Nhà Nguyễn muốn cố khôi phục một tư tưởng để phục vụ mục đích chính trị của mình bắt nó phù hợp với nhịp sống của hiện tại là một điều không tưởng trong khi tư tưởng mới thì chưa tìm ra
Trang 1VIỆN TRIẾT HỌC
M A I V Ũ D Ũ N G
T ư TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA N G U Y ÊN ĐỨC ĐẠT
TRONG TÁC PHẨM NAM SƠN TÙNG THOẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIÊT HỌC
Trang 2\7ôi Jfìn eant (toan eỗttíị trình niịhiẽn eứu nà ụ /Á dtì lồi thựe hiên tíiểóì
iự h ítth tụ dẩn k h o a họe « ỉfl r'p(ịcS ^7rV ('ìlụuụễn r()ả n ^pịtúe Q lhữnq, iò liệ u ,
eứ liêu tĩưẹte niu, tríeh dÂn trottạ Luộm oán Là trung thư 'ớ ¿Ttíđe i t ì í t tầm tó
nạuền gi«, 3tuúí 3tứ rồ rỉtnụ
Ợĩúe giả luận oăn
J ìta ỉ <T)ữ ^Dũttụ
Trang 3T i
m ó Đ Ầ U
C h ư ơ n g 1: V ài nét về bối cả n h lịc h sử, th â n t h ế và sự
n g h iệ p củ a N g u y ễ n Đ ức Đ ạt / / Xã hội V iệt N am nửa cu ối thê kỷ X IX
2 1 V ề thực ch ất đạo đức, mối quan hệ giữa đạo đức
và pháp luật, quan hệ giữa đạo đức và văn học nghệ thuật
2.1.1 Quan niệm của N guyễn Đức Đ ạt về thực ch ấ t đạo đức
2 1 2 Mối q u an hệ giữ a đạo đức và p h áp luật2.1 3 Mối q u a n hệ g iữ a đạo đức và văn học n g h ệ th u ậ t
Trang 4MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của để tài
Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng đã đang và sẽ là để tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở Việt Nam nghiên cứu Nho giáo là vấn đề rất rộng, rất phức tạp và khó khăn nên chúng tôi chỉ nghiên cứu một khía cạnh đó là đạo đức Nho giáo Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nền kinh
tế thị trường đã len vào mọi ngóc ngách của cuộc sống hiện đại, vấn đổ suy thoái đạo đức đã đến mức khá nghiêm trọng khiến nhiều người phải giật mình đòi hỏi chúng ta phải nhìn lại để giữ gìn lấy những giá trị đạo đức truyền thống Nhưng truyền thống như đã biết không phải là những thứ đạo đức mang tính phong kiến bảo thủ lạc hậu mà là nhưng giá trị căn bản trường tồn trong
đó có vai trò của Nho giáo Vì vậy chúng ta phải đánh giá một cách khách quan và chính xác nội dung đạo đức Nho giáo ở Việt Nam Để đạo đức Nho giáo không những có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Đặc biệt là Nho giáo nửa cuối thế kỷ XỈX với nhữniĩ biến động lớn của đất nước Việt Nam, nho giáo đã có những biến đổi nhất định Đó là giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến nhà Nguyễn và sự xâm lược của thực dân Pháp Nhà Nguyễn đã cố níu kéo và có ảo tưởng khôi phục Nho giáo trở lại thời kỳ huy hoàng như thời Lê Thánh Tông Song thực tế thì hoàn toàn ngược lại bánh
xe lịch sử đã quay thì không bao giờ trở lại Nhà Nguyễn muốn cố khôi phục một tư tưởng để phục vụ mục đích chính trị của mình bắt nó phù hợp với nhịp sống của hiện tại là một điều không tưởng trong khi tư tưởng mới thì chưa tìm
ra hoặc có manh nha tìm thấy nhung chưa đủ mạnh dể thay đổi vì tư tưởng Nho giáo đã thấm quá sâu vào quan niệm của các vua quan và tầng lớp sỹ phu triều Nguyen VI vậy nghiên cứu Nho giáo thời kỳ này có những điểm khác hiệt Irong quan niệm của các nhà Nho, tầng lóp trí thức đương thời.Vần còn
đó khái niệm trung quân- ái quốc nhưng vấn đề ở chỗ là trung với vua nào
Trang 5trung ra làm sao ? Có nhiều nhà Nho trong tư tướng đạo đức của mình vẫn còn day dứt với việc trung quủn ái quốc Tuy nhiên có nhiều nhà Nho không chấp nhận sự lên ngôi của vua Đồng Khánh mà chỉ đi theo tiếng gọi ycu nước
từ chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi Vậy trung quân ở đây cần được hiểu như thế nào ? Có phải thời kỳ này quan niệm thời thế thay đổi đang đặt ra nhưng thách thức lớn đối với đạo đức truyền thống của Nho gia.Đây là một vấn đề rất hay và lý Ihú nó có những điểm khác biệt rất cơ bản so với các thời
kỳ phong kiến trước, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lừ trước tới nay về Nho giáo thời Nguyễn Vì vậy nghicn cứu tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt - một mảng đề lài còn rất ít người nghiên cứu là cần thiết để
có thể hiểu được những diễn biến lư tưởng rất phức tạp của Nguyễn Đức Đạl cũng như nhiều nhà Nho khác cùng thời Nửa cuối thế kỷ XIX là một giai đoạn lịch sử không dài nhưng có quá nhiều biến động mà trong đó tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt và sự nghiệp giáo dục trong suốt cuộc đời của ông là tấm gương sáng về văn hoá và giáo dục ở nước ta nửa cuối thế kỷ XIX Ông xứng đáng là một trong những nhà tư tưởng đại diện cho tầng lớp tri thức của xã hội phong kiến đương thời đó
Ngày nay trong diều kiện kinh tế thị trường rất nhiều người đã sao nhãng thậm chí quên đi trách nhiệm của người làm con đối với cha mẹ, anh với em, thầy với trò, trách nhiệm của công dân với Tổ quốc Vì vậy việc quay lại những giá trị đạo đức căn bản Irên tinh thần kế thừa biện chứng đang ngày càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết
Với lý do như trên chúng tôi chọn đề tài : " Tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn Tùng Thoại" cho luận văn Thạc sỹ triết học của minh
Trang 62 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đạo đức Nho giáo là một công việc quan trọng nên đòi hỏi sự công phu, bề bí Cho đến nay vẫn còn có những ý kiến trái ngược nhau
về Nho giáo nhưng phần lớn đều nhất trí khẳng định ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống đạo đức của người Việt là rất rõ nét
Ớ Việt Nam, nhiều nhà nghicn cứu đã bắt đầu đi sâu tìm hiểu về các dòng họ và danh nhân văn hoá nổi tiếng, trong đó có danh nhân Nguyễn Đức Đạt ở thế kỷ XỈX v ề tư tưởng đạo đức của ông đã có một vài công Irình nghiên cứu, một số bài viết trên các tạp chí, cụ thể như sau:
Luận văn tốt nghiệp lớp chuyên tu Hán Nôm sau đại học của Ngô Đức
Thọ: “Nguyễn Đức Đạt, nhà giáo và học giả nửa cuối th ế kỷ XIX” (1975)
Trong bản luận văn này, tác giả đã trình bày vổ tiểu sử và bước đầu tìm hiểu
về lư tưởng chính trị - xã hội của Nguyền Đức Đạt, đã phân tích và chỉ ra một
số mặt tích cực và hạn chế trong tư tưởng của ông
Mặt tích cực trong tư tưởng Nguyễn Đức Đạt là ở chỗ ông đã làm sống lại những giá trị tinh luý của đạo đức Nho giáo , nêu lên những mặt tích cực của đạo đức Nho giáo trong việc rèn luyện con người, trau dồi kiến thức về tấm lòng yêu nước thương dân, làm quan hết lòng với dân thực sự liêm khiết
và trong sạch
Về mặt hạn chế: ô n g là một người bảo thủ đã biện hộ cho một hệ thống đạo đức đang bị đẩy lùi vào hậu trường của lịch sử do không đáp ứng được các yêu cầu của thời đại
Bài viết “Nguyễn Đức Đạt và tác phẩm Nam Sơn Tùng T h o ạ i” của Lê
Sỹ Thắng Irong sách “Lịch sử tư tưởng Việt Nam ” tập II, Nxb KHXH, Hà Nội,
1997 cũng đã trình bày tiểu sử N«uyễn Đức Đạt và những nội dung cơ bản của tác phẩm Nam Sơn Tùng Thoại Tác giả phân tích tư tưởng triết học, chính t r ị , giáo dục của Nguyễn Đức Đạt qua đó chỉ ra một số nét mang màu sắc Việt
Trang 7Nam trong nhữnẹ sáng tác của ông trên hệ thống và những phạm trù căn bản của Nho giáo.
Bài viết “Tìm hiểu tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt ” của
Nguyễn Văn Phúc đăng trên tạp chí Triết học số 10, tháng 10/2003 đã trình bày và phân tích quan niệm về đạo , mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt Qua đó tác giả đã phân tích mặt tích cực và hạn ch ế trong tư tưởng đạo đức của Nguyễn Đức Đạt
Bài viết "Tư tưởng thẩm m ỹ của Nguyễn Đức Đạt" của Nguyễn Văn
Phúc đăng trên Tạp chí Triết học số 9, tháng 9 năm 2005 đã trình bày và phân tích lư iưởng về quan hệ giữa đạo đức và nghệ thuật của Nguyễn Đức Đạt Theo đó , ông dã luận chứng cho quan điểm văn dĩ tải đạo , thông qua việc chỉ
ra chức năng đạo đức của văn học, nghệ thuật, trách nhiệm xã hội của người sáng tạo văn học , nghệ thuật
Tác phẩm "Sự phát triển của tư tưởng ở Việt N am từ th ế kỷ XIX đến
cách mạng tháng T á m ” ( ỉ 973) (Tập I) của Trần Văn Giàu trong khi trình bày
về sự thất bại của ý thức hệ phong kiến trước quá trình vận động của lịch sử,
đã trích dẫn và phân tích nhiều ý kiến của nhà Nho Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn Tùng Thoại
Bài viết “Nguyễn Đức Đ ạ t”của Ninh Viết Giao trong sách ”Nhà giáo
danh tiếng đất Lam H ồ n g ”, Nhà xuất bản Nghệ An (2005) viết về Nguyễn
Đức Đạl với tư cách là một nhà giáo danh tiếng trên quê hương Nam Đàn
Ngoài ra, các sách “Danh nhân Nghệ A n ”, “Khoa bảng Nghệ A n ”,
“Những ông nghè, ông cống triều N g u yễn ”, đều giới thiệu về tiểu sử
Nguyễn Đức Đạt và một vài đóng ghóp của ông
Nhìn chung, các công trình, bài viết trên đều đã giới thiệu về Nguyễn Đức Đạt và tư tưởng của ông về các vấn đề chính trị - xã hội, giáo dục, đạo đức, Nhung chưa có một công trình nào đi sâu vào lĩnh vực tư tưởng đạo đức và giáo dục đạo đức của ông
Trang 83 Mục đích, nhiệm vụ phạm vi nghiên cứu:
- Mục đích: Hệ thống và phân tích những tư tưởng đạo đức chủ yếu của
Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn Tùng Thoại Qua đó, bước đầu
đánh giá những giá trị và hạn chế trong tư tưởng đạo đức của ông
- Nhiệm vụ: Trình bày khái quát về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt
- Phân tích những tư tưởng đạo đức chủ yếu của Nguyễn Đức Đạt
- Bước đầu đánh giá những giá trị, hạn chế trong tư tưởng đạo đức của
Nguyễn Đức Đạt
- Phạm vi nghiên cứu : Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tư tưởng đạo
đức của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn Tùng Thoại
4 Cơ sở lý luận và phiíơng pháp nghiên cứu:
+ Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về đạo đức và giáo dục đạo đức
+ Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp
logic- lịch sử , phân tích ,tổng hợp, so s á n h
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn hệ thống hoá, phân tích và đánh giá tư tưởng đạo đức
của Nguyễn Đức Đạt
6 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần tìm hiểu lịch sử tư tưởng đạo đức Việt Nam qua
danh nhân Nguyễn Đức Đạt
- Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu và giảng dạy lịch sử lư tưởng triết học, đạo đức học Việt Nam
Trang 97 Bô cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 2 chương, 6 tiết
Trang 10CHƯ ƠNG 1:
VÀI NÉT VỂ BỔI CẢNH LỊCH s ử , THÂN THÊ VÀ s ự NGHIỆP
CỦA NGUYỄN ĐỨC ĐẠT
1.1 Xã hội Việt Nam nửa cuối thê kỷ XIX.
Năm 1802, sau khi đánh bại vương triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế đặt niên hiệu là Gia Long , năm 1804, đổi quốc hiệu là Việt Nam, rồi Minh Mạng đổi lại là Đại Nam đóng đô ở Huế Nước Đại Nam về danh nghĩa vẫn thần phục "thiên triều" nhà Thanh nhung trẽn thực tế hoàn toàn là một nước độc lập
Nguyễn Ánh vừa lên ngôi đã phải kế thừa một di sản đất nước suy yếu, trì trệ về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội- hậu quả của cuộc nội chiến của các thế lực phong kiến kéo dài từ giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII Tình trạng suy yếu, trì trệ đó của đất nước chẳng những không được khôi phục dưới triều Nguyễn mà thậm chí càng trở nên trầm trọng hơn
Trước hết, về chính trị - xã hội, mặc dù nhà Nguyễn đã xây dựng một
bộ máy chính trị tập trung thống nhất mạnh nhất từ trước cho tới lúc bấy giờ,
từ Nam chí Bắc, rồi cho biên soạn bộ quốc sử Việt Nam để người Việt Nam
đỡ lệ thuộc vào Bắc sử trong việc học hành, để người Việt Nam đánh giá đúng hon về bản lĩnh của dân tộc mình Nhưng "triều đại Nguyễn là triều đại Việt Nam duy nhất, được dựng lên không phải từ một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, mà bằng một cuộc chiến huynh đệ tương tàn rất dài và khốc liệt" [19, 8] Để kết thúc cái thời huynh đệ tương làn khốc liệt ấy, vua Gia Long lên ngôi đã trả thù cho dòng họ mình bằng những cực hình rất tàn bạo Hơn nữa, trong việc biên soạn quốc sử- lịch sử Việt Nam, một số sử quan theo lời Tự Đức đánh giá các anh hùng dân tộc như cho rằng: Ngô Quyền không tài cán
gì, sở dĩ tháng trận Bạch Đằng vì Nam Hán nhỏ thôi, vì Hoằng Thao chỉ là
Trang 11một thằng hèn, chớ nếu gặp phải tay Trần Bá Tiên mà bảo ràng Ngô Quyền không phải theo gót Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương thì ít có lắm ; 25 vạn quân Thanh bị đánh tan tành tại Đống Đa, Thăng Long không phải tại Nguyễn Huệ tài cao, quàn sĩ ta giỏi mà tại vận hạn nhà Lê đã h ế t
Rõ ràng việc viết sử với quan điểm của nhà vua như vậy thì quốc sử sẽ mất tác dụng cổ vũ tinh thần yêu nước, giáo dục ý thức dân tộc chuẩn bị đối đầu với kẻ thù xâm lược phương Tây đang rình rập trước ngõ Đó là chưa nói đến việc nhà Nguyễn còn giữ mãi việc học hành thi cử lạc hậu theo Nho giáo phương Bắc Cho nên tinh thần thủ cựu còn ngự trị từ vua đến quan và dân mà thời kỳ dó bảo thủ là con đường chết Trong suốt thời kỳ cai trị nhà Nguyễn đã không đủ vững mạnh vì bị mất lòng dân Trong hơn 100 năm tổn tại, nhà Nguyễn đã chứng kiến hơn 400 cuộc khởi nghĩa nông dân Trong đó đời Gia Long 33 cuộc, đời Minh Mạng 234 cuộc, đời Thiệu trị (chỉ 7 năm) 58 cuộc, đời Tự Đức (chỉ tính đến năm 1862) 40 cuộc Nguyên nhân của tình trạng đó
là nỗi cơ hàn, thống khổ của nhân dân - hậu quả của chính sách kinh tế, quân
sự, ngoại giao của triều đình
Về kinh lế, nhà Nguyễn cũng đã thi hành một số chính sách khuyến khích nông nghiệp nhu' "trọng nông", chính sách khai hoang lập điền Tuy nhiên nông nghiệp vẫn nằm trong tình trạng lạc hậu, đời sống nông dân đói khổ do nạn chấp chiếm ruộng đất, thiên tai mất mùa, đói kém, tô thuế nặng nề
Đối với công thương nghiệp, nhà Nguyễn thi hành những chính sách ngặt nghèo như "trọng nôns ức thương", "bế quan toả cảng", c h ế độ phường -
ly - hội, nắm độc quyền buôn bán hay lập cửa h àn g Hậu quả của những chính sách đó làm cho nền kinh tế bị trì trệ đình đốn về thương nghiệp và hoàn toàn bế tắc
Về quân sự, nhà Nguyễn rất chú V xây dựng quân đội một cách khá quy củ với số lượng đông nhưng chỉ đủ sức đàn áp phong trào của nông dân,
Trang 12còn đối với thực dân Pháp lại tỏ ra kém cỏi do chiến lược, chiến thuật và vũ khí vô cùng lạc hậu.
Về ngoại giao, nhà Nguyễn chỉ giữ mối quan hệ với triều đình Mãn Thanh, còn đối với các nước đế quốc thì thi hành chính sách "bế quan toả cảng"
Về lĩnh vực giáo dục khoa cử, phải thừa nhận nhà Nguyễn đặc biệt chú trọng việc giáo dục, đào lạo nhàn tài cho đất nước Tuy nhiên, chương trình và nội dung giáo dục vẫn một mực đề cao Nho giáo, coi Nho giáo là tư tưởng độc tôn, trong khi tư tưởng này dã trở nên lỗi thời lạc hậu trước những vấn đề của thời cuộc như: Duy tân hay thủ cựu, chiến hay hoà
Tóm lại, nhà Nguyễn đã hết sức cố gắng trong việc củng cố và phát triển đất nước bằng những chính sách kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục và ngoại giao Tuy nhiên, chính sách đó không Ihể giải quyết được tình trạng lạc hậu và suy yếu của đất nước sau thời gian dài chia cắt nội chiến mà thậm chí làm cho tình trạng đó càng trở nên trầm trọng hơn Nước Việt Nam phong kiến lạc hậu và kiệt quệ đã không thể chống đỡ nổi với tư bản Pháp giàu mạnh
về kinh tế và quân sự mặc dù đã trải qua gần 30 năm kháng cự quyết liệt
Thứ hai là, sự xâm lược của người Pháp và chính sách đối phó của nhà Nguyễn Đầu thế kỷ 19, giai cấp tư sản Âu - Mỹ đã hoàn thành các cuộc cách mạng tư sản, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hoàn toàn được xác lập ở nhiều nước trên thế giới Cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ, đặc biệt là ở châu Âu nên đã đặt ra nhu cầu bức thiết về nguyên liệu, lương thực, thị trường tiêu thụ và nhân công Đổ đáp ứng nhũng nhu cầu đó, chủ nghĩa tư bản đua nhau xâu xé và tiến hành chiến tranh xâm lược thuộc địa trên quy mô lớn
Ngay từ th ế kỷ XVIII, lư bản Pháp đã nhòm ngó và âm mưu xâm lược Việt Nam, nhưng triều đình nhà Nguyễn mù quáng không nhận thấy nên dã không chuẩn bị sẩn sàng bảo vệ độc lập dân tộc Cho đến giữa thế kỷ XIX, nhà Nguyễn vẫn mơ hổ trước nguy cư xâm lược của tư bản phương Tây Lập
Trang 13luận của triều đình là: "Tây phương, như Pháp chảng hạn ở xa Đông phương lắm, xa Việt Nam lắm, họ chỉ cần mấy thẻo đất để lập thương điếm, buôn bán kiếm lời và để truyền đạo, và cùng lắm là gây chiến tranh để đòi bổi thường nặng" [19, 6] Với cách n sh ĩ như vậy, nhà Nguyễn tuy có quân đội đông nhưng không thể kháng cự và rốt cuộc không chống nổi với Pháp Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858 đến khi hiệp hước Patơnốt mà triều đình Huế
ký với Pháp là khoảng thời gian gần 30 năm nhung triều đình đã không tìm ra biện pháp hữu hiệu, thậm chí tư tưởng có lúc vô cùng thiển cận và mù quáng khi cho rằng Pháp ở xa Việt Nam quá nên không đánh nước ta để làm gì Vì vậy ta chỉ cần hoà hoãn với họ hơn là chiến tranh Vì tư tưởng hèn nhát sợ giặc không quyết tâm đánh giặc nên nhà Nguyễn đã không nhận thấy và bỏ mất nhiều cơ hội để chống Pháp, khi triều đình càng nhu nhược thì thực dân Pháp càng lấn tới Thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây rồi 3 tỉnh miền Đông mà không tốn một người lính, một viên đạn nào Năm 1870, cuộc chiến tranh Pháp Phổ bùng nổ, quàn Pháp đại bại Nước Pháp suy sụp, dân Pháp sa sút tinh thần, lính Pháp ở Nam Kỳ rầu rĩ chờ ngày hoặc bị triều đình Huế tiêu diệt, hoặc được chính quyền Pari rút về Pháp Vậy mà triều đình Tự Đức không những không tiến công quân Pháp đang chờ chết hay đầu hàng mà lại
cử một phái đoàn chính thức vào Sài Gòn trước là đổ chia buồn việc Pháp bại trận, sau đó là dò hỏi xem ngày tháng nào Pháp trả lại 6 tỉnh Nam Kỳ Tất nhiên là chẳng bao giờ cả Triều đình Huế vẫn cứ chờ, chờ cho đến khi quân Pháp vững chân ở Nam Kỳ rồi tiến hành đánh ra Bắc và lấy cả nước Việt Nam làm thuộc địa lừ sau năm 1884
1.2 Thân th ế và sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt (1824-1887).
1.2.1 Tiểu sử tóm tắt.
Nguyễn Đức Đạt (1824-1887) sinh ra tại làng Hoành Sơn xã Khánh Sơn huyện Nam Đàn Nam Đàn nằm ở hạ lưu sông Lam với diện tích khoảng
Trang 143000km2 [22;476J v ề địa hình huyện Nam Đàn có rất nhiều ngọn núi và diện tích đồng bằng khá rộng lớn đất đai tương đối phì nhiêu.
Trải qua nhiều biến động của thời cuộc và sắp xếp lại địa danh hành chính , huyện Nam Đàn có nhiều tên gọi khác nhau: Châu Hoan Đường thời Tiền Lê, thời Hậu Lô được gọi là Nam Đường , đến năm Đồng Khánh thứ nhất
1866 vì kỵ huý với tên gọi của vua Đồng Khánh là Nguyễn Phúc Đường nên đổi Nam Đường thành Nam Đàn
Đến cách mạng tháng 8 thành công nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Nam Đàn được điều chính lại đơn vị hành chính Nam Đàn có 23 xã và một thị trấn
Như vậy trải qua chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dù địa giới, tên gọi hành chính có đổi thay nhưng Nam Đàn vẫn là vùng đất nổi tiếng, với núi cao, sông sâu, phong cảnh kỳ vĩ, thiên nhiên hữu tình, nơi đã sinh ra những người con ưu tú cho đất nước, quê hương Những nhân vật lịch sử kiệt xuất, những danh nhân văn hoá lỗi lạc, chính họ đã góp phẩn quan trọng tô điểm thêm truyền thống văn hoá đẹp đẽ của quê hương Nghệ An, trong đó đặc biệt là truyền thống của những nhà giáo dục lớn
Qua chiều dài lịch sử, người dân huyện Nam Đàn không những có quyền tự hào về truyền thống anh dũng kiên cường chống ngoại xâm, cần cù trong lao động mà còn cả những nét văn hoá đẹp đẽ trong mỗi làng xã, mỗi dòng họ, gia đình nơi đây
Các cụ ngày trước ở Nam Đàn đã lự hào về quê hương của mình là
"Giang sơn chung tú khí" Tác giả "Đại Nam nhất thống chí" nhận xét: "Nam Đàn có núi cao, sông sâu nên xuất hiện nhiều người có văn võ song toàn"
Sách "Nam Đàn- Quê hương chú tịch Hồ Chí M inh" của tác giả Ninh Viết
Giao và Trần Thanh Tâm viết: " ở Nam Đàn, kỳ tích lồng trong thắng cảnh
Kỳ tích làm cho thắng cảnh lung linh, sinh động, thỏm gắn bó lòng người Thắng cảnh làm cho kỳ tích sống mãi với thế gian, với đất trời vạn thuở dù xã
Trang 15hội có đổi thay Và tất cả kỳ tích thắng cảnh đều đưa chúng ta nghĩ đến những người con ưu tú, vĩ đại của đất nước, quê hương Đó là niềm tự hào chính đáng
mà không phải đâu cũng có, thời gian nào cũng có" [22, 56- 57 J
Trải qua thời Lý Trần và đặc biệt là thời Lê, việc học hành thi cử cũng
có những bước phát triển mới làm cho những vùng đất xa đế đô như Nghệ An,
Hà Tĩnh cũng có những bước đổi sắc Riêns Nam Đàn, theo các tài liệu Đăng khoa lục, thì dưới triều Hậu Lê, có 11 người thi đỗ tiến sỹ, nổi tiếng như: Nguvcn Thiện Chương, Bùi Hữu Nhẫm, Nguyễn Trọng Thường
Sang thời nhà Nguyễn, một trons, nhữnẹ chính sách tiến bộ của triều đình phong kiến là quan tâm việc đào tạo nhân tài cho đất nước Lĩnh vực giáo dục học thuật dược các triều vua chú trọng Ngoài việc nâng cấp trường Quốc
Tử Giám ở Kinh đô, một mạng lưới các trường công đặt dưới quyền cai quản của bộ Lễ được Ihiốt lập trong cả nước Các doanh, trấn đều có quan của triều đình coi về việc việc học Việc mở trường tư được khuyến khích, Trong hoàn cảnh đó, những địa phương và những gia đình vốn có truyền thống ham học ở Nam Đàn thường vẫn có nhiều điều kiện chủ quan thuận lợi Nam Đàn cũng có nhiều người dỗ đạt đại khoa Theo Đăng khoa lục, trong dời Nguyễn
có 25 người đỗ Chánh bảng và Phó bảng Có khoa như khoa Quý Sửu năm Tự Đức thứ 6 (1853), hai người đỗ Thám hoa ở Nam Đàn là: Nguyễn Đức Đạt và Nguyễn Văn Giao mà tài nàng và sự nghiệp của hai ồng còn được lưu truycn mãi đến đời sau; khoa Tân Sửu Thành Thái thứ 13 (1901), Nam Đàn có 3 người đỗ đại khoa là Nguyễn Đình Điển (Tiến sĩ), Nguyễn Xuân Thưởng (Phó bảng), Nguyễn Sinh Huy (Phó bảng), "Cái rốn" khoa bảng ở Nam Đàn là các làng xã: Trung Cần, Hoành Sơn, Xuân Hồ, rồi đến Thịnh Lạc, Đàn Nhiệm, Chung Cự, Trong đó làng Hoành Sơn nổi bật là vùng đất học, nơi dã sinh ra những con người ưu tú mà nhiệt huyết và đức độ của họ mãi là niềm tự hào của gia đình, dòng họ và quê hương
So với các huyện khác trong toàn quốc chưa phải là thuộc loại nhiều
Trang 16Nhưng Nam Đàn nổi tiếng không chỉ vì nhiều người đỗ đạt mà còn bởi tính cách của trí thức Nam Đàn như: hiếu học, khổ học, thông minh, trí tuệ trong sáng, có nghĩa khí, trọng dạo lý làm người, gần gũi với quần chúng, yêu nước, dũng cảm chốn quan trường, dám can việc trái, dám trình bày việc phải với người trên mà không sợ uy quyền, Với những tính cách đó, trí ihức Nam Đàn đã cống hiến tài năng và tri tuệ của mình cho đất nước, quê hương trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, khoa cử, ròn luyện đạo đức
đã đóng góp không nhỏ trong việc giáo dục các thế hệ học sinh đỗ đạt, thành danh mà trong đó có gia đình Thám hoa Nguyễn Đức Đạt là một điểm sáng ghóp phần tô thấm thêm truyền thống của quê hương Nam Đàn Năm 30 tuổi, Nguyễn Đức Đạt đỗ Thám hoa niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853) Chặng đường làm quan của ông không dài và có nhiều thời kỳ bị gián đoạn Các giai đoạn
đó là:
Giai đoạn 1 : T ừ Ị 853 - 1872:
Sau khi thi đỗ Thám hoa, Nguyễn Đức Đạt được bổ chức Thị giảng ở Tập hiền viện làm việc ở kinh đô Huế Thời gian này ông thường đau ốm nên xin nghỉ về quê dưỡng bệnh, đến đầu năm 1860 mới trở lại làm việc ở kinh, giữ việc ghi chcp ớ điện Kinh diên
Đến năm 1863 ông được bổ đi nhậm chức Đề học Hà Nội Đến năm
1865 thì có chiếu triệu về kinh thăng chức Chưởng ấn ngự sử ở Đô sát viện
Được ít lâu, tháng 7 năm đó, thân phụ ông mất ông về cư tang Một thời gian sau, mẹ ông cũng qua dời, ông xin nghỉ việc ở nhà Lo xong việc tang cha mẹ,
từ đầu năm 1866 đến cuối năm 1869, ông dạy học ở trường Hương Vân (Nam Đàn) và trường Lãng Đông (Hưng Nguyên) [49, 6]
Đến cuối năm 1869, theo thỉnh cầu của Tổng đốc Nghệ An, triều đình lại bổ ông giữ chức Đốc học Nghệ An lần thứ 2 Khoáng cuối năm 1871, ôngđưực điều đi giữ chức Án sát tỉnh Thanh Hoá ở đây chừng nửa năm ông lại
có chỉ triệu về giữ chức vụ cũ Đỏ là lần thứ 3 ông giữ chức Đốc học Nghệ An
Trang 17Về Nghệ An chưa đầy 10 ngày thì ông được thăng Bố chánh xứ kiêm lĩnh chức Tuần phủ Hưng Yên.
Như vậy, ở chặng đường đầu làm quan, Nguyễn Đức Đạt từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước đương thời Tuy nhiên con đường làm quan của ông thường bị gián đoạn, Irong đó có đến ba lần ổng được giao giữ chức Đốc học Nghệ An
Giai đoạn 2: 1872- ỉ 876.
Nguyễn Đức Đạt đến Hưng Yên vào tháng 9 năm 1872, ông bắt tay vào việc lo đối phó với quân Pháp đang ráo riết chuẩn bị đánh chiếm Bắc kỳ lần thứ nhất Tại đây, ông mới làm được vài việc như chicu mộ thêm quân, đắp ụ
và cắm chông ở các cửa ô Tháng 11 năm đó, giặc Pháp khiêu khích các tỉnh ở lưu vực sông Hồng Để đối phó, triều đình ra lệnh phải "tuỳ cơ ứng biến không dẫn không tiếp khiến cho bọn chúng đến nơi nào cũng thấy là khó đi nổi mà phải lui ra, ta dìnig gây hấn trước để khỏi tổn thất là dược" [49, 7]
Do Tự Đức và triều đình luôn sợ địch và hy vọng dàn xếp bằng thương lượng nên giặc Pháp với chí 300 quân đã chiếm gọn 4 tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình và Nam Định chỉ trong vòng hai tuần lễ Sau đó giặc Pháp đưa quân xuôi dòng sông Hồng xuống Hưng Yên kiếm cớ hạch sách về việc thi hành các điều khoản thông thương đã ký kết với triều đình Nguyễn Đức Đạt đã khéo léo trả lời khiến giặc Pháp hết cớ sinh sự phải thay đổi dự định bỏ Hưng Yên dưa quân sang Hải Dương Tiếp đó có "việc ký kết hoà ước giữa triều đinh Huế và Pháp nên Hưng Yen được bình yên vô sự Nguyễn Đức Đạt được vua Tự Đức ban khen và cho thực thụ chức Tuần phủ" [45, 163]
Năm 1875, Tự Đức xuống dụ sửa đổi thuế ruộng đất, tăng mức thuế lên gấp rưỡi từ Hà Tĩnh trở ra cộng với đê vỡ mất mùa sản xuất chưa khôi phục làm cho đời sống nhân dân càng thêm cơ cực
Trước tình cảnh dó, Nguyễn Đức Đạt với lương tâm của một nhà Nho
đã mạnh dạn đề đạt xin triều đình cho dân Hưng Yen -nơi Nguyễn Đức Đạt
Trang 18làm Tuần phủ - được tạm hoãn việc thi hành lệ thuế mới trong ba năm (thực chất là đề nghị xin giảm thuế).
Tự Đức vốn đánh giá cao tài đức của Nguyễn Đức Đạt và hy vọng nhiều
ở ông Thám hoa này Hơn 20 năm trước chính Tự Đức đã xếp ông đỗ nhất trên Nguyễn Văn Giao là người cao tuổi hơn Sau đó mấy lần ông cáo quan về nhà, giúp việc chính sự chưa dược bao nhiêu, nhưng Tự Đức vẫn có ý cất nhắc ông đến chức Tuần phủ Rồi trong việc đê điều, Tự Đức có phần nghe theo ý kiến của ông nhưng khi ông xin giam thuế là đụng chạm đến vấn đề huyết mạch của Iriều đình thì Tự Đức giận dữ thật sự Tháng giêng năm 1876, xét lời tâu của Nguyễn Đức Đạt, Tự Đức chẳng nhữníỉ không phê chuẩn mà còn khiển trách nặng nề giáng xuống hai cấp cho lưu chức Cuối tháng 3 năm 1876, Nguyễn Đức Đạt xin cáo quan về nhà.Từ sau sự kiện này, con đường làm quan của Nguyễn Đức Đạt bị gián đoạn trong một thời gian khá dài
Thật không may cho ông, sau ngày ông về quê không lâu, "triều đình đã phát hiện thấy tiền và thóc trong kho công của tỉnh Hưng Yên bị thiếu hụt, buộc ông phải bồi thường hơn một vạn quan" [49; 13]
Về nguyên do của việc thiếu tiền và thóc trong kho công là do ông đã phát tiền và thóc cho quân sĩ và dân nghèo vay, sau đó không có cách nào thu dược đủ số Ông là người dã ra lệnh làm việc ấy mà không được phép của triều đình cho nên đành phải chịu bổi thường Đối với Nguyễn Đức Đạt, hơn một vạn quan tiền bổi nợ thực sự là một tai vạ lớn Biết xoay xở ở đâu ra chừng ấy tiền trong khi gia cánh nhà ông không mấy giàu có, trong những năm làm quan, ông là vị quan thanh liêm, lại sống trong sạch không vơ vét ăn của đút lót của dân ncn không thể có tiền Vì thế ông phải gọi người đến để bán ruộng nương, đồ đạc, nhưng tiền thu được cũng chẳng thấm tháp vào đâu Gần hết hạn một năm, quan tỉnh đã cho đưa trát về thúc nợ mà ông vẫn chưa biết lo liệu thế nào Trong lúc khó khăn, hoạn nạn, chính những người học trò trong Hội đồng môn của ông với trách nhiệm giúp đỡ gia dinh thầy khi thầy gặp
Trang 19hoạn nạn đã lặng lẽ góp nhau kẻ ít người nhicu để cuối cùng có đủ số tiền và thóc giúp thầy bổi nợ Sự việc đó là một biểu hiện tốt đẹp về tình nghĩa thầy trò được người đưưng thời và người sau truyền tụng.
Sau vụ bồi nợ cho triều đình , có lẽ vì phải bán nhà nên ông phải đến ở nhờ tịnh xá chùa Đông Sơn trong ít lâu Sau đó, học trò cùng với dân làng Hoành Sơn góp tiền chung sức giúp ông làm nhà và dựng một ngôi trường năm gian đón ông về làng dạy học Từ đó đến năm 1883, ông ở hẳn quc nhà chuyên tâm vào việc đèn sách, dạy dỗ các thế hệ học trò
Trong buổi đầu Cần Vương, phong trào còn rời rạc, cuộc khởi nghĩa ở Hoành Sơn chưa tập hợp được đông đảo lực lượng nhân dan trong vùng Năm
1886, Nguyễn Đức Quý và Đinh Nho Hạnh đưa quân di đánh bọn phản động đội lốt công giáo ở làng Thọ Ninh (Đức Thọ - Hà Tĩnh) Bị thất bại, nghĩa quân lui về làng Xuân Phúc, lại bị giặc bao vây phái rút vào trong núi Bạch Sơn
Neuyỗn Đức Đạt vì tuổi già sức yếu không đi theo được, phải ở lại làng, cải trang thành người mù loà ngây dại đến ở lánh irong chùa Đông Sơn, được
sư cụ hết lòng che dấu giúp dỡ Làng Hoành Sơn bị quân giặc kéo đến triệt hạ,
Trang 20nhà ông cùng với ngôi trường năm gian bị đốt phá Đầu năm 1886, những vụ bắt bớ trong vùng tạm lắng, ông mới trở về gian nhà ngang còn sót lại giữa đống tro tàn Qua năm sau ông mất ngày 9 tháng Giêng năm Đinh Hợi (1/2/1887), thọ 63 tuổi.
Là một nhà Nho dược đào tạo học hành, đỗ đạt cao, Nguyễn Đức Đạt ra làm quan với hy vọng giúp vua trị nước yên dân Nhưng ông lại làm quan trong thời buổi loạn lạc, khi chế độ quân chủ lâm vào khủng hoảng, lòng trung quân khó bề giữ trộn, cũng như nhiều nhà Nho đương thời, Nguyễn Đức Đạt
đã tìm đến một lối thoát: xin cáo quan, về quê mở trường tìm niềm vui trong việc dạy học và viết sách
Như vậy, nhìn lại chặng đường làm quan của Nguyễn Đức Đạt, chúng ta thấy ông vốn là người tài đức nôn được nhà vua có phần trọng vọng, bổ nhiều chức vụ quan trọng như: Đốc học Nghệ An, Án sát Thanh Hoá, Tuần phủ Hưng Yen Tuy nhiên, làm quan trong thời buổi loạn lạc, đất nước suy yếu, cùng lúc là hoạ xâm lược của người phương Tây, triều đình nhu nhược, sợ giặc, Nguyễn Đức Đạt tỏ ra không mấy hào hứng Đã nhiều lần ông lấy cớ ốm đau, bệnh tật, xin cáo quan về quê Đặc biệt, sau việc tờ sớ xin giảm thuế cho dân Hưng Yên của ông bị Tự Đức bác bỏ, ông về ử hẳn quê nhà lo việc dạy học Một thời gian sau, khi phong trào Cần vương hùng nổ, chính lòns trung quân lại thôi thúc ông đứng ra tổ chức, lãnh đạo phong irào Cần Vương ngay tại quê nhà Cuối cùng vì tuổi già sức yếu, ông phải bỏ lại con dường làm quan còn dang dở
Mặc dù chặng đường làm quan chưa dài nhưng dù trong hoàn cảnh nào, với chức vụ gì, Nguyễn Đức Đạt luôn thê hiện rõ lương tâm và trách nhiệm của một nhà Nho đối với triều đình, với nước, với dân Tất cả những điều đó chính là cơ sở cho việc hình thành tư tưởng đạo đức của ông ,đổns thời, là sự thể hiện trong thực tế tư tương đạo đức của ông
Đ A! HỌ C Q U O C G IA h a NỌ!
TRUNG ĨÀ M I HÓNG UN THU VIỆN
Trang 211.2.2 Vê' sự nghiệp sáng tác.
Nguyễn Đức Đạt không chỉ là một nhà giáo dục có tài mà còn là một học giả uyên bác nửa cuối thế kỷ XIX Ông trước thuật rất nhiều, đủ các thể loại thơ văn, sáng tác và nghicn cứu, tiêu biểu là các tác phẩm:
- Việt sử thặng bình (1881) viết về các nhân vật, sự kiện trong lịch sử
Việt Nam gồm có 80 tờ (khổ giấy 29x16cm)
- Khảo cổ ức thuyết (1878) viết về lịch sử Trung Quốc gồm 2 quyển
- Ông còn biên soạn nhiều tác phẩm giáo khoa, như: N am Sơn song
khoá gồm 102 tờ (khổ 29x18cm) dạy cách cảm nhận cái đẹp trong thơ và làm
thơ cho hay Sách này dùng cho các học trò xuất sắc Và còn hàng loạt tác
phẩm khác như: N am Sơn song khoá c h ế nghĩa gồm 119 từ (khổ 23x14cm),
Đăng long văn tuyển, Đó là những tuyển tập các bài phú, chế, vãn sách làm
mẫu cho học sinh đi thi
Trong các tác phẩm của Nguyễn Đức Đạt, đặc sắc và hoàn chỉnh nhất
là bộ sách Nam Sơn Tùng Thoại, sách được trình bày dưới dạng vấn đáp, tương tự sách Luận /J£í?của Khổng Tử Nội dung quan trọng của bộ sách này
là bàn về những vấn đề triết học , chính t r ị , xã hội, giáo dục tất nhiên là dứng trên quan điểm Nho giáo và đặc biệt là những vấn đề đạo đức có nhiều điểm phù hợp với truyền thống đạo đức dân tộc Hơn nữa qua tác phẩm này ông đã
tỏ rõ thái độ phê phán hiện thực xã hội đương thời và cảm thông nỗi Ihống khổ của người dân bị áp bức
Trang 22Nam Sơn Tùng Thoại là tác phẩm chính của Nguyễn Đức Đạt, bộ sách gồm có 4 quyển với 32 thiên (kể cả thiên Bình cư là lời học trò kể lại tính tình nếp sống hàng ngày của ông), do học trò ghi chép lời nói của ông, biên tập thành sách , góp liền khắc in và hoàn thành vào tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (12/1880).
Đầu sách có bài tựa của tác giả đề ngày 16/9/1878 Đại ý bài tựa nói: Những khi rỗi rãi, ông thường cùng các môn sinh trò chuyện, không ngờ họ quá nghe lời ông» cùng nhau tập hợp những lời nói ấy thành sách, bản ý ông thì không muốn truyền lại nhune học trò ba bốn lần nài ép, ông phải ưng thuận, và vì tính chất góp nhặt các lời nói như vậy nên ỏng đặt tên sách là
"Nam Sơn Tùng Thoại", nghĩa là những lời nói lan man của ông Nam Sơn Đó
là lời nói khiêm tốn của ông, còn học trò thì đánh giá rất cao lời dạy của thầy, coi như "Rùa thiêng ngọc quý"
Bài tựa thứ hai do tiến sĩ Đinh Văn Chất viết thay lời học trò của ông là những tiến sĩ, phó bảng, cử nhân và những người khác dã tham gia biên tập sách này Bài tựa có đoạn viết: Rùa thiêng ngọc quý ta cũng muốn có, lấy ta suy ra người, đâu dám bảo ý thích của người khác không giống như mình Sợ rằng người đến mượn về sao chép ngày một đông, bản chính làm sao có thể cung ứng cho khắp dược Vì vậy chúng tôi nhiều lần xin thầy cho in để phát hành những người cùng ý thích với chúng tôi, ngẫm nghĩ lời thầy nói, hiểu tại sao thầy lại nói, để lừ trong bụi rậm mà hái lấy tinh hoa, thì cây lý cành văn có lẽ do dó mà bắt rễ được chăng ?
Cũng trong bài tựa này tiến sĩ Đinh Vãn Chất cho biết: Sách làm xong
đã được tiên sinh giáin định Như vậy, mặc dù sách này khởi thuỷ là do học trò ghi chép lời nói của ông, nhưng trước khi in đã được ông xem xét sửa chữa, cho nên chúng ta có thể xem về thực chất Nam Sơn Tùng Thoại là tác phẩm của Nguyễn Đức Đạt
Trang 23Sách gồm có 4 quyển, cộng 292 tờ (khổ giấy 26 X 15cm), từ 2 trang, trang 8 dòng, dòng 20 chữ, khắc in rõ ràng, tất cả khoảng 93.000 chữ, chia thành 32 thiên như sau:
Quyển I gồm Kì thiên: Học vấn, Đại đạo, Thư tịch, Văn chương, Sư
hữu, Chí hạnh, Sự ngôn, Đức tính, Tài tình, Sỹ tiến
Quyển II gồm 8 thiên: Trị đạo, Pháp chế, Chính thuật, Binh yếu, Quốc
dụng, Hình thưởng, Lỗ nhạc, Tri nhân
Quyển HI gồm 8 thiên: Nhậm sử, Quân đạo, Thần liêu, Tự luận, Thánh
hiền, Thuật nghiệp, Bách gia, Thiệp thế
Quyển N g ồ m 6 thiên: Danh phẩm, Vận số, Phúc đức, Bình cư, Cách
vật, Đàm dư
Trong quá trình biên tập , người biên tập không nói rõ dụng ý việc chia thiên xếp quyển, nhưng đại khái có thể hiểu sự sắp xếp đó theo thứ tự liên tiếp
từ những điều cần Ihiết nhất đối với người đi học (Q.ĩ), để ra giúp việc chính
sự (Q.IĨ), nói rộng ra nữa đến đời sống xã hội ( Q.III), và sự tu dưỡng bản thân mỗi người (Q.IV)
Như vậy, Nam Sơn Tùng Thoại là một tác phẩm có tính tổng hợp Cho
nên việc nghiên cứu Nam Sơn Tùng Thoại, giúp chúng ta có thể tìm hiểu được
tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt như là một hiện tượng tư tưởng của tầng lớp trí thức phong kiến nửa cuối thế kỷ XIX ở nước ta Đổng thời qua tác phẩm này chúng ta hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp giáo dục của Nguyễn Đức Đạt với tư cách là một danh nhân văn hoá đời vua Tự Đức Ông là một nhà Nho nên trong tác phẩm ông đã dành nhiều ưu tiên cho những lư iưởng của Nho gia Nhưng tác phẩm hoàn toàn không phải là một bộ sách giáo khoa nhằm giai thích từng câu, từng chữ trong kinh truvện mà được trình bày mội cách thoải mái như nói lên những điều lâm đắc của thầy giáo Nam Sơn
Trần Văn Giàu trong tác phẩm "Sự phát triển của tư tương ở Việt Nam
từ th ế kỷ XIX đến cách mạng Thán (Ị T á m " đã nêu lên một số khía cạnh đặc sác
Trang 24trong những ý kiến của Nguyễn Đức Đạt bàn về những vấn đề cơ hản của Nho giáo, và nhận định chung rằng : "Sách Nam Sơn Tùng Thoại là sự trình bày toàn bộ Nho giáo một cách độc đáo, có hệ thống, không thấy trong các sách khác" [18, 11] Đó là một đánh giá xác đáng về giá trị học thuật của bộ sách này.
Với tính cách là cơ sở lý luận cho việc trị nước , an dân bằng và thông qua Nhân chính ,Đức trị, Nho giáo về thực chất là một hộ thống các chuẩn mực đạo đức Chính xác hơn những chuẩn mực đạo đức là những cái xuyên suốt Nho giáo Vì thế với Nam Sơn Tùng Thoại trong khi trình bày Nho giáo một cách có hệ thống , độc đáo ,Nguyễn Đức Đạt cũng đồng thời trình bày đạo đức Nho giáo một cách có hệ thống , độc đáo theo cách riêng của ông
Có thể nói , tư tưởng đạo đức là phần cốt lõi đồng thời là phần xuyên suốt Nam Sơn Tùng Thoại
Trang 25CHƯƠNG 2:
NHŨNG T ư TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CHỦ YÊU
TRONG TÁC PHẨM NAM SƠN TÙNG T H O Ạ I.
2.1 Về thực chất đạo đức, môi quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, quan
hệ giữa đạo đức và văn học nghệ thuật.
2.1.1 Quan niệm của Nguyễn Đức Đ ạt vê thực chất đạo đức.
Trong các trước tác của Nguyễn Đức Đạt nói chung , trong Nam Sơn Tùng Thoại nói riêng , tư tưởng về thực chất của đạo đức không thể hiện dưới hình thức đạo đức học Điều đó có nghĩa là ông không đặt và trả lời câu hỏi : Đạo đức hay thực chất của đạo đức là gì ? Như tất cả các nhà Nho khác, Nguyễn Đức Đạt chỉ luận chứng rằng ,các chuẩn mực ,các nguyên tắc đạo đức Nho giáo là chính đáng và có thể biện minh được Cho dù có những quan điểm khác nhau ( Khổng tử ,Tuân tử ,Cáo Tử ,Mạnh tử ) nhưng đã là nhà Nho thì ai cũng thừa nhận con người ai cũng có bản tính Bản tính tức là cái tính vốn có ban đầu, mang tính bẩm sinh , dù muốn hay không đều tồn tại một cách phổ biến ở con người , loài người Nguyễn Đức Đạt là nhà Nho chính thống , được đào tạo chính thống ô n g di thi và đỗ Thám hoa , được bổ nhiệm làm quan để thực thi Nhân chính ,Đức trị, thực thi đường lối cai trị của nhà Nguyễn Bởi thế ông chịu sự chi phối của quan niệm Khổng ,Mạnh về tính Thiện Bản tính thiện ấy như cách diễn đạt và lý giải của các nhà Nho sau Khổng Mạnh , biểu hiện ra thành luân thường đạo lý nghĩa là Trung ,Hiếu, Tiết , Hạnh ; Nhân ,Nghĩa ,Lễ Trí ,Tín Sự Ihực hiện những yêu cẩu những chuẩn mực đạo đức này chính là sự thể hiện bản tính thiện Cố nhiên ở các thời đại khác nhau ,các yêu cầu , các chuẩn mực đạo đức Nho giáo dược quan niệm và lý giải không hoàn toàn giống nhau Mỗi thời đại đều đưa vào trong các khái niệm ,các phạm trù diễn dạt các yêu cầu , các chuẩn mực đó bằng những nội dung cụ thổ nhằm đáp ứng những yêu cầu nhất định của thời đại
Trang 26Trong điều kiện cuối thế kỷ XĨX ,nhà Nguyễn đang suy vong đất nước từng bước rơi vào tay người Pháp , hơn lúc nào hết những chuẩn mực đạo đức Nho giáo tỏ ra bất lực trong định hướng hành vi con người Trung ,Hiếu, Nhân ,Nghĩa được hiểu và thực thi khác nhau Có người khư khư giữ lấy ngu trung ; có người muốn thoát khỏi quan niệin trung quân thuần tuý , có kẻ lợi dụng nhân, nghĩa, hiếu,đễ để mưu lợi riêng hoặc biện minh cho sự hèn nhát của mình Trong bối cảnh ấy, là nhà Nho chính thống Nguyễn Đức Đạt cố gắng phục hưng lại những giá trị đạo đức Nho giáo thông qua việc chú giải , biện minh cho tính chính đáng của Nho giáo , cũng như cụ thể hoá, làm phong phú thêm nội dung của một số phạm trù đạo đức theo cách riêng của mình.Không thể chỉ giới hạn trong khuôn khổ của Nho giáo để biện minh cho tính hợp lý , tính chính đáns của đạo đức Nho giáo Thiện có thể là điểm xuất phát của đạo đức , nhưng thiện chỉ thuộc về con người và xã hội loài người Nguyễn Đức Đạt muốn đi xa hơn , truy nguyên điểm tận cùng của đạo đức Chính vì vậy ông tìm đến tư tưởng Lão Tử và kết hợp Nho giáo và Đạo giáo nhằm xác lập cơ sở cho những tư tưởng đạo đức của mình.
Thực ra thì ngay từ thời Bắc thuộc , và gần hơn là các thế kỷ XVII-
XV II1, nhiều nhà tư tưởng mà dien hình là Ngô Thì Nhậm đã tìm đến sự đổng nguyên của tam giáo (Nho ,Phật , Lão) hay chính xác hơn là tìm đến những yếu tố của tam giáo mà họ cho là hợp lý để làm căn cứ cho học thuật, lý giải những vấn đề của thực tiễn đất nước , định hướng cho hoạt động chính trị -x ã hội hoặc lối sống cá nhân Việc tìm đến tam giáo ở mỗi nhà tư tưởng có khác nhau nhung nhìn chung , họ đều dưạ trên một sự thừa nhận tính thống nhất và
sự khác biệt của mỗi giáo trong tam giáo, nghĩa là thừa nhận tính độc lập bình đẳng của mỗi giáo
Nguyễn Đức Đạt không thuộc số những nhà tư tưởng như vậy Theo chúng t ô i , Nho giáo là lý tưởng của đời ông ô n g tự lĩnh lấy sứ mệnh biện minh và phục hưng đạo đức Nho giáo Nếu chỉ trong khuôn khổ Nho giáo
Trang 27không tìm đủ luận cứ thì ông tìm đến Lão giáo Với ông những nguyên lý của Lão giáo chẳng qua chỉ là phương tiện công cụ để biện minh cho đạo đức của Nho giáo ; dù rằng với sự biện minh ấy ,tư tưởng đạo đức của ông nêu ra có những nét riêng
Có thể nhận thấy điều đó trong Nam Sơn Tùng Thoại , với sự lý giải của ông VC Đạo Ông tiếp nhận quan niệm , nhìn nhận Đạo như là bản nguyên của
vũ trụ Đạo là nguồn gốc của vạn vật và quy luật biến hoá của vạn vật
Những quan niệm về Đạo như trên của Nguyễn Đức Đạt chúng ta có thể thấy rằng hành vi đạo đức của con người là hành vi được dẫn dắt bởi Đạo, là
sự thể hiện của Đạo trong đừi sống Có người hỏi ông : " T hế nào là đại Đạo ?
” Ông trả lời : Đại đạo như trời che đất chở Lại hỏi :"Ai che chở đạo" Ong trả lời:" Đạo tự che chở lấy, vì nó rất cao nên không gì vượt lên trên, thì che sao được?, vì nó rất rộng không thể vượt ra ngoài thì chở sao đưực Nó sâu như bien đến ức vạn trượng dây cũng không đo đến đáy được, có đến ngàn vạn dòng nước chảy vào cũng không đầy được ” [49, 121] Ông còn nói rằng : Đạo không phải là hư vô, nó không có hình tượng nhưng là có thật và ở trong trời đất, ông nói cái tính của Đạo ở trong trời đất, trời thì cao đất thì thấp Đạo
ử trong khoảng ấy Đạo là mênh mông, chỉ có thể noi theo mà không biết đâu
là cùng cực, có thể biết mà không thể gọi tên được Có người hỏi: "Thế nào là Đạo" ? Ông trả lời: “Đạo là đạo dẫn, tự đạo hay đạo dẫn người cũng là một Đạo dẫn mà sáng suốt thì rõ rệt, đạo dẫn mà mờ mịt thì tối tăm Xem cách Đạo dẫn thì biết nsay học thuật, học thuật chính trực thì say sưa, học thuật dị đoan thì mờ tối" [11, 19] Cái cách diễn đạt như vậy , theo chúng tôi là cách diễn đạt kiểu Đạo giáo
Từ chỗ xác định bản tính chung của Đạo là như vậy , Nguyễn Đức Đạt tìm cách kết nối đạo với đạo lý làm người v ẫ n theo cái mạch lý giải kiểu Lão giáo ông cho rằng Đạo vừa là có vừa là không, là không vì Đạo lẩn khuất trong tâm, là có vì nó thể hiện ra khi con người hoạt động " có mà chưa từng
Trang 28có, không mà chưa từng không, thế gọi là chí đạo" [11, 18] Khi ở một chỗ khác ông viết : “Đạo tức là Đạo dẫn; tự Đạo, hay Đạo dẫn người cũng là một [14; 19] Ông còn cho rằng Đạo vốn không khó cầu; điều nghĩ được tức là Đạo; việc làm duợc tức là Đạo Theo ông hành vi đạo đức của con người được dẫn dắt bởi Đạo là sự thể hiện của Đạo trong đời sống Đạo từ chõ là nguyên
lý phổ quát của trời đất ,vũ trụ mang tính trừu tượng đã thể hiện qua hành vi
cụ thể của con người mà trở thành hành vi đạo đức của con người
Cụ thể hơn một bước nữa Nguyễn Đức Đạt nói đến quan hệ giữa Đạo - Tính- Tâm- Tình-Thiên lý đây là sự khẳng định tính chính đáng của các yêu cầu đạo đức Những quan hệ này được nhiều người đề cập ,đặc biệt là trong Nho học Trung Quốc Nguyễn Đức Đạt bàn đến các quan hệ này theo cách riêng của ông Theo ông tính là nguồn của tình , tình và tính thống nhất
ở tâm ; thuận tình và giữ tính là Thánh, đạt đến Thánh là thuận theo Thiên lý ,
là đạt Đạo Ong viết : “ Người quân tử tôn Irọng trời để tôn trọng tính mình, bảo tổn tâm mình để bảo tổn Thicn lý Tâm với tính là m ộ t , là trời Làm tôi
mà vua không cho là trung , làm con mà cha mẹ không cho là hiếu , thì trời còn cho mình là gì ? Cho nên ,người quân tử không thể không làm cho mình thành thân; muốn thành thân thì không thể không thuận trời, phụng sự trời, không thổ không thuận theo Thiên lý mà làm tôi trung con hiếu ” Ị 1 1;20|
Như vậy đối với Nguyễn Đức Đ ạ t , sự biện luận về Đạo , quan hệ và sự thể hiện của Đạo qua Trời ,Thiên lý , Tâm ,Tính ,Tình Rốt cuộc là sự chứng tỏ tính hợp lý và tính chính đáng của các yêu cầu , các chuẩn mực ,các giá trị đạo đức của Nho giáo mà liêu biểu là Trung và Hiếu Hơn thế Nguyễn Đức Đạt muốn chứng tỏ rằng sự thực hiện những bổn phận đạo đức con người, không đơn giản chỉ là những cá nhân bẩm sinh mang tính thiện Sự thực hiện
đó là thể hiện lính quv định phổ quát hơn đó là Đạo Hoạt động của con người , sự thực hiện bổn phận đạo đức của con người là một mắt khâu trong sự vận
Trang 29hành , sự thể hiện của Đạo Và đó chính là thực chất của đạo đức qua cách nhìn Nho giáo có pha lẫn chút Lão giáo của Nguyễn Đức Đạt
Cuối cùng Nguyễn Đức Đạt nêu ra một biện pháp để đạt tới Đạo đó là hiện pháp phải "tiến dần dần" Con đường học tập và tu dưỡng là vô tận phải tiến hành suốt đời Ông nói : "Cái lối dần dần thực là tế vi Tiến dẩn dần cho bàng người thì hằng người, cho bằng trời thì bằng trời Giọt nước làm thủng tảng đá, sợi dâylàm đứt được cây gỗ Ôi ! giọt nước có rắn hơn đá đâu, sợi dâycó dai hơn gỗ đâu? chỉ là nhờ dần dần mà được thế cho nên học cũng không nên bỏ dở cũng khône nên vội" [11, 22]
Như vậy trong quan niệm về bản chất đạo đức Nguyỗn Đức Đạt đã chúng tỏ rằng con người thực hiện những hành vi đạo đức không đơn giản chỉ
là bẩm sinh mang tính thiện Đạo đức của con người là cả một quá trình rèn luyện lâu dài, học hỏi kiên trì, con đường tu dưỡng là vô tận Tất nhiên sự rèn luyện tu dưỡng đó phải ở trong một tính quy định phổ quát đó là Đạo Trong
đó bổn phận quan trọng mà con người phải thực hiện là đạo đức qua đó cũnơ
là sự thể hiện của Đạo Đạo đức phải quý ở chõ lự nguyện để có nếu mà tư lự
vì lợi mà làm thì không phải Đạo Có người hỏi :"Đạo đức có phải do tâm tư
mà thành không? Ông đáp rằng : "Đạo mà có tư lự thê' là mưu trí thì không phải Đạo ! Đức mà dụng tâm thô' là lợi thì không phải Đức Không lư lự mà yên lặng mới là đắc đạo, vô tâm thì Đức mới to lớn" [11, 26]
2.1.2 M ối quan hệ giữa đạo đức và pháp lụát.
Trong tác phẩm Nam Sơn Tùng Thoại , Nguyễn Đức Đạt khi biện hộ cho dạo đức Nho giáo, ông đã nhận thấy mối liên hộ nhất định giữa đạo đức và pháp luật Là người chủ trương Nhân chính tức là đề cao đạo đức trong cai trị nhưng ông cũng nhận thấy vai trò của pháp luật và rất coi trọng luật pháp, ông
ví pháp luật như dây cương hàm thiếc m à người làm vua nhất định phải dùng
để điều khiển quan lại mà ông ví là ngựa Không có dây cương hàm thiếc thì
Trang 30vua không điều khiển được quan lại, quan lại không thể cai trị được dân Ỏng nói : " Bỏ pháp luật không dùng sao trị được người "[12 : 32] Tuy vậy ông cũng không tuyệt đối hoá vai trò của pháp luật Ông nói : " Pháp luật không thc bỏ được nhưng cũng không thể trông cậy cả vào nó được [12 : 26] Bởi vì Nguyễn Đức Đạt biết ràng người cai trị nếu không biết “an dân” khiến dân đói khổ, liều mạng không sợ chết thì không thể dùng pháp luật mà ngăn cản, cấm đoán họ được Cho nên ông vua muốn giữ được ngôi lâu dài không những cần có oai mà còn rất cần đến đức là vì quyền là cân nhắc ở chỗ sợ hoặc vêu Dân không sợ là vì vua không có oai, dân không yêu là vì vua không có đức Đức nhiều thì vua được dân yêu, oai nghiêm nhiều thì vua được dân trọng Ông vua trị nước phải giữa chữ tín ử lời nói , nói ít hoặc không cần nói mà dân vẫn tin và theo Có người hỏi: " Lời nói của vua là mệnh lệnh vậy có cần phái nói không ? Ông đáp rằng: "Mệnh lệnh bằng lời nói chưa bằng mệnh lệnh không phải nói Cao Giao không nói được mà làm chức đại lý (quan giữ hình pháp) dân không phạm pháp vì quý lời nói, trong bụng thành thực ngoài mặt không lộ vẻ ghét ycu lòng thành rất mực tình cảm, làm cảm động người ta như ánh nắng mùa đông, bóng mát mùa hạ, không phai gọi mà người ta tự đến như thế thì cần gì phải ra lệnh cấm cho nhiều ! Cho nên ông vua chí đức cảm hoá người cũng như ông thần ở miếu thiêng cứ nghiễm nhiên im lặng mà dân lành vẫn được giáng phúc ” [13 ; 28].
Nguyễn Đức Đạt luôn nhấn mạnh phải thực hiện Đức và Nhân trong chính sách cai trị Đức và Nhân phải bao trùm Pháp, không như vậy thì Pháp
sẽ không có hiệu quả Ông nói: " Ông vua chỉ lấy uy vũ và dùng pháp luật cho người ta sợ thì không ích gì cho việc cai trị Pháp là khổng thể bỏ được, nhưng cũng không thể trồng cậy được Chỉ trông cậy vào Pháp thì hỏng việc Tất phải đem tấm lòng nhân hậu mà thi hành chính lệnh rõ ràng Pháp lệnh cũng như tấm lưới, lưới mau như lông trâu không bằng lưới thưa lọt được con cá nuốt thuyền nhưng lại thuận dân hơn" [12, 26 - 27J
Trang 31Theo ông, pháp luật có thể trừng phạt trộm cắp, nhưng không thể khiến cho dân trở thành người có đức hạnh như Bá Di , mệnh lệnh có thể ngăn cấm
xa xỉ, nhưng không thể khiến cho dân trở nên người cần kiệm như Mặc Địch Ông còn nói: "Người điều khiển ngựa khiến cho ngựa sợ bằng roi chứ không dùng gươm Người chế ngự voi khiến cho voi sợ bằng búa chứ khôns dùng súng Gươm và súng là thứ khí giới giết hại ngựa voi chứ không phải là thứ để
ra uy với chúng Không có cái thuật khiến cho voi ngựa sợ mà lại hãm hại chúng thì không có ích gì cho việc cưỡi voi ngựa Nhà vua ra uy với dân không có cái đạo ấy mà chỉ đặt ra pháp luật nehiêm khắc thì không ích gì cho việc trị dân" [12, 26]
Tư tưởng về mối quan hệ giữa Pháp , Nhân, Đức như trên đã được làm
rõ thêm khi Nguyễn Đức Đạt nói về quan hệ giữa Ân và Uy Ông đòi hỏi chí thành khi làm ơn và chí công khi ra uy Ông nói : "Ân phải chí thành, chí thành thì cảm được dân, chứ ban ơn nhiều không đủ tỏ lòng yêu dược Uy cốt phải công bằng Chí công thì dẹp được ác, chứ nghiêm lệnh không đủ chính dính thói tục được Gượng làm thân thì dẫu cười người ta cũng không thân; giả làm uy thì dẫu nghiêm người ta cũng không sợ" [12; 33]
Nguyễn Đức Đạt đã phát biểu nhiều tư tưởng về việc ỉập pháp và hành pháp Trả lời câu hỏi : "Lập pháp làm thế nào cho được lâu dài? Ông nói:
"Thuận nhân tình thì được lâu" [12, 30] Trả lời câu hỏi: "Trị pháp nên theo cổ hay cải biến cổ?" Ông nói: "Trị không cứ gì mới, cũ mà phải lấy lợi ích của dân làm gốc Phép của tiên vương nếu không hợp thì không dùng, việc làm của dời nay nếu tiện dụng thì chọn lấy Đạo thì nhất thành mà việc đời thì biến hoá trăm chiều thiên hạ có Đạo thường chớ có pháp luật nhất định dâu" [12,34]
Như vậy, Iheo Nguyễn Đức Đạt, lập pháp và hành pháp đều phải lấy chuẩn là lợi ích và nguyện vọng của nhân dân làm cơ sờ và phải đều phải tuỳ thời mà thay đổi các điều khoản cụ thể Ông còn neu lên một tư tưởng rất đặc
Trang 32sắc trong lĩnh vực này Trị dân ncn khoan, đốc thúc quan lại ncn nghiêm Ông khuyên người cầm quyền đừng chi ly, hà khắc, hẹp hòi đối với dân: "Cân từng
tạ, đo từng trượng Ihì chóng vánh và ít sai lầm" [12, 22]
Khi bàn về thuật trị nước, NguyỗnĐức Đạt đã đưa ra quan điểm riêng đề cao nhân đức,ncu gương không dùng đến những thủ đoạn tàn bạo, xảo trá Ông nói Nếu roi vọt mà rong ruổi vừa mức, đó là thuật cưỡi ngựa đi ngàn dặm Bỏ xảo trá nuôi lòng trong sạch, ấy là thuật trị nước của bậc thánh vương" [12, 34] Thánh vương trị dân không muốn dùng hết thuật Đồng thời với việc đổ cao thuật trị nước của bậc thánh vương, Nguyễn Đức Đạt còn đưa
ra một đòi hỏi táo bạo cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị: "Bảo ké dưới phải làm thì kẻ trên cũng không dược miễn, bắt dân vào khuôn phép thì phải tự xét mình đã Cấm được mình thì cấm được dân" [13, 28],
Trong thiên Quân đạo khi xem xét mối quan hệ giữa vua và pháp luật ông cũng nói đến điều mà nhiều người đã từng nói: Trên phải làm tấm gương cho dưới, nhưng điều khắc biệt ở Nguyễn Đức Đạt là ở chỗ ồng còn nói thêm
rằng : “Vua phải tuân theo pháp luật và pháp luật để nsăn cam vua Đây là
một ý kiến không có trong Tứ thư và trong di sản tư tưởng thế ký XIX trở VC
trước” [45, 135] Ông nói rằng : “ Vua mà độc đoán chuyên quyền thì pháp luật bỏ xó Cho nên, bề tôi theo vua là để giữ gìn pháp luật, vua lập ra pháp luật là để giữ mình ngay thảng" [13, 28] Như vậy, Nguyễn Đức Đạt quan niệm rằng pháp luật không chí có tác dụng như nhau đối với mọi người mà ngay cả nhà vua cũng phải lự gò mình vào pháp luật (mặc dù cái pháp luật ấy khởi đầu cũng là do vua lập ra) và uy quyền của vua không phái là tuyệt đối không có gì ràng buộc Rõ ràng, trong khuôn khổ ý thức hệ phong kiến, quan niệm đó của Nguyễn Đức Đạt có ý nghĩa tích cực đáng được ghi nhận
Qua nhũng ý kiến bàn về mối quan hệ đạo đức và pháp luật của Nguyễn Đức Đạt, chúng ta thấy ông rất coi trọng pháp luật trong việc trị nước, kể cả dối với bản thân nhà vua, đồng thời ông nhấn mạnh quan điểm đức trị Và
Trang 33mục đích cao nhất của việc trị nước theo ông là phải yên dân Để yen dân, chính lệnh phải hợp với lòng dân, và phải đảm bảo cho chính lệnh ấy được nhân dân tôn trọng Ông nói rõ: "Trị nước gốc ở yên dân, yên dân cốt ở tu thân, tu thân cốt ở sửa tính" [12, 19] Theo ông, trong nhân dân mà có tình trạng không tôn trọng chính lệnh thì cũng không thể yên dân Trong nước có chính lệnh hại dân hay có người khinh thường chính lệnh thì nước loạn.
Khi luận chứng cho quan niệm Đức trị Nguyễn Đức Đạt trong một chừng mực nhất định và theo cách riêng của mình ông đã nhận thấy cơ sở kinh
tế xã hội của đạo đức Là nhà Nho theo quan điểm chính thống Nguyễn Đức Đạt nhìn nhận tính quy định của cơ sở kinh tế xã hội đối với đạo đức, thông qua cách hiểu của ông về Nhân chính Theo ông Nhân chính không đơn giản chỉ là cai trị bằng giáo huấn đạo đức Giáo huấn đạo đức đương nhiên là cần thiết ,nhưng nếu như không tạo cơ sơ nền tảng kinh tế tối thiểu để dân yên ổn vui sống thì không thể đem ỉễ mà tiết chế họ dược Vậy thì Nhân chính hay Đức trị chỉ có ý nghĩa và thực thi được khi người dân vui sống Nói cách khác đối với Nhân chính lợi ích của dân chúng phải được coi là cơ sở để xác định các biện pháp cai trị Chính vì thế khi được hỏi về cách thức cai trị nên theo cổ hay biến cổ ông khẳng định dứt khoát: "Trị không cứ gì mới cũ m à phái lấy lợi dân làm gốc" [12 : 34] Lợi ích đó đòi hỏi dân chúng phải được yên ổn làm
ăn, no đủ vui sống từ đó Nguyễn Đức Đạl còn chủ trương phải hạn chế không
để cho trong nước có người quá giàu hoặc quá nghèo Theo ông, giàu quá thì kiêu căng và đi đến chỗ "tiếm lễ", nghco quá thì sinh ra quẫn bách và gian tà Tiếc rằng, ông đã không có điều kiện chỉ ra các biện pháp cần phải thi hành để thực hiện việc hạn chế giàu nghèo quá mức Nhưng bù lại, ông dã nói rõ cách làm cho dân no đủ Ông phân biệt 5 cách người trị nước cất chứa của cải: Cất chứa irong dân (làm cho dân giàu), cất chứa Irong kho đụn (tập trung của cải trong kho tàng của Nhà nước), cất chứa ở kho riêng của nhà vua; cất chứa ở hậu cung (nguyên chú: như Trịnh Giang bán quan tước để lấy tiền chi tiêu
Trang 34trong cung); cất chứa ở hang núi (nguyên chú: như Trần Phế Đ ế chôn dấu của cải ở núi Thiên Hiện) Và ông gọi cách chứa của cải trong nhân dân là vương đạo Bốn cách còn lại được ông gọi tương ứng là của bá đạo, của kẻ Iham, của
kẻ hôn mc, và của người ngu
Như vậy, khi bàn đến mối quan hệ pháp luật và đạo đức, Nguyễn Đức Đạt đứng trên quan điểm Nho giáo chính thống, song đổng thời kết hợp cả tư tưởng của phái Pháp gia và tư tưởng thân dân ,lợi dân của Mặc gia Qua đó, ta thấy ông đã gián tiếp nói lên tiếng nói phê phán sự lạm dụng hình phạt trong việc trị nước của chế độ thống trị đương thời Đồng thời, ông mạnh dạn đề đạt một đường lối "thuận lòng dân" Trong hoàn cảnh chế độ phong kiến đương thời, đường lối đó ít nhiều cũng có lợi cho quần chúng nhân dân và là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với giai cấp thống trị
Đối với Nguyễn Đức Đạt sự thống nhất giữa đạo đức pháp lụât còn có nghĩa là làm sao cho yêu cầu của pháp lụât được thực hiện một cách tự nguyện
tự giác, tức là làm sao cho những yêu cầu đó trử thành những yêu cầu của đạo đức Đó mới là thực chất của Đức trị và Nhân chính
Ông đưa ra quan niệm về một ông vua biết cai trị theo Nhân chính ,hơn thế ông vua phải biết "yêu kính dàn" Theo Nho giáo, vua thương yêu dân là lẽ hiển nhiên Tuy nhiên, lòng thương đó là lòng thương của thiên tử, người thay mặt trời cai quản muôn dân Chưa có ai nói vua phải kính dân Có lẽ, Nguyễn Đức Đạt là nhà Nho duv nhất cho rằng dân là chủ tể của vua Khi dược hỏi:
"Vua nên yêu ai?" - ô n g đáp: "Ycu dân" Lại hỏi: "Nên kính ai?" - Ông đáp:
"Kính dân" Lại hỏi: "Ycu và kính như thế nào?" - Ông đáp: "Yêu như yêu thân mình, kính như kính thân mình Ôi dân là người bảo vệ cho thân mình, chẳng yêu sao được ? Lại là người chúa tể của thân mình, chẳng kính sao được? [13, 17] Như vậy, đối với ông không còn quan niệm một chiều nữa, quan hệ giữa vua và dân là quan hệ bình đẳng, đôi bên báo đáp lẫn nhau, vua
có bổn phận đối với dân, và tương ứng, dân có bổn phận đối với vua Trong
Trang 35điều kiện triều đinh nhà Nguyễn đang ngày một xa dân thì một đòi hỏi như vậy quả là táo bạo và mang ý nghĩa tích cực.
Theo Nho giáo, ông vua không chỉ "cẩn chính" mà còn phải "thân hiền", tức phải biết đào tạo, lựa chọn, trọng dụng nhân tài v ề vai trò của nhân tài, Nguyễn Đức Đạt nói: "Mất kẻ sỹ thì nước mất, và mất rất chóng, được kẻ sỹ thì nước thịnh, và ihịnh lâu dài" [13, 9] Để trả lời câu hỏi của các vua nhà Nguyễn: Tại sao không có nhân tài?, Nguyễn Đức Đạt nói: Ông vua trước hết phải tự mình có cái gì giỏi thì những người giỏi khác sẽ kéo về đáy triều Đi săn mà không lưới, không tên thì không được chim Đi câu không mồi thì không được cá Kẻ sỹ là chim cá của vua chúa Vua muốn được người hiền tài thì phải lấy lỗ làm mồi, làm lưới" Phải chăng qua cách trả lời Nguyễn Đức Đạt gián tiếp phc phán rằng vua Tự Đức và các vua Nguyễn Irước đó đều bất tài và thiếu lễ nên nhân tài không lựu về ? Điều chắc chắn triều Nguyễn là một chế độ đang suy tàn không làm sao sinh ra nhân tài xuất chúng, tuy vẫn có thể còn thấy những người có khí tiết mạnh và nhiệt tình cao Hơn nữa, đất nước lại đang đứng trước hoạ xâm lược của người phương Tây mà sự đào tạo nhân tài lại cứ theo đường khoa mục đã lõi thời thì làm gì có nhân tài đảm đương nổi việc nước ?
Nguyễn Đức Đạt còn đòi hỏi nhà vua nói riêng và giai cấp thống trị nói chung nếu chưa đạt đến mức "vô dục" (không dục vọng) thì ít nhất cũng phải
"thiểu tư quả dục" (ít riêng tư, bớt ham muốn), nghĩa là phải kiềm chế dục vọng riêng của mình, coi đó là điều cốt yếu trong việc trị dân, trị nước, ô n g nói: "Ăn cơm muối thì thiên hạ không ai bị đói, mặc áo xấu thì không ai bị rét, dùng đổ sành gốm thì thiên hạ không ai hoang phí như thế thì lòng ham muốn mới được yên mà cái hoạ tranh đoạt mới hết được [12, 29]
Đối với quan lại là những kẻ giúp vua trị nước yên dân, ông quan niệm bọn họ cũng như người "vú già", kẻ "thị tỳ" được nhà vua uỷ thác việc giúp nuôi dân, nếu làm hại dân thì tức là trái với sự uý thác ấy [13, 33] Quan lại đã
Trang 36được cái danh là "người giúp việc trị nước" thì phải gắng sức trau dồi thực chất cho xứng với cái danh nghĩa ấy Ông đòi hỏi họ phải : " Lấy trung tín làm gốc
của đạo đức, lấy ưu cần làm nền tảng của sự nghiệp" [12, 41 ị Nguyễn Đức
Đạt đề cao vai trò của những người hiền đức ngay thẳng, cho rằng họ có thể giúp vua trở nôn bậc thánh minh, còn bọn quan lại gian nịnh thì chẳng những
là kẻ gieo tai hoạ cho dân chúng mà bọn chúng cũng lừa dối cả vua Vì vậy kẻ làm vua nên sợ người mình yêu mà nên yêu người mình sợ ồ n g còn nói:
"Chính nhân nói thẳng, có lợi cho công việc nhưng trái tai Tà nhân chỉ vâng
dạ, hại cho đức, nhưng bùi tai" [13, 23].
Những người mà \oia chúa thường hay lo sợ là những kẻ bề tôi có đạo đức tài năng, nhưng vua mà minh quân thì thường gần gũi và trông cậy vào họ, như ông đã chia làm 6 hạng; thánh, hiền, trí, lực, trinh, trực
Đối với những bề tôi có đạo đức, tài năng đó, kẻ hôn quân bạo chúa thường xa lánh họ nhưng bậc thánh chúa minh quân thì phải biết thân gần, quý trọng họ Ông thấy được mối quan hệ giữa đạo đức của quan lại và sự an nguy của xã tắc
Đối với bọn quan lại sâu mọt thì ông vạch ra đến 8 hạng như sau:
"Bám giữ bổng lộc, cốt sao làm vừa lòng người Iren, là hạng bề tôi đặt
ra cho đủ chức A dua đón ý, là hạng bề tôi nịnh hót Ghen ghét người hiền tài
là hạng hổ tôi gian trá Bóc lọt dân để nuôi béo mình, là hạng bề tôi tham lam
Bỏ công việc bê trễ, là hạng bề tôi lười biếng Mượn uy vua để gây bè cánh riêng là hạng bề tôi chuyên quyền Giả mạo ấn tín làm rối loạn quyền bính của triều đình, là hạng bề tôi phản nghịch” [13, 41 ]
Những hạng sâu mọt loại nói trên, dẫu là do bản chất xấu của cá nhân quan lại, nhưng ông còn tìm đến một căn nguyên sâu xa hơn:"Nhà nước không trọng hạng bổ tôi vơ vét thì làm gì có quan lại tham ô !" [12, 45]
Đó là hậu qua của chính sách trị nước của triều đình Một khi quan lại
đã "không tự chữa" được những căn bệnh ấy thì nhà nước phủi có trách nhiệm
Trang 37trừ khử nó đi:”Cây có sâu thì cành là khô hco, bụi rậm có con cắt thì chim chóc nháo nhác Thuật trị nước ở nha môn thì phải trừ hốt bọn lại dịch sâu mọt, ở hương thôn phải diệt hết bọn cường hào gian ác thì dân chúng mới được sống yên Cho nên, trị nước cũng như làm có lúa; cái phải bỏ đi thì ít mà cái được lợi thì nhiều Người nuôi cá ở ao hổ còn phải trừ loài rái cá, huống chi là việc trị người" [12, 43 - 44].
Loài "rái cá" ấy, từ lý trưởng, chánh tổng ở chốn quê đến hoạn quan nịnh thần ở triều dinh đều cùng một giuộc, hùa nhau "bóc lột dân chúng để nuôi bco thân mình" "khiến cho làng xóm kêu than sầu oán" Dưới triều Nguyễn, tệ quan lại, cường hào hiếp bách lương dân đặc biệt trầm trọng hơn bao giờ hết Trong hoàn cảnh đó, những ý kiến trên của Nguyễn Đức Đạl thổ hiện rõ thái độ phc phán của ông đối với hiện thực xã hội đương thời
Trong tờ sớ gửi lên triều đình nhà Nguyễn, Nguyễn Công Trứ người cùng thời với ông cũng đã có nhận xét như sau: Cái hại của cường hào nó làm cho con cái người la thành mổ côi, vợ người ta thành goá bụa, giết cả tính mệnh người ta, làm kiệt quệ gia tài người ta mà không lộ ncn cứ công nhiên chẳng kiêng sợ gì !
Thái độ đó xuất phát từ tấm lòng ông luôn thông cảm sâu sắc với thân
phận của người dân lao động Học trò ông kể lại rằng: "Khi ở phủ viện, dẫu
đứa trẻ con ông cũng thân yêu; xct việc kiện tụng, dẫu người đàn bà nhà quê, người làm thuê ứ chợ ông cũng gọi lên hỏi" 114, 162" Đi dường, thấy người dân bị trói, hỏi ra mới biết duyên cớ chỉ vì người ấy khổng có tiền nộp "lạc quyên” nên bị quan huyện bắt, ông cau mày nói: "Ngày xưa quyên góp thì người ta chở xe bò hoặc gồng gánh di nộp, ngày nay quyên góp thì khiêng bát giam trói, chữ "lạc" ngày xưa đến thế ư ? [14, 160] Một viên tri phủ tính cố chấp, thích đánh trói gông cùm dế ra oai, sau bị dân tố cáo, mát chức, phải đổi
đi nơi khác, ông nói; "Kẻ ngồi công đường chớ có thích nghe khúc nhạc thịt"
ị 14, 159] Khúc nhạc thịt chính là tiếng kêu rên xiết của người dân bị áp bức