từng bước được cải thiện; đời sống, thu nhập và điều kiện làm việc của nhân dân được nâng cao, nhu cầu giao lưu văn hóa ngày càng tăng là cơ hội cho phát triển du lịch ở khu vực Tây Yên Tử

ây là những yếu tố thuận lợi về tự nhiên và xã hội để thực hiện hoạt động du lịch văn hóa trên cơ sở xây dựng và tổ chức hợp lý

1.3.3 Những khó khăn trong hoạt động du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử - tỉnh Bắc Giang

Bên cạnh những thuận lợi, khu vực Tây Yên Tử cũng có những khó khăn nhất định trong hoạt động du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch phong phú song số lượng di sản văn hóa có quy mô

Trang 34

lớn không nhiều

Kết cấu hạ tầng hạn chế, chưa đồng bộ, giao thông nối các điểm du lịch trong tỉnh chưa được hoàn thiện, nhiều nơi đường sá chưa thuận tiện, khổ đường hẹp, chất lượng kém dẫn tới khả năng tiếp cận điểm đến du lịch còn gặp nhiều khó khăn

Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ở thành phố và các huyện, chủ yếu là của các hộ tư nhân, kiến thức về quản lý, chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, nhân viên phục vụ hầu như chưa qua các lớp đào tạo cơ bản, quy mô kinh doanh nhỏ, trang thiết bị ở một số cơ sở chỉ đạt ở mức tối thiểu ác cơ sở này chỉ đáp ứng nhu cầu nghỉ tạm, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách a số các cơ sở lưu trú du lịch chưa có dịch vụ ăn uống, cũng như các dịch vụ khác đi kèm Khách nghỉ tại các cơ sở này phần lớn là khách kết hợp công tác có nghỉ lại trong ngày, khách nghỉ lại qua đêm không nhiều

Nhận thức, kiến thức quản lý và phát triển du lịch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; cơ chế chính sách quản lý còn nhiều bất cập chưa thu hút được nguồn nhân lực có trình độ, chưa tạo điều kiện phát huy năng lực của người lao động; đồng thời vai trò và năng lực của khối tư nhân chưa được phát huy đúng mức

Sản phẩm, dịch vụ du lịch chưa đặc sắc, trùng lặp và thiếu quy chuẩn, chất lượng chưa đáp ứng dẫn tới sức cạnh tranh yếu, kém so với sản phẩm của các khu vực lân cận

Các dịch vụ hỗ trợ, như bưu chính viễn thông, điểm internet, bến xe, các đại lý bán vé máy bay, tàu xe, ngân hàng, chợ, nơi bán đồ lưu niệm đều phân bố không đều và ở xa các điểm du lịch, đã phần nào ảnh hưởng đến việc

đi lại, giao lưu, trao đổi, mua bán, sử dụng các dịch vụ đều rất khó khăn

Mức sống của dân cư trong khu vực phần đông còn thấp, các vấn đề về

an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm…là những khó khăn cho phát triển du lịch có chất lượng và có tính cạnh tranh của du lịch Tây Yên Tử

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Du lịch Việt Nam trong những năm qua có được những thành tựu là do

đã và đang khai thác hiệu quả các giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc đưa vào trong kinh doanh du lịch Văn hóa tự bản thân nó đã là một sự trường tồn, dựa vào văn hóa đê phát triển du lịch là một mục tiêu chiến lược đưa đến sự bền vững Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch trong quá trình vận động phát triển là rất rõ Du lịch khai thác các giá trị văn hóa làm nền tảng cho mục đích của các chuyến đi và tựa vào văn hóa để phát triển Sự phát triển của du lịch đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại ở một

số vùng địa phương được khôi phục và phát triển Nhà văn Nguyên Ngọc nhận định “Du lịch bao giờ cũng là văn hóa, là trao đổi văn hóa, là hành động của những con người tìm đến với nhau bằng văn hóa, qua văn hóa Du lịch rất cần tìm hiểu cho ra sự chuyển động và hình thành văn hóa mới của chuyển động đó trên vùng đất này đế làm món “hàng độc” của mình”

hương 1 của đề tài này đóng vai trò xác định cơ sở lý luận, soi sang những nội dung nối tiếp ở những chương sau, mang tính chất chỉ đường Khu vực phía Tây Yên Tử là vùng đất thuộc tỉnh Bắc iang mà xưa kia nhiều bậc cao nhân đã chọn để tu hành Nơi đây còn lưu giữ hệ thống di sản văn hóa vật thể độc đáo có từ thời Lý, Trần, cùng với nó là hệ thống di sản văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú của những cộng đồng các dân tộc liên quan Nếu kết hợp tốt giữa khai thác các tiềm năng văn hóa vùng, khu vực với phát triển du lịch, diện mạo cộng đồng sẽ có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cưc, đời sống người dân ngay tại cộng đồng được cải thiện và quan trọng hơn

cả, những giá trị, bản sắc truyền thống ngày càng được nhiều người biết đến,

có điều kiện được bảo tồn và phát huy

Trang 36

ƢƠ 2: THỰC TR NG HO T ỘNG DU LỊ VĂ Ó Ở

KHU VỰC PHÍA TÂY YÊN TỬ ( TỈNH BẮC GIANG)

2.1 Hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử

2.1.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể

Với địa thế núi cao cảnh đẹp nên từ xa xưa, khu vực các này đã được các vị vua thời Lý – Trần quan tâm lựa chọn là nơi dựng chùa, tu tâm, tham thiền học đạo Dọc sườn Tây Yên Tử hiện còn lưu lại nhiều các di tích, công trình lịch sử văn hóa có giá trị Tính đến năm 2014, Bắc Giang đã thống kê trên 130 di tích lớn nhỏ nằm trong khu vực Tây Yên Tử, đã lập hồ sơ đề nghị

và công nhận 26 điểm di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia

Nếu ông Yên Tử là nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông tu tập, nơi lưu giữ xá lị của Ngài sau khi viên tịch, thì Tây Yên Tử là con đường hoằng dương phật pháp của Ngài on đường trước đây nhà vua đến với đỉnh Yên

Tử chính là từ phía Tây sang phía ông Không chỉ Phật hoàng Trần Nhân Tông mà từ thế kỷ X cho đến thế kỷ X , đã có nhiều nhà sư chọn con đường lên Yên Tử phía Tây để tu hành, dựng chùa, xây tháp, phát đạo ặc biệt phía sường Tây Yên tử còn hàng loạt các công trình di tích liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành và hưng thịnh của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử như: hùa Vĩnh Nghiêm, m Vãi, ồ Bấc, Bình Long, Suối Mỡ, khu sinh thái ồng Thông

Hệ thống di tích Tây Yên Tử cùng với ông Yên Tử và khu di tích lịch

sử nhà Trần ở ông Triều tạo thành Quần thể di tích danh thắng Yên Tử đang được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 2017

Bảng 2.1: Các di tích được xếp hạng cấp quốc gia ở khu vực phía Tây

Trang 37

Niệm Bác Hồ Di tích lịch sử Yên Dũng

Q số 295/Q

12/01/1994 6

1 ền Hả Di tích lịch sử Lục Ngạn Q số 154/Q

Trang 38

Q số 28 –

BV /Q , ngày 18/01/1988

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

2.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể

Ngoài những tài nguyên du lịch văn hóa vật thể, ở khu vực Tây Yên Tử còn có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể rất phong phú như: tín ngưỡng; phong tục tập quán; lễ hội cổ truyền; lễ tiết; làng nghề ẩm thực

* Tôn giáo và tín ngƣỡng dân gian

Phật giáo vùng Tây Yên Tử với tất cả những đặc điểm riêng, trong đó

có sự phát triển nội tại ngay từ thời Lý - Trần, có xu thế tiếp nối và định hình bền vững trong nhiều thế kỷ sau đó, đồng thời đặt trong tầm nhìn của hiện đại

về một con đường tâm linh kết nối bản sắc ngàn năm văn hóa Phật giáo dân tộc Chính với cách nhìn ấy, chúng ta càng thấy rõ và trân trọng hơn những

Trang 39

giá trị văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử mà cha ông đã vượt qua biết bao gian khó, nhiều đời tiếp nối tạo dựng, phát huy, phát triển cho đến hôm nay

i theo con đường tâm linh Tây Yên Tử là hành hương đến cõi Phật, về với đất Phật nhưng cũng có sự dung hợp, đan kết, chuyển hóa của các yếu tố lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa (Nho giáo, ạo giáo, lễ hội, lễ cấp sắc, thờ mẫu, thờ thần hoàng, hát chầu văn, dân ca, giao duyên các dân tộc…)

Tín ngƣỡng dân gian

Do đặc điểm về vị trí, địa hình và do những biến cố lịch sử, khu vực Tây Yên Tử trở thành nơi tụ hội của nhiều luồng dân cư đến sinh sống và lập nghiệp Mỗi một dân tộc tập trung thành từng bản có quan hệ họ hàng, huyết thống sống gần nhau, nương tựa vào nhau cùng sản xuất, sinh sống, giúp đỡ nhau trong cuộc sống Trong cách giao tiếp và ứng xử hàng ngày mang nặng

tư tưởng quan hệ thân tộc, dòng dõi lai lịch Vì thế tín ngưỡng ở khu vực này mang nặng tính bản địa với các tín ngưỡng nhiên thần, nhân thần, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh được biểu hiện thông qua các nghi thức cầu cúng, các hoạt động vui hội, trò chơi, văn nghệ, ẩm thực

Những điểm tín ngưỡng ở khu vực Tây Yên Tử là những nét đặc trưng văn hóa vùng ông Bắc và không thể tách rời trong đời sống sinh hoạt, xã hội của cộng đồng dân cư

và chuẩn bị cho công việc gieo trồng của một năm mới Lễ hội được tổ chức vào 15/1 âm lịch hàng năm

Trang 40

- Lễ hội Từ Hả (xã Hồng Giang huyện Lục Ngạn)

Lễ hội được tổ chức từ ngày 7 - 9 tháng giêng âm lịch hàng năm Ngoài nghi lễ tế Vũ Thành còn có diễn tích trận mạc tượng trưng cho chiến thắng do

Vũ Thành chỉ huy Sau tế lễ là các trò hội như: múa sư tử, hát Soong hao, Sli, Lượn, của các dân tộc ít người Những hoạt động này nhằm thoả mãn nhu cầu về tâm linh, nhu cầu văn hóa và qua đó giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào và tính đoàn kết dân tộc cho các thế hệ

- Hội chùa Khánh Vân - Đền Quan quận ( Thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn)

ội chùa Khánh Vân gồm hai phần: Phần tế lễ rước sách và phần vui chơi, giải trí, biểu diễn tích trò Phần tế lễ do dân trong làng đảm nhiệm Làng

cử ra 4 ông cai đám mỗi ông cai đám ở một khoảnh, bốn ông cai đám có trách nhiệm về phần lễ hội trong ba ngày này

Ngày 18 tháng 2 làng mở cửa đền, chùa làm lễ tắm phật, lau chùi quét dọn chuẩn bị cho lễ hội; Ngày 19 tháng 2 làm lễ nhập tịch vào đám Làng cho đóng kiệu ở trong đình để rước tế lễ làm lễ cầu đảo diễn tích trò và bơi trải trên sông; ngày 20 tháng 2 dã đám, dân làng dọn dẹp và đóng cửa đền ội tế gồm 21 người lo việc tế lễ trong đền từ 10 giờ đến 11 giờ, trong lúc tế dân làng ra xem rất đông Trong phần tế lễ ngoài phần khấn nôm nói đến công lao của Vi ùng Thắng và những người được thờ ở đền, dân làng còn tụng hết một quyển khoa cúng của đền Tế lễ xong dân làng tổ chức rước kiệu dương thần và âm thần do con cháu họ Vi ở xã Thanh ải rước vì cụ tổ họ Vi chính

là Vi ùng Thắng ịa điểm rước thần từ đền, chùa lên Nghè Mưa, một địa danh có truyền tích về quân dân nhà Trần đánh giặc Nguyên tại đây Năm nào trời hạn thì dừng kiệu làm lễ cầu mưa, sau đó tiếp tục hành rước qua cầu ôi lên Bình Nội rồi lại trở về đền Khánh Vân Trong cuộc rước có nhiều đoạn đường " kiệu bay" Những trai kiệu " cứ rầm rập, rầm rập" đi như bay như có phép mầu nhiệm

Sáng ngày 19 tháng 2 tại khúc sông khu vực làng à Thị, dân làng tổ

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w