Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý hành chính triều Minh Mệnh nói riêng, bộ máy quản lý hành chính triều Nguyễn nói chung, cùng những bộ phận cấu thành của nó vẫn còn chư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3118
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Quân
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 23 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận văn
Hà Duy Biển
Trang 4119
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo hướng dẫn luận văn của tôi - Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Quân, người Thầy đã dìu dắt tôi trên con đường học tập và nghiên cứu sử học liên tục từ những năm học Đại học đầy
ý nghĩa!
Từ nơi sâu thẳm của trái tim và khối óc, tôi vô cùng biết ơn và trân trọng sự quan tâm, xẻ chia đầy thân tình và nghiêm cẩn, trong tinh thần khơi gợi và tiếp dẫn của người Thầy đã quá cố - Phó giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Hải Kế, và vị Thầy giáo già kính yêu - Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thừa Hỷ!
Tinh thần khoa học, sự độ lượng và tính nhân văn trong suy nghĩ, lời nói và việc làm của các Thầy chính là tấm gương sáng, như ngọn đèn biển rọi đường dẫn lối trên đại dương mênh mông, mờ mịt của cuộc sống và tri thức!
Tôi trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ công tác tại Khoa Lịch sử và Phòng Sau đại học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn,
và Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, đều thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội; các đồng chí, đồng đội tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, đặc biệt là Bộ môn Lịch sử quân sự cổ - trung - cận đại; các cán bộ Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và nhiều anh chị em, bạn bè ở trong nước và nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này Tôi luôn biết ơn gia đình - cả gia đình lớn và gia đình nhỏ - đã không ngừng tin tưởng, động viên, tạo điều kiện để tôi được theo đuổi sự học tập lâu dài của mình!
Hà Nội, ngày 23 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận văn
Hà Duy Biển
Trang 5120
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Nguồn tài liệu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Đóng góp của luận văn 10
8 Cấu trúc luận văn 11
CHƯƠNG 1: CƠ CẤU NHÂN SỰ VÀ CƠ CẤU BỘ MÁY TỔ CHỨC 12
1.1 Tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương thời các chúa Nguyễn (1614-1802) và dưới triều Gia Long (1802-1820) 12 1.1.1 Tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương thời các chúa Nguyễn 12
1.1.2 Tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương dưới triều Gia Long 13
1.2 Quá trình biến chuyển cơ cấu nhân sự của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh (1820-1840) 16
1.2.1 Cơ cấu nhân sự năm 1820 16
1.2.2 Cơ cấu nhân sự năm 1821 17
1.2.3 Cơ cấu nhân sự từ năm 1824 đến 1826 21
1.2.4 Cơ cấu nhân sự từ năm 1827 đến 1840 22
1.2.5 Nhân sự Bộ Binh - “tăng chứ không giảm” 23
1.2.6 Vài nét về Thượng thư Bộ Binh 25
1.3 Quá trình biến chuyển cơ cấu bộ máy tổ chức của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh (1820-1840) 28
1.3.1 Một vài khúc mắc về sử liệu 28
1.3.1.1 Về cơ cấu bộ máy tổ chức trong sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ 28
1.3.1.2 Về cơ cấu bộ máy tổ chức năm 1820 30
1.3.1.3 Về sự chuyển đổi các Ty Lệnh sử thành những Ty Thanh lại vào năm 1821 30
1.3.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức Bộ Binh triều Minh Mệnh 31
1.3.2.1 Giai đoạn từ năm 1821 đến 1826 31
1.3.2.2 Giai đoạn từ năm 1826 đến 1840 33
Tiểu kết Chương 1 38
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH BẢO ĐẢM VÀ QUY CHẾ VẬN HÀNH 39
2.1 Quy định bảo đảm 39
2.1.1 Công đường 39
2.1.2 Vật dụng công 40
Trang 6121
2.1.2.1 Thuyền 40
2.1.2.2 Đồng hồ 40
2.1.2.3 Văn phòng tứ bảo (nghiên, bút, giấy, mực) 41
2.1.2.4 Ống trạm và Bài trạm 41
2.1.2.5 Tiền công nhu 41
2.1.2.6 Triều phục 41
2.1.3 Chế độ lương bổng 43
2.1.3.1 Cách thức tính lương bổng 43
2.1.3.2 Cách thức lĩnh lương bổng 45
2.1.3.2 Định mức lương bổng 46
2.1.4 Cáo sắc, văn bằng 52
2.1.4.1 Thành phần được cấp cáo sắc, văn bằng 52
2.1.4.2 Thể thức cáo sắc, văn bằng 53
2.1.4.3 Quy định sử dụng cáo sắc, văn bằng 54
2.1.5 Phong tặng phẩm hàm và thụy hiệu 55
2.1.5.1 Phong tặng phẩm hàm và thụy hiệu cho quan lại 55
2.1.5.2 Phong tặng phẩm hàm và thụy hiệu cho thân nhân quan lại 56
2.1.6 Chế độ tử tuất 57
2.2 Quy chế vận hành 59
2.2.1 Quy chế ấn triện 59
2.2.1.1 Ấn triện công của Bộ Binh 59
2.2.1.2 Ấn triện riêng của quan lại Bộ Binh 60
2.2.2 Quy cách vận hành 62
2.2.2.1 Quy định về Văn thư 62
2.2.2.2 Thời gian làm việc 66
Tiểu kết Chương 2 69
CHƯƠNG 3: CHỨC TRÁCH VÀ HOẠT ĐỘNG 70
3.1 Chức trách 70
3.2 Hoạt động quản lý ngạch quan võ 74
3.2.1 Tuyển chọn trong ngạch quan võ 74
3.2.1.1 Tuyển chọn con cháu quan lại 75
3.2.1.2 Tuyển chọn từ những binh lính có kinh nghiệm và có công mộ lính 77 3.2.2 Bổ nhiệm, thuyên chuyển trong ngạch quan võ 78
3.2.2.1 Lệ hậu thăng và hậu điệu, lệ thí sai và thực thụ 78
3.2.2.2 Bổ nhiệm, thuyên chuyển các cấp trong ngạch quan võ 79 3.2.3 Khảo xét (công, tội) trong ngạch quan võ 80
3.2.3.1 Các quy định về khảo xét (công, tội) 80
3.2.3.2 Khảo xét công lao và khen thưởng 80
3.2.3.3 Khảo xét tội lỗi và trừng phạt 81
3.2.4 Làm sổ sách ngạch quan võ 83
3.2.4.1 Quy định về việc làm sổ sách ngạch quan võ 83
3.2.4.2 Làm sổ sách thường kỳ ngạch quan võ 83
3.2.4.3 Làm sổ sách ngạch quan võ vào những dịp lễ lớn 84
3.2.4.4 Làm sổ sách ngạch quan võ theo yêu cầu đột xuất của nhà vua 84 3.3 Hoạt động quản lý ngạch binh 85
Trang 7122
3.3.1 Tuyển chọn quân lính 85
3.3.2 Huấn luyện quân lính 86
3.3.2.1 Thao diễn thường kỳ 86
3.3.2.2 Duyệt binh đầu năm 87
3.3.2.3 Huấn luyện không theo định kỳ 87
3.3.3 Điều bổ quân lính 88
3.3.3.1 Điều bổ quân lính để tổ chức, sắp xếp quân đội trong cả nước 88 3.3.3.2 Điều động binh lính canh gác 89
3.3.3.3 Phân ban binh lính 89
3.3.4 Khảo xét quân lính 90
3.3.4.1 Các quy định khảo xét quân lính 90
3.3.4.2 Khảo xét công lao và khen thưởng 90
3.3.4.3 Khảo sát tội lỗi và xử phạt 91
3.3.5 Làm sổ sách ngạch binh 91
3.3.5.1 Quy định làm sổ sách ngạch binh 91
3.3.5.2 Làm sổ sách ngạch binh thường kỳ 92
3.3.5.3 Làm sổ sách ngạch binh không thường kỳ 92
3.4 Quản lý hoạt động quân sự, lập đồn ải 93
3.4.1 Quản lý hoạt động quân sự 93
3.4.1.1 Quản lý hoạt động quân sự trên đất liền 93
3.4.1.2 Quản lý hoạt động quân sự trên biển 94
3.4.1.3 Quản lý, điều hành hoạt động khác liên quan đến binh lính 95 3.4.2 Quản lý việc lập đồn ải 95
3.4.2.1 Tham mưu và thẩm định các việc liên quan đến lập đồn ải 96 3.4.2.2 Điều hành việc xây dựng, tu bổ và trang bị cho các đồn ải 96 3.5 Hoạt động quản đốc Sở Bưu chính, hai kho súng ống và thuốc súng 97
3.5.1 Hoạt động quản đốc Sở Bưu chính 97
3.5.2 Hoạt động quản đốc hai kho súng ống và thuốc súng 98
3.6 Hoạt động khác 99
3.6.1 Thanh tra 99
3.6.2 Quản đốc viện Thượng tứ và mua voi, ngựa công 100
3.6.3 Quản lý vũ khí, trang bị quân sự 101
Tiểu kết Chương 3 101
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 117
Trang 8cả văn hóa văn minh phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á) cũng như văn hóa văn minh phương Tây, đương diện với các nguy cơ ngày càng lộ
rõ từ bên ngoài, đồng thời có nhiều cơ hội để mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới Trong bối cảnh đó, tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước thời Minh Mệnh là một chủ đề quan trọng, có nhiều ý nghĩa về khoa học
và thực tiễn, cần được đào sâu nghiên cứu
1.2 Sự biến chuyển liên tục của bộ máy nhà nước với điểm nút là cuộc cải cách quy mô lớn dưới triều Minh Mệnh (1831-1832) đã mang lại cho vương triều Nguyễn một bộ máy quản lý hành chính khá đồ sộ, tiến hành quản lý và điều hành một lãnh thổ rộng lớn chưa từng có trong lịch sử Việt Nam Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý hành chính triều Minh Mệnh nói riêng, bộ máy quản lý hành chính triều Nguyễn nói chung, cùng những bộ phận cấu thành của nó vẫn còn chưa được nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể với tư cách như một bộ phận trong cấu trúc và cấu trúc bao gồm những bộ phận, cũng như đặt trong các mối quan hệ lịch đại và đồng đại Bộ Binh với tư cách như một cơ quan quản lý hành chính cấp trung ương, thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà nước về hành chính quân sự của nước Việt Nam - Đại Nam2, cũng chưa được chú ý nghiên cứu và hiện còn chưa có những công trình riêng biệt, tương
1 Minh Mệnh (Nguyễn Phúc Đảm) sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi, tức ngày 25/5/1791, tại làng Tân Lộc thuộc Gia Định, chính thức lên nối ngôi vua từ ngày mồng 1 Tết Nguyên đán năm Canh Thìn, tức ngày 14/2/1820, làm vua 21 năm với niên hiệu Minh Mệnh (cũng đọc là Minh Mạng) cho đến khi mất vào giờ Hợi (23-01 giờ) ngày 28 (Giáp Thân) tháng Chạp năm Canh Tý niên hiệu Minh Mệnh thứ 21 (1840), tức ngày
20/1/1841, hưởng thọ 50 tuổi, được tôn dâng miếu hiệu là Thánh Tổ, Thể Thiên, Xương Vận, Chí Hiếu,
Thuần Đức, Văn Vũ, Minh Đoán, Sáng Thuật, Đại Thành, Hậu Trạch, Phong Công, Nhân hoàng đế [116, tr.889] Như vậy, thời gian cầm quyền của ông cũng như niêu hiệu Minh Mệnh đúng ra phải tính chính xác từ ngày 14/2/1820 đến 20/1/1841, tức là đã bước sang năm 1841 Tuy nhiên, hiện này các tài liệu đều chỉ tính đến năm 1840 Trước khi có những nghiên cứu, thảo luận chuyên sâu và được thừa nhận rộng rãi hơn, trong luận văn này tạm thời vẫn tính niên hiệu Minh Mệnh từ năm 1820 đến 1840
2 Tháng 3 năm Mậu Tuất (1838), vua Minh Mệnh mới chính thức đổi tên nước: “trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam” [116, tr.276-277]
Trang 91.3 Cùng với việc dịch và công bố rộng rãi một loạt tư liệu của/về triều
Nguyễn có liên quan, một đề tài nghiên cứu chi tiết về tổ chức và hoạt động
của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh hoàn toàn có thể thực hiện được
1.4 Học viên từng tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, hiện đang làm việc tại Bộ môn Lịch sử quân sự Việt Nam cổ - trung - cận đại thuộc Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng, có điều kiện triển khai thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này Đồng thời, được sự đồng ý giúp đỡ và khích lệ của thầy hướng dẫn khoa học, đề tài được tích cực triển khai, hứa hẹn thực hiện thành công và hy vọng có thể mở ra một hướng nghiên cứu lâu dài đối với học viên
Từ những nhận thức trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu Tổ chức và hoạt động của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh (1820-1840) với
mong muốn có thể thực hiện một sự tiếp cận vi mô đối với nghiên cứu về Bộ
Binh triều Minh Mệnh nói riêng, bộ máy nhà nước thời Nguyễn nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dựa trên hệ thống tư liệu đồ sộ về triều Nguyễn và của triều Nguyễn đã từng bước được phiên dịch, công bố trong hơn một thế kỷ qua, nhiều sách, tài liệu nghiên cứu về triều Nguyễn đã được thực hiện và phổ biến rộng rãi Các công trình đã công bố chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu các vấn đề chính trị, kinh
tế, xã hội, văn hóa, cùng các hoạt động quân sự của triều Nguyễn (nhất là hoạt động đàn áp khởi nghĩa nông dân và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX)
Trước hết cần phải kể đến những nghiên cứu chung về tổng thể lịch sử Việt Nam, hay những lĩnh vực xuyên suốt hoặc một khoảng dài lâu trong lịch
sử Việt Nam, mà Bộ Binh triều Minh Mệnh nói riêng, triều Nguyễn nói chung
được đề cập đến như một bộ phận Tiêu biểu như Lịch sử chế độ phong kiến
Trang 10125
Việt Nam, Tập III của nhóm tác giả Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm (1965) [58]; Lịch sử Việt Nam, Tập II (Từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX) do Phan Huy Lê chủ biên (2012) [56]; Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX của Lê Thành Khôi [50]; Những đặc trưng cơ bản của bộ máy quản lý đất nước và hệ thống chính trị nước ta trước thời kỳ đổi mới do Vũ Minh Giang chủ biên (2008) [39]; Lịch sử tổ chức quân
sự Việt Nam, Tập 2 (1400-1930) do Dương Đình Lập chủ biên (2014) [52]; và mới đây nhất là Luận án Tiến sĩ lịch sử Biến đổi của mô hình tổ chức nhà nước ở Việt Nam (Thế kỷ X-XIX) của Phạm Đức Anh (2014) [2] Ở nước ngoài, công trình A history of the Vietnamese (Một lịch sử của người Việt
Nam) của Keith Weller Taylor (2013) [159] được chú ý rất nhiều Tổ chức và hoạt động của Bộ Binh triều Minh Mệnh được đề cập tới trong những công trình này khá sơ sài, tương xứng với tư cách bộ phận nhỏ bé của nó trong đối tượng rộng lớn mà các nghiên cứu này đề cập tới
Đáng chú ý hơn là những công trình nghiên cứu trực tiếp về triều Nguyễn Trong đó, những công trình nghiên cứu tổng thể triều Nguyễn hoặc những lĩnh vực, nội dung cụ thể của lịch sử Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn khá
phong phú, tiêu biểu như Việt sử tân biên, Quyển IV (Từ Tây Sơn mạt điệp đến Nguyễn Sơ) của Phạm Văn Sơn (1961) [125]; 82 năm Việt sử (1802-1884) của Nguyễn Phương (1963) [93]; Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn của Nguyễn Thế Anh (1971) [3]; Phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX của Nguyễn Phan Quang (1986) [97]; Triều Nguyễn - những vấn
đề lịch sử tư tưởng và văn học (Chương trình nghiên cứu về triều Nguyễn) gồm
3 tập của Trường Đại học Sư phạm Huế [142] [143] [144]; số chuyên khảo về
triều Nguyễn trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (1993) [128]; Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884) của Nguyễn Phan Quang [98]; Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế và Tạp chí Xưa & Nay (2002) [68]; Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 8 (Hoạt động quân sự từ năm 1802 đến năm 1896) do Đinh Xuân Lâm chủ biên (2007) [51]; Việt sử đại cương, Tập 3 (1802-1884) của Trần Gia Phụng (2007) [89]; Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng của Choi Byung Wook (2011) [12]; Lịch sử Việt Nam,
Tập 5 (Từ năm 1802 đến năm 1858) do Trương Thị Yến chủ biên (Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2013); Luận án Tiến sĩ lịch sử Tổ chức phòng thủ và hoạt động bảo vệ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1885 của
Trang 11126
Lê Tiến Công (2015) [13]; Và đặc biệt phải kể đến Hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX) được tổ chức tại Thanh Hóa ngày 18-19/10/2008 [48] Ở nước ngoài, công trình nghiên cứu quan trọng bậc nhất có thể kể đến là Vietnam and the Chinese model: A comparative study of Nguyen and Ch'ing civil government in the first half of the nineteenth century (Việt Nam và mô hình Trung Hoa:
Nghiên cứu so sánh tổ chức chính quyền ở Việt Nam và Trung Hoa nửa đầu thế
kỷ XIX) của Alexander Barton Woodside (1971) [160] Những công trình nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chung khá toàn diện về triều Nguyễn và lịch
sử Việt Nam trong thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX, nhưng tổ chức và hoạt động của Bộ Binh triều Minh Mệnh được đề cập đến khá mờ nhạt, thậm chí là khuyết thiếu
Bộ phận thứ ba là những nghiên cứu về thể chế chính trị và bộ máy nhà nước triều Nguyễn, xuất hiện khá nhiều với những hình thức, quy mô khác nhau
Tiêu biểu như Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn sơ (1802-1847) của Nguyễn Sĩ Hải (1962) [45]; Chế độ quan chức thời Nguyễn đăng trên Tạp chí Khoa học - Đại học Tổng hợp Hà Nội của Trần Bá Chí và Vũ Minh Giang (1993) [40]; Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh của Nguyễn Minh Tường (1996) [146]; Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn của Trần Thanh Tâm (1996) [130]; Tổ chức bộ máy nhà nước dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-
1884 do Đỗ Bang chủ biên (1997) [5]; Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn do Phan Đại Doãn chủ biên (1998); Luận án Tiến sĩ lịch sử Quan xưởng ở Kinh đô Huế từ 1802 đến 1884 của Nguyễn Văn Đăng (2001) [28]; bài nghiên cứu Thể chế chính trị thời Nguyễn (Dưới triều Gia Long, Minh Mệnh) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử của Trần Thị Vinh (2002) [153]; Bài nghiên cứu Một vài khía cạnh trong chính sách quan lại của nhà Nguyễn (qua khảo sát quê hương đội ngũ quan lại) đăng trên Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội của
Vũ Văn Quân (2003) [101]; Luận án Tiến sĩ lịch sử Vai trò của Bộ Công trong việc xây dựng Kinh đô Huế dưới triều Nguyễn (Giai đoạn 1802-1884) của Phan Tiến Dũng (2005) [25]; Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) của Vũ Thị Phụng (2005) [91]; Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam - Một bộ máy hành chính trước thử thách (1820-1918) của Emmanuel Poisson (2006) [96]; Định chế hành chính và quân sự triều Nguyễn (1802-1885) của
Huỳnh Công Bá và Huỳnh Văn Nhật Tiến (2014) [4]; Luận án Tiến sĩ lịch sử
Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai
Trang 12127
đoạn 1802-1885 của Ngô Đức Lập (2014) [53] Những chuyên khảo này
cung cấp những hiểu biểu ngày càng cụ thể, chi tiết về thể chế chính trị và bộ máy nhà nước triều Nguyễn nói chung, cũng như những lĩnh vực chuyên môn hoặc bộ phận cụ thể, đặt ra và góp phần lý giải nhiều vấn đề trọng yếu
Tuy nhiên, khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào khảo cứu và trình bày một cách hệ thống về
tổ chức và hoạt động của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh (1820-1840)
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Phục dựng quá trình biến chuyển về cơ cấu tổ chức và cơ cấu nhân
sự của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh (1820-1840)
3.2 Xác định, phục dựng và bước đầu phân tích các quy định bảo đảm
về vật chất và tinh thần, cùng với những quy chế vận hành mà triều Minh Mệnh đã xây dựng, áp dụng đối với Bộ Binh
3.3 Phân tích chức năng, nhiệm vụ và khảo sát hoạt động thực tiễn của
Bộ Binh trong 21 năm dưới triều Minh Mệnh (1820-1840) được ghi chép
trong bộ chính sử đồ sộ của triều Nguyễn là Đại Nam thực lục
3.3 Phân tích, so sánh tổ chức của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh 1840) trong mối tương quan đồng đại và lịch đại với một số tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương ở Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ gần gũi và tương đồng
(1820-3.4 Từ những vấn đề cụ thể của tổ chức và hoạt động của Bộ Binh như
là điểm nhìn để nhận định, đánh giá chung về bộ máy nhà nước thời Minh Mệnh
3.5 Xây dựng thể nghiệm một mô hình, cấu trúc tiếp cận vi mô trong nghiên cứu về Bộ Binh triều Minh Mệnh, làm cơ sở tham chiếu cho những nghiên cứu tương tự đối với các cơ quan trong bộ máy nhà nước triều Minh Mệnh nói riêng, triều Nguyễn nói chung
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Bộ Binh là một trong 6 bộ (Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình,
Bộ Công), là cơ quan quản lý hành chính quân sự cấp trung ương của bộ máy
nhà nước dưới triều Minh Mệnh (1820-1840)
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 135 Nguồn tài liệu
Triều Nguyễn để lại một hệ thống tư liệu rất đồ sộ Một bộ phận quan trọng trong số đó đã được chuyển dịch sang Việt ngữ và xuất bản, đồng thời, các công trình nghiên cứu có liên quan ở trong nước và ngoài nước cũng phần lớn đã được công bố rộng rãi, tạo nhiều thuận lợi cho công tác tìm hiểu, nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu cụ thể của luận văn, ngoài các tài liệu được tham khảo rộng rãi như là kiến thức nền tảng và tư liệu tham chiếu, học viên xác định tập trung khai thác, sử dụng một số nguồn tài liệu chính có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu, bao gồm:
- Tư liệu chính sử của triều Nguyễn, chủ yếu là Đại Nam thực lục, gồm
cả bản dịch Việt ngữ [112] [113] [114] [114] [116] [117] [118] [119] [120] và nguyên bản chữ Hán [163] [164] [165]
- Tư liệu ghi chép điển lệ của triều Nguyễn, chủ yếu là Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, bao gồm bản dịch Việt ngữ 15 tập (liên tục từ [72] đến [86]) và nguyên bản chữ Hán [166], cùng với Đại Nam điển lệ toát yếu [36]
- Các tài liệu tiếng Trung Quốc có liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước Trung Quốc thời phong kiến [161] [162]
- Các tài liệu dịch từ tiếng Pháp và tiếng Anh có liên quan đến Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh [96] [156] [157] [160]
- Các tài liệu tiếng Việt có liên quan
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử (phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp tập hợp và phân tích tư liệu, phương pháp so sánh ) và một số phương pháp chuyên biệt
có liên quan (phương pháp văn bản học Hán Nôm )
Phương pháp lịch sử là phương pháp chính được sử dụng trong quá trình
triển khai làm luận văn Dựa trên phương pháp này, Bộ Binh triều Minh Mệnh được xem xét dưới cả góc nhìn đồng đại và lịch đại Theo đó, Bộ Binh được coi
Trang 14129
là một hệ thống hoàn chỉnh có cấu trúc bao gồm phức hợp của các bộ phận nội thuộc, đồng thời là một bộ phận nội thuộc của các cấu trúc lớn hơn như bộ máy nhà nước trung ương triều Nguyễn, cũng như chỉ là một đoạn ngắn trong dòng chảy lịch sử dài lâu của đất nước với các mối quan hệ phức hợp trong quỹ đạo của văn hóa văn minh Đông Á
Phương pháp logic được sử dụng trong nhiều nội dung nghiên cứu của
luận văn Dựa trên phương pháp này, cơ cấu tổ chức và cơ cấu nhân sự, cùng với các quy chế vận hành được xem xét trong tính hợp lý giữa mối quan hệ của nhiều bộ phận, thời kỳ, từ đó đề xuất hiệu chỉnh, khái quát mô hình tổ chức và quy chế vận hành của Bộ Binh triều Minh Mệnh trong nhiều thời điểm, đặc biệt là những thời điểm mà thông tin trong các nguồn tư liệu không
rõ ràng hoặc có mâu thuẫn
Phương pháp tập hợp và phân tích tư liệu là một trong những phương
pháp quan trọng Phương pháp này được sử dụng nhiều để khai thác và phân tích các nguồn tư liệu khác nhau từ chính sử, điển lệ, tư liệu chữ Hán cho đến các công trình sử học của nhiều thế hệ người nghiên cứu đã công bố trước
Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu so sánh được sử dụng nhằm làm
cho những nhận thức và kết quả nghiên cứu về Bộ Binh triều Minh Mệnh trở nên khách quan và sâu sắc hơn So sánh cơ cấu nhân sự và cơ cấu tổ chức Bộ Binh triều Minh Mệnh với cơ cấu nhân sự và cơ cấu tổ chức Bộ Binh triều
Lê Thánh Tông ở Việt Nam, cùng với triều Minh và triều Thanh ở Trung Quốc không chỉ làm rõ hơn nhận thức về tổ chức và hoạt động của Bộ Binh triều Minh Mệnh mà phần nào cho thấy được quá trình diễn biến của mô
hình tổ chức bộ máy hành chính quản lý nhà nước trong lịch sử
7 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở của các nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của luận văn tập trung vào một số nội dung chính sau:
- Trình bày cụ thể, có hệ thống về quá trình biến chuyển cơ cấu nhân sự
và cơ cấu tổ chức của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh
- Phục dựng chi tiết, cụ thể các quy định bảo đảm về vật chất và tinh thần, cùng với những quy chế vận hành của Bộ Binh triều Minh Mệnh
Trang 15- Từ điểm nhìn là tổ chức và hoạt động của Bộ Binh nói chung, đi sâu nghiên cứu một số vấn đề cụ thể để từ đó bước đầu đưa ra nhận định, đánh giá
về bộ máy nhà nước thời Minh Mệnh
- Đề xuất và thực hiện thể nghiệm một mô hình, cấu trúc tiếp cận vi mô mới trong nghiên cứu về Bộ Binh triều Minh Mệnh
- Xây dựng và cung cấp hệ thống sơ đồ, bảng biểu tra cứu có liên quan đến Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn sẽ được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Cơ cấu nhân sự và cơ cấu bộ máy tổ chức
Chương 2: Quy định bảo đảm và quy chế vận hành
Chương 3: Chức trách và hoạt động
Trang 16131
CHƯƠNG 1:
CƠ CẤU NHÂN SỰ VÀ CƠ CẤU BỘ MÁY TỔ CHỨC 1.1 Tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương thời các chúa Nguyễn (1614-1802) và dưới triều Gia Long (1802-1820)
1.1.1 Tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương thời các chúa Nguyễn
Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được vua Lê (thực chất là Trịnh Kiểm) cử vào trấn thủ vùng hậu phương rộng lớn phía Nam trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều (hay chiến tranh Lê - Mạc), giữ đất Thuận Hóa, sau đó kiêm quản đất Quảng Nam, bắt đầu gây dựng sự nghiệp của họ Nguyễn ở phương Nam [112, tr.28] Từ năm 1558 đến 1613, Nguyễn Hoàng vẫn giữ tư cách là một phiên thần của triều đình Lê - Trịnh, đứng đầu bộ máy quản lý địa phương của Đại Việt ở vùng đất phía Nam “phàm quan lại tam ty
do nhà Lê đặt đều theo lệnh” [112, tr.28]
Sau khi kế vị Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên tích cực đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cát cứ, nhanh chóng tách vùng đất phương Nam của Đại Việt ra khỏi sự lệ thuộc vào chính quyền Lê - Trịnh ở Thăng Long Trong chiến lược chung đó, ông nhanh chóng xúc tiến mạnh mẽ công việc xây dựng
bộ máy chính quyền nhà nước ở Thuận - Quảng theo cách tổ chức riêng của
họ Nguyễn
Ngay từ năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên đã cải cách bộ máy cai trị của vùng đất mới theo xu hướng một chính quyền riêng, độc lập với Thăng Long - Kẻ Chợ [112, tr.38-39] Theo đó, Chúa Nguyễn là người đứng đầu với chức danh “Tiết chế thủy bộ chư dinh kiêm Tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự”, nắm giữ quyền tổng chỉ huy quân đội và quyền chỉ huy mọi công việc đối nội, đối ngoại Bên dưới, Nguyễn Phúc Nguyên bãi bỏ 3 ty Đô1,
Thừa, Hiến do nhà Lê đặt trước đây, lập 3 ty mới là Xá sai, Tướng thần lại và
Lệnh sử (tại thủ phủ của chính quyền chúa Nguyễn ở Chính dinh (tức Dinh Cát) có thêm hai ty là Nội lệnh sử và Lệnh sử đồ gia), xếp đặt lại hệ thống quan chức mới của bộ máy chính quyền2
Trang 17132
Trên thực tế, mô hình chính quyền trung ương của các chúa Nguyễn đã được xây dựng, phát triển trải qua một quá trình biến chuyển, điều chỉnh không ngừng kể từ cải cách thời Nguyễn Phúc Nguyên Tuy nhiên, trải qua các thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691), Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), Nguyễn Phúc Trú (1725-1738) và những năm đầu chúa Nguyễn Phúc Khoát cầm quyền (1738-1765), cơ cấu chính quyền trung ương của các chúa Nguyễn về cơ bản không có những thay đổi lớn, đều khá gọn nhẹ
và thể hiện tính tập trung quyền lực rất cao Như vậy, trong khi chưa có những nghiên cứu cụ thể và rõ ràng hơn, có thể tạm coi rằng từ năm 1614, Ty Lệnh sử
ở Chính dinh “coi việc tế tự, lễ tiết và chi cấp lương hướng cho quân đội Chính
dinh” do viên Nha úy đứng đầu, có thuộc viên giúp việc gồm 3 Câu kê, 3 Cai
hợp, 10 Thủ hợp, 40 Lại ty, tổng cộng là 60 người1 [112, tr.39], gần như một tổ chức sơ khai làm nhiệm vụ quản lý hành chính quân sự cấp trung ương của
chính quyền chúa Nguyễn ở vùng đất phương Nam và Đàng Trong sau này
Ty Lệnh sử đảm trách nhiệm vụ của một “Bộ Binh sơ khai” liên tục trong khoảng 130 năm Đến năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát chính thức xưng vương và tiến hành cải tổ, sắp xếp lại bộ máy quản lý nhà nước ở Đàng Trong thành một vương triều thực sự, tách biệt hẳn với chính quyền Lê - Trịnh
ở Đàng Ngoài2 Theo đó, bộ máy chính quyền nhà nước trung ương của họ Nguyễn ở Đàng Trong được đổi từ 3 ty chính (Xá sai, Tướng thần lại và Lệnh
sử) cùng với 2 ty phụ (Nội lệnh sử và Lệnh sử đồ gia) thành 6 bộ theo mô hình
tiết và chi cấp lương cho quân đội ở Chính dinh do viên Nha úy đảm nhiệm; Ty Nội lệnh sử coi việc thu
tiền sai dư (thuế thân) của các xã thuộc hai xứ Thuận - Quảng; Ty Lệnh sử đồ gia coi việc thu phát các loại nguyên vật liệu phục vụ việc chế tạo khí giới, thuyền ghe, thành lũy, nhà cửa ; trừ Ty Lệnh sử đồ gia, 4 ty còn lại đều có những thuộc viên giúp việc gồm 3 Câu kê, 3 Cai hợp, 10 Thủ hợp, 40 Lại ty, tổng cộng là 60 người [112, tr.38-39] [155, tr.158]
1 Ở đây có một vấn đề về sử liệu còn tồn nghi là tổng số nhân sự của Ty Lệnh sử có thể xác định gồm
1 Nha úy, 3 Câu kê, 3 Cai hợp, 10 Thủ hợp, 40 Lại ty thì mới chỉ có 57 người, không rõ tại sao Đại
Nam thực lục lại xác định số ty viên là 60 người?! Theo nghiên cứu của Trần Thị Vinh, ghi chép
tương tự trong sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cũng xác định con số này ở cả 4 ty (Xá sai,
Tướng thần lại, Lệnh sử ty, Nội lệnh sử) đều là 60 người, riêng Ty Lệnh sử đồ gia thì liệt kê nhân viên giúp việc cộng đủ 33 người [155, tr.158]
2 Khi đó, ở Đàng Ngoài, ngay từ nửa đầu thế kỷ XVIII (1718), bộ máy chính quyền trung ương triều Lê -
Trịnh có sáu bộ (Lại bộ, Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ, Công bộ) bên triều đình vua Lê tồn tại song song với sáu phiên (Lại phiên, Lễ phiên, Hộ phiên, Binh phiên, Hình phiên và Công phiên) bên phủ Chúa [63]
[155, tr.160-162]
Trang 18133
của triều đình Hậu Lê, trong đó Ty Xá sai đổi thành Bộ Lại và Bộ Hình, Ty Tướng thần lại đổi thành Bộ Hộ, Ty Lệnh sử đổi thành Bộ Lễ, đặt thêm hai bộ mới nữa là Bộ Binh và Bộ Công [112, tr.153]
Như vậy, từ năm 1744, cơ cấu bộ máy chính quyền nhà nước trung ương của các chúa Nguyễn đã có đủ 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công), trong đó Bộ Binh1 làm nhiệm vụ của một tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương ở Đàng Trong Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về quan chế
thời kỳ các chúa Nguyễn ở Đàng Trong (và cả chính quyền của Nguyễn Ánh cho đến năm 1802) vẫn chưa phục dựng được cơ cấu nhân sự, cơ cấu bộ máy
tổ chức và quy cách vận hành của cơ quan quản lý hành chính quân sự cấp trung ương này
1.1.2 Tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương dưới triều Gia Long
Năm 1771, phong trào nông dân Tây Sơn bùng phát, mở đầu cho những biến chuyển dồn dập, bất ngờ của nền chính trị Đại Việt suốt hơn 30 năm cuối thế kỷ XVIII cho đến chớm đầu thế kỷ XIX trong lịch sử Việt Nam Từ một cuộc khởi nghĩa nông dân, phong trào Tây Sơn từng bước mở rộng và trưởng thành, lần lượt đánh sụp hệ thống chính quyền của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, vượt qua ranh giới sông Gianh, đánh đổ tập đoàn cầm quyền của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và sau đó kết thúc vai trò lịch sử của triều Hậu Lê Nhưng bản thân vương triều mới Tây Sơn, nhất là sau khi vua Quang Trung qua đời (1792), nhanh chóng lâm vào khủng hoảng, chia rẽ, suy yếu, dần đánh mất vai trò tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Tháng 7 năm Đinh
1 “Binh Bộ: 1 Là cơ quan hành chính về quân sự của cả nước Thời Tần Hán vốn là chức trách của
Thái úy Tên gọi Binh bộ có nguồn gốc từ Ngũ binh thượng thư thời Tam Quốc Ngũ binh gồm: Trung
binh, Ngoại binh, Kỵ binh, Biệt binh, Đô binh Bắc Chu theo Chu Lễ đặt Hạ quan phủ Đại tư mã
khanh, thuộc quan có Binh bộ trung đại phu Tùy theo tên gọi của Bắc Chu mà đặt 4 ty trong đó có Binh bộ ty Tùy Dượng đế định chế trưởng quan là Thượng thư, Thị lang làm chánh, phó Thời Đường, Binh bộ nắm giữ việc tuyển phong võ quan từ Lục phẩm trở xuống, khảo khóa và vũ cử, quân lệnh, quân tịch, quân huấn v.v nhưng không trực tiếp nắm binh Về sau định chế thành bộ thứ tư trong 6 bộ Thời Ngũ đại lập Binh bộ nhưng thực quyền ở Khu mật viện Thời Tống mọi quyền binh trong tay Khu mật viện và Trung thư sảnh Chức nhiệm Binh bộ rất nhẹ Đầu thời Tống, Binh bộ thượng thư và Thị lang chỉ là ký lộc quan Thời Nam Tống không thường đặt Thượng thư Vệ úy tự sát nhập vào Binh bộ Thời Nguyên, Binh bộ có Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, Lệnh sử Thời Minh có Ngũ quân đô đốc phủ nắm quân lệnh, Binh bộ chỉ nắm quân chính Nhưng về sau thường là Binh bộ đốc quân xuất chinh Thời Minh trong Binh bộ lập 4 thanh lại ty Thời Thanh, Hoàng đế nắm
toàn bộ binh quyền Binh bộ chỉ là hư danh Năm Quang Tự (1906), Binh bộ đổi là Lục quân bộ 2
Thời Lê lúc đầu chỉ có 2 bộ Lại và Lễ, Lê Nghi Dân mới đặt đủ 6 bộ Tháng 6 năm Ất Mão (1675), định rõ chế độ chức việc 6 bộ Bộ Binh giữ việc binh nhung, quân cấm vệ, xe ngựa, đồ nghi trượng, khí giới, giữ việc biên giới, lính thú, nhà trạm, phố sá, nơi hiểm yếu, việc khẩn cấp, tuyển dụng chức võ” [71, Tr.98-99]
Trang 19134
Mùi (1787), Nguyễn Ánh từ Xiêm (Thái Lan) trở về [112, tr.227-228], nhanh chóng chiếm giữ vùng đất Gia Định (Nam Bộ ngày nay) làm đất đứng chân,
nỗ lực phục hồi và củng cố lại lực lượng, mở rộng quyền lực trên chiến trường
và chính trường, từng bước giành thắng lợi quyết định trong cuộc chiến tranh giành quyền lực với nhà Tây Sơn (1778-1802)
Ngày mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh tổ chức lập đàn ở đồng An Ninh (Huế) hợp tế trời đất, công bố việc đặt niên hiệu Gia Long, lập ra triều Nguyễn [112, tr.491-492] Đến ngày Kỷ Mùi, tháng 5 năm Bính Dần, Gia Long 5 (1806), Nguyễn Ánh chính thức lên ngôi ở điện Thái Hòa trong kinh thành Huế, trở thành vị hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn [112, tr.664-665] Vua Gia Long thiết lập trở lại chế độ quân chủ tập quyền với tổ chức bộ máy chính quyền trung ương thể hiện sự kết hợp giữa hệ thống
tổ chức của triều Hậu Lê với bộ máy hành chính thời các chúa Nguyễn Cơ cấu
bộ máy chính quyền nhà nước trung ương triều Gia Long có đủ 6 bộ theo thứ tự
là Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công, trong đó Bộ Binh làm nhiệm vụ của một tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương
Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cho biết cơ cấu nhân sự của Bộ
Binh năm 1802 gồm “1 Binh bộ Thượng thư, 2 Binh bộ Tham tri, 3 Thiêm sự, các chức Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp ở ty Lệnh sử và số người trong bản ty cộng
60 viên” [73, tr.54]
Hai năm sau khi thành lập vương triều mới, vào tháng 4 năm Giáp Tý (1804), triều đình Nguyễn bàn định và ban bố quan chế Theo đó, quan lại thuộc Bộ Binh làm nhiệm vụ quản lý hành chính quân sự cấp trung ương của
triều Nguyễn được liệt vào Văn giai, gồm Thượng thư Bộ Binh (trật Chánh nhị
phẩm), Tả tham tri Bộ Binh và Hữu tham tri Bộ Binh (trật Tòng nhị phẩm), Thiêm sự Bộ Binh (trật Chánh tứ phẩm), Câu kê Ty Lệnh sử Bộ Binh (trật Tản giai tòng ngũ phẩm), Cai hợp Ty Lệnh sử Bộ Binh (trật Tản giai tòng lục phẩm), Thủ hợp Ty Lệnh sử Bộ Binh (trật Tản giai tòng thất phẩm), Bản ty Ty Lệnh sử
Bộ Binh (trật Tản giai tòng bát phẩm), Thư lại vị nhập lưu (trật Tản giai tòng cửu phẩm) Các quan lại Bộ Binh từ Chánh ngũ phẩm trở xuống được phong tước Bá, từ Chánh lục phẩm trở xuống được phong tước Tử, từ Chánh bát phẩm trở xuống được phong tước Nam [112, tr.595-598]
Trang 20135
Sau khi ban bố quan chế, triều vua Gia Long tiếp tục có một số điều chỉnh đối với cơ cấu nhân sự của Bộ Binh vào các năm Ất Sửu (1805)1, Canh Ngọ (1810)2 và Quý Dậu (1813)3, tạo thành một cơ cấu được định hình và duy trì ổn định cho đến hết thập kỷ thứ hai của thế kỷ XIX Như vậy, ở thời điểm định hình (từ cuối năm 1813), Bộ Binh triều Gia Long gồm 1 viên Thượng thư,
1 viên Tả tham tri, 1 viên Hữu tham tri, 4 viên Thiêm sự, 3 viên Câu kê, 3 viên Cai hợp, 4 viên Thủ hợp và các viên Bản ty, Thư lại vị nhập lưu giúp việc, tổng cộng là 77 người4
Có thể thấy, Bộ Binh trong chính quyền của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong từ sau năm 1744 và Bộ Binh trong bộ máy nhà nước thời Gia Long (1802-1820) đều là tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương Đây chính là cơ cấu tổ chức tiền thân, tiền đề, cơ sở trực tiếp để vua Minh Mệnh và các triều thần tiến hành xây dựng, kiện toàn Bộ Binh về cơ cấu tổ chức trong
21 năm cầm quyền tiếp theo
1.2 Quá trình biến chuyển cơ cấu nhân sự của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh (1820-1840)
1.2.1 Cơ cấu nhân sự năm 1820
Ngày mồng 1 Tết Nguyên đán năm Canh Thìn, tức ngày 14 tháng 2 năm
1820, Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm/Đởm (cũng có tên là Hiệu/Kiểu) - con trai thứ tư của Thế tổ Cao hoàng đế Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu họ Trần, lên ngôi ở tuổi 29, làm vua trọn 21 năm với niên hiệu Minh Mệnh (1820-1840)5 [113, tr.30-31] Triều vua Minh Mệnh là một thời đoạn có vai trò
quan trọng và mang ý nghĩa nhiều mặt trong lịch sử vương triều Nguyễn nói riêng, lịch sử Việt Nam nói chung Trên cơ sở một quốc gia đã bước đầu được thống nhất từ thời Tây Sơn, sau đó tiếp tục được củng cố trong những năm vua Gia Long tại vị, đến năm 1820, vua Minh Mệnh lên ngôi,
kế thừa một di sản lãnh thổ đồ sộ chưa từng có trước đó trong lịch sử Việt Nam, cũng là tiếp nhận một bài toán khó giải bậc nhất trong quản lý và điều hành đất nước
1 Triều đình quy định số nhân viên thuộc ty các nha ở Kinh, trong đó Ty Lệnh sử của Bộ Binh có 70
người [112, tr.642] [73, tr.54]
2 Triều đình quy định số viên Thiêm sự ở 6 bộ, mỗi bộ 4 người [112, tr.783]
3 Triều đình quy định số nhân viên thuộc Ty Lệnh sử của 6 bộ, trong đó có 3 viên Câu kê, 3 viên Cai hợp, 4 viên Thủ hợp [112, tr.868]
4 Cơ cấu nhân sự Bộ Binh triều Gia Long (1813-1820) này có sơ đồ tương tự như Sơ đồ 1.3: Sơ
đồ cơ cấu nhân sự Bộ Binh triều Minh Mệnh (1820) ở Phụ lục
5 Xem Hình ảnh 1.1: Vua Minh Mệnh (1820-1840) trong phần Phụ lục
Trang 21136
Sau khi tiếp nhận ấn ngọc, cờ, gươm - biểu tượng truyền thừa của vương quyền - đặt trên án vàng trước giường ngự của vua cha Gia Long với lời trăng trối “Đấy là cơ nghiệp gian nan của trẫm, nay giao cho con, con nên cẩn thận giữ gìn” [112, tr.1001], trong suốt 21 năm cầm quyền, vua Minh Mệnh cần mẫn “chăm lo mọi công việc, thường như một ngày” [116, tr.890] với mong muốn không ngừng kiện toàn bộ máy nhà nước, xây dựng các định chế của vương triều Nguyễn ngày càng hoàn bị
Chỉ vừa nửa năm sau khi lên nối ngôi, vào tháng 7 năm Canh Thìn (1820), với quan niệm “Chính lệnh của nhà nước tất do sáu bộ” [113, tr.79], vua Minh Mệnh bắt đầu tiến hành một loạt các công việc điều chỉnh, bổ sung, thậm chí thay đổi, nhằm xây dựng về cơ cấu nhân sự, tổ chức bộ máy, quy định bảo đảm và quy chế vận hành của Lục Bộ (Lại,
Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) ngày càng đồ sộ và chi tiết Dưới triều Minh Mệnh (1820-1840), quá trình biến chuyển tổ chức Bộ Binh của nhà nước Việt Nam - Đại Nam diễn ra trên nhiều phương diện, từ cơ cấu nhân sự, cơ cấu tổ chức bộ máy, quy cách vận hành cho đến chế độ lương bổng, tử tuất, phẩm phục Trong đó, cơ cấu nhân sự và cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Binh là hai vấn đề trung tâm, được vua Minh Mệnh và các vị triều thần giành nhiều tâm sức kiện toàn
Kế thừa cơ cấu nhân sự và cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Binh triều Gia Long, Bộ Binh triều Minh Mệnh ban đầu gồm 1 viên Thượng thư (trật Chánh nhị phẩm), 1 viên Tả tham tri (trật Tòng nhị phẩm), 1 viên Hữu tham tri (trật Tòng nhị phẩm), 4 viên Thiêm sự (trật Chánh tứ phẩm), cai quản và điều hành bộ phận nội thuộc là Ty Lệnh sử Bộ Binh với 3 viên Câu kê (trật Tản giai tòng ngũ phẩm), 3 viên Cai hợp (trật Tản giai tòng lục phẩm), 4 viên Thủ hợp (trật Tản giai tòng thất phẩm), các viên Bản ty (trật Tản giai tòng bát phẩm) và Thư lại vị nhập lưu (trật Tản giai tòng cửu phẩm) giúp việc, tổng
cộng là 77 người (Xem Sơ đồ 1.3: Sơ đồ cơ cấu nhân sự Bộ Binh triều Minh Mệnh (1820) trong phần Phụ lục)
1.2.2 Cơ cấu nhân sự năm 1821
Chỉ một năm sau khi nối ngôi, vào tháng Giêng năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mệnh bắt đầu điều chỉnh, bổ sung cơ cấu nhân sự của 6 bộ, trong đó
có Bộ Binh Sách Đại Nam thực lục chép: “Định thêm số viên dịch ở sáu bộ
Đầu đời Gia Long, mỗi bộ đặt một Thượng thư, 2 Tham tri, 4 Thiêm sự Đến nay mỗi bộ đều đặt thêm 4 Lang trung, trật Chánh ngũ phẩm, 4 Chủ sự, trật Chánh lục phẩm, 4 Tư vụ, trật Chánh thất phẩm, và thư lại bát cửu phẩm đều 8
Trang 22137
người, bộ Lại bộ Binh 70 thư lại vị nhập lưu, bộ Hộ 100 người, bộ Lễ bộ Công đều 50 người, bộ Hình 60 người” [113, tr.111-112]1 Căn cứ theo ghi chép này (đối chiếu cả nguyên bản Hán văn và bản dịch tiếng Việt) thì rõ ràng trong đợt
tăng bổ vào đầu năm 1821, nhân sự của Bộ Binh tăng thêm 90 người (gồm 4
Lang trung, 4 Chủ sự, 4 Tư vụ, 8 Thư lại bát cửu phẩm, 70 Thư lại vị nhập lưu, tương đương tăng 118% so với toàn bộ nhân sự của Bộ Binh thời Gia Long và năm 1820), đạt tới con số 166 người, gấp 2,2 lần trước đó
Theo con số này, cộng với các đợt đặt thêm 4 viên Thư lại bát cửu phẩm và 30 viên Thư lại vị nhập lưu vào tháng 5 năm Giáp Thân (1824) [113, tr.354]; tăng 2 viên Lang trung, 2 viên Chủ sự, 2 viên Tư vụ vào tháng 9 năm
Ất Dậu (1825) [113, tr.456]; thêm 2 viên Thị lang vào tháng 8 năm Bính Tuất (1826) [113, tr.529], thì đến cuối năm 1826, Bộ Binh đã lên tới 208 người, gấp 2,7 lần so với triều Gia Long (đến năm 1820), gấp 1,5 lần so với buổi đầu triều Thiệu Trị (đến trước năm 1842)2
Tuy nhiên, con số này lại mâu thuẫn với chính thông tin trong lời nói của vua Minh Mệnh chưa đầy mười năm sau đó Đối chiếu với lời Dụ đường quan ở
6 bộ của vua Minh Mệnh vào ngày 20 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (1829) nói rằng:
“số ty viên và thư lại cắt đặt từ năm đầu niên hiệu Minh Mệnh, so với những năm Gia Long là tăng chứ không giảm, mà những năm gần đây, nghĩ rằng công việc của hai bộ Hộ và Binh tương đối nhiều nên lại tăng thêm gấp rưỡi trước” [61, tr.279] [113, tr.814]3, tức là trải qua quá trình bổ sung liên tục về cơ cấu nhân sự của Bộ Binh, đến cuối thập niên cầm quyền thứ nhất của vua Minh
各 郎 中 四 秩 正 五 品 主 事 四 秩 正 六 品 司 務 四 秩 正 七 品 八 九 品 書 吏 各 八 吏 部 兵 部
未 入 流 書 吏 七 十 户 部 一 百 禮 部 工 部 五 十 刑 部 六 十
(Phiên âm: Tăng định lục bộ viên dịch, Gia Long sơ, bộ trí Thượng thư nhất, Tham tri nhị, Thiêm sự
tứ, chí thị tăng trí bộ các Lang trung tứ, trật chánh ngũ phẩm, Chủ sự tứ, trật chánh lục phẩm, Tư vụ
tứ, trật chánh thất phẩm, Bát cửu phẩm thư lại các bát, Lại bộ Binh bộ vị nhập lưu thư lại thất thập, Hộ
bộ nhất bách, Lễ bộ Công bộ ngũ thập, Hình bộ lục thập) [163, tr.1532 (114)]
2 Trong những năm đầu cầm quyền, vua Thiệu Trị đã kế thừa và tiếp tục duy trì cơ cấu nhân sự của Bộ Binh từ thời Minh Mệnh, đến cuối năm 1842 mới bắt đầu có sự thay đổi [117, tr.428-429, 683-684] [73, tr.54-55]
3 Nội dung lời dụ này có thể hiểu theo 2 cách: (1) Bộ Binh năm 1829 tăng “gấp rưỡi” so với Bộ Binh thời Gia Long; hoặc (2) Bộ Binh năm 1829 tăng “gấp rưỡi” so với Bộ Binh ở một thời điểm trước đó trong thời Minh
Mệnh Nếu lấy số người của Bộ Binh năm 1829 là 139 người (xem phân tích cụ thể ở tiểu mục 1.2.3 Cơ
cấu nhân sự từ năm 1824 đến 1826 và 1.2.4 Cơ cấu nhân sự từ năm 1827 đến 1840) so với
con số 77 người của Bộ Binh triều Gia Long thì tỉ lệ tăng là 1,8 lần; còn so với thời điểm trước khi tăng thêm 4 viên Thư lại bát cửu phẩm và 30 viên Thư lại vị nhập lưu vào tháng 5 năm Giáp Thân (1824) thì tỉ lệ tăng là 1,4 lần Một điểm cần đặc biệt lưu ý là trong thời Minh Mệnh hoàn toàn không có đợt giảm cơ cấu nhân sự nào đối với Bộ Binh
Trang 231821 đã gấp 1,5 lần so với cuối thời Minh Mệnh là không phù hợp Như vậy, rõ
ràng con số 166 người của Bộ Binh vào năm 1821 theo như cách ghi của Đại Nam thực lục trong lần bổ sung cơ cấu nhân sự này là không phù hợp với các
thông tin khác liên quan!
Cũng liên quan đến sự kiện này, sách Khâm định Đại Nam hội điển sự
lệ chỉ ghi là “chuẩn định số vị nhập lưu thư lại 70 người” [73, tr.54] Trong
quan chế triều Gia Long ban hành năm 1804 và những quy định cụ thể vào các năm 1802, 1805 đều không cho biết cụ thể số nhân viên từ Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp, Bản ty cho đến Thư lại vị nhập lưu làm việc tại Ty Lệnh sử của Bộ Binh, chỉ biết tổng số nhân viên thuộc Ty Lệnh sử của Bộ Binh là 70 người [112, tr.642] [73, tr.54] Đến tháng 10 năm Quý Dậu (1813), nhân viên của Ty Lệnh sử thuộc Bộ Binh mới được xác định cụ thể 10 chức danh, gồm 3 viên Câu kê, 3 viên Cai hợp, 4 viên Thủ hợp [112, tr.868], nhưng vẫn không biết được số lượng Bản ty và Thư lại vị nhập lưu còn lại trong tổng số 70 người của Ty Lệnh sử thuộc Bộ Binh Điều đó cũng có nghĩa là cho đến năm 1813
và được tiếp tục duy trì dưới triều vua Gia Long cũng như trong năm đầu niên hiệu Minh Mệnh, số Thư lại vị nhập lưu ở Ty Lệnh sử Bộ Binh không vượt
quá con số 60 người, chưa kể số Bản ty Theo ghi chép trong Khâm định Đại
Nam hội điển sự lệ, đến năm 1821, vua Minh Mệnh đã chuẩn định rõ số Thư
lại vị nhập lưu ở Ty Lệnh sử thuộc Bộ Binh là 70 người Như vậy, dựa theo các
ghi chép về con số Thư lại vị nhập lưu trong Đại Nam thực lục và Khâm định
Đại Nam hội điển sự lệ, có thể hiểu rằng vào năm 1821, vua Minh Mệnh có đặt
thêm số Thư lại vị nhập lưu làm việc tại Ty Lệnh sử thuộc Bộ Binh, nhưng chỉ
tăng từ dưới 60 người lên đến 70 người Cũng tức là từ năm 1821, số Thư lại vị
nhập lưu này mới được đặt tăng thêm đến con số 70 người, chứ không phải
được đặt tăng thêm 70 người!
Từ kết quả phân tích hiệu chỉnh số lượng Thư lại vị nhập lưu trong cuộc bổ sung nhân sự tháng Giêng năm Tân Tỵ (1821) chỉ là 70 người, các
Trang 24139
thành phần khác bị cho là được “đặt thêm” vào năm 1821 cũng cần được xem xét lại, gồm Lang trung, Chủ sự, Tư vụ và Thư lại bát cửu phẩm Theo
quy định năm 1821 trong Đại Nam thực lục, ngoài 7 viên quan cai quản
chung Bộ Binh (gồm 1 Thượng thư, 2 Tham tri, 4 Thiêm sự) thì ở các Ty Lệnh sử thuộc quyền không thấy có các chức Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp và Bản ty như đã được xác định năm 1813 dưới thời vua Gia Long, lại có thêm các chức Lang trung, Chủ sự, Tư vụ và Thư lại bát cửu phẩm [113, tr.111-
112] Trong khi đó, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ không ghi chép gì về
các chức quan Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp và Bản ty trong sự kiện đầu năm Tân Tỵ (1821), nhưng lại xác định rõ các chức Lang trung, Chủ sự, Tư vụ và Thư lại bát cửu phẩm đều thuộc các Thanh lại ty của Bộ Binh khi đổi Lệnh
sử ty thành Thanh lại ty vào tháng 5 cùng năm đó [80, tr.15-16] Cũng liên quan đến việc chuyển đổi Lệnh sử ty 6 bộ thành Thanh lại ty vào tháng 5
năm Tân Tỵ (1821), trong phần ghi chép về Bộ Lại, sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ có đoạn chép “đổi lệnh sử 6 bộ làm ty Thanh lại, cai hợp
làm chánh Bát phẩm thư lại, Thủ hợp làm chánh Cửu phẩm thư lại” [73, tr.28]
Ngoài ra, quy định năm 1821 trong Đại Nam thực lục còn ghi rõ: “Sai
các bộ trưởng cử những người Tri huyện thâm niên cùng các Hành tẩu, Hương cống, và các ty Lệnh sử thuộc bộ, có thể làm được việc thì sung bổ các chức ấy” [113, tr.111-112] Phần nội dung liên quan đến tuyển chọn nhân sự và bổ dụng được ghi ngay tiếp sau danh mục quan lại này gợi nhắc đến một cuộc sắp xếp lại và tuyển chọn nhân sự cho các vị trí được kiến thiết mới trong cơ cấu nhân sự của 6 bộ nói chung, Bộ Binh nói riêng Trong đó, với sự thay đổi về
“trật” của nhiều vị trí, chỉ những viên làm được việc trong “các ty Lệnh sử thuộc bộ” mới được tiếp tục bổ nhiệm, đồng thời tuyển chọn thêm những viên Tri huyện thâm niên, Hành tẩu, Hương cống làm được việc để xếp đặt vào các chức danh mới của 6 bộ
Như vậy, có thể hiểu rằng vào tháng Giêng năm Tân Tỵ (1821), khi tiến hành điều chỉnh, bổ sung cơ cấu nhân sự của 6 bộ, vua Minh Mệnh đã đổi đặt chức danh, đồng thời đặt thêm số người của các chức danh này tại Bộ Binh
Trang 25140
Theo cách hiểu này, 3 chức Câu kê (trật Tản giai tòng ngũ phẩm) bị xóa bỏ1, thay thế vào đó là 4 chức Lang trung (trật Chánh ngũ phẩm), 4 chức Chủ sự (trật Chánh lục phẩm), 4 chức Tư vụ (trật Chánh thất phẩm) Vị trí của 7 chức Cai hợp và Thủ hợp cũ (theo quy định năm 1813 gồm 3 viên Cai hợp, 4 viên Thủ hợp) được thay thế bằng 8 viên Thư lại bát cửu phẩm, trong đó chức Cai hợp (trật Tản giai tòng lục phẩm) đổi thành Thư lại Chánh bát phẩm (trật Chánh bát phẩm), và chức Thủ hợp trật Tản giai tòng thất phẩm đổi thành Thư lại Chánh cửu phẩm (trật Chánh cửu phẩm), nhưng cũng không rõ trong số này có bao nhiêu viên Thư lại Chánh bát phẩm và Thư lại Chánh cửu phẩm
Về phần chức danh Bản ty hiện chưa khảo cứu được, nhưng cũng hoàn toàn biến mất ở Bộ Binh vào đầu năm 1821
Với sự thay đổi này, đến tháng Giêng năm Tân Tỵ (1821), Bộ Binh được tăng cường thêm nhân sự cả hàng quan và lại Và như vậy, phần ghi chép vào
tháng Giêng năm Tân Tỵ (1821) trong Đại Nam thực lục [113, tr.111-112] phải coi là sự chuẩn định của vua Minh Mệnh đối với cơ cấu nhân sự của Bộ Binh Từ
đây, cơ cấu nhân sự của Bộ Binh gồm 1 viên Thượng thư, 2 viên Tham tri, 4 viên Thiêm sự, 4 viên Lang trung, 4 viên Chủ sự, 4 viên Tư vụ, cộng là 19 người [113, tr.111-112], cùng với 8 viên Thư lại bát cửu phẩm và 70 viên Thư lại vị nhập lưu [113, tr.354], tất cả là 97 người Nhân sự Bộ Binh năm 1821 đã tăng 20 người
(26%) so với năm 1820 (Xem Sơ đồ 1.4: Sơ đồ cơ cấu nhân sự Bộ Binh triều Minh Mệnh (1821) trong phần Phụ lục)
1.2.3 Cơ cấu nhân sự từ năm 1824 đến 1826
Chỉ 3 năm sau đợt thay đổi cơ cấu nhân sự vào năm 1821, đến tháng 5 năm Giáp Thân (1824), theo đề nghị của Bộ Binh, vua Minh Mệnh chuẩn định cho đặt thêm 4 viên Thư lại bát cửu phẩm cùng với 30 viên Thư lại vị nhập lưu [113, tr.354] Như vậy, Bộ Binh được tăng cường thêm 34 người, khiến cho số Thư lại bát cửu phẩm là 12 người và số Thư lại vị nhập lưu trở thành
100 viên, tổng số người của Bộ Binh là 131 người (tương đương 135% so với năm 1821) Tiếp đó, đến tháng 9 năm Ất Dậu (1825), Bộ Binh lại được đặt thêm 2 viên Lang trung, 2 viên Chủ sự, 2 viên Tư vụ [113, tr.456], khiến cho
1 Tác giả Đỗ Bang không rõ dựa vào tài liệu nào đã cho rằng: Năm 1827 “bỏ chức Câu kê và đặt chức Viên ngoại lang” [5, tr.64] Rõ ràng chức Câu kê đã chấm dứt vai trò lịch sử ở 6 bộ từ đầu năm 1821, và theo quy định trong lần tổng duyệt định lại quan chế vào tháng 11 năm Đinh Hợi (1827) thì rõ ràng chức Thiêm sự đổi thành Lang trung (mới), Lang trung (cũ) đổi thành Viên ngoại lang [113, tr.678]
Trang 26141
trong ty viên của Bộ Binh có 6 viên Lang trung, 6 viên Chủ sự, 6 viên Tư vụ, đưa tổng số quan lại của Bộ Binh lên con số 137 người (tương đương 178% so với năm 1820)
Trong cơ cấu tổ chức của Bộ Binh theo mô hình thời Lê Thánh Tông ở Việt Nam1, cũng như hai triều Minh và Thanh ở Trung Quốc [161, tr.358, 359,
389, 404, 405, 426] [162, tr.199, 214], đứng sau Thượng thư luôn là 2 viên Thị lang (Tả thị lang và Hữu thị lang, thời Lê Thánh Tông có trật Tòng tam phẩm)
và không có chức Tham tri Tuy nhiên, Bộ Binh thời các chúa Nguyễn và triều Gia Long đều không có chức danh Thị lang, nhưng lại tồn tại chức danh Tham tri, Tả tham tri và Hữu tham tri từ khá sớm2 (có trật Tòng nhị phẩm theo quan chế Gia Long năm 1804 [112, tr.595]) Đến tháng 8 năm Bính Tuất (1826), vua Minh Mệnh bắt đầu đặt các chức Tả thị lang và Hữu thị lang ở 6 bộ, đều
có trật Chánh tam phẩm [113, tr.529] Từ đây, chức Tả thị lang và Hữu thị lang trở lại Bộ Binh, cũng là lần đầu tiên xuất hiện trong cơ cấu nhân sự Bộ Binh thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn Trong hàng quan Bộ Binh, với trật Chánh tam phẩm, 2 viên Thị lang phải đứng dưới 2 viên Tham tri (trật Tòng nhị phẩm) và đứng trên 4 viên Thiêm sự (trật Chánh tứ phẩm) Lúc này, Bộ Binh triều Minh Mệnh bao gồm 1 viên Thượng thư, 2 viên Tham tri, 2 viên Thị lang, 4 viên Thiêm sự, 6 viên Lang trung, 6 viên Chủ sự, 6 viên
Tư vụ, 12 viên Thư lại Bát cửu phẩm và 100 viên Thư lại vị nhập lưu, tổng cộng có 139 người (tương đương 180% so với năm 1820)
1.2.4 Cơ cấu nhân sự từ năm 1827 đến 1840
Trong số các chức quan của Bộ Binh triều Minh Mệnh, Lang trung từng tồn tại ở hai vị trí với hai trật khác nhau Sau khi được đặt ra vào đầu năm
1821, Lang trung có trật Chánh ngũ phẩm Đến tháng 11 năm Đinh Hợi (1827), trong một cuộc tổng duyệt định lại quan chế do Bộ Lại thực hiện nhằm “rõ ban thứ, chính tên gọi” [113, tr.678]của các chức quan trong triều ngoài nội, vua Minh Mệnh đã chuẩn y thay đổi tên gọi một số chức quan trong bộ máy hành
1 Mô hình tổ chức này tồn tại liên tục từ giữa thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII với những điều chỉnh
cụ thể ở từng thời điểm nhất định [62] [63]
2 Khảo trong bộ Đại Nam thực lục tìm thấy chức Tham tri Binh Bộ đầu tiên là của Hoàng Tư Chung,
xuất hiện từ tháng 9 năm Canh Tuất (1790) [112, tr.264] Tiếp đó, tháng 11 năm Quý Sửu (1793), Trần Phúc Tuy được cử làm Tả tham tri Binh Bộ, Lê Quang Định được cử làm Hữu tham tri Binh Bộ [112, tr.302]
Trang 27hề là một chức quan mới trong hệ thống quan chế của Việt Nam và Trung Quốc
Từ thế kỷ XV, trong mô hình tổ chức Bộ Binh của thời Lê Thánh Tông, các Thanh lại ty do 1 viên Lang trung (trật Chánh lục phẩm) đứng đầu, có 1 chức Viên ngoại lang (trật Tòng lục phẩm) phụ tá [62, tr.66, 68] Các Thanh lại ty của Bộ Binh triều Minh và Thanh (Trung Quốc) cũng có những chức quan này, với các trật khác nhau tùy từng thời kỳ [162, tr.230, 176] [7, tr.392-393, 819-820]
Như vậy, có thể coi việc xác lập các chức danh Lang trung và Viên ngoại lang vào cuối năm 1827 cũng là một sự quay trở lại với cơ cấu nhân sự và mô hình tổ chức Bộ Binh trước đó ở cả Việt Nam và Trung Quốc
Đến lúc này, cơ cấu nhân sự của Bộ Binh triều Minh Mệnh đã phủ trùm và vượt lên cơ cấu nhân sự của Bộ Binh thời Lê Thánh Tông với những thay đổi, mở rộng đáng kể2, và có sự khác biệt nhất định so với các cơ cấu nhân sự của Bộ Binh ở những triều đại Trung Hoa gần gũi Với việc vua Minh Mệnh bác bỏ đề nghị đặt thêm ty viên và thư lại của đường quan 6 bộ vào tháng Giêng năm Kỷ Sửu (1829) [113, tr.814], cũng như có thể giữ nguyên trạng mà vượt qua cuộc cải cách hành chính toàn diện, quy mô lớn những năm 1831-1832, tiếp đó lại được giữ nguyên cơ cấu nhân sự trong khi Bộ Lại bị thu hẹp, Bộ Hộ được tăng người trong đợt điều chỉnh vào tháng 3 năm Mậu Tuất (1838) [116, tr.287] cho
thấy quá trình biến chuyển về cơ cấu nhân sự của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh đã hoàn thành vào năm 1827 Cũng từ đây, Bộ Binh triều Minh Mệnh
có cơ cấu nhân sự được duy trì ổn định3, gồm 1 viên Thượng thư, 2 viên Tham
1 Tác giả Đỗ Bang không rõ dựa vào tài liệu nào đã cho rằng: “Năm 1826 bỏ chức Thiêm sự và thay bằng Lang trung” [5, tr.64] Rõ ràng cho đến trước tháng 11 năm Đinh Hợi (1827), Bộ Binh vẫn có
cả chức Thiêm sự lẫn Lang trung
2 Nguyễn Minh Tường tiến hành khảo sát số quan lại và nhân viên của Lục bộ để đi đến nhận xét:
“Minh Mệnh đã phỏng theo quan chế đời Lê Thánh Tông, nhưng có thay đổi chút ít về phẩm trật quan lại” [146, tr.84] Tuy nhiên, với việc duy trì chức danh Tham tri, khôi phục chức danh Thị lang, đặt mới chức danh Chủ sự và gia tăng số lượng nhân sự cụ thể ở các hàng quan lại thì cơ cấu nhân sự của Bộ Binh triều Minh Mệnh rõ ràng có những sự khác biệt đáng kể so với mô hình Bộ Binh của thời Lê Thánh Tông ở Việt Nam cũng như triều Minh và Thanh ở Trung Quốc!
3 Nguyễn Minh Tường dựa vào bộ sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đã khái quát cơ cấu nhân
sự của Bộ Binh triều Minh Mệnh, bao gồm 1 viên Thượng thư, 2 viên Tham tri (Tả tham tri, Hữu
Trang 28143
tri (Tả tham tri, Hữu tham tri), 2 viên Thị lang (Tả thị lang, Hữu thị lang), 4 viên Lang trung, 6 viên Viên ngoại lang, 6 viên Chủ sự, 6 viên Tư vụ, 12 viên Thư
lại Bát cửu phẩm và 100 viên Thư lại vị nhập lưu, tất cả là 139 người (Xem Sơ
đồ 1.5: Sơ đồ cơ cấu nhân sự Bộ Binh triều Minh Mệnh (1827-1840) trong phần
Phụ lục)
1.2.5 Nhân sự Bộ Binh - “tăng chứ không giảm”
Một vấn đề cần thảo luận thêm liên quan đến tổng số người của Bộ Binh triều Minh Mệnh Emmanuel Poisson từng nói đến một cuộc tinh giản nhân sự (“giản chính”) trong tổ chức bộ máy hành chính quốc gia ở Việt Nam từ thế kỷ
XV kéo dài đến cuối thế kỷ XIX1 Có thể thấy, phân tích của Emmanuel Poisson chỉ tiến hành đối với thư lại ở các tỉnh phía bắc Việt Nam - Đại Nam chứ không phải toàn bộ bộ máy hành chính triều Nguyễn, cũng như kết quả nghiên cứu này cũng chỉ có thể khẳng định việc tinh giản mới chỉ được tiến hành từ khoảng sau năm 1831-1832 dưới triều Minh Mệnh
Từ kết quả nghiên cứu của Emmanuel Poisson, vấn đề cần đặt ra là sự tinh giản này có diễn ra tương tự ở các bộ phận khác trong hệ thống hành chính triều Nguyễn? hay sự biến đổi cơ cấu nhân sự trong bộ máy hành chính triều Nguyễn diễn ra theo xu hướng tăng hay giảm như thế nào?! Và việc khảo sát sự biến đổi
cơ cấu nhân sự của Bộ Binh triều Minh Mệnh có thể góp thêm cứ liệu để thảo luận những vấn đề này!
Xem xét Bảng 1.6: Thống kê quan lại Bộ Binh triều Minh Mệnh (1820-1840)
(trong phần Phụ lục) tiến hành thống kê cụ thể số quan lại Bộ Binh triều Minh Mệnh trải qua các thời điểm 1820, 1821, 1824, 1825, 1826 và thời kỳ ổn định kéo
dài từ năm 1827 đến 1840, cùng với biểu đồ đi kèm dưới đây, có thể thấy trong
21 năm cầm quyền, vua Minh Mệnh đã 4 lần làm thay đổi tổng số người của Bộ Binh, liên tục tăng từ 77 người vào năm 1820 (cũng tức là số người của Bộ Binh triều Gia Long) lên 139 người từ tháng 8 năm Bính Tuất (1826), tức là tăng gấp 1,8 lần Con số 139 người này được duy trì đến cuối năm 1842 dưới thời vua Thiệu Trị mới giảm bớt 30 người [117, tr.428-429], cuối năm 1844 lại tăng thêm
tham tri), 2 viên Thị lang (Tả thị lang, Hữu thị lang), 4 viên Lang trung, 4 viên Viên ngoại lang, 5 viên Chủ sự, 5 viên Tư vụ, 10 viên Thư lại Bát cửu phẩm và 70 viên Thư lại vị nhập lưu, tất cả là 103 người [146, tr.83-84,92-93]
1 Theo tính toán của Emmanuel Poisson dựa trên ghi chép trong “Quan chức chí” ở sách Lịch triều
hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Bộ Binh thời Lê Thánh Tông có 128 người, đến năm 1787
thời Lê Chiêu Thống giảm xuống còn 80 người, tức là giảm 37% Đối với triều Nguyễn, thư lại các tỉnh phía bắc Đại Nam giảm từ 1.072 người (năm 1831, 1832) xuống còn 708 người (năm 1838), 713 người (năm 1851), 585 người (năm 1867), tức là giảm gần 45% trong khoảng từ năm 1831-1832 đến
1867 Dựa trên kết quả đó, Emmanuel kết luận “Quả thật việc tinh giản được tiến hành bắt đầu từ triều Minh Mạng” [96, tr.59-65]
Trang 29144
4 người [117, tr.683-684], đến cuối năm 1850 vào triều vua Tự Đức lại giảm bớt
18 người [118, tr.184] Như vậy, từ tháng 8 năm Bính Tuất (1826), cơ cấu nhân
sự của Bộ Binh được giữ nguyên trạng cho đến hết thời Minh Mệnh, “an toàn” vượt qua các thời điểm “giản chính” mà Emmanuel Poisson xác định là năm 1831-1832 và 1838 Thêm nữa, Bộ Binh triều Minh Mệnh duy trì tổng số 139 người trong suốt 15 năm (1826-1840), tăng 11 người so với Bộ Binh thời Lê Thánh Tông (năm 1471), và gấp 1,7 lần so với Bộ Binh thời Lê Chiêu Thống (năm 1787)
Tổng hợp quá trình biến chuyển cơ cấu nhân sự của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh cho thấy biểu đồ tổng số người của Bộ Binh thay đổi như sau:
Tuy nhiên, đây chỉ là kết quả phân tích cho trường hợp Bộ Binh triều Minh Mệnh Bước sang thời kỳ Thiệu Trị (1841-1847) và kéo dài về sau, diễn biến nhân sự của Bộ Binh rõ ràng đã khác Cũng như, nếu có thể tiến hành phân tích diễn biến cơ cấu nhân sự của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước triều Nguyễn, với các kết quả tương đồng và dị biệt so với trường hợp Bộ Binh ở trên cũng như nghiên cứu của Emmanuel Poisson về quan lại miền Bắc
Trang 30145
Việt Nam từ năm 1820 đến 1918, sẽ có thể cung cấp những cứ liệu thực chứng
để nhìn nhận về quá trình tăng cường hoặc tinh giản bộ máy hành chính trong lịch sử Việt Nam mà Emmanuel Poisson đã đặt ra
1.2.6 Vài nét về Thượng thư Bộ Binh
Thượng thư Bộ Binh (hay Binh bộ Thượng thư1) là chức quan đứng đầu
Bộ Binh trong bộ máy quản lý nhà nước triều Nguyễn Trong cơ cấu tổ chức của lục bộ, Thượng thư còn được gọi là Chánh khanh, đối sánh với Tham tri là
Á khanh
Trong 21 năm cầm quyền, vua Minh Mệnh rất chú trọng lục bộ nói chung, Bộ Binh nói riêng, từng mạnh mẽ khẳng định ngay sau khi lên nối ngôi rằng “Chính lệnh của nhà nước tất do sáu bộ” [113, tr.79] Chức Thượng thư
Bộ Binh chính là giúp nhà vua điều hành Bộ Binh, cũng là quản lý hành chính quân sự toàn quốc
Thống kê các thông tin ghi chép về Bộ Binh trong sách Đại Nam thực lục cho biết có 9 viên quan từng là Thượng thư Bộ Binh (hoặc Thự
Binh bộ Thượng thư) dưới triều Minh Mệnh gồm: Nguyễn Tường Vân (1820), Trịnh Hoài Đức (1821-1825), Đoàn Viết Nguyên (1825-1826), Nguyễn Khoa Minh (1826-1827), Nguyễn Hữu Thận (1827-1828), Nguyễn Khoa Hào (1828-1829), Lê Đăng Doanh (1830-1832), Lê Văn Đức (1832-1833) và Trương Đăng Quế (1833-1840) Lương Tiến Tường (1827) và Trần Văn Tính (1827) từng lấy vị trí Thượng thư Bộ Hộ và Thượng thư Bộ Công để
“kiêm lĩnh ấn triện Bộ Binh” trong những khoảng thời gian ngắn ngủi mà Bộ Binh không có chức Thượng thư đứng đầu Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, khi Thượng thư Bộ Binh được nhà vua cử biệt phái ra ngoài làm việc (như khi Thượng thư Trương Đăng Quế sung làm Kinh lược đại sứ đi Nam Kỳ năm 1836 và đi Thanh Hoa năm 1837) hoặc nghỉ việc ngắn hạn (như Thượng thư Nguyễn Hữu Thận nghỉ ốm vào năm 1828, hay Thượng thư Lê Đăng
1 “Binh bộ Thượng thư: 1 Tùy bắt đầu đặt làm trưởng quan Binh bộ Thời Đường, Binh bộ thượng thư
trật Chánh tam phẩm Thời Tống nâng lên Tòng nhị phẩm Kim, Nguyên trở lại Chánh tam phẩm Thanh nâng tới Tòng nhất phẩm Đường, Tống, Kim, Minh chỉ lập một người Nguyên đặt 3 người Thanh 2 người (1 Mãn, 1 Hán) Thời Đường việc thuyên tuyển võ quan thuộc Binh Bộ Mỗi năm tháng mạnh đông chiêu tập tuyển người, Tháng quý xuân hoàn tất Thời Tống, văn võ quan thuyên tuyển đều của Lại
bộ Thời Minh, Binh bộ thượng thư thường là gia hàm cho các đại thần đặc phái đốc binh Thời Thanh,
Tổng đốc các tỉnh thường mang hàm Binh bộ thượng thư Hậu thế thường gọi là Đại tư mã 2 Thời Lê
Nghi Dân mới đặt Binh bộ Quan chế Hồng Đức và Bảo Thái cho hàm Tòng nhị phẩm Thời Nguyễn cho hàm Chánh nhị phẩm” [71, Tr.100-101]
Trang 31(Xem Hình ảnh 1.2: Trương Đăng Quế (1794-1865) trong phần Phụ lục), từ
khi được cử làm Thự Binh bộ Thượng thư vào tháng 4 năm Quý Tỵ (1833), thực thụ từ tháng 10 năm Quý Tỵ (1833), cho đến hết năm Canh Tý (1840), trừ hai đợt làm Kinh lược sứ vào năm 1836 và 1837, tổng số thời gian nắm quyền Thượng thư Bộ Binh cũng chỉ chưa đầy 6 năm Còn viên quan Thượng thư Bộ Binh nắm quyền ít thời gian nhất là Nguyễn Tường Vân, mới được cử làm Thự
Bộ Binh Thượng thư từ tháng 7 năm Canh Thìn (1820), đến tháng 9 cùng năm
đã ốm chết [113, tr.79, 84, 96-97]
Trong 15 lượt người từng được cử đứng đầu Bộ Binh thì có đến 10 viên quan có thời gian nắm giữ Bộ Binh chưa đầy 12 tháng, chiếm 67%, lần lượt là Nguyễn Tường Vân, Nguyễn Xuân Thục, Đoàn Viết Nguyên, Lương Tiến Tường, Trần Văn Tính, Nguyễn Hữu Thận, Nguyễn Khoa Hào, Lê Văn Đức, Nguyễn Khoa Minh và Lê Đăng Doanh Điều đó cho thấy tần suất thay đổi lãnh đạo của Bộ Binh rất cao trong suốt triều Minh Mệnh
Ngoài ra, có nhiều viên quan vừa nắm giữ Bộ Binh đồng thời kiêm giữ nhiều trọng trách khác trong bộ máy nhà nước triều Nguyễn Ví như trong buổi đầu triều Minh Mệnh, Trịnh Hoài Đức là Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Thượng thư Lại bộ, kiêm lĩnh Thượng thư Binh bộ [113, tr.148-149] Khảo qua hoạn lộ của Trương Đăng Quế - viên Thượng thư Bộ Binh nắm quyền lâu nhất - cho thấy, trong khoảng 6 năm ở Bộ Binh, ông vừa là Thượng thư Bộ Binh, Cơ Mật viện đại thần, đồng thời lĩnh ấn triện Đô Sát viện (tháng 9 năm Giáp Ngọ (1834)) [115, tr.361], kiêm trông coi Tào chính (tháng 3 năm Ất Mùi (1835)) [115, tr.555], Tổng tài Quốc Sử quán (tháng 5 năm Ất Mùi
Trang 32147
(1835)) [115, tr.626]; kiêm coi Thái Thường tự (tháng 10 năm Ất Mùi (1835)) [115, tr.797]; kiêm quản cả ấn triện Thái Thường tự, Quang Lộc tự và Hàn Lâm viện (tháng 11 năm Bính Thân (1836)) [115, tr.1045]; kiêm lĩnh công việc Bộ Công (tháng 11 năm Bính Thân (1836)) [115, tr.1051]; kiêm quản công việc Bộ Lễ (tháng 12 năm Bính Thân (1836)) [115, tr.1068]; kiêm quản Khâm Thiên giám (tháng 7 năm Đinh Dậu (1837)) [116, tr.135]; kiêm lĩnh Hiệp lý sự vụ thủy sư ở Kinh kỳ (tháng 11 năm Mậu Tuất (1838)) [116, tr.411]; kiêm quản Tào chính (tháng 2 năm Kỷ Hợi (1839)) [116, tr.456]; kiêm ấn triện công việc Bộ Lễ (tháng 11 năm Kỷ Hợi (1839)) [116, tr.606]
Những thông tin liên quan đến các vị Thượng thư Bộ Binh triều Minh Mệnh trực tiếp đặt ra nhiều câu hỏi nghiên cứu, cũng là phản ảnh, đồng thời gợi mở nhiều vấn đề liên quan đến mô hình tổ chức và sự vận hành của Bộ Binh nói riêng, bộ máy nhà nước triều Nguyễn nói chung Trong đó, sự thay đổi liên tục nhân sự đứng đầu Bộ Binh và hiện tượng chức quan đứng đầu Bộ Binh thường kiêm quản thêm nhiều vị trí quan trọng khác trong bộ máy nhà nước phải chăng đã phản ánh vai trò hạn chế của họ trong thực tế tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước triều Nguyễn? Phải chăng Bộ Binh nói riêng, bộ máy nhà nước triều Nguyễn nói chung đã được thiết kế như những hệ thống tự vận hành hoàn chỉnh, và một động tử trong hệ thống đó, dù đóng vai trò quan trọng của người đứng đầu, cũng không có nhiều ảnh hưởng có tính chất chi phối đến sự vận hành của toàn hệ thống (cả hệ thống nhỏ - Bộ Binh, lẫn hệ thống lớn - bộ máy nhà nước triều Nguyễn)?!
1.3 Quá trình biến chuyển cơ cấu bộ máy tổ chức của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh (1820-1840)
1.3.1 Một vài khúc mắc về sử liệu
1.3.1.1 Về cơ cấu bộ máy tổ chức trong sách Khâm định Đại Nam hội điển
sự lệ
Ở phần đầu của những trang ghi chép về Bộ Binh, bộ sách điển lệ đồ sộ
của triều Nguyễn là Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đưa ra một mô hình tổ
chức của Bộ Binh mà không xác định rõ niên đại cụ thể, gồm bộ phận đường quan ở trên với 5 chức quan (Thượng thư, Tả tham tri, Hữu tham tri, Tả thị
Trang 33148
lang, Hữu thị lang), bên dưới là 5 bộ phận nội thuộc gồm Ty Võ tuyển, Ty
Kinh kỳ, Ty Trực tỉnh, Ty Khảo công và Xứ Binh trực [80, tr.15]
Với tính chất một bộ biên niên sử chính thống của triều Nguyễn, Đại Nam thực lục không tổng kết để xác lập một mô hình tổ chức nào, nhưng lại
cung cấp những thông tin rất cụ thể, chi tiết
Theo sách này, tháng 12 năm Giáp Thân (1844), triều Nguyễn tổ chức điều chỉnh lại số nhân viên, chức quan của bộ máy hành chính trung ương, trong
đó Bộ Binh vẫn được kết cấu gồm 7 cơ quan nội thuộc là (1) Xứ Binh trực, (2)
Ty Binh ấn, (3) Ty Võ tuyển thanh lại, (4) Ty Kinh kỳ 1 thanh lại, (5) Ty Trực tỉnh thanh lại, (6) Ty Khảo công thanh lại, (7) Ty Kiểm duyệt thanh lại, về nhân sự có giảm bớt 1 viên Viên ngoại lang, tăng thêm 1 viên Lang
trung vào Ty Kiểm duyệt, 2 viên Chủ sự và 2 viên Tư vụ, chuẩn định số Thư lại bát cửu phẩm là 12 viên, Thư lại vị nhập lưu là 70 viên [117, tr.683-684]
Đến tháng 12 năm Canh Tuất (1850), theo đề nghị của Trương Đăng Quế và Vương Thế Kiệt, vua Tự Đức tiến hành “dồn bớt quan lại trong ngoài” [118, tr.182], tinh giảm số viên dịch Ở Bộ Binh, bộ phận đường quan được giữ nguyên, Ty Binh ấn nhập vào Ty Kinh kỳ, Ty Kiểm duyệt và Xứ Binh trực giao cho các ty khác kiêm quản công việc, nhân viên dồn bổ vào các ty khác
nhau, khiến cho Bộ Binh chỉ còn 4 ty là (1) Võ Tuyển thanh lại ty, gồm 1
Lang trung, 1 Viên ngoại lang, 2 Chủ sự, 2 Tư vụ, 3 Thư lại bát phẩm, 3 Thư
lại cửu phẩm; (2) Kinh Kỳ thanh lại ty, gồm 1 Lang trung, 1 Viên ngoại
thú thủ, tuần phòng và phái bắt biền binh đi việc công, đều phải giữ cả” trong sách Khâm định Đại
Nam hội điển sự lệ [73, tr.54-55] thì ở đây phải là “Kinh Kỳ” mới thỏa đáng Về vấn đề này hiện có 2
khả năng:
(I) Khả năng thứ nhất là sách Đại Nam thực lục chép nhầm Có hai điểm cần lưu ý liên quan đến khả
năng nhầm lẫn này là: (1) Chữ Nam (南) có tự dạng gần với chữ Kinh (京); (2) Chữ Kỳ (畿, Chốn kinh
kỳ, chỗ thiên tử đóng đô) trong Nam Kỳ (南 畿) này vốn được dùng trong Kinh Kỳ (京 畿), khác với Kỳ
(圻, Cõi đất vuông nghìn dặm) trong Nam Kỳ (南 圻) và Bắc Kỳ (北 圻) được dùng để đặt tên cho các
Thanh lại ty của Bộ Lại (Xem nguyên bản Hán văn Đại Nam thực lục Chính biên Đệ tam kỷ, quyển 44,
Trang 34149
lang, 2 Chủ sự, 2 Tư vụ, 3 Thư lại bát phẩm, 3 Thư lại cửu phẩm; (3) Trực Tỉnh thanh lại ty, gồm 1 Lang trung, 1 Viên ngoại lang, 1 Chủ sự, 1 Tư vụ, 2 Thư lại bát phẩm, 2 Thư lại cửu phẩm; (4) Khảo Công thanh lại ty, gồm 1
Lang trung, 1 Viên ngoại lang, 1 Chủ sự, 1 Tư vụ, 2 Thư lại bát phẩm, 2 Thư lại cửu phẩm; Số Thư lại vị nhập lưu vẫn như cũ, gồm 70 người được chia làm
3 ban luân phiên (2 ban ở lại làm việc, 1 ban về nghỉ) [118, tr.184]1
Như vậy, cho đến cuối năm 1850, Bộ Binh vẫn bao gồm 7 cơ quan nội thuộc là (1) Xứ Binh trực, (2) Ty Binh ấn, (3) Ty Võ tuyển thanh lại, (4) Ty
Kinh kỳ thanh lại, (5) Ty Trực tỉnh thanh lại, (6) Ty Khảo công thanh lại, (7)
Ty Kiểm duyệt thanh lại Chỉ từ năm 1851 về sau, Bộ Binh mới được kết cấu
lại gồm 4 cơ quan nội thuộc là (1) Ty Võ tuyển thanh lại, (2) Ty Kinh kỳ
thanh lại, (3) Ty Trực tỉnh thanh lại, (4) Ty Khảo công thanh lại, và một bộ phận riêng gồm 70 viên Thư lại vị nhập lưu chia theo các ty để làm việc (bộ
phận này vẫn được Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ gọi là Xứ Binh trực [80,
tr.16], tuy nhiên cái gọi là Xứ Binh trực này chỉ gồm 70 viên Thư lại vị nhập lưu, hoàn toàn khác so với Xứ Binh trực từ năm 1844 đến 1850 vốn được tổ chức gồm 1 viên Chủ sự, 1 viên Tư vụ, 2 viên Thư lại Bát phẩm, 2 viên Thư lại Cửu phẩm [117, tr.683] [118, tr.184])
Rõ ràng cơ cấu tổ chức gồm 4 cơ quan nội thuộc này gần gũi hơn với
mô hình chính thức của Bộ Binh trong sách Khâm định Đại Nam hội điển sự
lệ [80, tr.15-16] Với việc bộ sách này hoàn thành và có chỉ cho phép khắc in
của vua Tự Đức vào tháng 9 năm Ất Mão (1855), nội dung ghi chép các dụ chỉ, sắc lệnh, chiếu chỉ… đã được thi hành từ năm Gia Long thứ nhất (1802) đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) [41, tr.169-170] [72, tr.8-10], có thể giải thích cho việc mô hình này được coi là chính thức của Bộ Binh triều Nguyễn vì cuộc cải
tổ đã hoàn thành trước đó 5 năm (1851-1855) và lúc đó cơ cấu này của Bộ Binh đang thực sự tồn tại trong tổ chức bộ máy hành chính quốc gia của triều
Nguyễn Tuy nhiên, như trên đã phân tích, mô hình Bộ Binh trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ chỉ tồn tại từ năm 1851, và điều đó đồng nghĩa với
việc cơ cấu bộ máy tổ chức của Bộ Binh triều Minh Mệnh (1820-1840) thực
sự là một mô hình khác!
1 Thông tin tương tự có trong sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bộ Lại, Quyển 7 [73, tr.55],
nhưng sách này lại nhầm sang năm Tự Đức thứ 4 (1851)
Trang 35150
1.3.1.2 Về cơ cấu bộ máy tổ chức năm 1820
Năm 1820, vua Minh Mệnh kế thừa nguyên vẹn thể chế chính trị triều Nguyễn do vua cha Gia Long truyền lại Tuy nhiên, những tư liệu lịch sử liên quan đến triều vua Gia Long (1802-1820) và các kết quả nghiên cứu có liên quan hiện còn chưa cho phép phục dựng chi tiết tổ chức bộ máy chính quyền
trung ương triều Nguyễn giai đoạn 1802-1820 Từ Bảng 1.6: Thống kê quan lại
Bộ Binh triều Minh Mệnh (1820-1840) cho thấy cơ cấu nhân sự Bộ Binh năm
1820 mà vua Minh Mệnh tiếp nhận từ vua Gia Long vẫn còn mang nhiều dấu vết của hệ thống quan chức từ thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, sau đó đã được vua Gia Long kế thừa và cố gắng điều hòa trong quan chế mới của vương triều Nguyễn (ban hành năm 1804 [112, tr.595-598])
Có thể khẳng định rằng Bộ Binh triều Gia Long (1802-1820) và năm đầu triều Minh Mệnh (1820) được tổ chức thành hai bộ phận là (1) Bộ phận đường quan phụ trách chung (Thượng thư, Tham tri và Thiêm sự), và (2) Các
Ty Lệnh sử Bộ Binh nội thuộc với các quan lại giúp việc chuyên trách Tuy nhiên, có bao nhiêu Ty Lệnh sử Bộ Binh cũng như các Ty Lệnh sử Bộ Binh được tổ chức ra sao, bao gồm những bộ phận như thế nào vẫn là một câu hỏi khó có câu trả lời thỏa đáng, dù chỉ là về lập luận logic
1.3.1.3 Về sự chuyển đổi các Ty Lệnh sử thành những Ty Thanh lại vào năm
1821
Chỉ một năm sau khi nối ngôi, vào tháng Giêng năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mệnh mạnh mẽ cải tổ cơ cấu bộ máy tổ chức của 6 bộ, trong đó có Bộ Binh Sau khi đổi bỏ một số chức danh vốn được đặt ra từ thời các chúa Nguyễn
ở Đàng Trong, đến tháng 5 năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mệnh tiếp tục cho đổi các Lệnh sử ty ở 6 bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công thành các Thanh lại ty
[113, tr.141] Rõ ràng ở đây có sự tương đồng, thậm chí là sự quay trở lại mô
hình tổ chức Lục bộ của thời kỳ Lê Thánh Tông (thế kỷ XV)
Có thể thấy, chưa đầy hai năm cầm quyền, vua Minh Mệnh đã thực hiện sự chuyển đổi mạnh mẽ của mô hình Lục bộ theo hướng gạt bỏ những tàn tích của thời kỳ các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII-XVIII) - những người mở cõi thành công với tâm thế phức tạp, vừa muốn xây dựng một vương triều phong kiến sánh ngang với thể chế của vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, vừa muốn
có sự độc lập, khác biệt nhất định với mô hình tổ chức nhà nước đang vận
Trang 36151
hành ở phía bắc sông Gianh Và mô hình tổ chức Lục bộ bao gồm các Lệnh sử
ty tồn tại không liên tục gần 80 năm trong lịch sử Việt Nam (1744-1821) đến đây chấm dứt Từ đây, tổ chức Lục bộ nói chung, cơ cấu bộ máy tổ chức của
Bộ Binh nói riêng thể hiện sự quay lại, kế thừa và tiếp nối mô hình thời Lê Thánh Tông (1460-1497)1
Các kết quả nghiên cứu về quan chế thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Gia Long hiện chưa cho biết các cơ quan chuyên trách và thường trực của Bộ Binh được tổ chức cụ thể ra sao, chỉ biết được bên dưới các vị đường quan là những Lệnh sử ty được gọi chung là các Ty Lệnh sử Bộ Binh Liên quan đến cuộc chuyển đổi Lệnh sử ty thành Thanh lại ty, trong bộ sách điển lệ đồ sộ của
triều Nguyễn là Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, phần ghi chép về Bộ Lại
chỉ cho biết vào năm Tân Tỵ (1821) “đổi lệnh sử 6 bộ làm ty Thanh lại” [73, tr.28], trong khi phần ghi chép về Bộ Binh không hề đề cập đến sự kiện quan
trọng này [73, tr.53-54] [80, tr.15-16] Thông tin trong Đại Nam thực lục [113,
tr.141] cũng quá sơ sài Các nguồn tài liệu liên quan đều không cho biết vào tháng 5 năm Tân Tỵ (1821), các Lệnh sử ty đã được đổi thành Thanh lại ty cụ thể ra sao, cũng như có bao nhiêu Thanh lại ty được đặt ở Lục bộ nói chung,
Bộ Binh nói riêng Đồng thời, quá trình thành lập hay chuyển đổi để tạo thành những bộ phận lệ thuộc khác ngoài các Thanh lại ty ở Bộ Binh cũng nằm trong tình trạng tương tự!
1.3.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức Bộ Binh triều Minh Mệnh
1.3.2.1 Giai đoạn từ năm 1821 đến 1826
Trong tình trạng không có ghi chép chi tiết về tổ chức Bộ Binh triều Minh Mệnh khi tiến hành chuyển đổi các Lệnh sử ty thành Thanh lại ty vào năm 1821, cũng như không có thông tin về sự biến đổi các cơ quan nội thuộc của Bộ Binh từ sau năm 1821 đến hết thời kỳ vua Minh Mệnh cầm quyền, việc
1 Theo mô hình thời Lê Thánh Tông, Bộ Binh có hai cơ quan chuyên trách đều là các Thanh lại ty (gồm Vũ Khố thanh lại ty và Quân Vụ thanh lại ty), và một cơ quan thường trực là Binh bộ Tư Vụ sảnh [62, tr.65-69]
Trang 37152
xác lập một mô hình cụ thể cho giai đoạn này luôn luôn sẽ chỉ là “giả thuyết
làm việc”, thậm chí là một “giả thuyết làm việc được chứng minh yếu”1
Tuy nhiên, dựa vào các thông tin có liên quan, đặc biệt là ghi chép của
Đại Nam thực lục và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ về hai cuộc điều
chỉnh quan chế năm 1844 dưới triều Thiệu Trị và năm 1850 dưới triều Tự Đức, hoàn toàn có thể truy phục và đề xuất một mô hình tổ chức bộ máy của
Bộ Binh được chuyển đổi/cải tổ dưới triều Minh Mệnh từ năm 1821 Theo
mô hình này, Bộ Binh gồm 3 vị đường quan (1 Thượng thư, 1 Tả tham tri, 1
Hữu tham tri) ở trên, bên dưới gồm 7 cơ quan nội thuộc là (1) Xứ Binh trực,
(2) Ty Binh ấn, (3) Ty Võ tuyển thanh lại, (4) Ty Kinh kỳ thanh lại, (5) Ty Trực tỉnh thanh lại, (6) Ty Khảo công thanh lại, (7) Ty Kiểm duyệt thanh lại 7
cơ quan này được vận hành bởi 4 viên Thiêm sự2, 4 viên Lang trung, 4 viên Chủ sự, 4 viên Tư vụ, 8 viên Thư lại bát cửu phẩm và 70 viên Thư lại vị nhập lưu, cộng lại là 94 người Rõ ràng, một mô hình Bộ Binh năm 1821 như vậy
có nhiều điểm khác biệt so với mô hình Bộ Binh chép trong sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ [80, tr.15-16]
Để có cái nhìn tương quan đồng đại và lịch đại trong bối cảnh đồng văn, việc so sánh mô hình cơ cấu bộ máy tổ chức của Bộ Binh triều Minh Mệnh (1820-1840) với mô hình cơ cấu bộ máy tổ chức Bộ Binh của triều Lê Thánh Tông (1460-1497) tiêu biểu cho thời Lê Sơ trong lịch sử Việt Nam, cùng với các vương triều Trung Hoa gần gũi với triều Nguyễn là triều Minh (1368-1644)
và triều Thanh (1644-1912) là cần thiết và có nhiều ý nghĩa
Theo mô hình thời Lê Thánh Tông, Bộ Binh được tổ chức gồm hai bộ phận là bộ phận đường quan và bộ phận giúp việc Trong đó, bộ phận đường quan Bộ Binh triều Lê Thánh Tông gồm 1 viên Thượng thư và 2 viên Thị lang (Tả thị lang và Hữu thị lang) Bộ phận giúp việc bên dưới gồm 2 cơ quan chuyên trách là Vũ Khố thanh lại ty, Quân Vụ thanh lại ty, và 1 cơ quan thường trực là Binh bộ Tư Vụ sảnh [62, tr.65-69]
Ở bên kia biên giới, mặc dù trải qua không ít thay đổi ở những thời điểm khác nhau, nhưng xét về mô hình tổ chức, Bộ Binh của triều Minh được tổ chức
1 Chữ dùng của Trần Từ (Nguyễn Đức Từ Chi) khi phác dựng mô hình tổ chức làng xã người Việt cổ
truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam trong công trình Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc
Bộ
2 Với mô hình tổ chức Bộ Binh năm 1821, các viên Thiêm sự đã chuyển từ vị trí đường quan xuống đứng đầu các Thanh lại ty, sau đó được đổi thành chức Lang trung vào năm 1827
Trang 38153
gồm 2 bộ phận Bộ phận đường quan gồm 1 chức Thượng thư và 2 chức Thị lang (Tả thị lang và Hữu thị lang), quản lý, điều hành 4 cơ quan giúp việc, đều là các Thanh lại ty: (1) Võ Tuyển thanh lại ty, (2) Chức Phương thanh lại ty, (3) Xa Giá thanh lại ty, (4) Vũ Khố thanh lại ty [161, tr.358-359, 389] Tương tự, Bộ Binh của triều Thanh cũng được tổ chức gồm 2 bộ phận Bộ phận đường quan gồm 2 hệ thống quan người Mãn và quan người Hán song song tồn tại, tức là gồm 2 chức Thượng thư (1 Thượng thư người Mãn và 1 Thượng thư người Hán) và 4 chức Thị lang (1 Tả thị lang người Mãn, 1 Tả thị lang người Hán, 1 Hữu thị lang người Mãn
và 1 Hữu thị lang người Hán), tất cả là 6 vị đường quan, quản lý, điều hành 7 cơ quan giúp việc, gồm (1) Chủ Sự đường, (2) Tư Vụ sảnh, (3) Bút Thiếp thức, và 4 Thanh lại ty là (4) Võ Tuyển thanh lại ty, (5) Xa Mã thanh lại ty, (6) Chức Phương thanh lại ty, (7) Vũ Khố thanh lại ty [161, tr.404-405, 426]
Như vậy, xét về mặt hình thức, cơ cấu bộ máy tổ chức của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh từ năm 1821 có sự phát triển rõ rệt so với mô hình thời
Lê Thánh Tông, cũng như có nhiều khác biệt so với mô hình tổ chức Bộ Binh của hai triều Minh và Thanhở Trung Quốc
Sau khi chuyển đổi mô hình, vua Minh Mệnh tiếp tục kiện toàn tổ chức của Bộ Binh Tuy nhiên, các lần bổ sung nhân sự vào tháng 5 năm Giáp Thân (1824) [113, tr.354] và tháng 9 năm Ất Dậu (1825) [113, tr.456] đều không tác động đến cơ cấu bộ máy tổ chức của Bộ Binh Phải đợi đến việc bổ sung hai chức Thị lang ở bộ phận đường quan diễn ra vào tháng 8 năm Bính Tuất (1826) [113, tr.529] mới khiến cho cơ cấu bộ máy tổ chức của Bộ Binh có thay đổi đáng kể Như vậy, có thể thấy cơ cấu bộ máy tổ chức của Bộ Binh từ giữa năm
1821 đến nửa cuối năm 1826 cơ bản ổn định theo mô hình của năm 1821
1.3.2.2 Giai đoạn từ năm 1826 đến 1840
Tháng 8 năm Bính Tuất (1826), vua Minh Mệnh bắt đầu đặt các chức
Tả thị lang và Hữu thị lang ở 6 bộ [113, tr.529] Việc này có tác động đáng kể đến cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Binh Cũng từ đây, bộ phận đường quan của Bộ Binh gồm 3 hàng quan (Thượng thư, Tham tri và Thị lang) với 5 nhân
sự là Thượng thư, Tả Tham tri, Hữu tham tri, Tả thị lang và Hữu thị lang, tức
là tăng thêm 1 hàng quan với 2 nhân sự
Dõi nhìn chế độ chức quan Việt Nam trong lịch sử, bộ phận đường quan
Bộ Binh ở Việt Nam suốt từ triều Lê Thánh Tông đến trước các chúa Nguyễn đều chỉ bao gồm 2 hàng quan (Thượng thư và Thị lang) với 3 nhân sự (1 viên
Trang 39Như vậy, có thể thấy bộ phận đường quan được phá cách trong cơ cấu
tổ chức bộ máy của Bộ Binh xác lập từ tháng 8 năm Bính Tuất (1826) chính là một cơ cấu tổ chức đường quan Bộ Binh lần đầu tiên xuất hiện trong cơ cấu
Bộ Binh thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, thậm chí còn là lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử quan chế Việt Nam và Trung Quốc
Tiếp đó, trong một cuộc tổng duyệt định lại quan chế do Bộ Lại thực hiện vào tháng 11 năm Đinh Hợi (1827) nhằm “rõ ban thứ, chính tên gọi” [113, tr.678] của các chức quan trong triều ngoài nội, vua Minh Mệnh đã chuẩn y thay đổi tên gọi một số chức quan trong bộ máy hành chính ở cả trung ương và địa phương, trong đó chức Thiêm sự đổi thành Lang trung (mới) mang trật Chánh tứ phẩm, chức Lang trung (cũ) đổi thành Viên ngoại lang mang trật Chánh ngũ phẩm ở cả 6 bộ So sánh với các mô hình tổ chức Bộ Binh từng tồn tại trước đó1, việc xác lập các chức danh Lang trung và Viên ngoại lang của triều Minh Mệnh vào cuối năm 1827 cũng có thể coi như một sự quay trở lại với mô hình Bộ Binh trước đó ở cả Việt Nam và Trung Quốc
Đến lúc này, mô hình bộ máy tổ chức của Bộ Binh triều Minh Mệnh đã bao trùm và vượt lên mô hình bộ máy tổ chức Bộ Binh thời Lê Thánh Tông với những sự mở rộng, phát triển nhất định, khiến cho mô hình này khác biệt
so với các mô hình tương tự của những triều đại Trung Hoa gần gũi Với việc
1 Từ thế kỷ XV, trong mô hình Bộ Binh của thời Lê Thánh Tông, các Thanh lại ty do 1 viên Lang trung (trật Chánh lục phẩm) đứng đầu, có 1 chức Viên ngoại lang (trật Tòng lục phẩm) phụ tá [62, tr.66, 68] Các Thanh lại ty của Bộ Binh triều Minh và Thanh cũng có những chức quan này, với các trật khác nhau tùy từng triều đại [162, tr.176, 230] [71, tr.392-393, 819-820]
Trang 40155
vua Minh Mệnh bác bỏ đề nghị đặt thêm ty viên và thư lại của đường quan 6
bộ vào tháng Giêng năm Kỷ Sửu (1829) [113, tr.814], cũng như có thể giữ nguyên trạng mà vượt qua cuộc cải cách hành chính toàn diện, quy mô lớn những năm 1831-1832, tiếp đó lại được giữ nguyên cơ cấu và nhân sự trong đợt điều chỉnh nhân sự vào tháng 3 năm Mậu Tuất (1838) [116, tr.287] cho thấy quá trình biến chuyển về cơ cấu bộ máy tổ chức của Bộ Binh dưới triều Minh Mệnh đã hoàn thành vào năm 1827 Cũng từ đây, Bộ Binh triều Minh Mệnh có cơ cấu bộ máy tổ chức ổn định, gồm bộ phận đường quan bên trên với
5 viên quan là 1 viên Thượng thư, 2 viên Tham tri (Tả tham tri, Hữu tham tri), 2
viên Thị lang (Tả thị lang, Hữu thị lang), cai quản và điều hành 7 cơ quan nội
thuộc là (1) Binh Trực xứ, (2) Binh Ấn ty, (3) Võ Tuyển thanh lại ty, (4) Kinh
Kỳ thanh lại ty, (5) Trực Tỉnh thanh lại ty, (6) Khảo Công thanh lại ty, (7) Kiểm Duyệt thanh lại ty 7 cơ quan này được vận hành bởi 4 viên Lang trung, 6 viên Viên ngoại lang, 6 viên Chủ sự, 6 viên Tư vụ, 12 viên Thư lại Bát cửu phẩm và
100 viên Thư lại vị nhập lưu, cộng lại là 134 người
Với tình trạng tư liệu hiện nay, sự phân chia các quan và lại1 ở 7 cơ quan nội thuộc Bộ Binh thời Minh Mệnh cũng không được ghi chép rõ ràng, thậm chí hầu như hoàn toàn không có! Trong trường hợp này, sự phân tích logic một cách chi tiết các thông tin có liên quan, đặc biệt là cuộc điều chỉnh quan chế năm 1844 dưới triều vua Thiệu Trị ngay tiếp sau, có thể đưa ra những giả thiết ban đầu giúp truy phục vị trí phân bố cụ thể của các viên quan
và lại ở những bộ phận nội thuộc Bộ Binh triều Minh Mệnh - một trong các đối tượng trực tiếp của cuộc điều chỉnh quan chế do vua Thiệu Trị và các đại thần tiến hành năm 1844
Theo đó, từ diễn biến của cuộc điều chỉnh quan chế năm 1844 chỉ có thể xác định chắc chắn trước đó Kiểm Duyệt thanh lại ty không có chức Lang trung, như vậy thì đứng đầu sẽ là 1 viên Viên ngoại lang; 4 viên Lang trung
1 Emmanuel Poisson đã tiến hành một phần nghiên cứu chi tiết về từ nguyên, sự chuyển biến nghĩa
từ vựng, luận giải ý nghĩa, phạm vi sử dụng đối với khái niệm “quan” và “lại” Trong đó, quan được hiểu là “viên chức chịu trách nhiệm”, còn lại là “kẻ thừa hành” [96, tr.16-18]