1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoạt động hỗ trợ phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Hà Nội trong mô hình Phòng ngừa sớm do Tổ chức trẻ em Rồng Xanh thực hiện : Luận văn ThS. Khác: 6090

147 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ TRẦN THỊ DUNG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHÕNG NGỪA LAO ĐỘNG SỚM CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI HÀ N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ DUNG

HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHÕNG NGỪA LAO ĐỘNG

SỚM CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI HÀ NỘI TRONG MÔ HÌNH PHÕNG NGỪA SỚM

DO TỔ CHỨC TRẺ EM RỒNG XANH THỰC HIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ DUNG

HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHÕNG NGỪA LAO ĐỘNG

SỚM CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI HÀ NỘI TRONG MÔ HÌNH PHÕNG NGỪA SỚM

DO TỔ CHỨC TRẺ EM RỒNG XANH THỰC HIỆN

Chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS.MAI THỊ KIM THANH

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Hoạt động hỗ trợ phòng ngừa lao

động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Hà Nội trong mô hình Phòng ngừa sớm do Tổ chức trẻ em Rồng Xanh thực hiện”

là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Toàn bộ số liệu khảo sát chưa được công bố trên bất kì tạp chí khoa học hay sản phẩm nào khác

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Tác giả

Trần Thị Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành nhất , tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy , cô giáo Khoa Xã Hội Học –Trường Đa ̣i ho ̣c Khoa học xã hội và nhân văn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành tốt nhiê ̣m vu ̣ khóa ho ̣c Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới cô giáo TS Mai Thị Kim Thanh đã nhiê ̣t tình giúp đỡ , dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ khoa

học

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, tham gia đóng góp ý kiến và cung cấp thông tin trong quá trình nghiên cứu

Nhân dịp này tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân yêu trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu hoàn thiện luận văn cũng như hoàn thành khóa học này

Do năng lực nghiên cứu còn có phần hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót kính mong nhận được sự quan tâm chỉ bảo của các thầy cô để kết

quả nghiên cứu được trọn vẹn hơn

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Tác giả

Trần Thị Dung

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 13

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 14

5 Phạm vi nghiên cứu 14

6 Câu hỏi nghiên cứu 14

7 Giả thuyết nghiên cứu 14

8 Phương pháp nghiên cứu 15

9 Kết cấu của luận văn 18

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 19

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 19

1.1.1.Các khái niệm công cụ 19

1.1.1.1 Khái niệm về trẻ em 19

1.1.1.2 Khái niệm về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 20

1.1.1.3 Khái niệm về dịch vụ phòng ngừa cho trẻ em 20

1.1.1.4 Trẻ em lao động sớm 21

1.1.2.Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 23

1.1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 23

1.1.2.2 Lý thuyết hệ thống – hệ thống sinh thái 26

1.1.2.3 Lí thuyết Cấu trúc chức năng 28

1.2.CƠ SỞ THỰC TIỄN 30

1.2.1.Thực trạng trẻ em lao động sớm tại Việt Nam 30

1.2.1.1 Thực trạng trẻ em lao động sớm tại địa bàn Hà Nội 31

1.2.1.2 Đặc điểm chung của trẻ em lao động sớm co ́ hoàn cảnh đặc biê ̣t khó khăn 32

1.2.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn lao động sớm 34

Trang 6

1.2.1.4 Những ảnh hưởng của lao động sớm đối với trẻ em 36

1.2.1.5 Nguyên nhân sự lạm dụng lao động trẻ em 37

1.2.1.6 Hậu quả của lao động sớm đến trẻ em 38

1.2.2.Vài nét về địa bàn nghiên cứu 39

1.2.2.1 Khái quát về địa bàn thành phố Hà Nội và địa bàn quận Hoàn Kiếm

39

1.2.2.2 Khái quát về Văn phòng dự án tại Việt Nam- Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh (BDCF)- 879 Hồng Hà, Hoàn Kiếm, Hà Nội 40

CHƯƠNG 2:HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHÕNG NGỪA LAO ĐỘNG SỚM CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TRONG MÔ HÌNH PHÕNG NGỪA SỚM 45

2.1 BỨC TRANH CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG PHÕNG NGỪA LAO ĐỘNG SỚM TẠI DỰ ÁN PHÕNG NGỪA SỚM 45

2.1.1.Khái lược về mô hình Phòng ngừa sớm tại Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh 45

2.1.1.1 Lịch sử hình thành Mô hình Phòng ngừa sớm tại Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh 45

2.1.1.2 Mục đích hoạt động 46

2.1.1.3 Nội dung hoạt động của mô hình Phòng ngừa sớm 47

2.1.1.4 Quá trình tiếp nhận trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tham gia vào mô hình Phòng ngừa sớm 50

2.1.1.5 Những yếu tố a ̉nh hưởng tới việc lao động sớm ở trẻ em có HCĐBKK 51

2.1.1.6 Một số đặc điểm chung về trẻ em co ́ hoàn cảnh đặc biê ̣t khó khăn tại Hà Nội trong mô hình Phòng ngừa sớm 54

2.1.2.Thực trạng hoạt động hỗ trợ Phòng ngừa lao động sớm tại mô hình Phòng ngừa sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 59

2.1.2.1 Hoạt động hỗ trợ cá nhân 59

2.1.2.2 Hoạt động hỗ trơ ̣ pháp lý 61

Trang 7

2.1.2.3 Hoạt động hỗ trợ và tư vấn tâm lý 64

2.1.2.4 Hoạt động hỗ trợ y tế, chăm sóc sức khỏe 72

2.1.2.5 Hoạt động sinh hoạt tại trung tâm Phòng ngừa sớm 75

2.1.2.6 Hoạt động hỗ trợ giáo dục đào tạo 77

2.1.2.7 Các hoạt động hỗ trợ khác 85

2.1.3.Vai trò nhân viên công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ phòng ngừa lao động sớm tại địa bàn Hà Nội 89

2.1.3.1 Vai tro ̀ người giáo dục 89

2.1.3.2 Vai tro ̀ người kết nối các dịch vụ 91

2.1.3.3 Vai tro ̀ người biê ̣n hộ 92

2.1.3.4 Vai trò người hỗ trợ tâm lý 94

2.1.3.5 Vai tro ̀ người tổ chức quản lí 96

2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động Phòng ngừa lao động sớm tại Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh 97

2.2.1.Mô ̣t số tồn ta ̣i trong hoạt động Phòng tại mô hình Phòng ngừa sớm 97

2.2.2.Nâng cao hiệu quả hoạt động mô hình Phòng ngừa lao động sớm104 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 117

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 EIC Early intervention center ( Trung tâm phòng ngừa

sớm)

2 CTXH Công tác xã hô ̣i

3 LĐTB&XH Lao động Thương binh và Xã hội

4 TECHCĐBKK Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

6 TELĐS Trẻ em lao đô ̣ng sớm

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1.Thời gian đươc hỗ trợ của trẻ em tại mô hình Phòng ngừa sớm 50

Bảng 1.2: Cơ cấu hoàn cảnh gia đình trẻ 56

Bảng 1.3 : Cơ cấu đô ̣ tuổi của trẻ trong chương trình 56

Bảng 2.1: Đánh giá hỗ trợ cá nhân cho trẻ và gia đình được hỗ trợ bởi mô hình PNS 60 Bảng 2.2: Dịch vụ hỗ trợ pháp lý cho TECHCĐBKK 61

Bảng 2.3: Sự hài lòng của trẻ em có HCĐBKK về dịch vụ hỗ trợ pháp lý 63

Bảng 2.4 Tỉ lệ trẻ được hỗ trợ tư vấn tâm lí 68

Bảng 2.5: Trạng thái tâm lí của trẻ trước khi được hỗ trợ 69

Bảng 2.6: Đánh giá nội dung tham vấn tâm lý cho Trẻ có HCĐBKK 70

Bảng 2.7: Dịch vụ hỗ trợ y tế, chăm sóc sức khỏe cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 73

Bảng 2.8: Dịch vụ hỗ trợ giáo dục cho trẻ có HCĐBKK 78

Bảng 2.9: Đánh giá việc cung cấp kỹ năng mềm cho trẻ em lao động sớm 84

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Nguyên nhân trẻ em lao động sớm 51

Biểu đồ 2.2 Hoàn cảnh gia đình của các em trong chương trình 55

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu độ tuổi trẻ em trong chương trình 57

Biểu đồ 2.4 Giới tính của trẻ tại Trung tâm PNS 57

Biểu 2.5 Dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 66

Biểu 2.6 Sự hài lòng của trẻ về dịch vụ hỗ trợ tâm lý 71

Biểu đồ 2.7 Tần suất tham gia sinh hoạt tại trung tâm PNS của trẻ 76

Biểu đồ 2.8 Mức hỗ trợ học phí 79

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Việt Nam là nước đầu tiên khu vực châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước, gia đình và xã hội Sự quan tâm này đã được thể chế hóa trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật quốc gia và các chương trình quốc gia bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn có sự đồng thuận và tham gia của toàn xã hội, trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, dành mọi sự yêu thương cho trẻ em, luôn đặt lợi ích của trẻ

em lên hàng đầu trong các quyết sách quốc gia với phương châm “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Trẻ em là hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trên thực tế mức thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam còn thấp, tình trạng chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân cư, giữa các vùng miền gia tăng, bên cạnh đó những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường với

sự thay đổi cấu trúc, vai trò của gia đình, quan niệm và chuẩn mực xã hội cũng có những thay đổi nhất định đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ em Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ em phảilao động sớm có xu hướng tang Chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em là thực hiện sự nghiệp trồng người, vì lợi ích lâu dài của đất nước

Dù trong hoàn cảnh nào trẻ em chúng ta vẫn được hưởng sự phát triển về giáo dục, chăm sóc y tế, sự quan tâm cải thiện đời sống, vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao Môi trường giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội đều nêu cao trách nhiệm chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Thế hệ măng non của đất nước đã và đang thể hiện là lớp người tiềm năng về trí tuệ, xuất hiện ngày càng nhiều tài năng vượt khó vươn lên, biết sống nhân ái thủy chung Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em hiện nay đang có nhiều vấn đề bất cập, vì còn nhiều trẻ em đang phải chịu vất vả kiếm sống, vẫn còn trẻ em bỏ học, trẻ bị suy dinh dưỡng.Tình trạng trẻ

em bị ngược đãi, bị bóc lột sức lao động, bị lôi kéo vào những vấn đề tiêu cực, tệ

Trang 12

nạn xã hội, bạo lực bất lương trở thành tội phạm đang diễn ra phức tạp Để giảm bớt những khó khăn, tạo điều kiện để trẻ em vươn lên trong học tập, công tác, từ nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Tuy nhiên những nguy cơ mà trẻ em có thể gặp phải trong cuộc sông ngày nay đang được báo động đặc biệt là Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Các em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất và tinh thần, không

đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình và cộng đồng Trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ

em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật

Để giúp các em có thể phòng ngừa những nguy cơ ngoài mong muốn Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh đã thành lập Trung tâm phòng ngừa sớm cho trẻ hỗ trợ các em học hỏi và nâng cao những kĩ năng phòng ngừa những rủi ro không mong muốn cho trẻ và gia đình có thể nâng cao nhận thức và hiểu biết Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được trang bị kiến thức về kỹ năng sống, phòng chống bạo lực, xâm hại tình dục, đặc biệt phụ huynh của các em cũng được tập huấn nâng cao nhận thức về các nhóm quyền trẻ em, các văn bản pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Một trong những hoạt động của trung tâm phòng ngừa sớm taị Tổ chức Trẻ

em Rồng Xanh đó là hoạt động Phòng ngừa lao động sớm đây là một trong những

mô hình mới chưa được phổ biến tại Việt Nam Tuy nhiên tầm quan trọng của hoạt động này và ý nghĩa của nó đối với Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã góp phần vào công cuộc cải thiện cuộc sống của các em Để tìm hiểu và xác định các hoạt động và nâng cao hiệu quả của các hoạt động tại trung tâm đã đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cho trẻ chưa? Các dịch vụ đã toàn diện hay chưa? Mức độ hài lòng của trẻ với các dịch vụ như thế nào? Và sau khi tham gia hoạt động tại Trung tâm Phòng ngừa sớm thì những trẻ này có mong muốn nào khác chưa được

Trang 13

đáp ứng hay không? Người nghiên cứu nghĩ rằng rất cần sự đánh giá tổng quan để trả lời câu hỏi trên

Xuất phát từ những lí do trên trong thực tiễnhiện nay tôi chọn đề tài:

“Hoạtđộng hỗ trợ phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Hà Nội trong mô hình Phòng ngừa sớm do Tổ chức trẻ em Rồng Xanh thực hiện”

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1.Các nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa lao động sớm trên thế giới

Tương lai của thế giới phụ thuộc vào trẻ em Thế nhưng, cuộc sống của trẻ em hiện nay đang khiến người ta phải lo ngại Báo cáo của Liên hợp quốc cho thấy, mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp bao gồm cả hỗ trợ tài chính, ngăn chặn hiện tượng bóc lột, cưỡng bức lao động trẻ em, nhưng tình trạng sử dụng lao động trẻ em toàn cầu không có dấu hiệu giảm bớt

Số liệu thống kê mới nhất của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho biết,

hiện có hơn 250 triệu trẻ em đang phải lao động kiếm sống trên toàn cầu Ước tính hằng năm có hàng triệu trẻ vị thành niên trên khắp thế giới bị bắt buộc làm những công việc nặng nhọc, mại dâm hoặc những hành vi bất hợp pháp khác Tình trạng lao động trẻ em trái phép đang tăng nhanh

Ở nhiều nơi trên thế giới, trẻ em làm việc trong các lĩnh vực khác nhau, phần lớn trong ngành nông nghiệp, nơi các em có thể phải tiếp xúc với hóa chất độc hại

và các thiết bị không an toàn Số khác là trẻ em lang thang bán rong, hoặc chạy việc vặt kiếm sống Một số trẻ giúp việc tại các gia đình hoặc làm tại các nhà máy Tất

cả các em đều không có cơ may sống một tuổi thơ thực sự, một nền giáo dục đầy đủ hoặc có một cuộc sống tốt đẹp hơn

Đa số lao động trẻ em được sử dụng tại châu Á (trên 153 triệu); tại châu Phi con số này là 80 triệu và Mỹ La-tinh là 17 triệu Điều kiện làm việc khắc nghiệt và độc hại nhất của trẻ em là ở khu vực cận Xa-ha-ra Mới đây, cảnh sát Buốc-ki-na Pha-xô với sự hỗ trợ của các chuyên gia Tổ chức cảnh sát quốc tế In-tơ-pôn (Interpol) đã tiến hành chiến dịch giải phóng 400.000 trẻ em lao động tại những mỏ

Trang 14

khai thác vàng Hầu hết những em này phải làm việc trong những điều kiện khắc nghiệt tại các hầm mỏ chật hẹp có độ sâu tới 70m, thiếu không khí trong lành và không được trả lương Hiện nay, các em đã được đưa đến trại nuôi dưỡng và chính quyền địa phương bắt đầu tìm kiếm cha mẹ chúng

Ở các nước đang phát triển, tình trạng lao động trẻ em vẫn còn phổ biến Tại nhiều nước châu Á, hàng triệu trẻ em phải lao động nặng nhọc trên những cánh đồng bông và lúa mì, tham gia sản xuất gạch đá, xi măng và cao su Hàng nghìn em khác phải làm những việc không phù hợp với độ tuổi và nguy hiểm cho sức khỏe như phun thuốc sâu cho hoa màu ở các trang trại, quấn thuốc lá, làm pháo hoa, hoặc công việc liên quan đến linh kiện điện tử

Những quốc gia châu Phi gần sa mạc Xa-ha-ra có tỷ lệ lao động trẻ em cao nhất, với hơn 50% trẻ em độ tuổi từ 5 - 14 phải lao động Đa số lao động trẻ em ở vùng nông thôn, chủ yếu làm việc cho gia đình, chứ không phải cho các nhà máy Tình trạng ép buộc lao động trẻ em không chỉ xuất hiện ở những nước nghèo

mà ngay cả ở những nước phát triển như Mỹ Theo số liệu của Tổ chức phi chính phủ - Dự án Polaris, tại Mỹ, hằng năm có hơn 100.000 trẻ vị thành niên bị dụ dỗ, lôi kéo vào hành vi mại dâm, đóng các bộ phim khiêu dâm Theo bà Pép-pa Hô-nô (Pepa Horno), chuyên gia của tổ chức Cứu trẻ em (Save the children), một trong những hình thức nô dịch trẻ thơ là việc buôn bán trẻ em với doanh số hằng năm lên tới 23,5 tỷ ơ-rô, hay bóc lột tình dục từ các thương vụ du lịch “sex” với sự tham gia của 1,8 triệu trẻ vị thành niên Hiện nay 300.000 trẻ em dưới 15 tuổi bị bắt đi lính

và dính líu vào các cuộc xung đột vũ trang

Ở một số nước, mặc dù có luật nghiêm cấm lao động trẻ em, song tình trạng lao động trẻ em vẫn tồn tại bởi sự bàng quan và lãnh cảm của xã hội Gần 3/4 trẻ em tham gia những công việc mà thế giới coi là lao động tồi tệ nhất, bao gồm buôn bán trẻ em, xung đột vũ trang, làm nô lệ, bị bóc lột tình dục và làm các công việc nguy hiểm Do vậy, xóa bỏ tình trạng lao động trẻ em là một trong những thách thức mang tính cấp thiết nhất hiện nay

Trang 15

Vấn đề lao động đặc biệt là trẻ em lao động sớm đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia trong nhiều thập kỉ nay Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới đều đặt sự quan tâm rất cao đến vấn đề trẻ

em lao động sớm Đối với các ngành an ninh – Interpol quan tâm đến lĩnh vực phòng chống tội phạm lao động trẻ em , tức là ngăn ngừa tình trạng bóc lột lao động trẻ em , lợi dụng trẻ em vào các công việc phi pháp hoặc độc hại, nguy hiểm không đúng với pháp luật Với các nhà khoa học về xã hội và nhân văn, các nhà hoạt động

xã hội thì quan tâm đến vấn đề trước và sau quá trình diễn ra hoạt động lao động trẻ

em tức là xác định nguyên nhân cuả tình trạng lao động trẻ em và những hậu qủa về mặt tâm lí, xã hội của trẻ em khi phải lao động sớm cũng như mặt hạn chế của trẻ

em lao động sớm Tức là nghiên cứu các giải pháp giảm nguy cơ và giải pháp trợ giúp làm giảm hậu quả của tệ nạn này Đối tượng nghiên cứu và tác động trực tiếp

là nạn nhân, cộng đồng nơi sinh sống và vấn đề hỗ trợ họ tái hòa nhập cộng đồng như thế nào để hiệu quả

Nghiên cứu “ Định nghĩa lao động trẻ em: đánh giá định nghĩa lao động trẻ

em trong nghiên cứu chính sách” – tên tiếng anh “Defining child labour:A review of the definitions of child labour in policy research” được xây dựng bởi tác giả Eric V.Edmonds và phối hợp thực hiện bởi ông Frank Hagemann từ văn phòng IPEC tại Geneva công bố tháng 11 năm 2008 Nghiên cứu đã chỉ ra được một số định nghĩa

về lao động trẻ em trong các chinh sách về luật, văn bản dưới luật, chính sách xã hội của các quốc gia được nghiên cứu Ngiiên cứu đã đóng góp vào việc nghiên cứu thể chế chính sách nhằm làm sáng tỏ các định nghĩa, môi trường làm việc, thời gian làm việc, ánh sáng làm việc, điều kiện làm việc của lao động trẻ em tại các quốc gia tiến hành nghiên cứu của Tổ chức lao động thế giới

Trong nghiên cứu mang tên “ Lao động trẻ em” - “ Child Labour” thực hiện tháng 2 năm 2007 của tác giả Eric V Edmonds đã chỉ ra các nội dung sau :

Định nghĩa thuật ngữ thường được sử dụng trong các nghiên cứu về phân bố thời gian của trẻ em và cung cấp một cái nhìn tổng quan nhất về việc trẻ em đã sử dụng thời gian như thế nào tại đất nước có thu nhập thấp hiện nay

Trang 16

Xem xét các loại hình lao động trẻ em phố biến nhất cũng như tác động của các công việc này đối với việc học hành, sức khỏe

Xem xét các tài liệu về các yếu tổ quyết định đến sự phân bố thời gian lao động trẻ em và sự tương tác sự tương tác giữa doanh thu với gia đình trong lao động trẻ em

Những hạn chế trong việc lựa chọn chính sách ảnh hưởng đến lao động trẻ em Hậu quả của chinh sách lao động trẻ em và các yếu tổ quyết định tham gia vào hình thức lao động trẻ em

Trong nghiên cứuNhững ảnh hưởng của lao động trẻ em đến việc đạt được thành tích học tập, bằng chứng từ Ghana- “What is the effect of child labour on learning achievement? Evidence from Ghana, Công bố tháng 10 năm 2010 của Christopher Heady đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng của trẻ em lao động sớm đến việchoàn thành các mục tiêu học tập tại trường học Khó khăn hạn chế của việc trẻ

em vừa tham gia học tập, vừa tham gia làm việc tại Ghana như thế nào ?

Tổ chức lao động thế giới (ILO) công bố nghiên cứu đánh giá hiểm họa lâu dài về việc trẻ em trở thành lao động khi chưa đủ tuổi Khoảng 20% đến

30% số trẻ em tại các quốc gia có thu nhập thấp đã phải nghỉ học đi làm từ tuổi 15

và một số lượng lớn hơn còn nghỉ học sớm hơn nữa Đây là kết quảng hiên cứu mới của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) nhân Ngày Quốc tế Phòng chống Lao động Trẻ emBáo cáo đề cập tới thách thức kép là xóa bỏ lao động trẻ em, đồng thời đảm bảo việc làm bền vững cho thanh niên Dựa trên điều tra từ 12 quốc gia, báo cáo đã nghiên cứu sự nghiệp tương lai của nhóm thanh niên từng là lao động trẻ em và bỏ học sớm

Báo cáo khuyến nghị nên có những can thiệp sớm nhằm đưa các em ra khỏi tình trạng lao động trẻ em và trở lại với trường học cũng như tạo ra các biện pháp

hỗ trợ quá trình chuyển giao từ nhà trường tới các cơ hội việc làm bền vững cho thanh niên

Như vậy qua một số nghiên cứu được công bố trong thời gian gần đây của các tác giả nước ngoài có thể thấy rằng, thực trạng trẻ em lao động sớm không chỉ là

Trang 17

vấn đề cần quan tâm trong phạm vi một quốc gia mà nó còn là vấn đề quantâm của quốc tế Các nghiên cứu đã đi từ những ảnh hưởng của lao động trẻ em đến sự phát triển của quốc gia, các thể chế chính sách liên quan đến vấn đề trẻ em lao động sớm Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào chỉ ra được các dịch vụ công tác xã hội với trẻ

em lao động sớm và những tác động của các dịch vụ này đến trẻ em lao động sớm như thế nào

Can thiệp sớm là một hệ thống các dịch vụ phối hợp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển phù hợp với tuổi của trẻ và hỗ trợ các gia đình trong những năm đầu tiên rất quan trọng

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (Unicef) tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu

lao động trẻ em giai đoạn 2015 – 2020.Theo dự thảo: “Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em” giai đoạn 2015 - 2020, Chương trình nhằm mục tiêu

nâng cao nhận thức của cộng đồng, xã hội về vấn đề lao động trẻ em; Hoàn thiện luật pháp, chính sách về phòng ngừa và trợ giúp lao động trẻ em; Thực hiện mạnh

mẽ cam kết quốc tế về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất vào năm

2016 và Giảm thiểu lao động trẻ em vào năm 2020 Đối tượng thụ hưởng của Chương trình là trẻ em và người chưa thành niên dưới 18 tuổi có nguy cơ hoặc đã tham gia lao động trẻ em, đặc biệt là trong các hình thức lao động nặng nhọc, trong các ngành sản xuất nông nghiệp, đánh bắt và chế biến thủy hải sản, khai khoáng, nghề thủ công truyền thống và giúp việc gia đình Những đối tượng trẻ em được thụ hưởng sẽ được tham gia vào các hoạt động phòng ngừa, được bảo vệ, được đưa ra khỏi lĩnh vực lao động trẻ em thông qua những can thiệp trực tiếp, các hoạt động giáo dục, dạy nghề, an sinh xã hội phù hợp và các dịch vụ bổ trợ khác Những hộ gia đình ở nông thôn và thành thị có trẻ em được thụ hưởng dự án sẽ được hưởng các hoạt động nâng cao sinh kế, tạo thu nhập trong khuôn khổ phát triển chuỗi giá trị và phương pháp tiếp cận thị trường có định hướng

Theo nghiên cứu của: “EARLY INTERVENTION CENTRE” tại số18 đường

AhHood tòa nhà HiapHoe06-52/54Singapore329.983.Trung tâmCan thiệp

Trang 18

sớmchuyên cung cấpcác chương trìnhgiáo dụccá nhân, mục tiêuvàchuyên sâu chotrẻ emtrong độ tuổi từ18tháng đến 8năm, ngườiđã được xác địnhbị bệnh tự kỷ, khuyết tậttrí tuệ, thách thứchành vi và /hoặc chậm phát triểnkhác

Mục tiêucủa trung tâmlà để thống nhấtthực hành củagiáo dục mầm nonvớican thiệp sớmphương phápđểcung cấp cho trẻmộthỗ trợ tốt, tập trung và ý nghĩakinh nghiệmtrongnhữngnăm phát triểnnhạy cảmhọc Mong muốncung cấpcác chương trìnhcan thiệpmầm nondựa trên nghiên cứu, hiệu quảvà chất lượngcaotăng cường vàphát huy tối đacáctiềm năngtăng trưởngphát triển củacon em chúng tavàhạn chế tối đasự phát triểncủa cáckhuyết tậtthứ cấp, cũng nhưđể giảm

Các yếu tốđóđặt trẻ em vàonguy cơkhuyết tật Đó là mục tiêucủa đểtối đa hóacác con em,tiềm năngxã hội, thể chất vàtrí tuệbằng cách cung cấpmộtnuôi dưỡng,cấu trúcvàmôi trườnghọc tập an toàn

2.2 Các nghiên cứu ở Việt Namvềphòng ngừa lao động sớm cho trẻ em

Dự án "Ngăn chặn tình trạng trẻ em di cư tự do và bị lạm dụng sức lao động" do Quỹ trẻ em Rồng Xanh (tổ chức phi Chính phủ của Australia) tài trợ,

được Hội Chữ thập đỏ tỉnh thực hiện từ năm 2011 tại 7 xã trên địa bàn tỉnh gồm xã Phú Diên, Phú Hải, Thị trấn Thuận An (huyện Phú Vang), Vĩnh Hưng, Lộc Điền, Lộc Trì (huyện Phú Lộc) và xã Hương Phú (huyện Nam Đông) Ban điều hành Dự

án đã tổ chức nhiều đợt khảo sát tình trạng trẻ em bỏ học đi lao động sớm, tuyên truyền, vận động các em trở về quê tiếp tục học tập; gặp mặt các gia đình có hoàn cảnh khó khăn để tuyên truyền về tác hại của việc lao động sớm và hỗ trợ kinh phí

để cải thiện cuộc sống, ngăn chặn tình trạng trẻ em bỏ học

Dự án "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện các chương trình về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất" do Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hỗ trợ

Mục tiêu của dự án nhằm góp phần phòng ngừa và từng bước xóa bỏ hiện trạng lao động trẻ em thông qua việc hỗ trợ chương trình có thời hạn ở Việt Nam và Đồng Nai Đồng thời, góp phần cải thiện cơ sở thông tin dữ liệu quốc gia và của tỉnh về lao động trẻ em, từng bước cải thiện điều kiện sống và nâng cao nhận thức cộng đồng xã hội về lao động trẻ em

Trang 19

Chương trình bảo vệ trẻ em của UNICEF tập trung nỗ lực vào hai lĩnh vực

Một mặt, chương trình góp phần xây dựng và sửa đổi luật và các chính sách bảo vệ trẻ em (cải cách pháp lý) để luật và các chính sách thân thiện với trẻ em hơn Đồng thời chương trình cũng góp phần nâng cao kiến thức cho người dân và giúp người dân hiểu thêm về vấn đề lạm dụng và bóc lột trẻ em, cũng như các vấn đề khác trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em thông qua các hoạt động nghiên cứu, vận động chính sách, truyền thông và huy động xã hội tham gia đồng thời cũng khuyến khích sự tham gia của trẻ

- Cải thiện khung pháp lý và chính sách về bảo vệ trẻ em

- Nâng cao năng lực và cải thiện các cơ chế bảo vệ trẻ em

- Tăng cường các dịch vụ bảo vệ đối với trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt

- Nâng cao năng lực và cung cấp thêm các dịch vụ về hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em

- Nâng cao nhận thức và hiểu biết của cộng đồng, tổ chức dân sự và trẻ em về vấn đề bảo vệ trẻ em, đặt biệt là vấn đề lạm dụng và bóc lột trẻ em

- Cải thiện khung luật pháp quốc gia và nâng cao kiến thức và nhận thức về vấn đề bảo vệ trẻ em

- Nâng cao năng lực và tăng cường các hệ thống bảo vệ trẻ em

Báo cáo về vấn đề lao động trẻ em ở Việt Nam do Bộ Lao động thương bình

và xã hội thực hiện năm 1997, báo cáo trên đã trình bày về vấn đề lao động trẻ em ở Việt Nam Báo cáo đã chỉ rõ nguyên nhân, hậu quả của lao động trẻ em đối với sự phát triển kinh tế của đất nước trong điều kiện kinh tế đang thay đổi

Công trình nghiên cứu “ trẻ em làm thuê giúp việc gia đình” do Tổ chức cứu

trợ trẻ em Thụy Điển ( Save the children in Sweeden) cộng tác với khoa Tâm lí trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện năm 2000.Công trình này nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân đặc điểm, ảnh hưởng của lao động trẻ em làm giúp việc gia đình đến sự phát triển cá nhân của trẻ

học-Trong những năm trở lại đây, được biết đến như một con rồng trưởng thànhtrong những Tổ chức Phi chính phủ hoạt động hiệu quả trong việc cung cấp

Trang 20

những dịch vụ công tác xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế, đó là nhóm trẻ em lang thang, trẻ em và thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật và trẻ

em bị buôn bán Có thể kể đến một số tài liệu như Luận văn “Hoạt động trợ giúp

pháp lý cho trẻ em lang thang tại Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh”của tác giả Đỗ Thị

Lâm, năm 2014 Luận văn với đề tài “Đánh giá mô hình can thiệp với trẻ em lang

thang nhìn từ góc độ Quản lý ca ( Nghiên cứu tại Tổ chức trẻ em Rồng Xanh)” của

tác giả Phạm Xuân Thắng, năm 2014 Luận văn “Hoạt động cung cấp dịch vụ công

tác xã hội cho trẻ em lang thang (Nghiên cứu trường hợp tại Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh, Hà Nội)” của tác giả Tạ Thị Phúc năm 2015 Đề tài luận văn Thạc sĩ “Định hướng nghề và học nghề cho thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn tại Hà Nội qua nghiên cứu trường hợp tại Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh (Blue Dragon Children’s

Foundation – BDCF) – Nguyễn Dạ Đan Trang – tháng 9 năm 2015 Hay khóa luận

tốt nghiệp với đề tài “Tìm hiểu quy trình hỗ trợ trẻ em lang thang tái hòa nhập cộng

đồng của chương trình Step Ahead (Nghiên cứu tại tổ chức Blue Dragon, 879 Hồng Hà, Hoàn Kiếm, Hà Nội) của tác giả Phùng Thị Giang năm 2014 Khóa luận

“Công tác xã hội cá nhân với trẻ em lang thang “của tác giả Lê Thùy Dung –

trường Đại học Lao động – xã hội năm 2014

Cùng với nghiên cứu “ Di cư và lao động trẻ em từ Huế vào Sài Gòn, Việt

Nam” - “Child Labour & Migration From Hue to Saigon, Vietnam” do Tiến sĩ

Susan Kneebone, Giáo sư Sallie Yea and Madhavi Ligam đến từ Đại học Monash University cùng sự tham gia của một số nhà nghiên cứu Trần Thị Kim Tuyến, Nguyễn Thị Hồng, Đinh Thị Ngọc Quý nghiên cứu tại tỉnh Thừa Thiên Huế tháng 9 năm 2013 Các nghiên cứu trước đều tiếp cận một cách rất đầy đủ về những dịch vụ

hỗ trợ của Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh đối với đối tượng hưởng lợi, tuy nhiên, sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu, về cách tiếp cận nghiên cứu cũng mang đến

những cái nhìn đa chiều về Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh

Tổng quan về các công trình nghiên cứu trên có thể thấy, rất nhiều học giả đã quan tâm đến vấn đề trẻ em bởi hiện nay, đây là vấn đề mang tính cấp thiết Tuy nhiên, do công tác xã hội ở nước ta hiện nay, là một chuyên ngành mới, nên có thể

Trang 21

nói, hiện nay chưa có một nghiên cứu quy mô nào có đề cấp đến vai trò của công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm, hay tác động của công tác xã hội đối với trẻ

em lao động sớm Vì vậy, đề tài“Hoạt động hỗ trợ phòng ngừa lao động sớm cho

trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Hà Nội trong mô hình phòng ngừa sớm

do Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh thực hiện”sẽ góp phần tìm hiểu các hoạt động công

tác xã hội đang thực hiện tại địa bàn Hà Nội đối với các em đã từng là trẻ em lao động sớmvà trẻ em có nguy cơ trở thành trẻ em lao động sớm Ngoài ra đề tài sẽ góp phần tìm hiểu nhu cầu mong muốn của trẻ em lao động sớm trong giai đoạn hiện nay, qua đó, đề xuất một số giải pháp để cải thiện các dịch vụ công tác xã hội với trẻ em lao động sớm tại Tổ chức trẻ em Rồng Xanh trên địa bàn Hà Nội nói riêng và dịch vụ công tác xã hội với trẻ lao động sớm nói chung giúp tăng hiệu quả giúp đỡ cho nhóm đối tượng này

2.3Ý nghĩa của nghiên cứu

2.3.1 Ý nghĩa khoa học

Qua góc độ tiếp cận các lý thuyết CTXH, bằng các biện pháp thu thập và phân tích thông tin, đặc biệt là bằng phương pháp phỏng vấn sâu, điều tra qua bảng hỏi và phân tích bảng hỏi, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết Xã hội học và CTXH như: thuyết nhu cầu, thuyết trao đổi xã hội Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực phòng ngừa, phát hiện, can thiệp sớm và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng

Nghiên cứu này cũng sẽ đóng góp một phần vào việc tìm hiểu nguyên nhân tâm lý, những tác động khách quan từ gia đình, xã hội hay những nguyên nhân chủ quan từ phía đối tượng nghiên cứu, ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và việc đưa

ra những giải pháp phòng ngừa sớm lao động sớm cho trẻ, để từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp với cơ sở cũng như với những người trực tiếp làm việc với nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại BDCF

2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đối với Nhà nước và các cơ quan hoạt động về lĩnh vực bảo vệ và hỗ trợ trẻ

em lao động sớm nói chung: Kết quả nghiên cứu tìm hiểu, làm rõ hơn những nhu

Trang 22

cầu của trẻ em lao động sớm, những nhu cầu đó đã được đáp ứng như thế nào, đã có những hoạt động hỗ trợ gì để đáp ứng nhu cầu đó? Đồng thời góp phần nâng cao các hoạt động thực tiễn tại trung tâm phòng ngừa sớm

Đề tài cũng góp phần nâng cao ý thức và tầm hiểu biết của gia đình trẻ về hoạt động phòng ngừa lao động sớm.Tăng cường đẩy mạnh các hoạt động phòng ngừa lao động sớm tại mô hìnhEIC sao cho đạt hiệu quả mong muốn Thúc đẩy sự tham gia của các cấp chính quyền trong việc đan xen các mô hình phòng ngừa lao động sớm cho trẻ vào chương trình giáo dục phòng ngừa

Đối với cơ sở nghiên cứu: nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại cơ sở đang có nhận thức như thế nào với việc tham hoạt động tại trung tâm phòng ngừa sớmảnh hưởng khách quan từ môi trường bên ngoài, từ gia đình, xã hộigiúp các em nhận thức và phòng tránh những nguy cơ rủi ro mà các em có thể gặp phải

Nâng cao nhận thức của trẻ và phụ huynh trong việc phòng ngừa sớm những hoạt động và vai trò của các em trong xã hội Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nân cao hiệu quả hoạt động của mô hình phù hợp, bổ sung vào chính sách hỗ trợ nhóm đối tượng này Nghiên cứu cũng sẽ chỉ ra được những chính sách tại cơ sở liên quan đến nhóm đối tượng này đã thực sự phù hợp hay chưa, đã đáp ứng đủ nhu cầu của nhóm đối tượng hay chưa

Đối với nhà nghiên cứu: qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế nhà nghiên cứu có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹ năng thực hành CTXH nói chung và CTXH cá nhân nói riêng Từ đó giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác của bản thân

Đối với Nhà nước và các cơ quan hoạt động về lĩnh vực bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân nói chung: Kết quả nghiên cứu tìm hiểu, làm rõ hơn những nhu cầu của trẻ em lao động sớm, những nhu cầu đó đã được đáp ứng như thế nào, tức là đã có những hoạt động hỗ trợ Đặc biệt là sau giai đoạn khi được hỗ trợ , Từ đó gợi ý những giải

Trang 23

pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động trợ giúp Nói cách khác, kết quả nghiên cứu có thể giúp cho quá trình hoạch định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách, chiến lược về các đối tượng đặc biệt quan tâm trong xã hội Làm cách nào để tiến tới giải quyết và chấm dứt tình trạng trẻ em lao động sớm là một câu hỏi dành cho các nhà quản lí, lãnh đạo các ban ngành đoàn thể địa phương

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua thực trạng trẻ em lao động sớm tại địa bàn Hà Nội đề tài sẽ góp phần tìm hiểu thực trạng hoạt động phòng ngừa lao động sớm của mô hình Phòng ngừa sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Tổ chức trẻ em Rồng Xanh.Ngoài ra đề tài sẽ góp phần tìm hiểu nhu cầu mong muốn của trẻ em lao động sớm trong giai đoạn hiện nay, qua đó đề xuất một số giải pháp để cải thiện các dịch

vụ công tác xã hội với trẻ em lao động sớmtại địa bàn Hà Nội Bên cạnh đó tìm hiểu vai trò và những khó khăn của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động phòng ngừa lao động sớm của mô hình

Đồng thời làm rõ tầm quan trọng và vai trò của hoạt động phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong xã hội hiê ̣n nay

Nghiên cứu thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng và đặc điểm hoạt động cung cấp dịch vụ hỗ trợ phòng ngừa lao động sớm chotrẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Hà Nội

Nâng cao hiệu quả của hoạt động của mô hình Phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại tổ chức trẻ em Rồng Xanh

Tìm hiểu những nhu cầu những mong muốn khác của trẻ em lao động sớm ngoài những dịch vụ CTXH đang được cung cấp

Chỉ rõ vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc ứng dụng công tác xã hội nhóm, phát triển cộng đồng vào thực tế làm việc tại địa bàn của dự án

Phân tích cơ cấu tổ chức và các hoạt động của trung tâm phòng ngừa sớm (EIC) và của Tổ chức TERX(BDCF) nói chung

Qua nghiên cứu lý luâ ̣n và thực tiễn sẽ đề xuất mô ̣t số giải pháp nhằm nâng cao chất lươ ̣ng nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng ngừa sớm tại Tổ chức TERX

Trang 24

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động hỗ trợ phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Hà Nội trong mô hình Phòng ngừa sớm do tổ chức Trẻ em Rông Xanh thực hiện

4.2 Khách thể nghiên cứu

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã từng lao động sớm và có nhiều nguy cơ trở thành lao động sớm hiện đang hưởng dịch vụ hỗ trợ tại Trung tâm Phòng ngừa sớm trong độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi

Gia đình trẻ đang hưởng lợi của trung tâm Phòng ngừa sớm

Các nhà quản lý, điều hành dự án “ Bước Tiến” tại Hà Nội

Nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại trung tâm Phòng ngừa sớm

5.Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu được triển khai trong khoảng thời

gian từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015

Phạm vi không gian:Giới hạn về khách thể khảo sát và địa bàn nghiên cứu

Hoạt động phòng ngừa lao động sớm tại EIC được triển khai tại Tổ chức trẻ

em Rồng Xanh trên địa bàn Hà Nội

6 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng phòng ngừa lao động sớm tại các cơ sở xã hội hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình hoạt động phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hiện nay?

Vai trò của nhân viên công tác xã hội được thể hiện như thế nào trong hoạt động can thiệp trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Tổ chức trẻ em Rồng Xanh

Cần phải làm gì để có thể nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biêt khó khăn hiện nay?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Hoạt động phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại các

Trang 25

cơ sở xã hội hiện nay chưa được nhiều sự quan tâm của các cấp các ngành Trên thực tế hầu như có ít các mô hình phòng ngừa lao động sớm đi vào hoạt động Các

mô hình phòng ngừa sớm được thực hiện manh mún tại Việt Nam hầu hết là các tổ chức NGO tài trợ thực hiện

Những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hoạt động phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hiện nay như nguồn vốn đầu tư,chính sách hoạt động của Đảng và Nhà nước trong chăm sóc và bảo vệ trẻ em còn nhiều hạn chế Trung tâm Phòng ngừa sớm tại tổ chức trẻ em Rồng Xanh mang lại nhiều hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Tuy nhiên việc tổ chức các hoạt động còn gặp phải một số khó khăn đặc biệt về vấn

đề tài chính

Những giải pháp có thể nâng cao được chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt độngphòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biêt hiện nay như: tăng cường sự quan tâm đặc biệt trong vấn đề giáo dục kinh tế xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của các ban ngành Cần có sự đầu tư mở rộng nhiều mô hình phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có HCĐB nhằm phòng ngừa những rủi ro mà các em

có thể gặp phải như bị buôn bán, lạm dụng hoặc sao nhãng Tăng cường hiệu quả hoạt động và nâng cao năng lực cho nhân viên tại trung tâm phòng ngừa sớm và giải pháp tốt nhất để đẩy mạnh và mở rộng vai trò của mô hình ra xã hội

Vai trò của nhân viên công tác xã hội được thể hiện trong hoạt động can thiệp trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Tổ chức trẻ em Rồng Xanh chiếm vị trí quan trọng là người biện hộ, giáo dục cung cấp các dịch vụ cho trẻ và gia đình trẻ Đồng thời hỗ trợ giúp cho các thành viên hiểu rõ về tầm quan trọng của phòng ngừa sớm cho trẻ em có ý nghĩa như thế nào?

8.Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài liệu như: các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến vấn đề trẻ em và lao động trẻ em, tìm hiểu các công trình nghiên cứu đã và đang thực hiện

Trang 26

về vấn đề lao động trẻ em cả nghiên cứu trong nước và nước ngoài, báo cáo tổng kết thực trạng lao động trẻ em hiện nay qua báo cáo số liệu của tổ chức lao động thế giới

Các nghiên cứu về thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Thực trạng các đề án, chính sách của Chính phủ về phòng ngừa lao động sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Các Quy chế của tổ chức Rồng Xanh đối với hoạt động của trung tâm Phòng ngừa sớm

Những phân tích này sẽ cung cấp số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, đưa ra đánh giá khách quan cho người nghiên cứu

8.2.Phương pháp trưng cầu ý kiến

Phương pháp trưng cầu ý kiến để điều tra về thực trạng trẻ em LĐS có

HCĐBKK tại tổ chức TERX và những yếu tố ảnh hưởng của việc phòng ngừa lao động sớm đối với các em và những nguy cơ khi các em không được phòng ngừa sớm

Đối tượng: Trẻ em có HCĐB khó khăn tại tổ chức TERX từ 6-12 tuổi có khả năng nhận thức, không bị mắc các bệnh về thần kinh , có khả nhâ ̣n biết và đánh giá về các hoạt động hỗ trợ Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh

Mẫu nghiên cứu: Trẻ em lao động sớm có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Kích thước mẫu nghiên cứu: 100 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Cách chọn mẫu: 100 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại trung tâm

Phòng ngừa sớm

Bảng tỉ lệ phần trăm về đă ̣c điểm cá nhân của trẻ em có HCĐBKK( ĐVT%)

Trang 27

- Phỏng vấn sâu 7 nhân viên xã hội

- Phỏng vấn sâu 01 Quản lí dự án: “Bước Tiến” và mô hình Phòng ngừa sớm Những thông tin cần tìm hiểu được xoay quanh những nhu cầu cần trợ giúp của đối tươ ̣ng, những di ̣ch vu ̣ mà đối tượng đang được trợ giúp ta ̣i Tổ chức Từ đó đánh giá những dịch vụ , hoạt động đang được trợ giú p có phù hợp không ? Đánh giá về vai trò của nhân viên xã hội cũng như cấp quản lí trong hoạt động trợ giúp hiện tại

8.4 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm tập trung tại Trung tâm Đối tượng chủ yếu

là những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đã từng lao động sớm hoặc có nguy cơ phải lao động sớm đang được trợ giúp tại tổ chức trẻ em Rồng Xanh

Nhóm 1: Dành cho 7 – 8 người trong đó có cán bô ̣ quản lý , nhân viên xã hô ̣i, nhân viên chăm sóc của tổ chức T ERX, trẻ em tại Tổ chức TERX ; đối tác làm việc tại địa phương của Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh để thu thâ ̣p thông tin về hoạt động

hỗ trợ phòng ngừa sớm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại tổ chức TERX

Nhóm 2: Dành cho 7- 8 cha mẹ/ người bảo hộ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để tìm hiểu nhận định của họ về vấn đề con em của họ có thể gặp phải những rủi do cũng như những đánh giá của họ về hoạt động hỗ trợ cho nhóm đối tượng này của tổ chức Trẻ em Rồng Xanh

Nhóm 3: Dành cho nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khănvới số lương

7 - 8 trẻ hiện đang tham gia hoạt động tại trung tâm thảo luận nhóm nhằm mục đích giúp các em hiểu về mục đích hoạt động của trung tâm, đưa ra những mong muốn

và đóng góp ý kiến cải thiện của các em

Trang 28

9 Kết cấu của luận văn

Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, khuyến nghị và Phụ lục, nội

dung chính chia làm 2 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Chương 2 Hoạt động hỗ trơ ̣ phòng ngừa lao động sớm cho Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong mô hình Phòng ngừa sớm

Trang 29

Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là

"mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thànhđược quy định sớm hơn " hiệp nước này được 192 của 194 nước thành viên phê duyệt Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định trẻ

em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi Một số định nghĩa tiếng Anh của từ trẻ

em bao gồm thai nhi Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ ai trong giai đoạn phát

triểncủa tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành Trẻ em nhìn chung có ít quyền hơn người lớn và được xếp vào nhóm không để đưa ra những quyết định quan trọng, và về mặt luật pháp phải luôn có người giám hộ

Theo Từ điển Xã hội học, trẻ em đó là nhóm ở trong quá trình xã hội hóa(tiếp nhận những kỹ năng và tri thức để có thể tham gia hoạt động xã hội độc lập),nói đúng hơn đó là nhóm ở trong giai đoạn đầu tiên của xã hội hóa Về luật phápngười

ta coi đó là vị thành niên

Trong Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1989), Việt Nam đã phê chuẩn năm 1990 xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn (Điều 1)

Như vậy, pháp luật Việt Nam và Công ước 182 của Tổ chức Lao động quốc tế về việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hình thức lao động trẻ

em tồi tệ nhất, nếu xét cả công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (QTE), thì tất cả những người dưới 18 tuổi đều được coi là trẻ em (TE) Dù có gọi người chưa thành niên hoặc TE vị thành niên thì vẫn gọi là TE Tuy nhiên, trong pháp luật Việt Nam, tùy theo từng lĩnh vực, phân biệt TE và người chưa thành niên theo độ tuổi khác nhau: 14, 15, 16, để xác định chế độ pháp lý, sự bảo vệ thích hợp cho từng lứa tuổi Ví dụ, theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định thì “Trẻ em là

Trang 30

công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”

1.1.1.2 Khái niệm về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng Từ định nghĩa này, Điều 40 đã quy định:

"Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em

bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật"

1.1.1.3 Khái niệm về dịch vụ phòng ngừa cho trẻ em

Hệ thống dịch vụbảo vệ trẻ em trước đây còn nhiều khoảng trống, chưa có cấu trúc chặt chẽ, thiếu tính đồng bộ Để thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ trẻ

em, các dịch vụ bảo vệ trẻ em phải được tổ chức và thực hiện đáp ứng yêu cầu của công tác bảo vệ trẻ em ở cả 3 cấp độ: phòng ngừa; phát hiện, can thiệp sớm và can thiệp,trợ giúp phục hồi cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị tổn hại Hệ thống dịch vụ hiện tại đang hướng tới chuyên nghiệp thông qua thực hiện Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 nhằm đảm bảo các dịch vụ có hệ thống và mang tính liên tục, có quy định rõ các thủ tục và quy trình bảo vệ trẻ em, phát triển hệ thống dịch vụ trẻ em theo ba cấp độ, trong đó khuyến khích phát huy tính năng động và sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt của trẻ em và gia đình gồm:

- Dịch vụ phòng ngừa(cấp độ 1):ở cấp độ này, các dịch vụ chủ yếu tăng

cường nhận thức và kỹ năng cũng như xây dựng năng lực cho cộng đồng, xã hội, gia đình, người chăm sóc trẻ và chính trẻ em về bảo vệ trẻ em Các hoạt động chủ yếu là truyền thông, giáo dục, tư vấn, vận động nâng cao nhận thức, kỹ năng và thay đổi hành vi bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Dịch vụ can thiệp sớm (cấp độ 2):Ở cấp độ này, các dịch vụ vẫn mang tính

phòng ngừa nhưng tập trung vào những nhu cầu cụ thể của nhóm đối tượng trẻ em

Trang 31

có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hoặc bị tổn hại Các hoạt động chủ yếu ở cấp

độ này thường là những hỗ trợ nhằm cải thiện điều kiện sống cho nhóm trẻ em có nguy cơ như: tăng cường năng lực cho các gia đình, cộng đồng và chính bản thân trẻ em để giảm thiểu các yếu tố/nguy cơ dẫn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và bị tổn hại hoặc giảm thiểu mức độ tổn hại do các nguy cơ gây tổn hại xảy ra Ví dụ: hỗ trợ phát triển kinh tế cho các hộ gia đình nghèo; giáo dục kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em cho các bậc cha mẹ có hành vi bạo hành, sử dụng rượu hay ma túy ; giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

1.1.1.4 Trẻ em lao động sớm

Khái niệm Lao động: Lao động là hoạt động có ý chí, có mục đích của con người tác động vào thế giới xung quanh để tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của mình Đặc điểm cơ bản, quan trọng nhất của lao động là tính tích cực và tính mục đích của hoạt động chế tạo, sử dụng các công cụ, phương tiện để thực hiện các chức năng nhất định

Từ khái niệm trẻ em và khái niệm lao động như trên, chúng ta có thể xây dựng khái niệm trẻ em lao động sớm là lao động do trẻ em thực hiện ở lứa tuổi sớm hơn so với các quy định của pháp luật

Cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về trẻ em lao động sớm Tuy nhiên các quốc gia đều dựa theo công ước và những tiêu chuẩn quốc tế của tổ chức ILO làm căn cứ xác định lao động trẻ em “Lao động trẻ em là người lao động chưa đủ 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi trưởng thành sớm hơn”

Ở Việt Nam chưa có khái niệm về trẻ em lao động sớm và chưa thống nhất một cách hiểu chung về trẻ em lao động sớm Tuy nhiên những qui định tại Bộ luật Lao động

2007 về cơ bản cũng phù hợp với những điều ước quốc tế về lao động trẻ em

Khái niệm trẻ em lao động sớm theo cách hiểu của Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 “Lao động trẻ em là người lao động chưa đủ 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi trưởng thành sớm hơn”

Bộ luật lao động Việt Nam không đưa ra định nghĩa về lao động trẻ em mà chỉ định

Trang 32

nghĩa về lao động chưa thành niên theo quy định tại Điều 6 Bộ luật lao động

“Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi có khả năng giao kết hợp đồng lao động”, Điều 119 quy định “lao động chưa thành niên là lao động dưới 18 tuổi” Trong luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định độ tuổi là 16 tuổi trở xuống Như vậy, pháp luật Việt Nam đã bao hàm lao động trẻ em trong khái niệm người lao động chưa thành niên nhằm bảo vệ chung với những người chưa có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đầy đủ Trẻ em là đối tượng được phép tham gia lao động nhưng là lao động đặc biệt vì phải tuân theo những mục đích và tính chất lao động riêng biệt để đảm bảo quyền học tập, phát triển, quyền bảo vệ của trẻ em Theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khái niệm Lao động trẻ em đòi hỏi ngoài góc độ độ tuổi, còn phải tiếp cận từ góc độ tính chất công việc mà chủ thể phải làm: Về độ tuổi ILO cho rằng trẻ em là người dưới 18 tuổi; Về tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc có ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ em

Điều 120 khẳng định thêm “Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, ngoại trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định như: diễn viên, các nghề truyền thống, các nghề thủ công mỹ nghệ, vận động viên năng khiếu.” Và khi người sử dụng lao động nhận những em dưới 15 tuổi vào làm việc thì phải tuân theo những điều kiện chặt chẽ do luật quy định như: trẻ em

đủ 12 tuổi, có sức khoẻ phù hợp với công việc, có giấy cam kết và đồng ý theo dõi của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp, môi trường lao động không được quá 4 giờ một ngày hoặc 24 giờ một tuần, có hợp đồng lao động Như vậy, đối với người dưới 15 tuổi, thì ngoài một số nghề, công việc và các điều kiện như trên nêu thì bất

kỳ người nào dưới 15 tuổi tham gia quan hệ lao động đều là trái pháp luật lao động của Việt Nam

Như vậy, qua một số điều, khoản được quy định trongBộ luật Lao động 2007 có thể thấy rằng “ Lao động trẻ em hay trẻ em lao động sớm là là những trẻ em phải làm việc nặng nhọc, độc hại và nhiều hình thức tồi tệ khác ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, đặc biệt là làm mất đi cơ hội học tập hoặc học tập đầy đủ của trẻ

Trang 33

1.1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow

Abraham Maslow sinh ngày 1-4-1908, mất năm 8-5-1970 Ông là một nhà tâm

lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong tâm lý học

Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và

có ích cả về thể chất lẫn tinh thần

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 05 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp

Hình 1.1: Thang nhu cầu của Maslow

Nhu cầu sinh lý: Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả

Trang 34

mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa

Nhu cầu về thể lý hay sinh lý của con người thể hiện ở các cung bậc về nhu cầu ăn, uống, nghỉ ngơi, nới trú ngụ an toàn…khi những nhu cầu này được đáp ứng, con người mới có thể phát triển lên các tầng lớp nhu cầu cao hơn Cụ thể, ở nghiên cứu với trẻ em lao động sớm này, một phần nguyên nhân trẻ em tiến hành lao động sớm vì kinh tế gia đình khó khăn Chính vì vậy, với mỗi trẻ em trong dự án PNS, việc đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của bản thân, giúp trẻ em trong dự án có thể yên tâm thực hiện các chức năng xã hội cơ bản Nói một cách khác, việc đáp ứng các nhu cầu cần theo thứ bậc cơ bản nhằm phát triển bản thân và thực hiện các chức năng xã hội

Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh:

An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho

sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người

An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,…

Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được

Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận): Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Các trẻ em trong dự án đa phần đều trong lứa tuổi cần được chú ý bởi giai đoạn thanh thiếu niên này, nhu cầu tâm sinh lý của các em đang phát triển khá mạnh mẽ

Ví dụ, khi tiếp xúc với nhóm trẻ em lao động sớm tại dự án, đa phần các em

Trang 35

đều ở lứa tuổi biết “ngại ngùng, biết xấu hổ”, luôn để ý đến việc người khác đánh giá thế nào, nghĩ gì về mình, nên phần lớn, các em đều tự ti, mặc cảm về hoàn cảnh của bản thân, luôn để ý đến việc người khác đánh giá thế nào, nghĩ gì về mình, nên phần lớn, các em đều tự ti, mặc cảm về hoàn cảnh của bản thân, sớm bươn chải để kiếm sống, các em phải sớm bươn chải để kiếm sống nên nếu NVXH khiến cho các

em cảm thấy bị đánh giá, phán xét, các em sẽ không thể cảm thấy an toàn, từ đó mọi thông tin chia sẻ đều không có giá trị bởi nó không dựa trên lòng tin

Nhu cầu được tôn trọng: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng Lòng

tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh,

có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người Đối với nhóm trẻ em lao động sớm, NVXH phải chú ý bởi đây

là nhóm dễ bị tổn thương, các em đều có những tự ti về mình, khá nhạy cảm với những đánh giá, phán xét của người khác

Nhu cầu phát huy bản ngã: Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó

Nói một cách giản đơn , đây chính là nhu cầu được sử du ̣ng hết khả năng , tiềm năng của mình để tự khẳng đi ̣nh mình , để làm việc, đa ̣t các thành quả trong xã

hô ̣i

Với nhóm trẻ em lao động sớm, việc đươc phát huy các thế mạnh, khả năng

sẽ giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp, học tập, sinh hoạt tại cộng đồng Ngoài ra các hoạt động văn hóa, văn nghệ hay đá bóng để tạo niềm yêu thích cho trẻ em, giúp các em cảm thấy có giá trị, qua đó thể hiện những cái Tôi của bản thân phù hợp với xã hội

Những thứ bậc của tháp nhu cầu trên, về cơ bản, là những nhu cầu thiết yếu của con người Chính vì vậy, khi muốn thõa mãn các nhu cầu thì cần đáp ứng các nhu cầu từ

Trang 36

thấp đến cao Đối với trẻ em lao động sớm, với những khó khăn kinh tế nhất định, nhu cầu cao nhất của các em chính là những nhu cầu sinh lý cơ bản Khi những nhu cầu được

ăn no mặc ấm được đảm bảo sẽ xuất hiện các nhu cầu khác phù hợp với sự phát triển của văn hóa, xã hội và nhận thức lứa tuổi

1.1.2.2 Lý thuyết hệ thống – hệ thống sinh thái

Theo Parson, nhóm là hệ thống xã hội với những thành viên lệ thuộc hỗ tương, cố gắng duy trì trật tự và sự cân bằng như một thể thống nhất Nhóm phải vận động tài nguyên để đáp ứng nhu cầu Có 4 nhiệm vụ chính: hội nhập – thích nghi – duy trì – đạt mục tiêu Sự hiện diện của các tài nguyên như là một tổng thể từ mối tương tác giữa các cá nhân liên quan đến nhau

Thuyết hê ̣ thống là mô ̣t trong những lý thuyết quan tro ̣ng được vâ ̣n du ̣ng Khái niệm hệ thống : “Là tâ ̣p hợp nhiều yếu tố , đơn vi ̣ cùng loa ̣i hoă ̣c cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất”

Dưới góc đô ̣ công tác xã hội: “Hê ̣ thống là mô ̣t tâ ̣p hợp các thành tố được sắp xếp có trâ ̣t tự và liên hê ̣ với nhau để hoa ̣t đô ̣ng thống nhất Con người phu ̣ thuô ̣c vào

hê ̣ thống trong môi trường , xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu trực tiếp của mình trong cuô ̣c sống”

CTXH quan tâm đến sự nối kết xã hội và các mối quan hệ xã hội của con người và cũng quan tâm tới các mục tiêu xã hội như công bằng xã hội hoặc thay đổi

xã hội cũng như công việc chung giữa người với người (liên cá nhân ).Các quan điểm hê ̣ thống trong công tác xã hô ̣i có nguồn gốc từ lý thuyết hê ̣ thống tổng quát của Bertalanffy Đây là mô ̣t lý thuyết sinh ho ̣c cho rằng mo ̣i tổ chức hữu cơ đều là những hê ̣ thống được ta ̣o nên từ các tiểu hê ̣ thống và ngược la ̣i cũng là m ột phần của hệ thống lớn hơn Do đó con người là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n của xã hô ̣i và được ta ̣o nên từ các phân tử, mà được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn

Tác giả Hanson (1995) cũng cho rằng giá trị của lý thuyết hệ thống chính là

nó đi vào giải quyết những vấn đề về tổng thể nhiều hơn là những bộ phận của các hành vi xã hội hoặc con người Các quan niệm chính cho rằng, các thực thể hệ thống có hệ thống đóng và hệ thống mở hoặc coi là một tiến trình có đầu vào – đầu

Trang 37

ra của khối lượng - phản hồi mà dẫn đến những trạng thái của hệ thống bao gồm ổn định, điều hòa/cân bằng, khác biệt, không tính tổng hay trạng thái trao đổi Nhìn chung những quan điểm này đều là những dấu mốc cụ thể để ứng dụng lý thuyết này trong các khoa học khác

Lý thuyết hệ thống được coi là một trong những chiều hướng phù hợp về sự phát triển, hướng đến cái tổng thể (Hanson, 1995) Tác giả Robert (1990) cũng xem xét lý thuyết này như là một mô hình mang tính hòa nhập đang được phát triển trong CTXH và thường được ứng dụng trong trị liệu gia đình Ưu điểm của lý thuyết hệ thống là nó phản ánh một số khía cạnh về các tổ chức xã hội và các chính sách xã hội hiện nay

Tác phẩm được sử dụng rộng rãi giữa mối liên hệ giữa hệ thống sinh thái và CTXH là của Pincus và Minahan (1973) Nguyên tắc về tính tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thỏa mãn được cuộc sống riêng, do đó, CTXH nhấn mạnh đến những hệ thống như vậy

Ba hình thức hệ thống cơ bản trong CTXH bao gồm:

Hệ thống phi chính thức hoặc tự nhiên (gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp )

Hệ thống chính thức (nhóm cộng đồng, các tổ chức công đoàn )

Các hệ thống xã hội (bệnh viện, nhà trường )

CTXH xem xét các thành tố trong các tương tác giữa thân chủ và những đối tượng liên quan và môi trường của họ mục đích là để giúp đỡ cá nhân thể hiện được những nhiệm vụ của cuộc sống cà có tầm quan trọng đối với chúng ta

Lý thuyết này nói lên mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội giữa cá nhân với

cá nhân, cá nhân với nhóm và ngược lại bởi vì các cá nhân không thể tồn tai riêng lẻ

mà phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ như môi trường gia đình, nhà trường, nhóm bạn bè, cơ sở y tế … Vì vâ ̣y công tác xã hội chú trọng tới những hệ thống như vậy để giúp đỡ các cá nhân, nhóm có vấn đề

Vận dụng lý thuyết hệ thống vào nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu rõ về

Trang 38

sự tác đô ̣ng của các hệ thống lên cá nhân , có thể đó là sự tác động tiêu cực hoặc tích cực Bên ca ̣nh đó không phải tất cả mo ̣i người đều có khả năng tiếp câ ̣n sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hê ̣ thống tồn ta ̣i xung quanh Như vâ ̣y mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hê ̣ thống mà ho ̣ tồn ta ̣i Đối với trẻ em lang thang cũng vậy, các em chịu sự tác động của nhiều hệ thống và mỗi cá nhân lại có khả năng tiếp câ ̣n khác nhau Nhân viên xã hô ̣i sẽ nhìn nhâ ̣n xem trẻ liên hê ̣ chă ̣t chẽ với yếu tố nào trong môi trường mà trẻ sinh sống từ đó ứng du ̣ng vào viê ̣c rà soát , đánh giá các chính sách hỗ trợ và hoạt động trợ giúp cho phù hợp Song song vớ i quá trình can thiệp với từng vấn đề cụ thể , nhân viên CTXH có thể kết hợp , huy đô ̣ng đươ ̣c các nguồn lực có sẵn , những hê ̣ thống chính sách cần thiết để giúp cho quá trình can thiêp được hiệu quả

1.1.2.3 Lí thuyết Cấu trúc chức năng

Robert K.Merton (1910- 2003) là người Do thái di cư sang Mỹ sống ở thành phố Philadelphia Với ông nhu cầu xã hội Một Nhiều Chức năng thay thế Nhiều Một Thiết chế xã hội Hệ quả Không chủ định, Chủ định, Làm cản trở, thậm chí chưa thấy rõ, thấy rõ, gây rối loạn, làm giảm chưa công khai công khai khả năng tồn tại, thích ứng của cấu trúc Chức năng lặn Chức năng trội Phản chức năng Các nhà chức năng cấu trúc, thời kì đầu có xu hướng hầu như hoàn toàn tập trung vào các chức năng của một cấu trúc xã hội hoặc thể chế xã hội Tiêu điểm của nhà chức năng cấu trúc phải là các chức năng xã hội hơn là các động cơ cá thể Các chức năng theo Merton, được xác định như là những hệ quả quan sát được, được tạo ra cho sự thích và điều chỉnh của một hệ thống xét đến Tuy nhiên, có một xu hướng

rõ ràng mang tính duy tâm khi người ta chỉ tập trung vào sự thích nghi hoặc sự điều chỉnh, vì chúng luôn luôn là hệ quả tích cực Điều quan trọng cần chú ý là một sự kiện xã hội có thể có các hệ quả tiêu cực đối với một sự kiện xã hội khác Để chỉnh lại sự bỏ sót nghiêm trọng này ở thuyết chức năng cấu trúc thời kỳ đầu, Merton phát triển một ý tưởng gọi là một phản chức năng Phản chức năng là những hệ quả làm cản trở, thậm chí gây rối loạn,làm giảm khả năng tồn tại thích ứng của cấu trúc Ngay cả khi các cấu trúc hay thể chế có thể đóng góp cho sư duy trì các bộ phận

Trang 39

khác của hệ thống xã hội, chúng cũng có thể gây ra những hệ quả tiêu cực đối với chúng Trên thực tế muốn hiểu cơ chế hoạt động, tồn tại và phát triển của một cấu trúc xã hội , ta không nên vội vàng tin vào những lời tuyên bố công khai về mục đích tác dụng của nó; mà cần phải phân tích những tác động nhiều chiều của nó đối với cấu trúc xã hội có liên quan Merton có những quan điểm khác với các nhà xã hội học khác khi ông đưa ra quan niệm về chức năng thay thế Theo ông, không nhất thiết mỗi thiết chế xã hội chỉ đáp ứng một nhu cầu xã hội Mà trên thực tế, trong xã hội luôn có các cấu trúc chức năng thay thế nhau để thỏa mãn các yêu cầu chức năng mà xã hội đặt ra Một chức năng có thể do hai hay nhiều hơn các tổ chức, thiết chế xã hội cùng có khả năng thực hiện Các thiết chế luôn luôn có khả năng thay thế lẫn nhau trong việc đáp ứng nhu cầu cần thiết cho sự vận hành và hoạt động của xã hội

Theo ông các chức năng xã hô ̣i có tính thống nhất thể hiê ̣n ở cấp đô ̣ xã hô ̣i cá nhân Trong lý thuyết cấu trúc chức năng xã hô ̣i được nhìn như mô ̣t hê ̣ thống hoàn chỉnh của các qua n hê ̣ qua la ̣i của các bô ̣ phâ ̣n , mỗi bô ̣ phâ ̣n la ̣i liên quan với bô ̣ phâ ̣n khác

Thuyết cấu trúc chức nâng cho thấy những hành vi cá nhân luôn luôn nằm trong cấu trúc nhất đi ̣nh , mă ̣c dù cá nhân luôn có sự lựa cho ̣n những ứng xử trong

mô ̣t tình huống cu ̣ thể Áp dụng lý thuyết vào nghiên cứu đối tượng trẻ em lao đô ̣ng sớm hầu như các em xuất phát điểm từ những gia đình có vấn đề như cha me ̣ ly hôn, gia đình nghèo hoă ̣c mồ côi… điều này dẫn tới viê ̣c các em không có một cuộc sống no đủ, hạnh phúc Các em phải đi bươn trải kiếm sống từ rất sớm và luôn phải phụ thuộc vào gia đình Hoạt động phòng ngừa lao động sớm cũng mang lại những chức năng nhất đi ̣nh đối với trẻ em lao đô ̣ng sớm , các em được hỗ trợ để có một cuô ̣c sống tốt hơn và tránh khỏi những nguy cơ lao đô ̣ng sớm Đồng thời khẳng

đi ̣nh những quyền lợi của các em trong xã hô ̣i như quyền được đến trường , được chứng nhâ ̣n là mô ̣t công dân khi tổ chức hỗ trợ các em làm thủ tu ̣c giấy tờ pháp lý

Lý thuyết cấu trúc chức năng là một trong những lý thuyết chủ đạo xem xét các chức năng của gia đình , trong đó có chức năng giáo du ̣c – xã hội hóa của gia

Trang 40

đình Tất nhiên các chức năng của gia đình không thể tách rời nhau mà nằm trong

mô ̣t cấu trúc thống nhất Gia đình có vai trò quan tro ̣ng trong quá trình hình thành nhân cách đứa trẻ đây là môi trường cơ bản chính thức đầu tiên c ủa xã hội hóa cá nhân Với chức năng của mình gia đình là công cu ̣ truyền la ̣i cho con cháu các giá trị văn hóa truyền thống , đă ̣c biê ̣t là giá tri ̣ đa ̣o đức xã hô ̣i Đối với trẻ em lao động sớm các em bi ̣ ảnh hưởng nhiều bở i lối sống của cha me ̣, người thân và môi trường sống xung quanh

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Thực trạng trẻ em lao động sớm tại Việt Nam

Cuộc điều tra quốc gia về Lao động trẻ em 2012 được kết hợp với cuộc điều tra Lao động - Việc làm hàng năm và được tiến hành trong khoảng thời gian

3 tháng (tháng 3, 4, 5) với quy mô mẫu là 50.640 hộ gia đình trên toàn, khảo sát 6 vùng kinh tế - xã hội và hai thành phố trung tâm là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cuộc điều tra đã thu thập thông tin của 41.459 trẻ em trong độ tuổi từ 5 - 17 tuổi Ước tính từ cuộc điều tra cho thấy dân số trung bình năm 2014 của Việt Nam là khoảng 90,6 triêụ người Trong tổng dân số, nhóm 5 - 17 tuổi, có 52,8% ở nhóm 5 - 11 tuổi, 22,5% ở nhóm

12 - 14 tuổi và 24,7% ở nhóm 15 - 17 tuổi

Theo số liệu của cuộc điều tra nói trên, có 1,75 triệu trẻ em thuộc nhóm LĐTE, chiếm 9,6% dân số trẻ em và khoảng 62% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế, trong đó 40,2% là trẻ em gái Trong đó, có gần 569 ngàn em, chiếm 32,4% có thời gian làm việc bình quân trên 42 giờ/tuần Thời gian lao động kéo dài đã ảnh hưởng đến việc tham gia học tập của trẻ em, có 96,2% số trẻ

em này hiện tại không đi học

Trong tổng số 1,75 triệu lao động trẻ em, có khoảng 1,315 triệu em, chiếm gần 75% tổng số lao động trẻ em, chiếm gần 46,5% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế và chiếm gần 7,2% trẻ em từ 5 - 17 tuổi có NGUY CƠ làm trong các nghề thuộc nhóm nghề bị cấm sử dụng lao động chưa thành niên hoặc điều kiện lao động có hại theo quy định của Thông tư số 09/TT-LB ngày

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w