1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phật giáo Mật Tông tại Hàn Quốc thời kỳ Trung Đại : Luận văn ThS. Khu vực học: 60 31 06 01

93 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào thời kỳ trung đại, khi bán đảo Hàn chưa bị chia cắt, và do các học giả phương Tây khi nghiên cứu về bán đảo Hàn đều dùng tên riêng Korea

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TRANG NHUNG

PHẬT GIÁO MẬT TÔNG TẠI HÀN QUỐC

THỜI KỲ TRUNG ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành: Châu Á học

Mã số: 60 31 06 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trần Tiến

Hà Nội-2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn trích dẫn rõ ràng Nếu có gì gian dối, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016

Nguyễn Thị Trang Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin chân thành gửi lời cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Trần Tiến, người hướng dẫn khoa học đã nhiệt thành hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện, chỉnh sửa và hoàn thành luận văn này cũng như thực hiện các thủ tục cần thiết khác

Xin chân thành gửi lời cám ơn tới thầy Kim Seong Beom, thầy Kim Sang Ho, và chị Đào Vũ Vũ đã hỗ trợ tôi trong việc tìm kiếm tài liệu tham khảo tiếng Hàn cũng như hỗ trợ tôi trong quá trình biên dịch, cung cấp các thông tin hữu ích

Ngoài ra, tôi cũng chân thành cám ơn Quý Khoa Đông phương học, Quý Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội

đã tạo điều kiện thuận lợi giúp cho tôi hoàn thành chương trình học viên thạc

sĩ Châu Á học cùng bản luận văn này

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016

Nguyễn Thị Trang Nhung

Trang 5

Xét về góc độ lịch sử, Phật giáo có thể được chia làm bốn thời kỳ Thời

kỳ thứ nhất là giai đoạn của Phật giáo Nguyên thủy Thời kỳ thứ hai là sự phân chia thành Phật giáo bộ phái Thời kỳ thứ ba là Phật giáo Đại thừa Thời

kỳ thứ tư là sự phát triển của Thiền tông và Phật giáo bí truyền hay Mật tông (Tantric Buddism).3 Phật giáo Mật tông xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ V-VI

SCN tại bắc Ấn Độ cùng với Giáo lý Đại Thừa xuất hiện Bộ luận Trung quán (Mādhyamika) và Duy thức (Vijñānavāda) đã đóng góp những nền móng cơ

bản cho Mật tông Ngài Nagarjuna (Long Thọ, 600-650) được coi là vị Tổ sư

1 Theo giáo lý Phật giáo, tri thức là những kiến thức tích lũy được từ học tập, trí tuệ là là tri thức, kinh nghiệm thu thập được từ cuộc sống, còn trí huệ là tâm thức không còn vô minh bên trong con người, được tích lũy và bảo lưu qua nhiều kiếp sống

2 Sau cuộc nội chiến năm 1950 kết thúc bằng thỏa thuận ngừng bắn vào ngày 27/7/1953, bán đảo Hàn bị chia cắt thành hai miền với phía Bắc là Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên và phía Nam là Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc) Do phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào thời kỳ trung đại, khi bán đảo Hàn chưa bị chia cắt, và do các học giả phương Tây khi nghiên cứu về bán đảo Hàn đều dùng tên riêng Korea (Hàn Quốc)

để chỉ chung cho khu vực địa lý này nên trong luận văn này, thuật ngữ Hàn Quốc dùng để chỉ chung cho toàn

bộ lãnh thổ bán đảo Hàn thời kỳ trung đại (từ thời Tam quốc thống nhất đến thời Choson)

3 Trong luận văn này, thuật ngữ Phật giáo bí truyền (Esoteric Buddhism) cũng có nghĩa là Tantric Buddhism (Phật giáo Mật tông), Mật thừa (Tantrayana) hoặc Kim Cương Thừa (Vajrayana)

Trang 6

2

của Mật giáo Tuy nhiên, đến thế kỉ thứ VII thì giáo phái này mới chính thức hình thành và phát triển mạnh.4 Trong giai đoạn này, Mật tông được truyền bá sang các quốc gia Phật giáo Bắc truyền như Nepal, Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Bhutan, Mông Cổ 5 Theo đó, Phật giáo Mật tông truyền vào Hàn Quốc từ Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ VI qua một nhà sư Hàn Quốc là

Myeong-rang (명랑, 明朗, Minh Lãng) và được đặt tên là Thần Ấn tông -

Sinin Set (神印宗, hay còn gọi là Mudra Sect hay Pháp ấn) Đây được xem là Phật giáo bí truyền sơ khai dựa trên lớp Mật thừa Hành Động (kriyātantra).6

Sau đó một thời gian, phái Tổng trì tông (總指宗) - Chongji Sect của Dharani

Sect 7 được thành lập bởi nhà sư Hye-tong (혜통, 惠洞, Huệ Động) ở Hàn Quốc Hai nhà sư Myeong-rang và Hye-tong được xem như những người đặt nền móng cho Phật giáo Mật tông tại Hàn Quốc Đến đầu thế kỷ XV, dưới thời vương triều Goryeo, Phật giáo tại Hàn Quốc phát triển và phân thành 11 giáo phái, trong đó có hai giáo phái Mật tông kể trên Tuy nhiên, đến triều đại Choson, Phật giáo có dấu hiệu suy yếu dần do chính sách của triều đình trong

4 Lúc ban đầu, Mật tông chỉ được truyền khẩu Đến cuối thế kỉ thứ VI và thứ X, Mật tông mới dần dần được kết tập và hệ thống hóa.

Tây Tạng, sau đó là Atisa (thế kỉ 11) là người có đóng góp rất lớn Tại Tây Tạng, Mật tông Phật giáo được phát triển thành một tông phái đầy uy danh với rất nhiều đạo sư cùng nhiều

hệ truyền thừa lừng lẫy Khi Trung Quốc chiếm Tây Tạng, Mật tông Tây Tạng phải chịu cảnh phân tán lưu vong Tuy nhiên chính vì cái duyên lưu vong này mà tinh hoa Mật giáo Tây Tạng mới lộ diện cho toàn thế giới được học hỏi Đầu thế kỉ thứ IX, Đạo sư người Nhật Kukai (Không Hải) đem Mật tông từ Trung Quốc về Nhật Bản, lập ra Chân Ngôn Tông (shingon shu).

6 Cỗ xe đầu tiên trong 3 lớp Mật tông ngoại vi Các Mật điển Hành Động có tên như thế vì chúng chú trọng chính yếu vào các hạnh kiểm bên ngoài, các thực hành về lễ tịnh hóa, tẩy

uế v.v Đây là phương pháp tiếp nhận khát vọng vào trong con đường là liếc nhìn đối ngẫu Xem thêm: “Kriya Tantra” Rigpa Shedra Wiki

tiết có nội dung tượng trưng (mantra)

Trang 7

3

việc bảo trợ Nho giáo Phải đến thời kỳ của học giả Phật giáo dang (회당, 悔堂, Hối Đàng, tên thật: Son-Gyu-sang, 손규상, 孫珪祥, Tôn Khuê Tường: 1902~1963) xuất thân từ một vị cư sĩ trong vòng 50 năm đã nỗ lực phục hưng Phật giáo Mật tông Ông bắt đầu với việc khởi xướng phổ biến câu chân ngôn Om Mami Padme hum 8 tới mọi người và đứng ra sáng lập ra

Hoe-giáo phái Chân giác tông (진각종, 眞覺宗), một trong những Hoe-giáo phái thuộc

Mật tông Những nỗ lực truyền bá của Hoe-dang đã góp phần đưa nhiều người Hàn Quốc quay trở lại tu chứng Mật tông Trong 18 tông phái Phật giáo khác nhau của Hàn Quốc hiện nay 9, ba tông phái Mật tông là Chân giác tông, Tổng trì tông và Chân ngôn tông vẫn đang được người dân Hàn Quốc thực hành và tu tập Với lịch sử Mật tông như vậy, có thể nói nghiên cứu về Mật tông Hàn Quốc là nghiên cứu căn bản, trang bị và bổ sung những kiến thức cần thiết về Phật giáo Hàn Quốc nói riêng và Mật tông Hàn Quốc nói chung

Ngày 22 tháng 12 năm 1992, Việt Nam và Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Đến nay, Hàn Quốc là đối tác đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam cả về quy mô lẫn tổng vốn đầu tư và số dự án 10 Cùng với

đó, các công trình nghiên cứu về Hàn Quốc cũng không ngừng gia tăng số lượng theo thời gian Tuy nhiên, những công trình này tuy đa dạng về nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu tập trung về kinh tế, chính trị Về văn hóa, việc nghiên cứu Phật giáo Hàn Quốc không nhận được sự quan tâm thích đáng từ

8 câu Chân ngôn tiếng Sanskrit, chân ngôn cầu Quán Thế Âm Bồ Tát Đây là chân ngôn quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng Nó còn được mệnh danh là Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn" tức là "Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ"

9 Thích Nguyên Tạng tổng hợp từ tài liệu: Korean Buddhism Magazine( Seoul/1997)

Tài liệu do phái đoàn Phật Giáo Triều Tiên trao tặng nhân dịp các vị đến Úc tham dự Ðại Hội Liên Hữu Phật

Giáo Thế Giới lần thứ 20 được tổ chức tại Sydney, Úc Châu, 1998), Phật giáo tại Nam Triều Tiên,

http://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbpha237.htm

10 Trang thông tin điện tử đầu tư nước ngoài: va-Quan-he-doi-tac-hop-tac-chien-luoc-Viet-Nam-Han-Quoc , truy cập 12/12/2014

Trang 8

http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/2174/FDI-Han-Quoc-ra-nuoc-ngoai-4

các nhà nghiên cứu Việt Nam Ngoài ra, khi nghiên cứu Phật giáo Hàn Quốc, tông phái chủ đạo được chú trọng tìm hiểu là Thiền tông Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào dành cho Mật tông đến từ các học giả Việt Nam Trong khi đó, Mật tông lại là đặc phẩm của Phật giáo Đại thừa giai đoạn cuối, được du nhập từ rất sớm vào bán đảo Hàn và để lại nhiều chứng tích trong nền Phật giáo Hàn Quốc Nghiên cứu Mật tông Hàn Quốc không chỉ góp phần lấp dần khoảng trống nghiên cứu của Việt Nam về văn hóa Hàn Quốc nói chung, Phật giáo Hàn Quốc nói riêng mà còn góp phần cung cấp thêm các nguồn tư liệu mới giúp mang lại cái nhìn toàn diện hơn về đất nước, con người Hàn Quốc

Những chứng cứ khảo cổ cho thấy bán đảo Hàn đã có người sinh sống

từ thời đồ đá cũ, cách nay khoảng 600.000 đến 400.000 năm Vào đầu thiên niên kỷ, sau khi nhà nước Choson cổ bị diệt vong, lịch sử Hàn Quốc bước vào Thời kỳ ba Vương quốc với ba nhà nước Goguryeo, Baekje và Silla Sau khi Silla thống nhất Tam quốc, lịch sử Hàn Quốc chuyển mình vào thời kỳ trung đại và kéo dài tới hết giai đoạn tồn tại của vương triều Choson vào năm 1910

Là một giai đoạn lịch sử dài với nhiều biến động, thăng trầm trong đời sống

xã hội, trung đại cũng là giai đoạn mà Hàn Quốc tiếp nhận, dung hợp nhiều hệ

tư tưởng ngoại lai vào tín ngưỡng truyền thống của mình, trong đó có Phật giáo Là một tông phái của Phật giáo, Mật tông cũng được du nhập vào bán đảo Hàn từ đầu thế kỷ thứ VI Tổng hòa trong Phật giáo thời kỳ trung đại, Mật tông Hàn Quốc cũng trải qua quá trình du nhập, định hình từ thời Silla, phát triển qua các triều đại để trở nên cường thịnh vào thời Goryeo rồi bị đàn

áp và thiệt hại dưới thời Choson Nghiên cứu Mật tông Hàn Quốc trong phạm

vi thời kỳ trung đại với nhiều thăng trầm, biến động, dưới góc độ lịch sử, sẽ giúp chúng ta khảo cứu đầy đủ được những tính chất, đặc trưng của Mật tông

Trang 9

5

Hàn Quốc, từ đó có thể lấy làm tiền đề căn bản để khảo cứu về Mật tông Hàn Quốc ở các giai đoạn lịch sử sau đó cũng như thời hiện đại

Chính vì những lý do như đã trình bày ở trên, người viết đã lựa chọn đề

tài luận văn nghiên cứu khoa học của mình với tên gọi: “Phật giáo Mật tông

tại Hàn Quốc thời kỳ trung đại”

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Với lý do lựa chọn đề tài nêu trên, nghiên cứu tập trung vào các mục đích nghiên cứu dưới đây:

 Hệ thống các kiến thức tổng quan về Phật giáo và Phật giáo Hàn Quốc,

về Mật tông và các tư liệu có liên quan đến quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Mật tông tại Hàn Quốc thời kỳ trung đại

 Tìm kiếm và tổng hợp những đặc trưng của Mật tông trong nền Phật giáo Hàn Quốc giai đoạn kể trên

 Bước đầu đưa ra một số đặc trưng của Phật giáo Mật tông Hàn Quốc trong đời sống văn hóa của người Hàn

Mục đích nghiên cứu này là trọng tâm giúp người viết định hình được

bố cục, kết cấu nội dung cũng như những chủ điểm cần tập trung khai thác xung quanh đề tài

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Phật giáo ra đời tại Ấn Độ, từ đây được truyền bá rộng rãi và trở thành một trong những tôn giáo lớn của nhân loại Ngay từ khi Phật giáo hình thành đến nay, việc nghiên cứu truyền bá Phật giáo đã đóng góp cho nền Phật học thế giới nhiều công trình nghiên cứu có giá trị Cũng từ đó, các tu sĩ Phật giáo, Phật tử hay học giả nghiên cứu Phật học thế giới đã triển khai công tác nghiên cứu một cách đầy đủ hơn, sâu rộng hơn theo hướng liên ngành và đa ngành

Trang 10

6

văn hoá, lịch sử, xã hội học, văn học, triết học, v.v Các nhà nghiên cứu đã triển khai mở rộng việc nghiên cứu Phật học và những vấn đề có liên quan đến Phật giáo từ nơi sinh ra tôn giáo này đến những nơi nó được du nhập tới như Sri Lanca, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam và nhiều quốc gia khác

Mật tông đã khai sáng một nhận thức mới về sự giác ngộ qua hành trình tìm hiểu tri thức Đây là một vấn đề Phật học quan trọng và sâu rộng, chính vì vậy đã thu hút được nhiều học giả nghiên cứu trên thế giới Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã nghiên cứu về Phật giáo Hàn Quốc nói chung và Mật tông Hàn Quốc nói riêng Điểm mấu chốt trong nghiên cứu Mật tông Hàn Quốc trong luận văn này là hệ thống lại các nghiên cứu trước đây của các học giả Hàn Quốc, học giả quốc tế và trong nước về chủ đề này

Cuốn sách mang tính chất tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo tại Hàn Quốc từ khi du nhập vào quốc gia này cần kể đến là

Introduction of Buddhism to Korea: New Cultural Patterns (1989) trong tuyển tập gồm 3 tập về Nghiên cứu Tôn giáo và Văn hóa Hàn Quốc (Studies

in Korean religions and culture), nhà xuất bản Jain Publishing Company, của

hai tác giả Lewis R Lancaster và Chai-Shin Yu Cuốn sách đặc biệt quan tâm

đến Phật giáo thời kỳ Tam Quốc (Three Kingdom period) trong lịch sử Hàn

Quốc

Cũng cùng tác giả Lewis R Lancaster và Chai-Shin Yu trong cuốn

Assimilation of Buddhism in Korea: Religious Maturity and Innovation in the Silla Dynasty (1991) đã nghiên cứu Phật giáo từ giai đoạn triều đại Silla thống

nhất (669-935 AD) sau thời kỳ Tam Quốc Trong giai đoạn này, Phật giáo đã được hòa nhập vào nền văn hóa Hàn Quốc cùng một số thành tố văn hóa được xem là vay mượn từ Trung Quốc Nhiều học giả nghiên cứu Phật giáo đồng

Trang 11

7

quan điểm sẽ tìm thấy được tiếng nói chung trong những nghiên cứu của mình

về sự tiếp biến văn hóa Phật giáo trong khoảng thời gian này

Cũng nghiên cứu về triều đại Silla, trong cuốn Silla: Korea's Golden Kingdom (2013) của Soyoung Lee, Denise Patry Leidy, tác giả đã tập hợp sử

liệu và đưa ra những đánh giá về một vương triều hoàng kim trong lịch sử Hàn Quốc, trong đó Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội

và tôn giáo thời kỳ từ thế kỷ IV-VIII

Trong số các học giả nước ngoài, đi sâu vào nghiên cứu Phật giáo Mật tông có lẽ phải kể đến Richard K Payne thuộc Viện Nghiên cứu Phật học, trường Đại học Berkeley, Hoa Kỳ Trong một cuốn sách do ông chủ biên

Tantric Buddhism in East Asia (2005), Richard K Payne đã đưa ra một bức

tranh khá toàn cảnh về Phật giáo Mật tông ở các nước Đông Á trong đó có Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản: “Trong cuốn này, tác giả đã dành phần lớn nghiên cứu của mình đến Phật giáo bí truyền Hàn Quốc, đặc biệt là thời

kỳ Choson

Charles D Orzech (chủ biên) cùng với các nhà nghiên cứu Henrik H Sørensen, Richard K Payne, trong tác phẩm Esoteric Buddhism and the Tantras in East Asia (Phật giáo Bí truyền và Mật tông ở Đông Á) đã khái quát

con đường truyền bá Phật giáo Bí truyền và Mật tông từ Ấn Độ sang nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có các quốc gia Đông Nam Á, Trung Á (Tây Tạng và Mông Cổ) và các nước khu vực Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc) Không chỉ có Phật giáo bí truyền góp phần đáng kể vào sự phát triển của Phật giáo ở nhiều nền văn hóa, nhưng nó cũng tạo điều kiện cho việc truyền tải nghệ thuật tôn giáo và văn hóa vật chất…Tác phẩm này là kết quả của sự hợp tác trao đổi quốc tế của bốn mươi học giả, cung cấp nguồn tư liệu

Trang 12

History of Korean Buddhism có lẽ đã nghiên cứu tương đối tổng quan về Phật

giáo Hàn Quốc trong mối tương quan với Phật giáo Trung Quốc và Ấn Độ Ở đây, tác giả đi sâu vào tìm hiểu các khái niệm cơ bản về Phật giáo và việc tiếp nhận các tư tưởng đó ở Hàn Quốc để từ đó giúp người đọc hiểu hơn về Phật giáo ở đây Đối với Mật tông, một số tác giả Hàn Quốc như Jong-Seok trong cuốn밀교학 개론 (Khái luận Mật giáo học), tác giả Kim Yeong-deok trong

cuốn밀교문화 이해 (Hiểu biết văn hóa Mật giáo), tác giả Choi Jong-woong

trong cuốn밀교의 강좌 (Bài giảng của Mật giáo), tác giả Jeong Taek-hyeok

trong cuốn밀교의 세계 (Thế giới của Mật giáo) và một số tác giả khác khi

nghiên cứu chủ yếu mới chỉ dừng lại ở phạm trù tín ngưỡng hoặc tôn giáo nên những tác phẩm này thường đi theo hướng vừa kiến giải vừa “ca tụng”, có đôi khi còn bao gồm cả mục tiêu nâng cao uy tín tôn giáo của mình nên phần lớn đều thiếu tính khách quan khoa học và cũng mới dừng lại ở mức độ nhất định Một tác phẩm nghiên cứu Mật tông đáng kể khác phải kể đến là한국불교의밀교적 특색 (Đặc trưng mang tính Mật giáo của Phật giáo Hàn Quốc) của

tác giả Hong Yoon-sik đã giúp người đọc khái quát được những yếu tố Mật tông ẩn tàng sâu trong văn hóa Hàn Quốc nói chung, Phật giáo Hàn Quốc nói riêng theo dòng chảy lịch sử nước Hàn, đặc biệt tâp trung vào giai đoạn trung đại

Trang 13

9

Trở lại Việt Nam, nhiều đề tài nghiên cứu về quan hệ kinh tế - ngoại giao hay văn hóa xã hội Hàn Quốc nhận được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu nhưng nghiên cứu về Phật giáo Hàn Quốc nói chung và Phật giáo Mật tông nói riêng tại Việt Nam vẫn còn ở mức độ khiêm tốn Cho đến nay, cuốn sách tổng quát một cách hệ thống nhất về Phật giáo Hàn Quốc bằng

tiếng Việt là cuốn Dẫn nhập lịch sử tư tưởng Hàn Quốc của ba tác giả Kim

Seong Beom, Kim Sang Ho, Đào Vũ Vũ, tuy không đề cập đến Mật giáo những đã cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng thể về sự phát triển của Phật giáo Hàn Quốc qua các thời kỳ cũng như cho thấy hệ tư tưởng của nhiều học giả Phật giáo Hàn Quốc quan trọng Có thể hiểu, các yếu tố Hallyu hay kinh

tế Hàn Quốc đã trở thành trọng tâm và việc nghiên cứu Phật giáo Hàn Quốc của các nhà nghiên cứu Việt Nam ít được quan tâm Đây cũng là khó khăn cho những nhà nghiên cứu trẻ, tuy nhiên cũng mở ra một khoảng trống mà chúng ta cần lấp dần trong việc nghiên cứu Phật giáo Hàn Quốc Chính vì thế trong luận văn này, tác giả đặt mục tiêu phác họa một cách tổng thể bức tranh

về Mật tông Hàn Quốc qua việc tổng hợp và hệ thống các nguồn tài liệu trong

và ngoài nước

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Tác giả Hye Jeong Choi Jong Ung khi viết lời tựa tái bản lại cuốn Bài giảng Mật giáo (밀교의 강좌, Lecture on Esoteric Buddhism, 2011) đã viết:

“Ở nước ta (Hàn Quốc), theo chân Myeong-rang và Mil-bon, Hye-tong của

Silla, Mật giáo đã phát triển qua cả thời Goryeo cho tới Choson, tuy nhiên, do chính sách kiềm chế đạo Phật trong những điều chỉnh của nhà Choson mà Mật giáo đã bị hấp thu vào Hiển giáo và bị giấu đi những dấu tích của mình

Theo đó, Phật giáo của chúng ta (Hàn Quốc) đã chuyển đổi mạnh mẽ sang hình thái mang tính Phật giáo tổng hợp giữa lễ kinh (예경, 禮經) với tụng

Trang 14

10

kinh (독경), tham thiền, niệm Phật cùng với trì chú là một phương thức tu tập

của Mật giáo.” [40, tr 3] Nhận xét tổng quát này đã giúp người viết nhận định đối tượng nghiên cứu của luận văn là Phật giáo Mật tông tại Hàn Quốc trong mối liên hệ tổng thể, mật thiết với Phật giáo mang tính chất tổng hợp của nước Hàn

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào Mật tông thời kỳ Trung Đại trong lịch sử Hàn Quốc “Trung đại” là một thuật ngữ của khoa học lịch

sử phương Tây để chỉ một thời đại nằm giữa thời cổ đại và thời cận đại, có nghĩa là giai đoạn lịch sử gắn liền với chế độ phong kiến Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng ở phương Đông, do phương thức sản xuất châu Á nên chế độ phong kiến kéo dài và chưa phát triển đến cực điểm của nó, do vậy, việc áp dụng thuật ngữ “Trung đại” theo cách định nghĩa của phương Tây để phân kỳ lịch sử cho các nước phương Đông sẽ không tránh khỏi tính chất ước lệ Đối với Hàn Quốc, một trong số các nước phương Đông, việc phân kỳ lịch sử được dựa trên các triều đại cai trị [37, pg 50] Trong phạm vi nghiên cứu, thời kỳ trung đại trong lịch sử Hàn Quốc bắt đầu bằng sự cai trị của nhà nước Silla thống nhất (668-918) dưới triều đại vua Kim và Park đóng đô tại phía Đông Nam Gyongju Từ 918 đến 1392, vương triều này đổi tên thành Goryo

do dòng họ Wang vùng Kaesong cai trị Từ 1392 đến 1910, dòng tộc Chonju

Yi từ Yonghung lên nắm quyền và đổi tên nước thành Choson Trong giai đoạn này, lịch sử Hàn Quốc trải qua nhiều biến đổi Từ 676 đến cuối thế kỷ VIII là giai đoạn nhà nước Silla củng cố và phát triển kéo theo đó là sự phát triển cả về tôn giáo (Phật giáo) và nghệ thuật Thời kỳ từ sau 780 đến cuối thế

kỷ IX, lịch sử Hàn Quốc chuyển sang giai đoạn suy yếu cả về kinh tế, chính trị và đời sống văn hóa Đến thế kỷ X, nhà nước Silla chính thức bị suy yếu và thay vào đó là dòng họ Wang lên nắm quyền Nhà nước Goryo kéo dài

Trang 15

11

khoảng 5 thế kỷ cho đến thế kỷ XIV nhà nước Choson của vương triều Yi được thành lập và nắm quyền trong khoảng thời gian dài cho đến năm 1910 khi Hàn Quốc bị Nhật xâm chiếm Cùng với những thăng trầm của lịch sử Hàn Quốc Trung đại, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu Phật giáo Mật tông trong giai đoạn này

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội phổ biến bao gồm:

 Phương pháp lịch sử nhằm tái hiện trung thực quá trình hình thành Phật giáo và sự du nhập của Phật giáo vào Hàn Quốc Thông qua phương pháp này, luận văn nghiên cứu theo trình tự thời gian và không gian Phật giáo Hàn Quốc qua các triều đại (quá trình ra đời, phát triển, tiêu vong) Từ việc nghiên cứu bằng cách tìm nguồn gốc phát sinh (nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh nảy sinh), quá trình phát triển và biến hóa (điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian… có ảnh hưởng) để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu

 Thu thập tài liệu, tổng hợp và phân tích tài liệu từ nguồn tư liệu gốc cũng như nguồn tư liệu thứ cấp

 Cách tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành đươc sử dụng khi xem xét các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

Như trên đã đề cập, nghiên cứu về Phật giáo Hàn Quốc nói chung và Mật tông nói riêng tại Việt Nam vẫn còn ở mức độ khiêm tốn, do đó, như bước đầu trong nghiên cứu, luận văn góp phần lấp dần những khoảng trống về nghiên cứu Phật giáo Hàn Quốc Từ việc nghiên cứu lịch sử vấn đề, luận văn

Trang 16

12

đóng góp một số vấn đề lý luận cơ bản về Phật giáo và Mật tông, đặc biệt là

đi sâu tìm kiếm những dấu ấn và đặc trưng của Mật tông Hàn Quốc thời kỳ trung đại Những lập luận rút ra trong quá trình thực hiện đề tài có thể sử dụng như nguồn thông tin bổ trợ, tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy Ngoài ra, người viết cũng cố gắng kết nối Phật giáo Mật tông Hàn Quốc với những tông phát Phật giáo Hàn Quốc khác cũng như những hệ thống tư tưởng truyền thống của người Hàn nhằm đưa ra một góc nhìn mới trong việc nghiên cứu về Phật giáo Hàn Quốc nói chung Đồng thời, luận văn cũng sẽ đưa ra một số đóng góp của Mật tông và Phật giáo nói chung đến đời sống văn hóa Hàn Quốc

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Đôi nét về Phật giáo Phật giáo Mật tông

Chương này là phần khái thuyết cung cấp kiến thức tổng quan về sự hình thành Phật giáo tại Ấn Độ, từ đó giới thiệu về lịch sử phát triển của Mật tông cũng như Giáo nghĩa Mật tông

Chương 2: Phật giáo và Phật giáo Mật tông tại Hàn Quốc thời kỳ trung đại

Dưới góc độ lịch sử, tập trung vào thời kỳ trung đại, chương này cung

cấp thông tin về Phật giáo và Phật giáo Hàn Quốc theo từng phân kỳ của giai đoạn trung đại: từ thời Tam quốc đến hết thời Silla thống nhất (57TCN – 668SCN), thời kỳ Goryeo (918-1392) và thời kỳ Choson (1392-1910)

Chương 3: Đặc trưng Phật giáo Mật tông tại Hàn Quốc thời kỳ trung đại

Trang 17

13

Trên cơ sở thông tin tại chương 2, chương 3 đưa ra hai đặc trưng nổi bật của Phật giáo Mật tông Hàn Quốc thời kỳ trung đại là sự dung hợp tự nhiên của Mật tông Hàn Quốc với các tông phái Phật giáo Hàn Quốc khác và đặc trưng Hàn Quốc hóa Mật tông

Trang 18

14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐÔI NÉT VỀ PHẬT GIÁO VÀ PHẬT GIÁO MẬT TÔNG

1.1 Sự hình thành Phật giáo tại Ấn Độ

Có thể khẳng định, việc nghiên cứu sự hình thành, phát triển cũng như giáo lý, giáo đoàn Phật giáo nhận được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu và ngay cả các tu sĩ, cư sĩ Phật giáo trên toàn thế giới Chính vì vậy, trong luận văn này, người viết chỉ khái quát một vài yếu tố kinh tế-xã hội

và tôn giáo dẫn đến sự hình thành và phát triển của Phật giáo cũng như sự lan tỏa của Phật giáo trong lãnh thổ cũng như ra ngoài Ấn Độ để từ đó có sự liên kết chặt chẽ hơn với Phật giáo Hàn Quốc nói chung và Mật tông Phật giáo tại Hàn Quốc nói riêng

Nền văn minh sớm nhất của dân tộc Ấn Độ phải kể đến là nền văn minh sông Ấn (Indus river) Nhiều ý kiến cho rằng giống người Dravidian là dân bản địa xưa nhất và nổi bật nhất trong số các dân tộc ở Ấn Độ, là chủ nhân của nền văn hóa Indus Họ thờ nữ thần sáng tạo đất đai và dân tộc Nền văn minh giai đọan này không thua gì nền văn minh Lưỡng Hà vùng Trung Á

và văn minh nhà Thương của Trung Hoa thể hiện qua di tích khảo cổ những thành thị thủ công nghiệp và thương nghiệp lớn, xuất hiện từ khoảng giữa thiên niên kỷ III đến đầu thiên niên niên kỷ II trước công nguyên Dấu mốc thay đổi trong lịch sử Ấn Độ bắt đầu với sự hiện diện của người Aryan 11

11 Hiện vẫn còn nhiều tranh luận về giả thiết về sự tràn vào của người Aryan ở Ấn Độ như giả thiết di cư, giả thiết xâm lược hay giử thiết cho rằng người Aryan là cư dân bản địa Vào khoảng thời gian 100 đến 1.600 TCN, một chi của dòng họ Aryan rộng lớn, thường được gọi là người Indo-Aryan, di cư đến Ấn Độ Họ đem theo cùng với họ là tiếng Phạn và một tôn giáo dựa trên nghi lễ hiến tế các vị thần tượng trưng cho các thế lực của thiên

Trang 19

15

Người Ấn-Aryan cư trú ở vùng Panjab phồn thịnh, rất phát đạt về mặt tư tưởng, vì thế, dân tộc này đã chế tác được bộ kinh điển Rig Veda đầu tiên Đây là nguồn tư tưởng văn hóa ở thời kỳ thứ nhất của Bà La Môn giáo, vào khoảng 1500 -1000 TCN

Đây là thời kỳ nền kinh tế, xã hội nô lệ Ấn độ đã phát triển cao, nhưng vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của tổ chức công xã nông thôn, cùng sự thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền và sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp Trong lĩnh vực tinh thần, thế giới quan duy tâm, tôn giáo được coi là hệ tư tưởng chính thống, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội Các trào lưu triết học thời kỳ này với khuynh hướng đa dạng, đại diện cho các tầng lớp xã hội khác nhau, vừa mang tính chất triết học, vừa mang đậm màu sắc tôn giáo

Trong giai đoạn này, người Ấn Độ rất tôn trọng nghi thức tế tự, kính thần Lúc đầu họ đặt ra người gia trưởng, hoặc tộc trưởng để đảm nhận việc tế

lễ, gọi là chức Ty tế Dần dần chức Ty tế này trở thành công việc chuyên môn nên được thay thế bằng các Tăng lữ Mặc khác, vì theo đà tiến triển của xã hội, phát sinh ra bốn chức nghiệp: Sĩ, nông, công, thương Dần dần, các nghề nghiệp này được giai cấp hóa Giai cấp Tăng lữ trông coi việc tế tự chiếm địa

vị tối cao; thứ đến là giai cấp vua chúa, nắm quyền thống trị; thứ dân thuộc hạng nông, công,thương ở địa vị thứ ba; sau cùng là tiện dân ở địa vị thấp nhất Lối phân chia giai cấp này mỗi ngày thêm chặt chẽ Các Tăng lữ nắm thực quyền trong xã hội, đã đem tổ chức xã hội thành bốn giai cấp rõ rệt: Tăng lữ thuộc giai cấp Bràhman, vua chúa thuộc giai cấp Ksatriya, bình dân thuộc giai cấp Vaisya, tiện dân thuộc giai cấp Sùdra Hai giai cấp Bràhman và Ksatriya là giai cấp thống trị, hai giai cấp bình dân và tiện dân là hai giai cấp

nhiên như Indra, thần mưa và sấm, thần Agni (lửa) và Varuma, chúa tể của các sông biển

và mùa màng Những bài ngợi ca vị thần ấy được tập hợp lại thành bốn tập Kinh Vệ Đà.

Trang 20

16

bị trị Bốn giai cấp này theo chế độ thế tập, cha truyền con nối, nên giai cấp

nô lệ cứ phải đời đời làm nô lệ tạo thành một tổ chức xã hội bất công

Trong thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học, nhất

là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật, vô thần chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo lên đến đỉnh cao, đặc biệt là việc phủ nhận uy thế của kinh Veda Từ

đó đã hình thành cách phân chia có tính chất truyền thống tất cả các trường phái triết học thành hai phái chính là phái triết học chính thống (Astika) thừa nhận uy thế tối cao của kinh Veda của đạo Bàlamôn12 và phái triết học bác bỏ

uy thế tối cao của kinh Veda đạo Bàlamôn (gọi là phái phi chính thống) 13Trong các trường phái phi chính thống, ngoại trừ Phật giáo là một tôn giáo mang tính giác ngộ và giải thoát hoàn toàn, còn trường phái Lokayata là trường phái triệt để duy vật, vô thần, các trường phái khác đều mang tính chất nhị nguyên luận hay thiếu triệt để Cũng chính vì điều này mà Phật giáo sau khi hình thành đã sớm được truyền bá đến nhiều vùng trong Ấn Độ và trên thế giới

Xuyên suốt dòng lịch sử của đất nước Ấn Độ, người ta nhận thấy Ấn

Độ là nơi phát xuất tổ chức nhiều mô hình tôn giáo của thế giới [15, tr17] Lịch sử truyền bá của Phật giáo và tư tưởng Phật giáo rộng và sâu, nếu người muốn nghiên cứu về Phật giáo mà không đặt một đường lối đã định để noi theo thì khó thể đạt được phần kết quả tốt đẹp Vậy bước đầu tiên của đường lối đó chính là việc nghiên cứu về sự hình thành của Phật giáo Phật giáo ở mỗi vùng, mỗi nước đều có những đặc chất khác nhau Tuy vậy, Phật giáo ở

Trang 21

17

các nước đều bắt nguồn từ Ấn Độ, nên việc khảo sát về sự truyền bá Phật giáo

Ấn Độ chiếm một địa vị rất quan trọng

Sau khi Đức Phật nhập niết bàn khoảng 100 năm Phật giáo đã bắt đầu

có sự phân phái rõ rệt Cuộc kiết tập Kinh điển lần thứ hai không đơn thuần chỉ nhằm xác quyết mười điều (không có trong giới Luật do đức Phật chế định)

là phi pháp hay hợp pháp mà còn củng cố Kinh, Luật Phật dạy, không để cho các học thuyết ngoại đạo trà trộn Cuộc kiết tập này cũng đánh dấu sự ra đời

của 2 bộ phái lớn, đó là Theravāda (Thượng Toạ Bộ) và Mahāsanghika (Đại

Chúng Bộ) Theo Dị Bộ Tông Luận 14, sau khi đức Phật nhập diệt do không thống nhất ý kiến nên tăng đoàn chia làm 2 bộ là Thượng tọa bộ và Đại chúng

bộ Về sau, Đại chúng bộ chia thành 9 bộ và Thượng tọa bộ chia thành 11 bộ

Giai đoạn này, việc truyền bá Phật giáo đã diễn ra khá mạnh đã dẫn đến các bộ phái co cụm lại và hưng thịnh ở những vùng khác nhau, không còn tinh thần hoà hợp thống nhất như thời đức Phật còn tại thế Phái Theravada thì giáo hoá tập trung ở lưu vực sông Hằng, Maghadha (nay thuộc bang Bihar) và một số vùng lân cận Phái Mahàsanghika (Đại Chúng Bộ), bộ phái tổ tiên của Đại thừa thì phát triển mạnh ở Bắc Ấn thành những trung tâm học thuật, trong

đó có các vùng thuộc Afghanistan và Parkistan ngày nay [25, tr 227]

Đặc biệt dưới sự bảo trợ của vua Aśoka, nhiều tu viện Phật giáo được xây dựng cùng số lượng Tăng sinh trở nên đông đảo Tuy vậy, có không ít kẻ

cơ hội trà trộn vào đoàn thể Tăng đoàn gây nên những mối bất hòa do đó Phật giáo trở nên hỗn loạn, khó phân biệt chính tà Đây chính là lúc mà các bộ phái phân hóa đến cực điểm Trước thực trạng như vậy, vua Aśoka đã phát tâm

14 Dị tông luận (Dị bộ tông luân luận) nói về học thuyết của các bộ phái Tiểu Thừa khái quát tường thuật lại toàn bộ quá trình diễn biến của thời kỳ Phật giáo Bộ phái (370 TCN –

150 SCN), tóm tắt những quan điểm chính của các bộ phái, phê phán của Phật giáo Đại thừa Tác phẩm này được xem như là chiếc chìa khóa để tìm hiểu các nguồn tư liệu

Abhidhamma cũng như các kinh điển Phật giáo Đại thừa.

Trang 22

18

khởi xướng và là người bảo trợ cho Hội nghị kết tập Kinh điển lần thứ ba Sau lần kết tập kinh điển này, vua Aśoka cử những phái đoàn truyền giáo đến các nước ở Châu Á, Châu Phi, Châu Âu…

Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XIII Phật giáo Ấn Độ dần dần suy vi Giai đoạn này Phật giáo Mahāyāna được truyền từ Ấn Độ gọi là Phật giáo Bắc truyền lại phát triển rực rỡ ở các nước Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản

và Việt Nam với sự xuất hiện của mười đại tông phái như Thiền, Tịnh độ, Nhiếp Luận, Thiên Thai Thiền tông xuất hiện vào Trung kỳ Đại thừa và Mật giáo xuất hiện vào Hậu kỳ Đại thừa

1.2 Phật giáo Mật tông

Mật tông là một trong những tông phái của Phật giáo, xuất phát từ Ấn

Ðộ vào khoảng thế kỷ thứ VII, rồi sau đó được truyền bá sang Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc Mật tông hay còn gọi là Kim cương thừa, được coi như là con đường thẳng dốc đứng để đi lên đỉnh núi; điều đó vừa nói lên tính siêu việt, đồng thời cũng nói lên sự khó khăn và nguy hiểm của con đường, lối tu Mật giáo Trong các kinh điển Ðại thừa, có nhiều bộ kinh lồng vào những câu chú, Ðà la ni như là để khai triển ý nghĩa sâu thẳm của tâm linh quả chứng hay ý lực chư Phật, Bồ tát; có lẽ đây là cơ sở để Mật giáo phát triển về sau Lịch sử phát triển Mật tông đôi khi đã có những xu hướng lệch lạc ra ngoài quỹ đạo hướng đến giải thoát theo lý tưởng của đạo Phật Bởi có

sự biểu hiện thiên về phù phép, tà thuật làm cho uy tín của Mật giáo nói chung bị tổn thương nặng nề Ngày nay, sự nỗ lực truyền bá Mật giáo hay Kim cương thừa của các bậc đại sư Tây Tạng đã làm sáng tỏ ý nghĩa đích thực của tông phái này

Mật tông gồm có hai hệ thống là Chân ngôn thừa (Mantrayāna) chú trọng lý luận và Kim cương thừa (Vajrayāna) chú trọng thực tế Theo nhiều

Trang 23

19

nhà nghiên cứu Phật học, tư tưởng Mật giáo có từ thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy, được biểu hiện qua những câu chú thủ hộ trong các bộ Luật và trong Kinh Khổng Tước (Mahāmy arividy ārajnì) Sự hình thành như một hệ thống

tư tưởng và hưng thịnh của nó gắn liền với ngôi tự viện Vikramasila, thế kỷ thứ VIII SCN, dưới triều đại vua Dharmapala ở Đông Ấn Độ Ngôi tự viện này là trung tâm của Mật giáo Mật giáo thường chú trọng mục đích cầu phước, trừ tai cho nhân thế hơn là hoàn thiện trí tuệ thông qua việc giữ giới và thực hành thiền định

Lịch sử truyền bá Mật giáo nổi bật với tên tuổi của Subha Karasimha (637 - 735), Vajra Bodhi (671 - 741), Amoghavajra (705 - 774), Padmasambhava cuối thế kỷ thứ VIII, Atisa (Dipankarasrijanàna, cuối thế kỷ

thứ XI) Đặc biệt là Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) đã truyền bá Mật giáo

sang Tây Tạng và phát triển cho đến ngày nay, trở thành Tổ sư của Phật giáo Tây Tạng Sau Ngài, Ngài Atisa sống tại Tây Tạng 12 năm đã trở thành một đại dịch giả Kinh điển ở đây Dễ nhận thấy tuy Mật giáo được xuất phát từ Ấn

Độ, nhưng lại không phát triển tại đây và chỉ khi truyền bá ra bên ngoài mới phát triển mạnh mẽ

1.2.1 Lịch sử Mật tông

Trên phương diện lịch sử, tại Ấn Độ - nơi khởi nguyên của mình, Phật giáo trải qua bốn chặng đường lịch sử: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Bộ phái, Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Mật tông Phật giáo Đại thừa là khoảng

từ giữa thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ VII SCN, trong quá trình phát triển của Phật giáo Đại thừa lại phân chia thành ba giai đoạn khác nhau, trong đó, Mật tông là một nền văn hóa đặc sắc của Phật giáo Đại thừa giai đoạn cuối

Mật tông (Tantric Buddhism) là một trong những tông phái của Phật giáo đặc biệt có quan hệ mật thiết với Phật giáo Đại thừa, còn được gọi là Mật

Trang 24

Ngài Long Thọ (Nagarjuna, 600-650) được coi là vị Tổ sư của Mật giáo Ngài thuộc dòng Bà la môn, thọ giới tại Nalanda, sau đó đến Vương Xá

tu 12 năm đắc thánh quả Ðại thủ ấn tất địa (Mahamudràsiddhi) Phật giáo Tây Tạng cho rằng Long Thọ (thế kỷ VII) và Long Thọ luận sư (thế kỷ II) là một, tức Long Thọ đầu thai trở lại Ngài có đệ tử truyền pháp là Long Trí Mật giáo

Ấn Ðộ được khởi xướng và truyền bá do các cao tăng như Long Thọ, Long Trí, Kim Cương Trí, Thiện Vô Úy Trên mặt giáo nghĩa và hành trì thì Mật giáo được chia làm hai phái Chân ngôn thừa (Mantrayàna) và Kim cương

thừa (Vajrayàna), dựa theo tư tưởng của hai bộ kinh Ðại Nhật và Kim Cương

Sự khởi nguyên, quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Mật tông có mối tương quan mật thiết với sự thay đổi của nền chính trị, văn hóa

Ấn độ đương thời Nửa sau thế kỷ VII (SCN), Ấn độ giáo đã len lỏi trong các

hệ thống học thuyết, kể cả giáo lý Phật giáo mà phục hưng trở lại, từ đó tạo ra

sự cạnh tranh rất mãnh liệt đối với Phật giáo đương thời Lúc bấy giờ Phật giáo Đại thừa không chỉ bị giới hạn trong phạm vi “kinh viện triết học”, mà còn chạy theo những phong trào lý luận học vấn, gắn chặt mình với phạm trù triết học biện luận, do vậy, vô hình chung đã tự tách mình ra khỏi quảng đại quần chúng Vì thế, để thích ứng với tình thế mới, Phật giáo Đại thừa đã quay

Trang 25

đã hình thành nên một hệ thống Mật giáo tương đối độc lập Do đó, có thể nói, Mật giáo là sản phẩm của sự kết hợp giữa Phật giáo Đại thừa và Ấn Độ giáo,

và sự ra đời của Mật giáo xuất phát từ nhu cầu phát triển tự nhiên của Phật giáo Đại thừa

Tư tưởng Phật giáo Mật tông được manh nha từ trong Kinh A Hàm cho rằng việc xướng tụng những kinh văn đơn giản bằng văn Pali trong Lật Tạng và trong Kinh A Hàm, nương vào công đức đó thì phước sẽ đến họa sẽ

đi, cho thấy tín ngưỡng mật chú từ buổi ban đầu Với hình thức Mật giáo này được phân là thời kỳ Tạp Mật Ngoài ra còn lấy thể cách văn tự và ngữ cú làm đặc trưng riêng, có hàm nghĩa vô cùng sâu sắc với việc nhiếp tâm điều tức, với mục tiêu đạt đến Đà-la-ni thống nhất tinh thần tức là Nhất Tâm, giai đoạn này được gọi là giai đoạn tối sơ của Tạp Mật Như vậy có thể thấy, tư tưởng Mật tông đã bắt đầu từ thời kỳ Phật giáo nguyên thủy với những hình thức sơ khai của việc hành trì Mật tông

Đến thời kỳ Phật giáo Bộ phái, Mật tông đã tích lũy được một số lý luận khá lớn, và đến thời kỳ Phật giáo Đại thừa phát triển thì hình thành nên

một hệ thống lý luận khá chặt chẽ Trong bộ Ấn Độ Phật giáo sử,

Đa-la-na-tha viết: thời ngài Tăng Hộ, hai loại Sự bộ và Hành bộ hiển nhiên đã lưu hành được hai trăn năm rồi, nhưng hai loại Du già và Vô thượng du già vẫn chưa xuất hiện, đến vương triều Pala về sau mới bắt đầu hoằng truyền Đến nay hệ thống truyền thừa của Mật giáo vẫn rất mơ hồ và cũng khá phức tạp, bởi do

đã không xuất hiện những tác giả Mật giáo có quyền uy trên phương diện

Trang 26

22

nghiên cứu học thuật, mà cũng chẳng hình thành nên một chế độ truyền thừa

rõ ràng Do đó, thế kỷ VII, Mật giáo rải rác xuất hiện nhưng đều có thể quy vào phạm trù của Thời kỳ Tạp Mật [46] Sau khi hai bộ kinh quan trọng của

Mật giáo là Kinh Đại Nhật, tiếp theo đó là Kinh Kim Cương Đỉnh được tập

hợp, Mật giáo chuyển sang thời kỳ Thuần Mật – giai đoạn phát triển cao hơn với các lý luận được hệ thống hóa

Ở giai đoạn Mật giáo hậu kỳ, xã hội Ấn độ thời trung cổ phát triển biến thiên vô cùng phức tạp, Phật giáo cũng tùy thuận vào mức độ biến hóa ấy mà tồn tại và phát triển, cũng từ đó mà Phật giáo Đại thừa đã phát triển theo hướng Mật giáo hóa Trong quá trình vận động cải cách, những ngôi tự viện nổi tiếng của Ấn Độ đã có tác dụng rất lớn, như trường Đại học Nālandā nổi tiếng cách phía Bắc, cách thành Vương xá (Rājagṛha) chỉ vài cây số, là trung tâm nghiên cứu văn hóa tôn giáo, nơi vân tập tất cả học Tăng các phái của Phật giáo Đầu thế kỷ VII, trường Nālandā đã bắt đầu xem trọng Đà-la-ni của

Mật giáo, đồng thời biên soạn Trì Minh Chú Tạng, là bộ điển tịch căn bản của

Mật giáo Thực tế này đã nói lên rằng, do sự phong tỏa việc học thuật lý luận của Đại thừa hậu kỳ mà mất đi sự tín nhiệm trong dân chúng, vì thế để khơi tạo lại sự ảnh hưởng nơi quần chúng thì ắt hẳn phải trưng dụng nghi thức thần

bí trong nghi lễ tôn giáo của Ấn độ giáo Điều này cũng cho thấy việc thay đổi, tiếp thu những hệ tư tưởng khác được coi trọng thời bấy giờ là nhu cầu chuyển đổi tự nhiên của Phật giáo nói chung, Mật giáo nói riêng đảm bảo cho

sự tồn tại và phát triển của mình Từ đó, trường đại học Nālandā trở thành một cơ địa trọng yếu cho việc phát triển của Phật giáo Mật tông Trong sử sách rải rác có ghi chép, các vị danh đức trụ trì ngôi tự viện này, ngoài Long Thọ (Nāgārjuna) ra còn có ngài Đức Huệ (Guṇamati) và Hộ Pháp (Dharmapāla), kế tiếp các ngài trên có Hộ Nguyệt (Candrapāla), Kiên Tuệ (Sāra-mati), Thắng Hữu (Visesamitra), Trí Nguyệt (Jñānacandra), Giới Hiền

Trang 27

23

(Śīlabhadra), Trí Quang (Jñāna-prabhā), Nguyệt Xứng (Candrakī), Tịch Hộ (Śāntarakṣita) v.v là các bậc luận sư nổi tiếng đảm trách việc lãnh đạo trường Nālandā Những bậc đại luận sư này không nhiều thì ít có sự đóng góp cho sự trỗi dậy của Mật giáo, cũng như “phái Trung quán sau khi vừa thành lập thì đã có mối quan hệ với Mật giáo, ví dụ những danh tăng hoằng hóa ở Nam Ấn có Phật Hộ (Budhapālita), Thanh Biện (Bhāvaviveka) đều chuyển qua Mật thừa; Trung Ấn có Nguyệt Xứng, Trí Tạng (Jñānagarbha), Hộ Tịch, Liên Hoa Giới (Kamala śīla) v.v đều thọ học Mật giáo Mật giáo phát triển mạnh mẽ là nhờ vào các học giả cả hai hệ không và hữu của Đại thừa, và chung cuộc là nó đã dung hòa vào trong các trào lưu thời đại.” [15, tr 227] Đặc biệt là luận sư Tịch Hộ, Liên Hoa Giới, Giải Thoát Quân (Ārya-Vimuktasena), Sư Tử Hiền (Haribhadra) và Giác Cát Tường Trí (Buddhaśri) v.v đã đem học thuyết Du Già Hành (Yogācāra) của học phái Duy Thức (Vijñānavāda) đưa vào trong học thuyết của phái Trung Quán Tự Tục (svātantrika,自立量派), và từ đó hình thành nên học thuyết Du già Trung quán phái (hay còn gọi là Thuận Du già hành Trung quán học phái, 顺瑜伽行中观学派) Phái này là sự hỗn tạp bao gồm nhiều hệ thống triết học

tư tưởng Phật giáo và ngoại đạo, hình thức và phương pháp cũng tự do và linh động Đây chính là tiêu chí tối trọng yếu của Phật giáo Đại thừa thời hậu kỳ

đã và đang dần dần bị Mật giáo hóa [46]

Hoàng đế thứ tư Dharma Pāla (766-829 AD) của vương triều Pāla lại rất sùng tín Phật giáo, cảm thấy quy mô của trường Nālandā không đủ rộng,

vì thế ông lại cho xây một ngôi tự viên mới khang trang khác trên quả đồi nhỏ bên bờ Nam sông Hằng tên là Vikramasilavihara (Siêu Loại hoặc Siêu Giới

tự ), quy mô của nó lơn hơn cả Nālandā Trung tâm của Siêu Loại có một nửa thuộc bộ phận nội đạo của Phật giáo Mật tông, còn một nửa là dành cho ngoại

Trang 28

là tôn giả Atisha, qua Tây Tạng vào thế kỷ XI, ngài đã dốc sức cho việc phiên dịch kinh Phật, đồng thời ngài giảng kinh Thời Luân, đem hết tinh lực để hoằng truyền Mật giáo, trở thành vị Tổ sư của Mật Tạng

Có thể thấy rằng, các ngôi tự viện lớn như trường Đại học Nālandā hay Vikramasilavihara có đóng góp lớn trong việc truyền thừa và phát triển Mật giáo không chỉ ở cơ sở lý luận, hệ thống tư tưởng mà còn ở số lượng tăng sĩ tu học Mật giáo, từ đó cũng góp phần phổ biến Mật giáo ra ngoài phạm vi Ấn

Độ

Đến thế kỷ thứ XI-XII, cuối vương triều Pala và thời đại vương triều Sina, quân đội của Hồi giáo ngày càng lấn chiếm, Phật giáo phải dồn về cứ điểm cuối cùng ở Đông Ấn nhưng rốt cục cũng bị quân Hồi giáo đánh chiếm sạch Các vị đại sư Mật giáo phải lưu vong qua nhiều vùng lãnh thổ khác, trong đó có rất nhiều vị đã thông qua đường Kashmir mà chạy vào tỵ nạn ở Tây Tạng, một số khác lại chạy vào dãy Nepal Đương thời, trường Nālandā cũng chỉ còn lại khoảng 70 vị, không lâu sau đó thì vương thất lại tin theo Hồi giáo, tín đồ Phật giáo chưa biết phải chọn đường nào nên đành phải cải đạo thành tín ngưỡng Hồi giáo, hoặc tín ngưỡng Ấn độ giáo Đầu thế XIII, quân đội của Hồi giáo thiêu cháy chùa Siêu Loại, ngôi chùa cuối cùng của Ấn Độ

Sự kiện này được lấy làm tiêu chí đánh dấu Phật giáo nói chung và Mật tông nói riêng trên đất Ấn Độ đã hoàn toàn tiêu diệt [46]

Trang 29

25

Dưới góc độ lịch sử có thể dễ nhận thấy trong thời kỳ đầu Phật giáo Ấn

Độ rất giới hạn trong phạm vi không ra ngoài nước Ấn Độ Nội dung thuyết giảng và triết học Phật giáo chú trọng vào những vấn đề tâm lý Con người cố gắng tự nhiếp phục tâm ý mình và mục tiêu tối hậu là giải thoát Niết bàn, trở thành bậc Arhat nghĩa là chuyển con người từ phàm sang Thánh, đoạn trừ hết

ái nhiễm, hết dục vọng và vĩnh viễn không còn phải tái sinh trong sinh tử luân hồi Bước sang thời kỳ Phật giáo phát triển, Phật giáo bắt đầu chuyển mình sang các nước Đông Á và chính Phật giáo cũng bị ảnh hưởng bởi những luồng tư tưởng bên ngoài Ấn Độ Thời kỳ này đặt trọng tâm chính về bản chất của hiện hữu Nói cách khác đây là giai đoạn tư tưởng tự tánh và sự nhận thức của tâm về tự tánh của tất cả vạn hữu được xem như là yếu tố chính để đạt đến sự giải thoát, đưa người tu Phật hướng về Bồ-tát đạo để phát tâm cứu độ tất cả chúng sinh và đạt đến sự giác ngộ viên mãn, tức là thành Phật Bước sang giai đoạn thứ tư, khi Mật tông và Thiền tông phát triển rất mạnh thì Phật giáo bị ảnh hưởng rất lớn bởi những tư tưởng dị biệt của những quốc gia khác ngoài Ấn Độ, như Trung Hoa, Tây Tạng hay Mông Cổ Giai đoạn này tư tưởng nghiên cứu đặt nặng vấn đề vũ trụ Đây là giai đoạn xem việc hoán chuyển tự thân cho hòa nhập với vũ trụ tức là sống phải tùy thuận với chân lý

vũ trụ là mấu chốt chính để đạt đến giác ngộ và nhắm vào mục đích chính là

sự hòa hợp hoàn toàn với vũ trụ nghĩa là Pháp thân thường trụ của chư Phật hòa hợp vô cùng vô tận trong thế giới vũ trụ này

1.2.2 Giáo nghĩa Mật tông

Vì là một pháp môn bí mật nên rất nhiều học giả hiện đại đã tìm cách vén bức màn bí mật của Mật tông để giải nghĩa Nhà sư Jong-seok – giảng viên Đại học Tăng già Hàn Quốc (中央僧伽大學校, Joong-Ang Sangha

University) trong cuốn Khái luận Mật giáo học (밀교학 개론) đã có cách ẩn

Trang 30

26

dụ so sánh giữa Mật giáo và Hiển giáo rằng: “Nếu chúng ta lấy ví dụ bằng hình tượng một quả táo thì câu chuyện kể về lớp vỏ táo chính là Hiển giáo, còn việc khám phá và phân tích thế này thế kia đối với những thành phần bên trong quả táo đó chính là Mật giáo.” [38, tr.5] Trên thực tế, các triết gia

phương Tây thế kỉ XVIII, XIX đã đánh giá rằng “Phật giáo (Hiển giáo) là chủ

nghĩa hư vô (Nihilism, chủ nghĩa trốn chạy hiện thực”) và “Những căn cứ dựa

trên cái nhìn mang tính phủ định chính là bài giảng của Phật giáo (Hiển giáo)” [38, tr.6] Ngược lại, Mật tông, ngay từ ban đầu đã phủ nhận cái nhìn của Hiển giáo, cho rằng sự tồn tại nhất thể có bao gồm cả con người vốn Tự tính thanh tịnh (자성청정,自性淸淨) và đánh giá tích cực sự tồn tại này ở

mọi mặt, theo đó, cuộc sống không phải Khổ mà là Lạc và Đại Lạc Điều này

đã làm thay đổi 180 độ cái nhìn khách quan và chủ quan về cuộc sống Thêm nữa, cõi sống này không chỉ là thế giới của chúng sinh mà còn là nơi trú ngụ

của các Đức Phật nên mới được gọi là Phật quốc tịnh thổ (불국정토, 佛國淨土), Mật Nghiêm quốc thổ (밀엄국토, 密嚴國土), và bản thân việc

được sinh sống trong cõi này đã là niềm vui lớn, là sự hoan hỉ [38, tr 6] Đây

là những điểm khác nhau căn bản giữa Hiển giáo và Mật giáo

Một điểm đáng chú ý nữa khi nhắc tới Mật giáo là các học giả trước đây, thậm chí là nhiều học giả Phật giáo đã có những đánh giá chưa hoàn toàn chính xác về Mật tông, nhìn nhận Mật tông như là một “dòng Phật giáo ngoại đạo tha hóa” vì hình thức “nam nữ song tu” của dòng pháp này Ngay cả hiện nay, việc tranh cãi về tính chất của phương pháp tu hành này vẫn còn tiếp diễn, nhất là ở các nước phương Đông trong đó có Việt Nam chúng ta vốn không thuận mắt với hình tượng sắc dục như vậy Trên thực tế, có một giai đoạn ngắn trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng vào thế kỷ thứ X và XI, khi một

Trang 31

27

số người ở Tây Tạng tin rằng việc tu tập với hình tượng sắc dục sẽ cho phép

họ nuông chiều bản năng tính dục một cách bừa bãi và tham gia vào mọi hình thức truy hoan suy đồi Tuy nhiên, một vị quốc vương mộ đạo cai trị phía tây Tây Tạng vào lúc đó đã mời đại sư Atisha (A Đề Sa, 982 - 1054), một đại sư Phật học nổi tiếng người Ấn Độ, giúp ông giải quyết vấn đề này Atisha đến

và dạy các phật tử Tây Tạng cách hiểu những hình ảnh đó như là biểu tượng của những gì xảy ra trong việc hành thiền Kim Cương thừa của bản thân và biểu tượng này không xúi giục các nhà sư hoặc ni cô phá vỡ sắc giới mà mang lại phương pháp sử dụng năng lượng khổng lồ ẩn giấu trong năng lượng tính dục (theo tự nhiên vốn cũng mạnh mẽ ở các nhà sư và ni cô như bất kỳ ai) để đạt đến mục đích giác ngộ nhanh hơn Nhà sư Jong-seok của Hàn Quốc cũng

giải thích về vấn đề này trong Khái luận Mật giáo học rằng: “Để chứng đắc Tức thân thành phật trong hiện thực, đây chỉ là một sản phẩm mang tính nhất

thời trong giáo lý Mật giáo hậu kì” [37, tr 8] Nếu mang vấn đề này ra để quy kết Mật giáo là một “dòng Phật giáo ngoại đạo tha hóa” như một số nhận xét

đã và đang tồn tại thì quả thực là một sự ngộ nhận sai lầm về đặc tính của Mật giáo với 900 năm không ngừng phát triển

Xuất phát từ tư tưởng của hai bộ kinh Ðại Nhật và Kim Cương Ðỉnh, Mật tông thiết lập nên hai dòng nhánh chính là Chân Ngôn thừa và Kim Cương thừa, theo đó hai Mandala tương ứng là Thai tạng giới Mandala và Kim cương giới Mandala Mandala được hiểu là luân viên cụ túc, mang nghĩa

là vòng tròn đầy đủ Ðây là biểu tượng của vũ trụ và năng lực trong vũ trụ được trình bày bằng các hình vẽ Về mặt triết lý, là cơ sở hợp nhất thế giới hiện tượng và thế giới bản thể, là đối tượng của thiền quán Trong ý nghĩa thực tiễn thì Mandala là đàn tràng bằng đất để hành giả bày biện các lễ vật hay pháp khí phục vụ cho nghi thức hành lễ, cầu nguyện, tu luyện

Trang 32

28

Thai tạng giới Mandala (Garbhadhàtu mandala) là yếu tố thụ động tâm linh, cũng có nghĩa chỉ vũ trụ ở mặt tĩnh, mặt lý tính Tác dụng lý tính như thai mẹ chứa đựng đứa con, từ lý tính thai tạng mà xuất sinh mọi công đức Kim cương giới Mandala (Vajradhatu mandala) là yếu tố tác động, biểu hiện cho trí tuệ viên mãn, còn gọi là trí thủy giác Kim cương giới là trí tuệ nội

chứng của Phật Bí tạng ký nói: “Thai tạng là lý, Kim cương là trí” Thai tạng

giới biểu hiện cho bản thể Phật tính của mọi chúng sinh và Kim cương giới biểu tượng cho trí tuệ viên mãn Từ Thai tạng giới mà xuất sinh Kim cương giới theo tiến trình nhân quả Sự hợp nhất Kim cương giới và Thai tạng giới là

sự chứng ngộ tối thượng

Xét về hệ thống lý luận, giáo lý Mật tông dần dần được hình thành và

được kết tập vào khoảng nửa cuối thế kỷ VII, tức là Kinh Đại Nhật, tiếp theo

đó là Kinh Kim Cương Đỉnh Kinh Đại Nhật còn gọi là Kinh Đại

Tỳ-Lô-Gía-Na Thành Phật Thần Biến Gia trì Kinh (tiếng Phạn:

Mahā-vairocanābhisambodhi-vikur-vi-tadhişthāna vaipulya

sūtrendra-raja-nāma-dharma-paryāya) Truyền thuyết kể rằng, kinh Đại Nhật là do đức Đại Nhật

Như Lai giảng thuyết, Mật giáo là đối lập với Hiển giáo, là sự phái biệt của Phật giáo Đại thừa Hiển giáo là do đức Như Lai tùy cơ mà ứng thân cứu độ chúng sinh mà thuyết ra, Mật giáo là pháp do Báo thân tự thọ dụng, nội chứng thánh trí của đức Phật, và thánh trí Tha thọ dụng báo thân của đức Đại Hạnh Phổ Hiền Kim Cương Tát Đỏa, hiện đời gặp Mạn-đà-la A-xà-lê, cho đến danh hiệu Quán đỉnh thọ Kim cương, do đó mà chứng được pháp sâu xa không thể nghĩ bàn, siêu vượt lên cả hàng nhị thừa và Bồ tát thập địa, tức thân thành Phật Nói rõ những gì đức Đại Nhật Như Lai nói ra là có y cứ lý luận sâu xa, kinh Đại Nhật trở thành bộ kinh điển lý luận của Mật giáo, là đại pháp tối cao,

và là pháp đốn ngộ, pháp dễ hành dễ chứng, trên lịch trình tu chứng thì được gọi là Pháp nhanh, là cứu cánh Ưu điểm đáng luận bàn của Kinh này là sự

Trang 33

29

trùng lặp giữa việc cầu sinh Tây phương tịnh độ của Mật giáo và sự hợp nhất với Phạm Thiên của Ấn độ giáo Ấn Độ giáo cho rằng Phạm thiên (brahman), đấng sáng tạo tối cao và là linh hồn vũ trụ, đồng nhất với tiểu ngã (ātman), linh hồn trong mỗi cá thể Từ việc hoá đồng Phạm thiên và tiểu ngã, sự đa dạng, khác biệt biến mất khi trí huệ cứu cánh dẫn dắt tâm thức cá nhân hoà nhập với Phạm thiên và như vậy có nghĩa là dẫn đến giải thoát Như vậy, ở

một mức độ nào đó có thể nói rằng, do sự kết tập Kinh Đại Nhật mà hình

thành được hệ thống lý luận của Mật giáo, từ đó thu hút được mọi người cùng

hát lên khúc ca “tức thân thành Phật” Và từ giáo lý Kinh Đại Nhật, một lần

nữa chúng ta lại có thể kết luận rằng Mật giáo chính là sự kết hợp giữa Phật giáo Đại thừa giai đoạn cuối với Ấn Độ giáo

Tư tưởng trọng tâm của Kinh Đại Nhật là “tức sự nhi chơn”, trên thực

tế tư tưởng này bắt nguồn từ tư tưởng “sự sự vô ngại” của Kinh Hoa nghiêm,

đồng thời tham chiếu qua tư tưởng “Phạm ngã nhất trí” của Ấn độ giáo, từ đó

mới đề ra giáo lý “tức thân thành Phật” Bởi nguồn gốc của Kinh Đại Nhật là

từ Kinh Hoa nghiêm, đặc biệt xem trọng Bồ đề tâm, cho rằng thông qua việc

thấy rõ tâm mình chân thật, đồng thời tự tâm mình cầu được nhất thiết trí thì

sẽ đạt được tâm Bồ đề Trong kinh tuy giảng đức Đại Nhật Như Lai thuyết pháp nhiếp chúng sinh, mượn chân ngôn và Mandala để hiển hiện ra vô số thân Phật Quan niệm này đối kháng lại với tư tưởng Đại thừa, nhưng nó trở thành cơ sở lý luận của Mật giáo Cụ thể mà nói, trong Kinh Đại Nhật, đức Phật Thích Ca Mâu Ni trở thành đức Đại Tỳ-lô Giá-na Phật, theo bên ngài có đức Phổ Hiền Bồ tát và hai vị Kim Cương, và cả các vị Kim Cương thủ môn Toàn thể vũ trụ dường như được ánh sáng của đức Phật phổ chiếu Tất cả chúng hữu tình đều phải nương vào tự tâm mình để đạt được ngôi vị chánh giác, nói một cách rốt ráo thì tự tâm vốn thanh tịnh, người tu tập phải thông qua thiền định của Ngài để trở thành Phật Tỳ Lô Giá Na Ngài dùng Madala

Trang 34

30

để nhận rõ tâm niệm chúng sinh, bởi Mandala cũng là tâm của Phật, là tâm Bồ

đề Phương pháp cảm thông này bao hàm cả trì niệm Chân ngôn, tham gia các nghi thức như quán Mandala, tay kiết ấn và thực hiện nghi thức Du già [36,

pg.452] Kinh Đại Nhật xuất hiện tương đối sớm, được kết tập trong Tập Bộ,

là một bộ kinh rất quan trọng đối với giáo lý Mật giáo

Kinh Kim Cương Đỉnh (Vajraśekharasūtra), đề kinh viết đầy đủ phải là Kinh Kim Cương Đỉnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh (Sarv-atathāgatat-attva-saṃgraha-suntra), còn gọi là Kinh Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng, Kinh Kim Cương Đỉnh Du Già Chân Thật Đại Giáo Vương, Kinh Đại Giáo Vương Kinh này cũng là một bộ kinh điển tối trọng yếu của Mật giáo, xuất hiện sau Kinh Đại Nhật, và được

dịch sư Bất Không Kim Cương (705-774) dịch ra Hán văn vào đời Đường, gồm 3 quyển Căn cứ vào đó có thể đoán định được niên đại xuất hiện của

Kinh Kim Cương Đỉnh cũng phải là cuối thế kỷ thứ 7 hoặc đầu thế kỷ thứ 8 (AD) Từ nguồn gốc sâu xa của lịch sử, bộ kinh Kim Cương Đỉnh là thuộc hệ

phái Du già Hành (Yogācāra), tư tưởng trọng tâm của phái này là thuyết Tâm thức, nhưng trong đó mang đậm tư tưởng “đại lạc” Như trên đã giới thiệu qua,

nội dung Kinh Đại Nhật chú trọng về pháp môn “hành vi”, bao hàm cả nghi

thức quán đỉnh và tư thế tham thiền, cho đến cả các nghi thức bắt ấn trì chú và quán Mandala, tất cả đều muốn cho người đệ tử thể nhập được tự tánh đồng

nhất với đức Đại Nhật Như Lai Còn Kinh Kim Cương Đỉnh là một bộ Du già

mật điển, nói lên nghi thức sinh hoạt pháp với hành vi đều thuộc trong thiền định, nói cách khác, nó đã vượt ra ngoài sinh hoạt pháp bằng hình thức, tuy lúc này vẫn là trong quá trình hiện quán một cách vi tế về Mandala, nhưng hành giả đã thể nghiệm được một cấp bậc nào đó của nội tại

Du già (Yogā) dịch ý là tương ưng hoặc hài hòa, vốn xuất phát từ trong

Rig Veda), sau đó dùng trong Áo nghĩa thư (Upaniṣad), từ ngữ hàm ý các

Trang 35

31

pháp quán hành điều tức, quán phạm ngã hợp nhất, đại ngã và tiểu ngã đồng nhất thể, đến khi Phật giáo ra đời, Phật giáo đã vay mượn từ ấy để dùng trong thiền định quán hạnh chỉ quán, tương hợp chánh lý, nên gọi là Du già Nhưng

pháp Du già trong Mật giáo chịu ảnh hưởng bộ Yoga Sutras của ngoại đạo do

Patañjali trước tác, cho rằng phương pháp Du già có thể đạt đến tất cả mục đích của xuất thế gian, cũng chính là nói, thông qua nội chứng của pháp Du già liền đạt đến cảnh giới của Phật tức là “tức thân thành Phật” Mật giáo đánh giá rất cao về pháp Du già, do vậy, theo thứ lớp tu hành của Mật giáo thì

nội dung Kinh Kim Cương cao sâu hơn và toàn diện hơn Kinh Đại Nhật Phái chú trọng về Kinh Đại Nhật thì được xem là phái “Mật giáo cánh hữu” hoặc

“Chân ngôn thừa”, Mandala của phái này được xem là “Thai tạng giới

Mandala” Đối lại với phái trên là phái chú trọng Kinh Kim Cương Đỉnh,

được gọi là “Mật giáo cánh tả” hoặc “Kim Cương thừa”, Mandala của phái này được gọi là “Kim cương giới Mandala”

Hai hệ thống Mật giáo theo hai kinh trên được gọi chung là “Thuần mật” Phái thuần mật thông qua tổ chức của Mandala, thống nhất được tín ngưỡng của Ấn độ vào trong bộ vị trung tâm của Phật giáo Đại thừa Trong hai hệ thống trên, Chân ngôn thừa chú trọng về phương diện lý luận và thiếu mảng thực tiễn, cho nên không thể chấn hưng Mật giáo được Đến thế kỷ thứ VIII (AD), từ Indra Bodhi vị đại sư Mật giáo Ấn độ trở về sau thì chỉ còn lại phái Kim Cương Thừa lưu hành Do sự thịnh hành Mật giáo mà dẫn đến hiện tượng Phật giáo Đại thừa phải phụ thuộc vào Mật giáo, Phật giáo Đại thừa được xem chỉ là bước đầu của Mật giáo, được gọi là “Kinh Ngôn thừa” hoặc

“Ba-la-mật thừa”, trong lúc đó bản thân Mật giáo tự xem mình là giai đoạn cấp cao hơn của Phật giáo, gọi là “Chân ngôn thừa” hoặc “Kim Cương thừa”,

“Vô thượng thừa”

Trang 36

32

Ngoài hai bộ kinh Đại Nhật và Kim Cương Đỉnh được nói ở trên ra, một loạt kinh điển của Mật giáo nối nhau ra đời, như Ái Dục Dạ Ma Lợi Kinh (750 AD), Đại Bi Không Trí Kim Cương Vương kinh (cuối thế kỷ thứ VIII AD), Kinh Phật Bát (800 AD), Kinh Ma Ha Ma Ya (Đại Huyền Kinh, 800 AD), Kinh Hợp Thập, Kinh Đỉnh Nghiêm (khoảng đầu thế kỷ thứ IX), Kinh

Du Gìa Nữ Tu Hành (thế kỷ XI), Kinh Kim Cương Vẩn Diệt (đầu thế kỷ XI), Kinh Thời Luân (1040 AD) v.v [36, pg 454-455] Đặc biệt đáng nói đến là

bộ Kinh Thời Luân, bộ kinh khá quan trọng của Mật giáo, bởi kinh này kế thừa giáo nghĩa của Kinh Đại Nhật và Kinh Kim Cương Đỉnh Trên phương diện thời gian mà nói, Kinh Thời Luân đến năm 1040 tức thế kỷ XI mới ra đời,

cho nên kinh này chỉ lưu hành ở Ấn Độ trong một thời gian rất ngắn, chú sớ của bản kinh này cũng rất ít, theo sử liệu thì kinh này chỉ có bốn nhà chú sớ là Diệu Cát Xứng, Dà Lợi Ca, Hộ Vô Úy, còn một vị không rõ tên họ chú sớ thành Vô Cấu Quang chú Sau khi Atisa vào Tây Tạng đã giảng về bộ kinh

này, rốt cuộc Kinh Thời Luân lại được lưu truyền tại Tây Tạng, đồng thời phát

huy một cách sáng lạn và đã cống hiến cho Phật giáo Mật tông không nhỏ Trên phương diện kết cấu nội dung, kinh này thuộc hệ thống A Đề Du Già (Atiyoga), là một bộ đại pháp tối cao của Mật giáo bao quát cả Vô Thượng

Du Già Toàn bộ giáo nghĩa của Kinh Thời Luân, hay Bánh Xe Thời Gian,

được bao gồm trong Ba Thời Luân: Ngoại Thời Luân, Nội Thời Luân và Thời Luân Khác Ngoại Thời Luân là vũ trụ bên ngoài của môi trường, và nó được gọi là “tiến trình của những ngày dương lịch và âm lịch bên ngoài.” Nội Thời Luân là thân thể con người, đó là một Diêm Phù Đề15 bên trong, hay bề mặt trái đất Nó giống như những kinh mạch, yếu tố và hoạt động bên trong được

15 Theo địa lý học Phật giáo, Diêm Phù Đề là một trong bốn đại châu lớn Sở dĩ, có tên Diêm phù (Jambu) là

vì ở châu này, mọc rất nhiều loại cây Jambu, như cây dâm bụt ở Việt Nam.

Các nhà Ấn Độ học cho rằng, châu Diêm Phù Đề ứng với xứ Ấn Độ và xứ Sri-Lanka hiện nay.

Trang 37

33

thiết lập như Nội Thời Luân Những Thời Luân khác là những lễ quán đỉnh và những con đường của Thời Luân Huy Hoàng, Thời Luân Cát Tường hay Shri Kalachakra, cùng với những kết quả của chúng Chúng “khác” hơn tiến trình của hai Thời Luân kia Đạo sư sẽ làm cho chín mùi sự tương tục16 tâm lý – vật

lý của đệ tử với lễ quán đỉnh, và đệ tử thiền quán trên con đường thúc đẩy tiến trình phổ thông và tiến trình hoàn thành Trong cách này hành giả du già hiện thực kết quả thân Phật là hình tượng thiêng liêng của tính không Đây là Thời Luân Khác Từ lý giải tư duy thiền định về thời gian như vậy đã xuất hiện một pháp môn mới, đó là “Thời luân thừa” So với những kinh điển khác của Mật

tông, Kinh Thời Luân càng chú trọng về hệ thống thần kinh, trở thành hệ

thống lý luận cơ bản của Du già Tuy nhiên, bản thân Kinh này được phát

triển từ nội dung Kinh Đại Bi Không Trí Kim Cương Vương và Kinh Kiệp,

cho rằng nếu không đầy đủ thân thể thì không thể đạt được hạnh phúc ở mức

độ tối đa, tức là lấy thân thể làm cơ sở, vì thế nó tương tự với Kinh Đại Bi Không Trí Kim Cương Vương Mục đích hiện tại là sự kết hợp bao hàm tất cả

các thời luân của Đức Phật Nó nhấn mạnh tính chất vô sai biệt, tuy không phải mới mẻ hoàn toàn song nó cũng hàm chứa một số nội dung mới mang tính chất trọng điểm, đặc biệt là phương pháp Du già của nó cùng sánh với thiền định, đem cả thời gian và không gian của vũ trụ thống nhất thành một thể [36, pg 466-470] Điều được nêu lên ở đây là sự tương đồng và khác nhau

giữa Kinh Thời Luân và các kinh điển khác của Mật giáo, từ đó nhấn mạnh sự

đặc sắc nổi bật của kinh này

Mật giáo rất coi trọng sư thừa pháp thống, tức là lúc truyền trao mật pháp nhất định phải có nghi thức quán đỉnh được thực hiện bởi một vị Kim Cương thượng sư - vị bí mật A-xà-lê Tu tập theo nghi chấp của Mật giáo còn phải thỉnh cầu sự gia trì của vị Kim Cương thượng sư, bởi vị Kim Cương

16 Tương hợp và tiếp tục giữa nhân và quả

Trang 38

34

thượng sư là đại biểu cho Đức Đại Nhật Như Lai, là sự quan hệ giữa “sư sư tương thừa” và cũng là sự thành tựu của hành giả tu pháp Du già hành Mật giáo là tâm pháp, nó khác với Hiển giáo ở chỗ Hiển giáo mượn văn tự để lãnh hội, Mật giáo nhất định phải được bí mật truyền trao giữa thầy và trò

Bên cạnh giáo nghĩa Madala, Mật tông nhấn mạnh đến Mantra.17Mantra tượng trưng cho một số âm thanh chứa đựng sức mạnh của vũ trụ hay biểu hiện khía cạnh nào đó của Phật Chữ “thần” hiểu là tinh thần, tức năng lực suy nghiệm; chữ "chú" là lời, là tiếng dùng làm công cụ biểu diễn Như vậy, “thần chú” là công cụ để suy nghiệm, là hiện tướng dẫn khởi một ảnh tượng tinh thần Thần chú vang lên kêu gọi nội dung của nó nơi thực tại trước mắt một cách trực tiếp Thần chú là năng lực chứ không phải đơn thuần là ý kiến mà tâm trí có thể né tránh hay cãi lại Thần chú phát lộ, tự thị hiện như tự nhiên vốn thế Thần chú còn được gọi là đà la ni (Dhàranì), Hán ngữ dịch là tổng trì, tức bao gồm tất cả, đó là những thần chú mang sức mạnh siêu nhiên Thông thường đà la ni dài hơn mantra Ðà la ni là biểu hiện khía cạnh chứng đắc của Phật hay Bồ tát thấy được trong thiền định, biểu tượng hay ký hiệu hóa hình ảnh, nội dung chứng đắc ấy, được lưu trữ và dễ dàng hiện hành khi gọi chúng trở lại Chức năng đà la ni không khác với thần chú Mặt khác, tác dụng của thần chú hay đà la ni được coi như là phương tiện để đạt được thiền định Thần chú là một phương tiện trong những phương tiện mà Mật tông thực hành để thanh lọc tâm linh và đạt được thiền định, sau cùng là hợp nhất

và đồng hóa với vũ trụ Thần chú được coi là “mật” vì nó chứng tỏ mối liên

hệ mật thiết bên trong của mọi sự vật hiện tượng cùng vũ trụ

Trong Mật tông, một giáo nghĩa khác cũng có vai trò quan trọng là

“Tam mật tương ưng”, tức thân mật, khẩu mật và ý mật Theo Mật tông, để đạt được khả năng điều động năng lượng vũ trụ hay năng lượng tâm linh thì

17 Là thần chú, được đọc lặp đi lặp lại nhiều lần trong các buổi tu tập hành trì

Trang 39

35

phải thực hành nghi thức đúng phép tắc trên cả ba lĩnh vực của thân, khẩu, ý Thân thể tác động qua điệu bộ, nhất là của hai bàn tay, được diễn theo lời thần chú sẽ tạo nên thái độ tâm linh phù hợp, tập trung tại một điểm mà hành giả quán tưởng đến Miệng đọc các mantra hay đà la ni, là hiện tượng thiêng liêng làm cho rung động nội tâm của hành giả Tâm ý thì quán tưởng mandala, tạo thành một thể thống nhất Tam mật của hành giả thực hành như vậy để thể nhập được với Tam mật của Phật, chính là đạt mục tiêu “tức thân thành Phật”

Trong Kinh Trung Bộ, Đức Phật dạy quán sắc uẩn bao gồm nội sắc,

ngoại sắc, thô tế, liệt thắng, xa gần đều không hiện hữu (vô ngã) Sự mầu nhiệm hay bí mật của thân là cái mầu nhiệm của thân vô ngã Sự hiện hữu của thân không đơn giản là một hữu thể độc lập, mà có các mối quan hệ mật thiết với thế giới bên ngoài, hay nói cách khác là với cái không phải thân Ðiều kiện mà thân tồn tạo gồm cả pháp giới, tức là mọi hình sắc đều là thân

Tương tự như thân, về ngữ mật thì mọi âm thanh đều là ngữ mật Thế giới mà chúng ta đang sống là thế giới được biểu hiện bằng ngôn ngữ, mọi thứ đều có tên gọi, mọi thứ đều được khái niệm hóa qua ký hiệu ngôn ngữ, mọi vật đều được nhận thức và giải thích qua mẫu tự và văn cú, ngôn ngữ diễn biến linh động để làm hiển lộ cái mầu nhiệm bên trong, đó chính là sức mạnh của âm thanh Mật tông cho rằng thế giới được tạo ra bởi 14 nguyên âm

và 33 phụ âm Thể nhập thực tại qua ngôn ngữ âm thanh là một phương cách đặc biệt của Mật tông

Ý mật là sự cảm nhận một cách trực tiếp của tâm Ðó là cái tâm thuần túy, không bị chi phối bởi các kiến thức, không phải cái tâm suy nghĩ có đối tượng, mà tâm ấy nguyên vẹn đơn sơ cảm nhận trực tiếp thực tại vô ngã qua nhiều khía cạnh khác nhau Thế giới của tâm là một, Duy thức học gọi là thế giới tính cảnh Tâm nhận thức trực tiếp những gì đang diễn ra như thường nói:

Trang 40

36

“Ðương thể tức không” Ðó là thực tại được cảm nhận một cách tích cực

Thực hành tantra (nghi thức) là tạo thế cân bằng hòa điệu của thân và tâm, rồi

tạo mối quan hệ hay sự kết nối thân-khẩu-ý của bản thân, tam mật của hành giả, với Tam mật của Phật, và Phật cũng chính là vũ trụ thân Ðó là sự thể hiện hòa điệu giữa con người và vũ trụ Sự gia trì Tam mật của Phật sẽ nhập vào Tam mật của ta Ðó gọi là Tam mật tương ưng hay Tam mật du già

có thể thấy thái độ tinh thần được thể hiện qua nghi quỹ ấy là biểu hiện của mối liên hệ giữa tinh thần với vật chất, giữa con người với vũ trụ và với những năng lượng vô cùng tận Các biểu tượng Mật tông rất dễ bị ngộ nhận

và phê phán, tuy nhiên phải đào sâu tìm hiểu, chúng ta mới khám phá ra được tác dụng và ý nghĩa của chúng Chúng chính là những phương tiện diễn đạt kinh nghiệm tâm linh sâu sắc của hành giả Triết lý và phương pháp hành trì của Mật tông cơ bản vẫn xây dựng theo tiến trình Giới-Ðịnh-Tuệ như tất cả mọi đường lối tu tập khác của Phật giáo Nó có mối liên hệ khá chặt chẽ với giáo lý Nguyên thủy và giáo lý Ðại thừa Sự khác biệt của Mật tông chỉ là ở

18 Nghi quỹ (儀軌) là thuật ngữ có nghĩa là luật tắc, luật lệ, quỹ phạm, tín ngưỡng truyền thống

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm