1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ (1969-1975): Luận văn ThS. Lịch sử: 60 22 54

182 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 10,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự can thiệp trực tiếp và phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ, mối quan hệ giữa Việt Nam Cộng hòa với Hoa Kỳ được xác lập.. Nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam Cộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

====

PHAN HẢI VÂN

QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HÒA - HOA KỲ

(1969 – 1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

====

PHAN HẢI VÂN

QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HÒA - HOA KỲ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

***

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Những đánh giá, nhận định trong luận văn được tôi nghiên cứu trên những tư liệu xác thực

Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2013

Tác giả luận văn

Phan Hải Vân

Trang 4

MỤC LỤC BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU …1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn sử liệu 12

6 Đóng góp của Luận văn 13

7 Bố cục của Luận văn 13

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HÒA - HOA KỲ (1954 - 1969) 14

1.1 Sự xác lập quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ 14

1.1.1 Sự khởi đầu từ chống phá Hiệp định Genève 14

1.1.2 Liên minh “chống Cộng” 1956 – 1960 16

1.2 Quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh đặc biệt 1961 – 1965 21

1.2.1 Chiến lược Chiến tranh đặc biệt và sự gia tăng viện trợ và cố vấn Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa 21

1.2.2 Thất bại của Chiến tranh đặc biệt và ảnh hưởng của nó đến quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ 25

1.3 Chiến tranh cục bộ - bước ngoặt trong quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ 27

1.4 Sự kiện Mậu thân 1968 và ảnh hưởng của nó đối với quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ 30

Chương 2: QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HÒA – HOA KỲ TRONG THỜI KỲ “VIỆT NAM HÓA” CHIẾN TRANH (1969-1973) 35

Trang 5

2.1 Phi Mỹ hóa, “Việt Nam hóa” chiến tranh và sự rạn nứt trong quan hệ Việt

Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ 35

2.1.1.Mỹ rút quân về nước 35

2.1.2 Quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ những năm 1969 - 1972 40

2.2 Quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ dưới tác động của bàn đàm phán Paris 45

2.2.1.Quá trình đàm phán và phản ứng của Việt Nam Cộng hòa 45

2.2.2 Hiệp định Paris - tác động của nó đối với quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ 57

Chương 3: QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HÒA - HOA KỲ (1/1973 - 4/1975) 71

3.1.Tình hình sau Hiệp định Paris 71

3.1.1 Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ 71

3.1.2 Việt Nam Cộng hòa và quá trình thi hành Hiệp định 77

3.2 Quan hệ Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ sau sự kiện Phước Long 79

3.2.1 Sự kiện Phước Long 79

3.2.2 Thái độ của Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ 82

3.3 Sự kiện Buôn Ma Thuột và tác động của nó đối với quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ 86

3.3.1 Sự kiện Buôn Ma Thuột và cuộc triệt thoái khỏi Tây Nguyên 86

3.3.2 Quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ từ sau sự kiện Buôn Ma Thuột 90

3.4 Quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh 96

3.4.1 Hồi kết của quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ 96

3.4.2 Kế hoạch di tản và những toan tính “thời hậu chiến” của Hoa Kỳ 98

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 125

Trang 6

Việt Nam Cộng hòa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho Nam Việt Nam 18

Bảng 1.2: Viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ cho Nam Việt Nam 23

Bảng 1.3: Quân số Mỹ và Đồng Minh tại miền Nam Việt Nam 28

Bảng 3.4: Quân số Mỹ tại miền Nam 71

Bảng 3.5: Viện trợ nhập cảng CIP 74

Bảng 3.6: Số tiền đô-la đổi sang tiền đồng VN thu được 75

Bảng 3.7: Viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 1973 - 1975 76

Bảng 3.8: So sánh tiến trình quân viện Mỹ cho Việt Nam và Do Thái 93

Trang 8

Trong quá trình làm Luận văn thạc sĩ, tôi nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan đơn vị: Thư viện Quân đội, Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Phòng tư liệu Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Viện Lịch sử Quân sự, Ban Biên tập Tạp chí Lịch sử Quân sự, đặc biệt là Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Kim, người hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi rất nhiều để bản Luận văn thạc sĩ được hoàn thành Tôi xin xảm ơn quý Thầy Cô trong Khoa, Bộ môn Lịch

sử Việt Nam Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã dạy dỗ và dìu dắt tôi trong suốt thời gian từ ngày đầu vào Trường đến hôm nay

Dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do kiến thức và phương pháp nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô và các bạn học viên

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử chiến tranh hiện đại đã ghi nhận Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hay Chiến tranh Việt Nam là một trong những cuộc chiến tranh dài nhất, khốc liệt nhất, để lại những dấu ấn hằn sâu trong dư luận và tâm trí của nhân loại thế kỷ XX

Những dấu ấn đó có nhiều chiều và nhiều ý nghĩa khác nhau: Là niềm tự hào của người chiến thắng, là sự bẽ bàng và khủng hoảng trong đời sống chính trị, tinh thần của những chính khách hiếu chiến ở Mỹ, là sự day dứt nơi những người đã từng tham gia quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa “Một cuộc chiến tranh với 6,5 triệu lượt binh sĩ Mỹ trực tiếp tham chiến, lúc cao nhất tới 68% bộ binh, 60% lính thủy đánh bộ, 32% lực lượng không quân chiến thuật, 50% lực lượng không quân chiến lược Mỹ, chưa kể hơn 1 triệu quân ngụy và quân các nước đồng minh, gần 8 triệu tấn bom đạn; một cuộc chiến tranh lôi kéo đến 39 quốc gia và vùng lãnh thổ trực tiếp hoặc gián tiếp đứng về phía chống lại Việt Nam, liên tiếp 6 đời tổng thống cùng theo đuổi một mục đích thôn tính miền Nam, và thậm chí là muốn đẩy miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá, chi gần 700

tỉ đô-la, huy động 22 ngàn xí nghiệp với 6 triệu công nhân công nghiệp, hơn một phần ba tổng số nhà khoa học, 260 trường đại học tham gia nghiên cứu chế tạo các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh…, nước Mỹ chỉ thu về được một cơn địa chấn tâm lý - xã hội kéo dài nhiều thập kỷ” [5, tr.7]

Cùng với sự can thiệp trực tiếp và phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ, mối quan hệ giữa Việt Nam Cộng hòa với Hoa Kỳ được xác lập Mối quan hệ “đồng minh” đó đã trải qua những bước thăng trầm trước khi chấm dứt cùng với sự sụp đổ của thể chế Việt Nam Cộng hòa

 Để tôn trọng giá trị nguyên bản một số nguồn tư liệu, tác giả xin sử dụng danh từ “Chiến tranh Việt Nam” trong một số trường hợp

Trang 10

Hơn hai thập kỷ, quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ có tác động mạnh

mẽ đến cuộc chiến ở Việt Nam cũng như tình hình nội bộ của Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ trên tất cả các bình diện Mối quan hệ đó có những thời kỳ

“thăng hoa”, nhưng cũng có thời kỳ rạn nứt, băng giá bởi sự căng thẳng nghi ngờ lẫn nhau, đặc biệt là trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Đã có không

ít câu hỏi được đặt ra: tại sao mối quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ vốn

“gắn bó mật thiết” như vậy lại có thể xấu đi một cách nhanh chóng kể từ khi Hiệp định Paris được ký kết? Phải chăng Việt Nam Cộng hòa đã bị Hoa Kỳ bỏ rơi? Và có phải chính sự xấu đi trong mối quan hệ đó là nguyên nhân chính đưa đến kết cục bi thảm của cuộc chiến như lý giải của Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lĩnh Sài Gòn?

Bởi những dấu ấn sâu sắc mà chiến tranh để lại nên đã hơn 35 năm kể từ ngày kết thúc cuộc chiến nhưng vẫn còn đó một “cuộc chiến” trong cách luận giải về nguyên nhân thất bại cũng như một số vấn đề thuộc về hoặc liên quan đến cuộc chiến ở Việt Nam Đặc biệt những nhận định, đánh giá về mối quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ cũng như tác động của nó đối với việc kết thúc chiến tranh ở Việt Nam vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau

Nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ từ khi Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, bắt đầu rút dần quân khỏi chiến trường Việt Nam cho đến ngày chính quyền Sài Gòn sụp đổ nhằm góp phần lý giải rõ hơn diễn biến, bản chất của cuộc chiến tranh xâm lược mà Mỹ đã tiến hành ở miền Nam Việt Nam và nguyên nhân thất bại của nó cũng như giúp chúng ta hình dung rõ nét hơn về những bước thăng trầm của mối quan hệ đồng minh hơn 20 năm Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ cho chúng ta thấy được sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng hòa thời kỳ này cũng chỉ là một trong những tác nhân dẫn đến sự sụp đổ của cái thực thể mà sống chủ yếu vào ngoại viện Quan

hệ Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ giai đoạn 1969 - 1975 còn cho thấy tác động của nó trên bình diện quan hệ quốc tế Qua đó, có thể rút ra được một số kinh

Trang 11

nghiệm về các mối quan hệ song phương, đa phương trong thời kỳ hội nhập và phát triển hiện nay

Mặc dù đã có hàng trăm, hàng nghìn công trình nghiên cứu khoa học về cuộc chiến tranh Việt Nam, trong đó có những công trình đề cập đến mối quan

hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ Nhưng sự hiểu biết về cuộc chiến tranh ấy, về mối quan hệ Đồng minh đó vẫn chưa thể gọi là đầy đủ, thấu đáo Nhiều bí mật liên quan đến mưu toan, kế sách, sự kiện, diễn biến thực tế của phía bên kia vẫn còn ẩn sâu đâu đó trong các tài liệu, trong trí nhớ của những người trong cuộc Làm lộ diện những bí mật ấy không chỉ để phục dựng đầy đủ hơn lịch sử cuộc chiến tranh đang mờ dần về quá khứ, mà còn để từ đó tìm ra những bài học lịch

sử cho ngày hôm nay, khi mà hàng ngày, loài người vẫn đang còn phải đối diện với nguy cơ chiến tranh

Từ nhận thức trên, chúng tôi mạnh dạn chọn “Quan hệ Việt Nam Cộng

hòa - Hoa Kỳ (1969 – 1975)” làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về Chiến tranh Việt Nam nói chung, quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa

Kỳ nói riêng đã có không ít công trình đề cập, nghiên cứu Nhiều tài liệu đã được giải mật, công bố, nhiều cuốn sách đã được xuất bản, một số luận văn thạc

sĩ, luận án tiến sĩ và bài nghiên cứu đăng tải trên các báo, tạp chí viết về những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), thậm chí có cả hồi ký của những người từng tham gia cuộc chiến ở những vị trí khác nhau với tư cách là nhân chứng

Trong số những công trình của các nhà nghiên cứu viết về đề tài chiến tranh Việt Nam và những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ Việt Nam Cộng

hòa với Hoa Kỳ có thể kể đến như: “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” của

Gabriel Kolko viết từ năm 1964 khi cuộc chiến đang tiếp diễn, xuất bản năm

1985 tại New York, sau đó được dịch sang tiếng Việt và đã tái bản lần 3 (Nxb

Trang 12

Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003) Dựa vào những tài liệu mới và những năm quan sát tại chỗ ở Washington, Paris và những chuyến thăm Việt Nam, Gabriel Kolko đã phân tích chi tiết, sâu sắc các đối tượng trong cuộc chiến tranh; đồng thời trình bày triển vọng chiến lược chiến tranh của Mỹ và lập luận rằng mọi sự can thiệp của Mỹ trong tương lai chắc chắn sẽ phải chịu kết quả tai hại như ở Việt Nam Đây là công trình phong phú về tư liệu, rất sinh động và hấp dẫn về một cuộc chiến tranh có tác động sâu sắc đến toàn thế giới; vào thời điểm đó, có thể được coi là một điểm then chốt để bắt đầu tất cả các cuộc thảo luận sau đó về Chiến tranh Việt Nam Có ý kiến cho rằng, cuốn sách của Gabriel Kolko là một công trình “hợp thời”, “thiết tha”, “thúc giục” và “gợi cảm” mà bất cứ người nào quan tâm đến vai trò quá tự cao tự đại của Mỹ hay một nhà nghiên cứu nghiêm túc nào về cuộc chiến tranh Việt Nam trên thế giới cần phải đọc

Thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX xuất hiện một số công trình nghiên cứu mang tính chất nhìn nhận lại vấn đề lịch sử một cách khách quan hơn Ví

như: “Cuộc tháo chạy tán loạn” (Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1985) của Frank Snepp

- một chuyên viên phân tích chiến lược CIA (Mỹ) Cuốn sách viết về những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn, những phản ứng của cố vấn Mỹ trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trong mùa xuân lịch sử 1975 Với

tư cách là một nhân viên tình báo CIA đã từng làm việc nhiều năm tại Việt Nam, Frank Snepp đã phân tích khá chi tiết về sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự tháo chạy của người Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam vào tháng 4 - 1975 Đứng ở toà đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, được quan sát, nghe những thông tin nóng hổi nhất trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, tác giả đã ghi lại và phơi bày trước công luận những sự thật của lịch sử về thất bại và sự di tản nhục nhã của Mỹ ở Việt Nam Cuốn sách lôi cuốn, hấp dẫn này cho chúng ta thấy chân dung một loạt tướng tá và chính khách cấp cao của Mỹ - Việt Nam Cộng hòa giống như những

“con rối” của thời cuộc

Cũng đề cập về khoảng thời gian cuối cùng của chế độ Sài Gòn, cuốn

“Những ngày cuối cùng của Mỹ - Thiệu ở Sài Gòn” của Arnold R Isaac và

Trang 13

M.Martin (Sở văn hoá thông tin Đồng Tháp, 1985) đã trình bày một cách tóm tắt

sự khủng hoảng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của chiến tranh Trong đó, sự ra đi của người Mỹ và tháo chạy của các tướng tá, quân lực Việt Nam Cộng hòa được xem là một điểm nhấn của lịch sử

Về quá trình phát động và can thiệp của Mỹ vào vấn đề Việt Nam đã

được tác giả Peter A.Poole diễn tả một cách rõ nét trong cuốn “Nước Mĩ và

đông dương từ Ru-dơ-ven đến Nich-xơn” (Nxb Thông tin, Hà Nội, 1986) Cuốn

sách trình bày các chính sách của 6 đời tổng thống Mỹ từ Roosevelt đến Nixon Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến ý đồ của Mỹ cấu kết với một số nước (đặc biệt là Trung Quốc) nhằm ngăn chặn sự phát triển của các lực lượng Cách mạng trong khu vực Đông Dương

Cuốn “Từ tòa Bạc Ốc đến Dinh Độc Lập” (tối mật - tài liệu mật chưa

công bố), Nguyễn Tiến Hưng, Jerrold L.Schecter (Nxb Trẻ, 1990) Tác giả Nguyễn Tiến Hưng - nguyên là Tổng trưởng Kế hoạch của chính phủ Việt Nam Cộng hòa từ năm 1973 đến 1975 (là người nắm hồ sơ, văn thư mật liên quan đến cam kết giữa hai tổng thống Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ) cùng với sự góp sức chủ bút ngoại giao của tờ Time -Jerrold L.Schecter đã công bố những hồ sơ mật này để minh chứng cho sự phản bội của Hoa Kỳ đối với đồng minh Nam Việt Nam Qua đó, tác giả cũng khẳng định rằng chính sự phản bội của Hoa Kỳ đã dẫn tới kết cục bi thảm của Việt Nam Cộng hòa trong biến cố năm 1975

Từ quan điểm của một người tham gia trực tiếp với cương vị là một chỉ huy

quân tình báo tại Việt Nam - Philip B Davidson trong cuốn “Những bí mật của

cuộc chiến tranh Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995) đã nhìn nhận

đánh giá lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam Trong đó, tác giả đã phân tích khá sâu một số vấn đề về chiến lược chiến tranh cách mạng nhân dân của Việt Nam, về cuộc tấn công Mậu Thân 1968; nguyên nhân thất bại của Mỹ, đồng thời cũng đưa ra một số giả thiết - những điều Mỹ cần làm để có được chiến thắng

Những năm gần đây có thêm nhiều công trình được công bố, chủ yếu dựa trên những tài liệu mới được phía Hoa Kỳ giải mã

Trang 14

Cuốn “Không hòa bình, chẳng danh dự” (Nixon, Kisingger và sự phản

bội ở Việt Nam) của Larry Berman (Nxb Việt Tide, 2003) - Giám đốc Trung tâm Washington (Đại học California) là một trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu về việc khai thác những nguồn tài liệu được giải mã Trong đó, tác giả

đã công bố những tư liệu chưa từng được biết đến qua các tài liệu vừa giải mật Cuốn sách đề cập nhiều vấn đề liên quan đến cuộc đàm phán về hòa bình tại Việt Nam Sau gần 5 năm đàm phán, Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-

1973 buộc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam mở đầu cho sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu công phu, thể hiện tính nghiêm túc, cẩn trọng trong cách đánh giá của tác giả và là công trình có giá trị

về nguồn tư liệu, rất đáng được tham khảo

Cuốn “Kinh tế miền Nam Việt Nam 1955-1975” của Đặng Phong (Nxb

Khoa học xã hội, 2004) đã giới thiệu khá toàn diện về bối cảnh quân sự và chính trị của miền nam Việt Nam thời kỳ 1955 - 1975 Tác giả đã phác họa bức tranh tổng thể về kinh tế của Việt Nam Cộng hòa dưới sự viện trợ của Mỹ; đồng thời, nhiều phần tác giả tập trung phân tích so sánh, kinh tế, đời sống vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát và kinh tế, đời sống vùng giải phóng Những số liệu thống kê viện trợ Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa về kinh tế, quân sự của tác giả trong chiến tranh đã giúp người đọc có thể hình dung được phần nào về mối quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ

Nền hòa bình mong manh - Washington, Hà Nội và tiến trình của Hiệp định Paris (“A Bitter Peace (Hòa bình cay đắng) - Washington, Hanoi and the

Making of the Paris Agreement”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005) của Pierre Asselin Với nguồn tài liệu chắt lọc, có giá trị tham khảo, cuốn sách đã tập trung trình bày quá trình đàm phán Hiệp định Paris kéo dài hơn 4 năm giữa những nhà ngoại giao của Hà Nội và Washington Thông qua việc chia quá trình đàm phán thành sáu giai đoạn, tác giả đã đi sâu phân tích bối cảnh, tình hình của mỗi bên trong từng giai đoạn, từ đó làm rõ động cơ, ý đồ chiến lược của mỗi bên trong từng thời điểm Đồng thời nêu lên tình hình cuộc chiến ở Việt Nam sau

Trang 15

Hiệp định Paris 1973 - 1975 Trong cuốn sách, tác giả đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác nhau và phương pháp tiếp cận cũng rất riêng nên có một

số tư liệu được trích dẫn chưa khớp với tài liệu mà các nhà khoa học Việt Nam

đã có Đồng thời, khi luận chứng về một số vấn đề, nhân vật, sự kiện như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, cuộc tập kích bằng không quân chiến lược 12 ngày đêm của Mỹ ở miền Bắc tác giả đã có điểm khác biệt trong cách nhìn nhận và đánh giá Tuy nhiên đây cũng chỉ là quan điểm riêng của tác giả

Năm 2007, Nxb Công an nhân dân đã cho ra mắt độc giả cuốn “Hồ sơ

Chiến tranh Việt Nam” (tiết lộ bí mật của chiến lược thời kỳ Nich-xơn) của

Jeffrey Kimball - một cuốn sách được trình bày khá sinh động Bao gồm nhiều chứng cứ được tổng hợp, đồng thời tác giả đi sâu phân tích các chính sách của chính quyền Nixon về chiến tranh Việt Nam, những cuộc đàm phán bí mật ở Paris giữa Henry Kissinger với Lê Đức Thọ cùng các quan hệ Hoa Kỳ - Liên Xô

- Trung Quốc trong giai đoạn này trong bối cảnh chung của lịch sử thế giới

Bên cạnh đó còn có hồi ký của các tướng lĩnh, quan chức cao cấp của Việt Nam Cộng hòa, những cuộc phỏng vấn trực tiếp với các nhân vật liên quan sau khi chiến tranh đi qua một thời gian khá dài, họ có thời gian để suy nghiệm, đánh giá lại lịch sử Đây cũng là nguồn tư liệu đáng quý

“Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa” (Nxb

Vietnambibliography, C.A, 2003) của Đại tướng Cao Văn Viên - nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Cộng hòa Cuốn sách cung cấp nhiều chi tiết về các hoạt động quân sự của hai bên Bắc và Nam Việt Nam sau ngày ngừng bắn của Hiệp định Paris Trong cuốn sử liệu này, tác giả đề cập về thực trạng sự thiếu thốn quân dụng và vũ khí của Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn cuối của cuộc chiến cũng như bàn một vài vấn đề về sự sụp đổ của một quân đội, một quốc gia đã hiện hữu hơn hai mươi năm Đây là một trong những quyển sách có giá trị về số liệu, được nhiều sử gia hiện đại dùng để trích trong nhiều sách biên khảo về quân sự và quân sử

Trang 16

Cuốn “Khi Đồng minh tháo chạy” của Nguyễn Tiến Hưng (Csxb Hứa

Chấn Minh, C.A, 2005) - cựu Tổng trưởng Kế hoạch của chính phủ Việt Nam Cộng hòa từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về vấn đề tái thiết kinh tế của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu - người có quan hệ thân thiết và cũng là người từng sát cánh với vị Đại sứ Hoa Kỳ cuối cùng tại miền Nam Việt Nam Graham Martin Sau ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, từ các tướng lĩnh miền Nam cho đến những anh binh nhì và thường dân đều có một lý giải rất rõ ràng và rất cay đắng

về cuộc chiến: “Miền Nam thua vì Mỹ bỏ cuộc” Hoa kỳ đã bỏ miền Nam ra sao? Mỗi người đều có một cách “hiểu” và diễn giải của riêng mình Và điều gì

đã xảy ra vào những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến? Đoàn người di tản

đã rời Việt Nam như thế nào? Quan trọng hơn, những bức thư giữa Tổng thống Nixon và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã bị Henry Kissinger giấu nhẹm thế nào? Cuốn sách này của Nguyễn Tiến Hưng cho mọi người một cái nhìn tổng quát về những vấn đề trên với tư cách của người trong cuộc

“Những cuộc đàm phán về hòa bình Việt Nam” của Nguyễn Phú Đức

(Nxb Công an nhân dân, 2010) cũng là cuốn sách có giá trị tham khảo, cung cấp nhiều tư liệu đáng quý từ phía bên kia Với cương vị là Cố vấn đặc biệt chuyên về đối ngoại trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Chính quyền Sài Gòn, tác giả đã tham gia tất cả các cuộc thương lượng về hòa bình trong suốt tám năm liên tục dưới thời Chính quyền Johnson cũng như dưới Chính quyền Nixon Qua những trang viết đã cho chúng ta biết các cuộc thương lượng kéo dài, không kém phần căng thẳng giữa chính quyền Sài Gòn và Hoa Kỳ từ trước khi chấm dứt ném bom miền Bắc dưới thời Johnson cho đến lúc chấm dứt hoạt động quân sự của Mỹ tại Nam Việt Nam để đổi lấy Hiệp định Paris Tác giả đưa ra một sự phân tích rằng Hiệp định Paris là kết quả của một chuỗi thất vọng, một nửa sự thật, hoặc dối trá hoàn toàn đi đôi với hứa hẹn suông, hăm dọa và cuối cùng là phản bội đồng minh Việt Nam Cộng hòa của Mỹ Và tác giả cũng cho rằng Hiệp định Paris đã đặt Hoa

Kỳ vào vị thế kẻ xâm lược, phải đơn phương rút quân, triệt phá các căn cứ quân

sự, chấp nhận tôn trọng chủ quyền Việt Nam… đánh dấu một thất bại trong lịch

sử ngoại giao của Hoa Kỳ

Trang 17

Những công trình nghiên cứu của Đảng, Nhà nước và đặc biệt là hồi ký của các vị tướng từng tham gia chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu

“Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học” của Ban chỉ đạo chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1995) có nội dung chủ yếu là tổng kết quá trình đấu tranh của quân, dân ta trong thời kỳ lịch sử hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ Đồng thời, khẳng định thắng lợi là kết quả của sự đoàn kết, đồng lòng của cả dân tộc

và chiến thắng luôn thuộc về phía chính nghĩa Cuối cùng rút ra những kinh nghiệm từ những bài học của Đảng trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng

“Cuộc kháng chiến chống Mỹ” (Hồi ký, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991) và

“Đại thắng mùa xuân” (tái bản 2005, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật) của Đại

tướng Văn Tiến Dũng Hai cuốn sách có đề cập về chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và “học thuyết Nich xơn” trong cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân ta giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Nêu một số vấn đề về nghệ thuật chỉ đạo kết thúc cuộc Kháng chiến chống Mỹ của Đảng ta Qua đó thấy rõ sự chỉ đạo với tài thao lược, tính kiên quyết, tư tưởng cách mạng tiến công, tính độc lập, sự đấu trí thông minh của Đảng, nhân dân và quân đội ta để dẫn đến sự toàn thắng

Cuốn “Nhà trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”, Trần Trọng

Trung (Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2005) Tác giả trình bày quá trình can thiệp và trực tiếp xâm lược Việt Nam, điều hành chiến tranh và những thất bại của Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và bộ ngoại giao Hoà Kỳ ở chiến trường Việt Nam và trong lòng nước Mỹ Bên cạnh đó tác giả cũng đề cập về quá trình xây dựng chính quyền Sài Gòn thành đồng minh của Mỹ để thực hiện cuộc chiến tranh tại Việt Nam

Về “Đại thắng mùa xuân năm 1975” (qua tài liệu của chính quyền Sài

Gòn) của Bộ Nội vụ, Cục văn thư và lưu trữ nhà nước, Trung Tâm lưu trữ Quốc gia II (Nxb Chính trị Quốc gia, 2010) được hoàn thành khi vừa tròn 35 năm kể

từ khi cuộc Kháng chiến chống Mỹ kết thúc Cuốn sách bao gồm 3 chương trong

đó được các tác giả biên soạn, tuyển chọn trên cơ sở tập hợp những tài liệu của

Trang 18

chính quyền Sài Gòn thu thập, ghi chép những sự kiện lịch sử diễn ra trong giai đoạn từ khi Hiệp định Paris năm 1973 được ký kết đến kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975 Cho dù là tư liệu của bất kỳ bên nào nếu chỉ dựa một phía thì không thể phản ánh đầy đủ về biên niên sự kiện, về nguyên nhân thất bại và những thương vong, tổn thất của cuộc chiến tranh để lại Nhưng lịch sử luôn được quy chiếu trên cơ sở các sự kiện và

sự thật, do vậy, qua tư liệu mà chính quyền Sài Gòn và báo chí phía bên kia để lại được chắt lọc trình bày trong cuốn sách là có giá trị tham khảo, giúp cho người đọc có được thêm tư liệu theo hướng tiếp cận khác, qua đó càng hiểu thêm về cuộc chiến ở Việt Nam

Ngoài những công trình nghiên cứu, các xuất bản phẩm trên đây, còn có nhiều bài viết được đăng trên các báo, tạp chí ít nhiều có đề cập đến những nội dung thuộc về hoặc liên quan đến mối quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ

trong chiến tranh Việt Nam ở nhiều góc độ khác nhau: “Vừa đánh, vừa đàm

trong chống Mỹ, cứu nước” (Phan Hiển, tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 1, 1988); Những chấn động dữ dội trong lòng nước Mỹ, (Hồ Khang, Tạp chí Lịch sử quân

sự, tháng 8, 1988); “Hà Nội - Sài Gòn - Washington xuân 1975”, Trần Trọng Trung, Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 2, 1990); “Thử giải trình “Mỹ hóa” “Việt

Nam hóa” chiến tranh” (Hồ Khang, Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 4, 1992);

“Mỹ - Ngụy đẩy mạnh bình định lấn chiếm sau Hiệp định Pari, 1973 - 1974” (Trần Quốc Trung, Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 2, 1993); “Quân Mỹ vào, Quân Mỹ

ra” (Nguyễn Quốc Dũng, Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 1, 1993); “Cuộc chiến tranh Việt Nam và nước Mỹ” (Nguyễn Thái Yên Hương, Nghiên cứu lịch sử, số

4, 2005); Cam kết - phi cam kết: chính sách của Mỹ về “vấn đề Việt Nam” và

những ngày cuối cùng của chính quyền Sài Gòn (Nguyễn Văn Kim, Hội nghị

cấp cao Á - Âu lần thứ 5, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005); “Hòa Đàm

Paris - chính sách hai mặt “Cậy gậy và củ cà rốt” của R.Nixon và H Kissinger”

(Nguyễn Mạnh Hà, Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 6, 2008); “Quan hệ Mỹ -

Thiệu trong giai đoạn cuối của cuộc hòa đàm Paris về Việt Nam” (Vũ Dương Ninh,

Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 3, 4, 2008)

Trang 19

Tuy nhiên, đến nay, qua quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các

ấn phẩm của những bên tham chiến đã viết về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy một điều là chưa có một công trình chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu một cách

có hệ thống về quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ giai đoạn 1969 - 1975

Mặc dù vậy, những xuất bản phẩm, những công trình nghiên cứu và tài liệu đã được công bố nói trên luôn là những tư liệu quan trọng giúp chúng tôi

tiếp tục đi sâu nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Đề tài nghiên cứu nhằm phục dựng lại một cách toàn diện và khách quan

về mối quan hệ “đồng minh” giữa Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam; lý giải nguyên nhân thất bại trong chiến tranh, sụp đổ của của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự kết thúc trong quan hệ với “đồng minh” - Hoa Kỳ Bước đầu rút ra một số nhận định về bản chất của quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ và một số bài học kinh nghiệm từ mối bang giao này

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung hướng đến giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài và cuộc chiến tranh Việt Nam

- Mô tả lại một cách khách quan, toàn diện mối quan hệ giữa hai chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ từ lúc khởi đầu, hưng thịnh tới suy vi

- Phân tích một số mặt cụ thể biểu hiện mối quan hệ giữa hai chính quyền trong bối cảnh cụ thể của cuộc chiến tranh Việt Nam Rút ra một số ý kiến nhận xét, đánh giá và nêu lên bài học kinh nghiệm cho quá trình hợp tác quốc tế trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ (1969 - 1975) và những ảnh hưởng của nó đối với cuộc chiến tranh

Trang 20

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu Quan hệ giữa Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ là vấn đề phức tạp và rộng lớn Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sĩ, chúng tôi giới hạn trong việc khôi phục lại diện mạo cơ bản của quan hệ Việt Nam Cộng hòa -

Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chủ yếu: chính trị, ngoại giao, quân sự và kinh tế

Thời gian đề tài tập trung nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 6 năm (1969 - 1975)

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn sử liệu

Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:

Sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic là chủ yếu kết hợp với phân tích, so sánh, tổng hợp

- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi chúng tôi xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự kiện, vấn đề theo một trình tự liên tục về thời gian

để làm rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh của mối quan hệ hai nước Đồng thời trình bày các vấn đề nhiều mặt, biểu hiện của chúng để làm sáng tỏ các mối quan hệ, đa dạng, phức tạp đó

- Phương pháp logic, kết hợp, xâu chuỗi các sự kiện một cách linh hoạt

để có thể trình bày vấn đề một cách tương đối đầy đủ, hệ thống Đồng thời, qua

đó xác định độ tin cậy và giá trị của các sự kiện cũng như làm rõ được mối quan hệ phức tạp, đa chiều của Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp sử dụng khi chúng tôi tổng hợp các thông tin có trong các nguồn tài liệu để trình bày vấn đề theo hệ thống Phương pháp này còn được chúng tôi vận dụng khi lựa chọn, phân tích giá trị của các sự kiện liên quan đến đề tài

- Ngoài ra phương pháp so sánh được chúng tôi sử dụng khi so sánh giữa đối tượng này với đối tượng khác trong những điều kiện, hoàn cảnh xác định chi phối chúng Qua đó nhằm giúp người đọc nhìn rõ nét tương đồng và sự khác biệt trong mối quan hệ giữa các thực thể

Trang 21

- Các bài viết liên quan đến nội dung đề tài đăng trên các báo, tạp chí…

- Hồi ký của các chính trị gia, tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ

- Hồi ký của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội đã trực tiếp chiến đấu trên chiến trường hoặc tham gia vào các cuộc đàm phán về hòa bình Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

6 Đóng góp của Luận văn

- Phục dựng mối quan hệ “đồng minh” giữa hai chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam

- Bổ sung tư liệu, tài liệu về chiến tranh Việt Nam nói chung và quan hệ giữa Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ nói riêng; đặc biệt là nguồn tư liệu mới được giải mật và khối tài liệu gốc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

- Kết quả đề tài có thể cung cấp thông tin những bài học kinh nghiệm về

xử lý các mối quan hệ quốc tế

- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể là nguồn tư liệu để tham khảo trong công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu của các trường, viện nghiên cứu

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương, 10 tiết:

Chương 1: Khái quát về quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ (1954 - 1969) Chương 2: Quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ trong thời kỳ “Việt

Nam hóa” chiến tranh (1969 - 1973)

Chương 3: Quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ từ tháng 1 - 1973 đến

tháng 4 - 1975

Trang 22

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HÒA - HOA KỲ

(1954 - 1969)

1.1 Sự xác lập quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ

Có hai sự kiện lịch sử quan trọng ghi dấu ấn sâu sắc trong quan hệ VNCH - HK Đó là 2 bản Hiệp định lập lại hòa bình cho Việt Nam được ký kết: Hiệp định Genève (1954) và Hiệp định Paris (1973) Hai hiệp định này giống như hai mố cầu đặc biệt mà trên đó là cầu nối lịch sử về quan hệ Sài Gòn - Washington từ bước khởi thủy, hưng thịnh tới suy vi

1.1.1 Sự khởi đầu từ chống phá Hiệp định Genève

Tháng 7 - 1954, Hiệp định Genève được ký kết Đây là kết quả 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam Theo tinh thần của Hiệp định, Việt Nam tạm thời được chia làm 2 miền lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới và sau 2 năm sẽ thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước

Để thi hành Hiệp định, toàn bộ lực lượng kháng chiến ở miền Nam sẽ tập kết ra Bắc Trong khi đó, lực lượng quân viễn chinh Pháp cùng ngụy quân rút về miền Nam

Nhưng ngay từ đầu, Hiệp định Hòa bình thống nhất đất nước đã không được đối phương thực hiện Người Mỹ nhanh chóng gạt Pháp và dựng lá bài Ngô Đình Diệm ở miền Nam Chính quyền này từ chối hiệp thương tổng tuyển

cử tự do với lý do mà Ngô Đình Diệm đưa ra: “Chúng ta không bị ràng buộc dưới bất kỳ hình thức nào với các hiệp định được ký kết chống lại ý chí của dân tộc Việt Nam… Chúng ta không thể để lỡ bất cứ một cơ hội nào có thể cho phép thực hiện sự thống nhất Tổ quốc trong tự do Nhưng không nghi ngờ gì nữa, chúng ta sẽ không xem xét bất kỳ đề nghị nào của Việt Minh nếu nó không chứng tỏ rằng, họ đã đặt lợi ích tối cao của toàn dân tộc lên lợi ích của chủ nghĩa cộng sản”[97, tr.68] Vin vào cớ không tham gia vào bản tuyên bố cuối cùng của Hiệp định, Mỹ đã can thiệp vào nội bộ Việt Nam, ra sức phá hoại Hiệp định

Trang 23

nhằm chia cắt lâu dài hai miền của Việt Nam Do vậy, cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam đã không được tổ chức

Trong khi đó, ở miền Bắc, chính phủ VNDCCH cố gắng thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản của Hiệp định Đồng thời, có những hành động thiện chí, tích cực để chuẩn bị cho công cuộc thống nhất Năm 1955, VNDCCH thành lập một cơ quan chuyên trách lĩnh vực Hiệp thương chính trị “Ban quan

hệ Bắc Nam” (còn được gọi Ban Thống nhất), Ban này có nhiệm vụ đảm bảo thống nhất lãnh đạo cuộc vận động lập lại quan hệ Bắc - Nam… Ngày 18 - 6 -

1956, Ban Thống nhất ra nghị quyết số 70 về quan hệ với miền Nam trong đó nhắc nhở cán bộ kiên trì việc thiết lập quan hệ hai miền; về kinh tế coi buôn bán giữa hai miền không có tính chất ngoại thương mà là trong một đất nước thống nhất, vận động trao đổi buôn bán và thư từ qua lại của các gia đình có bà con giữa hai miền… Đúng theo quy định của Hiệp định Genève, trong thời kỳ còn tạm phân chia thì nhân dân giữa hai miền có thể thông tin qua lại trong khuôn khổ những tờ bưu thiếp (có thể viết 5 dòng) Nhưng mối quan hệ ruột thịt Bắc - Nam nóng bỏng, thiêng liêng được chuyển tải qua lá thiếp mỏng manh đó cũng

bị Ngô Đình Diệm sớm cấm đoán

Để thực hiện chủ trương hòa bình thống nhất đất nước, các lực lượng kháng chiến ở miền Nam nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Chính phủ VNDCCH chấm dứt các hoạt động vũ trang, rút quân ra Bắc, bàn giao lại toàn

bộ lãnh thổ miền Nam cho đối phương kiểm soát Đề cương “Đường lối cách mạng miền Nam” năm 1956 của Lê Duẩn một lần nữa nhấn mạnh sự bền bỉ với đường lối đấu tranh hòa bình Tuy nhiên, những thiện chí của miền Bắc Việt Nam tiếp tục bị Chính quyền Sài Gòn khước từ với nhiều lý do, trong đó thực chất ngoài sự căm thù Cộng sản, ngoài lập trường chống Cộng, Diệm và những người trong bộ máy của Diệm, còn có một lý do trực tiếp nữa: họ biết chắc rằng nếu để nhân dân được tự do lựa chọn thì đa số sẽ không lựa chọn họ, chế độ

“Cộng sản” mà họ ghét cay ghét đắng ấy lại là chế độ rất được lòng dân Ngay

từ 1954, các cơ quan tình báo Mỹ đã nhận định rằng: “Nếu để tổng tuyển cử tự

Trang 24

do ở Việt Nam thì 80% dân chúng Việt Nam sẽ lựa chọn Chính phủ Hồ Chí Minh”[48, tr.73] Một người rất ủng hộ Diệm cũng đã viết trên tờ Lock vào ngày

25 - 1 - 1955: “Nếu tiến hành Tổng tuyển cử ngay ngày hôm nay thì tuyệt đại đa

số người Việt Nam sẽ bỏ phiếu cho những người Cộng sản”[48, tr.73] Những báo cáo đó khiến Diệm không thể tin được rằng ông ta sẽ chiến thắng trong bầu

cử nên đã bác bỏ Hiệp thương Tổng tuyển cử

Nhờ sự hậu thuẫn của Mỹ, vị trí của Diệm ngày càng được củng cố Mỹ công khai ủng hộ lập trường của Diệm đối với cuộc bầu cử, đồng thời gây sức

ép với một số nước tham gia Hội nghị Genève Như vậy, cả Diệm và Mỹ đều ra

sức chống phá, bác bỏ Hiệp định Tổng tuyển cử tự do đã được ký kết

Lá bài Ngô Đình Diệm - như dư luận HK chỉ rõ, được rút ra từ “tay áo”

Mỹ và HK nhanh chóng ủng hộ lá bài mà họ đã dựng lên Mỹ cử tướng L.Colins sang làm đại sứ đầu tiên ở Sài Gòn Như vậy, về mặt ngoại giao, một tướng 2 sao của HK là vị đại sứ đầu tiên làm cầu nối cho mối quan hệ giữa Washington

và Sài Gòn Vị đại sứ hàm cấp tướng này đã nhanh chóng vạch 6 điểm để gạt hẳn mọi ảnh hưởng còn lại của Pháp; mặt khác củng cố thế lực của HK và xây dựng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm Kế hoạch này bao gồm: bảo trợ chính quyền Diệm, viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài Gòn; Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn người do Mỹ trang bị, huấn luyện; Bầu cử quốc hội ở miền Nam, hợp pháp hóa chính quyền Sài Gòn; Định cư cho số người công giáo

di cư vào Nam và vạch kế hoạch cải cách điền địa; Thay đổi chế độ thuế khóa, dành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ ở miền Nam; Đào tạo cán bộ hành chính

Để tạo chỗ đứng vững chắc cho chính quyền tay sai, Mỹ và Diệm đã dần loại bỏ ảnh hưởng của Pháp và chính quyền Bảo Đại ở miền Nam với chính sách

Trang 25

“đả thực, bài phong” Ngày 1 tháng 1 năm 1955, Pháp đã bị Mỹ ép buộc chuyển giao tất cả những hoạt động còn lại về mặt chính quyền cho Việt Nam quốc gia Một khi điều đó được tiến hành, Mỹ có thể trao viện trợ trực tiếp cho Nam Việt Nam mà không cần thông qua Chính phủ Pháp như trước đó Đồng thời, Diệm cũng mạnh tay hơn trong việc dùng bạo lực để tiêu diệt các thế lực giáo phái và phe phái chống đối Diệm như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên… nhằm xây dựng chính quyền “độc trị” Để củng cố chính quyền của mình, Diệm tập hợp các lực lượng trong giai cấp tư sản, địa chủ và Thiên chúa giáo chống đối lực lượng Cộng sản, thành lập “Đảng Cần lao nhân vị”, phong trào “Cách mạng quốc gia”,

“Thanh niên cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới” từ Trung ương đến địa phương Bên cạnh đó, thông qua các đạo dụ, Diệm chủ định cải cách ruộng đất nhằm tạo lực lượng và thế lực chủ chốt trong việc ủng hộ sự tồn tại của chính quyền Ngày 4 -

3 - 1956, Diệm tổ chức bầu “Quốc hội” và ngày 26 - 10 - 1956 cho công bố “Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa” Được sự trợ giúp của Mỹ, bằng những chính sách quyết liệt, ngay sau khi lên nắm quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam thành một “quốc gia mạnh”

Cùng với việc dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm và từng bước áp đặt chủ quyền thực dân mới ở MNVN, mối quan hệ VNCH - HK được xác lập Như vậy, chính quyền mới ở Sài Gòn do Ngô Đình Diệm đứng đầu là sản phẩm trực tiếp của Washington nhằm gạt Pháp để trực tiếp “chống Cộng” ở miền Nam Nền đệ nhất Cộng hòa được thiết lập, HK làm “bà đỡ” cho thể chế MNVN này

Song song với việc đào luyện bộ máy, HK đã ồ ạt viện trợ về kinh tế, quân sự cho chính quyền VNCH Cũng từ đó, “Viện trợ Mỹ và sự hiện diện kinh

tế của Mỹ không đi vào nền kinh tế miền Nam một cách tự nhiên như những chất dinh dưỡng đi vào một cơ thể, mà là một yếu tố thay thế, nhiều khi lấn át cả những yếu tố thuộc nội lực của nền kinh tế đó”[48, tr.150] Thực tế, nếu chỉ tính riêng những khoản viện trợ chính thức thì viện trợ của Mỹ cho Nam Việt Nam là lớn nhất trong số các nước nhận viện trợ của Mỹ

Trang 26

Về kinh tế, chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn từ năm 1955 - 1957,

Mỹ đã viện trợ cho Diệm 1,1 tỷ đô-la (60% chi dùng vào mục đích quân sự)

Bảng 1.1: Viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho Nam Việt Nam

Tài khóa 1953 - 1960 (triệu đô-la Mỹ)

Nguồn: The U.S Agency for International Development Overseas Loans and Grands and

Assitance from International Organizations, tr.59

Viện trợ kinh tế của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa tăng vọt, từ 25 triệu

đô-la năm 1954 lên 100 triệu đô-đô-la trong năm 1955 Khoảng 4/5 tổng số viện trợ của Mỹ cho Nam Việt Nam trong những năm 50 đã trực tiếp hay gián tiếp được

sử dụng để duy trì Chính quyền Diệm Như vậy, xét quan hệ Nam Việt Nam –

HK dưới góc độ kinh tế, thì HK là người bảo trợ cho sự ra đời và tồn vong của chế độ Diệm

Về quân sự, ngày 13 tháng 12 năm 1954, Ely và Colins đã ký một hiệp ước quan trọng, quy định Mỹ thay thế Pháp chịu trách nhiệm về quân sự ở Nam Việt Nam Cụ thể là Mỹ thay Pháp giúp đỡ chính quyền Sài Gòn trong việc tổ chức và huấn luyện lực lượng vũ trang Việc tổ chức và huấn luyện lực lượng vũ trang quân lực VNCH cũng như tất cả nhân viên của Mỹ và Pháp được sử dụng làm cố vấn về huấn luyện đều chịu sự chỉ đạo, điều hành của Trưởng phái đoàn

cố vấn quân sự (MAAG) của Mỹ và các cố vấn Mỹ có mặt đến tận cấp sư đoàn Bằng cách đó, Mỹ đã đạt được ý muốn gạt bỏ các cố vấn quân sự Pháp thay

 Sự chi viện quân sự dưới hình thức chi viện ngoại giao đã được chuyển sang ngân quỹ của Bộ Quốc phòng từ sau năm 1966

Trang 27

bằng các cố vấn Mỹ Mỹ quyết định giảm lực lượng quân đội quốc gia Việt Nam

từ 270.000 người xuống còn 90.000 người Mặc dù đã cắt giảm hai phần ba lực lượng quân đội trong năm 1954, nhưng Quân đội Quốc gia Việt Nam vẫn nhận được 200 triệu đô-la viện trợ của Mỹ trong năm 1955 và được sĩ quan HK huấn luyện với kỹ thuật tác chiến hiện đại Một mặt, Mỹ nhanh chóng “xây dựng một đội quân cho chính quyền Sài Gòn dưới quyền điều khiển trực tiếp của Mỹ gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp

và 54.000 quân địa phương Số cố vấn Mỹ từ 35 người (năm 1950), tăng lên

699 người (năm 1956)”[20, tr.117] Mặt khác, Mỹ xây dựng một hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược biến miền Nam thành căn cứu quân sự khổng lồ, để rồi: “Người lính của ta đã lệ thuộc 100% vào viện trợ, từ khẩu súng tới viên đạn, từ nón sắt cho đến đôi giầy, kể cả tiền lương trong ví” [7, tr.173] Tháng 5 năm 1956, Mỹ tiếp tục có hành động vi phạm Hiệp định Genève một cách nghiêm trọng, đó là tăng lực lượng cố vấn quân sự từ 342 lên tới 685 người

Ngoài ra để tạo hàng rào chắc chắn, củng cố vị trí của mình ở Đông Dương, từ tháng 11 năm 1954, Mỹ đưa Kàtày lên lập chính phủ ở Lào và ngày 19

- 1 - 1955, Mỹ ký hiệp ước viện trợ và cố vấn quân sự (MAAG) với Lào Tháng 9

- 1955, Quốc vương Xihanuc (Campuchia) tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội

và tuyên bố rút ra khỏi Liên hiệp Pháp Khối SEATO được thành lập (tháng 9 -

1954, có hiệu lực từ tháng 7 - 1955) là một tổ chức nằm trong ý đồ bao vây, ngăn chặn lực lượng cộng sản ở Đông Nam Á của Mỹ

Với một hệ thống cố vấn chặt chẽ từ chính quyền Trung ương đến các đơn

vị quân đội, các địa phương, thông qua viện trợ vũ khí và đô la, Mỹ đã can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam Người Mỹ dần nắm vai trò chủ đạo trong việc quyết định từ đường lối chính sách đến các hoạt động cụ thể của chính quyền miền Nam về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội và ngoại giao MNVN trở thành con đê ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản mà ở đó sự gắn chặt quyền lợi, nghĩa

vụ giữa Nam Việt Nam và HK ngày càng chặt chẽ

Trang 28

Việc gạt bỏ Pháp khỏi Nam Việt Nam, dần thay thế khối liên hiệp Pháp,

Mỹ đã gánh lấy cái gọi là trách nhiệm với chính quyền Sài Gòn Từ năm 1956, nhiều người tin rằng Chính quyền Diệm do Mỹ giúp đỡ, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ là dựng lên ở miền Nam một chính phủ “chống Cộng” tương đối ổn định Với chính sách cứng rắn và phản động, ỷ vào sự trợ giúp của Mỹ, muốn phô trương uy lực, Diệm thực hiện bàn tay sắt, lê máy chém khắp miền Nam với chính sách tố cộng, diệt cộng… Mặc dù vậy, tình hình chính trị, xã hội ở miền Nam trở nên bất ổn định, đặc biệt sau khi từ phong trào Đồng khởi bùng nổ, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và Lực lượng kháng chiến biết rằng sẽ phải tiếp tục trải qua một thời kỳ chiến đấu nữa

Từ năm 1954 - 1960, với những toan tính riêng trên cơ sở cùng chung mục đích là “chống Cộng”, VNCH - HK đã xác lập mối quan hệ cùng có lợi Mỹ cho rằng đã tìm được người cứng rắn trong vấn đề “ngăn chặn Cộng sản” Thậm chí Tổng thống HK còn tâng bốc Ngô Đình Diệm lên hàng “anh hùng châu Á”, một

“Sớc-sin phương Đông”… Về phía mình - Diệm vui mừng đặt trọn niềm tin vào

HK để thực hiện “mộng bá chủ” tại vùng đất phương Nam Với sự ủng hộ tích cực của HK, chính quyền Diệm nhanh chóng củng cố về mặt chính trị, đồng thời bắt tay vào việc “chống Cộng” với những chính sách đàn áp tàn bạo Nhân dân miền Nam đã phản kháng một cách mạnh mẽ, quyết liệt mà đỉnh cao là phong trào Đồng khởi (1960) Từ Đồng khởi, phong trào Cách mạng ở miền Nam đã có sự chuyển biến mới, từ đấu tranh chính trị trong hòa bình chuyển sang đấu tranh vũ trang Đồng thời, báo hiệu thời kỳ HK nhúng sâu hơn vào cuộc chiến ở Việt Nam, kéo theo sự chuyển biến mới của mối quan hệ VNCH - HK

Có thể nói, quan hệ VNCH - HK trước năm 1960 diễn ra trong bối cảnh tương đối “êm thấm” Đây là thời kỳ ổn định của chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Nhưng từ phong trào Đồng khởi của nhân dân miền Nam, thời kỳ ổn định tạm thời của chủ nghĩa thực dân kiểu mới cũng chấm dứt Từ đó

về sau, quan hệ VNCH - HK diễn ra trong bối cảnh cuộc chiến ở miền Nam ngày càng ác liệt Mối quan hệ “đồng minh trong chiến đấu” của hai bên cũng bắt đầu trải qua những bước đầy thăng trầm

Trang 29

1.2 Quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh đặc biệt 1961 - 1965

Những năm 60, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, quan hệ giữa hai cường quốc Liên Xô và Mỹ căng thẳng trong việc cùng chạy đua vũ trang, luôn sẵn sàng đối chọi nhau ở mọi vấn đề quốc tế Trong cuộc chiến ở Việt Nam, Liên Xô và Mỹ đều đóng vai trò đồng minh của hai phía: VNDCCH

và VNCH Thời kỳ này, tuy có xuất hiện mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên

Xô (về tư tưởng, đường lối…) nhưng hai nước vẫn muốn viện trợ cho miền Bắc Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngăn chặn lực lượng của Mỹ ở Việt Nam

Sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc cho miền Bắc đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến Bối cảnh quốc tế thời kỳ này cũng có những tác động nhất định đến chính sách đối ngoại của Mỹ cũng như mối quan hệ VNCH - HK

1.2.1 Chiến lược Chiến tranh đặc biệt và sự gia tăng viện trợ và cố vấn Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa

Phong trào Đồng khởi ở miền Nam 1960 đã đẩy chính quyền Sài Gòn bước vào thời kỳ khủng hoảng triền miên và đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới, đằng sau nó là quan hệ VNCH - HK trước những thử thách và khó khăn nghiêm trọng

Theo tính toán của HK lúc đó, sự thất bại ở MNVN sẽ dẫn tới trình trạng sụp đổ của “đô-mi-nô” mà trước hết trong khu vực Đông Nam Á Bởi

“Sự nắm lấy Nam Việt Nam cũng được gắn với những quan hệ của Mỹ với các nước khác trong khu vực, nhất là In-đô-nê-xi-a, nơi mà Oa-sinh-tơn xem Xu-các-nô là một đe dọa quan trọng đối với lợi ích của Mỹ”[76, tr.164] Nếu Mỹ rút khỏi Việt Nam lúc này thì sự sụp đổ sẽ diễn ra ở cả khu vực Đông Nam Á

Vì thế, HK quyết tâm không bỏ cuộc, tiếp tục ủng hộ đồng minh, giúp VNCH bằng một bước tiến mạo hiểm: Thực hiện chiến lược Chiến tranh đặc biệt nhằm đánh bại phong trào nổi dậy của nhân dân miền Nam, duy trì “tiền đồn chống Cộng” của HK ở MNVN

Giới chức HK lúc bấy giờ nhìn nhận Nam Việt Nam như một trọng điểm của toàn bộ quyền lợi của Mỹ ở Đông Nam Á Vì thế, trong năm 1961, các phái

Trang 30

đoàn nghiên cứu của Mỹ lần lượt tới Nam Việt Nam: Phái đoàn của phó Tổng thống Mỹ Johnson (tháng 5), Phái đoàn của tiến sĩ kinh tế Eugene Staley thuộc Viện nghiên cứu Stanford (tháng 6), hai phái đoàn của Maxwell D.Taylor và Walt Whitman Rostow trong Bộ quốc phòng Mỹ (tháng 10) Kết quả là Nam Việt Nam trở thành nơi thí điểm điển hình của chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” vừa ra đời

Tướng Maxwell D Taylor được phái sang Việt Nam để hành động gấp rút giúp VNCH “đẩy lùi lực lượng Cộng sản” Kế hoạch Staley-Taylor (Chiến tranh đặc biệt) sử dụng chủ yếu quân lực VNCH được trang bị bằng vũ khí tối tân do Mỹ cung cấp, thực hiện các kế hoạch quân sự do cố vấn Mỹ tư vấn, bao

gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: thực hiện từ giữa năm 1961, nội dung chủ yếu là bình định miền Nam bằng biện pháp Ấp chiến lược; Giai đoạn 2: thực hiện từ

đầu năm 1963, khôi phục kinh tế, tăng cường lực lượng quân đội, hoàn thành

công cuộc bình định; Giai đoạn 3: thực hiện đến cuối năm 1965, phát triển kinh

tế, ổn định miền Nam và kết thúc chiến tranh Để cứu nguy chế độ Diệm, Mỹ

đưa 19.000 quân chiến đấu dưới tên gọi cố vấn quân sự sang miền Nam Việt

Nam Quan hệ VNCH - HK càng được thắt chặt thêm trong việc cùng chung tay thực hiện một chiến lược chiến tranh thực sự cụ thể để chống lại đối phương

Theo dự tính, để đảm bảo cho quân đội VNCH giành thế chủ động trên chiến trường Miền Nam, kế hoạch sẽ được triển khai trong 4 năm (1961-1965)

với 3 biện pháp chiến lược: Một là, tăng cường sức mạnh quân đội VNCH, sử

dụng nhiều máy bay, xe tăng để nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng vũ trang

Cách mạng, sử dụng cố vấn Mỹ trong các đơn vị chiến đấu; Hai là, giữ vững

thành thị, đồng thời dập tắt Cách mạng ở nông thôn bằng “bình định” và lập “ấp

chiến lược”; Ba là, ra sức ngăn chặn biên giới, kiểm soát ven biển, cắt đứt nguồn

chi viện từ miền Bắc vào, cô lập cách mạng miền Nam

Trong vòng 18 tháng, kể từ khi thực hiện kế hoạch trên, Quân lực VNCH

đã có 354 ngàn quân, trong đó 200 ngàn là quân chủ lực được trang bị hiện đại: 257

Trang 31

máy bay chiến đấu, 346 xe thiết giáp, 2.630 cố vấn Mỹ hoạt động trong quân đội chính quyền Sài Gòn và 8.280 binh sĩ Mỹ thuộc các lực lượng đặc nhiệm

Đầu năm 1962, Bộ tư lệnh quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV) được thành lập thay thế cho Cơ quan viện trợ quân sự (MAAG) Cuối năm 1962 đã có gần 4.000 cuộc hành quân càn quét phục vụ cho chương trình “ấp chiến lược”, trong

đó có nhiều cuộc càn quét quy mô lớn như “Chiến dịch mặt trời mọc”, “Chiến dịch Bình Tây”, “Chiến dịch Sao mai”, “Chiến dịch Thu Đông” Mục tiêu xây dựng 17.000 ấp chiến lược với 10.000.000 dân được triển khai thực hiện (năm

1962 đã có 4.248 ấp hình thành, năm 1963 đã có 9.095 ấp được xây dựng gom giữ khoảng 8.000.000 dân) Với khả năng cơ động cao, chính sách thắt chặt “Ấp chiến lược” nhằm cách ly “Cộng sản” với dân chúng của chính phủ Nam Việt Nam thu được những kết quả nhất định

Đồng thời, HK cũng tăng thêm nguồn viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm đáp ứng các khoản chi phí quân sự Đầu năm 1961, Tổng thống Kennedy gửi thêm 400 cố vấn quân sự đến miền Nam Việt Nam Tháng

5 - 1961, Mỹ quyết định tăng gấp hai lần viện trợ quân sự cho chính quyền Diệm

Bảng 1.2: Viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho Nam Việt Nam

Tài khóa 1960-1966 (triệu đô-la Mỹ)

Nguồn: The U.S Agency for International Development Overseas Loans and Grands and

Assitance from International Organizations, tr.59

Trang 32

Năm 1962, viện trợ của Mỹ đã tăng lên 286,9 triệu đô la so với 209,1 triệu đô-la năm trước đó, năm 1963 là 376,0 triệu đô-la Với sự viện trợ đó, Việt Nam cộng hòa đã có được sự hậu thuẫn rất lớn từ Mỹ, Quân lực Nam Việt Nam phát triển nhanh chóng, gây không ít khó khăn cho lực lượng Cách mạng

Tuy nhiên, sau gần hai năm đối phó với Chiến tranh đặc biệt, Quân Giải phóng miền Nam đã đúc kết kinh nghiệm đối phó với chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận” của quân đội VNCH Điều này đã tạo ra thắng lợi cho quân Giải phóng trong trận Ấp Bắc (ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại tỉnh Mỹ Tho) Thất bại ở Ấp Bắc vừa báo hiệu sự sụp đổ của “Chiến tranh đặc biệt”, mặt khác cũng bộc lộ những dấu hiệu bất đồng trong quan hệ Sài Gòn - Washington về một số vấn đề quân sự Trước đó, bản thân Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu chỉ muốn

HK duy trì cố vấn Mỹ ở cấp trung đoàn trong khi phía Mỹ muốn đưa cố vấn xuống cấp đại đội Chính quyền Sài Gòn không tán thành nhưng chiều hướng trên chiến trường ngày càng bất lợi cho “Chiến tranh đặc biệt” nên buộc Ngô Đình Diệm phải chấp nhận sức ép của HK

Trong trận Ấp Bắc, khi cố vấn HK ở Ban chấp hành vùng IV chiến thuật (trung tá J.Ponval) muốn điều quân Sài Gòn tấn công và bao vây Quân Giải phóng từ nhiều hướng, viên tư lệnh quân đội Sài Gòn chỉ huy trực tiếp trận đánh

đã cự lại Trung tá cố vấn Mỹ một cách gay gắt và nhất định không nghe lời Khi Diệm - Nhu biết chuyện, lại tỏ ra vui mừng và tự hào cho rằng đó mới đúng là

“sĩ quan của QLVNCH”, thậm chí còn thăng chức cho viên tư lệnh chỉ huy đó mặc dù trận Ấp Bắc phía Sài Gòn và HK đã thất bại Trong con mắt của tướng lĩnh HK, dấu hiệu này chứng tỏ Diệm khá “cứng đầu” và đây là một trong những lí do để mấy tháng sau đó, HK “bật đèn xanh” đảo chính lật đổ Diệm

Trong hai năm 1963 và 1964, quân Giải phóng thắng thế trên toàn chiến trường, chiến dịch Bình Giã (tháng 12 năm 1964) làm thiệt hại các chiến đoàn thiết giáp cơ động và các đơn vị dự bị chiến lược của quân đội Nam Việt Nam Từ đó, Quân đội VNCH trở nên yếu thế buộc phải lui về thế thủ gần các thành phố lớn

Trang 33

Qua các trận đụng độ với quân Giải phóng miền Nam, năng lực chiến đấu của QLVNCH cho thấy chưa đủ để thực hiện công cuộc “bình định” Trên thực tế, hệ thống các “ấp chiến lược” - biện pháp xương sống để ly khai LLCM với dân chúng đã không thực hiện đúng như kế hoạch đề ra: 2.895 trong số 6.164 ấp bị phá bung, số còn lại bị phá đi, lập lại cả 5.000 lần

1.2.2 Thất bại của Chiến tranh đặc biệt và ảnh hưởng của nó đến quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ

Kennedy chính là người mở đường cho các bước leo thang trong cuộc chiến tranh Việt Nam và thắt chặt HK với VNCH bằng đô-la, súng đạn: phía VNCH nhận được tiền và súng từ Mỹ, đổi lại, HK ấn định cuộc chiến bằng

“Chiến tranh đặc biệt” mà người chịu trách nhiệm chính là QLVNCH

Cùng với sự sa lầy của chiến lược Chiến tranh đặc biệt, chính quyền Kennedy bắt đầu nhận lấy những chỉ trích và phản đối chiến tranh: “Do cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Nam Việt Nam mà chính quyền Ken-nơ-đi đang bôi nhọ danh dự nước Mỹ”[102] Và con đường đi tìm lối thoát của chính quyền Mỹ đã bắt đầu mở ra nhưng ở một cách khác, đó là làm thế nào mạnh tay hơn để nhanh chóng kết thúc cuộc chiến chứ không phải là từ bỏ nó Cuối cùng, Kennedy chưa kịp có hành động gì hơn thì đã phải “đứt gánh nửa đường”

Trong khi đó, tại MNVN, từ cuối năm 1959 đầu năm 1960, nhận thấy chính quyền Ngô Đình Diệm không thể đối phó nổi trước làn sóng Cách mạng đang dâng lên mạnh mẽ của nhân dân miền Nam, Mỹ gây sức ép buộc Diệm phải có một số thay đổi trong chính sách “chống Cộng”; trong đó có cả sự thay đổi về nhân sự trong chính phủ, mà trước hết Ngô Đình Nhu - em ruột và là cánh tay phải, trợ thủ đắc lực của Diệm phải rời khỏi chính trường Hơn ai hết, Diệm biết rõ, nếu loại bỏ Nhu thì sớm muộn gì ngai vàng của Diệm cũng bị lung lay, cho nên Diệm cố sức bảo vệ Nhu

Trước những biểu hiện bất tuân sự chỉ đạo - “qua mặt HK” của Diệm, và

sự chuyên quyền, độc đoán của gia đình họ Ngô cũng như sự mất lòng tin của chính quyền Sài Gòn trong dân chúng, HK đã nhiều lần cảnh báo Diệm Ngày

11 - 11 - 1960, được Mỹ “bật đèn xanh”, đại tá Nguyễn Chánh Thi (Tư lệnh Lữ đoàn Dù quân đội Sài Gòn) làm cuộc đảo chính lật đổ Diệm Nhưng, Mỹ muốn

Trang 34

đây chỉ là đòn răn đe đối với Diệm, nên cuộc đảo chính này bị thất bại Dù thất bại, nhưng trong lịch sử quan hệ Sài Gòn - Washington thì đây là cú va chạm chính trị đầu tiên giữa người bao thầu về chính trị (HK) và bên kia là đối tác - phụ thuộc nhận thầu (VNCH)

Sự kiện trên chứng tỏ mâu thuẫn giữa Diệm và chính quyền Washington ngày càng trở nên bất đồng, gay gắt và quan hệ VNCH - HK đang dần xấu đi

Kể từ đây, cuộc khủng hoảng trong nội bộ chính quyền Sài Gòn cũng bắt đầu xuất hiện và dẫn đến hàng loạt các cuộc đảo chính, ly khai sau đó

Việc chính phủ Ngô Đình Diệm bất lực trong đấu tranh chống “Cộng sản”, lại mất uy tín trong nước và trên thế giới làm méo mó hình ảnh “thế giới tự do” trong chiến lược toàn cầu chống “Cộng sản” của HK, tất yếu sẽ làm HK phải xem xét lại quan hệ với chính phủ này Ngày 20 tháng 8 năm 1963, Sài Gòn lại dùng vũ lực tấn công Phật giáo, ngay sau đó HK cử đại sứ mới là Cabot Lodge đến Sài Gòn mang theo chính sách hoàn toàn mới đối với chính phủ Ngô Đình Diệm Một số tướng lĩnh trong QLVNCH liên hệ với các lực lượng chính trị bất mãn và tình báo HK để tham khảo một giải pháp loại bỏ anh em Diệm - Nhu - Cẩn “Con bài trong tay áo” của HK (Ngô Đình Diệm từng được dư luận

HK gọi như thế) đã bị chính những người chủ loại bỏ không thương tiếc Sự kiện này phản ánh sâu sắc bản chất của HK trong cách hành xử với các đồng minh, nhất là đối với quốc gia nhỏ, yếu hoàn toàn phụ thuộc HK

Những tín hiệu được bật lên từ Nhà trắng để cho Ngô Đình Diệm thay đổi một số nhân vật lãnh đạo và cách thức điều hành chiến tranh, nhưng Diệm tỏ ra càng quyết liệt và khăng khăng theo cách của mình Việc mạnh tay đàn áp để bảo

vệ cái lợi ích cá nhân và bắt nguồn từ sự kỳ thị tôn giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm làm cho phong trào Phật Giáo bùng nổ và hậu quả không lường đã đến với Diệm Sự kiện đàn áp Phật Giáo của chính phủ Diệm đã làm chấn động toàn thế giới, cũng như đã tạo ra phong trào phản đối sự lộng hành “gia đình trị” của chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm Diệm không kiểm soát nổi khủng hoảng chính trị và ngày 1 tháng 11 năm 1963, QLVNCH, dưới sự chỉ huy của tướng Dương Văn Minh cùng sự im lặng không phản đối của HK (Một số tài liệu của VNCH và

HK đều cho rằng chính Mỹ đã bật đèn xanh cho cuộc đảo chính này) đã làm đảo chính lật đổ, giết chết hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu

Trang 35

Với những chính sách độc đoán, “khó bảo” của Diệm khiến tình hình mất ổn định, HK đã loại bỏ Diệm để mong có một chính quyền bình ổn để tập trung vào việc “chống Cộng” Nhưng sau đó, tình hình ngày càng tồi tệ hơn Giới tướng lĩnh tay sai mới của Mỹ lại đấu đá, tranh giành quyền lực, từ tháng

11 - 1963 đến tháng 6 - 1965, đã xẩy ra hơn 10 cuộc đảo chính, thanh trừng lẫn nhau Chính quyền Sài Gòn - công cụ chủ yếu thực hiện chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ lâm vào tình trạng khủng hoảng lãnh đạo triền miên Điều đó

đã làm quan hệ Sài Gòn - Washington căng thẳng, Đại sứ Mỹ tại MNVN - Taylor đã phải cảnh báo thẳng với họ rằng: người Mỹ đã chán ngấy về những cuộc đảo chính đó và HK không thể nào ủng hộ họ nữa nếu chính quyền Sài Gòn tiếp tục đảo chính thanh trừng lẫn nhau Thực tế, những tháng cuối đời, Tổng thống Kennedy đã từng nghĩ đến việc tìm lối giải thoát trong chiến tranh Việt Nam, nhưng không lâu sau đó ông bị ám sát, người kế nhiệm - phó Tổng thống Johnson lại tiếp tục muốn chứng tỏ sức mạnh của người Mỹ Với mục đích lớn nhất là ngăn chặn “Cộng sản”, HK cố gắng kiên trì trong việc giúp Nam Việt Nam, tiếp tục ủng hộ, viện trợ cho chính quyền Sài Gòn

VNCH rơi vào cuộc khủng hoảng lãnh đạo trầm trọng và chỉ tạm ổn định lại khi Hội đồng lãnh đạo Quốc gia - đứng đầu bởi hai tướng Nguyễn Văn Thiệu

và Nguyễn Cao Kỳ lên nắm quyền (tháng 6 năm 1965) Trong khi đó, trước các thất bại liên tiếp trên chiến trường và tình hình chính trị rối loạn tại MNVN, chính phủ HK quyết định hủy bỏ kế hoạch Staley Taylor và đưa quân đội HK sang trực tiếp tham chiến để giữ miền Nam khỏi rơi vào tay “Cộng sản”

Ngày 8 tháng 3 năm 1965, Mỹ đưa 3.500 lính thủy đánh bộ đổ bộ xuống

Đà Nẵng; chiến tranh Việt Nam bước sang giai đoạn mới với sự tham chiến trực tiếp của lính Mỹ ở Nam Việt Nam Quan hệ VNCH - HK từ đây cũng bước sang một thời kỳ mới, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn

1.3 Chiến tranh cục bộ - bước ngoặt trong quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ

Những vấn đề chính trị của nội bộ chính quyền Sài Gòn đã tạo cơ hội cho sự HK can thiệp ngày càng sâu vào MNVN Thất bại trong “Chiến tranh đặc

Trang 36

biệt”, Johnson quyết định tiến hành “Chiến tranh cục bộ” nhằm “tìm lấy một thắng lợi về quân sự” bằng cách sử dụng những lực lượng quân sự khổng lồ với những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ (trừ vũ khí hạt nhân)

Tư tưởng cơ bản của Johnson là “Chiến tranh tiêu hao”, nghĩa là với hoả lực tối

đa, áp đảo của Mỹ nhằm đẩy Cách mạng Việt Nam vào con đường duy nhất là đầu hàng vô điều kiện

“Chiến tranh cục bộ” bắt đầu từ giữa năm 1965, được tiến hành bằng lực lượng quân viễn chinh Mỹ, quân một số nước thân Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và quân của chính quyền Sài Gòn Trong đó, khác với chiến lược

“Chiến tranh đặc biệt” trước đây, lần này quân Mỹ giữ vai trò chủ lực và không ngừng tăng về số lượng và trang bị Vào cuối năm 1964 lính Mỹ có mặt tại miền Nam là 26.000 người, đến cuối năm 1965 lên tới 180.000 người và 20.000 lính của các nước thân Mỹ Cùng với 70.000 lính hải quân và không quân trên các căn cứ của Mỹ ở Guam, Philippines, Thái Lan và Hạm đội 7 luôn sẵn sàng tham chiến ở miền Nam[20, tr.201]

Bảng 1.3: Quân số Mỹ và Đồng Minh tại miền Nam Việt Nam

Trang 37

Số liệu thống kê trên cho chúng ta thấy, vào thời kỳ chiến tranh ác liệt diễn ra ở MNVN, từ 1965 đến 1968 thường xuyên có từ 200.000 đến gần 600.000 quân đội nước ngoài Theo ước tính, dân số miền Nam lúc đó vào khoảng 16 triệu, riêng vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát chỉ độ 7 - 8 triệu người, tính bình quân hơn 10 người dân thì có 1 người lính nước ngoài Cùng với việc đưa ồ ạt quân Mỹ vào miền Nam thì “những khoản chi phí trực tiếp cho chiến tranh cũng tăng lên hàng chục lần Năm 1965 là 4,6 tỷ đô-la Năm 1966:

25 tỷ Năm 1968: 27 tỷ Năm 1969 là 29 tỷ”[48, tr.115]; và đây cũng là “một trong những yếu tố gây ra sự “méo mó” rất lớn trong đời sống kinh tế và xã hội”[96, tr.88]

Tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ở MNVN, Mỹ nhằm nhanh chóng tạo ra

ưu thế về binh và hỏa lực, áp đảo đối phương bằng chiến lược quân sự mới “Tìm

- diệt” Đồng thời, mở rộng và củng cố hậu phương, lập đội quân “bình định”, kết hợp hoạt động càn quét với các hoạt động chính trị xã hội; đổ tiền vào chiến tranh nhiều hơn nữa, cố thực hiện cho kỳ được “mặt trận thứ hai” nhằm tranh thủ “trái tim của nhân dân” mà thực chất là giành lại dân để tạo thế chủ động trên chiến trường, đẩy lùi lực lượng vũ trang Giải phóng

Ngay sau khi quân đội HK ồ ạt đổ bộ vào MNVN thì tình hình chiến sự thay đổi có lợi cho phía Mỹ và VNCH Với sức mạnh áp đảo về quân sự (lực lượng đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh), quân Mỹ đã mở cuộc hành quân “Tìm - diệt” tiến công lực lượng quân Giải phóng ở Vạn Tường (8 - 1965) Tiếp đó, Mỹ mở liền hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô (1965 - 1966) và (1966 - 1967) nhằm giành lại thế chủ động và cố gắng nhanh chóng kết thúc chiến tranh trước khi dư luận HK thức tỉnh

Tuy nhiên, càng mở rộng chiến tranh, HK càng sa lầy ở chiến trường miền Nam Chính sách “tìm” và “diệt” của quân Mỹ bị thất bại “Trải qua hai mùa khô không đạt được mục tiêu, ngược lại bị tổn thất khá nặng nề, Mỹ và VNCH bị

 Hai mùa: mừa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Trang 38

thương vong 151.000 quân, trong đó có 68.200 lính Mỹ, máy bay bị bắn rơi và phá hủy là 1.231 chiếc, 1.627 xe tăng và bọc thép, 2.107 ô tô, 308 khẩu pháo, 42 tàu…[20, tr.205] Thất bại của Mỹ trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô, đặc biệt trong mùa khô thứ hai (1966 - 1967), tiêu biểu với ba cuộc hành quân lớn Attleboro, Cedar Falls và Junction City đã cho thấy sự phá sản sâu xa trong chiến lược chiến tranh của Mỹ Sự thất bại này không chỉ phản ánh con số thiệt hại to lớn trên chiến trường, mà điều quan trọng đằng sau nó là sự phá sản hoàn toàn các mục tiêu “tìm - diệt” và “bình định” mà chúng đề ra cho hai cuộc phản công chiến lược này

Đại sứ Henry Cabot Lodge từng cho rằng sự thất bại của chiến lược chiến tranh của Mỹ là do Westmoreland đã áp dụng chiến thuật thời Chiến tranh thế giới thứ hai để đối phó với một cuộc chiến tranh du kích hiện đại, và bởi vị tướng này cũng không có khả năng kết hợp những biến đổi chính trị vào tư duy chiến lược

1.4 Sự kiện Mậu thân 1968 và ảnh hưởng của nó đối với quan hệ Việt Nam Cộng hòa - Hoa Kỳ

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 do quân Giải phóng tiến hành nổ ra khắp miền Nam, đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã và các căn cứ quân sự của đối phương Đây là một sự kiện gây chấn động thế giới và có tác động mạnh mẽ đến tình hình cuộc chiến cũng như mối quan hệ VNCH - HK

Sau thất bại nặng nề trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966 -

1967, Mỹ tiếp tục tăng quân lên 525.000 người, đưa tổng số quân tham chiến lên 1,2 triệu người Chúng chủ trương tiếp tục cuộc phản công chiến lược mùa khô tiếp theo (1967 - 1968) vào Đông Nam Bộ, nhưng mới bắt đầu hành quân thì Mỹ phát hiện phía quân Giải phóng có sự di chuyển lớn vào các hướng quan trọng trên chiến trường miền Nam nên đã hủy bỏ kế hoạch phản công đó, rút lực lượng về chốt giữ những vùng chiến lược quan trọng Mặc dù dự đoán trước sẽ

có cuộc tiến công lớn của LLCM, nhưng quân Mỹ và VNCH không thể phán đoán được chính xác thời gian và địa điểm Cuộc tiến công đồng loạt nổ ra vào

Trang 39

đêm 30 Tết Mậu Thân (ngày 30 tháng 1 năm 1968) trên khắp các đô thị miền Nam Ngay đêm đầu tiên, các mục tiêu chiến lược ở Sài Gòn đã bị tiến công như: Toà Đại sứ quán Mỹ, Dinh Tổng thống, Đài phát thanh, bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất VNCH và đồng minh HK hoàn toàn bất ngờ, bị động trước cuộc tấn công này Chính sự bất ngờ đó cho thấy 3 năm “tìm - diệt” của quân lực VNCH và HK đã không đạt được hiệu quả

Có thể nói “Cuộc tiến công Tết 1968 là sự phát triển phức tạp và quan trọng nhất của chiến tranh Việt Nam”[76, tr.337] Đối với LLCM, cuộc Tổng tiến công đó đã gây tiếng vang lớn, đạt được một lợi thế khá quan trọng trong cuộc chiến tranh, nhằm tới dư luận và chính giới Mỹ Nguyên Tổng bí thư Lê Duẩn cho rằng đó là một cú đánh mạnh làm tan vỡ các “khả năng chính trị”, buộc HK xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán Còn với HK, sự kiện Mậu Thân đã làm dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến với nỗ lực cao đã làm nước Mỹ căng thẳng, phúc lợi giảm sút, gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội trong khi tương lai cuộc chiến ở Việt Nam (nơi mà Mỹ đã tốn sức người và đô-la) chưa biết biết đến bao giờ mới có hồi kết Chi phí và tổn thất của Mỹ cho cuộc chiến này quá lớn, Washington tìm mọi lý lẽ để lừa dối Quốc hội và công chúng về những chi tiêu thực sự, do đó, họ cũng đã tự dối chính mình vì không còn làm chủ được đồng tiền, nền kinh tế mất cân đối: “Đơn đặt hàng quân sự và các hợp đồng tăng gấp đôi giữa năm 1965 và 1967, chi tiêu cho chiến tranh ghi trong ngân sách đã tăng từ 5,8 tỷ đô-la năm 1966 lên 20,1 tỷ năm 1967 và 26,5

tỷ năm 1968”[76, tr.325] Sự hoài nghi đó đã đưa nhiều người Mỹ đi đến kết luận: HK không thể thắng trong cuộc chiến này Nhiều chính trị gia trong Quốc hội gây sức ép lên Chính phủ, đòi xem xét lại cam kết trong cuộc chiến, huỷ bỏ

uỷ quyền cho Chính phủ tiến hành chiến tranh mà không cần phê chuẩn, thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng

Sự kiện Mậu thân đã có tác động to lớn và mạnh mẽ đến tâm lý của dân chúng Mỹ Khi các phương tiện thông tin đại chúng của Mỹ mô tả về tình hình chiến trận tại Nam Việt Nam đã làm cho nhiều người Mỹ tin rằng chính phủ

Trang 40

đang lừa dối họ Thay cho khả năng giành thắng lợi về quân sự trong một tương lai gần thì chiến tranh ngày càng tiêu hao sức mạnh tinh thần binh lính và vật chất của nước Mỹ Dân chúng Mỹ càng nổi giận khi sự thật về cuộc chiến bị Chính phủ bưng bít mà với đa số người dân cho đó là hành động trái đạo lý Các phóng viên, nhà báo đã đưa ống kính vào tình cảnh của Nam Việt Nam về cuộc tiến công vào Sứ quán HK, Dinh Tổng thống… Dư luận HK mất kiên nhẫn và tin tưởng; phong trào phản chiến ngày càng lên cao, đòi chấm dứt chiến tranh và đưa quân về nước Một mặt, dân chúng Mỹ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội; mặt khác, các hành động bạo lực mất nhân tính được trình chiếu trên kênh thông tin đánh vào lương tâm người Mỹ, họ coi chiến tranh là bẩn thỉu… Johnson hiểu rằng, thực tế, cho dù HK có thắng lợi về quân sự đi nữa thì, việc VNDCCH đang đánh vào tâm lý của chính công dân Mỹ cũng đã tác động vào

“phong trào phản chiến” đang trên đà phát triển và lan rộng Chính phủ HK càng bối rối hơn bởi ngoài những vấn đề trên chiến trường cách xa hàng ngàn dặm, giờ đây, nhà cầm quyền Mỹ còn phải lo đối phó với một “cuộc chiến ngay trong lòng nước Mỹ”

Đây là thời kỳ Nam Việt Nam được sự cung ứng dồi dào về vũ khí và đô-la từ Mỹ và quan hệ VNCH - HK đạt tới đỉnh cao trên tất cả các mặt, đặc biệt

là kinh tế và quân sự Nhưng thực tế, tình hình chiến cuộc ở Nam Việt Nam đã cho thấy nếu không nói là một thất bại thì nó cũng không hề có một chiến thắng nào xứng đáng với sự huy động về trang bị vũ khí, binh lực của HK cho VNCH Tết Mậu Thân là một “quả đấm mạnh” đối với các chính trị gia Nam Việt Nam và HK, tạo nên sự bất hòa chia rẽ quan điểm trong giới lãnh đạo Tổng thống Johnson và các cố vấn hàng đầu buộc phải xem xét lại mối quan hệ, đặc biệt là các cam kết giữa hai bên HK - VNCH Họ thoái chí đi đến kết luận không thể tăng quân thêm nữa theo yêu cầu của giới quân sự mà phải xuống thang chấp nhận đàm phán chấm dứt ném bom miền Bắc

Ngày 30 - 3 - 1968, tướng Westmoreland đến Sài Gòn để phổ biến chủ trương của chính phủ Mỹ: Bỏ chiến lược “tìm - diệt và bình định”, thay thế bằng

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm