Chúng tôi hy vọng đề tài sẽ góp phần bổ sung về mặt lý luận mảng chủ đề về tự ý thức, đặc biệt là tự ý thức nghề nghiệp trong tâm lý học cũng như góp phần làm sáng tỏ hơn những nhìn nhậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy
cô của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là các thầy cô khoa Tâm lý học của trường đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt qua trình học tập đại học, sau đại học cũng như trong quá trình thực hiện luận văn Và đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS.Trịnh Thị Linh – người
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi từ những ngày đầu và trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn bộ các cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội, đặc biệt là Ban lãnh đạo Phòng cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy huyện Thanh Trì đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có thể thực hiện, hoàn thành luận văn
Do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía Thầy, Cô cũng như các độc giả quan tâm để tôi có thể học hỏi được thêm nhiều kinh nghiệm để hoàn thành tốt hơn những nghiên cứu
về sau
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 51
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 4
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỰ Ý THỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SỸ CẢNH SÁT PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY 10 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp 10
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp trên thế giới 10
1.1.2 Các nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp ở Việt Nam 13
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy 16
1.2 Một số vấn đề lí luận về tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy 17
1.2.1 Một số vấn đề lí luận về “tự ý thức” 17
1.2.2 Một số vấn đề lí luận về “nghề nghiệp” 21
1.2.3 Lý luận về “tự ý thức nghề nghiệp” 24
1.2.4 Một số vấn đề lí luận về lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy 26
1.2.4.1 Định nghĩa “cảnh sát phòng cháy và chữa cháy” và cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy 26
1.2.4.2 Chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động và tính chất cơ bản của lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy 28
1.2.5 Lý luận về “Tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy” 31
Trang 62
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Tổ chức nghiên cứu 34
2.1.1 Tổ chức nghiên cứu về mặt lý luận 34
2.1.2 Tổ chức nghiên cứu về mặt thực tiễn 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 40
2.2.2 Phương pháp sử dụng thang đo 40
2.2.3.Phương pháp phỏng vấn sâu 40
2.2.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 40
2.2.5 Phương pháp phân tích chân dung tâm lý 41
2.2.6 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học thông qua phần mềm SPSS 13.0 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Thực trạng tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà nội 42
3.1.1 Tự ý thức nghề nghiệp nói chung của cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội 42
3.1.2 Tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội thể hiện trên từng thành tố cấu thành 46
3.1.2.1 Tự ý thức về tổ chức kỉ luật của cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội 46
3.1.1.2 Tự ý thức về hành vi nghề nghiệp và mối quan hệ với đồng nghiệp trong thường trực và chiến đấu của cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội 51
3.1.2.3 Tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp của cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội 57
Trang 73
3.1.3 Mối quan hệ giữa các mặt tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ
cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội 61
3.2 Mối liên hệ giữa yếu tố chức vụ và thời gian công tác với tự ý thức nghề nghiệp của nhóm cán bộ và chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy Hà Nội 62
3.2.1 Theo yếu tố chức vụ 62
3.2.2 Theo yếu tố thời gian công tác 64
4 Phân tích chân dung tâm lý 65
4.1 Trường hợp 1 65
4.2 Trường hợp 2 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC
Trang 84
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy
Hình 3.1: Mức độ tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
Hình 3.2: Mức độ tự ý thức về kỉ luật tổ chức của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
Hình 3.3: So sánh mức độ tự ý thức nghề nghiệp và mức độ tự ý thức về kỉ luật tổ chức của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội Hình 3.4: Mức độ tự ý thức về hành vi nghề nghiệp và mối quan hệ với đồng nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
Hình 3.5: Mức độ tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
Trang 95
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Cách quy gán điểm số cho các mức độ tự ý thức nghề nghiệp
Bảng 3.1: Mức độ tự ý thức nghề nghiệp nói chung của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
Bảng 3.2: Mức độ tự ý thức về kỉ luật tổ chức của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
Bảng 3.3: Mức độ tự ý thức về hành vi nghề nghiệp và mối quan hệ với đồng nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy Hà Nội
Bảng 3.4: Mức độ tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp của cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
Bảng 3.5: So sánh mức độ tự ý thức nghề nghiệp và các mặt của tự ý thức nghề nghiệp ở 2 nhóm cán bộ và chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy
Hà Nội
Bảng 3.6: So sánh mức độ tự ý thức nghề nghiệp và các mặt của tự ý thức nghề nghiệp theo thời gian công tác của cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy
và chữa cháy Hà Nội
Trang 10về trật tự và an toàn xã hội, chỉ riêng 10 tháng đầu năm 2013 đã có 1617 vụ cháy xảy ra trên cả nước, làm 60 người chết, 154 người bị thương và gây thiệt hại về tài sản đến 1222,39 tỷ đồng Trong số đó, có rất nhiều vụ cháy đã được
xử lý kịp thời, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản cho người dân nhưng bên cạnh đó, vẫn còn có không ít vụ cháy nổ chưa được xử lý kịp thời, thậm chí
có những vụ cháy mà lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy đã tỏ ra bất lực trước diễn biến của tình hình thực tế
Bên cạnh đó, về mặt lí luận, theo sự hiểu biết của chúng tôi, lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy chưa phải là đối tượng dành được nhiều sự quan tâm nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học trong khi thực tiễn cuộc sống ngày càng khẳng định vị thế, vai trò của lực lượng này trong việc bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản con người Một trong nhiều nguyên nhân có lẽ do đây là một lực lượng đặc thù, là một bộ phận của lực lượng vũ trang, được quản lý và đào tạo tập trung với những quy định chặt chẽ về các vấn đề bí mật nghiệp vụ nên gây không ít khó khăn cho quá trình tiếp cận nghiên cứu Bên
Trang 117
cạnh đó, hệ thống lý luận về tự ý thức nói chung và tự ý thức nghề nghiệp nói riêng ở nước ta nhìn chung cũng chưa được đào sâu nghiên cứu Theo chúng tôi được biết thì mới chỉ có một số công trình nghiên cứu bước đầu tiếp cận vấn đề này và đối tượng nghiên cứu chủ yếu chỉ là đối tượng sinh viên
Với những vấn đề đặt ra về cả lí luận và thực tiễn như trên, chúng tôi
tiến hành tìm hiểu “Tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội” Chúng tôi hy vọng đề tài sẽ góp phần bổ
sung về mặt lý luận mảng chủ đề về tự ý thức, đặc biệt là tự ý thức nghề nghiệp trong tâm lý học cũng như góp phần làm sáng tỏ hơn những nhìn nhận, đánh giá của cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy về các hoạt động nghề nghiệp của họ trong thực tiễn công việc, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn Hà Nội
2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng mức độ tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, hướng tới tính an toàn và hiệu quả ngày càng cao trong công việc
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
- Tổng quan các nghiên cứu về tự ý thức và tự ý thức nghề nghiệp của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam
- Xác định hệ thống khái niệm công cụ cho đề tài như: tự ý thức, tự ý thức
Trang 128
nghề nghiệp, tự ý thức nghề nghiệp của cảnh sát phòng cháy chữa cháy
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
- Xác định thực trạng mức độ tự ý thức nghề nghiệp nói chung và tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy Hà Nội thể hiện trong các thành tố cấu thành
- Tìm hiểu sự khác biệt về mức độ tự ý thức nghề nghiệp của đối tượng cán
bộ và chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy ở yếu tố chức vụ và thời gian công tác
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn Hà Nôi
5 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài gồm 140 cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy trên địa bàn Hà Nội, trong đó bao gồm:
+ 70 cán bộ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn Hà Nội
Đây là nhóm khách thể đã được đào tạo trong các nhà trường về nghiệp vụ ngành, là cán bộ thuộc biên chế của lực lượng vũ trang
+ 70 chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn Hà Nội
Đây là nhóm đối tượng chưa được đào tạo chính qui về nghiệp vụ, chỉ được tham gia tập huấn ngắn hạn (3 tháng), tham gia phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang
6 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
+ Sở cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
+ Phòng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy huyện Thanh Trì
+ Phòng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy quận Thanh Xuân
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà
Trang 139
Nội trên 3 bình diện: tự ý thức về kỉ luật tổ chức, tự ý thức về hành vi nghề nghiệp và mối quan hệ với đồng nghiệp, tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp
7 Giả thuyết nghiên cứu
Đa số cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội còn có
tự ý thức nghề nghiệp ở mức độ trung bình
Mức độ tự ý thức này có sự khác biệt giữa nhóm cán bộ và nhóm chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy Sự khác biệt này thể hiện rõ nhất theo chức vụ
và thời gian công tác
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp sử dụng thang đo
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp phân tích chân dung tâm lý
- Phương pháp xử lý số liệu bằng SPSS
Trang 1410
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỰ Ý THỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SỸ CẢNH SÁT PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp trên thế giới
Tự ý thức nghề nghiệp là vấn đề được quan tâm nghiên cứu khá sớm ở Liên Xô và các nước Đông Âu từ những năm đầu thế kỷ 19 và trong tâm lý học nói chung ở những năm đầu thế kỷ 20 Các nhà Tâm lý học đã có nhiều quan điểm lý luận, công trình nghiên cứu về vấn đề này song đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất nào về cách định nghĩa tự ý thức Xpirkip cho rằng: một cách chung nhất thì có thể hiểu tự ý thức là sự ý thức và đánh giá của con người về hành động của mình và kết quả của hành động đó, về thái độ, tình cảm, phong cách đạo đức, hứng thú và động cơ của hành vi, là sự đánh giá tổng thể bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống (Xpirkip, 1972, dẫn theo Phạm Thành Nghị)
Chesnokova (1977) xem xét tự ý thức như một quá trình phức tạp, nhiều bậc, trên cơ sở các quá trình tâm lý (quá trình nhận thức, cảm xúc và ý chí) Do vậy, cấu trúc tự ý thức có các thành tố: tự nhận thức, thái độ xúc cảm, giá trị và tự điều chỉnh Xtolin (1985) đưa ra một cấu trúc tự ý thức nhiều bậc có thể xem xét theo chiều dọc và chiều ngang Theo chiều dọc, một cấu trúc nhiều bậc được xác định ở ba cấp độ tích cực của con người như một
cơ thể, một cá thể, một nhân cách Theo chiều ngang, tự ý thức được phân biệt bởi tri thức về bản thân và thái độ đối với bản thân
Các tác giả Petrulite (1985), Mironova (1985), Coodiev (1980) lại xem xét tự ý thức theo cấu trúc dưới các dạng biểu hiện “cái tôi quá khứ”, “cái tôi hiện tại” và cái tôi lý tưởng” Các tác giả này đồng nhất các quá trình tâm lý với quá trình tự ý thức Tuy nhiên, tự nhận thức khác với tự ý thức ở chỗ tự
Trang 1511
nhận thức là một quá trình hướng vào bản thân, nhận thức những thông tin về chính mình, có nghĩa là tự nhận thức phải được xem là cơ chế hình thành tự ý thức chứ không phải là thành tố của tự ý thức Tự điều chỉnh hành vi cũng không thể coi là thành tố của tự ý thức vì nó thực hiện chức năng điều chỉnh của tự ý thức trong hành vi và hoạt động
Daniel Goleman (2004) khi nghiên cứu về vấn đề trí tuệ cảm xúc cũng
có đề cập đến tự ý thức về cảm xúc của bản thân qua một số nội dung: năng lực hiểu biết về cảm xúc của bản thân và của người khác, năng lực chế ngự cảm xúc và khả năng đồng cảm với người khác Ông cho rằng “tự ý thức về bản thân có nghĩa là sự chú ý nội quan (hướng vào bên trong), tự động phản ứng với kinh nghiệm đã qua của mình ” [17, tr.67] Ý thức về bản thân được cho rằng xuất phát từ sự kích thích của vỏ não mới, đặc biệt là những vùng của ngôn ngữ phụ trách việc nhận biết và gọi tên những cảm xúc được đưa ra Trong ý thức hướng nội, tinh thần thường quan sát và xem xét chính kinh nghiệm của mình, bao gồm cả các xúc cảm Điều này có nghĩa là khi ý thức
về bản thân thì chúng ta đồng thời có ý thức về tâm trạng tức thời và cả về những ý nghĩ có liên quan đến tâm trạng ấy Ý thức về bản thân có ảnh hưởng mạnh hơn với những cảm xúc thù địch và gây hấn Đây được coi là một trong những nghiên cứu mới về cảm xúc đầu thế kỉ 20, trong đó tác giả thừa nhận
và phân tích các mức độ tự ý thức khác nhau trong các xúc cảm của con người Tự ý thức trong lĩnh vực cảm xúc được thể hiện rõ nhất qua năng lực nhận biết cảm xúc của bản thân, năng lực chế ngự chúng trong các tình huống
và thay đổi chúng theo ý muốn chủ quan của chủ thể Khi cảm xúc được phát hiện ra đóng vai trò ngày càng to lớn trong đời sống của con người thì tự ý thức về cảm xúc cũng là nội dung được nhiều nhà tâm lý học xã hội hiện đại quan tâm và nghiên cứu
Trang 16lý tốt, có ý thức về giới hạn của bản thân và nói chung có quan niệm tích cực
về cuộc sống Tính cách này giúp họ chế ngự các xúc cảm
- Những người để xúc cảm của mình nhấn chìm Những người này thường nghĩ họ không thể thoát khỏi những cảm xúc của mình, như thể bị chúng chỉ huy Họ thất thường và không hề có ý thức về tình cảm của mình, đến mức bị ngập chìm vào đó và bỏ mất mọi cảm giác về không gian Do đó
họ chẳng làm gì nhiều để thoát khỏi tâm trạng xấu và thường có cảm giác là không thể kiểm soát được đời sống tình cảm của mình
- Những người chấp nhận các thiên hướng tinh thần của mình Họ là những người vừa có ý thức về những gì mình cảm nhận được vừa chẳng làm
gì để điều chỉnh lại Dường như nhóm người này chia thành hai: một bên là những người có tâm trạng tốt do đó ít muốn thay đổi tâm trạng; một bên là những người vừa có ý thức về sự biến đổi tâm trạng của mình và chấp nhận chúng, lại có khuynh hướng buông xuôi và chẳng làm gì cả [17, tr,68-69]
Khác với tự ý thức nói chung, tự ý thức nghề nghiệp có những đặc trưng riêng Savir (1981) định nghĩa tự ý thức nghề nghiệp như một hoạt động lựa chọn của tự ý thức, tuân thủ nhiệm vụ tự xác định nghề nghiệp Hai nhà tâm lý học Bungari Ivanôva và Coxex (1978) coi tự ý thức nghề nghiệp như
sự nhận thức và đánh giá những phẩm chất nghề nghiệp và thái độ của mình đối với nghề nghiệp
Ở Bungari, tự ý thức nghề nghiệp là một trong những vấn đề sớm được quan tâm Những qui tắc về đạo đức nghề nghiệp được Hội liên minh truyền
Trang 1713
thông Bungari thông qua từ đầu những năm 90 áp dụng cho các nhà báo và những người làm việc trong các lĩnh vực tuyền thông Đây chỉ là một trong rất nhiều các biện pháp nhằm nâng cao ý thức nghề nghiệp của những người làm truyền thông thông qua các qui định được coi là những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp Qua các nghiên cứu được tiến hành, qua những tranh luận và diễn biến thực tế trong một thời gian khá dài tại Bungari, người ta đưa ra kết luận như sau: “ ý thức tự giác nghề nghiệp và cơ chế tự điều chỉnh có hiệu
quả mạnh hơn các qui định, những áp lực từ bên ngoài” [24] Như vậy là ngay
từ đầu thế kỉ 20, vai trò của tự ý thức nghề nghiệp trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau đã được khẳng định bằng cả lí luận và thực tiễn
Có thể thấy rằng điểm chung nhất trong những quan điểm trên là tự ý thức nghề nghiệp có liên quan trực tiếp tới ý thức về bản thân của con người trong hoạt động nghề nghiệp, tức là nội dung của tự ý thức nghề nghiệp có quan hệ với hoạt động nghề nghiệp và bản thân con người là chủ thể của hoạt động đó
1.1.2 Các nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp ở Việt Nam
Theo sự hiểu biết của chúng tôi, ở Việt Nam, tự ý thức nói chung và tự ý thức nghề nghiệp nói riêng không còn là vấn đề mới mẻ, nhưng lại chưa được đào sâu nghiên cứu, nhất là vấn đề tự ý thức nghề nghiệp thì dường như các công trình nghiên cứu lại càng ít ỏi.Vì vậy, chúng tôi sẽ điểm qua cả những nghiên cứu về vấn đề tự ý thức và vấn đề tự ý thức nghề nghiệp để có thể có được góc nhìn toàn diện hơn về vấn đề này
Đề tài “Tìm hiểu đặc điểm tự ý thức của thanh niên tái nghiện ma túy trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Nguyễn Hữu Toàn (2004) đã có những tìm hiểu về khái niệm và phạm trù tự ý thức dưới góc độ triết học và góc độ tâm
lý học Tác giả cho rằng: quan điểm về bản chất, nguồn gốc phát sinh, phát triển và vai trò của tự ý thức với tư cách một phạm trù triết học là cơ sở
Trang 1814
phương pháp luận cho việc nghiên cứu tự ý thức trên phương diện tâm lý học Vấn đề tự ý thức được xem xét dưới góc độ của Chủ nghĩa hành vi và dưới góc độ của Tâm lý học mác xít Các tác giả được nhắc đến chủ yếu là các nhà tâm lý học Liên Xô với những nghiên cứu được tiến hành từ những năm đầu thế kỉ 20 Kế thừa một cách có chọn lọc các quan điểm ấy, tác giả định nghĩa
“Tự ý thức hay ý thức bản ngã (ý thức về cái Tôi) là hiện tượng tâm lý mà ở
đó con người có khả năng nhận thức, tỏ thái độ, điều khiển và điều chỉnh bản thân mình theo những quy tắc hành vi, những chuẩn mực xã hội đã được mình thừa nhận và lựa chọn” [7, tr.37]
Từ định nghĩa này, nội dung của tự ý thức thường được biểu hiện ở những hành vi sau:
- Ban đầu cá nhân căn cứ vào các quy tắc hành vi, những chuẩn mực xã hội đã được mình thừa nhận và lựa chọn, cá nhân tiến hành phân tích, đánh giá chính bản thân mình trong các mối quan hệ xã hội mà họ đã tham gia
- Trên cơ sở tự phân tích, đánh giá về mình, cá nhân tự rút ra những kết luận về bản thân, tự tỏ thái độ với chính mình (có thể hài lòng với chính mình, cảm thấy tự hào hay hổ thẹn về chính mình )
- Cá nhân tự điều khiển, điều chỉnh kế hoạch đường đời của mình cho ngày càng phù hợp với những quy tắc hành vi, những chuẩn mực xã hội mà mình dã thừa nhận và lựa chọn [7, tr.50]
Bàn về sự hình thành và phát triển tự ý thức, có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hầu như các tác giả đều thống nhất rằng tự ý thức không có ngay
từ khi đứa trẻ mới sinh ra, cũng không do yếu tố bẩm sinh di truyền mà là kết quả của một quá trình phát triển Cơ chế hình thành tự ý thức diễn ra theo một quy trình từ sự nhận thức đơn giản về bản thân dẫn tới sự nhận thức bản thân ngày càng sâu sắc hơn Từ sự nhận thức sâu sắc sau đó gắn liền với sự tự đánh giá, từ những mặt bên ngoài của nhân cách tới những phẩm chất tâm lý
Trang 19- Ý thức về đạo đức nghề nghiệp của bản thân Yếu tố đạo đức không
chỉ có mặt trong một lĩnh vực riêng lẻ của tồn tại xã hội, nó nằm trong bất kì hoạt động nào của con người, nó thúc đẩy hoặc kìm hãm việc thực hiện chức năng và vai trò xã hội trong một tập thể nhất định Thái độ nhân đạo đối với người lao động, sự quan tâm tới việc nâng cao năng suất lao động nghề nghiệp…là những biểu hiện cụ thể của đạo đức nghề nghiệp
- Ý thức về hành vi nghề nghiệp của bản thân Bản chất ý thức hành vi
nghề nghiệp là ở chỗ nhận thức những chuẩn mực đã được xã hội qui định, phản ánh chúng vào hành vi nghề nghiệp của mình Ví dụ: thế nào là nên, không nên Ý thức hành vi nghề nghiệp biểu hiện ở sự chọn lựa những phương pháp, phương tiện thích hợp để thực hiện hoạt động cho phù hợp với chuẩn mực xã hội
- Ý thức về bản thân như là chủ thể của hoạt động nghề nghiệp với ý
nghĩa là ý thức về trách nhiệm và vai trò của người lao động trong xác định nhiệm vụ, hình thành mục đích, lựa chọn phương tiện thực hiện hoạt động, tạo ra sản phẩm và tự đánh giá những sản phẩm đó
- Đánh giá những phẩm chất nghề nghiệp quan trọng của bản thân Tự
ý thức nghề nghiệp chứa đựng những biểu hiện về phẩm chất và thuộc tính cần thiết để thực hiện hoạt động có kết quả, đó chính là những phẩm chất nghề nghiệp quan trọng Đối với mỗi nghề nghiệp, những phẩm chất này là rất khác nhau vì mỗi nghề lại đòi hỏi những phẩm chất đặc thù nhất định Mức độ nhận thức khác nhau sẽ gây ảnh hưởng rõ nét đến việc lựa chọn nhiệm vụ, đến quá trình thực hiện hoạt động, đến niềm tin của bản thân
Trang 2016
- Ý thức về các mối quan hệ của bản thân trong môi trường nghề nghiệp Khi bước vào hoạt động ở một nhóm nghề nhất định, con người sẽ có
điều kiện phát triển những mối quan hệ và hình thành sự tự đánh giá các quan
hệ đó Nhờ vậy, ở họ sẽ hình thành thái độ đối với bản thân như một nhà chuyên môn Nội dung của thành tố này bao gồm những mối quan hệ sau đây: quan hệ với đồng nghiệp, với chính bản thân như một cán bộ chuyên môn, quan hệ của người khác đối với bản thân và quan hệ đối với hoạt động nghề nghiệp của mình
- Ý thức về sự phát triển nghề nghiệp của bản thân trong mối quan hệ thời gian Ở mỗi giai đoạn của cuộc sống nói chung và nghề nghiệp nói riêng,
thông qua tự ý thức nghề nghiệp tồn tại mối liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Tự ý thức nghề nghiệp phản ánh sự phát triển của cá nhân như một người cán bộ chuyên môn theo những dấu hiệu tiến bộ của tay nghề, sự trưởng thành trong nghề nghiệp, sự tăng cường uy tín, củng cố địa vị xã hội
Để trở thành một nhà chuyên môn phát triển tốt như một chủ thể của hoạt động nghề nghiệp, con người cần phải đạt tới sự tự ý thức nghề nghiệp nhất định vì đó là phương tiện tự điều chỉnh hoạt động nghề nghiệp Để rút ngắn thời gian thích ứng với công việc và nâng cao hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ thì cần hình thành tự ý thức nghề nghiệp ngay từ khi lựa chọn nghề và trong quá trình đào tạo nghề
Có thể nói, đây là một nghiên cứu có tính ứng dụng cao, là cơ sở quan trọng để phát triển các nghiên cứu khác về tự ý thức nói chung và tự ý thức nghề nghiệp nói riêng cho các nhà nghiên cứu tâm lý học trong nước hiện nay mà đề tài nghiên cứu của chúng tôi là một ví dụ
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy
Theo hiểu biết của chúng tôi, trong lực lượng cảnh sát phòng cháy và
Trang 2117
chữa cháy nói chung mà đơn vị đào tạo chính quy lớn là Đại học Phòng cháy chữa cháy hiện có nhiều đề tài và các công trình nghiên cứu khoa học nhưng các vấn đề về tâm lý và vai trò của nó dường như đang còn bị “bỏ ngỏ” Trong quá trình tìm tòi và nghiên cứu, chúng tôi chưa tiếp cận được công trình nghiên cứu nào trong lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có đề cập đến tự ý thức nghề nghiệp Các vấn đề dành được nhiều sự quan tâm trong ngành thường là về chuyên môn nghiệp vụ, chính trị tư tưởng của người chiến sỹ công an nhân dân
Với các nghiên cứu ngoài ngành, chúng tôi ghi nhận có 1 số nghiên cứu bước đầu tìm hiểu các khía cạnh tâm lý của lực lượng phòng cháy và chữa cháy như: “Thái độ của sinh viên với nghề Phòng cháy chữa cháy”, Nguyễn Thị Liên, Luận văn Thạc sỹ, 2004; “Nghiên cứu bầu không khí tâm lý tập thể của trường đại học Phòng cháy chữa cháy”, Nguyễn Thị Hải Vân, 2006
Như vậy rõ ràng từ việc tìm kiếm, điểm qua các công trình nghiên cứu
về lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cho thấy việc nghiên cứu về
tự ý thức nghề nghiệp của lực lượng phòng cháy và chữa cháy là vấn đề mới, chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều trong khi thực tế cuộc sống đang khẳng định vai trò quan trọng của lực lượng này trong việc bảo vệ an toàn tài sản và tính mạng con người Việc nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp của lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy không chỉ phần bổ sung thêm về mặt lí luận mà còn nhằm giúp cho đối tượng này thực sự phát huy tốt nhất khả năng, vai trò của mình trong thực hiện nhiệm vụ
1.2 Một số vấn đề lí luận về tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy
1.2.1 Một số vấn đề lí luận về “tự ý thức”
Tự ý thức là một trong những vấn đề được đề cập tới trong không ít các công trình lí luận của Tâm lý học ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây
Trang 2218
Một số nhà tâm lý học trước đây cho rằng: khó có thể định nghĩa được tự ý thức Ellsworth cho rằng tự ý thức là những cảm nhận về bản thân và nó là một trong những yếu tố nền tảng mà không ai có thể phân tích thỏa đáng nhưng mọi người đều nhận ra nhờ kinh nghiệm của bản thân Ông cho rằng không thể định nghĩa được tự ý thức nhưng chúng ta lại nhận biết được nó Quan điểm khác lại cho rằng
“tự ý thức là chức năng của cơ thể” Quan điểm này thừa nhận hoàn toàn yếu tố bẩm sinh, di truyền, cho rằng tự ý thức mang tính tiền định, người vừa sinh ra đã
có thể có tự ý thức; không thừa nhận vai trò của cá nhân, vai trò của xã hội trong
và vai trò của cá nhân
Các nhà tâm lý học macxit cũng có những định nghĩa và kiến giải khác nhau xung quanh vấn đề tự ý thức:
Từ điển Tâm lý học do A.V Peetrovski và M.G Iarosevski chủ biên [tr 475] xem xét tự ý thức như “quan niệm về cái tôi”, “hình ảnh cái tôi” của cá nhân Đó là “hệ thống các biểu tượng của con người về bản thân tương đối ổn định, ít nhiều được ý thức, được trải nghiệm như là một hệ thống độc nhất vô nhị mà trên cơ sở của nó, cá nhân xây dựng sự tác động qua lại của mình với những người khác, với thế giới bên ngoài”
Từ điển của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô [tập 4, tr 23], tự ý thức được định nghĩa là “sự hiểu biết đầy đủ về bản thân mình, về giá trị và vai trò của bản thân mình trong cuộc sống xã hội”
Trang 2319
Trên phương diện hình thành, X.L Rubinstein cho rằng “Tự ý thức là sản phẩm tương đối muộn của ý thức, tự ý thức đòi hỏi đứa trẻ phát triển thành chủ thể tách mình khỏi môi trường của nó một các có ý thức” [21].Đứa trẻ khi mới sinh ra chưa thể có ý thức, lại càng chưa thể có tự ý thức Trong quá trình phát triển tâm lý của trẻ, dưới ảnh hưởng của môi trường sống, các yếu tố xã hội mà dần dần các mối quan hệ của trẻ được mở rộng, góp phần vào sự hình thành và phát triển tâm lý của trẻ từ đó giúp trẻ làm chủ hành vi của mình Dần dần, trong quá trình tương tác với thế giới xung quanh, trẻ trở thành một nhân cách, một thức thể xã hội Rubinstein nhấn mạnh nguồn gốc
xã hội của tự ý thức, cho rằng: nhận thức và cảm xúc về bản thân không phải cái gì ẩn nấp ở thế giới bên trong mà là đặt mối quan hệ của con người với thế giới bên ngoài
Trên phương diện chức năng, nhiều tác giả cho rằng tự ý thức là yếu tố bên trong điều khiển, điều chỉnh hành vi, thái độ của con người A.V Petropski quan niệm “tự ý thức là một cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm: thứ nhất là ý thức về tính đồng nhất của mình, thứ hai là ý thức về cái tôi của bản thân như là cơ sơ tích cực của hoạt động, thứ ba là ý thức về những thuộc tính
và phẩm chất tâm lý của mình và thứ tư là một hệ thống xác định những ý kiến tự đánh giá về mặt đạo đức xã hội” [22, tr 9] Tất cả các yếu tố này theo ông có liên quan về mặt chức năng và nguồn gốc nhưng chúng lại không được hình thành cùng một lúc Những mần mống và tính thống nhất của ý thức đã được bộc lộ vào lúc 3 tuổi khi đứa trẻ biết sử dụng các đại từ nhân xưng Sự ý thức được những phẩm chất của mình và tự đánh giá có được một ý nghĩa to lớn nhất trong lứa tuổi thiếu niên và thanh niên
V.G Afaraxep coi tự ý thức không phải là tổng số những đặc trưng riêng biệt của cá nhân mà là một hình ảnh toàn vẹn thống nhất mặc dù còn chưa triệt tiêu được những mâu thuẫn bên trong, tự ý thức là cái tâm thế đối
Trang 2420
với bản thân mình Tâm thế ấy chứa đựng ở nó yếu tố nhận thức hợp lí (quan niệm về những phẩm chất và bản chất của mình); yếu tố cảm xúc (lòng tự trọng và những tình cảm khác) và yếu tố đánh giá ý chí (sự tự đánh giá và quan hệ với bản thân)
Khi nhiên cứu về tự ý thức A.N Leonchiev nhấn mạnh cần phân biệt sự hiểu biết về bản thân và tự ý thức về mình Theo ông, từ rất nhỏ khi nhân cách chưa hình thành con người có thể đã có những biểu tượng về bản thân (hiểu biết về bản thân) Còn tự ý thức là kết quả, là sản phẩm sinh thành của một con người với tư cách là một nhân cách [13]
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2007) khẳng định tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, nó thường biểu hiện ở các mặt: cá nhân tự nhận thức
về bản thân mình từ hình thức bên ngoài đến tâm hồn bên trong, đến vị thế và các quan hệ xã hội; có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, tự đánh giá; tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác; có khả năng tự giáo dục hoàn thiện mình [8, tr 62]
Phạm Hoàng Gia (1982) trong bài “Ý thức và tự ý thức” tìm hiểu về tự
ý thức qua những biểu hiện và chức năng của nó: “Tự ý thức biểu hiện ra ở dấu hiệu tự nhận thức của mình (về bên ngoài, về nội dung tâm hồn, vị trí các quan hệ xã hội của mình ), có thái độ đối với mình (tự phê bình, tự đánh giá,
tự nhận định về đường đời của mình, chọn hình mẫu để bắt chước, có lý tưởng, có chí hướng) và có khả năng tự kiếm chế, thúc đẩy, tự kiểm tra ” [1]
Những quan điểm của các tác giả trên tuy chưa có sự hoàn toàn thống nhất xung quanh vấn đề tự ý thức nhưng một cách chung nhất có thể nói, các tác giả đều cho rằng tự ý thức là trình độ phát triển cao của ý thức, không có ngay từ khi sinh ra mà là sản phẩm của một quá trình với các hoạt động sống phong phú của cá nhân Khi nói đến tự ý thức là nói đến việc con người tự tách mình ra khỏi chính mình để so sánh, nhìn nhận, đánh giá và tỏ thái độ với
Trang 2521
bản thân mình; từ đó dẫn đến quá trình điều khiển, điều chỉnh chỉnh mình theo các chuẩn mực xã hội mà bản thân họ thừa nhận và lựa chọn Do đó tự ý thức hình thành và phát triển tùy theo mức độ nhận thức thế giới khách quan
và nhận thức thế giới chủ quan của mỗi cá nhân
Trong khi tự nhận thức về mình, chúng ta thường hay có sự so sánh với người khác, từ đó nhận thấy trong mình cái mà mình nhận thấy ở người khác
và bằng cách đó đi đến ý thức về tính chất của hành vi và hành động của mình Nói cách khác thông qua nhận thức thế giới, so sánh mình với người khác, với xã hội, con người đi đến chỗ nhận thức và hiểu rõ về mình, đi đến chỗ tự nhận thức, đánh giá và quản lý mình Tự ý thức, do đó, xuất hiện trong mối quan hệ thực tiễn của con người với xã hội trong sự hoạt động và giao tiếp với những người khác Tự ý thức giúp con người làm chủ suy nghĩ và hành vi của mình bởi chúng ta có thể tách mình ra khỏi thế giới, ra khỏi chính bản thân mình
Tóm lại một cách ngắn gọn nhất, chúng tôi hiểu tự ý thức là trình độ phát triển cao của ý thức mà ở đó con người có khả năng tách mình ra khỏi thế giới, ra khỏi bản thân để nhìn nhận và đánh giá về chính bản thân mình, điểu khiển và điều chỉnh hành vi của mình theo chuẩn mực mong muốn
1.2.2 Một số vấn đề lí luận về “nghề nghiệp”
Nghề là hoạt động đặc thù của con người, nó được hình thành và phát triển cũng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người Nghề xuất hiện bắt đầu từ khi có sự phân công lao động xã hội và phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật
Khi nói đến nghề nghiệp, người ta nói đến một trình độ chuyên môn nhất định (thấp hay cao) được lĩnh hội trong hệ thống đào tạo và giáo dục của một xã hội hay được truyền lại theo kinh nghiệm của gia đình, người thân Do
đó mỗi xã hội, mỗi thời kì khác nhau tồn tại những nghề nghiệp khác nhau và
Trang 2622
tương ứng với những trình độ chuyên môn nhất định Trong xã hội nguyên thủy, trình độ sản xuất thấp kém, con người sử dụng những công cụ thô sơ để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu tối thiểu của bản thân: ăn, mặc, ở…Ở thời này kì chủ yếu chưa có sự dư thừa và trao đổi sản phẩm, chưa có sự phân công lao động rõ ràng nên chưa hình thành các nghề Khi nền sản xuất xã hội phát triển, việc chế tạo và sử dụng công cụ lao động làm tăng năng suất lao động, tạo ra sự chuyên môn hóa công việc, dẫn tới phân công lao động xã hội
và tạo ra các nghề nghiệp khác nhau
Theo quan điểm Macxit: nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử Phân công lao động và sản xuất hàng hóa là những điều kiện cần và bền vững cho sự hình thành các nghề Điểm xất phát và cơ sở để xuất hiện các nghề là lao động Lao động là cái sáng tạo ra con người, lao động là điều kiện lâu dài cho sự tồn tại của xã hội loài người, là đặc điểm quyết định cơ bản nhất để phân biệt con người và động vật Chính vì vậy lao động là hình thức sơ khai, nguồn gốc của hoạt động nghề nghiệp và là tiền đề cơ bản làm xuất hiện nghề
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động trong xã hội Nghề nghiệp là cái nghề để sinh sống và để phục vụ xã hội” [5]
Theo E.A.Klimov, nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo ra khả năng cho con người
sử dụng sức lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển
Chúng ta cần lưu ý phân biệt khái niệm “nghề nghiệp” với khái niệm
“chuyên môn” Theo các tác giả Phùng Đinh Mẫn, Phạm Minh Tiến và Trương Thanh Thúy, khái niệm chuyên môn được hiểu là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp, trong đó con người bằng sức mạnh thể chất và tinh thần
Trang 27Nghề của một người có thể được đào tạo bài bản hoặc không được đào tạo bài bản Người làm nghề được đào tạo có đặc trưng là người làm nghề đó phải có trình độ, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo giúp họ làm ra các sản phẩm để trao đổi trên thị trường, thu nhập từ việc làm là nguồn sống chính của họ Vì thế mà nghề trở thành đối tượng hoạt động cơ bản, lâu dài của mỗi người, nó là cơ sở để hình thành nên lý tưởng nghề, từ đó hình thành nhân cách nghề…Để đào tạo nghề hiệu quả, người học phải có trình độ học vấn, sức khỏe và những đặc điểm tâm
lý phù hợp với nghề Sau quá trình đào tạo, người học phải đạt các tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề theo mục tiêu và những đòi hỏi của xã hội
Có một khái niệm nữa cũng cần phân biệt với nghề nghiệp là “việc làm” Việc làm cũng có thể được hiểu là những hành động cụ thể được trả công để sinh sống Nghề được coi là việc làm nhưng không phải việc làm nào cũng là nghề Những việc làm nhất thời, không ổn định, do con người bỏ công sức lao động và được trả công để sinh sống thì không phải là nghề nghiệp
Qua sự phân tích trên, một cách chung nhất có thể hiểu: nghề nghiệp là thuật ngữ chỉ một hình thức lao động trong xã hội theo sự phân công lao động
mà con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần cho xã hội Con người thông qua lao động nghề nghiệp để duy
trì, phát triển cuộc sống cá nhân và góp phần xây dựng xã hội
Trang 2824
Hoạt động nghề nghiệp là hoạt động lao động đặc trưng của con người,
là sự nỗ lực thể lực, tinh thần và tình cảm định hướng cho việc sản xuất sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội, đồng thời đáp ứng nhu cầu bộc lộ, khẳng định và phát triển năng lực con người ở mỗi cá nhân
Trong khái niệm nghề nghiệp cần lưu ý một số nội dung:
- Nghề là một hoạt động có chủ đích, có kế hoạch của cuộc đời mỗi con người, nghề mà con người thực hiện được tạo ra từ nhu cầu xã hội và cá nhân phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội Xã hội càng phát triển, sự phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì những nghề mới xuất hiện càng nhiều
- Mỗi cá nhân tùy thuộc vào trình độ, sức khỏe, phẩm chất và năng lực của mình để thực hiện nghề phù hợp với sự phân công lao động xã hội
- Khi tham gia hoạt động nghề nghiệp, mỗi người sẽ tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần phục vụ nhu cầu của bản thân và xã hội theo yêu cầu chung của xã hội
1.2.3 Lý luận về “tự ý thức nghề nghiệp”
Khác với tự ý thức nói chung, tự ý thức nghề nghiệp có những đặc trưng riêng Nếu như trong tự ý thức con người nhận thức mình như một nhân cách đóng nhiều vai trò khác nhau trong các tình huống khác nhau của cuộc sống nói chung thì nội dung tự ý thức nghề nghiệp có liên quan trước hết đến hoạt động nghề nghiệp
Tự ý thức nghề nghiệp liên quan trực tiếp tới ý thức của bản thân con người trong hoạt động nghề nghiệp, tức là tự ý thức nghề nghiệp có quan hệ với hoạt động nghề nghiệp và bản thân con người như là chủ thể của hoạt động đó Nếu tự ý thức hình thành trong hoạt động sống và giao tiếp với những người xung quanh và là kết quả của nhận thức bản thân, hành động, tình cảm, suy nghĩ của mình thì tự ý thức nghề nghiệp là sự phản chiếu tất cả những thành tố cấu trúc của tự ý thức lên hoạt động nghề nghiệp Một cách
Trang 2925
chung nhất, có thể coi tự ý thức nghề nghiệp là trình độ phát triển cao của ý thức nghề nghiệp mà ở đó các cá nhân tham gia với tư cách là chủ thể của hoạt động nghề nghiệp, có khả năng nhận thức và bày tỏ thái độ cũng như tự điều khiển, điều chỉnh các hành vi của mình trong hoạt động nghề nghiệp theo các quy định, nguyên tắc của nghề nhằm duy trì, phát triển cuộc sống cá nhân và góp phần xây dựng xã hội.
Với cách hiểu về tự ý thức nghề nghiệp như trên và dựa trên sự thống nhất của nhiều quan điểm có thể xem xét những thành tố của tự ý thức nghề nghiệp bao gồm:
- Ý thức về đạo đức nghề nghiệp của bản thân
- Ý thức về hành vi nghề nghiệp của bản thân
- Ý thức về bản thân như là chủ thể của hoạt động nghề nghiệp
- Đánh giá những phẩm chất nghề nghiệp quan trọng của bản thân
- Ý thức và đánh giá các mối quan hệ của bản thân trong môi trường nghề nghiệp
- Ý thức về sự phát triển của bản thân trong nghề nghiệp theo thời gian Đây là những thành tố cấu thành nên tự ý thức nghề nghiệp nói chung Tuy nhiên, chúng tôi ý thức được rằng mỗi môi trường nghề nghiệp cũng như mỗi nhóm khách thể có tính đặc thù riêng, do đó các yếu tố này cũng sẽ có những biến đổi nhất định Nói cách khác, các thành tố của tự ý thức nghề nghiệp không phải là bất biến
Trong khuôn khổ nghiên cứu có hạn của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu tự
ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
ở 3 thành tố: tự ý thức về kỉ luật tổ chức, về hành vi nghề nghiệp và mối quan hệ với đồng nghiệp và tự ý thức đạo đức nghề nghiệp Yếu tổ kỉ luật tổ chức được bổ sung vào bởi đây là một trong những nét đặc thù của lực lượng vũ trang nói chung
và lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy nói riêng Yếu tố này chi phối rất lớn tới đời sống sinh hoạt, học tập rèn luyện cũng như các vấn đề liên quan đến
Trang 3026
nghề nghiệp khác của lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Mọi cá nhân sinh hoạt trong môi trường nghề nghiệp đều đỏi hỏi tuân thủ hệ thống những quy định đặc thù nghiêm ngặt và thường xuyên Đây cũng được coi là một trong những nét đặc thù của khách thể nghiên cứu của chúng tôi so với những đối tượng nghiên cứu khác
1.2.4 Một số vấn đề lí luận về lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy
1.2.4.1 Định nghĩa “cảnh sát phòng cháy và chữa cháy” và cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy
Điều 47, Luật Phòng cháy chữa cháy (Luật số 27/2001/QH10 do Chủ tịch nước ban hành) quy định rõ:
“1 Lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy là một bộ phận của lực lượng vũ trang, được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương do
Bộ trưởng bộ Công an quản lý và chỉ đạo
2 Nhà nước xây dựng lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy chính qui, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
3 Tổ chức bộ máy của lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy do chính phủ quy định.”
Như vậy có thể thấy cảnh sát phòng cháy và chữa cháy là bộ bộ phận của lực lượng vũ trang với nhiệm vụ chuyên trách là theo dõi, kiểm tra và xử
lý các vấn đề liên quan tới an toàn phòng chống cháy nổ, xử lí các sự cố về cháy nổ xảy ra, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại về người và của do các sự
cố cháy nổ gây ra Đội ngũ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy phải được huấn luyện và đào tạo chính quy hoặc qua các lớp nghiệp vụ chuyên trách
Lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy từ Trung ương đến địa phương được tổ chức theo sơ đồ sau:
Trang 3127
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy
CỤC CẢNH SÁT PCCC (Bộ CA)
SỞ CẢNH SÁT PCCC (Cấp Tỉnh, TP)
Phòng Tham mưu
Phòng Chính Trị
Phòng Hướng dẫn
PC
Phòng Hướng dẫn chữa cháy &
CNCC
Phòng Hậu cần &
Trang
bị KT
TT NC, Ưdụng
& đào tạo PCCC, CNCC
PHÒNG CẢNH SÁT PCCC (Cấp Quận, Huyện)
CÁC ĐỘI CHỮA CHÁY (Các trung tâm và khu vực)
Các tiểu đội chữa cháy
Các tiểu đội chữa cháy
Các tiểu đội chữa cháy
Phòng Tuyên truyền & xây
dựng phong trào toàn dân
Trang 3228
1.2.4.2 Chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động và tính chất cơ bản của lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy
Điều 48, Luật Phòng cháy chữa cháy quy định về chức năng nhiệm vụ
của lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy như sau:
“1 Tham mưu, đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy
2 Tổ chức tuyển truyền, phổ biến pháp luật; huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức về phòng cháy và chữa cháy; hướng dẫn xây dựng phong trào quần chúng tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy
3 Thực hiện các biện pháp phòng cháy và chữa cháy kịp thời khi có cháy xảy ra
4 Xây dựng lực lượng phòng cháy và chữa cháy, trang bị và quản lý phương tiện phòng cháy và chữa cháy
5 Tổ chức nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy
6 Kiểm tra, xử lí các hành vi vi phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy.”
Từ các khoản được quy định trong Luật, có thể khái quát về chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Cánh sát phòng cháy và chữa cháy như sau:
- Hướng dẫn, tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân về nhiệm vụ và cách thức phòng cháy, chữa cháy; hướng dẫn và kiểm tra các cơ sở trong việc mua sắm các trang thiết bị chữa cháy; kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các biện pháp và kỹ thuật phòng cháy trong cơ sở
- Có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ , kiến thức về phòng cháy – chữa cháy cho các cơ quan, đơn vị và trong nhân dân
Trang 3329
- Kiểm tra định kì về an toàn phòng cháy, chữa cháy đối với các cơ quan, doanh nghiệp và kiểm tra đột xuất với các đơn vị khi có dấu hiệu mất an toàn về phòng chống cháy nổ Với các cơ sở có nguy cơ cao về cháy nổ, lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có thẩm quyền chịu trách nhiệm thẩm duyệt và phê duyệt các phương án phòng chống cháy nổ
- Các đơn vị chữa cháy chuyên nghiệp thực hiện 2 chức năng chủ yếu: một là chiến đấu dập tắt kịp thời và có hiệu quả các đám cháy xảy ra trên địa bàn khu vực bảo vệ, hạn chế tốt đa thiệt hại về người và của; hai là chi viện kịp thời cho các đơn vị bạn khi có yêu cầu hỗ trợ hay phối hợp
* Nguyên tắc cơ bản của hoạt động phòng cháy và chữa cháy
- Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy
- Trong hoạt động phòng cháy và chữa cháy lấy phòng ngừa là chính, phải tích cực và chủ động phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy xảy ra và thiệt hại do cháy gây ra
- Phải luôn chuẩn bị sẵn sàng về lực lượng, phương tiện, trang thiết bị chiến đấu, phương án và các điều kiện khác để sẵn sàng ứng phó với các tình huống cháy xảy ra
- Mọi hoạt động phòng cháy và chữa cháy trước hết phải được thực hiện tại chỗ bởi những người trực tiếp làm việc tại cơ sở có cháy sẽ là những người phát hiện sớm nhất, ngăn chặn kịp thời nhất khi có cháy xảy ra, sử dụng sớm nhất các phương tiện, trang thiết bị tại chỗ để dập tắt đám cháy trong khả năng
* Tính chất cơ bản của hoạt động phòng cháy và chữa cháy
- Tính chất quần chúng
Nguyên nhân gây cháy chủ yếu do con người gây nên Trong lĩnh vực hoạt động của mình, con người có thể vô tình gây cháy, chính họ cũng là
Trang 3430
người phát hiện và dập tắt đám cháy Sự cố cháy gây thiệt hại trực tiếp, gián tiếp đến tính mạng, tài sản, sức khỏe của con người Khi đám cháy đã phát triển đến mức nhất định thì cần có nhiều người hợp sức mới có khả năng dập tắt Vì vậy, phòng cháy và chữa cháy là nhiệm vụ của toàn dân Điều 4 và Điều 5 của Luật phòng cháy và chữa cháy đã quy định rõ: “Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy”,
“Phòng cháy và chữa cháy là trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
- Tính chất pháp lý
Công tác phòng cháy và chữa cháy đã được luật hóa Mỗi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải nghiêm túc tuân thủ các quy định trong các văn bản pháp luật về phòng cháy và chữa cháy Trong hoạt động của mình, mỗi cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ: kiểm tra hoạt động phòng cháy của các cơ sở, thiết kế và thẩm duyệt các phương án phòng cháy, lập biên bản xử lý các vi phạm, trực tiếp triển khai các biện pháp chữa cháy tại hiện trường
- Tính chất khoa học kĩ thuật
Từ sự hình thành cháy, quá trình phát triển của đám cháy đến các biện pháp phòng cháy và chữa cháy đều mang tính khoa học Do đó muốn làm tốt việc phòng cháy và chữa cháy thì cần nắm được bản chất của sự cháy, của quá trình cháy, từ đó tìm ra các biện pháp, phương tiện để phòng cháy và chữa cháy có hiệu quả Mặt khác, để tổ chức và quản lý công tác phòng cháy
và chữa cháy trong phạm vi cả nước, tuyên truyền, vận động chúng nhân dân tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy; xây dựng các quy định mang tính pháp quy về phòng cháy và chữa cháy cũng đòi hỏi phải có kiến thức tổng hợp về khoa học kĩ thuật
Trang 3531
- Tính chất chiến đấu
Tính chiến đấu của công tác phòng cháy và chữa cháy thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng trong việc xây dựng và chỉnh đốn công tác phòng cháy ở các cơ quan, công sở Sự cố cháy không xảy ra thường xuyên nhưng đòi hỏi sự sẵn sàng, cơ động, chính xác của lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy nói riêng, của lực lượng phòng cháy nói chung Quá trình tham gia chữa cháy cũng đòi hỏi ở người cảnh sát phòng cháy và chữa cháy sự mưu trí, dũng cảm, linh hoạt, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ
và tính kỉ luật cao
Với tính chất, nhiệm vụ và chức năng như vậy đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy phải luôn có ý thức rõ ràng về đặc thù nghề nghiệp của mình để đáp ứng tốt những yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn đặt ra
1.2.5 Lý luận về “Tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy”
Có thể nói cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về nghề phòng cháy và chữa cháy Trong tài liệu đào tạo chuyên ngành sỹ quan cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có đề cập đến khái niệm công tác phòng cháy và chữa cháy như sau: Phòng cháy và chữa cháy là tổng hợp các biện pháp, giải pháp về tổ chức, chiến thuật và kỹ thuật nhằm loại trừ hoặc hạn chế các điều kiện, nguyên nhân gây cháy và tạo điều kiện cho việc cứu người, cứu tài sản, chống cháy và chữa cháy được kịp thời và có hiệu quả khi cháy xảy ra Trong lực lượng phòng cháy chữa cháy thì chỉ có lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy là lực lượng thường trực nhất, được đào tạo một cách chính quy, bài bản và là một trong những lực lượng nòng cốt của lực lượng phòng cháy chữa cháy toàn dân Do đó, chúng tôi cho rằng có thể khái quát về nghề phòng cháy chữa cháy như sau:
Trang 3632
Nghề phòng cháy chữa cháy là lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng phòng cháy chữa cháy Đó là hoạt động sử dụng tổng hợp các biện pháp, giải pháp nhằm loại trừ hoặc hạn chế các điều kiện gây cháy, chuẩn bị sẵn sàng về con người, phương tiện, trang thiết bị cần thiết để ứng phó kịp thời khi có cháy xảy ra
Từ sự tìm hiểu và phân tích các khái niệm công cụ ở trên, có thể hiểu
Tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát phòng cháy và chữa
cháy là trình độ phát triển cao của ý thức nghề nghiệp mà ở đó các cán bộ,
chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy tham gia với tư cách là chủ thể của hoạt động phòng cháy chữa cháy, có khả năng nhận thức và bày tỏ thái độ cũng như tự điều khiển, điều chỉnh các hành vi của mình trong hoạt động nghề nghiệp theo các quy định, nguyên tắc của nghề phòng cháy chữa cháy nhằm duy trì, phát triển cuộc sống cá nhân và góp phần xây dựng xã hội
Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và khách thể nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu phương diện tự nhận thức khi tiến hành nghiên cứu tự
ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy chữa cháy Hà Nội
Dựa trên những nội dung đã phân tích, tìm hiểu về các khái niệm: tự ý thức, nghề nghiệp, cảnh sát phòng cháy và chữa cháy và dựa trên Luật Phòng cháy và chữa cháy, Điều lệnh chiến đấu của lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, chúng tôi tập trung tìm hiểu về tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy trên các thành tố: tự ý thức về kỉ luật tổ chức, tự ý thức về hành vi nghề nghiệp và mối quan hệ với đồng nghiệp, tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp Cụ thể:
* Tự ý thức về kỉ luật tổ chức
- Tuân thủ và thực hiện các quy định của tổ chức về lối sống, sinh hoạt
- Tuân thủ nghiêm ngặt các thao tác và quy trình nghiệp vụ trong thường trực và chiên đấu
Trang 3733
- Chấp hành mệnh lệnh cấp trên trong thường trực và chiến đấu
- Hoàn thành các nhiệm vụ được giao
* Tự ý thức về hành vi nghề nghiệp
- Tuyệt đối tuân thủ kỉ luật tổ chức trong khi thường trực và chiến đấu khi có cháy
- Sẵn sàng cứu người bị nạn trong khi làm nhiệm vụ
- Thực hiện nhiệm vụ triển khai chiến đấu một cách nhanh chóng, an toàn, khoa học và đúng qui trình (dập tắt đám cháy, hạn chế thấp nhất thiệt hại)
- Bảo vệ hiện trường, lập hồ sơ vụ cháy
* Tự ý thức về mối quan hệ với đồng nghiệp
- Tuân thủ các mệnh lệnh, yêu cầu của người chỉ huy trong khi thường trực và chiến đấu
- Phối hợp nhịp nhàng với đồng nghiệp trong khi tham gia chữa cháy
- Đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong khi học tập, rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ
- Sẵn sàng đóng góp ý kiến cho đồng nghiệp trong quá trình tham gia chiến đấu
* Tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp
- Cứu người bị nạn là ưu tiên hàng đầu trong công tác phòng cháy chữa cháy
- Hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và của
- Tuyệt đối không lợi dụng hoạt động phòng cháy và chữa cháy để xâm hại tính mạng, sức khỏe của con người; xâm phạm tài sản của nhà nước
- Chấp hành nghiêm túc các quy định về bảo vệ bí mật nghiệp vụ của Đảng và Nhà nước; bảo vệ bí mật nghiệp vụ
Trang 3834
Chương 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổ chức nghiên cứu
1 - /2013 Tìm kiếm, dịch, phân tích tài liệu để xây dựng cơ sở lý
luận cho đề tài nghiên cưu
5 – 8/2013 Xây dựng thang đo
9 - 12/2013 Điều tra thực tế
12/2013 –
3/2014
Xử lý số liệu và viết báo cáo
2.1.1 Tổ chức nghiên cứu về mặt lý luận
Phân tích, tổng hợp và khái quát các tài liệu là phương pháp chủ yếu để nghiên cứu phần lý luận Phương pháp này bao gồm việc phân tích tài liệu về các nghiên cứu lý luận, các nghiên cứu thực tiễn đã được tiến hành trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Trên cơ sở đó tiến hành hệ thống hóa tài liệu thu được theo từng vấn đề, xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
- Mục đích của nghiên cứu lý luận:
+ Điểm lại những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề tự ý thức nghề nghiệp cũng như về đối tượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy để làm cơ sở cho nghiên cứu về tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Hà Nội
+ Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về vấn đề tự ý thức nghề nghiệp
+ Xây dựng khung lý thuyết cho việc nghiên cứu thực tiễn
- Nội dung nghiên cứu lý luận:
+ Phân tích, tổng hợp, đánh giá những công trình nghiên cứu của các
Trang 3935
tác giả trong và ngoài nước về tự ý thức nghề nghiệp, phát hiện những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
+ Xác định các khái niệm công cụ và các khái niệm có liên quan
+ Tổng hợp và phân tích các thành tố của tự ý thức nghề nghiệp
+ Xác định nội dung cho nghiên cứu thực tiễn: dựa vào kết quả của phần tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như các khái niệm
cơ bản, chúng tôi xác định các yếu tố để khảo sát trong nghiên cứu thực tiễn
Cụ thể là xây dựng thang đo khảo sát tự ý thức nghề nghiệp trên 4 mặt: tự ý thức về kỉ luật tổ chức, tự ý thức về hành vi nghề nghiệp, tự ý thức về mối quan hệ với đồng nghiệp và tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp
2.1.2 Tổ chức nghiên cứu về mặt thực tiễn
Chúng tôi tiến hành tổ chức nghiên cứu thực tiễn theo các bước cụ thể như sau:
- Bước 1: Xây dựng thang đo Việc khai thác thông tin để xây dựng thang đo được chúng tôi sử dụng từ 3 nguồn: thứ nhất là tổng hợp nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về tự ý thức nghề nghiệp, thứ hai là tổng hợp các nghiên cứu về lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy (chủ yếu
là các nghiên cứu từ Trường Đại học cảnh sát phòng cháy vầ chữa cháy và Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội), thứ ba là dựa trên các quy định đặc thù dành cho lực lượng phòng cháy và chữa cháy (Luật Công an nhân dân, Luật Phòng cháy và chữa cháy, Điều lệnh chiến đấu của lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy) Nội dung thang đo được xây dựng phục
vụ mục đích nghiên cứu nêu trên, cụ thể như sau:
+ Nội dung 1: Tự ý thức về kỉ luật tổ chức, gồm 12 item (4, 7, 8, 13,
19, 21, 30, 34, 35, 36, 37, 38)
+ Nội dung 2: Tự ý thức về hành vi nghề nghiệp, gồm 12 item (16, 17,
18, 20, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29)
Trang 40Cách tính điểm cho thang đo:
Chúng tôi quy định cách tính toán điểm số cho thang đo như sau:
Hoàn toàn đồng ý: 5 điểm
Đồng ý 1 phần: 4 điểm
Không có ý kiến: 3 điểm
Không đồng ý 1 phần: 2 điểm
Hoàn toàn không đồng ý: 1 điểm
Những item âm tính đã được chúng tôi mã hóa ngược trong quá trình
xử lý số liệu
Như vậy thang đo cho phép chúng tôi thu được một điểm số tổng thể về
tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cũng như 4 điểm số thành phần cho từng nội dung mà chúng tôi đã đề cập ở trên Với mỗi nội dung thành phần điểm số thấp nhất là 12 và điểm số cao nhất là 60 Điểm số càng cao cho thấy cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy càng có mức độ tự ý thức nghề nghiệp cao và ngược lại Điểm tổng của thang đo tương ứng với tổng điểm của 4 nội dung thành phần Nói cách khác, thang đo có
tổng điểm thấp nhất là 48 và tổng điểm cao nhất là 240
Để thuận lợi cho việc xem xét, phân tích và đánh giá mức độ tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, chúng tôi phân chia tổng điểm mà khách thể đạt được thành 3 nhóm tự ý thức nghề nghiệp: thấp, trung bình và cao căn cứ vào sự phân bố điểm số mà khách thể đạt được khi đánh giá về mức độ tự ý thức nghề nghiệp Cách thức tiến hành phân chia nhóm điểm như sau: