DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tiếng Anh Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt BTA Bilateral Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do song phương DOC Deparment Of Comme
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo PGS TS Lê Văn Thịnh Các thông tin, số liệu sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Ngọc Khuê
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến PGS TS Lê Văn Thịnh, người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong Chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã trang bị cho tôi tri thức và kĩ năng cần thiết để có được tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm lưu trữ Quốc gia III và những người đã nhiệt tình cung cấp thông tin, số liệu cho luận văn Luận văn được hoàn thành là thành công bước đầu trên con đường học tập, nghiên cứu của bản thân tôi Do đó, khó tránh được những thiếu xót và hạn chế Rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy, cô, bạn bè để trong tương lai, nếu tiếp tục theo đuổi hướng nghiên cứu này, tôi có thể hoàn thiện thêm
Tác giả
Nguyễn Ngọc Khuê
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THIẾT LẬP VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM VỚI HOA KỲ TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2005 10
1.1 Chủ trương của Đảng 10
1.1.1 Những yếu tố tác động đến quan hệ kinh tế Việt Nam với Hoa Kỳ 10
1.1.2 Chủ trương của Đảng 13
1.2 Đảng chỉ đạo thiết lập và phát triển quan hệ kinh tế của Việt Nam với Hoa Kỳ 19
1.2.1 Trong lĩnh vực thương mại 19
1.2.2 Trong lĩnh vực tài chính và dịch vụ 22
1.2.3 Trong lĩnh vực đầu tư 25
1.2.4 Trong lĩnh vực hợp tác khoa học - công nghệ và viện trợ 27
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM VỚI HOA KỲ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015 32
2.1 Chủ trương của Đảng 32
2.1.1 Những yếu tố mới tác động đến quan hệ kinh tế Việt Nam với Hoa Kỳ 32 2.1.2 Chủ trương của Đảng 36
2.2 Đảng chỉ đạo đẩy mạnh phát triển quan hệ kinh tế của Việt Nam với Hoa Kỳ 41
2.2.1 Trong lĩnh vực thương mại 41
2.2.2 Trong lĩnh vực tài chính và dịch vụ 44
2.2.3 Trong lĩnh vực đầu tư 46
2.2.4 Trong lĩnh vực hợp tác khoa học – công nghệ và viện trợ 49
Tiểu kết chương 2 52
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 53
3.1 Nhận xét chung 53
3.1.1 Về ưu điểm 53
3.1.2 Về hạn chế 58
3.2 Kinh nghiệm 62
3.2.1 Cần xây dựng chiến lược dài hạn, có lộ trình và mục tiêu cụ thế cho
Trang 63.2.2 Phát huy lợi thế so sánh kinh tế của Việt Nam và lợi thế cạnh tranh từ
chiều rộng sang chiều sâu 64
3.2.3 Phát triển toàn diện đất nước, tăng cường nội lực, lấy hợp tác kinh tế làm trọng tâm 65
3.2.4 Đẩy mạnh cải cách hành chính và hàng rào thuế quan, cải thiện môi trường đầu tư 66
Tiểu kết chương 3 68
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 81
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tiếng Anh
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
BTA Bilateral Trade
Agreement Hiệp định Thương mại tự do song phương DOC Deparment Of Commerce Bộ Thương mại (Hoa Kỳ)
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
assistance Viện trợ phát triển chính thức PNTR Permanent Normal Trade
Relations Nguyên tắc quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn TIFA Trade and Investment
Framework Agreement Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư TNCs Transational Corporations Các công ty xuyên quốc gia
TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương USAID United States Agency for
International Development
Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
USD United States Dollar Đô la Mỹ
WTO World Trade
Organization
Tổ chức Thương mại thế giới
Chữ viết tắt Tiếng Việt
Chữ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt
ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam
XHCN Xã hội chủ nghĩa
XNK Xuất nhập khẩu
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Hoa Kỳ (1987 – 2000) 92
Bảng 1.2 Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ(1995
Bảng 1.3 Cơ cấu hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ theo nhóm hàng (1995 - 1999) 93
Bảng 1.4 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Hoa Kỳ (2001 – 2005) 94
Bảng 1.5 Trị giá và cơ cấu hàng nhập khẩu của Hoa Kỳ từ Việt Nam (2001
Bảng 1.6 Trị giá và cơ cấu xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam (2001 –
Bảng 1.7 Một số thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam (2005) 95
Bảng 1.8 Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam (1988 – 2005) 96
Bảng 1.9 Các quỹ đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam (1991 – 2005) 96
Bảng 1.10 Đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam phân theo ngành kinh tế (2001 –
Bảng 1.11 Đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Namphân theo tỉnh (năm 2000) 98
Bảng 1.12 Cơ cấu đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam phân theo hình thức đầu
Bảng 1.13 Viện trợ USAID cho Đông Nam Á (1993 – 1995) 99
Bảng 2.1 Diễn biến xuất nhập khẩugiữa Việt Nam và Hoa Kỳ (2006 –
Bảng 2.2 Tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Hoa
Bảng 2.3 Dự báo một số thị trường xuất khẩu của Việt Nam(1995 – 2020) 100
Bảng 2.4 Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam vào Hoa Kỳ (2014 –
Bảng 2.5 Các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ (2014-2015) 101
Bảng 2.6 Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam (2006 - 2015) 102
Bảng2.7 Các quỹ đầu tư của Hoa Kỳ ở Việt Nam (2006 – 2015) 103
Bảng2.8 Đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam phântheo ngành kinh tế (2012) 104
Bảng 2.9 Đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam phân theo tỉnh (2012) 106
Bảng 2.10 Đầu tư của Việt Nam phân theo nước tiếp nhận đầu tư (2015) 107
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vào những thập kỉ cuối của thế kỷ XX, tình hình thế giới có những chuyển biến nhanh chóng, phức tạp và sâu sắc, đòi hỏi các quốc gia phải có những tư duy và phương thức hành động mới Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, cùng các xu thế hợp tác và phát triển, toàn cầu hoá, dân chủ hoá mở ra những cơ hội mới; đồng thời, những cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế, khủng hoảng xã hội - nhân văn tạo nhiều thách thức, đòi hỏi phải có một mô hình phát triển kinh tế bền vững, cùng sự hợp tác bình đẳng, tôn trọng giữa các quốc gia Trong đó, mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với Hoa Kỳ không nằm ngoài sự vận động của xu thế chung đó của thế giới
Hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ, do tác động của những yếu tố của lịch sử đã từng
bỏ lỡ cơ hội hợp tác giữa hai nước Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XX, do những mâu thuẫn không điều hòa được, đã dẫn đến hai nước đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao trong một thời gian dài Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Việt Nam từng bước đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt trong quan hệ ngoại giao.Ngày 11/07/1995, Tổng thống Hoa Kỳ - Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam - Võ Văn Kiệt tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước.Kể từ đó, quan hệ hợp tác giữa hai nước ngày càng phát triển, có những bước tiến nhanh, dài
Qua 20 năm hợp tác kinh tế (1995 – 2015), những thành tựu đạt được không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển quan hệ chung giữa hai nước, mà còn khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương, chính sách đối ngoại, hợp tác kinh tế của Đảng
và Nhà nước Việt Nam đối với Hoa Kỳ Đồng thời, cũng để lại những kinh nghiệm quý báu cho sự hợp tác, phát triển kinh tế hai nước.Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trong hợp tác kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ, góp phần làm sáng tỏ chủ trương, đúc rút những kinh nghiệm, góp phần thúc đẩy quá trình hợp tác và phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế giữa hai nước ngày càng sâu rộng
Trang 10Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài “Đảng lãnh đạo quan hệ kinh tế của Việt Nam với Hoa Kỳ từ năm 1995 đến năm 2015” làm đề tài luận văn
2.Lịch sử nghiên cứu
Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ nói chung, quan hệ kinh tế hai nước nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của các học giả Đặc biệt, từ khi hai nước ký kết Hiệp đinh Thương mại song phương (2001), thì việc nghiên cứu về quan hệ hai nước trên lĩnh vực kinh tế, tiếp tục nhận được sự quan tâm hơn nữa Trong đó, có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều hướng tiếp cận khác nhau của các học giả trong và ngoài nước, có thể kể đến các nhóm công trình:
Nhóm thứ nhất, các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ nói
chung Đây là nhóm công trình phản ánh quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam qua nhiều giai đoạn lịch sử và trên nhiều lĩnh vực Tiêu biểu như: Luận án tiến sĩ “Quan
hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ năm 1995 đến năm 2005” của Trần Nam Tiến (2008):
Công trình đã tái hiện một bức tranh toàn cảnh về quan hệ giữa Việt Nam và Hoa
Kỳ trên nhiều lĩnh vực Trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa và trình bày các sự kiện chính một cách khoa học, có chọn lọc và phân tích, tác giả cung cấp một nguồn tư liệu quan trọng, góc nhìn mới về lịch sử quan hệ hai nước trong 10 năm đầu bình thường hóa quan hệ
Công trình “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ (1994 – 2010)” của Bùi Thị Phương
Lan, được nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 2011: trong đó tác giả tập tung phân tích bối cảnh trước khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao đến khi quan
hệ song phương toàn diện được thiết lập; làm rõ vị trí, vai trò của Việt Nam trong chính sách an ninh mới của Mỹ và tương quan quan hệ Mỹ với Châu Á, định vị Việt Nam trong chính sách đối ngoại Mỹ sau khủng hoảng kinh tế
Luận án tiến sĩ của Vũ Thị Thu Giang: “Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm
1991 đến năm 2006” bảo vệ năm 2011 Luận án phân tích mục tiêu, chiến lược và
những tính toán lợi ích của Hoa Kỳ khi tiến hành bình thường hóa và thúc đẩy quan
hệ với Việt Nam Với nguồn tư liệu được tập hợp một cách có hệ thống và xử lý khoa học về quan hệ của 2 nước từ năm 1991 đến năm 2006; qua đó, tác giả phân
Trang 11tích quá trình vận động của quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực; nêu lên vị trí, mối quan hệ của Việt Nam trong chính sách khu vực của Hoa Kỳ và vị trí của Hoa
Kỳ trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
Luận án Tiến sĩ “Quan hệ Mỹ - Việt Nam (2003 – 2007)” của tác giả Đặng Đình
Quý (2012) Luận án nghiên cứu về mối quan hệ Mỹ - Việt Nam (2003 – 2007) trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, tôn giáo, thương mại,… và đưa ra một số nhận xét về quan hệ Mỹ - Việt Nam (2003 – 2007) Luận án đã đi sâu phân tích, mang đến cái nhìn đa chiều về mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong những năm 2003 – 2007 – giai đoạn có nhiều biến động lớn trong quan hệ hai nước
Ngoài ra, còn có các công trình khác như: “Quan hệ Việt – Mỹ 1939 – 1954” của Phạm Thu Nga (2004) ; “Quan hệ Việt – Mỹ xưa và nay” của Nguyễn Tấn Tuấn (2005); “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ thời Thomat Giépphơsơn đến Hồ Chí Minh” và “Góp phần tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ” của Phạm Xanh (2006); “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Con đường đã qua và triển vọng” của Nguyễn Xuân (2009); “Hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ: hiện tại và tương lai” của Lê Thị Vân Nga 2010); “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hướng tới tầm cao mới” của
Hoàng Thị Lê Ngọc (2012),…
Tất cả những công trình trên giúp độc giả có những hiểu biết chung nhất về mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ qua từng thời kỳ lịch sử
Nhóm thứ hai, các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ
Tiêu biểu như: “Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư” của Nguyễn
Thiết Sơn Đây là sách chuyên khảo do nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm
2004, cuốn sách có 3 phần chính: tiến trình quan hệ kinh tế thương mại Việt – Mỹ; Quan hệ Việt – Mỹ về thương mại và đầu tư; Triển vọng quan hệ thương mại và đầu
tư Việt – Mỹ, trong đó tác giả đã tổng hợp, phân tích từ những số liệu quan hệ kinh
tế giữa hai quốc gia từ sau khi bình thường hóa quan hệ đến năm 2001
Luận án Tiến sĩ “Tiến trình quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012” của Lê Viết Hùng (2014) gồm 3 phần: Những nhân tố tác động đến tiến trình
quan hệ kinh tế của Hoa Kỳ - Việt Nam giai đoan 2000 – 2012, Bước phát triển mới
Trang 12của quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012, Một số nhận xét, đánh giá về tiến trình quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012 Công trình Luận ánđã tổng hợp, phân tích, đánh giá về tiến trình quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam (2000 – 2012) chủ yếu trên hai lĩnh vực là thương mại và đầu
tư Đặt mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam được dưới tác động của các nhân tố chính trị - an ninh, xã hội giữa hai quốc gia,công trình đã khái quát được những đặc điểm
và tính chất của quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam
Cùng phản ánh nội dung trên, có thể kể đến: “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ” của Đỗ Đức Thịnh (2000); “Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ và vấn đề đặt ra với Việt Nam” của Nguyễn Xuân Trung (2006); “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ vấn đề, chính sách và xu hướng” do Nguyễn Thiết Sơn chủ biên (2011); “Hợp tác kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ: thực trạng và triển vọng” của Bùi
Thành Nam (2012)
Các bài viết về quan hệ kinh tế Việt – Mỹ trên các tạp chí như: Phương Lan với
bài viết “Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ tác động đến đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 396, tháng 4/2006; Trần Đình Tuấn với “ODA của Mỹ”, Tạp chí Thương mại, số 13 – 2007; Chu Minh với “Tầm cao mới của quan hệ hợp tác đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ”, Tạp chí Thương mại, số 25 – 2007; Hoàng Thị Bích Loan, “Quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ: Thực trạng và những giải pháp”, Tạp chí Thương mại số 1+2 – 2009; Lê Viết Hùng, Đoàn Minh Triết với bài viết“Tìm hiểu nhân tố chính trị trong quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam từ sau năm 1995”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6(159), năm 2013; Hoàng Thị Lê Ngọc với “Viện trợ phát triển của Hoa Kỳ với Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hướng tới tầm
cao mới, năm 2012
Nhóm thứ ba, các công trình nghiên cứu về chủ trương, nghị quyết của
Đảng,chính sách của Việt Nam, tiêu biểu như: “Phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” (2006) do Nguyễn Văn Nam (chủ
biên) Cuốn sách dài 375 trang bao gồm 3 phần chính, trong đó các tác giả đã hệ
Trang 13thống hóa các tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển kinh thế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, nêu lên thực trạng phát triển kinh tế thị trường XHCN trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Từ đó, đề xuất các quan điểm và giải pháp đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc
tế nhằm phát triển inh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Công trình “Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế” của Vũ Như Khôi, Hoàng Đức Nhuận(2006).Tác phẩm tập hợp
những sự kiện lịch sử được lựa chọn, biên soạn với những tư liệu mới, những kết quả nghiên cứu mới Cuốn sách gồm 4 nội dung chính: Đảng lãnh đạo hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, đặt nền móng cho cách mạng
xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới đất nước; Quá trình tìm tòi, thử nghiệm và đổi mới từng phần (1975 – 1986); Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đưa đất nước
ra khỏi khủng hoàng kinh tế - xã hội (1986 – 1996); ĐCSVN với công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế (1996 – 2005)
Luận án tiến sĩ Lịch sử “Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 – 2006)” của Nguyễn Anh Cường (2012)
Luận án đã làm rõ một cách hệ thống sự phát triển tư duy đối ngoại của Đảng với Hoa Kỳ và với thế giới, cũng như quan điểm của chính quyền Hoa Kỳ trong quan
hệ với Đông Nam Á và Việt Nam Luận án góp phần dựng lại qua trình lãnh đạo của Đảng tiến tới bình thường hóa trong quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ từ năm
1976 đến năm 1995 Qua đó thấy được vai trò của ĐCSVN, những thuận lợi và khó hăn phải trường trước trong quan hệ với Hoa Kỳ
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Luận văn Thạc sĩ
Lịch sử “Đảng Cộng sản Việt Nam với quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (1995 – 2007)” của Nguyễn Văn Thức (2008); “Chính sách thương mại quốc tế: Lý luận và thực tiễn Việt Nam hội nhập toàn cầu” do Nguyễn Hoàng Quy chủ biên
(2016),… Các công trình kể trên đã khái quát và phân tích chủ trương của Đảng trong quá trình giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế.Qua đó, thấy được tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Trang 14Nhìn chung, tất cả các công trình đó đã đề cập ở nhiều mức độ, đem lại những góc nhìn khoa học, khách quan trong quan hệ hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ trên tất
cả các lĩnh vực Tuy vậy, đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu trường hợp về sự lãnh đạo của Đảng trong mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ
từ năm 1995 đến năm 2015.Đây là cơ sở để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn của mình
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứusự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thiết lập và phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Hoa Kỳ từ năm 1995 đến năm 2015 là để đưa ra những nhận xét ưu điểm, hạn chế, và đúc rút những kinh nghiệm chủ yếu, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp, hệ thống hóa các tư liệu về chủ trương, nghị quyết của Đảng trong phát triển kinh tế quốc tế
- Làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng với Hoa Kỳ và cách thức tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối
đó trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2015
- Từ thực tiễn quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ, rút ra những nhận xét, bài học kinh nghiệm, nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ kinh tế giữa hai nước
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo thiết lập,củng cố và phát triển quan hệ kinh
tế của Việt Nam với Hoa Kỳ của Đảng từ năm 1995 đến năm 2015
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Việt Nam và Hoa Kỳ, chủ yếu là ở Việt Nam
Phạm vi thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong quan
hệ kinh tế giữa Việt Nam với Hoa Kỳ từ năm 1995 đến năm 2015 Tác giả lấy năm
Trang 151995 làm mốc bắt đầu thời gian nghiên cứu, vì đây là dấu mốc hai nước Việt Nam
và Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao Năm 2015 được chọn làm thời hạn nghiên cứu vì đây là năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Đồng thời, giai đoạn 1995 – 2015 là khoảng thời gian cần thiết để nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia, đảm bảo thời gian cho sự kiểm nghiệm của các chủ trương, chính sách, và sự vận động của các lĩnh vực kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu và đảm bảo tính logic của đề tài, giai đoạn trước năm 1995 cũng được tác giả khảo sát ở mức độ nhất định
Phạm vi nội dung: Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ diễn ra trên nhiều lĩnh
vực, trong phạm vi luận văn, tác giả tập trung giải quyết các vấn đề chủ yếu: quan
hệ thương mại; tài chính và dịch vụ; quan hệ đầu tư và hợp tác khoa học công nghệ,
và viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ cho Việt Nam
5 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Cơ sở lí luận
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm chỉ đạo của ĐCSVN
về quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quan hệ kinh tế quốc tế dưới góc độ Sử học, nên phương pháp chủ đạo được sử dụng chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp,
5.3.Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chủ yếu của luận văn bao gồm:
- Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc; nghị quyết Trung ương các khóa; chỉ thị;
ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1995 đến năm 2015 có liên quan đến đề tài
Trang 16- Các báo cáo tổng hợp về quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ nói riêng, hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với Hoa Kỳ nói chung của các bộ ngành có liên quan
- Các bài nghiên cứu liên quan đến đề tài đăng trên các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành, kỉ yếu hội nghị, hội thảo khoa học các cấp, các báo cáo
- Một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ trong chừng mực nhất định có liên quan đến đề tài nhưng không trùng lặp
- Các website chính thức của Chính phủ Hoa Kỳ, Chính phủ Việt Nam và các Bộ, Ban ngành có liên quan của hai nước như: Bộ Ngoại giao, Bộ Công thương, Thương mại, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê,
6.Đóng góp khoa học của Luận văn
6.1 Về tư liệu
Luận văn sưu tầm và hệ thống hóa tư liệu gốc từ những trung tâm lưu trữ lớn của Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao về sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện phát triển kinh tế đối ngoại Việt Nam – Hoa Kỳ
6.2 Về nội dung
Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp người đọc hiểu rõ hơn vai trò to lớn của Đảng trong xây dựng đường lối, chính sách kinh tế nói chung và chính sách kinh tế thương mại với Hoa Kỳ nói riêng; góp phần vào công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử ĐCSVN, Lịch sử ngoại giao, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Hoa Kỳ thời kỳ toàn cầu hóa
Luận văn cung cấp thêm những luận cứ khoa học; đúc kết một số kinh nghiệm về
sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với quan hệ đối ngoại 2 nước, đồng thời vận dụng những kinh nghiệm ấy trong tình hình mới
Trang 17Chương 2: Đảng lãnh đạo đẩy mạnh phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Hoa Kỳ từ năm 2006 đến năm 2015
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Trang 18CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THIẾT LẬP VÀ PHÁT TRIỂN QUAN
HỆ KINH TẾ VIỆT NAM VỚI HOA KỲ TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Chủ trương của Đảng
1.1.1 Những yếu tố tác động đến quan hệ kinh tế Việt Nam với Hoa Kỳ
Từ những năm cuối thế kỷ XX, sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, cùng sự kết thúc Chiến tranh lạnh, đã tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới Cùng với đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới,
xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ đã lôi cuốn các quốc gia trên thế giới, đòi hỏi các quốc gia trong chiến lược phát triển của mình phải chú trọng đến quan hệ kinh tế quốc tế và tham gia vào quá trình phân công lao động toàn cầu
Xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng tác động mạnh mẽ đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian này
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), với đường lối đổi mới, các quan
hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam có bước chuyển biến quan trọng Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, tăng cường quan hệ và giao lưu kinh tế với tất cả các nước thông qua hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Kể từ sau khi chiến tranh Việt Nam – cuộc chiến được coi là dài ngày nhất trong lịch sử Hoa Kỳ - với kết thúc với thắng lợi của nhân dân Việt Nam, Hoa Kỳ áp đặt chính sách cấm vận toàn diện đối với Việt Nam trong suốt 2 thập niên Đến cuối những năm 80, Hoa Kỳ có những nỗ lực nối lại các mối liên hệ với Việt Nam.Đến ngày 11/07/1995, hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao
Song song với việc nối lại quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Hoa Kỳ, hai nước cũng nối lại và phát triển quan hệ kinh tế Xét về điều kiện của Hoa Kỳ và Việt Nam có những đặc điểm khá nổi bật, tạo điều kiện cho sự hợp tác kinh tế hai nước:
Về phía Hoa Kỳ:
Trang 19Hoa Kỳ bước ra khỏi Chiến tranh lạnh với nhiều khó khăn nên phải tìm mọi cách
để chấn hưng nền kinh tế, tập trung cho phát triển kinh tế, trong đó khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là một trọng điểm ưu tiên của kinh tế đối ngoại Hoa Kỳ Việt Nam là một nước có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân công rẻ, môi trường đầu tư ổn định, là điều kiện thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư Hoa Kỳ Đặc biệt,
từ sau Đại hội VI (1986) của Đảng, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, đã đạt được những thành tựu nhất định Những yếu tố này có tác động không nhỏ đến sự hợp tác của hai quốc gia, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế
Bên cạnh đó, có thể thấy rằng chiến lược của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là một bộ phận nằm trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ Hoa Kỳ rất chú trọng đến vị trí của Việt Nam ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó gồm cả Đông Nam
Á
Nội dung chiến lược của Hoa Kỳ đối với Việt Nam gồm:
Thứ nhất, bình thường hóa quan hệ với Việt Nam giúp cho Hoa Kỳ có cơ hội xóa
bỏ những mâu thuẫn nội bộ trong nước Giải quyết những hậu quả chiến tranh, tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh, tạo điều kiện cho Hoa Kỳ thâm nhập vào thị trường Việt Nam buôn bán và đầu tư, đem lại lợi nhuận, việc làm và lợi thế mới cho Hoa Kỳ trong cuộc cạnh tranh kinh tế và thương mại toàn cầu
Thứ hai, những nước trong khu vực, đặc biệt là những nước đồng minh của Hoa
Kỳ ở Châu Á (Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc,…), đặc biệt là Nhật Bản
đã nhanh chóng thiếp lập các quan hệ kinh tế, ngoại giao với Việt Nam
Thứ ba, thông qua vị trí và vai trò của Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ có ảnh hưởng tới các
nước lớn ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Nga, Nhật Bản, Trung Quốc,…)
Vì Việt Nam có mối quan hệ với tất cả các nước lớn, nên Hoa Kỳ muốn tác động tới Việt Nam để giành lợi thế hơn so với các nước khác Còn với Trung Quốc, Việt Nam là nước ở ngay cạnh Trung Quốc nên Hoa Kỳ tính toán triệt để lợi dụng Việt Nam trong quan hệ Mỹ - Trung, không để Việt Nam và Trung Quốc liên kết với nhau với vai trò hai nước XHCN
Trang 20Có thể thấy, việc nối lại quan hệ ngoại giao cùng sự hợp tác kinh tế với Việt Nam đem lại cho Hoa Kỳ rất nhiều lợi ích Nó vừa gắn kết, vừa đem lại lợi ích kinh tế, nâng cao vị thế của Hoa Kỳ ở trong nước và trên trường quốc tế; đồng thời, giúp củng cố vững chắc cho vị thế Hoa Kỳ trong vai trò là một cường quốc trên thế giới
Về phía Việt Nam:
Chiến tranh kết thúc (1975), kinh tế Việt Nam bị tàn phá nặng nề.Trước tình trạng khủng hoảng và lạc hậu của đất nước, ĐCSVN đã đưa ra đường lối đổi mới (1986) nhằm tạo tiềm lực để Việt Nam phục hổi và phát triển.Tuy nhiên, lệnh cấm vận của Hoa Kỳ áp dụng đối với Việt Nam từ sau chiến tranh (1975) đã gây nhiều trở ngại cho Việt Nam.Việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ giúp Việt Nam tháo bỏ được lệnh bao vây cấm vận mà Hoa Kỳ áp đặt, đồng thời có cơ hội hợp tác với Hoa Kỳ và các nước trên thế giới để phục hồi kinh tế và phát triển đất nước Hơn nữa, nhờ sức mạnh kinh tế, quân sự và khoa học kỹ thuật, Hoa Kỳ đóng vai trò quan trọng và có ảnh hưởng lớn đối với nhiều nước trên thế giới Vì vậy, việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam dần thoát khỏi thế bị cô lập, nâng cao vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, khai thông các trở ngại trên con đường mở rộng ngoại giao đa phương của mình, tạo cho Việt Nam một tư thế thuận lợi trong hợp tác nhiều mặt với các nước, nhất là về kinh tế
Ngày 11/07/1995, Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao.Với sự kiện quan trọng này, một trang sử mới trong lịch sử quan hệ giữa hai quốc gia được khai mở.Về phía Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước đã có quan hệ bình thường với tất cả các cường quốc và hầu như tất cả các quốc gia lớn nhỏ trên thế giới Trải qua một chặng đường dài cam go với nỗ lực rất lớn của cả hai phía, Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, đây là mối quan hệ giữa hai quốc gia có chủ quyền dựa trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và hợp tác cùng có lợi, đáp ứng nguyện vọng chung của nhân dân hai nước nhằm xây dựng mối quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa hai dân tộc Việc thiết lập quan hệ bình thường giữa hai nước còn có ý nghĩa to lớn vượt ra ngoài biên
Trang 21giới, đóng góp quan trọng vào củng cố hòa bình, ổn định và hợp tác ở châu Á – Thái Bình Dương cũng như khu vực Đông Nam Á
Từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Chính phủ, nhân dân Hoa Kỳ và Việt Nam nỗ lực vượt qua những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh, khắc phục những khác biệt và xây dựng lòng tin để tạo ra những bước tiến dài và vững chắc trong quan hệ song phương Các lợi ích và chính sách của Chính phủ hai nước là cơ
sở và động lực của sự phát triển mới này Dưới tác động tích cực của bình thường hóa quan hệ ngoại giao và sự thúc đẩy của nhân tố chính trị, quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ bắt đầu khởi động, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để hai nước
đi đến ký kết BTA vào năm 2000, mở ra một trang sử mới nhằm bình thường hóa quan hệ kinh tế
Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ tạo ra những cơ hội phát triển cho Việt Nam, đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn Đó là việc cân bằng quan hệ với các nước lớn khác, cũng như đảm bảo ổn định chính trị và sự lãnh đạo của Đảng
1.1.2 Chủ trương của Đảng
Năm 1986, ĐCSVN khởi xướng đường lối đổi mới, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm; đồng thời, đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ ngoại giao, thúc đẩy các hoạt động liên kết, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong khoảng mười năm đầu đổi mới 1986 - 1996, tình hình trong nước và quốc
tế tiếp tục có những diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, khiến Việt Nam không những mất đi đồng minh chiến lược, tin cậy mà còn mất đi đối tác kinh tế quan trọng, chủ yếu trong thời điểm bấy giờ Bởi vậy, mục tiêu hàng đầu của mười năm đầu đổi mới (1986 - 1996) là cần nhanh chóng ổn định tình hình kinh tế xã hội trong nước, phá thế bao vây, cấm vận, phá hoại về chính trị và kinh tế của các thế lực thù địch
Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) khởi đầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước nhằm làm chuyển biến tình hình, đưa Việt Nam thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, cải thiện quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây
cấm vận quốc tế Đảng chủ trương đổi mới tư duy về đường lối “tự lực cánh
Trang 22sinh”và đẩy mạnh kinh tế đối ngoại: “phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với
sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới” [16; tr 30] Để hỗ trợ cho hoạt động
kinh tế, năm 1987, Quốc hội Việt Nam đã đưa ra Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tạo khung pháp lý ban đầu cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tạo
điều kiện mở cửa để thu hút nguồn vốn, thiếtbị và kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh và phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), đều nhất quán chủ trương “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại”, đồng thời nhấn mạnh đến hiệu quả của các hoạt động kinh tế đối ngoại, tăng cường,
mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) nhấn mạnh: Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên cũng như sự phát triển của khoa học
kỹ thuật và công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa của Việt Nam tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng, nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) tái khẳng định về đường lối kinh tế đối ngoại của Việt Nam: “Đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại Huy động tiềm năng của nền kinh tế, phát huy lợi tế tương đối, vừa đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và đời sống trong nước,vừa hướng mạnh về xuất khẩu” [17; tr 64].Đại hội VII của Đảng (06/1991) cũng đề ra chủ trương: “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế
độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [17; tr 65], với phương châm: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [17; tr 65] Đường lối này là cơ sở dẫn đến sự đột phá trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế của Việt Nam.Bởi vậy, chỉ trong 10 năm đầu đổi mới, Việt Nam nhanh chóng phá
vỡ thế cô lập của các thế lực thù địch, thiết lập được quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế với phần lớn các quốc gia, góp phần tích cực vào sự phát triển ổn định của đất nước
Trang 23Cụ thể hóa đường lối Đại hội VII (1991), Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 3 (06/1992) chủ trương “mở rộng sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước Bắc
Âu, Tây Âu, Nhật Bản và các nước phát triển khác.Thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ” [5; tr 296] Trong chính sách đối ngoại của ĐCSVN đã nhấn mạnh việc thúc đẩy mối quan hệ với các nước, cụ thể là thuộc khối tư bản chủ nghĩa, trong đó đề cao việc thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, một nước có mối quan hệ thù địch với Việt Nam
Có thể thấy quan điểm chủ trương đối ngoại mở rộng được đề ra từ Đại hội lần thứ VI (1986), sau đó được các nghị quyết trung ương từ khóa VI đến khóa VII phát triển đã hình thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế
Trên cơ sở những thành công của 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1996), Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đánh giá tình hình phát triển của quan hệ quốc
tế và nhận định xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển ngày càng bức thiết hơn với con đường phát triển của các dân tộc trên thế giới Kinh tế trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định đến vai trò vị thế của các quốc gia.Các hoạt động liên kết và hợp tác kinh tế sẽ ngày càng chặt chẽ hơn, song đồng thời cạnh tranh cũng ngày một quyết liệt hơn Trên cơ sở những nhận định ấy, Đại hội VIII (1996) chủ trương:
“Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, “hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực” [14; tr 502 - 503], “Xây dựng một nền kinh
tế mở hội nhập với khu vực và trên thế giới” [18; tr 84] Đại hội quyết định đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Về cơ bản, đường lối và chính sách đối ngoại được Đảng đề ra trong Đại hội VIII (1996) là sự tiếp nối đường lối và chính sách đối ngoại của Đại hội VII (1991) Khi các trở ngại lớn trên con đường hội nhập quốc tế được dỡ bỏ, Đại hội VIII (1996) chủ trương mở rộng hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên thế giới
Trang 24Trong chiến lược kinh tế xã hội năm năm 1996 - 2000 tại Đại hội VIII (1996), Đảng đã xác định cụ thể về “Chương trình phát triển kinh tế đối ngoại” với các mục tiêu tăng cường thu hút FDI, sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA, điều chỉnh cán cân xuất nhập khẩu… Chiến lược của Đảng nhấn mạnh cần “Chuẩn bị cho việc tham gia khối mậu dịch tự do AFTA”, xúc tiến việc tham gia diễn đàn kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), từng bước tham gia các hoạt động của hệ thống toàn cầu về ưu đãi thương mại với các nước đang phát triển (GSTP)…” [14; tr 84]
Ngày 18/11/1996, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 01/NQ - TƯ “Về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại năm năm 1996 – 2000” nhằm chỉ đạo những hoạt động quan trọng trong Chương trình kinh tế đối ngoại tại Đại hội VIII.Nghị
quyết tổng kết thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm của hoạt động kinh tế đối ngoại
1986 - 1996 và xác định nhiệm vụ, phương hướng, giải pháp, cơ chế cho hoạt động kinh tế đối ngoại năm năm 1996 - 2000
Trong Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (ngày 29/12/1997), Đảng nêu rõ phương châm hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là
“tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, ra sức cần kiệm để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [15; tr 54], “phải mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để tranh thủ vốn… và
sản xuất có hiệu quả” và “Mở rộng nhiều hình thức thu hút… mở rộng thị trường
Mỹ” Mục tiêu đối ngoại của Đảng là “Thực hiện chính sách đối ngoại độc lập… củng cố và nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới” [67; tr 8]
Trong quan hệ với Hoa Kỳ, Đảng kiên định chính sách đối ngoại của mình Điều này được thể hiện trong cuộc tiếp xúc giữa Tổng Bí thư Đỗ Mười với Chủ tịch Trung tâm chính sách quốc gia Hoa Kỳ Micheal Barner ngày 07/08/1996 “Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên định chính sách đối ngoại mở rộng, làm bạn với tất cả các nước, mong muốn phấn đấu xây dựng tình hữu nghị bền vững với nhân dân Hoa Kỳ và không ngừng đẩy mạnh quan hệ hợp tác phát triển giữa hai
Trang 25nước” [90; tr 8].Đây là sự khẳng định của Chính phủ Việt Nam mong muốn phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, vì hòa bình và hữu nghĩ giữa hai quốc gia
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) diễn ra vào thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ và thiên niên kỷ, đồng thời là cột mốc đánh dấu 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2001 và 15 năm đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam Chủ trương về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế tại Đại hội VIII (1996) đã được Đại hội IX (tháng 04/2001) phát triển và nâng cao lên một tầm mới với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”[19; tr 119]; “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi truờng” Điều đáng lưu ý
ở đây là chủ trương chủ động hội nhập tại Đại hội VIII (1996) đã được phát triển thành “chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đa phương, song phương đã ký kết và chuẩn bị tốt các điều kiện để sớm gia nhập WTO” (Hội nghị Trung ương Khoá IX)
Trong quan điểm chỉ đạo của ĐCSVN, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn
là mục tiêu chiến lược, xuyên suốt Trên cơ sở nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa cơ sở kinh tế với thể chế chính trị, ĐCSVN chỉ ra rằng, chỉ có một nền kinh tế phát triển cao, độc lập, tự chủ thì mới có độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Khác với giai đoạn trước đây, độc lập, tự chủ của nền kinh tế thường gắn liền với nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, trong giai đoạn hiện nay, độc lập, tự chủ của nền kinh tế được hiểu là sự tự chủ của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập và hợp tác Nền kinh tế phải tự chủ về đường lối, chính sách phát triển kinh tế, không
lệ thuộc vào ảnh hưởng và viện trợ, vốn đầu tư, kỹ thuật của đối tác và các tổ chức liên kết kinh tế Bên cạnh đó sự độc lập, tự chủ của nền kinh tế còn phải biểu hiện ở khả năng đứng vững của nền kinh tế trước những biến động của kinh tế - chính trị
Trang 26thế giới Độc lập tự chủ của nền kinh tế Việt Nam đồng nghĩa với định hướng xây dựng CNXH của ĐCSVN
Nghị quyết 07 – NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX ngày 27/01/2001 là sự kế thừa và cụ thể hóa việc triển khai đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ thời kỳ đầu đổi mới, đồng thời đáp ứng kịp thời đỏi hỏi khách quan của quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Nghị quyết đề ra chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển bền vững
Có thể thấy, Nghị quyết 07 – NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX (11/2001) là sự hoàn chỉnh những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo, phương châm và những biện pháp quan trọng để hôi nhập kinh tế thế giới của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, là kim chỉ nam cho các hành động hợp tác và hội nhập kinh tế Việt Nam từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001)
Đến ngày 14/03/2002, Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số
37/2002/QĐ-TT về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết 07-NQ/TW của
Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm mục đích “tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của Bộ Chính trị và hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy cao độ nội lực, khai thác tối đa nguồn lực dự trữ bên ngoài, tạo thế và lực mới cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trong thế kỷ XXI” [103; tr 12].Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX (ngày 05/01/2004) nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bị tốt các điều kiện trong nước để sớm ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của các lợi ích cục bộ làm kìm hãm tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế
Như vậy, vấn đề hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế, trong đó có quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ sớm được ĐCSVN nhận thức trong đường lối đối ngoại và phát triển kinh tế của mình.Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) và Hội nghị trung ương lần thứ 4 (Khóa 8 tháng 12/1997) đánh dấu quá trình chuyển biến trong nhận
Trang 27thức của Đảng về hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế.Đảng chú trọng đến hợp tác kinh tế nhiều mặt, song phương và đa phương với các tổ chức quốc tế và khu vực nhằm tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường; đồng thời,phát huy tối
đa các nguồn lực quốc gia, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trên thế giới Kể từ sau Đại hội VIII (1996), trong chiến lược lãnh đạo của mình, ĐCSVN chính thức bổ sung thêm một công tác lãnh đạo mới, công tác hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế; được nâng lên thành chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong tình hình mới tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) Đảng đã hoàn thiện quá trình đổi mới nhận thức về tình hình thế giới và khu vực, về quan hệ song phương với các nước, cũng như quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, nhìn nhận toàn diện hơn môi trường tồn tại và phát triển của Việt Nam để đẩy mạnh hội nhập quốc tế vì hòa bình và phát triển, vì lợi ích quốc gia dân tộc
1.2 Đảng chỉ đạo thiết lập và phát triển quan hệ kinh tế của Việt Nam với Hoa
Kỳ
Từ năm 1995 đến năm 2005, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được thiết lập và có những bước tiến, vì vậy quan hệ kinh tế cũng có những chuyển biến nhất định
1.2.1 Trong lĩnh vực thương mại
Trước năm 1995, mặc dù Việt Nam và Hoa Kỳ chưa bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Hoa Kỳ vẫn thực thi chính sách cấm vận kinh tế chống Việt Nam, song Việt Nam vẫn có quan hệ kinh tế và buôn bán với nhiều tổ chức phi chính phủ Hoa
Kỳ Quacác tổ chức phi chính phủ và các tổ chức kinh tế của các nước, hàng hóa của Hoa Kỳ đã được đưa vào Việt Nam, và ngược lại Trong 3 năm 1991 – 1993, Việt Nam nhập khẩu gần 7 triệu USD (Phụ lục 2, Bảng 1.1) Những con số trên tuy còn vô cùng khiêm tốn nhưng là những bước đi đầu tiên của quan hệ kinh tế song phương
Ngày 03/02/1994, Tổng thống Bill Clinton chính thức tuyên bố bãi bỏ cấm vận đối với Việt Nam.Đến ngày 11/07/1995, Hoa Kỳ chính thức tuyên bố bình thường
Trang 28hóa quan hệ thương mại, ngoại giao với Việt Nam.Kể từ đó, quan hệ ngoại giao, thương mại giữa hai nước có những bước tiến quan trọng
1.2.1.1 Giai đoạn 1995 – 2000
Tháng 09/1996, cuộc đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ bắt đầu diễn ra Ngày 10/03/1998, Tổng thống B Clinton tuyên bố bãi miễn áp dụng Tu chính án Jackson – Vanik (điều luật bổ sung) đối với Việt Nam, gạt bỏ những trở ngại liên quan đến hoạt động của các công ty Hoa Kỳ làm ăn ở Việt Nam, tạo điểu kiện cho quan hệ kinh tế - thương mại hai nước phát triển
Sau ngày 10/03/1998, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hoa Kỳký các hiệp
định cho phép các cơ quan này hoạt động ở Việt Nam như: Hiệp định về Hoạt động
Hỗ trợ Đầu tư của OPIC tại Việt Nam (26/03/1998), Hiệp định này quy định cụ thể
các hoạt cộng chính của OPIC tại Việt Nam, tạo điều kiện hợp tác kinh tế hai
nước.Hiệp định về Tài trợXuất khẩu hàng hóacủa các công ty Hoa Kỳ sang Việt Nam giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và EXIMBANK (09/12/1999) Đây được
coi là cầu nối giao thương trong quan hệ hai nước, là điều kiện gia tăng quan hệ thương mại giữa hai quốc gia.Đến năm 1999, Việt Nam áp dụng MNF đối với hàng hóa của Hoa Kỳ và gia hạn hàng năm.Theo đó, Việt Nam không phân biệt hàng hóa, dịch vụ trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ phát triển
Kim ngạch XNK của Việt Nam với Hoa Kỳ tăng nhanh sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995 và ký các hiệp định thương mại quan trọng Năm
2000, kim ngạch XNK hai nước là 1.189 triệu USD, gấp 5,3 lần so với năm 1994 và 2,6 lần so với năm 1995 Từ 1997 đến 2000, dù vướng phải cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực Đông Á song cán cân XNK của Việt Nam luôn dương (Phụ lục 2, Bảng 1.1) Điều này cho thấy Việt Nam có nhiều nỗ lực trong việc đẩy mạnh xuất khẩu, tăng giá trị hàng hóa trong trao đổi ngoại thương với Hoa Kỳ; và Hoa Kỳ
là bạn hàng lớn, đầy tiềm năng của thị trường Việt Nam
Có thể thấy, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới, thị trường Hoa Kỳ trực tiếp mở ra lối thoát cho XNK Việt Nam Một cách gián tiếp, việc khai
Trang 29thác thành công thị trường Hoa Kỳ góp phần kích thích, nâng cao trình độ sản xuất trong nước, cho phép mở rộng quy mô sản xuất
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ khá đặc trưng, chủ yếu nghiêng về hàng nông, thủy sản và hải sản chế biến, nguyên liệu thô (Phụ lục 2, Bảng 1.2) Đó là những mặt hàng mà Việt Nam có tiềm năng và lợi thế so sánh, do tận dụng được nguồn nhân công rẻ, và tiềm năng thủy - hải sản phong phú
Nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ chủ yếu là những mặt hàng có hàm lượng chất xám, trình độ công nghệ cao(Phụ lục 2, Bảng 1.3).Việc nâng cao tỷ trọng nhập khẩu từ Hoa Kỳ giúp giảm mức độ phụ thuộc vào thị trường truyền thống
Nhìn chung, trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳcó những bước tiến quan trọng từ khi bình thường hóa quan hệ, tuy nhiên ưu thế vẫn thuộc về phía Hoa
Kỳ Nguyên nhân của tình trạng này là do hàng nhập khẩu của Việt Namtừ Hoa Kỳ
có được ưu đãi và đối xử công bằng trong cạnh tranh Trong khi đó, hàng Việt Nam nhập vào Hoa Kỳ phải chịu mức thuế suất cao
1.2.1.2 Giai đoạn 2001 – 2005
Trong những năm 2001 – 2005, nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa
Kỳ, hai nước có nhiều nỗ lực, thể hiện thông qua các hoạt động cấp cao, các hiệp định được ký kết
Đáng chú ý làHiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) được ký vào ngày 13/07/2000 và chính thức có hiệu lực ngày 10/12/2001.BTA (2001) với những cam kết mở cửa thị trường trên tất cả các lĩnh vực tạo bước ngoặt trong tự do hóa thương mại ở Việt Nam Với việc Việt Nam kí BTA, Hoa Kỳ chính thức cho Việt Nam Quy chếPNTR và MFN, từ đó mở ra cơ hội thương mại bình thường và ổn định với tất cả các đối tác khác trên thế giới Cũng trong năm này, Hiệp định Hợp tác về Khoa học Công nghệ chính thức hiệu lực, là bước đột phá trong quan hệ giữa hai nước trên lĩnh vực kinh tế - thương mại
Năm 2003, Hiệp định Dệt may giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết Hiệp định gồm 3 nội dung chính: mở cửa thị trường, quy định về quy tắc xuất xứ sản phẩm, đưa ra biện pháp tự vệ và hợp tác hải quan Hiệp định Dệt may là cơ sở pháp lý tạo
Trang 30“sân chơi” công bằng cho các doanh nghiệp Việt Nam và Hoa Kỳ Năm 2004, Hiệp định Hàng không giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được thông qua, mở đường cho việc thiết lập các đường bay thẳng Việt Nam – Hoa Kỳ
Ngày 25/10/2004, Việt Nam và Hoa Kỳ khởi động vòng đàm phán về việc Việt Nam gia nhập WTO, theo đó Hoa Kỳ cam kết ủng hộ mạnh mẽ và đưa Việt Nam sớm gia nhập WTO
Năm 2005, quan hệ cấp cao hai nước được đánh dấu bằng việc ký kết Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật (TIFA); và Bản ghi nhớ Hợp tác về Nông nghiệp Điều này tạo không ít thuận lợi trên con đường hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
Từ sau BTA, trao đổi thương mại Việt Nam - Hoa Kỳcó bước tăng đột phá so Năm 2005 kim ngạch thương mại hai chiều là 6,78 tỷ USD, tăng 5,7 lần so với năm 2000(thời điểm chưa có BTA)(Phụ lục 2, Bảng 1.1 và 1.4)
Cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam vào Hoa Kỳ được cải thiện rõ rệt: hàng chế tác trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, trong khi tỷ trọng hàng sơ chế và tài nguyên ngày càng giảm (Phụ lục 2, Bảng 1.5)
Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam sangHoa Kỳ năm 2005 bằng 4,6 lần năm
2001 Các mặt hàng chủ yếu vẫn là phương tiện vận chuyển, máy móc, các sản phẩm chế tác khác, thực phẩm và sản phẩm sơ chế (Phụ lục 2, Bảng 1.6)
Trước khi có BTA, thị trường xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) và khu vực ASEAN.Từ 2001 đến hết năm 2005, BTA đã tác động một cách tích cực làm biến đổi phân bố thị trường xuất khẩu của Việt Nam về địa lý (Phụ lục 2, Bảng 1.7).Đây là dấu hiệu tích cực giúp thị trường Việt Nam được
mở rộng, hạn chế được rủi ro khi chỉ phụ thuộc vào một vài thị trường chính.Mặt khác với BTA, hệ thống pháp luật của Việt Nam dần được hoàn thiện để tương thích với hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và thế giới
1.2.2 Trong lĩnh vực tài chính và dịch vụ
Hoạt động hợp tác về tài chính và dịch vụ dịch vụ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ diễn
ra khá sôi động, thể hiện bước phát triển trong quan hệ kinh tế hai nước
Trang 31Về giao thông vận tải, có nhiều công ty của Hoa Kỳ thiết lập mối quan hệ với
công ty của Việt Nam: Hiệp hội Vận chuyển ứng dụng công cộng hàng không (APTA); Hiệp hội Vận chuyển ứng dụng kỹ thuật cao hàng không; Luois Berger and Associate; Cummins; Pasons Transportation,…
Bước tiến quan trọng trong việc hợp tác về giao thông vận tải giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được đánh dấu bằng hai sự kiện.Việt Nam và Hoa Kỳ thảo luận mở đường bay giữa hai nước (ngày 17/07/1996) và Hội nghị Song phương Hoa Kỳ - Việt Nam
về hàng không (ngày18/03/1997) Đây là lần đầu tiên hai nước có sự hợp tác thực
sự trên lĩnh vực này
Tháng 07/2001, American Airlines và Vietnam Airlines ký Hợp đồng liên doanh
về dịch vụ vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng đường hàng không Cũng trong tháng 07/2001, American Airlines ký Thỏa thuận chung mã hiệu với Vietnam Airlines
Ngày 23/08/2001, Washington cho phép 3 hãng hàng không của Hoa Kỳ (Delta Airlines, Northwest Airlines, và United Airlines) cung cấp dịch vụ bay đến Việt Nam theo các thỏa thuận chung mã hiệu Ngày 04/12/2000, Việt Nam và Hoa Kỳ ký Hiệp định về Vận chuyển Hàng không tại Washington, Hiệp định có hiệu lực vào tháng 01/2004.Năm 2004, United Airlines mở đường bay thương mại trực tiếp nối Việt Nam và Hoa Kỳ lần đầu tiên sau 30 năm gián đoạn
Các sự kiện này mở ra cơ hội cho hợp tác giữa Việt Nam với Hoa Kỳtrên lĩnh vực dịch vụ giao thông vận tải
Dịch vụ bưu chính viễn thông giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tập trung trong các
hướng với các nhà khai thác lớn: AT & T; MCI; US print Một số công ty hợp tác với công ty Việt Nam: IBM, Microsoft, Intel, IDG, Cisco, Equant, Unisy,…
Trong những năm 1995 – 2005, một số tập đoàn máy tính lớn của Hoa Kỳ như IBM, APPLE, UNISSIS, DIGITAL, ORACLE, COMPAQ, đã hợp tác với Ban công nghệ thông tin của Bộ Giáo dục – Đào tạo và một số cơ quan khác của Việt Nam nhằm giúp đỡ về đào tạo, phát triển và tư vấn công nghệ thông tin
Trang 32Tháng 10/2005, Hoa Kỳ đã cam kết giúp đỡ Việt Nam phát triển và hội nhập về lĩnh vực công nghệ thông tin bằng nhiều biên bản: Tập đoàn Microsoft ký Biên bản ghi nhớ (MoU) với Bộ Bưu chính viễn thông về hợp tác toàn diện trong lĩnh vực công nghệ thông tin; với Bộ Giáo dục và Đào tạo hỗ trợ đưa công nghệ thông tin – truyền thông vào hệ thống giáo dục phổ thông của Việt Nam; Tập đoàn IBM đã cam kết đầu tư lâu dài tại Việt Nam,
Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm: có nhiều công ty, tập đoàn lớn của Hoa Kỳ hoạt
động hiệu quả ở Việt Nam như: Citibank, US Exim Bankxây dựng nên môi trường dịch vụ mới
Ngày 09/12/1999,Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và US Exim Bank ký Hiệp định Bảo lãnh khung và Hiệp định Khuyến khích dự án đầu tư Với hai Hiệp định này, các doanh nghiệp có nhiềucơ hội trong việc vay vốn đầu tư, mở rộng hợp tác
Từ khi kí BTA, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính – ngân hàng theo lộ trình nới lỏng dần và tiến tới xóa bỏ các hạn chế đối với hoạt động của các ngân hàng Hoa Kỳ tại Việt Nam Sau khi BTA có hiệu lực (ngày 10/12/2001), các chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ được phép thành lập tại Việt Nam
Việc cấp giấy phép hoạt động cho các công ty bảo hiểm của Hoa Kỳ được thực hiện theo BTA, do Chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ phê chuẩn Theo đó, khi BTA
có hiệu lực từ tháng 12/2001, các công ty bảo hiểm của Hoa Kỳ có thể thành lập công ty liên doanh với các công ty Việt Nam từ tháng 12/2004
Trong lĩnh vực y tế:Việt Nam là nước duy nhất ở châu Á cùng với 14 nước châu
Phi từ tháng 06/2004 được chọn là quốc gia thí điểm nhận viện trợ từ Chương trình
cứu trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ về phòng chống HIV/AIDS (PEPFAR)
Hoạt động hợp tác phát triển tài chính và dịch vụ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ khi hai nước tiến hành bình thường hóa đã có nhiều bước phát triển lớn.Song về thực tế, hoạt động hợp tác này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng Điều này mở ra
cơ hội cho hai nước trong thời gian tiếp theo
Trang 331.2.3 Trong lĩnh vực đầu tư
Quan hệ đầu tư của Việt Nam chủ yếu diễn ra một chiều với chính sách thu hút
và kêu gọi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Ngày 29/12/1987, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam chính thức thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, các tổ chức, cá nhân trên thế giới Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 và nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn được ban hành Tại Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chỉ rõ: Nhà nước khuyến khích các tổ chức,
cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam, tạo ra môi trường đầu tư Việt Nam có sức thu hút khá mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Về đầu tư của Hoa Kỳ đến Việt Nam
Khi Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam có hiệu lực vào năm 1988, nhiều công
ty xuyên quốc gia hàng đầu của Hoa Kỳ như Ford Motor, Chrysler, IBM, General, Electric, Mobil, Boring,… đã cử đại diện tới Việt Nam để nghiên cứu, thăm dò thị trường và tìm kiếm cơ hội làm ăn, tạo dựng các mối quan hệ và thiết lập cơ sở Từ năm 1988 đến trước khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận, số dự án của Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam là 7 dự án với tổng số vốn đăng ký là 3,8 triệu USD [83; tr 70] Con số này phản ánh mối quan hệ băng giá của hai quốc gia có xu hướng được cải thiện Các nhà đầu tư Hoa Kỳ đến với Việt Nam muộn hơn so với nhiều nước khác do
hệ quả của chính sách bao vây cấm vận Việt Nam của Hoa Kỳ Đến cuối năm 1994,
có 60 văn phòng đại diện của các công ty Hoa Kỳ hoạt động tại Việt Nam
Sau khi lệnh bao vây cấm vận được hủy bỏ (ngày 03/02/1994), số vốn đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng lên 120,31 triệu USD với 12 dự án Trong danh sách các nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam thời điểm này, Hoa Kỳ được xếp thứ 14 Tính chung đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2000quy mô bình quân cuả một dự án là 12,99 triệu USD (Phụ lục 2, Bảng1.8)
Từ năm 2001, khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đi vào hoạt động, các nhà đầu tư Hoa Kỳ dần mạnh dạn tiến vào thị trường Việt Nam Giai đoạn 2001
Trang 34- 2005, số dự án đầu tư được cấp phép của Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng 44 dự án, gấp 4,6 lần so với năm 2000, đạt 56 dự án; tổng số vốn tăng 266,4 triệu USD, gấp 14,3 lần so với năm 2000 (Phụ lục 2, bảng 1.8)
Đến đầu năm 2000, Hoa Kỳ có trên 400 công ty hoạt động kinh doanh đầu tư tại Việt Nam Trong số đó, có rất nhiều công ty lớn của Hoa Kỳ: trong ngành sản xuất
ô tô có các công ty có Ford Motor, Chrysler; trong ngành dầu khí có Conoco; trong ngành tin học có IBM, Microsoft, …; ngành sản xuất hóa chất có P&G; trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng có American Home, Caterpillar,…;cung cấp nước giải khát có Coca Cola, Pepsi,…
Bên cạnh đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài cũng tăng nhanh hoạt động đầu tư gián tiếp vào Việt Nam, phần lớn là thông qua các quỹ đầu tư.Quỹ đầu tư đầu tiên tại Việt Nam (Quỹ đầu tư Việt Nam) được thành lập năm 1991, với tổng vốn đầu tư là 54 triệu USD.Từ năm 2001 đến 2005, cónhiều quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam với tổng số vốn gần 1 tỷ USD(Phụ lục 2, Bảng 1.9) Sự gia tăng đầu tư gián tiếp và thành lập các quỹ đầu tư nước ngoài từ khi BTA có hiệu lực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
Về cơ cấu đầu tư, khoảng 2/3 đầu tư của Hoa Kỳ tập trung vào các ngành công nghiệp, tiếp đến là các ngành dầu khí, du lịch, khách sạn, văn phòng, dịch vụ y tế, ngân hàng, tài chính, xây dựng và nông nghiệp.Giai đoạn 2001 – 2005, FDI của Hoa Kỳ tập trung vào khu vực công nghiệp chế tạo với 209 dự án có tổng số vốn đầu tư là 1,095 tỷ USD FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực cần nhiều vốn và tri thức.Điều này phản ánh năng lực của nghiệp Hoa
Kỳ cũng như những hạn chế của thị trường Việt Nam trong thời gian này (Phụ lục
Trang 35nhất cả nước, chiếm 29,7% tổng số vốn FDI của Hoa Kỳ cho Việt Nam (Phụ lục 2, Bảng 1.11)
Về hình thức đầu tư: Thời kỳ đầu, các doanh nghiệp Hoa Kỳ thực hiện hình thức liên doanh với các công ty Việt Nam là chính, nhưng càng về sau, hình thức 100% vốn của phía Hoa Kỳ tăng dần lên (Phụ lục 2, Bảng 1.12)
Về đầu tư của Việt Nam sang Hoa Kỳ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động mới ở Việt Nam nhưng là hoạt động phổ biến và có quá trình lịch sử trong quan hệ kinh tế quốc tế.Hoạt động này giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, nâng vị thế của đất nước trên trường quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 04/2001) chính thức xác định chủ trương: “Khuyến khích và hỗ trợ cho các doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài”, Nhà nước có vai trò “Tạo ra khuôn khổ pháp lý nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài để phát huy lợi thế so sánh của đất nước” Sau BTA, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO, làn sóng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam tăng lên mạnh mẽ
Tính đến năm 2005, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sang Hoa Kỳ 16 dự án với tổng vốn đầu tư 7,4 triệu USD, vốn pháp định khoảng 7,1 triệu USD Mặt dù số lượng và quy mô các dự án của doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Hoa Kỳ còn khiêm tốn, nhưng việc xuất hiện các nhà đầu tư Việt Nam tại Hoa Kỳ cho thấy quan
hệ hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã bước sang một giai đoạn mới, chuyển từ xu hướng một chiều sang xu hướng hai chiều
1.2.4 Trong lĩnh vực hợp tác khoa học - công nghệ và viện trợ
1.2.4.1 Khoa học – công nghệ
Hợp tác về khoa học và công nghệ Việt Nam – Hoa Kỳ chính thức bắt đầu từ những năm 2000 (nhân chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đến Việt Nam), nhưng các hoạt động hợp tác đã diễn ra từ 5 năm trước đó, thậm chí trước thời điểm hai nước bình thường hóa quan hệ
Trang 36Các lĩnh vực hợp tác chủ yếu bao gồm: khoa học biển, khí tượng - thủy văn, năng lượng, công nghệ tin học, môi trường, y tế, nông nghiệp - công nghệ sinh học, đa dạng sinh học và khoa học cơ bản
Điểm nhấn trong quan hệ hợp tác về khoa học và công nghệ Việt Nam - Hoa Kỳ
là sự trao đổi, hợp tác nghiên cứu giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia (VAST) với các tổ chức khoa học Hoa Kỳ Khởi đầu cho quan hệ hợp tác về khoa học và công nghệ hai nước là Biên bản Ghi nhớ, giữa Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật với Vườn thực vật Mít-xu-ri (năm 1994) và sau đó là Vườn thực vật Niu Oóc (Hoa Kỳ) Triển khai các thỏa thuận hợp tác, hai vườn thực vật có bề dày lịch sử hơn 120 năm của Hoa Kỳ đã cùng các nhà khoa học Việt Nam thực hiện gần
10 dự án và nhiệm vụ khác nhau
Đồng thời, hàng chục lớp học chuyên đề và các cuộc hội thảo song phương được
tổ chức giữa hai vườn thực vật của Hoa Kỳ với các Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hóa sinh biển, Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam (thuộc VAST), cập nhật những dữ liệu mới về nghiên cứu thực vật trên thế giới; sử dụng các phương tiện và kỹ thuật hiện đại của sinh học phân tử trong việc định loại các loài thực vật khó phân biệt bằng hình thái Nhiều loài ghi nhận ban đầu cho hệ thực vật Việt Nam cũng như nhiều loài mới cho thế giới đã được các nhà khoa học của VAST và Hoa
Kỳ công bố
1.2.4.2 Viện trợ
Năm 1991, cùng với những nỗ lực của Việt Nam trong hợp tác với Hoa Kỳ để giải quyết một số vấn đề nhân đạo như tìm kiếm người Hoa Kỳ mất tích và tù nhân chiến tranh (MIAs & POWs), Hoa Kỳ đã tuyên bố cấp cho Việt Nam một khoản viện trợ nhân đạo trị giá 1 triệu USD Từ năm 1992, mỗi năm Hoa Kỳ cấp cho Việt Nam 3 triệu USD viện trợ nhân đạo Số viện trợ 3 triệu USD mà Chính phủ Hoa Kỳ dành cho Việt Nam là một đóng góp lớn, giúp nối lại quan hệ hai nước, song khoản viện trợ này còn nhỏ so với số viện trợ mà Hoa Kỳ dành cho các nước trong khu vực Đông Nam Á trong thời gian này (Phụ lục 2, Bảng 1.13)
Trang 37Các khoản viện trợ Việt Nam nhận được từ Hoa Kỳtrước khi bình thường hóa giới hạn trong một số lĩnh vực nhân đạo: cứu trợ thiên tai, nạn nhân chiến tranh, người khuyết tật, trẻ em Nguyên nhân là do pháp luật Hoa Kỳ cấm viện trợ phát triển cho Việt Nam và quan hệ hai nước chưa được bình thường hóa
Sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ chính sách cấm vận với Việt Nam, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trở nên sôi động hơn.Trong đó, hoạt động của các tổ chức NGO – Hoa Kỳ tại Việt Nam góp phần đáng kể vào việc tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân Hoa Kỳ và Việt Nam.Cùng với các tổ chức phi chính phủ Hoa Kỳ, hoạt động của USAID cũng đóng vai trò quan trọng Những hoạt động bước đầu của cơ quan này có những thành tựu nhất định: “Trong tài khóa 2005, tổng số vốn tài trợ của Hoa Kỳ từ tất cả các tổ chức là xấp xỉ 65 triệu USD mà phần lớn nhất là của USAID”[96; tr 12]
Trong lĩnh vực giáo dục và y tế, USAID phối hợp với Quỹ học bổng Fullbright
và Quỹ Giáo dục Việt Nam, tài trợ cho sinh viên Việt Nam theo học cao học tại Hoa
Kỳ, đặc biệt là các ngành khoa học và công nghệ
Ngày 22/03/2005, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội thông báo Chính phủ nước này cung cấp cho Việt Nam hơn 11.000 bộ dụng cụ bảo hộ cá nhân và 4 bộ dụng cụ phòng thí nghiệm, nhằm giúp cán bộ y tế ứng phó nhanh với những đợt bùng phát cúm gia cầm A/H5N1 có thể xảy ra “Hoa Kỳ đã hỗ trợ xấp xỉ 35 triệu USD cho chương trình này”[62; tr 226]
USAID cũng hỗ trợ Việt Nam trong việc khắc phục hậu quả thiên tai và cảnh báo bão, khắc phục hạn hán cho các tỉnh duyên hải miền Trung Từ năm 2000 – 2005,
“USAID cung cấp hơn 9 triệu USD cho các hoạt động cứu trợ khẩn cấp, giảm nhẹ
và sẵn sàng ứng phó thiên tai tại Việt Nam” [62; tr 228]
Như vậy,viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam luôn gắn với hoạt động thương mại
và đầu tư, dù rằng quan điểm này có thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử và bị chi phối bởi các nhân tố chính trị - chiến lược của quốc gia này Thời kỳ đầu, việc trợ không phải là biện pháp chủ yếu thực hiện mục tiêu của chính sách thương mại, song nó cũng là một biện pháp sử dụng kết hợp để mở rộng thương mại và đầu
Trang 38tư.Tuy nhiên, đến thập niên 90 của thể kỉ XX, quan niệm này có sự thay đổi, thể
hiện qua phát biểu của J Brian Atwood – một quan chức cơ quan USAID: “nếu các nước nhận viện trợ không cải cách phương thức kinh doanh của họ thì tổ chức này không thể làm việc với họ lâu hơn nữa”[30; tr 177]
Nhận thức đúng về hợp tác khoa học – công nghệ và viện trợ với Hoa Kỳ giúp Việt Nam tranh thủ và khắc phục được những hạn chế, tạo nguồn lực cho sự phát triển của đất nước
Giai đoạn 1995 – 2000, dù quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được bình thường hóa, quan hệ thương mại có chuyển biến tích cực, nhưng quan hệ kinh
tế chưa tương xứng với tiềm năng của hai quốc gia Nhìn từ phía Hoa Kỳ, quan hệ kinh tế giữa hai chủ thể chưa có cơ sở pháp lý vững chắc, bởi lẽ Hoa Kỳ chưa xem Việt Nam là một chủ thể kinh tế có địa vị pháp lý rõ ràng (Hoa Kỳ chưa kí BTA với Việt Nam, chưa dành cho Việt Nam quy chế PNTR, chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường,…), cho nên vẫn áp dụng những quy định bất bình đẳng với chủ thể kinh tế Việt Nam
Sau khi BTA có hiệu lực và qua 5 năm thực hiện, quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ có những bước tiến vượt bậc Tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 6,78 tỷ USD năm 2005; đồng thời, Hoa Kỳ đứng thứ 8 trong tổng số 80 quốc gia đầu tư vào Việt Nam; viện trợ của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu, đem lại hiệu quả thiết thực cả về kinh tế, chính trị, xã hội cho Việt Nam Điều này cho thấy quan hệ kinh tế song phương đã có những bước tiến nhanh, vững chắc
Trang 39Thành tựu hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia không chỉ dựa trên những nỗ lực của các doanh nghiệp Việt Nam – Hoa Kỳ, mà đã có sự hỗ trợ của Chính phủ hai nước
kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao.Hai quốc gia có những chính sách mới, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi khách quan nhu cầu của hai nền kinh tế Mặc dù các quan hệ hợp tác đã có nhiều thuận lợi và đạt được nhiều kết quả quan trọng trong hợp tác kinh tế giữa hai nước song quan hệ hai nước vẫn gặp phải một
số trở ngại không nhỏ do những hạn chế về thông tin và sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước, do sự khác việt về ngôn ngữ, do những khó khăn về thủ tục hành chính, thủ tục visa, và nhất là sự hạn hẹp về kinh phí Điều này đặt ra thách thức cho phát triển kinh tế của Việt Nam trong quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ để cân bằng lại vị thế của hai nước
Dựa trên những thành tựu và thách thức đặt ra trong quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ từ năm 1995 đến năm 2005 là tiền đề cho sự hợp tác kinh tế hai nước ở những năm tiếp theo
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM VỚI HOA KỲ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
2.1 Chủ trương của Đảng
2.1.1 Những yếu tố mới tác động đến quan hệ kinh tế Việt Nam với Hoa Kỳ
- Bối cảnh thế giới và khu vực
Thế giới biến đổi không ngừng, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và quốc tế lôi cuốn nhiều quốc gia trên thế giới tham gia.Trước sự biến đổi của tình hình thế giới, đặt ra không ít cơ hội cũng như thách thức cho các quốc gia muốn vươn mình tìm cơ hội phát triển
Vấn đề an ninh năng lượng (nhất là với các nền kinh tế lớn) đặt ra gay gắt, khủng hoảng tài chính tiền tệ kéo theo khủng hoảng nợ công ở một số nước tư bản châu
Âu tác động sâu sắc đến toàn bộ đời sống kinh tế thế giới và hệ thống chính sách kinh tế, thương mại của Hoa Kỳ
Sự trỗi dậy vượt bậc của các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là nhóm BRICs (nhóm
4 quốc gia đang phát triển mạnh nhất, nay bổ sung thêm nước thứ năm là Cộng hòa Nam Phi), đứng đầu là Trung Quốc đã lộ diện một đối thủ cạnh tranh kinh tế thương mại đang gờm với nhóm G7 (7 nước công nghiệp phát triển, trong đó có Hoa Kỳ) Thế giới chuyển mình sang phát triển dựa trên thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Điều này tạo ra cơ sở hạ tầng mới cho nền kinh tế toàn cầu, làm xuất hiện cơ sở hạ tầng vô hình giúp kéo gần khoảng cách giữa các quốc gia, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại phát triển.Ngoài ra, nó còn thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, làm thay đổi quan hệ kinh tế quốc tế
Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là cách mạng thông tin dẫn đến việc hình thành kinh tế tri thức.Đặc điểm này dẫn đến xu thế toàn cầu hóa đời sống kinh tế quốc tế và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng.Nhân tố kinh