Thông qua việc nghiên cứu tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa hay còn gọi là chính quyền Sài Gòn giai đoạn 1954 – 1975, chúng tôi mong muốn giới thiệu khối tài liệu này -
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÍ THỊ NHUNG
NH×N NHËN CñA CHÝNH QUYÒN VIÖT NAM CéNG HßA VÒ
§¦êNG TR¦êNG S¥N QUA TµI LIÖU L¦U TR÷ CH÷ VIÕT B¶O QU¶N T¹I TRUNG T¢M L¦U TR÷ QUèC GIA II
Chuyên ngành: Lưu trữ
Mã số: 60.32.24
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LƯU TRỮ
Người hướng dẫn khoa học: PGS Nguyễn Văn Hàm
Hà Nội - 2010
Trang 23 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài 10
Chương 1: Tổng quan khối tài liệu chữ viết về đường Trường
Sơn hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
16
1.1 Sơ lược lịch sử cơ quan hình thành khối tài liệu về đường Trường
Sơn
18
1.2 Lịch sử khối tài liệu lưu trữ chữ viết về đường Trường Sơn 28
1.3 Giá trị và độ tin cậy của khối tài liệu lưu trữ chữ viết về đường
Trường Sơn
31
Chương 2: Nhìn nhận của chính quyền Việt Nam Cộng hòa về
đường Trường Sơn qua khối tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II
54
2.1 Chính quyền Việt Nam Cộng hòa với việc phát hiện và theo dõi
đường Trường Sơn
54
Trang 32.2 Sự nhìn nhận, đánh giá của chính quyền Việt Nam Cộng hòa về vai trò
và ảnh hưởng của đường Trường Sơn trong chiến tranh
66
2.3 Hoạt động đối phó, chống phá nhằm ngăn chặn và vô hiệu hoá
đường Trường Sơn của chính quyền Việt Nam Cộng hòa
69
Chương 3: Tổ chức khoa học và phát huy giá trị khối tài liệu về
đường Trường Sơn tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II - Nhận
xét và kiến nghị
77
3.1 Thực trạng tổ chức khoa học khối tài liệu về đường Trường Sơn tại
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
77
3.2 Thực trạng phát huy giá trị khối tài liệu về đường Trường Sơn tại
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
81
3.3 Nhận xét và kiến nghị nhằm tổ chức khoa học và phát huy giá trị
khối tài liệu về đường Trường Sơn tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (theo cách gọi của Việt Nam), hay chiến tranh Việt Nam (theo cách gọi của người Mỹ và một số nước trên thế giới), là một trong những cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, để lại những dấu
ấn hằn sâu trong dư luận và tâm trí của nhân loại thế kỷ XX
Những dấu ấn đó có nhiều chiều và nhiều ý nghĩa khác nhau: Là niềm
tự hào nơi người chiến thắng, là sự bẽ bàng và khủng hoảng trong đời sống chính trị, tinh thần của người Mỹ, là sự day dứt nơi những người đã từng tham gia quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa,
Có lẽ cũng vì những dấu ấn rất khác nhau đó, cho nên dù chiến tranh đã kết thúc hơn 35 năm nhưng vẫn còn tiếp tục một cuộc chiến khác: “cuộc chiến” trong giải thích và bình luận lịch sử về cuộc chiến tranh này
Đối với nhân dân Việt Nam, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta một trong những trang
chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn
và có tính thời đại sâu sắc" [21, tr.271] Đó là một trong những thắng lợi vĩ
đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Thắng lợi này là thắng lợi của sức mạnh đoàn kết toàn dân, là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong thắng lợi này, đường Trường Sơn – đường mòn Hồ Chí Minh có đóng góp một phần rất quan trọng
Bởi như chúng ta đều biết, trong lịch sử, bất cứ một cuộc chiến tranh nào, dù là chiến tranh cổ điển hay hiện đại thì vấn đề đảm bảo mạch máu giao thông nhằm cung cấp những điều kiện cần và đủ cho tiền tuyến luôn giữ vai trò quan trọng, mang tính chất quyết định thắng lợi Thậm chí, đã có nhiều
Trang 5cuộc chiến đi vào lịch sử chiến tranh của nhân loại mà sự thắng thua đều nằm
ở vấn đề khống chế và sử dụng mạch máu giao thông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - một kỳ công lịch sử, một con đường huyền thoại, một mặt trận tiêu hao, tiêu diệt địch - có vị trí quan trọng, đã ghi dấu ấn nổi bật của ngành Giao thông vận tải quân sự Có thể khẳng định, đây
là một trong những nhân tố giữ vai trò quyết định góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta
Việc nghiên cứu về giao thông vận tải quân sự từ năm 1954-1975 nói chung và con đường huyền thoại - đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trên bộ nói riêng, không chỉ tái hiện bức tranh về những năm tháng chống Mỹ cứu nước hào hùng, góp phần làm sáng tỏ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại cũng như sự mưu trí, sáng tạo, anh dũng của quân và dân Việt Nam, mà còn góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong hiện tại
và mai sau Vì vậy, có thể nói việc cung cấp nguồn tư liệu, đặc biệt là hệ thống hoá nhằm cung cấp nguồn tư liệu thành văn để nghiên cứu về đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975 có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn Đây là nhiệm vụ của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học lịch sử và khoa học lưu trữ trong việc phát huy giá trị tài liệu lưu trữ
Tính đến nay, đã có nhiều tài liệu về cuộc chiến tranh tại Việt Nam (1954 – 1975) được giải mật và công bố, nhiều cuốn sách đã được xuất bản, trong đó có những cuốn sách của những người từng trực tiếp chỉ đạo và tham gia cuộc chiến Tuy nhiên, chưa có công trình nào khái quát được hệ thống tư liệu của các bên tham chiến về đường mòn Hồ Chí Minh
Sách báo Mỹ đã viết khá rõ về đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ, tức là
đường Trường Sơn Nhưng cả những tài liệu đã được giải mật, lẫn những sách
báo đã được viết ra vẫn chưa giúp người đọc thỏa mãn một câu hỏi: Vì sao mà
Mỹ đã huy động tối đa những điều kiện có thể về trí lực, vật lực và tài lực của
Trang 6cường quốc số 1 thế giới vào việc triệt hạ con đường nhưng vẫn bị vô hiệu hóa bởi những con người mà xét về cả tiền bạc lẫn kỹ thuật đều thua kém nhiều lần?
Thông qua việc nghiên cứu tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (hay còn gọi là chính quyền Sài Gòn) giai đoạn 1954 – 1975, chúng tôi mong muốn giới thiệu khối tài liệu này - một nguồn tư liệu của phía đối phương - hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, có liên quan
đến những hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh Qua đó, góp phần hệ thống
hoá, bổ sung, cung cấp thêm nguồn tư liệu để phục vụ trong nghiên cứu lịch
sử về Chiến tranh Việt Nam nói chung và đường mòn Hồ Chí Minh - đường
Trường Sơn nói riêng Khối tài liệu chữ viết về đường Trường Sơn của chính
quyền Việt Nam Cộng hòa sẽ giúp so sánh, phân tích và đánh giá tài liệu lưu trữ từ các bên tham chiến Đây là một căn cứ quan trọng để xác định tính chân thực, khách quan của sự kiện lịch sử Mặt khác, việc nghiên cứu tài liệu còn góp phần làm sáng tỏ, lý giải nhiều câu hỏi hóc búa của những người thua trận trong cuộc chiến Hơn nữa, thông qua đề tài, chúng tôi cũng hy vọng góp phần bổ sung, cung cấp thêm tư liệu tham khảo cho việc dạy và học môn Lịch
sử, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: "Nhìn nhận của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn qua tài liệu lưu trữ chữ viết bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II" làm đề tài Luận
văn Thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tính đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tài liệu đã được giải mật, công bố, nhiều cuốn sách đã được xuất bản, nhiều bài đăng tải trên
các báo, tạp chí viết về câu chuyện đường Trường Sơn, về các con đường Hồ
Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975, thậm chí
có cả hồi ký của những người từng tham gia cuộc chiến ở những vị trí khác nhau với tư cách là nhân chứng
Trang 7Ở Việt Nam đã có rất nhiều sách, nhiều ấn phẩm tổng kết, bình luận và viết về lịch sử của ngành, quân binh chủng và của chính Bộ đội Trường Sơn – Binh đoàn 559; những cuốn hồi ký của những người tham gia cuộc chiến; luận văn thạc sĩ, tiến sĩ viết về đề tài Chiến tranh Việt Nam, về giao thông vận tải trong kháng chiến chống Mỹ, về đường mòn Hồ Chí Minh và nhiều ấn phẩm, bài báo viết về đường Trường Sơn, chỉ xin điểm một số cuốn tiêu biểu sau đây
Cuốn "Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam” của Viện Lịch sử Quân
sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng (Tập 1, 2, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1994), viết về quá trình ra đời và hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có sự ra đời của Đoàn vận tải quân sự Trường Sơn (Đoàn 559) và tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam
Cuốn "Lịch sử Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh”
của tác giả Đồng Sĩ Nguyên, Bộ Tư lệnh Binh đoàn 12, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999) đã phản ánh được
cơ bản lịch sử hào hùng của tuyến đường chi viện chiến lược Trường Sơn, đồng thời khái quát những kinh nghiệm quý giá có ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta hiện tại và mai sau
Cuốn "Lịch sử giao thông vận tải Việt Nam” của Bộ Giao thông Vận
tải (Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội, 1999) - một ấn phẩm chào mừng 55 năm ngày thành lập ngành Giao thông vận tải Việt Nam - đã trình bày tương đối đầy đủ về sự hình thành và phát triển của giao thông Việt Nam
từ ngày đầu thành lập 28/8/1945 cho đến 28/8/2000 Cuốn sách đã dành gần
300 trang nói về giao thông vận tải Việt Nam thời chống Mỹ, trong đó có hàng trăm trang nói về đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh
Hồi ức “Đường Xuyên Trường Sơn” của Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên, do
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản tháng 5 năm 1999, nhân kỷ niệm
40 năm Ngày mở đường Trường Sơn Cuốn hồi ức thể hiện chặng đường hơn mười năm hoạt động trong đạn bom khốc liệt nhưng rất đỗi hào hùng của
Trang 8tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh Cuốn sách được tập hợp, được chắt lọc từ những ký ức, nhật ký công tác của bản thân Ông và đóng góp của một số đồng đội đã từng chiến đấu, công tác ở Trường Sơn thời đánh Mỹ
Cuốn "Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1954 - 1975 Thắng lợi và bài
học” của Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000) có nội dung chủ yếu là về những bài học của Đảng trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng, trong đó cũng đã đề cập đến giao thông đường bộ và "con đường huyền thoại" - đường Hồ Chí Minh, mặc dù còn chưa nhiều
Cuốn "Những nẻo đường kháng chiến” của Thiếu tướng Võ Bẩm (Nhà
xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001) đã ghi lại những dòng hồi ức về
sự ra đời của Đoàn 559 và đặc biệt là quá trình mở đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh - con đường mang tên Bác
Cuốn "Đường về thành phố mang tên Bác" (Nhà xuất bản Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 2005) là tập hợp những trang hồi ức của Thiếu tướng Võ Bẩm, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên - hai vị Tư lệnh bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, từ ngày "khai sơn phá thạch" mở đường (tháng 5/1959) cho đến điểm dừng ở dinh Độc Lập - Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975 Cuốn sách
đã khái quát quá trình hình thành, phát triển của Đoàn 559 - đường Hồ Chí Minh từ tháng 5/1959 đến tháng 5/1975
Cuốn “Đại thắng Mùa Xuân” của Đại tướng Văn Tiến Dũng, xuất bản
năm 1976 nhân dịp Kỷ niệm lần thứ nhất Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, được tái bản năm 2005 Đó là một loạt chuyện kể của Đại tướng Văn Tiến Dũng về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, do đồng chí Hồng Hà ghi, đăng tải trên báo Nhân dân được tập hợp và bổ sung thêm
tài liệu để xuất bản thành sách Cuốn “Đại thắng Mùa Xuân” giới thiệu với
bạn đọc một số mẩu chuyện về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 để thấy rõ sự chỉ đạo với tài thao lược, tính kiên quyết, tư tưởng cách mạng tiến công, tính độc lập, tự chủ của tập thể Bộ Chính trị và Quân uỷ
Trang 9Trung ương; sự đấu lực và đấu trí rất thông minh của Đảng, nhân dân và quân đội ta để dẫn đến toàn thắng; những cố gắng phi thường, những hy sinh to lớn của quân và dân ta trong cả nước Cuốn sách có đề cập tới sự cần thiết của tuyến đường chiến lược Trường Sơn, trong đó nhấn mạnh về Đông Trường Sơn
Tác giả Đặng Phong đã viết tác phẩm “5 đường mòn Hồ Chí Minh”,
(Nhà xuất bản Tri thức ấn hành năm 2008) Tác phẩm đề cập đến: con đường
Hồ Chí Minh trên bộ, con đường xăng dầu, con đường trên biển, con đường hàng không, con đường chuyển ngân Người đọc có thể nhận thấy đây là một cuốn sách có tinh thần khoa học cao, một công trình rất quý giá, vì lần đầu tiên, nhiều tư liệu trong và ngoài nước được tập hợp trong một cuốn sách để
lý giải tầm quan trọng và các quan hệ của “5 đường mòn Hồ Chí Minh” trong việc chi viện cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, cũng như trong việc giữ liên lạc giữa miền Nam với miền Bắc Cuốn sách giúp cho người đọc hình dung tương đối rõ rệt bức tranh toàn cảnh của việc chi viện cho miền Nam, hiểu thêm những hoạt động cụ thể của từng con đường tiếp viện, của các nhân vật chủ chốt trong cuộc chiến Những câu chuyện, những tư liệu của các nhân vật chủ chốt cung cấp được trích trong sách này là một đóng góp quan trọng
và rất sống động mà ở các quyển sách hay bài báo khác chưa được đề cập tới
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn, Ban Liên lạc chiến
sĩ Trường Sơn tại thành phố Hồ Chí Minh và phụ cận đã mở cuộc vận động
viết lại những kỷ niệm về Trường Sơn và xuất bản tập hồi ký “Trường Sơn có
một thời như thế” (Nhà xuất bản Trẻ xuất bản tháng 6 năm 2009) Đây là
những kỷ niệm quý giá của cán bộ chiến sĩ bộ đội Trường Sơn, của hàng triệu lượt người đã vượt qua Trường Sơn ra mặt trận Cuốn sách gồm hơn 70 bài viết được chọn trong hơn 200 bài đã gửi về Ban liên lạc Các câu chuyện thật cảm động, song người viết tuổi giá sức yếu nhớ không trọn vẹn Nhưng đây là những trang sử người thật, việc thật vô cùng quý giá Qua hồi ký, chúng ta có dịp hiểu khá tường tận về “Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh”; chúng
ta biết khó khăn lúc đầu “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, với
Trang 10đôi dép cao su và chiếc gậy Trường Sơn “quân đi tính từng người”, đến lúc
trên đường Trường Sơn có cả ngàn xe tăng, pháo lớn, tên lửa cùng hàng binh đoàn rầm rập ra trận Từ lúc gùi hàng tính từng cân, đến lúc hàng vạn ô tô chở hàng triệu tấn vũ khí, hàng hoá từ miền Bắc và các nước xã hội chủ nghĩa đến với miền Nam ruột thịt, góp phần đánh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào Qua hồi ký, chúng ta biết đế quốc Mỹ đã tập trung mọi phương tiện kỹ thuật chiến tranh hiện đại nhất, đánh phá ác liệt nhất trên mọi cung đường Trường Sơn, gây cho
ta nhiều tổn thất về người, phương tiện, hàng hoá Nhưng bộ đội Trường Sơn vẫn vượt lên tất cả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đặc biệt, qua đây chúng ta nhận biết Bộ đội Trường Sơn không chỉ là các đơn vị vận tải thông thường,
mà là một mặt trận chiến đấu hợp đồng binh chủng, và còn là một căn cứ chiến lược, hậu phương trực tiếp của các chiến trường Nam Đông Dương
Bên cạnh các công trình nghiên cứu, các xuất bản phẩm của Việt Nam, còn có nhiều các công trình nghiên cứu, xuất bản phẩm và tài liệu lưu trữ được giải mật, công bố của Mỹ như:
Hàng ngàn trang tài liệu của Chính phủ Mỹ (đã biên soạn thành ấn phẩm hoặc còn ở dạng tài liệu gốc) đã được giải mật, được công bố nhiều đợt
Trong số đó có các ấn phẩm: Các tài liệu Lầu Năm góc được công bố bởi tờ
Thời báo Niu-Oóc ("The Pentagon Papers as published by The New York Times”), Không quân Hoa Kỳ tại Đông Nam Á: Cuộc chiến tranh ở Bắc Lào 1954-1973 (“The United States Air Force in Southeast Asia: The War in Northern Laos 1954-1973”) được các chuyên gia tình báo, quân sự và lịch sử
của Mỹ biên soạn Gần đây, Trung tâm Nghiên cứu Tình báo CIA vừa công
bố 6 cuốn sách, từng xếp vào hàng tài liệu mật, thuật lại chi tiết nhiều hoạt động của CIA tại Việt Nam, Campuchia và Lào vào những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, có khá nhiều thông tin quan trọng về Chiến tranh Việt Nam và
đường mòn Hồ Chí Minh Đó là các cuốn: CIA và các Tướng lĩnh (“CIA and
the Generals”), CIA và gia đình họ Ngô (“CIA and the House of Ngo”), CIA
và chính sách bình định nông thôn ở miền Nam Việt Nam (“CIA and Rural Pacification in South Vietnam (U)”), Những câu hỏi hay, những câu trả lời
Trang 11dở (“Good Questions, Wrong Answers”), Cách chúng tôi làm việc (“The Way
we do things”), Những bí mật quân sự “Undercover Armies” Chúng được
đưa ra và thảo luận trong một cuộc hội thảo của Trung tâm Việt Nam thuộc Đại học Kỹ thuật Texas ngày 13/3/2009 Nhà sử học Thomas L Ahern Jr viết những tác phẩm này dựa trên tài liệu và các cuộc phỏng vấn với nhiều nhân vật quan trọng, để nhìn lại chính sách ngoại giao của Mỹ Ông cũng đưa ra phân tích sắc bén về những chương trình của CIA và các báo cáo từ chiến trường Ahern cho thấy nỗ lực của CIA để bình định Nam Việt Nam, cũng như các biện pháp nhằm bình ổn khu vực này sau khi chính quyền của Ngô Đình Diệm sụp đổ Nhà sử học cũng nhắc đến thất bại của quan chức tình báo
Mỹ trong việc xác định và giám sát các con đường tiếp tế vũ khí tới cực Nam của miền Nam Việt Nam và những nỗ lực không thành nhằm xâm nhập miền Bắc Việt Nam
Ngoài các công trình nghiên cứu, các xuất bản phẩm trên đây, còn có
nhiều bài viết được đăng trên các báo, tạp chí đã đề cập tới đường Trường
Sơn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975 ở nhiều góc độ khác
nhau Tuy nhiên, đến nay, qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm của những bên tham chiến đã viết về con đường này, chúng tôi nhận thấy một điều thật đáng tiếc là hầu như các tác giả chưa sử dụng nhiều thông
tin về đường Trường Sơn từ khối tài liệu lưu trữ chữ viết của chính quyền
Việt Nam Cộng hòa hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
Mặc dù vậy, những xuất bản phẩm, những công trình nghiên cứu và tài liệu đã được công bố nói trên luôn là những tư liệu quan trọng giúp chúng tôi
tiếp tục đi sâu nghiên cứu và hoàn thành Luận văn với chủ đề: "Nhìn nhận của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn qua tài liệu lưu trữ chữ viết bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II"
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Khối tài liệu lưu trữ chữ viết của
chính quyền Việt Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn hiện bảo quản tại
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ tập trung giới thiệu toàn bộ khối
tài liệu lưu trữ chữ viết về đường Trường Sơn của chính quyền Việt Nam
Cộng hòa hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
Về thời gian của tài liệu: Từ năm 1955 đến năm 1975 Sở dĩ, chúng tôi
lấy mốc như vậy vì khối tài liệu về đường Trường Sơn của chính quyền Việt
Nam Cộng hòa để lại hiện đang lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II có khoảng thời gian từ năm 1955 – 1975 Điều này được thể hiện:
- Ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập "Việt Nam
Cộng hòa" và làm Tổng thống đầu tiên của chính thể Đệ Nhất Cộng hòa Tuy
nhiên những tài liệu về đường Trường Sơn mà chúng tôi tìm được trong khối
tài liệu chữ viết của Việt Nam Cộng hòa chỉ xuất hiện sớm nhất vào năm
1956 (hình 2)
- Ngày 30/4/1975 – ngày chính thể Đệ Nhị Cộng hòa chấm dứt với sự
ra đi lần lượt của các Tổng thống: Nguyễn Văn Thiệu (21/4/1975), Trần Văn Hương (21 – 27/4/1975), Dương Văn Minh (27 – 30/4/1975) – thời điểm kết thúc sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa nói chung và chính thể
Đệ Nhị Cộng hòa nói riêng Đây cũng chính là thời điểm chúng tôi tìm thấy những tài liệu cuối cùng của chính quyền này liên quan đến việc đánh phá con
đường – Phiếu trình số 1007/K.QN, ngày 8/1/1975, của UB Phối hợp Tình báo quốc gia, Phủ Tổng thống, về việc tổ chức đánh phá đường Trường Sơn
(hình 19)
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
- Giới thiệu khối tài liệu chữ viết về đường Trường Sơn của chính
quyền Việt Nam Cộng hòa, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
Trang 13- Phân tích, đánh giá độ tin cậy và giá trị của khối tài liệu lưu trữ chữ
viết của chính quyền Việt Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn hiện đang
bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
- Phân tích việc phát hiện, theo dõi và sự nhìn nhận của chính quyền
Việt Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn trong chiến tranh Qua đó, làm rõ
việc chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lập kế hoạch và tiến hành những
biện pháp đối phó, phá hủy đường Trường Sơn
- Phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức khoa học và phát huy giá trị của khối tài liệu này ở Trung tâm Trình bày những ý kiến nhận xét và kiến nghị cho công tác này ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia II trong thời gian tới
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng:
- Các phông tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1975) còn lưu giữ được tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
- Lịch sử các ngành, quân binh chủng đã tham gia hoặc hỗ trợ cuộc chiến đấu của Bộ đội Trường Sơn
- Hồi ký của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã trực tiếp chiến đấu hay đi qua
đường Trường Sơn để đến chiến trường miền Nam
- Các tác phẩm kinh điển của Mác, Lênin, Hồ Chí Minh bàn về vấn đề giao thông vận tải làm cơ sở lý luận nghiên cứu
- Các văn kiện Đảng
- Các tác phẩm, công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả về
đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
- Các bài viết liên quan đến nội dung đề tài đăng trên các báo, tạp chí…
Trang 14- Những xuất bản phẩm và các tài liệu lưu trữ của Mỹ về chiến tranh Việt Nam đã được giải mật và được công bố
- Hệ thống văn bản quy định về công tác quản lý và khai thác tài liệu lưu trữ của Chính phủ, của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như sau:
- Phương pháp luận nghiên cứu cơ bản:
Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể ở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp này được chúng tôi
áp dụng xuyên suốt đề tài khi viết những phần lý luận chung
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp sử liệu học được tiến hành khi chúng tôi xem xét, xác
định giá trị, độ tin cậy của tài liệu
Phương pháp thống kê được áp dụng khi chúng tôi kiểm tra số lượng
hồ sơ, văn bản có trong khối tài liệu; số tài liệu đề cập về các vấn đề trong cả khối tài liệu giữ được
Phương pháp phân loại, hệ thống hóa tài liệu được áp dụng khi chúng
tôi chọn các vấn đề tiêu biểu cần giới thiệu và nhóm các vấn đề theo một trình
tự logic và hợp lý
Phương pháp phân tích, tổng hợp được chúng tôi sử dụng khi tổng hợp
thông tin có trong hồ sơ thành các vấn đề theo hệ thống Phương pháp này còn được chúng tôi vận dụng khi phân tích giá trị của tài liệu, chất lượng của các hồ sơ có liên quan đến đề tài đã được lập
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, logic và kết hợp chúng một cách linh hoạt để có thể giới thiệu một cách tương đối đầy đủ, chi tiết và hệ thống về khối tài liệu, về độ tin cậy và giá trị của khối tài liệu cũng
Trang 15như làm rõ được sự nhìn nhận của chính quyền Việt Nam Cộng hòa về đường
Trường Sơn trong cuộc chiến tranh
5 Đóng góp của Luận văn
- Góp phần tập hợp các nguồn tư liệu, tài liệu về đường mòn Hồ Chí
Minh nói chung và đường Trường Sơn nói riêng; giới thiệu, cung cấp thêm
nguồn tư liệu từ phía đối phương là khối tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1956–1975
- Luận văn làm rõ sự nhìn nhận của phía chính quyền Việt Nam Cộng
hòa về đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
dân tộc Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể cung cấp thông tin về bài học kinh nghiệm về quân sự, giúp các nhà lãnh đạo đề ra những quyết sách, chiến lược đúng đắn trong công tác quân sự
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là nguồn tư liệu để tham khảo trong công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu của các nhà trường, viện nghiên cứu và phục vụ công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ
- Đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện việc tổ chức khoa học và phát huy giá trị khối tài liệu
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung của Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan khối tài liệu chữ viết về đường Trường Sơn hiện
bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
Chương 2: Hoạt động đối phó của chính quyền Việt Nam Cộng hòa
với đường Trường Sơn qua khối tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc
gia II
Chương 3: Tổ chức khoa học và phát huy giá trị khối tài liệu về đường
Trường Sơn tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II - Nhận xét và kiến nghị
Trang 16Để hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của Phó Giáo sư Nguyễn Văn Hàm, sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, của công chức, viên chức Trung tâm Lưu trữ quốc gia II – Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, của Nhà báo Nguyễn Văn Kết – Biên tập viên Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2010
Trang 17
Chương 1 TỔNG QUAN KHỐI TÀI LIỆU CHỮ VIẾT VỀ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN HIỆN BẢO QUẢN TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ
QUỐC GIA II
Đường Trường Sơn là hệ thống giao thông huyết mạch, nối liền hậu
phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam Ý thức được điều này, nên cả hai phía, ta và địch đã có những hành động quyết liệt về quân sự đối với con đường Trong chiến tranh, đây là một mặt trận nóng bỏng Trên mặt trận này, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra rất quyết liệt Đánh phá giao thông nhằm cắt đứt sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam luôn là mục tiêu chiến lược của đế quốc Mỹ, của chính quyền Nguỵ Vì thế, trong suốt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã
sử dụng rất nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại để đánh phá tuyến đường Nơi đây đã phải hứng chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ đổ xuống Vì độc lập tự do, quân và dân Việt Nam đã thấm nhuần sâu sắc quyết tâm chiến lược của Đảng, phát huy cao độ trí thông minh và sáng tạo, nêu cao tinh thần dũng cảm tuyệt vời, vượt qua muôn vàn gian khổ, thử thách, hy sinh, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Dưới mưa bom, bão đạn của kẻ thù, hệ thống đường Trường Sơn vẫn được xây dựng, mở rộng và phát triển, đồng thời công tác phục hồi, sửa chữa các đoạn đường bị địch đánh phá vẫn được thực hiện Với
quyết tâm "Địch phá ta sửa ta đi, địch phá ta cứ đi; Sống bám cầu, bám
đường, chết kiên cường dũng cảm”, "Xe chưa qua, nhà không tiếc”…, [10,
tr.7] quân và dân ta đã trụ bám kiên cường ở những trọng điểm, quyết giữ vững mạch máu giao thông, đảm bảo sự chi viện toàn diện, liên tục, mạnh mẽ của hậu phương cho tiền tuyến, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trang 18Là một trong bốn Trung tâm Lưu trữ quốc gia của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II là tổ chức sự nghiệp, có trụ
sở tại số 17 A, đường Lê Duẩn, quận I, Thành phố Hồ Chí Minh Trung tâm Lưu trữ quốc gia II có chức năng, nhiệm vụ: sưu tầm, thu thập, bổ sung; chỉnh
lý, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu, tư liệu lưu trữ hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức trung ương và cá nhân thời kỳ Phong kiến, Pháp thuộc, Mỹ - Nguỵ và của nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn từ Đồng Nai vào phía Nam theo quy định của pháp luật và quy định của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
Khối tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa về đường
Trường Sơn thuộc loại tài liệu hành chính với các loại văn bản hành chính
thông thường, bản đồ, hình ảnh, chủ yếu là ngôn ngữ tiếng Việt (có một tỉ lệ nhỏ các văn bản đính kèm bằng tiếng Pháp và tiếng Anh) Khối tài liệu này hiện có chủ yếu nằm trong 03 phông tài liệu lưu trữ:
- Phông Phủ Tổng thống Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa (1954 – 01/11/1963)
- Phông Phủ Tổng thống Đệ Nhị Việt Nam Cộng hòa (1967 – 30/4/1975)
- Phông Phủ Thủ tướng (Đệ Nhất và Đệ Nhị) Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1975)
Về tên gọi của đường Trường Sơn sẽ sử dụng trong khối tài liệu lưu
trữ chữ viết của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Luận văn:
Đường Trường Sơn là tên gọi tuyến đường chiến lược của Cách mạng
Việt Nam, được mở ngày 19/5/1959, có vị trí và tác dụng quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam Đây cũng là đối tượng phản ánh của khối tài liệu lưu trữ chữ viết hình thành trong thời kỳ
Trang 19tồn tại và hoạt động của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1975) Với Cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, con đường chiến lược này đi từ Bắc vào Nam, xuyên qua dãy Trường Sơn hùng vĩ, được gọi với
những tên gần như rất thân quen đối với từng người dân Việt Nam: Đường
Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh, Đường 559, … Riêng đối với phía bên kia
chiến tuyến, con đường huyền thoại này được gọi với những cái tên: “Đường
Xuyên Sơn”, “Đường xuyên sơn Hồ Chí Minh”, “Đường Hồ Chí Minh”,
“Đường chiến lược Hồ Chí Minh”, “Đường mòn Hồ Chí Minh” Trong Luận
văn này, chúng tôi xin sử dụng tên gọi phổ biến, đơn giản và thông dụng nhất
của con đường vận tải chiến lược: Đường Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh hay hình tượng hơn, phổ biến hơn: Đường mòn Hồ Chí Minh Tất cả những
tên gọi đó đều để chỉ con đường vận tải chiến lược của Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975
1.1 Sơ lƣợc lịch sử cơ quan hình thành khối tài liệu về đường Trường Sơn
Lịch sử đường Trường Sơn gắn liền với lịch sử của cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, là một phần của lịch sử dân tộc Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 Theo Hiệp định Giơ ne vơ, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Bắc – Nam với giới tuyến tạm thời là vĩ tuyến 17 Ở hai miền, với hai chính thể khác nhau, đối mặt trên chiến tuyến khốc liệt nhất
thế kỷ XX mà thế giới gọi là Chiến tranh Việt Nam Trong giai đoạn này, ở
miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã dựng lên một chính quyền mang tên Việt Nam Cộng hòa với hai giai đoạn, hai chính thể: Đệ Nhất Cộng hòa (1955 – 1963) và Đệ Nhị Cộng hòa (1967 – 30/4/1975) Giữa hai giai đoạn này là giai đoạn do các tướng, tá trong quân đội Việt Nam Cộng hòa thay nhau nắm quyền, bộ máy chính quyền hết sức lộn xộn Bộ máy chính quyền
Trang 20ở miền Nam của hai giai đoạn Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa đã trở thành công cụ đắc lực của đế quốc Mỹ chống phá Cách mạng miền Nam, trực tiếp đánh phá tuyến đường huyết mạch chi viện của miền Bắc cho Cách mạng miền Nam ngay từ những năm đầu manh nha hình thành con đường giao liên
thống nhất (1954 – 1957) – tiền đề để hình thành đường Trường Sơn sau này
Toàn bộ tài liệu sử dụng trong đề tài là hệ thống văn bản hành chính, được hình thành trong hoạt động về quân sự, tình báo, an ninh, bảo an, ngoại giao của chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 – 1975 Trong quá trình hoạt động chống phá Cách mạng miền Nam, những cơ quan, tổ chức này của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tiến hành phát hiện, tổ chức nghiên cứu
và đánh phá con đường trường Sơn một cách điên cuồng và dai dẳng nhất Vì vậy, khối tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa có nội dung về đường
Trường Sơn nằm trọn trong khoảng thời gian của 02 chính thể của Việt Nam
Cộng hòa theo 02 giai đoạn như trên Do tổ chức và hoạt động của chính
quyền Việt Nam Cộng hòa theo kiểu Cộng hòa đại nghị (“Cộng hoà đại nghị hay Cộng hoà nghị viện là một hình thức cộng hoà mà nguyên thủ quốc
gia được bầu ra và quốc gia đó có một nghị viện mạnh và các thành viên chính của bộ phận hành pháp được chọn ra từ nghị viện đó” [92, tr.1] còn
“(theo nghĩa rộng) là một chế độ trong đó quyền hành pháp hoặc một bộ phận của quyền hành pháp thuộc nội các”) [37, tr.78] nên tài liệu của chính
quyền này có nội dung về đường Trường Sơn chủ yếu nằm trong 03 phông
Trang 21Đệ Nhị Cộng hòa Đặc biệt, phông tài liệu này còn bao hàm cả khoảng thời gian trống giữa 02 chính thể Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa (từ 01/11/1963: thời điểm chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng hòa đến 03/9/1967 – ngày Tổng thống
Đệ Nhị Cộng hòa được bầu ra)
Vì vậy, khi tìm hiểu lịch sử cơ quan hình thành khối tài liệu về đường
Trường Sơn cũng có nghĩa là xác định lịch sử đơn vị hình thành phông của
03 phông tài liệu nói trên Dưới đây chúng tôi sẽ đi sâu xem xét về:
- Tổ chức và hoạt động của Phủ Tổng thống Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa
- Tổ chức và hoạt động của Phủ Thủ tướng (qua 2 thời kỳ Đệ Nhất và
Đệ Nhị Cộng hòa)
1.1.1.- Tổ chức và hoạt động của Phủ Tổng thống Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa:
a) Giai đoạn 1: Phủ Tổng thống Đệ Nhất Cộng hòa (1955 – 1963)
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu tiên được thiết lập nền Đệ Nhất Cộng hòa với Ngô Đình Diệm làm Tổng thống Vốn là một quan lại Nam triều lưu vong trong giai đoạn 1945 – 1954, được Mỹ đưa về làm Thủ tướng trong chính quyền khi Bảo Đại làm Quốc trưởng với Sắc lệnh 38-QT, ngày 16/6/1954 Quá trình thành lập nền Đệ Nhất Cộng hòa của Ngô Đình Diệm như sau:
- Ngày 19/6/1954, tiếp nhận toàn bộ quyền quản lý và điều hành về dân sự và quân sự;
- Ngày 08/5/1955, “Hội đồng nhân dân cách mạng” phế truất Bảo Đại,
thành lập Chính phủ lâm thời, chính thức phá bỏ Hiệp định Giơ ne vơ;
- Ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam
Trang 22Cộng hòa và làm Tổng thống đầu tiên của chính thể này;
- Ngày 23/01/1956, ban hành Dụ số 8 và 9 triệu tập và ấn định thể thức bầu cử Quốc hội lập Hiến – Quốc hội với nhiệm vụ duy nhất là nghiên cứu thảo luận một dự án Hiến pháp do Tổng thống đệ trình;
- Ngày 04/3/1956, tổ chức Tổng tuyển cử riêng rẽ, bầu ra Quốc hội của miền Nam;
- Ngày 17/4/1956, Ngô Đình Diệm gửi Thông điệp đến Quốc hội để
phân định các quyền của bộ máy quản lý nhà nước: “Quốc hội có quyền lập
pháp, Tổng thống dân cử có quyền hành pháp”;
- Ngày 26/10/1956, ban hành Hiến pháp của Việt Nam Cộng hòa Bản Hiến pháp được ban hành đã hợp pháp hóa chính quyền của Ngô Đình Diệm vốn đã hình thành và hoạt động từ trước khi có Hiến pháp Cũng theo bản Hiến pháp này, Việt Nam Cộng hòa được điều hành bởi một Quốc hội dân cử có quyền lập pháp, Tổng thống dân cử có quyền hành pháp Hai quyền này hoàn toàn độc lập với nhau Nhiệm kỳ của Tổng thống là 5 năm Trong suốt nhiệm kỳ, Tổng thống chỉ chịu trách nhiệm duy nhất trước quốc dân – thành phần trực tiếp bầu ra Tổng thống và có quyền bãi nhiệm khi tổ chức bầu Tổng thống nhiệm kỳ kế tiếp Các cơ quan lập pháp, tư pháp không
có quyền phế truất, bãi nhiệm hay tiến hành các thủ tục bất tín nhiệm Tổng thống Nhiệm kỳ của Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa – Đệ Nhất Cộng hòa từ ngày 26/10/1956 – ngày ban hành Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa và kết thúc vào ngày 30/4/1961 Ngày 09/4/1956, Ngô Đình Diệm tiếp tục tái cử nhiệm kỳ tiếp theo và chấm dứt vào ngày 01/11/1961 –
ngày bị đảo chính vì “Cuộc cách mạng 01/11” Đây cũng chính là thời điểm chấm dứt hoàn toàn nền Đệ Nhất Cộng hòa
Về tổ chức chính quyền của Đệ Nhất Cộng hòa, Tổng thống vừa là
Trang 23người đứng đầu cơ quan Chính phủ, tổ chức, ấn định kế hoạch, vừa là người chỉ đạo thực hiện Quyền hành pháp của Tổng thống được thể hiện qua các
những lĩnh vực hoạt động: Ngoại giao (ký các hiệp ước, điều ước quốc tế đã được Quốc hội chấp thuận, bổ nhiệm Đại sứ, tiếp nhận Ủy nhiệm thư của đại diện các nước, …); Quân sự: là Tổng tư lệnh quân đội, có quyền bổ nhiệm hay cách chức tướng lĩnh, sĩ quan, công chức trong quân đội; Tư pháp: có quyền ân xá, cải hoán hình phạt; Tài chính: lập dự án ngân sách, chuyển Quốc hội thảo luận; Dân sự: điều hành tất cả cơ quan hành pháp với bộ máy
chính quyền ở trung ương:
- Phủ Tổng thống: Văn phòng Phủ Tổng thống (gồm có văn phòng
đặc biệt, các nha: Báo chí, Nghi lễ, Giáo tế, Nội dịch, Nhân viên và kế toán,
Mật mã và Bí thư, Tham mưu biệt bộ, Lữ đoàn liên minh phòng vệ Phủ Tổng thống, Sở Văn thư – Lưu trữ công văn, Sở Hộp thư dân ý), Tòa Tổng thư ký
(nguyên là Tòa Tổng thư ký Phủ Thủ tướng) và Văn phòng Bộ trưởng trực
thuộc Tổng thống;
- 14 bộ (Nội vụ, Tư pháp, Ngoại giao, Quốc phòng, Tài chính, Kinh tế
Thông tin và Thanh niên, Giáo dục, Y tế, Lao động, Canh nông, Công chánh
và Giao thông, Điền thổ và Cải cách điền địa, Kiến thiết và Thiết kế đô thị); quân sự: là tư lệnh tối cao; tư pháp (ân xá, giảm án, hoán cải hình phạt); tài chính (lập dự án ngân sách chuyển Quốc hội thảo luận)
Tổng thống có quyền bổ nhiệm các bộ trưởng đặc trách một lĩnh vực quản lý và chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch chung của Tổng thống, chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng thống Có thể nói, Tổng thống Đệ Nhất Cộng hòa thâu tóm toàn bộ quyền hành pháp qua việc ban hành các Sắc lệnh, Sắc luật với tư cách Quốc trưởng và ban hành Nghị định với tư cách Thủ tướng
Ngay trong quan hệ với Quốc hội – cơ quan dân cử có quyền lập pháp
Trang 24cao nhất của Việt Nam Cộng hòa, thực chất cũng chỉ là một tổ chức để hợp pháp hóa việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật do Tổng thống định trước Trong việc lập pháp, Tổng thống có quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp,
điều hành đất nước bằng Dụ (sau khi nội dung đã được Hội đồng Nội các thảo luận), được ban hành Sắc luật giữa hai khóa họp của Quốc hội trong
trường hợp khẩn cấp
b) Giai đoạn 2: Phủ Tổng thống Đệ Nhị Cộng hòa (1967 – 1975)
Kể từ sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm thông qua cái gọi là “Cách
mạng 01/11” năm 1963, chính quyền Sài Gòn bầu ra Nguyễn Văn Thiệu,
Tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng hòa vào ngày 03/9/1967, nhậm chức ngày 31/10/1967, nhiệm kỳ 4 năm (kể từ 20/01/1974 là 5 năm) Nền Đệ Nhị Cộng hòa cũng trải qua hai nhiệm kỳ:
Tổ chức bộ máy chính quyền ở nhiệm kỳ thứ nhất của Đệ Nhị Cộng hòa:
Trang 25- Ngày 31/10/1967, Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành sắc lệnh giữ
nguyên trạng các cơ quan thuộc Phủ Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia hoạt động dưới danh nghĩa cơ quan thuộc Phủ Tổng thống
- Tháng 11/1967, tổ chức lại Phủ Tổng thống gồm: Cơ quan riêng biệt
và Tòa Tổng thư ký
- Tháng 10/1969, Phủ Tổng thống được co lại trở thành bộ máy giúp việc cho Tổng thống gồm các bộ phận:
Các thành phần: cố vấn, thành phần riêng biệt, thành phần phụ trách
các lĩnh vực quốc gia, thành phần phụ trách về quản trị hành chính
Các cơ quan trực thuộc: Phủ Đặc ủy trung ương tình báo, Tổng nha
Ngân sách và Ngoại viện, Tổng nha Kế hoạch
Ở nhiệm kỳ thứ hai, từ năm 1974, theo Huấn thị số 02, ngày 22/4/1974,
cơ cấu tổ chức của Phủ Tổng thống Đệ Nhị Cộng hòa có sự thay đổi khá lớn
để hoạt động có hiệu quả hơn
1.1.2.- Tổ chức và hoạt động của Phủ Thủ tướng (qua 02 thời kỳ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa):
Trong cơ cấu tổ chức của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, bên cạnh Tổng thống (Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa) còn có Thủ tướng giữ một vai trò khá quan trọng, tham gia lãnh đạo và điều hành đất nước cùng Tổng thống Vai trò Thủ tướng giúp Tổng thống điều hành bộ máy hành pháp của Việt Nam Cộng hòa cũng phân chia như 02 giai đoạn Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa
a) Giai đoạn 1: Phủ Thủ tướng Đệ Nhất Cộng hòa
Ngày 16/6/1954, với Sắc lệnh 38-QT, Quốc trưởng Bảo Đại chỉ định Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng và đứng ra lập Nội các Ngày 06/7/1954, với
Trang 26Sắc lệnh số 43-QT, quy định thành phần Chính phủ và bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng Tuy nhiên, chức danh này về thực chất đã chấm dứt
ngày 08/5/1955 khi “Hội đồng nhân dân cách mạng” phế truất Bảo Đại khỏi
vai trò Quốc trưởng Với Hiến ước tạm thời số 01, và sau đó là là Hiến pháp
1956 đã hợp pháp hóa chính quyền Ngô Đình Diệm được thành lập trước đó Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Ngô Đình Diệm đảm nhận chức vụ Tổng thống và Thủ tướng với chức danh: “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa” Nhiệm kỳ này chính thức bắt đầu ngày 26/10/1955 – ngày ban hành Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa, kết thúc ngày 30/4/1961 Nhiệm kỳ Tổng thống thứ 2 của Ngô Đình Diệm bắt đầu ngày 09/4/1961, chấm dứt ngày 01/11/1963 bởi cuộc đảo chính của một bộ phận của quân đội Sài Gòn, lật đổ chế độ gia đình trị họ Ngô, kết thúc nền Đệ Nhất Cộng hòa
b) Giai đoạn 2: Phủ Thủ tướng trước và sau khi thành lập Đệ Nhị Cộng hòa
Giai đoạn này chia thành 02 phân đoạn:
• Thời gian từ 01/11/1963, khi chưa hình thành Đệ Nhị Cộng hòa, là giai đoạn các tướng, tá trong quân đội Việt Nam Cộng hòa thay nhau nắm quyền điều hành đất nước Trong thời gian này có 07 Thủ tướng tại nhiệm mà không có Tổng thống:
- Nguyễn Ngọc Thơ (04/11/1963 – 07/2/1964)
- Nguyễn Khánh (07/02 – 31/10/1964)
- Trần Văn Hương (04/11/1964 – 28/01/1965)
- Nguyễn Xuân Oánh (28/01 – 16/02/1965)
- Phan Huy Quát (16/02 – 11/6/1965)
- Nguyễn Cao Kỳ (từ 19/6/1965)
Trang 27• Khi Đệ Nhị Cộng hòa được thành lập ngày 03/9/1967, Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng thống gần hai nhiệm kỳ (1967 – 1971 và 1971 – 1975) Tuy nhiên, do Chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân miền Nam, ngày 21/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức Sau đó, lần lượt Trần Văn Hương (21 – 27/4/1975) và cuối cùng là Dương Văn Minh (từ 27/4/1975) lên làm Tổng thống nhưng chấm dứt vai trò của mình vào giờ cáo chung của chính quyền Việt Nam Cộng hòa: lúc 11 giờ 30 phút, ngày 30/4/1975
Trong cơ cấu tổ chức của Đệ Nhị Cộng hòa có 05 nhân vật lần lượt thay nhau đảm nhận vai trò Thủ tướng:
- Nguyễn Văn Lộc (từ 09/11/1967)
- Trần Văn Hương (từ 25/5/1968)
- Trần Thiện Khiêm (01/9/1969 – 04/4/1975)
- Nguyễn Bá Cẩn (04/4 – 24/4/1975)
- Thủ tướng cuối cùng: Vũ Văn Mẫu, tại vị từ 28/4 đến ngày 30/4/1975
Về cơ bản, Phủ Thủ tướng của Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa đều có cơ
cấu tổ chức gồm 05 bộ phận: Phụ tá Đặc biệt (phụ trách một hay một số lĩnh vực đặc biệt do Thủ tướng ấn định), Văn phòng Đặc biệt (do Chánh văn
phòng điều khiển Bí thư, Công cán ủy viên, Tham chánh văn phòng và 03
phòng: Công vụ mật và giành riêng, Văn thư và liên lạc tổng quát, Mật mã),
Võ phòng (thu thập và đệ trình các vấn đề quân sự trong và ngoài nước, theo
dõi thực hiện các kế hoạch, giải pháp đã được ấn định liên quan đến chiến
lược, chiến thuật, …), Văn phòng Bộ trưởng Phủ Thủ tướng và Nha Tổng thư
ký Phủ Thủ tướng
Trang 28Tuy nhiên, qua việc xác định thời gian của lịch sử đơn vị hình thành
phông chứa khối tài liệu lưu trữ chữ viết về đường Trường Sơn, có một số vấn
đề chưa được giải quyết một cách khoa học và triệt để như sau:
- Những khoảng thời gian: 1954 – 1956 và 1963 – 1967 không nằm trong các khoảng thời gian tồn tại chính thức của 02 chính thể Đệ Nhất hay
Đệ Nhị Cộng hòa Vì vậy, tài liệu của các cấp chính quyền (trừ tài liệu của phông Phủ Thủ tướng) không thuộc một phông cụ thể nào trong 02 phông nói trên
- Theo Sách chỉ dẫn của Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, thời gian tài
liệu của Phông Phủ Tổng thống Đệ Nhất Cộng hòa được tính từ 1954 – 01/11/1963 [32, tr.173] Tuy nhiên, theo thực tế lịch sử và cũng theo thực tế tài liệu của chính quyền này hiện có tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, thời
gian bắt đầu của phông Phủ Tổng thống Đệ Nhất Cộng hòa phải từ năm 1955
(năm Ngô Đình Diệm chính thức khai sinh ra chính quyền Việt Nam Cộng hòa) với nền Đệ Nhất Cộng hòa do chính “chí sĩ họ Ngô”này làm Tổng thống kiêm Thủ tướng
Tuy việc xác định lịch sử hình thành các cơ quan, tổ chức đã sản sinh ra
khối tài liệu về đường Trường Sơn có những đặc điểm như vậy, nhưng về cơ
bản, không ảnh hưởng nhiều đến độ tin cậy và giá trị sử liệu của khối tài liệu nói trên Việc xác định đúng hoàn cảnh lịch sử và sự khác biệt giữa hoàn cảnh lịch sử và lịch sử đơn vị hình thành phông như trên sẽ là cơ sở thực tế giúp cho việc khai thác, tìm hiểu nội dung, giá trị pháp lý và giá trị sử liệu của
những tài liệu về đường Trường Sơn sẽ sử dụng trong Luận văn này được tốt
hơn
Trang 291.2 Lịch sử khối tài liệu lưu trữ chữ viết về đường Trường Sơn
“Đường Trường Sơn” được hình thành trên cơ sở “Đường dây Thống
nhất” được xác lập ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến thời chống Pháp (1946) Xét về mặt địa lý, điểm xuất phát từ gần cuối lãnh thổ phân định tạm thời của miền Bắc (Quảng Bình), trải dài xuống phía Nam Gần như toàn bộ tuyến đường nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, trải dọc theo sườn Đông và Tây
Trường Sơn Khu vực được xác lập và hoạt động chủ yếu của đường Trường
Sơn nằm trên phần phía Nam của lãnh thổ Việt Nam do chính quyền Việt
Nam Cộng hoà quản lý Nhiệm vụ chính của tuyến đường chiến lược này của Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 là để chi viện một cách hiệu quả
từ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa cho công cuộc đấu tranh anh dũng
để thống nhất đất nước của Cách mạng miền Nam Vì vậy, đường Trường Sơn
trở thành đối tượng tác chiến, tiêu diệt, phá huỷ của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà từ 1954 – 1975 Trong hoàn cảnh lịch sử đó, hệ thống văn bản (đặc biệt là văn bản hành chính: Phiếu trình, Công văn, Báo cáo, …) của toàn bộ hệ thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ trung ương đến địa phương (nhất là của bộ máy quân sự, tình báo, an ninh, đối ngoại) đã trở thành công cụ điều hành, chỉ huy, tác chiến để tiến hành chiến tranh chống phá Cách mạng Việt Nam, trong đó có việc đánh phá nhằm vô hiệu hóa khả
năng chi viện của đường Trường Sơn Vì vậy, khối tài liệu về đường Trường
Sơn đã được hình thành và phản ánh quá trình hoạt động chống phá của chính
quyền Việt Nam Cộng hoà, gắn liền cùng sự hình thành, tồn tại và hoạt động cũng như chấm dứt của chính quyền đó
Như vậy, về cơ bản, toàn bộ khối tài liệu chữ viết của Việt Nam Cộng
hòa có nội dung về đường Trường Sơn nằm trọn trong 03 phông tài liệu quan
trọng nhất của Việt Nam Cộng hòa, hiện đang được lưu trữ, bảo quản tại
Trang 30Trung tâm Lưu trữ quốc gia II tại thành phố Hồ Chí Minh Các số liệu cơ bản
của các phông có tài liệu chữ viết về đường Trường Sơn gồm:
Phông Phủ Tổng thống Đệ Nhất Cộng hòa
- Số lượng tài liệu: 460,15 m
- Thời gian tài liệu: 1954 – 01/11/1963
- Loại hình tài liệu: Tài liệu hành chính
- Nội dung khái quát của tài liệu trong phông gồm có:
Vấn đề chung (1954 – 1963)
Tổ chức (1954 – 1963)
Thi đua khen thưởng (1954 – 1963)
Nội an: quân sự, an ninh, chính trị, thanh tra, tư pháp (1954 – 1963)
- Số lượng tài liệu: 158 m
- Thời gian tài liệu: 1967 – 30/4/1975
- Loại hình tài liệu: Tài liệu hành chính
- Nội dung khái quát của tài liệu trong phông gồm có:
Vấn đề chung (1967 – 1975)
Nội an – quân sự (1967 – 1975)
Trang 31 Văn hóa – Xã hội – Đoàn thể (1967 – 1975)
Về các hoạt động riêng biệt (1967 – 1975)
Tổ chức (1967 – 1975)
Thi đua – khen thưởng (1967 – 1975)
Hành chính – quản trị (1967 – 1975)
Phông Phủ Thủ tướng
- Số lượng tài liệu: 1.044,7 m
- Thời gian tài liệu: 1954 – 1975
- Loại hình tài liệu: Tài liệu hành chính
- Nội dung khái quát của tài liệu trong phông gồm có:
Vấn đề chung
Hành chính – quản trị
Các hoạt động riêng biệt
Tổ chức
Thi đua – Khen thưởng
Nội an – quân sự – an ninh – chính trị
Tư pháp
Trang 32 Ngoại vụ
Thanh tra
Kinh tế - tài chính
Văn hóa - xã hội
1.3 Giá trị và độ tin cậy của khối tài liệu lưu trữ chữ viết về
đường Trường Sơn
Khi xem xét giá trị khối tài liệu lưu trữ chữ viết của chính quyền Việt
Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản: chính
trị, lịch sử và tổng hợp được thực hiện thông qua việc áp dụng các phương pháp xác định giá trị tài liệu: hệ thống, thông tin, phân tích chức năng và sử liệu học Các tiêu chí áp dụng để xác định giá trị của khối tài liệu chữ viết về
đường Trường Sơn bao gồm: giá trị thông tin phản ánh trong nội dung của tài
liệu; bút tích hiện có trên tài liệu; tác giả và thẩm quyền ban hành; nguồn gốc xuất xứ, thể thức và thể loại văn bản của khối tài liệu; hoàn cảnh và địa danh lịch sử có liên quan; tính hợp pháp và giá trị pháp lý của các tài liệu, … Trên những cơ sở đó, có thể xem xét giá trị thông tin và độ tin cậy của khối tài liệu này một cách cụ thể như sau:
1.3.1- Giá trị thông tin trong nội dung của khối tài liệu về đường Trường Sơn
Trang 33nhân dân Việt Nam được hoàn chỉnh hơn Điều này được biểu hiện cụ thể qua những vấn đề:
Khối tài liệu phản ánh một cách tổng thể, chi tiết, chính xác toàn bộ hoạt động của bộ máy chiến tranh do chính
quyền Việt Nam Cộng hòa vận hành để chống
phá Cách mạng miền Nam, đặc biệt là đường
Trường Sơn trong suốt hơn 20 năm (1954 –
1975) Những tài liệu về đường Trường Sơn đều
do các cấp chính quyền, quân đội, tình báo của
Việt Nam Cộng hòa từ địa phương đến trung
ương ban hành nhằm phát hiện, nghiên cứu, lập
và tổ chức các kế hoạch chống phá (hình 1), báo
cáo kết quả đánh phá đường Trường Sơn Nội
dung của những hoạt động quân sự, tình báo mà Việt Nam Cộng hòa tiến
hành với đường Trường Sơn có thể thống kê chi tiết những hồ sơ có nội dung
liên quan như sau:
- 09 hồ sơ có nội dung về việc phát hiện, đánh giá vị trí và vai trò của
đường Trường Sơn trong cuộc chiến giữa Việt Nam Cộng hòa và Mỹ với
Cách mạng miền Nam và Việt Nam Những hồ sơ này tập hợp các văn bản của các cấp chính quyền (từ trung ương đến địa
phương), quân đội, tình báo để phát hiện từ rất sớm
dấu hiệu về sự xuất hiện của một con đường liên lạc
Bắc – Nam Trong Công văn số 4070 VP/CTM,
ngày 24/7/1956, của Văn phòng Tòa đại biểu Chính
phủ tại Nam Việt “Về việc Việt cộng làm con đường
xuyên sơn từ vĩ tuyến 17 đến mật khu Thò Lò (Phú
Hình 1
Hình 1b
Trang 34Yên)”, gửi Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống, Bộ
trưởng Nội vụ, Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng Việt
Nam Cộng hòa (hình 2) [57, tờ số 3] Đây là văn
bản đầu tiên trong khối tài liệu lưu trữ chữ viết của
Việt Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn Sự phát
hiện này (24/7/1956) đã có trước khi con đường
được chính thức thành lập (19/5/1959) Thời điểm
này hoàn toàn trùng khớp với những hoạt động của
các tổ chức của Cách mạng miền Nam ở Liên Khu
V thời kỳ sau 1954: Đường dây do Khu ủy Khu V phối hợp với Ủy ban Thống nhất Trung ương (Hà Nội) phụ trách mang mật danh “Quận 9” Tiếp
đó là các hoạt động soi đường mang tính tự phát của các tổ chức Đảng từ Nam Bộ đến Tây Nguyên để thông với hành lang của Khu ủy Khu V
- 11 hồ sơ có nội dung nghiên cứu về tổ chức, phương thức hoạt động
của đường Trường Sơn (hình 1, 1b) Những hồ sơ này là những thông tin tình
báo thông qua hoạt động thám báo hoặc các trang thiết bị do thám điện tử hiện đại khác của quân đội Mỹ thu thập được từ chính những hoạt động của
Bộ đội Trường Sơn
- 17 hồ sơ có nội dung liên quan đến việc lập và tổ chức kế hoạch
chống phá đường Trường Sơn Đây là hồ sơ tác chiến của các Bộ tư lệnh
Không quân, kỹ thuật, tình báo đã hình thành trong việc do thám, đánh phá và phối hợp kiểm chứng kết quả đánh phá do Không quân Mỹ thực hiện
Một trong những vấn đề có tính mấu chốt trong khối tài liệu lưu trữ chữ
viết về đường Trường Sơn nói trên giúp khẳng định về giá trị thông tin và độ
tin cậy của khối tài liệu là:
Hình 2
Trang 35- Những văn bản trong khối tài liệu này đều là văn bản hành chính chính thức của hệ thống các cơ quan: chính quyền, quân đội, tình báo, bảo an,… của Việt Nam Cộng hòa, được ban hành trong quá trình hoạt động thực
tế của chính các cơ quan đó Xét về phân loại văn bản dưới góc độ của phong cách ngôn ngữ học, văn bản hành chính là một loại văn bản được hình thành trong quá trình hoạt động của một cơ quan, tổ chức, là công cụ giao tiếp hành chính thiết yếu để trao đổi thông tin, truyền đạt mệnh lệnh của hệ thống cơ
quan tổ chức đó Việc phát hiện ra đường Trường Sơn là một trong những
hoạt động được thực hiện theo chức năng nhiệm vụ của hệ thống cơ quan này
Vì vậy, tính hợp pháp, giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành văn bản của hệ
thống văn bản hành chính trong khối tài liệu lưu trữ chữ viết của Việt Nam
Cộng hòa là cơ sở quan trọng giúp cho việc khẳng định khối tài liệu này có
giá trị sử liệu cao và đủ độ tin cậy để góp phần bổ sung những chi tiết, sự kiện lịch sử còn thiếu hay chưa chính xác về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam được hoàn chỉnh hơn
- Khối tài liệu lưu trữ chữ viết của chính quyền Việt Nam Cộng hòa có
nội dung về đường Trường Sơn được hình thành để phục vụ cho hoạt động
của chính hệ thống cơ quan: chính quyền quân đội, tình báo, … của Việt Nam Cộng hòa, nhằm đảm bảo sự tồn tại của chính quyền này Do biến động lịch sử 30/4/1975, chính quyền này đã bị cơn lốc của Cách mạng Việt Nam
mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc, chấm dứt sự tồn tại trên toàn lãnh
thổ miền Nam Vì vậy, toàn bộ tài liệu lưu trữ, tài liệu hành chính hiện hành
và các loại tài liệu lưu trữ lịch sử từ các thời kỳ trước đó của chính quyền Việt
Nam Cộng hòa (Đệ Nhất và Đệ Nhị) đã trở thành tài liệu lưu trữ quốc gia
Việt Nam hiện nay, do Trung tâm Lưu trữ quốc gia II của Nhà nước
CHXHCN Việt Nam quản lý Chính lý do này đã cho chúng ta một cơ hội tiếp cận và phát hiện ra những vấn đề có liên quan đến hoạt động của Việt Nam
Trang 36Cộng hòa trong việc phát hiện, theo dõi và chống phá đường Trường Sơn Đó
là một lý do khách quan giúp khẳng định độ tin cậy của khối tài liệu lưu trữ
chữ viết của Việt Nam Cộng hòa có nội dung về đường Trường Sơn Đây
cũng chính là cơ sở để khẳng định giá trị sử liệu của khối tài liệu này
- Nội dung những tài liệu trong khối tài liệu lưu trữ chữ viết của Việt
Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn do hàng loạt các cơ quan tham mưu
thuộc quân đội và tình báo Việt Nam Cộng hòa ban hành Nội dung của những văn bản này cho thấy họ đã nghiên cứu một cách tổng thể, chi tiết về
đường Trường Sơn Những công trình nghiên cứu do Phòng Nhì hay Võ phòng (thuộc Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa, Đặc ủy
trung ương Tình báo, Phủ Thủ tướng, Phủ Tổng thống) thực hiện không chỉ
thống kê, mô tả về tổ chức, phương tiện, cách thức vận chuyển trên đường
Trường Sơn (hình 1) mà còn tìm hiểu cả những hoạt động phục vụ đời sống
tối thiểu ở chiến trường của Bộ đội Trường Sơn như công cụ nấu bếp: Bếp
Hoàng Cầm nổi tiếng (hình 1b)
Trong binh pháp Tôn Tử, một quy tắc vàng, có tính bất di bất dịch như
quy luật tất yếu dành cho các bên tham chiến: biết mình, biết ta, trăm trận
trăm thắng Vậy, với hiểu biết qua các công trình nghiên cứu công phu của
những cơ quan tham mưu nói trên và quy tắc muôn thuở của binh pháp đã giúp ích gì mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa cáo chung vào ngày 30/4/1975 lịch sử, trong đó có sự đóng góp quan trọng của con đường huyền thoại vươn qua dãy Trường Sơn
1.3.1.2 Giá trị về chính trị
Khối tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hoà về đường Trường
Sơn có giá trị về chính trị hết sức to lớn, dưới đây chúng tôi chỉ xin điểm qua
ở một số vấn đề cụ thể:
Trang 37Trong việc gọi tên đường Trường Sơn, khi tiếp cận nội dung của những
văn bản trong khối tài liệu chữ viết của Việt Nam Cộng hòa về đường Trường
Sơn, một vấn đề rất thú vị, có giá trị thông tin cao, góp phần khẳng định giá
trị sử liệu của khối tài liệu của Việt Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn, đó
là chính các cơ quan của chính quyền Việt Nam Cộng hòa là tác giả đầu tiên
gọi tên tuyến đường Trường Sơn là đường Hồ Chí Minh hay đường mòn Hồ
Chí Minh một cách chính thức và được thể hiện trong các văn bản Việc chính
quyền Việt Nam Cộng hoà gọi tên đường Trường Sơn là đường mòn Hồ Chí
Minh càng cho thấy vai trò, uy tín và ảnh hưởng to lớn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam (theo cách gọi của nhân dân Việt Nam) và Chiến tranh Việt Nam (theo cách gọi của một số nước trên thế giới), với con đường chiến lược đường Trường
Sơn Ảnh hưởng to lớn ấy không chỉ với nhân dân Việt Nam, những con cháu
của Người, mà với cả những kẻ bên đang đối đầu quyết liệt một mất một còn
với Cách mạng Việt Nam Tên gọi “Đường mòn Hồ Chí Minh” sau chiến
tranh vẫn được thế giới sử dụng để gọi tên Đường Trường Sơn trong sự cảm phục, trong sự tôn vinh, như một biểu tượng của ý chí, sự dũng cảm, kiên cường của quân và dân Việt Nam quyết đi đến ngày
chiến thắng, giành độc lập, tự do, thống nhất, hoà
bình “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” Điều
này được thể hiện:
Nếu truy cập mạng Internet, ngoài những tên
gọi thông thường: Đường Trường Sơn, Binh đoàn
559, Đoàn Quang Trung, … còn có một tên gọi khá
phổ biến là Đường mòn Hồ Chí Minh (Ho Chi Minh
trail) Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Việt Phương, tên Đường mòn Hồ Chí Minh do người Mỹ đặt: Trong báo cáo gửi Tổng thống Kennedy năm 1961,
Hình 3
Trang 38tướng Taylor đã gọi tuyến giao liên vận tải này của ta là “Ho Chi Minh trail”
Tuy nhiên cái tên Đường mòn Hồ Chí Minh thực sự được cả thế giới biết đến
trước hết phải nhờ tới cuốn sách nổi tiếng của nhà báo người Bỉ viết tiếng
Pháp Jean Pierre Van Geirt với nhan đề La piste Ho Chi Minh (Đường mòn
Hồ Chí Minh), do Editions Speciale Paris xuất bản cuối năm 1971 (hình 3)
Còn theo từ điển bách khoa mở Wikipedia “Đường Trường Sơn hay đường mòn Hồ Chí Minh là mạng lưới giao thông quân sự chiến lược chạy từ lãnh
thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tới lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, đi qua miền Trung Việt Nam, hạ Lào, và Campuchia Hệ thống này cung cấp binh lực, lương thực và vũ khí, khí tài để chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam
và Quân đội Nhân dân Việt Nam trong 16 năm (1959–1975) của thời kỳ Chiến tranh Việt Nam Binh đoàn Trường Sơn (đoàn 559) Quân đội Nhân dân Việt Nam là đơn vị triển khai các đơn vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không để đảm bảo hoạt động của hệ thống đường này
…
Ở Việt Nam, hệ thống đường này đặt tên là Đường Trường Sơn, lấy tên của dãy Trường Sơn - dãy núi chạy dọc miền Trung Việt Nam, nơi hệ thống này đi qua Về sau, hệ thống này có thêm tên gọi Đường mòn Hồ Chí Minh, tên gọi này (Ho Chi Minh trail) có nguồn gốc từ Mỹ” [92, tr 1]
Xét về ngữ nghĩa của tên gọi đường mòn Hồ Chí Minh – Ho Chi Minh
trail, theo nghĩa tiếng Anh, "Trail (noun): path, especially through rough country”: đường mòn, đặc biệt là đường xuyên qua nơi gồ ghề [94, tr.1360]
Theo từ điển tiếng Việt, đường mòn là “Đường do vết chân người đi lại nhiều
mà thành”[35, tr.363] Như vậy, tên gọi của đường Trường Sơn là đường mòn
Hồ Chí Minh hoàn toàn đúng xét về ý nghĩa cũng như thực tế của sự hình
thành, hiện hữu, hoạt động và tầm ảnh hưởng của con đường này trong cuộc
Trang 39kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam Tên gọi này cũng phản ánh được tình cảm và ý nghĩ của chính những người đầu tiên tham gia
mở đường nên đã chọn ngày 19/5/1959 làm ngày thành lập của Binh đoàn
Trường Sơn và lấy phiên hiệu Đoàn 559 cũng từ những cơ sở nói trên Tuy
nhiên, những thông tin về nguồn gốc, xuất xứ của tên gọi nổi tiếng đường
mòn Hồ Chí Minh ấy đã được phản ánh như trên là không chính xác, chưa
đúng với thực tế lịch sử đã diễn ra tại Việt Nam vào những năm 1956 – 1963
Điều này sẽ được lý giải qua thông tin từ khối tài liệu lưu trữ chữ viết của
chính quyền Việt Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn dưới đây
Khi tiếp cận nội dung của những văn bản trong khối tài liệu chữ viết
của Việt Nam Cộng hòa về đường Trường Sơn, chúng tôi thấy có một hệ
thống văn bản hình thành trong hoạt động quân sự, tình báo của chính quyền Việt Nam Cộng hoà nhằm phát hiện con đường để đánh phá, hạn chế sự tác động của nó vào cuộc chiến ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 Tài liệu lưu
trữ được phát hiện có nội dung về gọi tên con đường là đường mòn Hồ Chí
Minh mà chúng tôi tìm được ghi ngày 07/12/1957 (hình 4) [57, tờ số 7-8]
Đây là tài liệu đầu tiên mà Việt Nam Cộng hòa gọi tên là Đường mòn Hồ Chí
Minh đối với con đường huyền thoại này một cách chính thức trên văn bản
Theo chúng tôi, chính quyền Việt Nam Cộng hoà gọi tên đường là Đường
mòn Hồ Chí Minh có thể bắt nguồn từ những thông tin tình báo mà phía Việt
Nam Cộng hoà thu thập được từ những năm nhân dân ta đang trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược Điều này được thể hiện trong nội dung
văn bản đề cập trên như: “…Vì vậy nên từ năm 1947-1948, Việt-cộng đã trù
liệu mở một con đường xuyên sơn để liên lạc từ Bắc qua các liên khu IV, liên khu V ở Trung-Việt vào đến trong Nam; có thể nói là song song với đường thiết lộ và quan lộ số 1
Trang 40Con đường Xuyên- sơn nầy khi hoàn thành lấy tên là đường Minh” [57, tờ số 7] Có thể nói, việc chính quyền Việt Nam Cộng hoà gọi tên
Hồ-Chí-con đường là Đường mòn Hồ Chính Minh một cách chính thức trên văn bản là
sớm nhất, bởi vì tính đến nay chúng tôi chưa tìm được bất kỳ văn bản chính
thức nào đề cập đến việc gọi tên tuyến đường này là Đường Hồ Chí Minh hay
Đường mòn Hồ Chí Minh Điều này lần
nữa khẳng định uy tín và ảnh hưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với con đường
chiến lược Trường Sơn rất to lớn trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
của nhân dân ta, thậm chí đối với cả kẻ
thù của Người Đặc biệt trong khối tài
liệu chữ viết của Việt Nam Cộng hoà về
đường Hồ Chí Minh có những tài liệu mà
nội dung liên quan đến việc phát hiện
tuyến đường Xuyên sơn từ Bắc vào Nam
(tiền đề của đường Trường Sơn sau này)
sớm hơn cả ngày mà những người mở
đường, vạch tuyến đã chính thức khai sinh con đường là 19/5/1959
Theo tư liệu lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam, những dấu ấn thời gian của ngày thành lập Binh đoàn Trường Sơn – Đoàn 559 như sau:
- Ngày 5 tháng 5 năm 1959, Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương thừa lệnh Bộ Chính trị trực tiếp giao nhiệm vụ cho Thượng
tá Võ Bẩm
Hình 4