1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Công giáo với dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) : Luận án PTS. Lịch sử: 62 22 54 05

200 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống hóa, phân tích các công trình khoa học về, hoặc liên quan trực tiếp đến vấn đề tôn giáo, CGVN, vấn đề Công giáo với dân tộc trong cuộc KCCP 1945- 1954, dựa vào đối tượng, mục đí

Trang 1

đại học quốc gia hà nội TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

đại học quốc gia hà nội TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

BẢNG QUY ƢỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 BCH Ban Chấp hành

2 BTV Ban Thường vụ 3 CNTB Chủ nghĩa tư bản

4 CNCS Chủ nghĩa cộng sản

5 CNXH Chủ nghĩa xã hội

6 CNĐQ Chủ nghĩa đế quốc

7 CGVN Công giáo Việt Nam 10 CMDTDCND Cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân 11 ĐCS Đảng Cộng sản 12 ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam

15 ĐCSĐD Đảng Cộng sản Đông Dương 16 ĐDCLH Đảng dân chúng Liên hiệp 17 DCCH Dân chủ cộng hòa 18 DTCMĐ Dân tộc cách mạng đảng 19 GHVN Giáo hội Việt Nam 20 GHCG Giáo hội Công giáo 21 GHCGVN Giáo hội Công giáo Việt Nam 22 HCGKC Hội Công giáo kháng chiến 23 KCCP Kháng chiến chống Pháp 24 MTVM Mặt trận Việt Minh 25 MTLV Mặt trận Liên việt 26 M.E.P Hội truyền giáo nước ngoài Paris 28 LĐCGKC Liên đoàn Công giáo kháng chiến 29 U.M.D.C Đơn vị lưu động bảo vệ họ đạo

30 VNDCCH Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 31 TBCN Tư bản chủ nghĩa

32 XHCN Xã hội chủ nghĩa

33 NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC TRONG ĐẤU TRANH

GIÀNH VÀ GIỮ CHÍNH QUYỀN, CHUẨN BỊ

KHÁNG CHIẾN (1945-1946)

26

1.1 Khái quát về Công giáo với dân tộc trước năm 1945 26

1.1.1 Vài nét về lịch sử Công giáo Việt Nam trước năm 1930 26

1.1.2 Công giáo với dân tộc từ năm 1930 đến năm 1945 33

1.2 Công giáo với dân tộc- diễn biến và những sắc thái 38

1.2.1 Công giáo trong Cách mạng tháng Tám 1945 38

1.2.2 Công giáo với cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, chuẩn bị kháng chiến 44

Chương 2: CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC GIAI ĐOẠN KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC (1946-1954)

67

2.1 Công giáo với dân tộc những năm đầu toàn quốc kháng chiến

(1946 -1951)

67

2.1.1 Những nhân tố tác động đến đường hướng Công giáo Việt Nam 67

2.1.2 Công giáo Việt Nam – “dòng trong” và “dòng đục” 76

2.2 Công giáo với dân tộc giai đoạn đẩy mạnh kháng chiến đến

thắng lợi (1951-1954)

96

2.2.1 Công giáo đồng hành cùng dân tộc 96

2.2.2 Một bộ phận Công giáo đi ngược lợi ích dân tộc 103

2.2.3 Cuộc di cư của người Công giáo miền Bắc 111

Chương 3: CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP – ĐẶC ĐIỂM VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

3.1.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán thực

hiện chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết giáo lương

126

3.1.3 Trong quan hệ Công giáo với kháng chiến, nổi bật là sự tồn tại

hai xu hướng đồng hành và ly khai dân tộc

132

3.1.4 Quan hệ Công giáo với dân tộc ở Bắc Bộ và Nam Bộ, biểu hiện và

những sắc thái riêng biệt

147

3.2 Công giáo với dân tộc – một số kinh nghiệm lịch sử 152

Trang 5

3.2.1 Khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của đồng bào Công giáo 152 3.2.2 Tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết giáo, lương thực sự 156 3.2.3 Phân hóa, tranh thủ hàng ngũ chức sắc Công giáo 161 3.2.4 Đấu tranh với âm mưu lợi dụng Công giáo, trên tinh thần khoan

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến, có ảnh hưởng to lớn đến sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng người trong lịch sử.Hiện nay, ảnh hưởng của tôn giáo đang có chiều hướng gia tăng đối với các lĩnh vực trong đời sống xã hội ở hầu khắp các quốc gia, dân tộc trên thế giới

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo khác nhau cùng song hành tồn tại Nhìn chung, phần lớn các tôn giáo ở Việt Nam đều du nhập từ nước ngoài vào và trong lịch sử, nhiều tôn giáo đã có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp giành, giữ độc lập dân tộc, phát triển đất nước, góp phần hình thành bản sắc văn hóa dân tộc, tinh thần yêu nước mang tính đặc thù riêng của dân tộc Việt Nam, hòa nhập và gắn kết với dân tộc

Đạo Công giáo1

là một chi phái lớn của Kitô giáo2, có tác động nhiều mặt đến đời sống, đạo đức, văn hóa, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Mặc dù Công giáo được du nhập vào Việt Nam muộn hơn một số tôn giáo khác, nhưng với tất cả tính riêng biệt của mình, Công giáo đã và đang có ảnh hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần trong xã hội Việt Nam Có lẽ, ít tôn giáo nào ở Việt Nam ngay từ khi mới du nhập đã dính líu đến vấn đề chính trị, mang tính chính trị nhiều hơn là tính thuần túy tôn giáo như là đạo Công giáo Nếu ấy năm 1533 là mốc đánh dấu việc đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam, thì cũng từ thời khắc ấy đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, vấn đề Công giáo với chính trị, Công giáo với dân tộc thường được hình dung qua quan hệ giữa thế lực thực dân và kẻ truyền đạo Mỗi

1Đạo Công giáo (Catholicism) là Đạo mà chính Chúa Giêsu đã khai sinh và rao giảng để mang ơn cứu độ của

Thiên Chúa đến cho mọi người.Đạo của Chúa Kitô (Christianity) được gọi là Đạo Công giáo vì mục đích phổ

quát của ơn cứu độ mà Chúa đã mang đến cho nhân loại Vì thế, thuật ngữ “Công giáo” có nghĩa là chung, là phổ quát (universal) Công giáo là thuật ngữ được sử dụng đặc biệt trong ngữ cảnh Kittô giáo, chỉ giáo hội duy nhất, nguyên thuỷ - Giáo hội Công giáo Rô ma.Trong tiếng Việt, thuật ngữ Công giáo được dùng để dịch từ

Catholica/Catholiquevới ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đạo công cộngdành cho tất thảy mọi người

không phân biệt màu da, tiếng nói và văn hóa.Ngoài ra, Công giáo ở Việt Nam còn được gọi là đạo Gia tô, Thiên Chúa giáo, Kittô giáo.

2Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hoặc Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán –Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn

từ Abraham – tổ phụ của người Do Thái và Ả Rập.Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt

văn hóa cũng như hàng ngàn xác tín và giáo phái khác nhau Trải qua hai thiên niên kỷ, Kitô giáo hình thành nên

ba nhánh chính: Công giáo Rô ma, Chính thống giáo Đông phương (tách ra khỏi Giáo hội Công Giáo La Mã năm 1054vì một số bất đồng về tín lý, phụng vụ và quyền bính)và Tin lành (ly khai khỏi Công Giáo và Chính Thống Giáo sau những cuộc cải cách/reformations do Martin Luther chủ xướng tại Đức năm 1517) Những nhánh này sau đó cũng đã phân chia thành hàng ngàn các nhánh nhỏ khác nhau Tính chung, đây là tôn giáo lớn nhất thế giới với hơn 2,1 tỉ tín hữu (chiếm khoảng 34% dân số thế giới).

Trang 7

bước tiến của sự xâm lăng thuộc địa tương ứng với mỗi bước leo thang của đạo Công giáo và ngược lại Đã xảy ra không ít những cuộc đụng độ giữa Công giáo

và dân tộc

Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện lịch sử vĩ đại, có sức lan tỏa,

có tầm ảnh hưởng sâu rộng vượt ra khỏi biên giới quốc gia dân tộc Nhà nước VNDCCH ra đời – chính từ thời khắc lịch sử ấy, dân tộc Việt Nam bước vào cuộc hồi sinh vĩ đại, xóa bỏ 80 năm nô lệ, xây dựng cuộc sống mới với tư thế và địa vị của người làm chủ Với tính chất dân tộc sâu đậm, Cách mạng tháng Tám

đã mở ra cho người CGVN vận hội mới - đoàn kết với 20 triệu người ngoại đạo thành một khối thống nhất để kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc Đó là cơ hội để người Công giáo vươn lên, xác định đúng vị trí của mình trong lòng dân tộc Việt Nam

Cách mạng thành công chưa bao lâu, lịch sử lại đặt đất nước Việt Nam trước những thách thức mới và to lớn – thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh tái chiếm Đông Dương Nền độc lập vừa mới giành được đứng trước nguy

cơ một mất, một còn Lúc này, độc lập là vô giá, quyền dân tộc là thiêng liêng; lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, tự do; nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân là bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ chế độ Để thực hiện nhiệm

vụ cấp bách ấy, cần củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, tập hợp hết thảy mọi giai cấp, tầng lớp, tôn giáo… Tuy nhiên, tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp đã triệt để lợi dụng vấn đề Công giáo vào mục đích kích động chia rẽ dân tộc, hòng làm suy yếu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Một lần nữa, vấn đề Công giáo với dân tộc trở nên hết sức nhạy cảm và phức tạp Quan hệ giữa GHVN với thực dân Pháp, thái độ của những người CGVN trước vận mạng sống còn của dân tộc có những sắc thái và diễn biến mới, hình thành những xu hướng khác nhau, thậm chí đối lập nhau Bên cạnh một dòng Công giáo yêu nước bền bỉ chảy, hướng về nguồn cội dân tộc, thì vẫn tồn tại một dòng Công giáo khác - “dòng đục” đi ngược lợi ích dân tộc, một lần nữa được hàng giáo phẩm GHCGVN khơi lên bằng những hành động bất xứng mang danh Chúa, kéo đẩy một bộ phận giáo dân Việt Nam vào con đường xa rời dân tộc Như vậy, trong KCCP, vấn đề Công giáo và dân tộc diễn ra một cách gay gắt, ác liệt, trở thành vấn đề vô cùng gai góc, mà thực chất là việc giải quyết quan hệ giữa Công giáo – Cộng sản

Trang 8

Cuộc KCCP trường chinh 9 năm gian khó của dân tộc Việt Nam đã lùi xa hơn mấy chục năm, lịch sử đã lật sang trang mới, song lịch sử không phải là những nét đứt gãy, mà là những chuỗi sự kiện với kết quả và hệ lụy mang tính logic Trải qua bao biến cố, thăng trầm lịch sử, hiện nay, vấn đề Công giáo với dân tộc trong KCCP, vì thế, vẫn rất cần được nghiên cứu, đánh giá khách quan, khoa học và công bằng, chỉ ra một cách hệ thống, toàn diện đặc điểm, xu hướng, vai trò của Công giáo trong kháng chiến, đúc rút những kinh nghiệm lịch sử, để vận dụng giải quyết vấn đề Công giáo với dân tộc trong điều kiện hiện nay Trên

ý nghĩa đó, chúng tôi chọn vấn đề “Công giáo với dân tộc trongcuộc kháng

chiến chống Pháp (1945-1954)” làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành Lịch

sử Việt Nam cận đại và hiện đại Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án còn phục vụ cho việc nghiên cứu hoặc giảng dạy những vấn đề có liên quan

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Sự hấp dẫn, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu khiến cho số lượng công trình nghiên cứu hoặc về, hoặc có liên quan đến đề tài khá đồ

sộ, đa dạng về chủng loại, phong phú ở góc độ tiếp cận.Khảo cứu một cách kỹ càng, cẩn trọng những công trình nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đi trước

là thao tác khoa học cần thiết, quan trọng, là một trong những cơ sở để tác giả luận án hoàn thành mục đích nghiên cứu của mình

Hệ thống hóa, phân tích các công trình khoa học về, hoặc liên quan trực tiếp đến vấn đề tôn giáo, CGVN, vấn đề Công giáo với dân tộc trong cuộc KCCP (1945- 1954), dựa vào đối tượng, mục đích, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của các công trình, tác giả chọn cách tiếp cận theo nội dung vấn đề nghiên cứu

để phân loại công trình

2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về tôn giáo

Trung tâm thông tin tư liệu – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(1995), Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay – Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp

bách, Chuyên đề,Hà Nội; Lê Hữu Nghĩa (Chủ nhiệm, 2003), Xu hướng phát triển tôn giáo hiện nay ở nước ta và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo, quản lý,

Đề tài nghiên cứu khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Võ

Kim Quyên (2004), Tôn giáo và đời sống hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Trang 9

Nội; Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo,

Hà Nội; Vũ Văn Hậu (2006), “Nhìn nhận về sự tác động của toàn cầu hóa tới

đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay”, Tạp chíThông tin Khoa học xã hội, số 8;

Đỗ Minh Hợp (Chủ biên, 2006), Tôn giáo học nhập môn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Đỗ Minh Hợp (Chủ biên, 2006), Tôn giáo Phương Đông - Quá khứ và hiện

tại, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Nguyễn Duy Hinh (2007), Một số bài viết về tôn giáo học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội…

Thông tin chuyên đề “Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở

Việt Nam” đã tập trung làm rõ những đặc điểm chủ yếu của các loại hình tôn

giáo lớn ở Việt Nam, trình bày những tác động cơ bản của các tôn giáo khác nhau đối với đời sống xã hội Việt Nam, chỉ ra những phương hướng chủ yếu xây dựng khối đoàn kết tôn giáo Trong công trình, các tác giả đã khái lược về lịch

sử CGVN, điểm qua vai trò của CGVN trong hai cuộc KCCP, KCCM 1975) và trong thời kỳ cả nước quá độ lên CNXH (từ năm 1975 đến nay)

(1945-Trong cuốn sách “Tôn giáo và đời sống hiện đại”, tác giả Võ Kim Quyên

đã nghiên cứu về sự tác động giữa tôn giáo với đời sống – xã hội thời kỳ hiện đại Tác giả chỉ rõ: Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức tạp, có liên quan và tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống - xã hội, có ảnh hưởng sâu sắc đối với

xã hội Việt Nam từ trong quá khứ cho đến hiện tại Tác giả nhấn mạnh rằng, những năm gần đây, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tôn giáo có chiều hướng phục hồi, phát triển và đặt ra nhiều vấn đề cần được luận giải cả về lý luận cũng như thực tiễn Vấn đề Công giáo đã được tác giả khảo cứu, nhưng đó mới chỉ là những khảo cứu ban đầu, sơ lược, phục vụ cho việc luận lý về tác động nhiều mặt của tôn giáo đối với đời sống hiện đại

Trong công trình “Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo ở Nam Bộ” (Đỗ

Quang Hưng chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001), tập thể tác giả đã

đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của tôn giáo ở Việt Nam hiện nay; mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng quan về xu hướng vận động, biến đổi của các tôn giáo ở Việt Nam, mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa; sự thích nghi và cộng sinh; xu hướng dân tộc, thế tục hóa trong tôn giáo ở Việt Nam… Các tác giả dành một dung lượng đáng kể để làm rõ một số vấn đề tôn giáo ở Nam Bộ - một địa bàn được các nhà nghiên cứu đánh giá là có số lượng tín đồ tôn giáo khá đông đảo; có nhiều loại hình tôn giáo khác nhau cả thế giới và bản

Trang 10

địa với không gian sinh hoạt tôn giáo phong phú, đa dạng và độc đáo Về Công giáo, một số tác giả đi sâu nghiên cứu sự thích nghi và xu hướng biến đổi của Công giáo ở Nam Bộ; nghiên cứu về thực trạng Công giáo ở một số thành phố lớn của Nam Bộ, đưa ra những nhận xét, đánh giá, kiến nghị, nhằm phát huy các mặt tích cực của Công giáo, hạn chế sự lợi dụng của các thế lực thù địch đối với Công giáo

Trong cuốn “Tôn giáo trong mối quan hệ với văn hóa và phát triển ở Việt Nam”

(Nxb Khoa học xã hội, 2004), tác giả Nguyễn Hồng Dương đã phân tích, làm rõ về lý luận, thực tiễn quan hệ giữa tôn giáo với đời sống văn hóa và phát triển ở Việt Nam với những cách tiếp cận khác nhau Về Công giáo, tác giả cho rằng, Công giáo được truyền bá vào Việt Nam không chủ trương nhập thế (theo nghĩa đồng hành với dân tộc), song qua từng thời kỳ khác nhau, Công giáo đã có những đóng góp nhất định cho

sự nghiệp bảo vệ, giải phóng và canh tân đất nước Tác giả đã đánh giá một cách khách quan những đóng góp của Công giáo trong các lĩnh vực kiến trúc, văn học, báo chí, âm nhạc… Nhìn chung, vấn đề Công giáo với dân tộc trong kháng chiến chống Pháp mới chỉ được tác giả điểm lướt qua

Về tổng thể, đây là nhóm công trình có số lượng lớn, đa dạng về thể loại

và quy tụ được đông đảo các nhà khoa học tên tuổi Các nhà khoa học đã tiếp cận vấn đề dưới nhiều góc độ, lấy thực tiễn biến chuyển, vận động của các tôn giáo lớn ở trên thế giới, cũng như ở Việt Nam làm cơ sở tham chiếu; từ đó, đúc rút những vấn đề lý luận, cung cấp những kiến thức nền, căn bản và một số kiến thức chuyên sâu cho người nghiên cứu

2.2 Nhóm công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

và đoàn kết tôn giáo

Nguyễn Đức Lữ (1995), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương

giáo”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3; Viện Nghiên cứu Tôn giáo(1996), Hồ Chí

Minh về tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Đỗ Quang Hưng

(Chủ biên, 2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết

trong cách mạng Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; GS.TS Lê Hữu

Nghĩa - PGS.TS Nguyễn Đức Lữ (Chủ biên, 2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về

tôn giáo, công tác tôn giáo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đức Lữ

(2007), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới”,

Trang 11

Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12; Nguyễn Đức Lữ (Chủ biên, 2009), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành

chính, Hà Nội…

Công trình khoa học cấp Nhà nước KX.02-07: “Chiến lược đại đoàn kết

Hồ Chí Minh” (GS Phùng Hữu Phú chủ trì, 1995) là công trình khảo cứu khá

kỹ, có hệ thống về chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, từ quá trình hình thành, thực hiện đến nội dung, nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết Vấn đề Công giáo đã được đề cập đến, song trên phương diện là một nội dung trong quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh

Trong nhóm công trình này, một ấn phẩm đáng chú ý là cuốn “Tư tưởng

Hồ Chí Minh về tôn giáo, công tác tôn giáo” Đây là công trình, tập hợp bài viết

của gần 20 nhà khoa học ở Việt Nam Trong cuốn sách, các tác giả đã làm rõ ba vấn đề cơ bản: 1- Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự khác biệt giữa tôn giáo phương Đông và phương Tây; 2- Tư tưởng đoàn kết tôn giáo và phương pháp thực hiện; 3- Hồ Chí Minh và vấn đề quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Trong khi khảo cứu thực tiễn vận động của các loại hình tôn giáo khác nhau ở Việt Nam, một số tác giả đã chỉ ra đặc điểm, vai trò của Công giáo ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc với cả hai mặt tích cực và hạn chế Một

số bài viết đã đề cập đến những đóp góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vận động CGVN đồng hành cùng dân tộc vào những thời khắc khó khăn, thử thách của cuộc KCCP

Trong sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết

trong cách mạng Việt Nam” (Đỗ Quang Hưng chủ biên), sau khi nghiên cứu

một cách hệ thống các vấn đề dân tộc, tôn giáo; đại đoàn kết toàn dân tộc, các tác giả đã rút ra kết luận: Vấn đề dân tộc, tôn giáo là những vấn đề lớn, rất nhạy cảm của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam Do đó, nhận thức thấu đáo vấn đề,

từ sau khi giành chính quyền năm 1945 và trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, ĐCSVN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết khá thành công vấn đề dân tộc, tôn giáo, vấn đề đạo Công giáo, thực hiện đoàn kết lương giáo phục vụ mục tiêu bảo vệ và xây dựng đất nước

Cuốn sách tổng hợp các bài hội thảo dưới tiêu đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh

về tôn giáo và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Đức Lữ chủ biên) đã

Trang 12

tập trung vào hai nội dung chính: 1- Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minhvề đoàn kết lương giáo, về hoà hợp dân tộc, về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; 2- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo trong thực tiễn, những kết quả đạt được trong công tác tôn giáo.… Đây là công trình có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, có tác dụng tham khảo tốt đối với một số nội dung của luận án

Trong bài viết “Hồ Chí Minh về sự khoan dung tôn giáo”, Tạp chí Nghiên

cứu Tôn giáo số 1, 2003), tác giả Hồ Trọng Hoài cho rằng: “Mặc dù thế giới

quan mácxít là khác biệt thế giới quan tôn giáo, song nó chủ trương khắc phục

sự khác biệt trên cơ sở khoan dung – tôn trọng triệt để quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của con người” Tác giả khẳng định: Những người Cộng sản chủ trương kiến tạo một “thiên đường”, “một cõi bồng lai” ngay chính ở cõi trần và thực hành bình đẳng tôn giáo trong cả tư tưởng và hành động Trên cơ sở thế giới quan mácxít về tôn giáo, về căn bản, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn có chính sách tôn giáo hợp lòng người Tuy nhiên, không phải bao giờ và ở mọi lúc, mọi nơi, sự chỉ đạo hiện thực hóa chính sách tôn giáo vào cuộc sống cũng đúng đắn, khoa học Không hiếm gặp sự cực đoan, giáo điều, duy ý chí trong thực hiện

Phục vụ một cách hiệu quả cho những người nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí

Minh về tôn giáo là công trình “Chủ tịchHồ Chí Minh với đồng bào Công giáo”

(Huy Thông sưu tầm và tuyển chọn, Nxb Chính trị quốc gia, 2004) Tác giả sưu tập một khối lượng phong phú các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Công giáo và đồng bào Công giáo đã đăng tải trên các báo Cứu quốc, Nhân dân, Chính nghĩa… và trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập, sắp xếp theo trình tự thời gian, rất thuận tiện cho việc nghiên cứu Sự cẩn thận, tỉ mỉ, công phu trong sưu tập, tập hợp, sắp xếp tư liệu, sự kiện cho thấy tâm huyết của tác giả đối với việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng

Một cách tổng quát, đây là những công trình nở rộ từ thời kỳ đầu đổi mới, đặc biệt phát triển mạnh mẽ từ năm 1991, sau khi tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, ĐCSVN quyết định “lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam” Cho đến nay, đây vẫn là khu vực nghiên cứu khá sôi động, nhiều vấn đề nghiên cứu được làm sâu thêm; triển khai nghiên cứu những vấn đề mới, nhất là những vấn

đề thuộc về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo vào thực tiễn

2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Trang 13

PGS.TS Nguyễn Đức Lữ, (Chủ nhiệm đề tài, 2002), Đổi mới chính sách

tôn giáo và quản lý Nhà nước về tôn giáo hiện nay – những bài học kinh nghiệm

và kiến nghị, Trung tâm thông tin tư liệu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh; GS Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo

ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Vũ Văn Hậu (2004), “Về mối quan

hệ giữa dân tộc và tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học, số

4; Trần Minh Thư (2005) “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một

yêu cầu khách quan”, Tạp chíCông tác tôn giáo, số 3; Đỗ Quang Hưng (2005),

Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam – lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị Kim Thanh (2007), “Tìm hiểu chính sách tôn

giáo của Đảng và Nhà nước ta thời kỳ 1945-1975”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9;

Đỗ Thị Kim Định (2008), “Từ sự đổi mới về đường lối đến sự đổi mới về chính

sách tôn giáo ở Việt Nam từ 1990 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 8;

Trần Văn Trình(2008),“Các tôn giáo ở Việt Nam đồng hành cùng dân tộc trong

thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3…

Trong nhóm công trình này, tiêu biểu phải kể đến cuốn sách “Vấn đề tôn

giáo trong cách mạng Việt Nam – lý luận và thực tiễn” của tác giả Đỗ Quang

Hưng Tác giả đã phân tích vai trò, tác động của chủ nghĩa Mác Lênin đối với nhận thức lý luận của ĐCSVN về tôn giáo, quá trình phát triển tư duy lý luận của ĐCSVN về tôn giáo và vấn đề tôn giáo Tác giả nêu bật vai trò của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; phân tích quá trình ĐCSVN lãnh đạo giải quyết vấn đề tôn giáo, xây dựng khối đoàn kết dân tộc trong tiến trình cách mạng Việt Nam, phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH

Trong sách tham khảo “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt

Nam”, tác giả Đặng Nghiêm Vạn tập trung phân tích quan điểm, tư tưởng của

Chủ tịch Hồ Chí Minh, của ĐCSVN, làm rõ chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam về thực hiện đoàn kết tôn giáo trên nền tảng “tín ngưỡng tự do chân thành đoàn kết”; làm rõ tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay Trong phần kết của công trình, tác giả chỉ ra yêu cầu phải có thái độ ứng xử đúng đắn và phù hợp trong vấn đề tôn giáo; sự cần thiết phải đặt tôn giáo trong mối quan hệ với văn hoá, nhìn rõ sự tác động qua lại giữa văn hóa và tôn giáo,

Trang 14

nhận thức đầy đủ sức mạnh nội sinh của tôn giáo với tư cách là một bộ phận của văn hóa, một bộ phận của đời sống xã hội

Luận án Tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Tôn giáo học của NCS Nguyễn

Văn Hậu (2004) “Mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc ở Việt Nam từ Cách

mạng tháng Tám 1945 đến nay” nghiên cứu quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc ở

Việt Nam, đặt trọng tâm nghiên cứu vào quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc thời

kỳ xây dựng CNXH Luận án khẳng định: Bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những quyết sách đúng đắn

về tín ngưỡng, tôn giáo Chính sách đó phần nào hoá giải được những mâu thuẫn giữa tôn giáo và CNXH, củng cố mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc Luận án chỉ ra rằng, hiện nay, trong quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo vẫn tồn tại những vấn đề hết sức phức tạp, nhất là khi các thế lực chống phá Nhà nước Việt Nam luôn lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam

Năm 2007, NCS Phạm Hữu Xuyên đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ

Triết học, chuyên ngành Tôn giáo học: “Quan điểm Hồ Chí Minh về tín ngưỡng,

tôn giáo” Luận án chỉ ra tính phức tạp của vấn đề tôn giáo nói chung, tôn giáo ở

Việt Nam nói riêng trong điều kiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đang được các thế lực thù địch coi là công cụ hữu hiệu để làm lung lay chế độ XHCN ở Việt Nam Luận án nhấn mạnh: Muốn có đường lối, chính sách tôn giáo đúng đắn, khoa học, Đảng và Nhà nước cần phải vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là các quan điểm về đoàn kết lương giáo, ứng xử khoan dung với tôn giáo, về đề cao sự tương đồng, tôn trọng sự khác biệt giữa tôn giáo và CNXH… Luận án đưa ra lời cảnh báo và giải pháp chống địch lợi dụng tôn giáo chống phá chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam

Nhìn chung, nhóm công trình nghiên cứu về chính sách tôn giáo của Đảng

và Nhà nước Việt Nam khá phong phú với đội ngũ nghiên cứu hùng hậu, có những đóng góp quan trọng cả về mặt khoa học và thực tiễn Điều đáng nói là nhóm công trình này liên tục được cập nhật, bổ sung, dày dặn thêm cùng với thời gian

2.4 Nhóm công trình nghiên cứu về Công giáo và Công giáo ở Việt Nam

Trang 15

Quang Toàn và Nguyễn Hoài (1965), Những hoạt động của bọn phản

động đội lốt Thiên Chúa giáo trong thời kỳ kháng chiến 1945-1954, Nxb Khoa

học, Hà Nội; Cao Huy Thuần (1988), Đạo Công giáo và chủ nghĩa thực dân, Nxb Hương quê, Paris; Hoành Linh Đỗ Mậu (1998), Tâm sự Tướng lưu vong

(Việt Nam máu lửa quê hương tôi, Hồi ký), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;

Linh mục Trần Tam Tỉnh (1998), Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Hồng Dương (1988), Hoạt động tôn giáo và chính trị của

Thiên Chúa giáo miền Nam thời Mỹ - Ngụy, 1954-1975, Nxb Công an nhân

dân; Phạm Huy Thông (2008), Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hoá

Việt Nam,luận án tiến sĩ Triết học, Trường Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia

Hà Nội; Nguyễn Phú Lợi (2009), Tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ

đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Tôn

giáo học, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hà Nội …

Trong luận án Tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Tôn giáo học “Ảnh hưởng

qua lại giữa đạo Công giáo và văn hoá Việt Nam”, tác giả Phạm Huy Thông đã

đưa ra các cứ liệu, dẫn chứng cụ thể về những đóng góp tích cực và một số ảnh hưởng tiêu cực đối với văn hoá Việt Nam của đạo Công giáo Bên cạnh đó, tác giả tập trung làm rõ sự tác động trở lại của văn hoá Việt Nam đối với đạo Công giáo; dự báo xu hướng phát triển của mối quan hệ giữa đạo Công giáo và văn hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Một trong những đóng góp đáng ghi nhận của tác giả là ở những giải pháp thúc đẩy tiến trình “sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”, coi nhiệm vụ xây dựng cuộc sống “tốt đạo, đẹp đời”, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là trách nhiệm của những người có đạo, theo đạo, song không tách rời cuộc sống hiện thực Vấn đề quan hệ giữa Công giáo với việc xây dựng nền văn hóa mới trong KCCP đã được tác giả đã khảo cứu một cách tổng quát

Trong luận án Triết học, chuyên ngành Tôn giáo học “Tổ chức xứ, họ đạo

Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ đến trước Cách mạng tháng Tám 1945”, tác giả

Nguyễn Phú Lợi đã trình bày quá trình hình thành, phát triển của tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ đến trước khi Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi, góp phần làm rõ vai trò của các tổ chức xứ, họ đạo Công giáo trong đời sống của người Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ Tuy thời gian nghiên cứu là trước năm 1945, song những kết quả khảo cứu của luận án về hoạt động, cách thức tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ đã cung cấp cho tác giả

Trang 16

luận án những nhận thức cơ bản về đơn vị tổ chức Công giáo thấp nhất, song lại

có những ảnh hưởng đáng kể đối với đời sống giáo dân đồng bằng Bắc Bộ

Chuyên luận "Choosing Peace Hanoi and the Geneva Agreement on

Vietnam,1954–1955" (Journal of Cold War Studies, Vol 9, No 2, Spring 2007)

của Pierre Asselin tuy không nghiên cứu trực tiếp về Công giáo ở Việt Nam, song đề cập đến tình hình Việt Nam sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, đã giành một dung lượng đáng kể khảo cứu về vấn đề người Công giáo di cư vào miền Nam Phân tích chính sách tôn giáo của Nhà nước VNDCCH, yêu cầu đoàn kết dân tộc, Pierre Asselin kết luận rằng, số giáo dân di cư vào miền Nam Việt Nam đa phần bị dẫn dắt bởi đức tin mù quáng chứ không hoàn toàn do kỳ thị tôn giáo của Chính phủ Việt Minh như một số quan điểm chủ quan đậm sắc thái tuyên truyền chính trị vẫn thường gặp

Chuyên luận “Northern Migration:PopulationCatholic refugeesfromNorth Vietnamandtheir rolein the Republic ofSouthVietnam, 1954- 1959” (Journal of Vietnamese Studies, Volume 4, issue 3, Fall 2009), Peter

Hansen (giảng viên khoa Lịch sử Giáo hội ở Châu Á, Melbourne College of Divinity, Australia) là một công trình khảo cứu khá kỹ về quá trình di cư, tái định cư của giáo dân miền Bắc ở miền Nam Việt Nam sau năm 1954 Vốn từng là một luật sư đã có thời gian làm việc thiện nguyện tại một

số trại tỵ nạn Hồng Kông và Philippinnes đầu những năm 90 (XX) - nơi ông làm quen với những người Việt tị nạn, có vốn hiểu biết sâu sắc về cộng đồng người Việt Nam di cư, có nguồn tư liệu phong phú, nên nhiều luận giải của tác giả khá thuyết phục Đưa ra một góc nhìn mới về nguyên nhân của cuộc “thiên di lịch sử” năm 1954, Peter Hansen kết luận: 1- Động cơ, sự lựa chọn con đường di cư của giáo dân miền Bắc Việt Nam tương đối đa dạng, xuất phát từ nhiều nguyên

do khác nhau, thậm chí có những nguyên do mang tính ngẫu nhiên, hoàn toàn không liên quan đến niềm tin tôn giáo hay lòng ái quốc ; 2-Dù di cư dưới bất kỳ

lý do gì, thì ở nơi tái định cư, họ đã xây dựng, hình thành nên một cộng đồng có bản sắc riêng, không bị đồng hóa, dần dần (nhưng không phải ngay lập tức), bị Chính phủ Ngô Đình Diệm lợi dụng cho những mục đích lập quốc; 3- Những cộng đồng Công giáo này thường tái tạo các hình mẫu tổ chức, cung cách lãnh đạo và quan hệ với thế giới bên ngoài với đầy đủ đặc trưng các cộng đồng làng

xã của họ ở miền Bắc Tiếp tục chủ đề về người Công giáo Bắc Việt di cư, trong

Trang 17

chuyên luận "The Virgin head South: Northem Catholic Refugees in South

Vietnam,1954-1964”, Melbourne College of Divinity, Kew, 2008), tác giả Peter

Hansen làm rõ, làm sâu thêm quá trìnhkhởi hành từ miền Bắc, tiếp nhận và tái định cư của giáo dân di cư miền Bắc ở miền Nam; đặc biệt, Peter Hansen nghiên cứu, nhấn mạnh đến vai trò của các cơ quan GHCGởmiền Nam Việt Nam và quốc tế giúp đỡ đảm bảo quá trình chuyển đổi từ trạng thái ngụ cư tạm thời đến tích hợp vĩnh viễn, song không đào thải các cấu trúc xã hội Công giáo chặt chẽ đặc trưng miền Bắc

Một trong những công trình đáng lưu ý là cuốn sách “Catholicism and

Politics in Communist societies” (Published by Duke University Press, 1990 ) của

nhóm tác giả do Pedro Ramet3

đứng đầu Đây là cuốn thứ hai trong bộ ba tác phẩm nghiên cứu về các Giáo hội Kitô ở các nước XHCN Trong cuốn sách, nhóm tác giả khảo sát quan hệ đang thay đổi của Giáo hội Công giáo biện chứng với những xã hội XHCN tại Đông Âu, châu Mỹ Latinh và châu Á, trong đó có Việt Nam (từ năm 1954 đến 1989) Theo cái nhìn của nhóm tác giả, Công giáo truyền thống vốn coi đời sống trên trái đất chỉ có tầm quan trọng thứ yếu, làm công cụ biến chuyển đời sống thiêng liêng, nhưng mặt khác, GHCG không hề là một phiến đá rắn nguyên khối, có tính cách đa biệt nội tại, mà có khả năng thích ứng uyển chuyển và thay đổi qua lịch sử Trên quan điểm đó, nhóm tác giả khảo sát những cách thích ứng địa phương và quốc gia của GHCG trong bối cảnh lịch

sử xã hội XHCN, nghiên cứu các chủ đề như truyền thống đối với hiện đại, giáo phẩm đối với hàng giáo sĩ cấp dưới, cơ cấu định chế đối với tổ chức quần chúng bình dân…; từ đó, cuốn sách lần lượt mô tả dung mạo xã hội và chính trị của Giáo hội đương đại ở các nước XHCN khác nhau Về Công giáo ở Việt Nam những năm 1945-1954, các tác giả khái quát những vấn đề cơ bản nhất trong quan hệ Công giáo với chính trị, khẳng định: “Việc can thiệp và xâm chiếm thuộc địa của Pháp (1860-1945) làm cho Giáo hội thịnh đạt như một định chế” [220, tr 272]

Năm 2009, Nhà xuất bản Cerf (Paris) cho ra đời cuốn sách: "Église

catholique et le communisme en Europe (1917-1989) De Lénine à Jean-Paul II, Paris” của Giáo sư Philippe Chenaux Cuốn sách nghiên cứu về quan hệ giữa

3

Pedro Ramet là giáo sư diễn giảng (associate professor) tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Henry M Jackson, Viện Đại học Washington, Seattle

Trang 18

Công giáo với cộng sản và các xung đột dưới mọi hình thức qua sự khảo cứu công phu những vấn đề của Công giáo ở các nước khối XHCN Đông Âu, Liên

Xô và ở những nước phát triển Tây Âu, với phạm vi nghiên cứu bắt đầu từ năm

1917 (năm Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, đưa những người cộng sản lên nắm quyền ở nước Nga, sau đó dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng “mười ngày rung chuyển thế giới” xuất hiện một hệ thống các nước theo tư tưởng cộng sản) và kết thúc bằng năm 1989 (thời điểm bức tường Berlin cùng với Nhà nước

xã hội chủ nghĩa các nước Đông Âu sụp đổ) Đó là khoảng thời gian mà Philippe Chenaux gọi là “thế kỷ XX ngắn ngủi” Trong cuốn sách, Philippe Chenaux làm

rõ quan hệ đối đầu – hòa hoãn – đối đầu giữa Công giáo và cộng sản, coi một trong những điểm khởi nguồn cho sự sụp đổ của hệ thống cộng sản trong các nước Đông Âu phát xuất từ Ba Lan với vai trò quyết định của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II – một người, như Philippe Chenaux lý giải, đã làm cho dân tộc

Ba Lan lấy lại được niềm tin vào khả năng tự mình nắm lấy lịch sử của mình trong tay Phần cuối cuốn sách (phần bốn) được Philippe Chenaux đặt một cái

tên khá khiêu khích: “Chủ nghĩacộng sản- dị giáo cuối cùng của Kitô giáo”,

tập trung trình bày chủ nghĩa cộng sản như dị giáo sau cùng của Kitô giáo, với

lý do: Không thể tư duy về chủ nghĩa cộng sản bên ngoài một nền văn hóa thái và Kitô giáo, bởi qua các giá trị mà chủ nghĩa cộng sản đề cao (công bằng

Do-xã hội, bình đẳng, tính cộng đồng…), bỏ qua quan niệm duy vật vô thần về cuộc sống và lịch sử của nó, người ta nhìn thấy cả một niềm hy vọng thế tục lớn lao

mà nó đã khơi dậy - niềm hy vọng gần gũi với các giá trị trong di sản Do - thái

và Kitô

Charles Keith (Phó giáo sư, Michigan State University) là tác giả có những nghiên cứu chuyên sâu về Công giáo ở Việt Nam và Đông Dương Trong

công trình "Catholic Vietnam: A Church from Empire to Nation” (University of

California Press, 2012), Charles Keith tìm hiểu về quá trình thực dân Phápbiến đổi một cách mạnh mẽ cấu trúcCônggiáoViệt Nam trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, biến Công giáo trở thành công cụ quan trọng kiểm soát con người – giáo dân về mặt tinh thần Điều đó dẫn đến sự bất bình đẳng trong quan

hệ GHVN với Giáo hội châu Âu Charles Keith cho rằng, dù vậy, thì quá trình thực dân hóa Việt Nam của nước Pháp đã tạo cơ hội để GHVN mở rộng quan hệ

với thế giới Công giáo toàn cầu Những cải cách của Vatican, một mặt, tạo điều

Trang 19

kiện cho GHVN có tính độc lập tương đối; mặt khác, dính lứu GHVN sâu hơn vào các hoạt động chính trị Trong một công trình khác - chuyên khảo "An Nam

rise up: The first bishop of Vietnam and the formation of national churches, the period 1919-1945" (Journal of Vietnamese Studies, Vol 3), Charles Keithkhảo

sát vị trí của các giám mục người Việt tiên khởi trong nền chính trị và xã hội Việt Nam vào những năm cuối giai đoạn thuộc địa; xem xét sự thăng tiến của một số nhân vật có nhiều ảnh hưởng trong bối cảnh suy giảm ảnh hưởng của Giáo hội truyền giáo và sự thúc đẩy của Vatican cho việc hình thành Nhà thờ dân tộc ở châu Á với những thay đổi về định chế cũng như văn hoá của GHCGVN Nghiên cứu mối liên hệ giữa đức tin và chính trị trong nước Việt Nam thuộc địa, tác giả chỉ ra những thay đổi trong Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam – sự thay đổi phản ánh sự bất hoà ngày càng gia tăng giữa Chính quyền thuộc địa và những mối quan hệ ngày càng lớn hơn với Giáo hội Thiên Chúa giáo toàn cầu Đó cũng là cơ sở giúp giải thích vai trò của Nhà thờ trong

xã hội Việt Nam sau khi giành được độc lập

Trong bài viết “Tools of Empire? Vietnamesse Catholics in South

Vietnam” (Journal of the Canadian Historical Association, Vol 20, N0 2, 2009), Van Nguyen-Marshall (Phó giáo sư sử học,Trent University)nghiên cứu và dựng lại bức tranh cáchoạt động chínhtrị - xã hội của người Công giáo miền Nam Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1970, từ hoạt động cứu trợ nhân đạo đến biểu tình chống chiến tranh, tham gia vàochính trị địa phươngvàquốcgia, phê bìnhchính sách của Chính phủ Những nỗ lực ấy của người công giáo miền Nam Việt Nam, theo đánh giá của Van Nguyen-Marshall, thể hiện tính chủ động, cố gắng thay đổi môi trường chính trị - xã hội Điều đó chứng tỏ rằng, người Công giáo miền Nam Việt Nam đã vượt khỏi khuôn khổ “đóng cứng của đạo”, tham gia vào đời sống chính trị

Nhìn chung, trong những công trình nghiên cứu nêu trên, các nhà nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ những nội dung cơ bản nhất về tình hình Công giáo ở Việt Nam qua các giai đoạn nghiên cứu khác nhau Đây là hướng nghiên cứu hẹp trong lĩnh vực tôn giáo, nên trong so sánh với một số hướng nghiên cứu khác, thì số lượng công trình còn khá khiêm tốn, song những đóng góp của các công trình cho tiến trình nghiên cứu Công giáo là rõ nét và quan trọng

Trang 20

2.5 Nhóm công trình nghiên cứu về Công giáo với dân tộc trong kháng chiến chống Pháp

Phạm Bá Trực (1945), “Kính chúa yêu nước đoàn kết lương giáo đấu

tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”, Uỷ ban Đoàn kết Liên Việt

toàn quốc xuất bản; Vũ Văn Hậu (2007), Mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc

ở Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Hữu Hợp – Tố Thanh (1988), “Công giáo Việt

Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)”, Tạp

chí Nghiên cứu lịch sử, số 1+2/1988; Viện Nghiên cứu Tôn giáo (2000), “Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng tôn giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời

kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954)” (Kỷ yếu Hội thảo khoa

học)…

Một trong những tác phẩm đáng chú ý liên quan đến vai trò của tôn giáo

với dân tộc trong KCCP là của Linh mục Phạm Bá Trực: “Kính chúa yêu nước

đoàn kết lương giáo đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”,

doUỷ ban Đoàn kết Liên Việt toàn quốc xuất bản năm 1945 Công trình là sự tập hợp những bài viết, những bức thư gửi đồng bào Công giáo của tác giả từ năm

1948 đến năm 1954 Với chức vụ Phó chủ tịch Uỷ ban Liên Việt toàn quốc và trên góc độ người trí thức Công giáo yêu nước, Linh mục Phạm Bá Trực đã

chứng minh rằng, kính chúa và yêu nước là hai mặt của một thể thống nhất,

không tách rời trong đời sống tinh thần của mỗi tín đô Kitô giáo – công dân nước Việt Nam dân chủ mới và mỗi người Kitô hữu cần thấm nhuần quan điểm nêu trên Trên lập trường đó, Linh mục Phạm Bá Trực đã lý giải để những tín đồ Công giáo hiểu rõ chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Chính phủ VNDCCH, vạch trần âm mưu lợi dụng tôn giáo nhằm chia rẽ dân tộc,

dụ dỗ những tín đồ Kitô giáo đi vào con đường lầm lạc Linh mục Phạm Bá Trực khẳng định: Muốn có tự do tôn giáo theo đúng nghĩa, đất nước phải độc lập một cách thực sự và mỗi giáo dân phải cống hiến sức mình cho sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc Linh mục Phạm Bá Trực kêu gọi, vận động các con chiên của Chúa sống “tốt đời, đẹp đạo”, thực hiện đoàn kết tôn giáo, đồng hành cùng dân tộc, kiên quyết bảo vệ những quyền dân tộc thiêng liêng

Bài tạp chí “Công giáo Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp xâm lược (1945-1954)” (Nghiên cứu lịch sử, số 1+2/1988) của hai tác giả

Trang 21

Hữu Hợp – Tố Thanh đã nghiên cứu về GHCGVN, về đội ngũ những người CGVN, về chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào Công giáo Các tác giả luận giải khá kỹ về hai xu hướng của CGVN trong quan hệ với dân tộc những năm 1945-1954, mà các tác giả gọi một cách hình tượng là “dòng chảy ngược” và “dòng chảy xuôi” Trong kết luận của công trình, các tác giả khẳng định hai nội dung quan trọng: 1- Những năm 1945-1954, dưới tác động tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách tôn giáo đúng đắn của ĐCSVN, đồng bào Công giáo đã đặt niềm tin nơi Chính phủ, tích cực thực hiện đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; 2- Cần phát huy, kế thừa những kinh nghiệm quý báu của thời kỳ này vào hoạch định chính sách tôn giáo trong điều kiện hiện nay

Trong công trình "Les Catholiques Vietnamiens pendant la guerre

D'indépendance (1945-1954) entre la reconquete coloniale et la resistance communiste", tác giả Trần Thị Liên (Phó Giáo sư-Nghiên cứu viên tạiTrường

Đại học ParisDiderot) đã khảo cứu những chiều cạnh cơ bản nhất thuộc về quan

hệ giữa Công giáo với chính trị ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 Tác giả đặc biệt chú ý đến sự tương tác giữa Công giáo với Nhà nước VNDCCH Phân tích các yếu tố tích cực trong chính sách đối với tôn giáo nói chung, với Công giáo nói riêng của Nhà nước VNDCCH trong kháng chiến, đặc biệt là giai đoạn kiến tạo nền móng đất nước sau ngày giành độc lập, tác giả kết luận rằng, trước yêu cầu sống còn bảo tồn độc lập, tự do, Nhà nước Việt Nam mới đã đưa ra và thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo trên nền tảng đại đoàn kết dân tộc như một "thủ thuật chính trị"; vì thế, đã mang lại hiệu quả rõ rệt Trên cơ sở nguồn lưu trữ Ba Lan và Việt Nam, tác giả so sánh chính sách tôn giáo của hai quốc gia

có cùng hệ tư tưởng, liên hệ với Liên Xô, Trung Quốc; từ đó, cố gắng phác họa

mô hình quan hệ Công giáo với chính trị ở các quốc gia theo ý thức hệ cộng sản

Là một trong những học giả có những nghiên cứu giá trị về chiến tranh Đông Dương, về lịch sử Đông Nam Á cận hiện đại, Christopher Goscha (Đại

học Québec, Montréal) trong công trình “Vietnam: Un État né de la Guerre

1945-1954” (H-Diplo Roundtable Reviews, 2012) tuy không trực tiếp bàn về

vấn đề Công giáo trong kháng chiến chống thực dân Pháp, song có những cống hiến quan trọng khi làm rõ chính sách tôn giáo và quan hệ tôn giáo (trong đó có Công giáo) với Nhà nước từ khi Nhà nước Việt Nam mới ra đời và lãnh đạo

Trang 22

cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, giải phóng đất nước Tiếp cận Công giáo không chỉ dưới góc độ là một trong những tôn giáo có vị trí quan trọng trong quốc gia

đa tôn giáo Việt Nam, mà còn dưới góc độ trụ cột tinh thần của một bộ phận đông đảo dân chúng, luôn có ảnh hưởng vượt tầm tôn giáo, hướng tới chính trị, Christopher Goscha đã khắc họa những nét cơ bản về quan hệ Công giáo với Nhà nước/chính trị từ năm 1945 đến năm 1954; làm rõ tính hai mặt của mối quan hệ như một biểu hiện tập trung, nhất quán về đặc tính kết hợp đạo với đời của Công giáo hiện đại

Như vậy, nhóm công trình liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của luận án và tuy số lượng công trình không phong phú như những nhóm công trình khác, các kết quả nghiên cứu đã đạt được là rất đáng trân trọng, là những

cơ sở, dựa trên đó, tác giả luận án kế thừa một cách chọn lọc, tiếp tục triển khai sâu hơn các nội dung nghiên cứu, hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra

Một cách tổng quát, khảo cứu những công trình nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số kết luận cơ bản sau:

Thứ nhất, với sự cố gắng, nỗ lực lao động khoa học của những nhà

nghiên cứu đi trước, những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

đã có những đóng góp quan trọng sau:

1-Trong phần lớn các công trình được khảo cứu, các tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về tôn giáo; làm rõ đặc điểm, vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội trên thế giới và ở Việt Nam Bên cạnh đó, các tác giả chỉ

ra một số nguyên nhân tác động tới tình hình tôn giáo Việt Nam theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực như mở cửa, hội nhập kinh tế, hội nhập văn hoá, du nhập tôn giáo ngoại lai; sự lợi dụng tôn giáo chống phá chế độ từ bên ngoài; lợi dụng tôn giáo thực hiện “diễn biến hòa bình”; trình độ dân trí của một bộ phận nhân dân còn thấp; tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường…

2- Với mục tiêu làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, về đoàn kết tôn giáo, các tác giả đã phân tích khá sâu sắc, có sức thuyết phục các nội dung thuộc

về chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh như: Cơ sở hình thành, nguyên tắc, nội dung cơ bản của chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh cũng soi chiếu, làm sáng

tỏ cơ sở, điều kiện, mục tiêu thực hiện đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí

Trang 23

Minh, vấn đề vận dụng tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Ngoài ra, các tác giả còn làm sâu sắc thêm một số vấn đề liên quan như: Phát huy tiềm năng cách mạng của đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phương pháp đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh… Trong hầu hết các công trình, các tác giả đều đúc kết kinh nghiệm, hoặc đưa ra phương hướng, giải pháp, nhằm củng cố vững chắc khối đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội và đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ, đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch nói chung, tại một số địa bàn trọng điểm nói riêng

3- Nghiên cứu về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam,

các nhà nghiên cứu đã đề cập và làm rõ nhiều khía cạnh khác nhau thuộc về quan điểm, chủ trương của ĐCSVN đối với tôn giáo; về chính sách, sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo qua các thời kỳ khác nhau Các tác giả

đã tổng kết những thành công, hạn chế, tìm ra nguyên nhân hạn chế, để từ đó có những đề xuất, kiến nghị về hoạch định chủ trương, chính sách tôn giáo, về đổi mới cơ chế quản lý tôn giáo…; đồng thời, khái quát một số kinh nghiệm về đoàn kết lương giáo như: Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân; đấu tranh vạch rõ kẻ thù, phê phán thẳng thắn hành động chống phá cách mạng làm tổn hại lợi ích của nhân dân và

Tổ quốc; làm tốt công tác vận động chức sắc tôn giáo, phát huy vai trò và uy tín của họ trong cộng đồng tôn giáo Những kiến giải, khuyến nghị đối với chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam của các tác giả nhóm công trình này

là những gợi mở tốt cho tác giả luận án khi giải quyết một số nội dung nghiên cứu

có liên quan

4- Đa số các tác giả đã giành một dung lượng đáng kể trong các công trình

nghiên cứu để phân tích vấn đề CGVN trong lịch sử, cũng như ở thời điểm hiện tại trên các khía cạnh: Nguồn gốc, bối cảnh xuất hiện, đặc điểm, nội dung, những hoạt động chủ yếu… Đây là những kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo quan trọng cho tác giả luận án trong nhiều nội dung nghiên cứu

5- Các công trình nghiên cứu về Công giáo với dân tộc trong cuộc KCCP

có số lượng khá khiêm tốn Dù vậy, bước đầu các nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ những đóng góp cơ bản của Công giáo đối với cuộc kháng chiến Một số ảnh

Trang 24

hưởng tiêu cực của Công giáo đã được nhận thức trên những bình diện chủ yếu Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước đã gợi mở cho tác giả luận án những hướng tiếp cận, những định hướng nghiên cứu quan trọng trong quá trình giải quyết các vấn đề thuộc về nội dung chính của luận án

Thứ hai,bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số vấn đề nghiên cứu cần được làm

rõ, làm sâu thêm:

1-Trong nhiều công trình nghiên cứu, vấn đề CGVN được đề cập, tuy nhiên, mới chỉ được nghiên cứu ở góc độ cung cấp luận cứ, cơ sở cho việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cấp bách về tôn giáo, hoặc dự báo xu hướng phát triển tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

2- Vấn đề Công giáo với dân tộc trong KCCP tuy được các nhà nghiên

cứu quan tâm, song mới ở những chừng mực nhất định, phù hợp với yêu cầu, mục đích nghiên cứu của từng công trình Vẫn chưa có một sự khảo cứu sâu sắc,

hệ thống, toàn diện, trên mọi chiều cạnh về quan hệ giữa Công giáo với dân tộc,

về cuộc đấu tranh của đồng bào Công giáo chống âm mưu phá hoại cách mạng của các thế lực thù địch, về đóng góp của đồng bào Công giáo trong toàn bộ cuộc kháng chiến, về sự chống phá kháng chiến của các lực lượng Công giáo …

3- Các công trình nêu trên chưa phân tích một cách sâu sắc những hạn chế, nguyên nhân hạn chế của quá trình vận động, thuyết phục đồng bào Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong KCCP Các kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn vận động cộng đồng CGVN cần được làm sâu hơn, rõ hơn Đây cũng

là những khoảng cần khỏa lấp trong nghiên cứu về CGVN

Thứ ba, dựa trên thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, nắm bắt các

khoảng trống còn tồn tại xung quanh vấn đề nghiên cứu, bám sát đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả luận án định hướng đi sâu, làm rõ những vấn

đề về CGVN trong quan hệ với dân tộc những năm KCCP, đó là:

1- Phân tích chính sách vận động Công giáo của Đảng, Nhà nước VNDCCH, làm rõ xu hướng đồng hành cùng dân tộc của đa số đồng bào CGVN, những đóng góp của CGVN cho cuộc KCCP với tinh thần sống tốt đời, đẹp đạo, sống Phúc âm giữa lòng dân tộc

Trang 25

2- Làm sáng tỏ xu hướng đi ngược lại lợi ích dân tộc của một bộ phận giáo chức và đồng bào CGVN, những ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động chống phá của bộ phận này đối với cuộc KCCP, đối với quá trình xây dựng chế độ mới

3- Khái quát những đặc điểm cơ bản của quan hệ Công giáo với dân tộc; đánh giá một cách khách quan, công bằng vai trò, mặt tích cực, tiêu cực của CGVN đối với dân tộc, đối với kháng chiến, làm cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm lịch sử

3 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án quan hệ Công giáo với dân tộc trong KCCP với những chiều cạnh cơ bản nhất

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài việc sử dụng rộng

rãi các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử như phương pháp lịch sử,

phương pháplogic, phương phápphân tích, phương pháptổng hợp, luận án còn

sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản ngành xã hội nhân văn như phương

phápđối chiếu, thống kê, phương phápso sánh, để xử lý các sự kiện, con số, với

mục đích dựng lại bức tranh toàn cảnh về quan hệ Công giáo với dân tộc trong KCCP Luận án đi sâu, làm rõ những sự kiện chủ yếu, quan trọng, những hoạt

động cơ bản của Công giáo bằng các phương pháp lịch sử, phương pháplogic,

phương phápphân tích, phương phápkhái quát hóa Để luận giải và chỉ đặc

điểm, bản chất, đúc rút một số kinh nghiệm lịch sử trong quá trình vận động đồng bào Công giáo cống hiến cho KCCP

4 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ mối quan hệ của Công giáo với dân tộc trong KCCP với các chiều cạnh cơ bản; trên cơ sở đó, làm sáng tỏ đặc điểm, đúc rút một số kinh nghiệm lịch

sử có giá trị khoa học và thực tiễn

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày khái quát về tình hình CGVN trước Cách mạng tháng Tám 1945; phân tích chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước VNDCCH đối với tôn giáo nói chung, với Công giáo nói riêng trong KCCP

Trang 26

- Làm rõ hai xu hướng chủ yếu trong quan hệ Công giáo với dân tộc: Đồng hành cùng dân tộc và đi ngược lại lợi dân tộc qua hai giai đoạn: 1945-1946;1946-1954

- Nêu lên đặc điểm của CGVN trong KCCP; đúc rút một số kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi khoa học: Quan hệ Công giáo Việt Nam với dân tộc những năm

1945-1954 có một số xu hướng với độ đậm nhạt khác nhau, song trên phông nền cuộc KCCP, luận án chủ yếu làm rõ thái độ của Công giáo đối với cuộc kháng

chiến vì độc lập, tự do của dân tộc; đi sâu nghiên cứu hai xu hướng chính, đậm

nét–xu hướng đồng hành và xu hướng ly khai dân tộc

- Phạm vi thời gian: Từ năm 1945 đến năm 1954 (là thời điểm bắt đầu và

kết thúc cuộc KCCP của nhân dân Việt Nam)

- Phạm vi không gian: Trên địa bàn cả nước, song địa bàn trọng điểm là

5.2 Nguồn tài liệu

- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh về

tôn giáo, về vai trò, vị trí của tôn giáo trong đời sống xã hội, về quan hệ giữa tôn giáo và đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội, về đoàn kết tôn giáo… là nguồn tài liệu mang tính cơ sở lý luận của luận án

- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, sắc lệnh… của Đảng; chính phủ… về tôn giáo, tín ngưỡng; những văn bản của Tòa thánh Vatican, hội, đoàn CGVN, GHCGVN… là những tài liệu gốc của luận án

- Các công trình nghiên cứu khoa học, các sách, báo có liên quan do các

cơ quan nghiên cứu uy tín đã công bố như Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Sử học… là nguồn tư liệu quan trọng của luận án

Trang 27

- Các tư liệu, sách báo về lịch sử Việt Nam, lịch sử KCCP… là nguồn tài liệu bổ trợ hữu ích, dùng để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu khác nhau của luận án

- Một số các công trình nghiên cứu về tôn giáo, về Công giáo của các nhà nghiên cứu nước ngoài (trong đó có nhiều công trình đã được dịch sang tiếng Việt) là nguồn tư liệu bổ trợ quan trọng cho luận án

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

6.1 Trình bày có hệ thống và làm rõ những hoạt động của cộng đồng CGVN trong KCCP (1945-1954); làm rõ những xu hướng chủ yếu trong quan hệ Công giáo với dân tộc từ năm 1945 đến năm 1954; trên cơ sở đó, dựng lại một cách khách quan bức tranh toàn cảnh CGVN với dân tộc trong KCCP

6.2 Chỉ ra đặc điểm của quan hệ Công giáo với dân tộc trong KCCP; đúc rút một số kinh nghiệm lịch sử chủ yếu từ thực tiễn vận động đồng bào CGVN trong KCCP

6.3 Luận án có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu, hoặc công tác giảng dạy đối với những vấn đề có liên quan

Chương 3.Công giáo với dân tộc trong kháng chiến chống Pháp - đặc

điểm và kinh nghiệm lịch sử

Trang 28

Chương 1 CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC TRONG ĐẤU TRANH GIÀNH VÀ GIỮ

CHÍNH QUYỀN, CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN

(1945-1946) 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC TRƯỚC NĂM 1945

1.1.1 Vài nét về lịch sử Công giáo Việt Nam trước năm 1930

Thế kỷ XV, CNTB ở châu Âu hình thành và có những bước phát triển quan trọng Nền kinh tế hàng hóa thúc đẩy chủ nghĩa thực dân tìm những thuộc địa mới, vừa tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa, vừa khai thác nguồn nguyên liệu quý hiếm Trong xu thế đó, Giáo hội Vatican theo đuổi mục tiêu mở rộng vùng ảnh hưởng ra ngoài châu Âu; vì vậy, đích thân các Giáo hoàng đứng ra đỡ đầu cho làn sóng xâm chiếm thuộc địa của các nước thực dân Trong khoảng

thời gian từ năm 1445 đến 1493, bằng các bản trọng sắc Romenus Pontifex, Inter

Coetera, các Giáo hoàng Nicolas V, Giáo hoàng Calixte III, Giáo hoàng

Alexandre VI phân định giới hạn "vùng ảnh hưởng" của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trên thế giới Phục vụ cho việc lan tỏa ảnh hưởng, Tòa thánh Roma bố trí giáo sĩ truyền giáo luôn ở tâm thế sẵn sàng truyền đạo trên tàu buôn các nước thực dân trong quá trình buôn bán, hoặc xâm chiếm thuộc địa [65, tr 15]

Thế kỷ XVI, một số giáo sĩ Công giáo theo tàu buôn Bồ Đào Nha đến

Việt Nam và công việc truyền giáo bắt đầu Sách Khâm định Việt sử Thông giám

Cương mục chép rằng: Năm Nguyên hoà, đời vua Lê Trang Tôn (năm 1533 -

Tây lịch) có một thương nhân là Ignatius đi đường biển vào giảng đạo Gia-tô ở Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chấn và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thuỷ4 Nhiều nhà nghiên cứu sử học Công giáo lấy năm 1533 là thời mốc đánh dấu việc truyền đạo Công giáo vào Việt Nam Tiếp theo đó, năm 1550, Linh mục Gaspar da Santa Cruz đến giảng đạo tại Hà Tiên; năm 1558, các linh mục khác như Luís de Fonseca, Grégoire de la Motte truyền giáo ở miền Trung; năm 1583, Linh mục Diego Doropesa, Pedro Ortiz đến truyền giáo ở vùng ven biển Quảng Ninh Thời kỳ từ năm 1533 đến năm 1614, chủ yếu các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô (Bồ Đào Nha) và dòng Đa Minh(Tây Ban Nha) đi theo những

4 Các địa danh này ngày nay thuộc tỉnh Nam Định

Trang 29

thuyền buôn vào Việt Nam, nhưng do không quen thông thổ, chưa thạo ngôn ngữ, nên việc truyền giáo không mấy kết quả Từ năm 1615 đến năm 1665, các giáo sĩ dòng Tên (Bồ Đào Nha) từ Macau (Trung Quốc) vào Việt Nam hoạt động ở cả Đàng Trong (Nam sông Gianh) và Đàng Ngoài (Bắc sông Gianh) Ở Đàng Trong có các Linh mục Francesco Buzomi, Diego Carvalho, Francisco de Pin và Alexandre de Rhodes (quen gọi là cha Đắc Lộ) Ở Đàng Ngoài có Linh mục Pedro Marques, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa Đặc biệt là Linh mục Alexandre de Rhodes đã dùng ký tự Latinh đặt hệ chữ viết mới, góp phần hình thành chữ quốc ngữ, hỗ trợ rất tích cực cho việc truyền đạo Theo sử gia người Pháp Bonifacy, Alexandre de Rhodes là người "đem lại cho nước Pháp vai trò quan trọng nhất ở Đông Dương" [123, tr.37]

Mặc dù sự truyền đạo giai đoạn đầu ít gặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và tính không đối đầu của tôn giáo bản địa, nhưng vì sự khác biệtvới văn hoá, với tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, nên kết quả truyền đạo không cao, thậm chí một thời gian dài, Công giáo bị xem là “tả đạo”, “tà đạo Tây Dương”, “tà giáo Tây Dương”…Các giáo sĩ được gọi bằng cái tên “Tây Dương đạo trưởng”, còn giáo dân bị gọi là “dữu dân”, bị xem như loại

cỏ “lồng vực” có hại cho mùa màng Triều đình phong kiến hiểu biết về Công giáo hết sức nông cạn, đôi khi sai lệch

Lúc đầu, do Bồ Đào Nha và Pháp chưa có đủ lực để xâm chiếm Việt Nam, nên công việc truyền giáo của các giáo sĩ phần lớn dựa vào việc buôn bán hàng hóa để gây ảnh hưởng với nông dân và nhà cầm quyền địa phương Nhận thấy có vấn đề chính trị trong hoạt động truyền giáo nguy hại cho đất nước, chúa Trịnh và chúa Nguyễn đã nhiều lần ra lệnh cấm truyền đạo Nhưng cả chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều cần có vũ khí để giao tranh, mà nguồn vũ khí duy nhất lúc bấy giờ chỉ có Bồ Đào Nha hoặc Pháp cung cấp; do vậy, các Chúa phải đánh đổi việc truyền giáo để giành lấy quyền mua vũ khí Công việc truyền giáo

có khi khó khăn, có khi thuận lợi, "tùy thuộc vào những chuyến tàu chở những món hàng mà các Chúa ưa thích và cần đến" [83, tr 225] Năm 1659, Tòa thánh Vatican ra sắc chỉ lập hai địa phận tại Việt Nam: Địa phận Bắc (từ sông Gianh trở ra) và địa phận Nam (từ sông Gianh trở vào) [117, tr 224]

Đến thế kỷ XVIII, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha suy yếu, công việc

truyền giáo ở Việt Nam được Tòa thánh Vatican giao cho Hội truyền giáo nước

Trang 30

ngoài Paris (M.E.P) – một công cụ mở rộng nước Chúa của Vatican; đồng thời,

là công cụ mở rộng thuộc địa của thực dân Pháp [23] Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế

kỷ XIX, trong cuộc nội chiến giữa triều đại của anh em nhà Tây Sơn với chúa Nguyễn, thế cùng lực kiệt, Nguyễn Ánh phải dựa vào các giáo sĩ truyền giáo, nhờ

họ cầu viện Pháp Ngay lập tức, Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) không

để mất cơ hội vừa giúp đỡ cho chúa Nguyễn và vừa làm lợi cho nước Pháp đang trên đà cạnh tranh quốc tế Tại triều đình Versailles, Giám mục Pigneau de Béhaine nêu các lợi ích trong việc Pháp can thiệp vào Việt Nam Lúc này, do triều đình Pháp chưa thể đưa quân tới giúp Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn, nên Giám mục Pigneau de Béhaine dùng số tiền của M.E.P và sự ủng hộ tiền bạc của bạn bè để mua tàu chiến, trang bị khí giới, thuê sĩ quan Pháp huấn luyện cho quân của Nguyễn Ánh, tổ chức những đạo quân là người Công giáo gây rối nhà Tây Sơn Những hoạt động của Pigneau de Béhaine để lại dấu ấn sâu đậm đối với thời cuộc của Việt Nam lúc bấy giờ Pigneau de Béhaine được coi là “nhà tiên khu (précurseur) công cuộc thực dân của người Pháp ở Đông Dương” [123, tr 39] Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn và lên làm vua Để trả ơn những người đã giúp mình, ông cho các giáo sĩ được tự do truyền đạo đến tất cả các vùng thuộc lãnh thổ Việt Nam, song ông cũng nhận thấy rõ nguy cơ Giáo hội Thiên Chúa giáo tiếp tay cho âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, "tỏ rõ sự lãnh đạm và cảnh giác với các giáo sĩ trong Giáo hội Thiên Chúa giáo" [123, tr 39], nhất là khi yếu tố chính trị ngày càng đậm nét trong vấn đề Công giáo Các giáo sĩ thừa sai "ngày càng can thiệp sâu vào triều chính, số quan lại có thiện cảm hoặc chịu phép rửa tội ngày càng nhiều" [102, tr 30] Do vậy, mặc dù hàm

ơn giúp đỡ của các thừa sai châu Âu, Nguyễn Ánh không muốn ảnh hưởng của tôn giáo này được mở rộng

Sau khi Nguyễn Ánh chết, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức lần lượt lên nối ngôi Nhận thấy những hoạt động chính trị của các giáo sĩ thừa sai qua việc làm tình báo cho thực dân Pháp và kích động giáo dân gây rối loạn, triều đình nhà Nguyễn nhiều lần ra sắc chỉ cấm đạo, bắt các giáo sĩ phương Tây phải rời khỏi Việt Nam Như vậy, Công giáo đã bị coi như một thứ đạo ngoại lai, phản lại thuần phong, mỹ tục người Việt, bị cấm đoán, tiêu diệt Trong khoảng 300 năm dưới thời phong kiến, "có trên dưới 130.000 tín hữu Thiên Chúa giáo bị giết, 3.000 giáo xứ

đã bị đốt phá” [65, tr 4]

Trang 31

Sau năm 1840, các giám mục, linh mục thừa sai liên tục hối thúc thực dân Pháp đánh Việt Nam, để họ có thể tiếp tục truyền đạo dễ dàng Hai nhân vật quan trọng cổ vũ cho Pháp xâm lăng Việt Nam là Giám mục Pellerin cai quản địa phận Huế và Linh mục Húc, cựu thừa sai truyền giáo Giám mục Pellerin khẳng định trước toàn thể triều đình Napôlêôn III: "Nếu quân Pháp đánh chiếm Việt Nam, thì giáo dân bản xứ sẽ đón tiếp họ như những kẻ cứu tinh" [179, tr 36] Linh mục Húc viết thư cho vua Pháp: "Chiếm lấy Nam Kỳ là việc làm dễ dàng nhất trần gian, nó sẽ đem lại những kết quả vô cùng to lớn Nước Pháp hiện có tại biển Trung Quốc những lực lượng dư sức để tiến hành việc đó" [179,

tr 36] Linh mục Húc nói về tương lai phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam như sau: "Dân bản xứ thì hiền lành, siêng năng, rất dễ đón nhận đức tin Ki-tô giáo

Họ sẽ đón tiếp chúng ta như những người giải phóng, những vị ân nhân Chỉ ít lâu thôi là đem họ theo đạo được hết và làm cho họ nhiệt tình yêu nước Pháp"

[179, tr 36] Về mối liên hệ giữa đạo Công giáo và sự xâm lược An nam của

thực dân Pháp, trong cuốn Cultes et Religions de l’Indochine Annamite, sử gia

người Pháp Georges Coulet viết: “Thiên Chúa giáo đã mở cửa cho quân đội Pháp và là nguyên nhân trực tiếp cho cuộc xâm lược đất nước này” [222, tr 99] Thật thế, nhờ những tin tức tình báo chính xác từ các giáo sĩ thừa sai đang truyền đạo ở Việt Nam, năm 1843, 1847 và 1856, quân đội Pháp liên tục đưa tàu chiến đến Đà Nẵng gây sức ép với triều đình nhà Nguyễn, yêu cầu cho các giáo sĩ thừa sai được tự do truyền đạo Năm 1858, chịu áp lực của Giám mục Pellerin, vua Pháp Napôlêôn III ủy nhiệm cho Phó Đề đốc Rigaut de Genouilly đánh chiếm Việt Nam Năm 1862, Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ và phái thiếu tá M De Montini đàm phán với Huế, "đòi vừa được tự do truyền giáo, vừa được tự do buôn bán" [65, tr 16] Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam

Bộ, thực dân Pháp tổ chức ngay bộ máy cai trị Các giám mục và linh mục cử giáo dân đến hợp tác với thực dân Pháp Hơn 4.000 giáo dân đến quây quần xung quanh quân xâm lược để tiếp viện lương thực và giúp phá vòng vây của quân khởi nghĩa

Ngày 5-1-1862, Pháp và triều đình nhà Nguyễn ký một Hiệp ước, quy định: "Điều 2 - Tự do theo đạo Thiên Chúa; Điều 3 - Tự do buôn bán" [65, tr 16] Năm 1874, khi triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước lần thứ hai với thực dân Pháp, vấn đề cấm đạo mới thực sự bị dỡ bỏ (thể hiện qua Điều 9 của bản Hiệp

Trang 32

ước) Tiếp theo, vua Tự Đức ban dụ chuẩn đổi tên gọi (mùa Xuân, Tự Đức năm 27), dụ về bồi thường dân đạo (mùa Xuân, Tự Đức năm 28); định lệ về thi cử của giáo dân (tháng 7, Tự Đức thứ 28),… Như vậy, cho đến tận thời kì này, Công giáo mới được nhìn nhận như một tôn giáo; tuy nhiên, nhà Nguyễn đã dần dần mất vai trò quản lý đất nước, việc thực thi không được là bao

Từ năm 1883, thực dân Pháp chính thức đặt ách thống trị lên Việt Nam Nhờ sự nâng đỡ của chủ nghĩa thực dân, đạo Công giáo ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng tín đồ và nơi thờ tự Việc truyền đạo được mở rộng lên vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, Thiên Chúa giáo Việt Nam phát triển khá thuận lợi, không mắc phải một cản trở gì từ phía chính quyền Cuối thế kỷ XVIII, GHCGVN có ba địa phận (Đàng trong, Đàng ngoài và Tây Đàng ngoài), với khoảng 3 vạn giáo dân và 70 linh mục Việt Nam Theo tài liệu của GHCGVN, sau 37 năm truyền giáo ở Đàng ngoài với 25 linh mục, 5 trợ sĩ và sau 50 năm truyền giáo ở Đàng trong với 39 linh mục, 1 trợ sĩ, các giáo sĩ giòng Tên đã phát triển được khoảng 100.000 tín đồ Về mặt tổ chức, đến nửa đầu thế kỷ XIX, đạo Công giáo đã có những biến đổi quan trọng: Năm 1844, Giáo hoàng Gregory XVI chia giáo phận Đàng trong ra thành hai giáo phận mới là Tây Đàng trong (Sài gòn) gồm 6 tỉnh Nam Kỳ của Việt Nam và nước Campuchia do Giám mục D.Lefebvre Ngãi cai quản; giáo phận Đông Đàng trong (Quy Nhơn) do Giám mục E.T Cuenot Thể cai quản [11, tr 20] Năm 1850, cả nước có 500.000 người theo đạo Công giáo và 227 linh mục; năm 1890, ở 8 giáo phận có 648.435 tín đồ, 9 giám mục, 575 linh mục, tu sĩ (trong đó có 356 linh mục người Việt Nam), 930 Nhà thờ; năm 1910, tăng lên 900.000 tín đồ [11, tr 25] Đến năm

1913, ở Việt Nam có 11 giáo phận và 1 Phủ doãn Tông toà Năm 1925, để trợ lực cho các hoạt động của GHCG ở Việt Nam, Toà thánh Vatican thiết lập Toà Khâm sứ ở Đông Dương và đặt tại Phú Cam (Huế) [11, tr 26] Như vậy, “từ năm 1888 đến năm 1933 là thời kỳ Thiên Chúa giáo Việt Nam phát triển khá thuận lợi Hàng ngàn cơ sở tôn giáo được xây dựng và tín đồ lên đến hàng triệu người" [44, tr 9] Người CGVN thường sống tập trung lại thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, chen chúc quanh Nhà thờ Bị đóng khung và được đoàn ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, các xóm đạo trở thành những ốc đảo tách biệt,

“cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo hội chính thức phê chuẩn” [179, tr 54]

Trang 33

GHCGVN là một bộ phận của Giáo hội Roma, nhưng là một tổ chức đặc biệt, "có tôn ti trật tự phong kiến, biệt lập, khép kín trong cái vỏ rất chặt và kiên cố” [116, tr 294] GHCGVN lệ thuộc vào Vatican, bị đối xử phân biệt Hãy nghe nhận xét của một người trong cuộc – Linh mục Trần Tam Tỉnh: “Các thừa sai chỉ là 20% trong hàng giáo sĩ tại Việt Nam, nhưng họ chiếm giữ toàn bộ các chức vụ quan trọng như giám mục, tổng quản, hạt trưởng, giám đốc chủng viện,

bề trên hội dòng, chánh xứ ở thành thị Trong hầu hết các địa phận, linh mục người Việt không được ngồi cùng một bàn với ông Cố Tây, càng không được ăn cơm chung với Cố” [179, tr 52] Tình trạng GHCGVN thật là bi thảm: “Các cố thừa sai, do màu da và chiếc áo chùng thâm của họ, họ đứng ở một vị trí rất cao trên chiếc thang xã hội Người ta phải cung kính họ ngang với các quan đầu tỉnh (gọi là công sứ tại hai miền Trung và Bắc) Và nhiều chức sắc Công giáo đã lợi dụng vị trí để cai quản theo kiểu bạo Chúa” [179, tr 51] GHCGVN có sự câu kết chặt chẽ với thực dân Pháp, nhờ có các giáo sĩ thừa sai tận tình giúp đỡ, quân Pháp tạo được cho mình một thế đứng khá vững tại Việt Nam Đổi lại những tin tức tình báo quan trọng do giáo sĩ và giáo dân cung cấp về tình hình hoạt động của các cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp đã ban cho đạo Công giáo nhiều đặc ân kinh tế để xây dựng nơi thờ tự và tiếp tục công việc truyền giáo Năm 1872,

“chính quyền Nam Kỳ cấp (ban) cho Nhà Chung Sài Gòn một khoản trợ cấp hàng năm là 170.000 tiền Pháp Năm 1887, Nhà nước Nam Kỳ đã cấp cho các Nhà Chung ở Bắc và Trung Việt Nam số tiền 50.000 quan Pháp" [179, tr 49] Dưới sự bảo trợ của Chính quyền thực dân, GHCGVN chiếm những vùng đất màu mỡ của những người không theo đạo Công giáo, đem số đất đó cho giáo dân thuê canh tác, Nhà thờ đứng ra thu thuế và lợi tức “Ở Nam Kỳ những nhà truyền đạo Thiên Chúa có được trên một phần tư đất đai cày cấy được , ở Bắc

Kỳ, chỉ riêng ở thủ phủ, thành phố Hà Nội, các nhà truyền đạo có những bất động sản rộng bao la" [201, tr 105] Không chỉ có vậy, nhiều giáo sĩ còn đứng

ra tổ chức những đội quân Công giáo chuyên cướp bóc của cải, đánh đập dân chúng không theo đạo, khiến họ khiếp sợ và buộc phải chấp nhận theo đạo Công giáo Nhằm tạo thuận lợi cho việc làm giàu nhanh chóng, Giáo hội đưa người vào nắm các chức vụ trong chính quyền bảo hộ, cho người thân tín lập các công

ty và đồn điền để Giáo hội góp vốn Sự hợp tác của GHCGVN với quân Pháp đã tạo nên hai hình ảnh trái ngược nhau: Một bên là những người không theo đạo

Trang 34

Công giáo đang ra sức đánh đuổi quân xâm lược để giành lại độc lập; bên kia là những người theo đạo Công giáo, coi quân xâm lược là đồng minh Nhà sử học Pháp Jabouille bình luận: “Bất luận thế nào thì Thiên Chúa giáo cũng đã được coi như một công cụ để chinh phục Annam Những tín đồ của tôn giáo này đều

là bạn, là đồng đảng của những kẻ đại diện cho phương Tây Xứ Annam có quyền trách cứ họ như những kẻ tòng phạm của thực dân” [227]

Nhìn lại sự phát triển của đạo Công giáo ở Việt Nam, có thể thấy rằng, Công giáo được củng cố chủ yếu từ khi thực dân Pháp dùng biện pháp quân sự can thiệp vào Việt Nam Thời Pháp thuộc là một trong những thời kỳ phát triển nhất của đạo Công giáo ở Việt Nam GHCGVN có sự liên hệ chặt chẽ với các thế lực thực dân

1.1.2 Công giáo với dân tộc từ năm 1930 đến năm 1945

Trước năm 1933, hàng giám mục Việt Nam hoàn toàn là người nước ngoài, các linh mục ngoại quốc nắm hầu hết giáo xứ có đông tín đồ Hàng giáo

sĩ này hoạt động không chỉ vì mục đích truyền đạo, mà còn có nhiều mục đích chính trị và kinh tế cho bản quốc

Một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển biến căn bản

của Giáo hội Roma là sự kiện ra đời Tông thưMaximum Illud (1919) về việc truyền bá đức tin trên toàn thế giới và Tông thưRerum Ecclesiae (1926) về sứ

mệnh Thiên Chúa giáo Hai Tông thư này chủ trương thay thế vai trò các Hội truyền giáo của các chế độ thực dân, trả lại vai trò lãnh đạo và điều hành cho Giáo hội địa phương Đây là cơ hội tốt để GHCGVN được “bản địa hóa” với việc truyền chức cho các giám mục Việt Nam trong vai trò lãnh đạo, “mở ra một chân trời mới với niềm hy vọng về sự trưởng thành của Giáo hội bản xứ có thể dần tách ra khỏi quỹ đạo do sự bảo hộ của các thừa sai ngoại quốc” [143, tr 4] Năm 1933, sau đúng 400 năm đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam, lần đầu tiên Toà thánh Vatican phong chức giám mục cho một linh mục người Việt Nam - Linh mục Nguyễn Bá Tòng Sự kiện này được coi "là sự kiện quan trọng nhất trong Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam kể từ khi có những chiến dịch bài Thiên Chúa giáo vào thế kỷ XIX và dĩ nhiên đó là sự kiện vui mừng đối với người Thiên Chúa giáo Việt Nam" [217, tr 46] Việc tấn phong cho Linh mục Nguyễn Bá Tòng được kỷ niệm như một ngày lễ trọng của Nhà thờ Thiên Chúa

Trang 35

giáo Việt Nam, tiếp tục được coi là ngày lễ trong những năm sau đó, bởi theo quan niệm của những người Thiên Chúa giáo Việt Nam, ngày đó là ngày "danh

dự của của Việt Nam đã trở nên rõ ràng trước thế giới, là ngày mà thế giới biết tên chúng ta, nghe thấy tiếng nói của chúng ta mà trước đó vẫn bị lu mờ hoặc bỏ qua" [217, tr 49], đó cũng là ngày "mà Chúa cứu thế của Việt Nam đã tới" [217,

tr 50] Sau lễ tấn phong, Giám mục Nguyễn Bá Tòng đi khắp đất nước diễn thuyết Hàng ngàn, hàng vạn người chảy hội nghênh đón giám mục mỗi khi ông đến, coi việc ông được tấn phong là một vinh dự cho GHCGVN Các linh mục

giáo phận Phát Diệm viết về ông đầy tự hào trong bài Chúc từ: “Đây là lần đầu

tiên, mẹ Lạc nhìn thấy một trong những người con của mình được đội lên đầu vương miện bằng vàng từ Âu Châu đi qua khắp các lãnh thổ của người Việt” [143, tr 5]

Nằm trong tiến trình “bản địa hóa” Công giáo, ngày 29-6-1935, Giám mục Hồ Ngọc Cẩn5

được tấn phong và sự kiện này “một lần nữa tạo nên niềm khích lệ lớn lao cho Giáo hội Việt Nam” [143, tr 5] Năm 1938, Vatican bổ nhiệm Ngô Đình Thục làm giám mục cai quản địa phận Vĩnh Long, Nam Kỳ - nơi được coi là lãnh thổ chính trị của chế độ thực dân

Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có những biến chuyển sâu sắc Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười và sự ra đời của Nhà nước Xô viết – Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Hồ Chí Minh nhận xét: “Như ánh mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới” [89, tr 5] Ở Việt Nam, ảnh hưởng bởi trào lưu cách mạng thế giới, sự vận động nội tại của phong trào cách mạng trong nước và các yếu tố khách quan, chủ quan, đầu năm 1930, ĐCS ra đời Trong tiến trình đấu tranh vì mục tiêu độc lập,

tự do, Đảng giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc Mặt trận Việt Minh (MTVM) được thành lập (1941) là đỉnh cao của chiến lược “liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị” [52, tr 461], đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải

5 Hồ Ngọc Cẩn sinh năm 1876, ở Ba Châu, ngoại thành Huế, là giám mục người Việt thứ hai Ông trở thành giám mục giáo phận Bùi Chu (giáo phận đông giáo dân nhất Việt Nam) gần hai năm sau lễ tấn phong Giám mục Nguyễn Bá Tòng

Trang 36

phóng và sinh tồn Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp mọi cá nhân, đoàn thể, mọi tôn giáo, tín ngưỡng, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, “miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập” [52, tr 470] Chủ trương đoàn kết, tập hợp lực lượng rộng rãi, đông đảo, MTVM đã động viên được một lực lượng đáng kể đồng bào Công giáo tham gia vào quá trình vận động tiến tới đấu tranh giành chính quyền

Với mục đích đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc vào sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền, ĐCSVN6

luôn nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh công tác vận động quần chúng công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ, tư sản, địa chủ, công chức, đồng bào theo đạo, các đảng phái , thi hành 10 chính sách lớn của MTVM, coi đó là những mục tiêu cơ bản và trước mắt của toàn Đảng, toàn dân Vào thời khắc lịch sử quyết định, Hồ Chí Minh kêu gọi: "…trong Việt Minh, đồng bào ta bắt tay nhau chặt, không phân biệt trai gái, già trẻ, lương, giáo, giầu nghèo" [3, tr 131] Như vậy, Đảng, MTVM đã phác họa những quan điểm cơ bản về tôn giáo, đặt vấn đề tôn giáo trong khuôn khổ đại đoàn kết dân tộc, cứu nước giành độc lập Việc xác định đồng bào Công giáo là một trong những lực lượng cách mạng quan trọng cần thu hút, vận động cho thấy một cách nhìn mới mẻ, gạt bỏ mọi định kiến của Đảng về Công giáo Cách nhìn ấy cổ vũ đồng bào Công giáo phát huy tinh thần yêu nước, tham gia vào cuộc đấu tranh sinh tồn Đồng hành cùng dân tộc, ngay đêm trước của cuộc cách mạng vĩ đại, tại căn cứ địa Việt Bắc, trong 60 đại biểu của Quốc dân Đại hội Tân Trào đại diện cho các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, đại biểu từ Bắc, Trung, Nam, có cả đại biểu các dân tộc và tôn giáo [72, tr 19] Tất cả - không phân biệt tôn giáo, đồng lòng, nhất trí cùng quyết tâm đứng lên giành lấy độc lập, tự do

Sự thất bại của nước Pháp năm 1939, cuộc xâm lăng của quân phiệt Nhật năm 1941 khiến người CGVN, cũng như phần lớn đồng bào mình nhận ra rằng, tòa nhà thuộc địa sắp sụp đổ tới nơi, người Công giáo “bắt đầu dám nói tới lòng yêu nước, nhưng theo cách kín đáo tại các chủng viện Một vài linh mục và giáo dân tỏ ra thiện cảm với các phong trào cách mạng trong bưng” [179, tr 53], thậm chí tại Ninh Bình, “một nhóm thanh niên công giáo đi vào rừng kháng chiến, đánh Pháp đuổi Nhật” [179, tr 53] Cụ Ngô Tử Hạ - một giáo dân yêu

6 Tháng 10-1930, ĐCSVN đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương và đến tháng 2-1951 đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam, song để tiện theo dõi, chúng tôi nhất quán gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 37

nước, sở hữu nhà in Ngô Tử Hạ ủng hộ Việt Minh hàng tạ chữ chì để in truyền đơn cho Cách mạng tháng Tám

Cùng với sự vận động của ĐCSVN, nhiều phong trào yêu nước và các tổ chức kháng chiến của người CGVN được thành lập, tự nguyện đứng trong hàng ngũ MTVM, có những đóng góp quan trọng, đoàn kết, tập hợp đồng bào Công giáo tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền

Trong các tổ chức Công giáo cứu quốc7

trước ngày khởi nghĩa, có tổ chức Đoàn Công giáo cứu quốc Việt Nam của Trần Công Chính (1944) hoạt động ở

Hà Nội Trong buổi biểu tình của công chức thành phố Hà Nội, Trần Công Chính giương cao cờ đỏ, đả đảo Chính phủ Trần Trọng Kim Tổ chức này đứng trong MTVM, thu hút rất nhiều người Công giáo tham gia đánh Nhật, đuổi Pháp Ngoài ra, phải kể đến một số tổ chức Công giáo cứu quốc ở Hà Tây, Ninh Bình và miền Nam duyên hải Nam Định, Thái Bình… Linh mục Nguyễn Văn Luận đã biến họ đạo Vĩnh Lạc (Mỹ Đức, Hà Tây) thành họ đạo theo cách mạng Ông chỉ huy cuộc đánh chiếm huyện Mỹ Đức trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám

1945 Một nhóm Công giáo khác đứng ra vũ trang và tổ chức chiến khu tại Quỳnh Lưu, Ninh Bình, dùng chiến thuật du kích tấn công các đồn bốt Pháp, Nhật [179, tr 190] Một nhóm thanh niên Công giáo Phát Diệm tổ chức kháng chiến dưới danh nghĩa Công giáo cứu quốc Trước ngày khởi nghĩa, tổ chức này hoạt động bí mật trong vùng Rịa (Nho Quan - Ninh Bình), chủ trương chống thực dân Pháp và phát xít Nhật Trong 6 tháng, tổ chức này gây được thanh thế

lớn mạnh, cử người lên Sơn La lấy được bản Điều lệ MTVM, khéo léo bắt liên

lạc với chiến khu cách mạng ở Quỳnh Lưu do Nguyễn Văn Mộc chỉ huy, "đôi bên giao thân và thường hỗ trợ nhau trong những cuộc phục kích Nhật, Pháp” [176, tr 53]

Vào những ngày mùa Thu 1945, trong các xứ đạo Thái Bình, Hưng Yên,

Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình… những tin tức về cách mạng, về khởi nghĩa dồn dập đổ về Những từ ngữ mới mẻ như: “Cách mạng”, “tự do”,

“giải phóng”, “độc lập”, “Việt Minh”… tuy có phần xa lạ và khó hiểu, nhưng nghe mãi bỗng thấy gần gụi, có sức cuốn hút kỳ lạ Đọc những tờ truyền đơn, bà

7 Trước cách mạng, đây là tổ chức hoạt động yêu nước Trên cơ sở tổ chức này, sau lễ tấn phong Giám mục Lê Hữu Từ, Chính phủ đã thông qua và đồng ý chính thức chuyển thành Công giáo cứu quốc - một tổ chức của những người Công giáo kháng chiến, tương đương với các tổ chức khác và đứng trong hàng ngũ của MTVM

Trang 38

con giáo dân hiểu hơn về Việt Minh, hiểu rằng, Việt Minh lãnh đạo quần chúng nổi dậy diệt phát xít Nhật; Việt Minh tổ chức phá kho thóc Nhật phát cho người nghèo, cứu đói

Được Việt Minh vận động, trước ngày khởi nghĩa, ở khắp các giáo xứ miền Bắc, không cam tâm ngồi đợi cái đói cướp đi sinh mạng, đồng bào giáo dân nghe theo lời kêu gọi của MTVM đứng dậy đấu tranh Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của giáo dân các xứ Văn Hải, Tân Khẩu, Cồn Thoi (5-1945) vùng lên, tiến

về Sở quản lý đòi giảm tô, xóa nợ lãi, đòi chia ruộng đất cho giáo dân Cuộc đấu

tranh thắng lợi và cùng với thắng lợi đó, giáo dân thêm tin tưởng ở MTVM, tấp nập gia nhập Mặt trận, hăng hái chuẩn bị tham gia khởi nghĩa, giành chính quyền

Ở Nam Bộ, người Công giáo sớm có truyền thống yêu nước, có quan hệ với cách mạng Những năm 40 (XX), vùng Công giáo thuộc các xứ An Đức, Cái

Bè, Kiến Vàng, Tân Lý Tây… là những khu căn cứ của cuộc khởi nghĩa Nam

Kỳ Trong số những người tù chính trị tại Côn Đảo từ năm 1930 đến trước Cách mạng tháng Tám, có rất nhiều đồng bào Công giáo miền Nam

Từ năm 1941 đến năm 1945, phong trào đánh Nhật đuổi Pháp lan rộng toàn quốc Ở miền Nam, Linh mục Nguyễn Bá Luật và một số giáo hữu thuộc

Sài Gòn, Chợ Lớn, Long Xuyên, Sa Đéc đứng ra tổ chức Việt Nam Quốc gia

tiến hành với mục đích cùng toàn dân lật đổ ách phát xít Nhật, giành độc lập cho

Việt Nam Tổ chức này hoạt động từ năm 1944 trong MTVM, cuốn hút hàng nghìn thanh niên Công giáo tham gia cho đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm

1945

Cùng thời gian này, Luật sư Thái Văn Lung tham gia lãnh đạo Đoàn

Thanh niên tiền phong, tập hợp nhiều người Công giáo yêu nước Tổ chức này

hoạt động khá mạnh trước ngày Tổng khởi nghĩa Đoàn Thanh niên tiền phong

là nhân tố tích cực, thúc đẩy, tiến tới thành lập đoàn Công giáo cứu quốc ở Nam

Bộ Những ngày trước cách mạng, người Công giáo tại Sài Gòn và nhiều vùng nông thôn Nam Bộ đều hăng hái đáp ứng lời kêu gọi của đồng bào Công giáo

Bắc Bộ trong phong trào Công giáo cứu quốc

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương, Chính phủ Trần Trọng Kim được Nhật dựng lên Như đông đảo những người Việt Nam yêu

Trang 39

nước khác, đa số đồng bào Công giáo có một thái độ hờ hững, không mấy tin vào Chính phủ này Vì thế, khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, đông đảo đồng bào Công giáo nhiệt liệt ủng hộ và tham gia

Như vậy, những năm 1930-1945, Đảng sớm có quan điểm, chủ trương vận động đồng bào Công giáo chung tay, góp sức với dân tộc, đưa sự nghiệp giành độc lập, tự do của dân tộc đi tới thắng lợi cuối cùng, giành chính quyền về tay nhân dân

1.2 CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC – DIỄN BIẾN VÀ NHỮNG SẮC THÁI

1.2.1 Công giáo trong Cách mạng tháng Tám 1945

Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị đánh bại.Sự kiện Hồng quân Liên Xô đánh tan quân đội Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc góp phần buộc Nhật Hoàng phải tuyên bố đầu hàng đồng minh vô điều kiện, tạo thời cơ cho nhân dân Việt Nam nổi dậy, tiến lên giành thắng lợi, thực hiện khát vọng độc lập, tự do

Trong không khí sục sôi của cuộc đổi đời, trong hào khí non sông, đất nước, tiếp nối truyền thống yêu nước, cùng với đông đảo đồng bào không có đạo

và có đạo, “chỉ trừ một số ít có thái độ lo âu, ngỡ ngàng hay bâng khuâng, còn đại đa số những người Công giáo Việt Nam đã hân hoan đón chào sự kiện này

Họ vùng lên, hăm hở lao vào, hòa trong dòng thác cách mạng dân tộc đang cuồn cuộn chảy” [96, tr 25]

Chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, sáng ngày 11-8-1945, giáo dân giáo xứ Hà Nội, ở các phố Nhà thờ Lớn, phố Nhà Chung… đều đổ dồn vào ngôi nhà số 25 phố Nhà thờ Trên tường vàng ngôi nhà ấy, hiển hiện hai tờ giấy lớn ghi khẩu hiệu bằng mực tầu đen thẫm: “Chuẩn bị Tổng khởi nghĩa!”, “Đả đảo phát xít Nhật!” Thanh niên Công giáo trong tổ Việt Minh ngày đêm miệt mài in truyền đơn, khẩu hiệu, may cờ đỏ sao vàng, lau súng, đếm đạn Ở các phố khác của giáo xứ Hà Nội như Hàm Long, Hàng Bột, Cửa Bắc, Nam Đồng… không khí không kém phần sôi nổi, đâu đâu cũng thấy truyền đơn, cờ và khẩu hiệu Giáo dân Hà Nội đang cùng với thành phố của mình chuẩn bị cho ngày vùng lên trong không khí hừng hực của đêm trước cuộc Tổng khởi nghĩa

Ngày 16-8-1945, nhiều đội tuyên truyền xung phong Công giáo táo bạo hoạt động giữa ban ngày ngay trước Nhà thờ Lớn, trong những hẻm khu Ngõ

Trang 40

Huyện, hoặc ở cuối đường Phủ Doãn, trước cửa hiệu sách Têrêxa, góc phố Lý Quốc Sư… Tối 17-8-1945, một nhóm thanh niên Công giáo vào nhà in Tin Mới8

sắp chữ, in những tờ báo, tờ tin tường thuật lại cuộc biểu tình ban chiều Cùng lúc, tiếng súng của Việt Minh liên tiếp nổ giòn giã trên các phố phường Hà Nội, tiêu diệt đám lính Nhật và Việt gian Một số anh chị em trong Hội Công giáo cứu quốc bắt liên lạc được với các tổ Việt Minh ở các xứ đạo Tin Hồng quân Liên Xô đánh tan hơn một triệu quân Nhật dội về Hà Nội và lan đi khắp vùng đồng bằng Các tổ Việt Minh ở các xứ đạo đã sẵn sàng cho Tổng khởi nghĩa

Ngày 19-8-1945, trong cuộc mít tinh giành chính quyền, chiếm Phủ khâm sai, trại lính Bảo An, Ty Liêm phóng, Sở Cảnh sát… có sự tham gia của đông đảo đồng bào Công giáo Đêm 20-8-1945, nhóm thanh niên Công giáo Phát Diệm đã về cướp chính quyền ở Kim Sơn (Phát Diệm), thiết lập chế độ hành chính và quân sự; một số anh em khác đã điều khiển cướp chính quyền ở Yên Khánh, Nho Quan, Thường Tín Họ đều là những chiến sĩ tiên phong của phong trào Công giáo cứu quốc

Ngày 21-8-1945, có trên 2.000 người, hầu hết là thanh niên, đa số là thanh niên theo đạo Thiên Chúa (gọi là Việt Minh giáo) được huy động tập trung ở thị trấn Phát Diệm (Kim Sơn – Ninh Bình) biểu tình ủng hộ Việt Minh Họ hô vang các khẩu hiệu: “Việt Minh độc lập muôn năm!”, “ủng hộ Mặt trận Việt Minh” [46, tr 53]

Ở Sài Gòn, ngày 25-8-1945, đồng bào Nam Bộ đã tham gia cuộc diễu hành ủng hộ độc lập, biểu dương ý chí, ủng hộ độc lập, tự chủ và thống nhất của

Tổ quốc Trong ngày tuần hành vĩ đại ấy, có rất đông người Công giáo tham gia Ngày 2-9-1945, trước sân Nhà thờ Lớn Sài Gòn, một cuộc biểu tình ủng hộ

Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh được tổ chức Ngày hôm đó, ngoài số

đông giáo dân tham gia biểu tình, còn có nhiều chức sắc Công giáo góp mặt, trong đó có Linh mục Nguyễn Bá Luật

Tối ngày 29-8-1945, ở Hà Nội, đồng bào Công giáo đã tụ họp đông đảo tại Nhà thờ Lớnvà quyết định: Riêng giới Công giáo phải tổ chức một cuộc biểu tình lớn để hoan nghênh nền độc lập và chế độ Dân chủ mới Sáng sớm ngày 30-8-1945, đồng bào Công giáo từ khắp các vùng lân cận như Hàm Long, Cửa Bắc,

8 Lúc đó nằm ở góc đường Phủ Doãn và Châu Cầm

Ngày đăng: 21/09/2020, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w