Những nghiên cứu về tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tuy nhiên với việc nghiên cứu hoạt động dạy nghề cho đối tượng cai nghiện ma túy t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
PHÙNG THỊ HƯỜNG
HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI TRUNG TÂM CHỮA BỆNH, GIÁO DỤC LAO ĐỘNG XÃ HỘI SỐ IV- HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
PHÙNG THỊ HƯỜNG
HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI TRUNG TÂM CHỮA BỆNH, GIÁO DỤC LAO ĐỘNG XÃ HỘI SỐ IV- HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thu Hương
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Thu Hương Các kết quả trong Luận
văn đều có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Hoàng Thu Hương - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học, cùng với các thầy cô giáo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn về sự giúp đỡ của tập thể cán bộ, công chức, viên chức của Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động xã hội số IV - Hà Nội và các giáo viên của Trung tâm Dạy nghề Ba Vì
Luận văn không tránh khỏi những sai sót, vì vậy em rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả Luận văn
Phùng Thị Hường
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 4
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 12
6 Câu hỏi nghiên cứu 13
7 Giả thuyết nghiên cứu 13
8 Phương pháp nghiên cứu 13
NỘI DUNG CHÍNH 17
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17
1.1 Các khái niệm công cụ 17
1.1.1 Ma túy, Người nghiện ma túy, Người cai nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy 17
1.1.2 Nghề, hoạt động dạy nghề, hoạt động dạy nghề cho người cai nghiện ma túy 20
1.1.3 Nhân viên công tác xã hội, Vai trò của nhân viên CTXH 23
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 24
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 24
1.2.2 Lý thuyết Hệ thống sinh thái 26
1.2.3 Lý thuyết Vai trò 28
1.3 Đặc điểm của Trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục lao động xã hội số IV - Hà Nội 29
1.3.1 Quá trình hình thành Trung tâm 29
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hệ thống tổ chức bộ máy của TTCBGDLĐXH số IV – Hà Nội 30
Tiểu kết Chương 1 36
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO NGƯỜI CAI
NGHIỆN MA TÚY TẠI TRUNG TÂM CBGDLĐXH SỐ IV- HÀ NỘI 37
2.1.Những điều kiện cơ bản của hoạt động dạy nghề cho người sau cai nghiện tại Trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội 37
2.1.1.Quy trình tiếp nhận và phân loại học viên 37
2.1.2 Đặc điểm của học viên sau cai nghiện và đang học nghề tại Trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội 41
2.1.3 Đặc điểm của giáo viên dạy nghề tại trung tâm 49
2.1.4 Điều kiện cơ sở vật chất cho hoạt động dạy nghề 51
2.2 Thực trang học nghề của học viên sau cai nghiện 53
2.2.1 Nhu cầu học nghề của học viên sau cai nghiện 53
2.2.2 Cách thức tổ chức các hoạt động dạy nghề 55
Tiểu kết Chương 2 58
CHƯƠNG 3 NHẬN DIỆN NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO HỌC VIÊN SAU CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI TRUNG TÂM CBGDLĐXH SỐ IV- HÀ NỘI 59
3.1 Các khó khăn trong hoạt động dạy nghề cho người sau cai nghiện ma túy 59
3.1.1 Thái độ của học viên đối với việc học nghề 59
3.1.2 Những khó khăn từ phía học viên 61
3.1.3 Những khó khăn từ phía giáo viên 64
3.2 Giải pháp hỗ trợ hoạt động dạy nghề cho người cai nghiện ma túy 65
3.2.1 Cơ sở cho việc đề xuất giải pháp 65
3.2.2 Liên kết đào tạo giữa trung tâm CBGDLĐXH số IV và doanh nghiệp: một giải pháp hỗ trợ hoạt động dạy nghề cho học viên sau cai nghiện 67
Tiểu kết Chương 3 75
KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Trung tâm
CBGDLĐXH - Trung tâm chữa bệnh Giáo dục Lao động xã hội
2 CTXH - Công tác xã hội
3 NVCTXH - Nhân viên Công tác xã hội
4 UBND - Ủy ban nhân dân
5 PVS - Phỏng vấn sâu
6 NSCN - Người sau cai nghiện
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ BẢNG
Bảng 2.1 Nơi ở trước khi vào trung tâm 43
Bảng 2.2 Trình độ học vấn của học viên cai nghiện 44
Bảng 2.3 Lý do vào trung tâm của học viên cai nghiện 47
Bảng 2.4 Đã học nghề trên mấy lần 56
Bảng 3.1 Trao đổi với giáo viên mấy lần 60
Bảng 3.2 Những khó khăn của học viên khi học nghề 62
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Số lần vào trung tâm của học viên cai nghiện 48
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nghề học viên cai nghiện đang theo học 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ma túy là một vấn nạn nóng bỏng, không chỉ trong nội bộ của một quốc gia mà còn là vấn đề cần được quan tâm của nhiều nước trên thế giới Toàn cầu hóa đã mang lại nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội song cũng đặt ra nhiều thách thức lớn trong công cuộc đấu tranh với tệ nạn ma túy, đặc biệt ở các nước đang phát triển
Nghiện ma túy gây ra nhiều hậu quả cho cả người nghiện, gia đình và toàn xã hội Nó làm biến dạng các quan hệ xã hội, thay đổi các định hướng giá trị theo hướng tiêu cực và nhất là sự suy giảm đạo đức, nhân cách của con người, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán của cộng đồng dân tộc Việt Nam, gây rối trật tự an toàn xã hội
Theo số liệu báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tính tới cuối tháng 6 năm 2011 cả nước có 149.900 người nghiện ma túy So với cuối năm 1994,( năm 1994 là 55.445 người) số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng xấp xỉ 6.000 người nghiện mỗi năm Người nghiện ma túy đã có 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã
và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước[5]
Độ tuổi của người nghiện ma túy cũng có xu hướng trẻ hóa Cuối năm
2010, gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 trong khi năm 1995 tỷ
lệ này chỉ khoảng 42% Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam giới Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng đang có xu hướng tăng
trong những năm qua[5]
Do đó việc cai nghiện có hiệu quả cũng như việc giúp người nghiện sau khi cai nghiện không tái nghiện trở lại là một vấn đề cần phải quan tâm của các cấp các ngành và của toàn xã hội Kết quả cai nghiện ma túy trong thời gian qua ở nước ta đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn rất thấp (tỷ lệ tái nghiện sau cai là rất cao – trên 90%)[ 5], do rất nhiều nguyên
Trang 10nhân, trong đó có một nguyên nhân rất căn bản là người nghiện ma túy sau thời gian cai nghiện tại các Trung tâm cai nghiện không có công ăn việc làm
ổn định, lâu dài, không có thu nhập nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam vẫn còn rất kì thị đối với những người mắc các
tệ nạn xã hội như mại dâm, nghiện ma túy, mặc dù những đối tượng này muốn quay trở về làm lại cuộc đời thì chính sự khinh bỉ, miệt thị của những người xung quanh về những sai lầm mà họ đã từng phạm phải khiến cho họ trở nên chán nản và lại tiếp tục quay trở lại con đường sai lầm trước đó Vì vậy, muốn người cai nghiện ma túy sau khi ra khỏi trung tâm cai nghiện có thể trở lại cuộc sống bình thường một cách tốt nhất thì ngay từ khi họ còn cai nghiện ở trung tâm đã phải có những định hướng nhất định cho họ về cuộc sống sau khi ra khỏi trung tâm, có những biện pháp can thiệp, giúp đỡ họ kịp thời trước và sau khi cai nghiện xong
Do vậy, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, tạo việc làm, có thu nhập
ổn định không những là một nội dung quan trọng của quy trình cai nghiện mà còn là yêu cầu thiết yếu, tạo điều kiện cho đối tượng tái hoà nhập cộng đồng, phòng chống tái nghiện có hiệu quả Điều đó đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay là cần có sự nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề dạy nghề và tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma tuý để giúp họ thực sự tái hoà nhập cộng đồng và có cuộc sống yên ổn, trở thành người có ích cho xã hội
Việt Nam đang có những thay đổi theo hướng tích cực một cách nhất định trong tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt Việt Nam đã ra nhập
tổ chức thương mại thế giới WTO thì hoạt động công tác xã hội nói chung và hoạt động cai nghiện ma túy, hướng nghiệp cho các đối tượng nghiện nói riêng luôn được quan tâm đúng mức Trên khắp đất nước ta có biết bao những Trung tâm được mở ra với mục đích nêu cao tinh thần nhân ái, vì cuộc sống lành mạnh, tốt đẹp của con người như các Trung tâm Chữa bệnh Giáo Dục
Trang 11Lao Động Xã Hôi, Trung tâm Quản Lý Dạy Nghề và Giải Quyết Việc Làm Những việc làm, sự cưu mang, ủng hộ, sự quan tâm chu đáo đối với những đối tượng nghiện ma tuý luôn là nguồn cổ vũ lớn đối với các đối tượng để họ cai nghiện thành công, vượt qua được chính mình, vượt qua những cám dỗ của cuộc sống, đặc biệt hơn nữa giúp các đối tượng có niềm tin và nghị lực vào cuộc sống để trở thành những công dân có ích cho Đất nước
Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục lao động xã hội (CBGDLĐXH) số IV tại xã Yên Bài – Huyện Ba Vì – Thành phố Hà Nội là một trung tâm như thế Trung tâm CBGDLĐXH số IV trực thuộc Sở Lao động Thương bình và Xã hội thành phố Hà Nội, được thành lập năm 2002 Trung tâm có nhiệm vụ tập trung chữa trị, tổ chức giáo dục dạy nghề và lao động sản xuất cho các đối tượng là nam nghiện hút ma túy, bị nhiễm HIV/AIDS
Trung tâm vừa thực hiện chức năng cai nghiện cho những đối tượng nghiện ma túy tại trung tâm, vừa tổ chức các lớp học nghề và định hướng nghề nghiệp cũng như giới thiệu việc làm cho họ sau khi họ cai nghiện xong Tuy nhiên, số lượng người cai nghiện ma túy sau khi ra khỏi trung tâm lại tái nghiện trở lại, hoặc bỏ nghề, ăn chơi cờ bạc ngày càng gia tăng, điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của những người xung quanh, ảnh hưởng tới sự phát triển của xã hội
Những nghiên cứu về tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tuy nhiên với việc nghiên cứu hoạt động dạy nghề cho đối tượng cai nghiện ma túy trong trung tâm cai nghiện dưới góc độ công tác xã hội (CTXH) thì là một đề tài mới mẻ Câu hỏi được đặt ra xoay quanh việc đào tạo nghề cho những người cai nghiện như thế nào cho có hiệu quả, đào tạo nghề gì và vai trò của nhân viên công tác xã hội có khả năng tham gia vào hoạt động dạy nghề này như thế nào? Từ đó, tác giả tập trung nghiên cứu về thực trạng hoạt động dạy nghề cho người cai nghiện
ma túy, từ đó tìm ra những điểm hạn chế và đề xuất những giải pháp phù hợp
Trang 12cho công tác dạy nghề cho người cai nghiện ma túy Với những lý do trên, tác
giả xin lựa chọn đề tài “Hoạt động dạy nghề cho người cai nghiện ma túy tại trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục Lao động xã hội số IV- Hà Nội”
2 Tổng quan nghiên cứu
Trong nhiều năm trở lại đây Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm nghiên cứu đến các vấn đề xung quanh như việc đẩy mạnh công tác phòng chống tệ nạn ma túy, tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho người dân về công tác phòng chống, trợ giúp người nghiện, các biện pháp trị liệu cho người nghiện, tạo việc làm cho người nghiện sau cai nghiện ma túy Có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề nghề nghiệp đã được giới khoa học xã hội quan tâm Ngoài ra còn rất nhiều bài tham luận, luận án tiến sĩ, thạc sĩ cũng nghiên cứu về vấn đề học nghề, tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy
và các biện pháp can thiệp trợ giúp cho người cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng, mỗi một nghiên cứu lại có những hướng tiếp cận và phương pháp khác nhau Trong khuôn khổ của đề tài xin được đề cập đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu và đặc sắc về định hướng nghề nghiệp của một số nhà nghiên cứu
- Các nghiên cứu về đào tạo nghề nói chung
Dạy nghề Việt nam có lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với sự xuất hiện, tồn tại của nền văn minh lúa nước, của các làng nghề truyền thống và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phát triển và đổi mới toàn diện dạy nghề
là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, được thể thiện trong các Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và trong các Nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, của Ban chấp hành TW Đảng
Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, GIZ và Viện Giáo dục và Đào
tạo nghề Liên bang Đức lần đầu công bố Báo cáo Dạy nghề Việt Nam 2011
Đây là báo cáo đầu tiên về đào tạo nghề ở Việt Nam, nó cung cấp các
số liệu thực tế về tình hình đào tạo nghề hiện nay của quốc gia Báo cáo là kết
Trang 13quả của sự hợp tác ba bên thành công giữa Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề, Tổ chức GIZ và Viện Giáo dục và Đào tạo nghề Liên bang Đức (BIBB) Báo cáo nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu chính là cung cấp thông tin, cứ liệu về dạy nghề cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, các cơ sở dạy nghề, các cơ sở đào tạo nghề và nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực, các doanh nghiệp và người lao động của Việt Nam, cũng như các tổ chức quốc tế có quan tâm đến hoạt động đào tạo nghề của Việt Nam
Các bài tham luận tại Hội nghị lần thứ X những người lãnh đạo cơ quan dạy nghề các nước xã hội chủ nghĩa Vấn đề chung được nêu trong các bài tham luận này đó là những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp thông qua các bài tham luận tại Hội nghị lần thứ 10 những người lãnh đạo cơ quan dạy nghề các nước xã hội chủ nghĩa tổ chức tại Việt Nam năm 1982: ý nghĩa, vai trò, hình thức, phương pháp, nhiệm vụ cấp bách… của công tác dạy nghề trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Đề tài “Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại
Thành phố Đà Nằng” của tác giả Phan Thị Thúy Linh năm 2011, đã nêu lên
thực trạng về việc dạy nghề và tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2011, qua đó thấy được nhu cầu lao động qua đào tạo của doanh nghiệp và người lao động ngày càng tăng lên nhưng năng lực đào tạo còn hạn chế, đào tạo nghề chưa thực sự gắn với nhu cầu của xã hội Từ những khó khăn gặp phải trong công tác đào tạo nghề, tác giả đã đề xuất những giải pháp về đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên như nâng cao nhận thức cho thanh niên về học nghề, các giải pháp về cơ chế chính sách…
Đề tài “Thực trạng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp trong
bối cảnh hiện nay” của tác giả Phan Minh Hiền Nghiên cứu thực trạng đào
tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp để làm cơ sở cho các giải pháp nâng cao năng lực của đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay
Trang 14Một ấn phẩm được coi là có liên quan nhiều đến vấn đề việc làm của lao động kỹ thuật nghề nghiệp của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB):
“Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề” xuất bản năm 1990, về các vấn đề đào tạo
nghề cho người lao động, kinh nghiệm của các nước Trong ấn phẩm này nội dung chủ yếu đi sâu vào các chức năng, đặc điểm của hệ thống dạy nghề, các chính sách của các quốc gia trong việc đào tạo nghề Ngoài ra có đi sâu vào việc đào tạo nghề đáp ứng các nhu cầu của các khu vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế Đặc điểm cơ bản của nội dung ấn phẩm này khác với ấn phẩm khác là đi sâu vào phân tích kết cấu hệ thống giáo dục và dạy nghề với kinh nghiệm của nhiều nước có mô hình đào tạo nghề khác nhau
Đề tài “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu
cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phan
Chính Thức, công trình này đề cập đến hệ thống đào tạo nghề trên giác độ hệ thống cung ứng nhân lực lao động qua đào tạo nghề cho nền kinh tế và đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và các vấn đề của hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam Một số giải pháp mà công trình này đưa ra tập trung vào phát triển hệ thống dạy nghề đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bài viết “Giáo dục nghề cho nhóm đối tượng yếu thế” do Mạc Văn
Tiến chủ biên Trong cuốn sách này chỉ đề cập đến một số nhóm yếu thế trên thị trường lao động gồm: người khuyết tật, nông dân nghèo, người dân tộc thiểu số và nhóm phụ nữ nghèo Cuốn sách nêu những vấn đề chung đối với các nhóm yếu thế, những rào cản, những nhu cầu và đặc thù dạy nghề của từng nhóm yếu thế
- Nghiên cứu về Đào tạo nghề cho người cai nghiện ma túy
Tạo việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi
là một trong những biện pháp quan trọng có ý nghĩa cả về kinh tế và xã hội, nhằm giúp đối tượng trở về cuộc sống bình thường, góp phần nâng cao hiệu
Trang 15quả công tác phòng chống tệ nạn ma túy
Đề tài: “Hoạt động hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma
túy” của tác giả Lê Thị Thanh Huyền năm 2014, đề tài đã đánh giá được thực
trạng tìm kiếm việc làm của người sau cai nghiện ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội, những nhu cầu về việc làm của người sau cai nghiện, những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người sau cai nghiện ma túy và vai trò của công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người sau cai nghiện ma túy
Đề tài “ Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cai
nghiện ma túy và sau cai” của Tiến sĩ Nguyễn Thành Công, năm 2003 Đề tài
đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý cai nghiện và sau cai trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 1996-2002, đề tài cũng đi sâu phân tích làm r những bất cập về trình độ của cán bộ làm công tác quản lý, tính hiệu lực k m của các văn bản hướng dẫn quản lý cai nghiện và sau cai; đầu tư từ các nguồn tài chính còn chưa thoả đáng, cơ sở vật chất của các trung tâm cai nghiện còn yếu, chưa quan tâm tới việc dạy nghề, tạo việc làm cho người cai nghiện trở về Từ đó, đề tài đã đưa ra một số giải pháp để tăng cường quản lý công tác cai nghiện và sau cai trên địa bàn Hà Nội
Đề tài: “Thực trạng về công tác tổ chức, quản lý dạy nghề và tạo việc
làm cho người sau cai nghiện ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả
Đào Bạch Vân, đã nêu lên thực trạng về công tác dạy nghề và giới thiệu việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, giải pháp hỗ trợ tìm việc làm cho người sau cai nghiện
Bài viết “Quản lý, dạy nghề và giáo dục phục hồi nhân cách cho người
sau cai nghiện, vấn đề và kinh nghiệm ở thành phố Hồ Chí Minh”, chủ biên
Trần Nhu, Hồ Bá Thâm, NXB Lao động – xã hội 2008 Nghiên cứu tình hình cai nghiện, giải pháp quản lí, dạy nghề cho người sau cai nghiện trong chương
Trang 16trình 3 năm ở trung tâm TP.Hồ Chí Minh Xây dựng mô hình, nội dung và phương pháp giáo dục tại cơ sở cai nghiện
Đề tài “Nhu cầu việc làm của người sau cai nghiện ma túy” của tác giả
Tiêu Thị Minh Hường, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về nhu cầu việc làm của người sau cai nghiện ma túy và các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu việc làm của họ, từ đó đề xuất một số biện pháp lý giải, giáo dục góp phần tăng cường nhu cầu việc làm của người sau cai nghiện ma túy
Đề tài “ Thực trạng hoạt động quản lý việc dạy nghề cho học viên các
trường cai nghiện ma túy ở TP Hồ Chí Minh và giải pháp” năm 2006 của tác
giả Lê Thị Ngọc Dung, đề tài đã đưa ra được thực trạng của hoạt động quản lý dạy nghề đó là quản lý giáo viên, quản lý học viên, quản lý cơ sở vật chất, hiệu quả của hoạt động dạy nghề, tìm ra những điểm còn hạn chế trong hoạt động quản lý dạy nghề này và đề tài đã đưa ra giải pháp để năng cao hoạt động dạy nghề cho học viên các trường cai nghiện
Nghiên cứu “Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai
nghiện ma túy ở thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Hồng Minh, nghiên
cứu tập trung vào việc đề xuất giải pháp thành lập tổ chức tư vấn hướng nghiệp, tiếp tục quản lý giáo dục thanh niên sau cai nghiện của các đội tình nguyện phòng chống tệ nạn xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh
Bài viết “Hà Nội: Sau một năm thí điểm tổ chức quản lý dạy nghề và
giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy” của tác giả Trần Việt
Trung, xuất bản năm 2008, số 326 Tạp chí Lao động – xã hội Nhìn nhận, đánh giá lại quá trình dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy, nêu lên những điểm hạn chế trong quá trình dạy nghề cho người sau cai nghiện ma túy
Đề tài, Biện hộ hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện ma túy dựa
vào cộng đồng tại tỉnh vĩnh Phúc, 2014 của tác giả Lê Thị Ngọc Ánh đã đề
Trang 17cập đến những biện pháp nhằm hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho những người sau cai nghiện tại cộng đồng, sự hỗ trợ của cộng đồng, chính quyền địa phương
Bài viết “ Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 16/2003/QH11 về việc tổ
chức, quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện- kết quả, tồn tại, bài học kinh nghiệm” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân, năm
2008, số 335, Tạp chí Lao động – xã hội Bài viết đã đưa ra kết quả bước đầu thực hiện Nghị quyết 16/2003/QH11 ở các địa phương đó là hàng vạn người
đã được cai nghiện; học tập nâng cao trình độ văn hoá, rèn luyện nhân cách; được học nghề, nâng cao tay nghề hỗ trợ tạo việc làm, bảo đảm điều kiện tái
hoà nhập cộng đồng, kết quả đạt được đã chứng minh quy trình cai nghiện
cần thiết có 2 giai đoạn: một là giai đoạn cai nghiện gồm: cắt cơn, điều phục hồi, học văn hoá, giáo dục pháp luật, dạy nghề ngắn hạn, giáo dục hành
trị-vi, nhân cách, lao động trị liệu; Giai đoạn hai là quản lý sau cai gồm: quản lý, giám sát cách ly môi trường ma tuý, dạy nghề dài hạn, nâng cao tay nghề, hỗ trợ giải quyết việc làm, tư vấn chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng
Bài viết “ Hai năm thực hiện đề án quản lý, dạy nghề và giải quyết việc
làm cho người sau cai nghiện ma túy tại thành phố Hồ Chí Minh”, 2005 Tạp
chí Lao động – xã hội
Có thể nhận thấy có khá nhiều tác giả, đầu sách, dự án nói về công tác dạy nghề và tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện ma túy, song mỗi công trình nghiên cứu đều có những hướng tiếp cận khác nhau
Tuy nhiên chưa có công trình hay đề tài nào đề cập đầy đủ, toàn diện và
có hệ thống về lĩnh vực hỗ trợ cho người cai nghiện ma túy tại trung tâm Chữa bệnh Giáo dục lao động xã hội (CBGDLĐXH) dưới góc nhìn và phương pháp tiếp cận của ngành Công tác xã hội Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề đã được đề cập trong các công trình, tài liệu nói trên, kết hợp với việc khảo sát thực tế tại Trung tâm CBGDLĐXH số IV tại xã Yên Bài, Ba Vì, TP Hà Nội đề tài này có một số đóng góp mới như sau:
Trang 18Về cách tiếp cận: Đề tài lần đầu tiên tiếp cận nghiên cứu về tình hình
cai nghiện cũng như cuộc sống của những đối tượng sau cai nghiện ma túy, điều trị tại Trung tâm Giáo dục Lao Động Xã Hội số IV, tình hình đào tạo việc làm cho học viên tại trung tâm, những mong muốn, nhu cầu của họ cho cuộc sống sau này Phương pháp trợ giúp cho nhóm đối tượng này gắn liền với các phương pháp tiếp cận và trợ giúp của ngành Công tác xã hội
Về nội dung: Trên cơ sở hệ thống lý thuyết tương đối hoàn chỉnh, đề tài
lần đầu tiên khái quát, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống về cuộc sống của những người cai nghiện ma túy tại Trung tâm, những khó khăn vướng mắc, những biện pháp trợ giúp đã được thực hiện, hiệu quả, hạn chế của những biện pháp đó.Tác giả cũng xây dựng và ứng dụng một số mô hình của Công tác xã hội với một nhóm thân chủ cụ thể nhằm phát huy tối đa tiềm năng của họ, giúp họ tự mình giải quyết vấn đề của bản thân, vươn lên hòa nhập xã hội Đề tài cũng khẳng định và nhấn mạnh về sự cần thiết phải đưa ngành CTXH vào các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, trong việc trợ giúp cho các đối tượng yếu thế nói riêng, và đặc biệt nhấn mạnh đến nhóm người nghiện ma túy, giúp họ quay trở về làm lại cuộc đời, giúp ích cho xã hội
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần phân tích và làm sáng tỏ những lý luận của CTXH khi
áp dụng vào một vấn đề cụ thể Đồng thời vận dụng những kiến thức chuyên ngành CTXH để nghiên cứu, phân tích và thiết lập mô hình trợ giúp một cách khoa học, hiệu quả cho những người sau cai nghiện ma túy Từ đó đề tài góp phần làm r hơn vai trò, ý nghĩa của CTXH trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội
Bên cạnh đó, đề tài giúp chúng ta có cái nhìn tổng hợp, khách quan và toàn diện về những vấn đề khó khăn, những nhu cầu của người cai nghiện ma
Trang 19túy sau khi cai nghiện xong và rời khỏi trung tâm, mở ra hướng tiếp cận mới trong hoạt động dạy nghề cho người cai nghiện ma túy dưới góc độ công tác
xã hội, gợi mở cho những đề tài nghiên cứu tiếp theo với quy mô lớn và sâu hơn
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khách quan, toàn diện về thực trạng cuộc sống của những người sau cai nghiện ma túy tại trung tâm, những mong muốn và nhu cầu của họ về cuộc sống sau khi ra khỏi trung tâm trở về cộng đồng, giúp ta hiểu hơn về tình cảm, nhu cầu của nhóm đối tượng này
Trên cơ sở đánh giá các hoạt động đã và đang được triển khai nhằm hỗ trợ cho người cai nghiện ma túy tại Trung tâm CBGDLĐXH số IV, đồng thời thấy được những thế mạnh và hạn chế cần khắc phục Từ đó thiết lập mô hình trợ giúp dưới góc độ ngành CTXH nhằm trợ giúp một cách có hiệu quả cho nhóm thân chủ cụ thể tại Trung tâm CBGDLĐXH số IV
Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý, nghiên cứu và hoạch định chính sách về dạy nghề cho người cai nghiện ma túy
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
số IV - Hà Nội đạt hiệu quả hơn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mô tả đặc điểm hoạt động dạy nghề cho người cai nghiện ma túy tại trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội
Trang 20Nhận diện được vấn đề khó khăn trong hoạt động dạy nghề cho các học viên cai nghiện bao gồm: những khó khăn từ phía học viên, những khó khăn
từ phía giáo viên, từ cơ sở vật chất của trung tâm
Đề xuất giải pháp với sự tham gia của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ hoạt động dạy nghề cho học viên cai nghiện ma túy tại trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Hoạt động dạy nghề cho người cai nghiện ma túy tại trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục lao động xã hội số IV- Hà Nội
5.2 Khách thể nghiên cứu
Cán bộ, người quản lý, giáo viên và các học viên sau cai nghiện ma túy tại trung tâm GDLĐXH số IV - Hà Nội
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát: học viên đã hoàn thành hai năm cai nghiện bắt
buộc tại trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu được triển khai trong thời gian từ tháng
02/2016 – 8/2016
Về nội dung nghiên cứu:
Trung tâm CBGDLĐXH số IV hiện nay đang có 3 nhóm học viên: Nhóm học viên cai nghiện bắt buộc; Nhóm học viên cai nghiện tự nguyện; Nhóm học viên đã trả qua hai năm cai nghiện bắt buộc Trong nghiên cứu này, tôi gọi họ là những “học viên sau cai nghiện” Như vậy, thuật ngữ học viên sau cai nghiện trong nghiên cứu này được hiểu là những học viên cai nghiện thuộc trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội đã trải qua thời gian hai năm cai nghiện bắt buộc
Trang 21Do hoạt động dạy nghề tại trung tâm được tổ chức chủ yếu cho nhóm học viên đã trải qua hai năm cai nghiện nên trong nghiên cứu này, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu với nhóm học viên sau cai nghiện
Hiện nay, chưa có nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) theo đúng ý nghĩa của nghề CTXH trong Trung tâm CBGDLĐXH số IV, do đó trong nghiên cứu này tôi coi cán bộ, người quản lý, giáo viên trong trung tâm CBGDLĐXH số IV – những người đang thực hiện một số hoạt động tương tự như nhiệm vụ của nhân viên CTXH là nhân viên công tác xã hội
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Những học viên đang theo học nghề tại Trung tâm CBGDLĐXH số
IV có những đặc điểm như thế nào? Đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trung tâm
CBGDLĐXH số IV như thế nào?
- Việc dạy nghề tại trung tâm CBGDLĐXH số IV đang diễn ra như
thế nào và học viên đang theo học nghề ra sao?
- Những khó khăn đối với quá trình dạy nghề và rào cản đối với quá
trình học nghề của học viên tại trung tâm CBGDLĐXH số IV là gì?
- Nhân viên CTXH có thể hỗ trợ hoạt động dạy nghề cho học viên sau
cai nghiện ma túy tại trung tâm như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động dạy nghề cho các học viên sau cai nghiện tại trung tâm CBGDLĐXH số IV đã được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề cho học viên sau cai nghiện nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, về trình độ học vấn, về sức khỏe và tâm lý của học viên…
Sự tham gia của hoạt động CTXH có khả năng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt đông dạy nghề cho người sau cai nghiện ma túy tại Trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội
8 Phương pháp nghiên cứu
Trang 228.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong đề tài này tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tài liệu trên
cơ sở có sự sàng lọc thông tin, số liệu, xem x t, phân tích cơ sở lý luận phục
vụ cho đề tài nghiên cứu thông qua phân tích báo cáo của Trung tâm, các tài liệu trên sách, báo đài, tạp chí, tài liệu chuyên ngành, các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan, Internet… Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu, đồng thời qua đó tác giả đưa ra cái nhìn mới cho mình, cách tiếp cận mới và hướng nghiên cứu mới cho đề tài của mình, góp phần làm r cơ sở lý luận và tổng quan của đề tài bao gồm:
- Các văn bản chính sách pháp luật liên quan đến vấn đề ma túy, cai nghiện ma túy, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện
- Các báo cáo của Bộ Lao động Thương binh- xã hội về tình hình dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện ở nước ta trong thời gian qua
- Các báo cáo kết quả hoạt động của Trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội: Báo cáo kết quả hoạt động của Trung tâm năm 2015; Báo cáo tổng kết năm 2015; Báo cáo công tác nhân sự, hồ sơ quản lý đối tượng…
Thông qua việc nghiên cứu tài liệu giúp người nghiên cứu có được cái nhìn khái quát nhất về hoạt động dạy nghề cho các học viên sau cai nghiện tại Trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội
Giúp người nghiên cứu có được những thông tin về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình, là nền tảng cho người nghiên cứu
Giúp người nghiên cứu nắm được thông tin ban đầu chung nhất về trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội: cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ của trung tâm; các đối tượng đang cai nghiện tại đây; nghiên cứu quy trình tiếp nhận, các hoạt động quản lý các học viên tại đây Đồng thời, nắm được tình hình hoạt động chung nhất của trung tâm: hoạt động của các cán bộ, người
Trang 23quản lý, giáo viên trong trung tâm; các nghề đang được dạy tại trung tâm; nhu cầu và thái độ của các học viên đối với việc học nghề…
8.2 Phương pháp quan sát
Trong nghiên cứu này, phương pháp quan sát được thực hiện để quan sát quá trình quan sát quá trình học nghề của học viên sau cai nghiện để thấy được những hành động, biểu hiện, mức độ hứng thú đối với việc học nghề của học viên cai nghiện trong trung tâm Ngoài ra, còn có quan sát cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy nghề, quan sát thái độ, hành vi của học viên khi tham gia các lớp học nghề
STT Đối tượng quan sát Tiêu chí quan sát
1 Cơ sở vật chất của trung tâm Các phòng ban chức năng
2 Nhân viên trong trung tâm Thái độ làm việc
3 Học viên cai nghiện học nghề
Thái độ của học viên khi học nghề, tương tác giữa giáo viên và học viên, tương tác giữa học viên
và học viên
4 Các hoạt động khác của học
viên cai nghiện
Thái độ của học viên khi tham gia các hoạt động tại Trung tâm
8.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Phương pháp trưng cầu ý kiến được sử dụng để điều tra về tình hình học nghề của các học viên, mức độ yêu thích đối với các nghề học viên cai nghiện đang theo học, cách truyền đạt kiến thức của giáo viên cũng như khả năng tiếp thu kiến thức của học viên…
Nghiên cứu được tiến hành chọn mẫu bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện với cỡ mẫu 120 người đã qua hai năm cai nghiện bắt buộc tại trung tâm (chiếm khoảng 1/3 số người sau cai nghiện ở Trung tâm)
Cơ cấu mẫu khảo sát:
Trang 24Đặc điểm mẫu Phân loại mẫu Số người Tỷ lệ(%)
Đối tượng được phỏng vấn: Học viên đã trải qua thời gian cai nghiện bắt buộc tại trung tâm, cán bộ, giáo viên dạy nghề trong trung tâm
Nội dung phỏng vấn liên quan đến vấn đề về hoạt động dạy nghề và học nghề, các nhân tố tác động đến quá trình dạy và học nghề tại trung tâm
Số lượng phỏng vấn: 12 phỏng vấn sâu, trong đó có 3 PVS dành cho cán bộ, quản lý của trung tâm, 3 PVS dành cho giáo viên dạy nghề của Trung tâm dạy nghề Ba Vì và 2 PVS dành cho giáo viên của Phòng Quản lý dạy nghề tại Trung tâm CBGDLĐXH số IV, 4 PVS dành cho các học viên sau cai nghiện đang học nghề tại Trung tâm
Trang 25NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Ma túy, người nghiện ma túy, người cai nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy
a Ma túy
Ma túy - hiểm họa của nhân loại, hiện đang là một vấn nạn trên toàn thế giới Ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân của các mối bất hòa trong gia đình mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần c ng, là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội, làm cho sự lây nhiễm HIV/AIDS có nguy cơ lan truyền rất rộng Những tác hại và hậu quả của ma túy vẫn đang tác động và gây ảnh hưởng đến tất cả chúng ta từng ngày, từng giờ
Chương trình kiểm soát ma túy của Liên Hợp quốc( UNDP) năm 1991
đã xác định: “ Ma túy là những chất có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người thì có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng”[58]
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Ma túy là bất kỳ chất gì mà khi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của
cơ thể” [58]
Theo Từ điển Tiếng Việt ( 1997) : Ma túy là “chất làm cho mê mẩn”, là tên gọi chung các chất “ gây trạng thái ngây ngất đến đờ đẫn, dùng quen thành nghiện” Như vậy ma túy có nghĩa khá rộng, bao gồm nhiều chất cho khoái cảm, có thể gây nghiện mà nhiều người vẫn dùng [57, tr.120]
Bộ luật Hình sự Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999
và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2000 quy định về ma túy như sau: Ma túy
Trang 26bao gồm: nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, lá, hoa, quả của cây cần sa, quả thuốc phiện, heroine, cocaine, các chất ma túy khác ở thể lỏng hay thể rắn
Từ những định nghĩa được đưa ra trên đây, ta có thể hiểu một cách chung nhất rằng: Ma tuý là các chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng tâm - sinh lý của cơ thể Sử dụng ma túy nhiều lần sẽ bị lệ thuộc cả về thể chất lẫn tâm lý, gây hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình và xã hội
b Người Nghiện ma túy
Theo Từ điển Tâm lý học (2008) do tác giả Vũ Dũng chủ biên:
“Nghiện ma túy là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính của cơ thể, có hại cho cá nhân và cho xã hội do dùng nhiều lần một lượng chất độc tự nhiên
và tổng hợp Nghiện ma túy có những đặc điểm như: bức xúc về mặt sinh lý muốn sử dụng lại ma túy, sự lệ thuộc của cơ thể vào chất gây nghiện Khi cá nhân ngừng sử dụng sẽ gây đau đớn, vật vã Người nghiện ma túy có khuynh hướng tăng dần liều lượng sử dụng hoặc đổi dạng ma túy mạnh hơn Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến những đặc điểm sinh lý của hiện tượng nghiện
ma túy”[19]
Từ khái niệm nghiện ma túy có thể rút ra cách hiểu về người nghiện
ma tuý như sau: người nghiện ma túy là người bị lệ thuộc đối với các chất ma túy và không thể quên hay từ bỏ được ma tuý Nếu ngừng sử dụng thì người nghiện sẽ xuất hiện hội chứng cai như: ngáp vặt, chảy nước mắt, nước mũi và buồn nôn, đau nhức mỏi cơ, khớp xương toàn thân, rối loạn tiêu hóa
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dưới các hình thức khác nhau như hút, hít, tiêm chích và bị lệ thuộc vào các chất này”[58]
Theo Luật Phòng chống ma túy số 23/2000/QH 10: “ Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị
lệ thuộc vào các chất này”[30]
Trang 27Như vậy, có thể hiểu người nghiện ma túy theo các cách định nghĩa khác nhau, nhưng nó có mấy điểm cơ bản là người nghiện ma tuý là người sử dụng lặp lại nhiều lần một chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp và bị lệ thuộc vào nó, không thể quên hay từ bỏ được nó
Xuất phát từ quan điểm trên tác giả cho rằng: “Người nghiện ma túy là người sử dụng ma túy nhiều lần, tạo cảm giác sảng khoái đặc biệt, khiến họ bị
lệ thuộc vào ma túy và không thể quên hay từ bỏ ma túy Nếu ngừng sử dụng
ma túy thì sẽ lên cơn thèm muốn không cưỡng lại được, làm mất khả năng tự chủ hành vi của bản thân”
c Người cai nghiện ma túy
Với những hậu quả, tác hại mà ma túy gây ra cho người nghiện và gia đình, xã hội… thì tất yếu phải có hoạt động cai nghiện ma tuý, đó là biện pháp giúp người nghiện ma tuý thông qua chữa trị để từ bỏ ma tuý, phục hồi sức khoẻ tinh thần và tái hoà nhập cộng đồng Thực chất “cai nghiện ma tuý”
là quá trình giải quyết sự rối loạn ba yếu tố của người nghiện (trạng thái sinh
lý, tâm lý, nhận thức và hành vi)
Liên hợp quốc đưa ra định nghĩa: “Cai nghiện là một biện pháp tổng hợp gồm các tác động về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức… nhằm điều trị giúp người nghiện ma túy cắt các hội chứng cai nghiện, phục hồi sức khoẻ
và tái hoà nhập xã hội”[63]
Trong nghiên cứu này tác giả cho rằng, người cai nghiện ma túy là những người đang trải qua các quá trình trị liệu, điều trị bằng các phương pháp khác nhau để giảm thiểu tình trạng thèm thuốc và làm cho họ dần quên
đi cảm giác thèm muốn ma túy
d Người sau cai nghiện ma túy
Trong các văn bản pháp quy hiện hành, ở Việt Nam chưa có một khái niệm chính thống nào về người sau cai nghiện ma túy Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả đi sâu nghiên cứu khách thể đã trải qua hai năm cai nghiện
Trang 28bắt buộc Đây là nhóm người được xem là người sau cai nghiện trong nghiên cứu này Những người này đã trải qua giai đoạn cắt cơn, giải độc và trị liệu phục hồi tại Trung tâm CBGDLĐXH số IV, đối với những trường hợp có nguy cơ tái nghiện cao sẽ phải ở lại trung tâm và tiếp tục điều trị theo các liệu pháp cai nghiện tiếp theo, thông thường là giai đoạn điều trị bằng liệu pháp tâm lý, giai đoạn điều trị phục hồi sức khỏe, tâm lý, sinh lý Tiếp sau đó là giai đoạn tư vấn hướng nghiệp, học nghề, giới thiệu việc làm tại các trung tâm hoặc cộng đồng[61, tr.3]
Trong nghiên cứu này, người sau cai nghiện là những người đã hoàn thành hai năm cai nghiện bắt buộc và có nguy cơ tái nghiện cao thì sẽ phải ở lại trung tâm để tiếp tục điều trị đó là những người đã cai nghiện nhiều lần mà vẫn tái nghiện, những người khi trở về cộng đồng chưa có nơi làm việc thì học sẽ phải ở lại trung tâm thêm hai năm nữa, đây chính là những người sau cai nghiện trong trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội (Theo quy định tại trung tâm, những học viên đã trải qua hai năm cai nghiện bắt buộc, khi hết hạn họ sẽ được làm hồ sơ để x t xem đã đủ điều kiện ra khỏi trung tâm chưa, đối với những người chưa từng tái nghiện lần nào và có xác nhận của cơ sở sẽ nhận người đó về làm việc sau khi rời trung tâm thì những người này đủ điều kiện để ra khỏi trung tâm sau hai năm cai nghiện)
1.1.2 Nghề, hoạt động dạy nghề, hoạt động dạy nghề cho người cai nghiện ma túy
Trang 29Theo tác giả Nguyễn Hùng thì cho rằng: “Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người”[35, tr.11]
Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm,
theo sự phân công lao động của xã hội”[ 45, tr.62]
Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra xong chưa được thống nhất, chẳng hạn có định nghĩa nêu: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội[21]
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân ) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân Nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Nghề là cơ sở giúp cho con người có “ nghiệp” - việc làm, sự nghiệp Cũng có thể nói nghề nghiệp
là một dạng lao động đòi hỏi con người phải có một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nhất định
b Hoạt động dạy nghề
Tác giả William Mc Gehee cho rằng: “Dạy nghề là những qui trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty”[22]
Trang 30Ông Max Forter(1979) đưa ra khái niệm: “Dạy nghề là đáp ứng bốn điều kiện: một là, gợi ra những giải pháp cho người học, hai là phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ, ba là tạo ra sự thay đổi trong hành vi, bốn là đạt được những mục tiêu chuyên biệt”[22]
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “Dạy nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao”[64]
Theo K.Marx công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau: Một
là, giáo dục trí tuệ; Hai là, giáo dục thể lực như trong các trường Thể dục Thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự; Ba là, dạy kĩ thuật nhằm giúp học sinh nắm được vững những nguyên lí cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất[9, tr.198]
Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11.Trong đó viết: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để
có thể tìm được việc làm hoặc từ tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”[49, tr.02]
Qua đó, ta có thể thấy Dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại
là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc Dạy nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp hoặc có thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân
Hoạt động dạy nghề trong nghiên cứu này được hiểu là hoạt động dạy
và học, là sự truyền đạt những kiến thức về lý thuyết và thực hành của thầy cô giáo đối với các nghề đang dạy cho học viên sau cai nghiện trong trung tâm CBGDLĐXH số IV, sự truyền đạt của giáo viên về kinh nghiệm, thái độ đối với mỗi nghề Hoạt động dạy nghề ở đây còn bao gồm cả thái độ của học viên
Trang 31học nghề đối với sự truyền đạt kiến thức của thầy cô giáo, sự tương tác giữa giáo viên và người học
c Hoạt động dạy nghề cho người cai nghiện ma túy
Kết hợp từ khái niệm dạy nghề và khái niệm người cai nghiện ma túy như đã trình bày ở trên người nghiên cứu xin đưa ra khái niệm về hoạt động
dạy nghề cho người cai nghiện ma túy như sau: Dạy nghề cho người cai
nghiện ma túy là một hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó cho người cai nghiện
ma túy, từ đó tạo ra năng lực cho người cai nghiện đó để người đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo
1.1.3 Nhân viên công tác xã hội, Vai trò của nhân viên CTXH
- Nhân viên công tác xã hội: Nhân viên công tác xã hội (Social
worker) được Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế IASW định nghĩa: “Nhân viên công tác xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa các cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực
Trang 32hạn chế, còn quyết định cuối cùng vẫn thuộc về thân chủ chứ nhân viên không làm hộ làm thay
- Vai trò của Nhân viên công tác xã hội: Khi nhân viên công tác xã
hội ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và đối tượng họ làm việc Theo quan điểm của Feyerico( 1973) người nhân viên công tác xã hội có những vai trò sau đây: Vai trò là người huy động nguồn lực; Vai trò là người kết nối nguồn lưc- còn gọi là trung gian; vai trò là người biện hộ; vai trò là người vận động hoạt động
xã hội; vai trò là người giáo dục; Vai trò là người tạo ra sự thay đổi; vai trò là người tư vấn; vai trò là người tham vấn; Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng; Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp; vai trò là người xử lý dữ liệu; Vai trò là người quản lý hành chính; Vai trò là người tìm hiểu, khám phá cộng đồng[32, tr.146]
Trong khuôn khổ luận văn tôi đi tìm hiểu và phân tích vai trò của giáo viên dạy nghề, văn hóa, cán bộ quản lý trong trung tâm như là một nhân viên công tác xã hội trong hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề cho học viên cai nghiện tại trung tâm GDLĐXH số IV – Hà Nội Từ chính những hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề cụ thể trong trung tâm đang triển khai sẽ giúp tôi thấy được dáng dấp của một nhân viên công tác xã hội trong đó
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu
Nội dung lý thuyết
Abraham Maslow [32, tr.165] là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học
Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục
Trang 33Theo thuyết A Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ "đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ "cơ bản” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội
Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần
Bậc thang nhu cầu của MASLOW
Mức
thấp
- Nhu cầu về an toàn xã hội như: tình yêu thương, nhà ở, việc làm, Nhu cầu về vật chất gồm nhu cầu ăn, mặc, ở
Trang 34Hình 1 : Mô hình tháp nhu cầu của A Maslow
( Nguồn:Bùi Xuân Mai(2012),Giáo trình nhập môn CTXH, NXB Lao
động xã hội, Hà Nộ, tr 165)
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ
Ứng dụng vào đề tài nghiên cứu
Sử dụng thuyết nhu cầu vào đề tài nghiên cứu để đánh giá và xếp loại những nhu cầu thiết yếu của các học viên sau cai nghiện tại trung tâm, để từ
đó có những biện pháp hỗ trợ phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của thân chủ
Tìm hiểu các nhu cầu, mong muốn của bản thân họ trong quá trình cai nghiện tại trung tâm cũng như những mong muốn sau khi rời khỏi trung tâm
để có những định hướng phù hợp cho cuộc sống của họ
1.2.2 Lý thuyết Hệ thống sinh thái
Trong tiến trình thực hành công tác xã hội nói chung nhân viên xã hội khi giúp đỡ thân chủ của mình cần áp dụng rất nhiều kĩ năng và vận dụng các
Trang 35lý thuyết như: thuyết hành vi, lý thuyết phân tâm học, thuyết nhân văn, hiện sinh… và nhiều lý thuyết khác để giải thích hành vi của thân chủ từ đó đưa ra được tiến trình giúp đỡ phù hợp mang lại hiệu quả cao
Lý thuyết Hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được vận dụng trong công tác xã hội, khi thực hiện một tiến trình giúp đỡ cá nhân không thể thiếu được lý thuyết Hệ thống bởi nhân viên xã hội cần chỉ ra thân chủ của mình đang thiếu và cần đến những hệ thống trợ giúp nào và tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp cận và tham gia các hệ thống Có làm được như vậy thì nhân viên xã hội mới thực sự hoàn thành tiến trình giúp đỡ cá nhân Chỉ khi nào thân chủ được sự giúp đỡ và tham gia các hệ thống họ mới thực sự trở lại là chính họ Đó cũng là cái đích cuối c ng mà CTXH hướng tới
Các quan điểm hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy(1971) Bertalanffy là một nhà sinh học nổi tiếng Lý thuyết của ông là một lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử, mà được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn Lý thuyết này được áp dụng đối với các hệ thống xã hội cũng như những hệ thống sinh học Sau này, lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson (1995), Mancoske (1981), Siporin (1980)
… và phát triển[ 32, tr.187]
Lý thuyết này nói lên mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm và ngược lại bởi vì các cá nhân không tồn tại một mình riêng lẻ mà phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường
xã hội trực tiếp của họ như môi trường gia đình, nhà trường, nhóm bạn bè, cơ
sở y tế… vì vậy công tác xã hội chú ý tới những hệ thống như vậy để giúp đỡ
cá nhân, nhóm có vấn đề
Trang 36Sử dụng lý thuyết hệ thống nhằm:
- Hiểu được thân chủ tốt hơn, biết được những gì tác động vào thân chủ
- Giúp thân chủ tiếp cận và sử dụng các hệ thống mà họ đang có
- Tạo dựng mối liên hệ giữa cá nhân với nhóm có vấn đề với các hệ
thống hỗ trợ
Giúp thân chủ xác định được nhiệm vụ cuộc sống, xóa bỏ rào cản của cuộc sống và có cuộc sống hạnh phúc
Ứng dụng lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu: Thuyết hệ thống
được sử dụng để đưa ra mối quan hệ tương tác giữa học viên cai nghiên tại trung tâm với cán bộ, quản lý, giáo viên dạy nghề trong quá trình dạy nghề cũng như định hướng nghề nghiệp cho học viên Từ đó đánh giá mối liên hệ nào là cần phải cải thiện để góp phần tốt hơn trong việc tìm việc làm, ổn định cuộc sống cho người cai nghiện ma túy sau khi tái hòa nhập cộng đồng
Theo Robertsons: “Vai trò là tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi
và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định”[32] Thí dụ bố phải thương con, mẹ phải hiền, chồng phải biết chăm sóc vợ, vợ phải đảm
Trang 37đang, con cái phải nghe lời bố mẹ, trò phải chăm chỉ, thầy phải nghiêm túc…Có hai loại vai trò khác nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người đều có thể thấy được Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có khi chính người đóng vai trò đó cũng không biết, thí dụ trong những gia đình không hạnh phúc, bố mẹ thường bất hòa nhiều khi đứa con nhỏ được huấn luyện để đóng vai trò người trung gian hòa giải mà chính nó và cha mẹ cũng không biết Vì một người có thể có nhiều vai trò khác nhau, những khuôn mẫu ứng xử do xã hội áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau, tạo ra khó khăn
Vì chỉ là các vai trò, người ta có thể thay đổi không tiếp tục đóng một vai trò nào đó không lành mạnh, hoặc tập đóng một vai mới tốt hơn cho cuộc sống
Sử dụng thuyết vai trò trong đề tài nghiên cứu để đánh giá vai trò của những người trong hệ thống trợ giúp đối với hoạt động dạy nghề cho những học viên cai nghiện tại trung tâm giáo dục lao động xã hội và nhấn mạnh tới
vai trò của người làm công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp này
1.3 Đặc điểm của Trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục lao động xã hội số IV
- Hà Nội
1.3.1 Quá trình hình thành Trung tâm
Dưới sự phát triển của nền kinh tế thị trường, xã hội ngày càng phát triển kéo theo các tệ nạn xã hội cũng gia tăng, trong đó có tệ nạn nghiện hút ma túy đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp Do đó việc thực thi các biện pháp phòng chống các tệ nạn ma túy, trong đó có sự đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của các cơ sở chữa bệnh nhằm ngăn chặn sự phát triển tệ nạn xã hội là một đòi hỏi khách quan và vô cùng cần thiết
Vai trò của các cơ sở chữa bệnh trong việc loại trừ dần đối tượng nghiện hút
là quan trọng và mang tính quyết định Chính vì vậy sự tồn tại và phát triển của các cơ sở chữa bệnh trong giai đoạn hiện nay là một tất yếu khách quan
Trang 38Xuất phát từ thực tế đó, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 2176/QĐ-UB ngày 2/4/2002 công nhận sự ra đời của trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội số IV thuộc Sở Lao động Thương binh và xã hội Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 2176/QĐ-UB ngày 2/4/2002 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và được đổi tên thành Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động xã hội số IV theo quyết định số 3735/QĐ-UBND ngày 20/8/2012, được bổ sung nhiệm vụ theo quyết định 3757/QĐ-UBND ngày 14/7/2014 Hiện nay, Trung tâm có trụ sở chính tại xã Yên Bài - huyện Ba Vì
- Thành phố Hà Nội Trải qua 14 năm thăng trầm phát triển, các hoạt động của Trung tâm đã dần đi vào ổn định Trung tâm CBGDLĐXH số IV- Hà Nội
có nhiệm vụ tập trung chữa trị, tổ chức giáo dục dạy nghề và tổ chức lao động sản xuất cho các đối tượng là nam nghiện hút ma túy, bị nhiễm HIV/AIDS Đội ngũ cán bộ được chú trọng bồi dưỡng để đáp ứng những yêu cầu về mặt chuyên môn, đồng thời, trung tâm cũng tranh thủ được sự hỗ trợ từ Nhà nước
và cộng đồng để đầu tư hệ thống cơ sở vật chất Thời điểm hiện tại, nếu nhìn
từ ngoài vào, chúng ta có thể thấy được sự khang trang về cơ sở vật chất của trung tâm, đáp ứng phần nào các nhu cầu của học viên cai nghiện ma túy tại đây Điều đó cho thấy, sự nỗ lực của cán bộ trung tâm trong việc đảm bảo điều kiện sống và sinh hoạt cho những đối tượng tại đây[57]
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hệ thống tổ chức bộ máy của TTCBGDLĐXH số IV – Hà Nội
1.3.2.1 Tổ chức bộ máy
Trung tâm CBGDLĐXH số IV Hà Nội được thành lập khá lâu, qua nhiều năm tổ chức bộ máy cán bộ trong trung tâm có nhiều thay đổi theo hướng nâng cao về số lượng và chất lượng Theo Quy chế làm việc của Trung tâm CBGDLĐXH số IV (Ban hành kèm theo quyết định số 576/QĐ - CBGDLĐXH
IV ngày 22/10/2013 của Giám đốc Trung tâm CBGDLĐXH số IV)
Hiện tại trung tâm có tổng số 141 cán bộ được biên chế như sau:
Ban Giám đốc gồm có 3 người: 1 giám đốc và 2 Phó Giám đốc
Trang 39Phòng Tổ chức hành chính có 38 người, trong đó có 1 trưởng phòng và 2 phó phòng Phòng Tổ chức hành chính được chia thành 2 tổ phụ trách hai mảng công việc khác nhau đó là tổ tiếp dân, văn phòng và tổ cấp dưỡng, phụ trách đến vấn đề ăn uống sinh hoạt của toàn bộ cán bộ trong Trung tâm cũng như đời sống của học viên cai nghiện
Phòng Quản lý giáo dục của trung tâm có 58 người, trong đó có 1 trưởng phòng và 2 phó phòng Phòng Quản lý giáo dục chia làm 5 đội quản lý học viên và 02 tổ: Tổ Giáo dục, tuyên truyền, Tổ Quản lý hồ sơ học viên
Phòng Y tế phục hồi sức khỏe có 15 người, trong đó có 1 trưởng phòng
và 1 phó phòng Phòng y tế cũng được chia thành 2 tổ đó là tổ chuyên môn và
tổ quản lý học viên
Phòng Dạy nghề lao động sản xuất có 10 người, trong đó có 1 trưởng phòng
và 1 phó phòng Trong phòng có 02 tổ: Tổ tăng gia sản xuất và Tổ cơ khí
Phòng bảo vệ có 18 người, được chia thành các tổ đội khác nhau, mỗi đội
sẽ có 1 đội trưởng và 1 đội phó Phòng Bảo vệ được chia thành nhiều vị trí trực vòng trong và vòng ngoài đơn vị
Giám đốc Trung tâm do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội Phó Giám đốc Trung tâm do Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội Hà Nội bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Trung tâm
và trưởng phòng Tổ chức đào tạo Sở
Mỗi phòng có 01 trưởng phòng và 01 đến 02 phó trưởng phòng do Giám đốc Trung tâm bổ nhiệm theo quy chế quản lý cán bộ, công chức của
Sở Lao động Thương binh và xã hội Hà Nội
Mỗi đội có 01 đội trưởng và 01 đội phó Mỗi tổ có 01 tổ trưởng
Biên chế của Trung tâm do Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định trên
cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội Hà Nội
Trang 40Biên chế của các phòng nghiệp vụ do Giám đốc Sở quyết định trên cơ sở đề
nghị của Giám đốc Trung tâm
Hình 2: SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC BỘ MÁY
1.3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận của trung tâm
Mỗi một bộ phận trong trung tâm có những chức năng, nhiệm vụ riêng
và đều phải có trách nhiệm chung trong việc duy trì hoạt động của trung tâm
Ban Giám đốc: Quản lý, chịu trách nhiệm chung về mọi mặt hoạt động của đơn vị
Ban Giám Đốc Trung tâm gồm 03 người, bao gồm 01 Giám Đốc và 02 Phó Giám Đốc Trong đó Giám đốc là ông Hoàng Văn Luật, là người lãnh đạo cao nhất, có quyền ra quyết định về các vấn đề của Trung tâm Giám đốc đại diện cho Trung tâm trong các hoạt động đối ngoại, đồng thời chịu trách nhiệm pháp lý về toàn bộ các hoạt động của Trung tâm trước pháp luật và cơ quan pháp lý cấp trên
Có hai Phó giám đốc phụ trách hai lĩnh vực công việc khác nhau đó là:
Phó Giám Đốc
Phòng
tổ chức hành chính
Phòng bảo vệ
SX
Phòng
y tế- Phục hồi sức khỏe Giám Đốc
Phó Giám Đốc