Thông qua nghiên cứu hành động tương trợ của người Nhật trong thảm họa kép, tác giả muốn kiểm chứng dạng thức cố kết cộng đồng của xã hội Nhật Bản hiện đại với tư cách là một dân tộc châ
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ 2
MỞ ĐẦU 3
Lý do lựa chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
Phương pháp nghiên cứu 6
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
Cấu trúc luận văn 13
CHƯƠNG 1: THẢM HỌA KÉP THÁNG 3/2011 VÀ CUỘC ĐIỀU TRA TẠI VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN 15
1.1 Thảm họa kép tháng 3/2011 16
1.2 Cuộc điều tra tại vùng Đông Bắc Nhật Bản 31
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TRONG THẢM HỌA CỦA CƯ DÂN VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN 38
2.1 Tóm lược hoạt động cứu trợ của chính phủ và chính quyền địa phương 38
2.2 Hoạt động tương trợ có tổ chức trong cộng đồng khu vực 41
2.3 Hành động tương trợ tự phát giữa các cá nhân 48
CHƯƠNG 3: LÝ GIẢI HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TRONG THẢM HỌA CỦA CƯ DÂN VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN 58
3.1 Một số quan điểm nghiên cứu về hoạt động tương trợ 58
3.2 Lý giải hoạt động tương trợ trong thảm họa kép tháng 3/2011 của cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản 68
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 82
PHỤ LỤC 86
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Số bảng
Số trang
Bảng 1-1
Phân bố cấp độ động đất từ 5 yếu trở lên do động đất ngoài khơi Thái Bình Dương vùng Đông Bắc Nhật Bản ngày 11/3/2011
18
Bảng 1-2 Quá trình điều tra lần 1 (11-12/3/2014) 34 Bảng 1-3 Quá trình điều tra lần 2 (18-21/9/2014) 35 Biểu đồ
1-1
Số người chết và mất tích do thảm họa tự nhiên tại Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai (Đơn vị: người) 22
Sơ đồ 1-1 Khu vực tâm chấn và phân bố cấp độ động đất của Động đất
ngoài khơi Thái Bình Dương khu vực Đông Bắc 16
Sơ đồ 1-2 Các khu vực tiến hành điều tra (3&9/2014) 36
Trang 3MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Thảm họa kép động đất – sóng thần xảy ra vào ngày 11 tháng 3 năm 2011 là một trong những thảm họa khủng khiếp nhất tại Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Thảm họa này bắt nguồn từ một cơn địa chấn ngoài khơi Thái Bình Dương, kéo theo sóng thần và một loạt các dư chấn sau đó, gây ra nhiều thiệt hại to lớn về cơ
sở vật chất và cướp đi sinh mạng của nhiều người, cũng như để lại nhiều di chứng nặng nề và lâu dài với đời sống của người dân ở nhiều khu vực của Nhật Bản
Trong hoàn cảnh hỗn loạn sau khi cơn địa chấn xảy ra, nhiều phương tiện truyền thông của thế giới và Việt Nam đã đưa tin về việc người dân Nhật Bản bình tĩnh ứng phó với thiên tai Tình trạng hoảng loạn, cướp giật, hôi của… hầu như không xảy ra Không những vậy, giữa hoàn cảnh khó khăn đó, nhiều nghĩa cử tương trợ và quan tâm lẫn nhau đã được ghi nhận Điều này đã khiến nhiều người nước ngoài hết sức thán phục và kính trọng người dân Nhật Bản, ca ngợi đây là biểu hiện của truyền thống Nhật Bản
Mặc dù vậy, với kinh nghiệm tiếp xúc với người dân và xã hội Nhật Bản, tác giả đề tài cảm nhận thấy cần phải lý giải hành động tương trợ này một cách đầy đủ
và sâu sắc hơn Tác giả luận văn, một mặt đồng cảm với những thông điệp trên, mặt khác, cho rằng xã hội công nghiệp phát triển cao độ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đang làm mờ nhạt mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội Nhật Bản, nên hành động tương trợ trên cần được lý giải từ cấu trúc và đặc trưng của xã hội Nhật Bản hiện đại Xuất phát từ suy nghĩ này, tác giả muốn tìm hiểu bản chất của các hành động tương trợ giữa các cư dân trong thảm họa kép tháng 3/2011 tại Nhật Bản
Những tình huống bất thường như thảm họa (bao gồm cả thảm họa do thiên tai
và con người mang lại) thường đẩy con người vào ranh giới làm bộc lộ bản chất ẩn giấu bên trong Thảm họa cũng đẩy những vấn đề tiềm ẩn của xã hội thành các hiện tượng hiện hữu thông qua chính những hành động và phản ứng của con người Do đó, nghiên cứu thảm họa là một cách gián tiếp để tìm hiểu về những vấn đề, những đặc
trưng ẩn chứa sâu trong tiềm thức xã hội Với lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài Lý
Trang 4giải từ góc độ xã hội học hoạt động tương trợ của cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép tháng 3/2011 làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ của mình
Thông qua nghiên cứu hành động tương trợ của người Nhật trong thảm họa kép, tác giả muốn kiểm chứng dạng thức cố kết cộng đồng của xã hội Nhật Bản hiện đại với tư cách là một dân tộc châu Á, một xã hội công nghiệp phát triển cao độ Quá trình cận đại hóa, toàn cầu hóa đã làm biến đổi những mối quan hệ trong xã hội Nhật Bản như thế nào, và nó mang lại những ý nghĩa mới nào cho quan hệ cộng đồng trong một xã hội châu Á như Nhật Bản? Thêm vào đó, trong một vụ thảm họa, con người
sẽ có những phản ứng như thế nào trước những thách thức chung phải đối diện, sự bình tĩnh ứng phó cũng như những nghĩa cử tương trợ cao đẹp của người dân Nhật Bản, điều nhận được sự thán phục của nhiều người trên toàn thế giới, có phải là một đặc trưng riêng biệt mang “tính cách dân tộc Nhật Bản” hay không?
Tóm lại, mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu sự biến đổi trong cấu trúc quan hệ xã hội của người Nhật thông qua hoạt động tương trợ trong thảm họa và trả lời câu hỏi vì sao trong những tình huống khó khăn, các cư dân vùng thảm họa vẫn
có thể tương trợ và quan tâm lẫn nhau như vậy
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thảm họa kép tháng 3/2011 là một sự kiện gây chấn động không những ở Nhật Bản mà còn trên cả thế giới Đây không phải là một trận động đất qui mô lớn mà là một chuỗi các thảm họa liên tiếp gồm động đất, sóng thần, dư chấn, kéo theo hỏa hoạn, vụ nổ lò phản ứng tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima I, làm biến đổi cấu trúc kinh tế xã hội và định hướng tái thiết khu vực của Nhật Bản Trong quá trình nghiên cứu thực tế từ tháng 10/2013 đến tháng 3/2015, tác giả nhận thấy những ảnh hưởng của sự kiện này vẫn đang tiếp diễn, hoạt động tương trợ, hỗ trợ tái thiết vẫn đang diễn ra và còn kéo dài đến tương lai Chính vì vậy, việc nghiên cứu sự kiện này
là nghiên cứu một “quá trình” lịch sử – xã hội đang tiếp diễn, chứ không phải là một
sự kiện đã chấm dứt trong quá khứ
Động đất – sóng thần là thiên tai do tự nhiên gây ra, sau khi thảm họa qua đi, quá trình tái thiết tại khu vực thảm họa sẽ được bắt đầu Trong khi đó, hỏa hoạn và
Trang 5sự cố hạt nhân có thể coi là thảm họa do con người gây ra, để lại hậu quả lâu dài khiến cho những cư dân trong vùng thảm họa phải dời đi và khó có thể trở lại quê hương trong tương lai gần Trong luận văn này, tác giả muốn giới hạn tên gọi “thảm họa kép tháng 3/2011” trong phạm vi thảm họa thiên tai kép gồm động đất và sóng thần Tất nhiên, trong phần giới thiệu khái quát về thảm họa kép tháng 3/2011, tác giả vẫn giới thiệu tóm lược những nét căn bản về các chuỗi các sự kiện, bao gồm cả vụ nổ nhà máy hạt nhân, nhằm giúp độc giả có một cái nhìn tổng quát về tình trạng vùng Đông Bắc đương thời
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các hoạt động tương trợ lẫn nhau giữa các cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản Thông qua quá trình điều tra, tác giả nhận thấy bên cạnh các hoạt động mang tính “tổ chức” như các hoạt động giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở các quy phạm trong xã hội như tập quán hay luật pháp, còn có những “hành động” tương trợ mang tính bột phát nhất thời giữa các cá nhân Vì vậy, trong luận văn này, tác giả phân chia hoạt động tương trợ của cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép tháng 3/2011 làm hai loại chính: 1) các hoạt động tương trợ có tổ chức trong cộng đồng khu vực; 2) hành động tương trợ tự phát giữa các cá nhân Hoạt động tự cứu trợ không nằm trong đối tượng của nghiên cứu này do không mang tính quan hệ xã hội Các hoạt động cứu trợ công của chính phủ và hoạt động tương trợ cộng đồng ngoài khu vực như hoạt động quyên góp, tình nguyện thông qua Hội đồng
Phúc lợi xã hội Nhật Bản, do đã được báo cáo tương đối cụ thể trong Sách trắng Phòng chống thiên tai của Nội các Nhật Bản nên tác giả chỉ tóm tắt lại ngắn gọn
Về giới hạn không gian nghiên cứu, như đã giải thích ở trên, thảm họa kép tháng 3/2011 bao gồm hai thiên tai nối tiếp là động đất và sóng thần, có ảnh hưởng đến nhiều khu vực khác nhau của Nhật Bản, trong đó 3 tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất là Miyagi, Iwate và Fukushima Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian và nguồn lực nghiên cứu, tác giả xin giới hạn khu vực điều tra tại hai tỉnh Miyagi và Iwate, cụ thể
là các thành phố Sendai, thị trấn Matsushima, thành phố Kesennuma (tỉnh Miyagi),
và thị trấn Rikuzentakata (tỉnh Iwate) thuộc vùng Đông Bắc của Nhật Bản Đây là
Trang 6một trong các thành phố chịu thiệt hại trực tiếp và nặng nề nhất từ ảnh hưởng của thảm họa động đất và sóng thần
Về giới hạn thời gian nghiên cứu, như đã chỉ ra ở trên, hoạt động tương trợ giữa các cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép tháng 3/2011 không chỉ diễn ra trong một thời điểm ngắn, mà đó là một quá trình kéo dài ngay sau thảm họa cho đến cả giai đoạn tái thiết hiện tại Do đó, thời gian nghiên cứu được tính từ thời điểm trận động đất xảy ra ngày 11/3/2011 đến hết thời điểm tiến hành điều tra, tức là tháng 3/2015
Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp trường qui của khoa học xã hội là tổng hợp và phân tích
tư liệu, luận văn sử dụng hai cách tiếp cận cơ bản là khu vực học (cụ thể là Nhật Bản học) và xã hội học Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả luận văn cố gắng kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực địa (sử dụng ngôn ngữ và trải nghiệm đời sống bản địa), nghiên cứu so sánh, nghiên cứu trường hợp của Nhật Bản học, với các phương pháp nghiên cứu xã hội học hiện đại Ở đây tác giả muốn nhấn mạnh đến phương pháp quan sát, phỏng vấn và phân tích từ góc độ xã hội học Trên thực tế, đối với vấn đề thảm họa kép tháng 3/2011” có thể tiếp cận theo nhiều hướng như tôn giáo,
tư tưởng, đạo đức học, luật học… song, với mục đích nghiên cứu về “hoạt động tương trợ” thì cách tiếp cận theo hướng xã hội học được cho là phù hợp hơn cả
Các hoạt động cứu trợ, chi viện của chính phủ Nhật Bản, chính quyền địa
phương chủ yếu được nắm bắt thông qua Sách trắng Phòng chống thiên tai của Nội
các Nhật Bản, báo cáo của các địa phương và các tài liệu kiểm chứng công tác phòng chống thiên tai khác Ở khu vực “cứu trợ công” này, có ba không gian nghiên cứu cần được phân định rạch ròi:
1) Kế hoạch phòng chống thiên tai có quy định các chính sách đối phó và tổ chức cứu trợ của chính phủ và chính quyền địa phương vốn đã được xác lập trong thể chế pháp luật của Nhật Bản trước khi thảm họa kép tháng 3/2011 xảy ra
2) Những hoạt động “cứu trợ công” được ghi nhận trong các sách trắng về phòng chống thiên tai, các báo cáo hoạt động, các tin tức truyền thông
Trang 73) Các hoạt động “cứu trợ công” đã diễn ra trong thực tế
Về căn bản, có thể coi các hoạt động “cứu trợ công” được báo cáo đầy đủ và tương đối chính xác trong các tài liệu chính thống được cung cấp Nhưng trong quá trình thực hiện điều tra phỏng vấn đối với những người dân khu vực thảm họa, tác giả nhận thấy những hoạt động cứu trợ “công” này không phải đã hoàn toàn đáp ứng được việc bảo đảm an toàn tính mạng cho người dân cũng như cứu giúp được tất cả các trường hợp Vì thế, trên thực tế nảy sinh trường hợp cứu trợ công không đạt hiệu quả tối ưu hay không được người bị nạn lựa chọn khi thảm họa xảy ra Tất nhiên, không thể phủ nhận giá trị to lớn của các hoạt động cứu trợ công trong việc giúp đỡ
số lượng lớn người bị nạn trong thảm họa Ở đây tác giả muốn bổ sung vào những thông tin chính thống vai trò của các hành động tương trợ giữa các “cá nhân” trong
“cộng đồng”, nhằm phân tích bản chất các mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội Nhật Bản hiện đại Những hành động tương trợ theo hình thức này có thể được tiếp cận qua các ghi chép, các câu chuyện kể, nhật ký cá nhân hoặc trực tiếp điều tra phỏng vấn Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn phương pháp phỏng vấn trực tiếp Trên cơ sở dữ liệu ghi âm các câu chuyện kể của chính các nhân chứng, tác giả tiến hành phân tích và đối chiếu với một số lý thuyết xã hội học phù hợp Phương pháp cụ thể của cuộc điều tra sẽ được trình bày rõ hơn trong mục 2 của chương 1
với trọng tâm là các ngành tự nhiên”, nhưng trong những năm gần đây, “trong việc giảm thiểu thiệt hại thảm họa, sự đóng góp từ phương diện mang tính xã hội là cần thiết và những hiểu biết của nhóm ngành xã hội nhân văn là không thể thiếu” [6, tr.30] Ông chỉ ra 4 nhóm vấn đề được tiến hành trong “nghiên cứu khu vực ứng phó thảm họa”, bao gồm 1) thông tin và truyền thông, 2) hỗ trợ và tái thiết, 3) tái cấu trúc xã
Trang 8hội, 4) kí ức và hoài niệm [6, tr 33] Theo đó, đối tượng nghiên cứu của luận văn này, tức các hoạt động tương trợ, có thể xếp vào chủ đề “hỗ trợ và tái thiết”
Vấn đề tương trợ trong thảm họa ở Nhật Bản còn được phân tích từ góc độ cơ
cấu của tổ chức phòng chống thiên tai Takanashi Nariko (2007) trong Các tổ chức liên quan trong thời kỳ thảm họa đã chia các tổ chức phòng chống thiên tai của Nhật
Bản thành 3 nhóm, bao gồm:1) jijo (自助) (tự cứu trợ: việc tự bảo vệ chính bản thân
mình và người trong gia đình); 2) kyojo (共助) (tương trợ cộng đồng: việc thực hiện các hoạt động giúp đỡ lẫn nhau, cứu trợ, cứu viện dựa vào các lực lượng như những
người hàng xóm, các tổ chức tư nhân hoặc các đoàn tình nguyện viên…); 3) kojo (公
助) (cứu trợ công: hoạt động cứu trợ, cứu viện từ các cơ quan công quyền như các tổ chức liên quan đến nhà nước hay chính quyền địa phương đô, đạo, phủ, huyện, thị, đinh, thôn) [14, tr.86] Các hoạt động cứu trợ của chính quyền trung ương và địa phương, cũng như hoạt động tương trợ cộng đồng trong thảm họa được quy định bởi
Luật Cơ bản về đối phó thảm họa1 do quốc hội Nhật Bản ban hành lần đầu năm 1961 Luật này thường xuyên được sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế sau mỗi lần có thiên tai lớn xảy ra Lần sửa đổi gần đây nhất là ngày 21/6/2013, sau thảm họa kép tháng 3/2011 Trên cơ sở luật định, chính quyền trung ương và địa phương các cấp định kì đề ra kế hoạch phòng chống thiên tai trong đó qui định về hoạt động tương trợ cộng đồng
Từ trước khi thảm họa kép tháng 3/2011 xảy ra, trong lĩnh vực phúc lợi xã hội
cũng đã tồn tại các thuật ngữ jijo, kyojo và kojo để mô tả vai trò của các mối quan hệ trợ giúp này trong xã hội già hóa của Nhật Bản Bên cạnh đó còn có thuật ngữ gojo
(互助, hay sogofujo相互扶助) để chỉ các hoạt động tương trợ tự phát, giúp đỡ lẫn nhau ở cấp độ gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng Mặc dù vậy, sự phân biệt giữa
gojo và kyojo nói chung vẫn còn khá mới mẻ Theo Từ điển tiếng Nhật Kojien (Kojien,
広辞苑) của tác giả Shinmura Izuru (新村出) thì 1) jijo (tạm dịch là tự cứu trợ) có
1 Luật Cơ bản về đối phó thảm họa được Quốc hội Nhật Bản ban hành ngày 15/11/1961 trong bối cảnh Nhật
Bản chịu ảnh hưởng nặng nề của trận bão vịnh Ise năm 1959 Luật này quy định việc xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai, quy định các biện pháp ứng phó khi có thảm họa với đối tượng chính quyền và các đoàn thể từ trung ương đến các địa phương
Trang 9nghĩa là: “việc tự mình cứu lấy bản thân mình việc đạt được sự cải thiện, phát triển bản thân bằng chính sức lực của mình mà không dựa dẫm vào người khác2; 2) gojo (tạm dịch là hỗ trợ) có nghĩa là “việc giúp đỡ lẫn nhau”3; 3) kyojo (tạm dịch là cộng trợ) cũng được từ điển này định nghĩa là “việc giúp đỡ lẫn nhau”4 Kojo (tạm dịch là cứu trợ công) không có mục từ trong từ điển kể trên Từ này được định nghĩa trong
Từ điển tiếng Nhật Daijisen bản điện tử (Dejitaru Daijisen, デジタル大辞泉) của Nhà xuất bản Shogakukan (小学館) là “việc trợ giúp của các cơ quan công quyền, đặc biệt đối với các vấn đề mà cá nhân hay xã hội khu vực không thể giải quyết được sẽ được giúp đỡ bởi nhà nước và các tổ chức tự trị”5 Các khái niệm này được sử dụng nhiều trong lĩnh vực phúc lợi xã hội nhưng nội hàm của chúng cũng không được phân định
rõ ràng và thống nhất Ví dụ trong Đề án Quy hoạch phúc lợi xã hội Thành phố Sakura (2014), jijo (自助) mang ý nghĩa là bản thân đóng vai trò chủ thể trong các mặt đời
sống, tự làm việc, tự sinh hoạt với tư cách chủ thể trong khả năng có thể ở mọi mặt
của đời sống; gojo (互助) dùng để chỉ việc những người ở gần xung quanh đương sự
ra tay giúp đỡ xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, thể hiện mối quan hệ tự phát
giữa những người trong gia đình, bạn bè hay những người hàng xóm láng giềng; kyojo
(共助) là hoạt động trợ giúp lẫn nhau trong cấp độ khu vực hay cấp độ nhân dân, đó
là những hoạt động tương trợ lẫn nhau xuất phát từ trong truyền thống từ xưa, gần đây các hoạt động này tương ứng với sự giúp đỡ không chính thức từ các tình nguyện viên, hoặc các pháp nhân phi lợi nhuận, phi chính phủ NPO… (nhằm phân biệt với
sự trợ giúp chính thức từ các chuyên gia); cuối cùng, việc hỗ trợ cho các hoạt động
jijo, gojo, kyojo cũng như các vấn đề không giải quyết được trong đời sống cá nhân hay xã hội khu vực sẽ được các cấp chính quyền thực hiện gọi là kojo (公助) [11, tr.6] Dựa trên đặc điểm tính chất của các hoạt động giúp đỡ, cứu trợ, trong luận văn này,
tác giả tạm Việt hóa các khái niệm jijo, gojo, kyojo, kojo tương ứng là: hành động tự
Trang 10cứu trợ, hành động tương trợ tự phát giữa các cá nhân trong cộng đồng khu vực, hoạt động tương trợ cộng đồng có tổ chức, hoạt động cứu trợ công Nghiên cứu này tập
trung vào gojo và kyojo, tức các hành động tương trợ tự phát và hoạt động tương trợ
là nghiên cứu của nhóm Mugikura Tetsu, Īzaka Tadahiro, Kajiwara Shōgo, Īzuka
Kaoru (2013) trong Văn hóa cứu trợ, tương trợ nhìn từ khu vực thảm họa trong thảm họa kép Miền Đông Nhật Bản – Điều tra phỏng vấn đại diện vận hành các cơ sở lánh nạn tại thị trấn Ōtsuchi tỉnh Iwate Các nhà nghiên cứu đã dựa trên kết quả điều tra
phỏng vấn các đại diện của 43 cơ sở lánh nạn ở thị trấn Ōtsuchi tỉnh Iwate để phân tích hành động tương trợ diễn ra trong thời gian thảm họa Họ cho rằng các hành động này vốn bắt nguồn từ “văn hóa” tương trợ của cư dân địa phương Nhóm nghiên cứu phân tích rằng nguồn gốc của tình cảm tương hữu là mối quan hệ gắn bó giữa các cư dân, đặt trong bối cảnh lối sống gắn kết với môi trường thiên nhiên và ít chịu ảnh hưởng của văn minh đô thị Một nghiên cứu về lí thuyết tính công cộng của Tanaka
Shigeyoshi (2010) trong Tính công cộng sinh ra từ khu vực lại cho rằng hành động
tương trợ của cư dân vùng Đông Bắc có thể được xem như một hình thức “tương trợ
cộng đồng” mang tính thiết chế trong cộng đồng khu vực Bên cạnh đó, Điều tra bảng hỏi về hoạt động cứu trợ trong thảm họa kép miền Đông Nhật Bản do Nội các Nhật
Bản (2013) tiến hành đã đưa ra những thông tin cụ thể về tình hình vùng thảm họa
Các học giả Nishizawa Masamichi và Tsutsui Satoshi (2014) trong Kế hoạch phòng chống thiên tai trong cộng đồng khu vực và doanh nghiệp có tính đến thảm họa kép Miền Đông Nhật Bản – Về CDMP (Kế hoạch phòng chống thiên tai cấp cơ sở) ứng dụng ICT và Nhập môn chế độ kế hoạch phòng chống thiên tai khu vực đã tiến hành
Trang 11nghiên cứu về những hạn chế của hoạt động “cứu trợ từ chính quyền” và tầm quan trọng của hoạt động “tương trợ cộng đồng”
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn còn một số hạn chế Điều tra phỏng vấn của nhóm Mugikura chỉ được thực hiện trong một phạm vi giới hạn là thị trấn Ōtsuchi nên chưa đề cập đến những đặc trưng riêng biệt của các vùng bị thiệt hại khác trong thảm họa Trong khi đó, các nghiên cứu về “tương trợ cộng đồng” của Nội các Nhật
Bản hay các tác giả Nishizawa và Tsutsui bị đặt trong bối cảnh sửa đổi Luật cơ bản
về ứng phó thảm họa nên mặc dù có đề cập đến hiện trạng của hành vi tương trợ giữa
các cư dân vùng bị thiệt hại ở một mức độ nào đó, nhưng chưa giải thích rõ động cơ hay ý nghĩa của các hành động này Các hành động tương trợ tự phát giữa các cư dân trong thảm họa có thể coi là vấn đề bị bỏ ngỏ bởi mặc dù trên bình diện pháp luật, chúng được xếp vào các hoạt động tương trợ cộng đồng nhưng trên thực tế, các hành động này thường bị xem là bột phát và nằm ngoài cấu trúc xã hội
Giới học giả phương Tây cũng có một số nghiên cứu đáng chú ý về thảm họa nói chung và thảm họa kép tháng 3/2011 tại Nhật Bản nói riêng Rebecca Solnit (2009)
trong tác phẩm A Paradise built in hell – The Extraordinary Communities That Arise
in Disaster (Thiên đường xây nên từ địa ngục – Các cộng đồng bất thường nảy sinh trong thảm họa) đã phân tích các phản ứng của con người trong một số thảm họa lớn
chủ yếu ở Mỹ, và đưa ra kết luận về sự hình thành những cộng đồng tương trợ bất thường từ tình trạng khủng hoảng, căng thẳng trong các sự kiện thảm họa Hiện tượng này, như đã được Rebecca đưa ra trong tác phẩm của mình, đi ngược lại những suy nghĩ thông thường về tình trạng bạo lực, cướp bóc, thù địch sau mỗi thảm họa và đã được chứng minh qua những điều tra nghiêm mật về phản ứng của con người trong nhiều thảm họa qua nhiều năm Đây có thể coi là một quan điểm hợp lý nhằm giải thích các hoạt động tương trợ của cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép, sẽ được tác giả phân tích trong chương 3 của luận văn Bên cạnh đó, tác phẩm
3.11: Disaster and Change in Japan (3.11: Thảm họa và Thay đổi ở Nhật Bản) của
Richard J Samuels (2013) lại đưa ra một cái nhìn tổng quan về những xu hướng biến đổi trong chính trị và xã hội Nhật Bản thời kỳ hậu thảm họa kép tháng 3/2011 thông
Trang 12qua những phân tích sâu sắc về chính sách của chính phủ Nhật Bản đối với 3 khía cạnh an ninh quốc gia, chính sách năng lượng và quản trị địa phương Thảm họa kép tháng 3/2011 diễn ra sau hai thập kỷ bất ổn về xã hội và kinh tế của Nhật Bản, được trông đợi như một tia hi vọng nhằm vực dậy và giải cứu tình trạng bất ổn này Những biến đổi trong cộng đồng khu vực là một khía cạnh quan trọng khi nói về các hoạt động tương trợ diễn ra trong và sau thời kỳ thảm họa đã được Samuels nhắc đến trong tác phẩm của mình Mặc dù vậy, những phân tích trên bình diện chính sách đã không
đi sâu vào vấn đề hoạt động tương trợ trong thảm họa Bối cảnh quan hệ cộng đồng khu vực sẽ được tác giả nhắc lại trong phân tích về tính công cộng mới hình thành ở Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Ngoài giới nghiên cứu Nhật Bản và một số học giả phương Tây, ngay sau khi trận động đất xảy ra, các phương tiện truyền thông quốc tế và Việt Nam liên tục đưa tin về diễn biến, thiệt hại và phản ứng của Nhật Bản Nhiều bài báo ca ngợi sự bình tĩnh đối phó, cách ứng xử lịch sự, sự đoàn kết, kiên cường, nhẫn nại chịu đựng và quan tâm lẫn nhau của người Nhật trước thảm họa Một số bài báo của các cơ quan truyền thông phương Tây tỏ ra ngạc nhiên vì ngay trong thời kỳ thảm họa, ở Nhật Bản hầu như không có các hiện tượng cướp giật thực phẩm, hôi của… xảy ra Tuy nhiên, ngay sau đó, một số bài báo khác cũng đã lên tiếng dẫn lời cảnh sát địa phương cho biết, một vài trường hợp trộm tiền từ máy rút tiền, xăng từ ô tô khác và đồ thực phẩm trong các cửa hàng bị phá hủy cũng đã xảy ra6 Các bài báo tập trung mô tả phản ứng và cách hành xử của người Nhật trong thảm họa và gắn kết chúng với văn hóa và tính cách dân tộc Nhật Bản Trong số các phản ứng, ứng xử được chỉ ra cũng
có nhắc đến việc người Nhật quan tâm, chia sẻ lẫn nhau trong thảm họa Ta có thể thấy một ví dụ tiêu biểu như bài viết của Ngô Hương Lan, Nguyễn Thu Phương (2012)
với nhan đề Sức mạnh tinh thần của người Nhật Bản: Qua trường hợp đối phó với thảm họa 11-3-2011 có đoạn:
6 Một số đơn vị truyền thông đưa tin về vấn đề này như The Global and Mail, NBCSandiego, News1130, The Australian, Los Angeles Times, The Daily Telegraph, VnExpress, VTV, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á… có thể tham khảo tại phần phụ lục của luận văn
Trang 13…Trong các cửa hàng bị hư hại, hàng hóa đổ ngổn ngang nhưng không hề
có kẻ trộm đồ hay hôi của, mà ngược lại, nhiều người mua hàng đã giúp sắp xếp lại đồ đạc lên giá, và để lại tiền mua hàng tại quầy bán không người thu tiền Một số chủ quầy bán nước tự động đã phát miễn phí các chai nước uống Mọi người giúp đỡ nhau để cùng tồn tại…
Ở khách sạn Monterey, thuộc thành phố Sendai, nơi xảy ra động đất và sóng thần, hai đầu bếp đứng ra mời những người đi qua bát súp nóng cho bữa sáng Đối với nhiều người, đây là bữa ăn đầu tiên sau trận sóng thần hôm 11/3 Mọi người xếp hàng chỉ để lấy một cốc súp Không ai lấy sang cốc thứ hai… Tất cả những điều này trái ngược với cảnh tưởng hỗn độn sau cơn bão Katrina ở Mỹ năm 2005 mà hậu quả về mặt xã hội của nó đến giờ vẫn chưa thể khắc phục được…7
Các bài báo này đã nhanh chóng truyền tải đến người đọc các tin tức mới nhất tại hiện trường vùng thảm họa, cung cấp cho người đọc một góc nhìn về các phản ứng cũng như văn hóa, tính cách của người Nhật trong thảm họa Mặc dù vậy, đặc điểm chung của các bài viết này là chỉ mô tả các trường hợp cá biệt và không làm rõ bối cảnh cũng như ý nghĩa của hoạt động tương trợ Do đó, người đọc không định hướng được các hành vi tương trợ này là các hành vi hợp lý hóa lợi ích hay các hành
vi cảm tính Ngoài các bài báo trên, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu cụ thể nào nhằm
lý giải từ góc độ xã hội học hoạt động tương trợ của cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép tháng 3/2011 Trên cơ sở tham khảo các công trình lý thuyết và nghiên cứu thực tế, dựa trên tài liệu điều tra của mình, với luận văn này, tác giả muốn tìm hiểu và phân tích từ góc độ xã hội học để đánh giá rõ hơn ý nghĩa của các hoạt động tương trợ của người dân Nhật Bản trong thảm họa
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn có cấu trúc gồm 3 chương chính Chương 1 trình bày khái quát về thảm họa kép tháng 3/2011 và cuộc điều tra của tác
7 Ngô Hương Lan, Nguyễn Thu Phương (2012), Sức mạnh tinh thần của người Nhật Bản: Qua trường hợp đối phó với thảm họa 11-3-2011, Website Nghiên cứu Đông Bắc Á, đăng ngày 20/7/2012
Trang 14giả tại vùng Đông Bắc Nhật Bản Chương này sẽ tóm lược cơ chế phát sinh thảm họa, thiệt hại về người và vật chất, các thảm họa và thiệt hại phái sinh, các biện pháp ứng phó ban đầu của chính phủ Nhật Bản Sau đó, tác giả sẽ giới thiệu về cuộc điều tra đã thực hiện tại vùng Đông Bắc, bao gồm mục đích, phương pháp, tiến trình điều tra, sau đó trình bày sơ lược về địa lý, xã hội của khu vực điều tra cũng như những ảnh hưởng của thảm họa đối với khu vực
Chương 2 tập trung giới thiệu và phân tích các hoạt động tương trợ trong thảm họa kép Các hoạt động cứu trợ từ chính quyền sẽ được tóm lược thông qua các báo cáo của Nội các Nhật Bản Các hoạt động tương trợ cộng đồng được phân tích thông qua kết quả của chuyến điền dã thực địa và các tư liệu thu thập được
Trong chương 3, tác giả thử lý giải các hoạt động tương trợ đã được phân tích trong chương 2 bằng các lý thuyết xã hội học Sự biến đổi tính công cộng trong xã hội Nhật Bản sau chiến tranh cũng làm biến đổi ý nghĩa của các hoạt động tương trợ cộng đồng Thêm vào đó, tác giả cũng dự định sử dụng một vài lý thuyết xã hội học hiện đại như lý thuyết thể cộng đồng tương trợ không tưởng trong thảm họa, lý thuyết phản cấu trúc… để giải thích hành động tương trợ nảy sinh tự phát, nhất thời trong thời kỳ thảm họa giữa các cá nhân
Phần Phụ lục của Luận văn giới thiệu một số bài báo thể hiện phản ứng của truyền thông trước hành động ứng xử và tương trợ của người Nhật ngay sau thảm họa, các bước tiến hành điều tra, hình ảnh hiện trường điều tra và dữ liệu phỏng vấn nhân chứng tại địa phương
Trang 15CHƯƠNG 1: THẢM HỌA KÉP THÁNG 3/2011 VÀ CUỘC ĐIỀU TRA TẠI VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN
Nhật Bản là một đảo quốc Thái Bình Dương, nằm trên khu vực bất ổn định của
vỏ trái đất nên hàng năm, các thiên tai như bão, động đất, núi lửa, sóng thần… thường xuyên xảy ra Trong thời kỳ hiện đại, trước thảm họa kép tháng 3/2011, Nhật Bản đã hứng chịu những thiệt hại nặng nề bởi hai trận động đất lịch sử là động đất Kanto năm 1923 và động đất Hanshin – Awaji năm 1995 (động đất Kobe) Chính vì thường xuyên bị ảnh hưởng bởi các thiên tai nên người dân Nhật Bản đã có nếp sinh hoạt thích ứng thường trực với thảm họa Nhật Bản cũng sớm có các cơ chế phòng vệ và
phản ứng tích cực với thảm họa, điển hình là Luật Cơ bản về đối phó thảm họa (1961)
Tuy nhiên, thảm họa kép tháng 3/2011 được xem là thảm họa khủng khiếp “chưa từng có” trong lịch sử Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai xét về quy mô
và mức độ thiệt hại Quy mô và mức độ thiệt hại lớn “chưa từng có” đã khiến cho những phản ứng của người dân và chính phủ Nhật Bản bị đặt vào tình huống “bất thường”, điều có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề “tương trợ” được xem xét trong nghiên cứu này Tức là, nếu chỉ là những trận động đất hay mưa bão bình thường khác thì hàng năm ở Nhật Bản có rất nhiều thiên tai như vậy, và Nhật Bản đã có sẵn cơ chế
để mọi người dân phản ứng, những hành động tương trợ như trong thảm họa kép này chưa chắc đã được diễn ra
Đứng ở vị trí “người ngoài cuộc”, các con số về quy mô, mức độ thương vong, thiệt hại được chúng ta chú ý, hơn là cảm nhận thực sự của những người trong cuộc Thực tế điều tra cho nhận thấy những khu vực khác nhau của Nhật Bản chịu những ảnh hưởng hết sức khác nhau Điều này ảnh hưởng rất lớn đến mức độ tính chất căng thẳng, nguy kịch trong cảm nhận chủ quan của các nạn nhân thảm họa Không phải tất cả người dân Nhật Bản đều cho mình là nạn nhân của thảm họa này Trong phần dưới đây, bằng việc khái quát các đặc trưng của thảm họa kép tháng 3/2011 thông qua các tư liệu và điều tra quan sát thực tế của tác giả, ta sẽ cùng nhìn nhận lại về mức độ tính chất căng thẳng, nguy kịch “khác nhau” của sự kiện tùy theo cảm nhận chủ quan của các đối tượng
Trang 161.1 Thảm họa kép tháng 3/2011
1.1.1 Cơ chế phát sinh thảm họa
1) Động đất ngoài khơi Thái Bình Dương vùng Đông Bắc Nhật Bản
Ngày 11/3/2011, lúc 14 giờ 46 phút, một trận động đất với cường độ 9.0 độ M8
phát sinh với tâm chấn sâu 24km tại khu vực ngoài khơi Sanriku (38.6 độ Vĩ Bắc, 142.52 độ Kinh Đông), cách bán đảo Oshika (Đông Bắc tỉnh Miyagi) 130km về phía Đông Đông Nam Theo Cục Khí tượng Nhật Bản, khu vực tâm chấn vào khoảng 450
×200km trải dài trên vùng biển từ tỉnh Iwate đến Ibaraki Đây là trận động đất lớn thứ 4 trên thế giới trong các trận động đất tính từ năm 1900 trở lại đây
Sơ đồ 1-1 Khu vực tâm chấn và phân bố cấp độ động đất của
Động đất ngoài khơi Thái Bình Dương khu vực Đông Bắc
Nguồn: Cục Khí tượng Nhật Bản (2015)
8 Độ M: Thang độ lớn mô-men (Momen Magnitude Scale) Đây là thang đo độ lớn năng lượng một cơn động đất sinh ra, được đưa ra từ năm 1979 bởi Tom Hanks và Kanamori Hiroo, thường được các phương tiện truyền thông đưa tin là “độ Richter” (được đưa ra bởi Charles Richter vào năm 1935), mặc dù thông số đưa ra được hiểu là độ mô-men
Trang 17Theo đánh giá dài hạn của Ủy ban điều tra động đất Nhật Bản, có 6 khu vực ngoài khơi có nguy cơ cao xảy ra động đất, bao gồm: khu vực trung bộ ngoài khơi Sanriku, khu vực ngoài khơi tỉnh Miyagi, khu vực biển phía Nam ngoài khơi Sanriku, khu vực ngoài khơi tỉnh Fukushima, khu vực ngoài khơi tỉnh Ibaraki, và khu vực từ phía bắc vùng biển Sanriku đến vùng ngoài khơi bán đảo Boso (tỉnh Chiba) Mặc dù vậy, trong thảm họa tháng 3/2011, sự kiện cả 6 khu vực này có động đất phát sinh liên đới nằm ngoài dự báo của ủy ban này [17, tr 2-3]
Theo Từ điển Thảm họa Lịch sử Nhật Bản, động đất tại khu vực ngoài khơi tỉnh
Miyagi với cường độ 7.5 ~ 8 độ M đã từng diễn ra với chu kỳ 40 năm Lần gần đây nhất là trận động đất năm 1978, tỉ lệ xác suất diễn ra sau đó trong vòng 30 năm (tức
là khoảng năm 2010) là 99% Trong bối cảnh đó, động đất ngoài khơi Thái Bình Dương vùng Đông Bắc với cường độ 9.0 độ M và phạm vi rộng lớn như vậy là một điều chưa từng có trong lịch sử quan trắc của Nhật Bản Khu vực vùng biển ngoài khơi vùng Đông Bắc cũng được cho là ít có khả năng xuất hiện động đất cực mạnh,
và sau sự kiện năm 2011, điều này cũng đang được đánh giá lại [8, tr.1]
Ngay sau khi động đất ngoài khơi phát sinh, những rung chấn mạnh đã ngay lập tức cảm nhận được ở khu vực bán đảo Oshika (tỉnh Miyagi) và lan rộng ra các tỉnh
từ Iwate đến Ibaraki trong 60 giây sau đó Sau khi cơn động đất xảy ra 110 giây, Miyagi đón nhận đợt rung chấn mạnh thứ hai, sau 160 giây, khu vực lân cận ranh giới giữa tỉnh Fukushima và Ibaraki đón tiếp đợt rung chấn mạnh thứ ba Theo đó, toàn
bộ các khu vực các tỉnh từ vùng Đông Bắc đến Kanto chịu một vài đợt rung chấn mạnh, các đợt rung chấn diễn ra kéo dài trong khoảng vài phút [8, tr.1-2]
Cơn động đất gây ra rung chấn mạnh nhất cấp độ 7 trên đất liền ở khu vực tỉnh Miyagi, cấp độ 6 ở các tỉnh từ Iwate đến Chiba Điều đáng lưu ý là rung chấn mạnh kéo dài gây ra hiện tượng sạt lở đất và hóa lỏng đất9, là nguyên nhân chính gây ra
9 Hóa lỏng đất là hiện tượng xảy ra khi đất bão hòa với nước ngầm, do sự gia tăng áp lực nước trong các lỗ rỗng của đất Nền đất là một tập hợp hàng tỷ các hạt đất riêng rẽ, tiếp xúc với nhau Trọng lượng của các hạt nằm trên tạo ra lực liên kết giữa chúng, nhờ đó, nền đất có được kết cấu vững chắc Thông thường, áp lực nước ngầm trong đất tương đối thấp Khi động đất xảy ra, chấn động mạnh trong thời gian cực ngắn làm áp lực nước tăng vọt Nước không đủ thời gian thoát ra, “mắc kẹt” trong lòng đất, lấp đầy khoảng không gian giữa các hạt đất, ngăn cản sự tiếp xúc của chúng với nhau Do ma sát giữa các hạt đất giảm đột ngột nên nền đất mất đi sự liên kết và hoạt động như một chất lỏng nhớt Khi đó, nước trào ngược lên trên cùng với bùn và cát mịn Cát
Trang 18những thiệt hại về nhà cửa mà không phải trực tiếp do các rung chấn mạnh gây ra Các ngôi nhà bị đổ do rung chấn mạnh tương đối ít và cũng chỉ giới hạn ở một số khu vực [8, tr.2] Các cơn rung chấn từ cấp độ 1 có thể cảm nhận trên hầu hết toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản10, nhưng các rung chấn mạnh chủ yếu là từ cấp độ 5 yếu trở lên trong thang cấp độ động đất của Nhật Bản được Nội các Nhật Bản công bố như Bảng 1-1
Bảng 1-1 Phân bố cấp độ động đất từ 5 yếu 11 trở lên do động đất ngoài khơi
Thái Bình Dương vùng Đông Bắc Nhật Bản ngày 11/3/2011
7 Bắc Miyagi
6 mạnh Bắc và trung bộ Miyagi, Đông và trung bộ Fukushima, Bắc và Nam
Ibaraki, Bắc và Nam Tochigi
6 yếu Nam duyên hải, Bắc và Nam trong đất liền của Iwate, Tây Fukushima,
Nam Gunma, Bắc Saitama, Tây Nam Chiba
5 mạnh
Đông Nam và Bắc Aomori, Bắc duyên hải Iwate, Nam duyên hải và Nam trong đất liền của Akita, Đông Nam và Nam Yamagata, Bắc Gunma, Bắc Saitama, Đông Bắc và Nam Chiba, 23 quận trong Tokyo, Niigata, Đông và Tây Kanagawa, Trung bộ và Tây Yamanashi, Đông và Đông Nam Yamanashi
Nguồn: Sách trắng Phòng chống thiên tai của Nhật Bản (2011), tr.3
Cùng với hiện tượng rung lắc mạnh do rung chấn chu kỳ ngắn ở khu vực Đông Bắc, các khu vực Tokyo – Nagoya – Osaka cũng chịu ảnh hưởng của các rung chấn chu kỳ dài Hiện tượng rung lắc ở các khu vực này khiến các tòa nhà siêu cao tầng cùng bị chao đảo rất mạnh trong khoảng thời gian dài hơn mười phút Các tòa nhà siêu cao tầng từ 30 đến 50 tầng ở Shinjuku (Tokyo) được ghi nhận mức độ rung lắc
thô và đá nặng hơn nên lún xuống, khiến bề mặt đất dịch chuyển, có thể tạo thành dòng xoáy với sức mạnh tương tự như bão lốc hoặc hình thành những đụn cát (trông như các hố thiên thạch của núi lửa) Khi đất bị hoá lỏng sẽ mất hết ma sát gây giảm đáng kể sức chịu tải của cọc hoặc biến dạng lớn cho công trình
10 Theo quan sát bản đồ phân bố cấp độ động đất trong Sách trắng Phòng chống thiên tai của Nội các Nhật
Bản, năm 2011
11 Cấp độ động đất: chỉ số biểu thị thang bậc độ lớn của rung chấn gây ra do động đất theo thang cấp độ động đất của Cục Khí tượng Nhật Bản, bao gồm các bậc từ 1 đến 7, riêng cấp độ 5 và 6 được phân chia thành 2 bậc
là 5 mạnh, 5 yếu và 6 mạnh, 6 yếu
Trang 19lớn nhất khoảng 30cm Các rung lắc con người cảm nhận được diễn ra liên tục kéo dài trong khoảng thời gian hơn mười phút Ở xa tâm chấn hơn, tòa nhà siêu cao tầng
55 tầng ở bờ vịnh Osaka cũng rung lắc đến 137cm [8, tr.2]
Do ảnh hưởng của động đất ngày 11/3/2011, trong vài tháng sau đó, một loạt các dư chấn đã xảy ra bao gồm khoảng hơn 500 trận động đất cường độ từ 5 độ M trở lên ở tâm chấn Theo thống kê của Cục Khí tượng Nhật Bản, cho đến ngày 31/5/2011,
có 2 trận động đất cấp độ 6 mạnh, 2 trận cấp độ 6 yếu, 6 trận cấp độ 5 mạnh, 23 trận cấp độ 5 yếu, 135 trận cấp độ 4 đã xảy ra [17, tr.8] Tại các tỉnh Akita, Nagano, Shizuoka, động đất phái sinh cường độ 6 độ M cũng đã xảy ra khiến hoạt động địa chất xung quanh 13 ngọn núi lửa tăng cao tạm thời, hoạt động địa chất từ Hokkaido đến miền Trung Nhật Bản cũng tăng cao đáng kể Trận động đất cực mạnh này cũng làm biến động mạnh lớp vỏ trái đất ở khu vực biển Nhật Bản, các khu vực tỉnh Iwate, Aomori và khu vực Kanto và những ảnh hưởng của nó vẫn sẽ còn tiếp diễn trong hơn mười năm tới [8, tr.3]
2) Cơ chế phát sinh sóng thần
Trận động đất ngoài khơi vùng Đông Bắc Nhật Bản diễn ra gần ranh giới giữa mảng kiến tạo Thái Bình Dương và mảng kiến tạo lục địa (mảng kiến tạo Bắc Mỹ) Theo điều tra của Cục An ninh trên biển của Nhật Bản, vào thời điểm xảy ra trận động đất, đáy biển ở khu vực tâm chấn trượt theo chiều ngang khoảng 24m, sụt xuống theo chiều dọc khoảng 3m, gây phát sinh sóng thần cường độ lớn [8, tr.2]
Theo Từ điển Thảm họa Lịch sử Nhật Bản, máy đo sóng thần trong cáp đáy biển
do Trung tâm nghiên cứu động đất Đại học Tokyo và Đại học Tohoku đặt tại vị trí 50km và 80km ngoài khơi Kamaishi đã đo được mực nước biển dâng lên sau động đất 2m, và sau đó tăng đột ngột lên 5m (bằng tòa nhà 2 tầng) [8, tr.1]
Cục Khí tượng Nhật Bản đã phát đi cảnh báo sóng thần đầu tiên vào lúc 14 giờ
49 phút Trong đó, cảnh báo đại sóng thần được đưa ra ở 3 tỉnh Iwate (3m), Miyagi (6m) và Fukushima (3m) Cảnh báo sóng thần và lưu ý sóng thần ở các khu vực khác
từ 0.5 đến 2m Sau đó, cảnh báo sóng thần (hầu hết là cảnh báo đại sóng thần) còn được phát đi 10 lần khác vào ngày 11/3 (15:14, 15:30, 16:08, 18:47, 21:35, 22:53),
Trang 20ngày 12/3 (03:20, 13:50, 20:20) ngày 13/3 (07:30) Đến 17 giờ 58 phút ngày 13/3/2011, toàn bộ các cảnh báo sóng thần đã được dỡ bỏ [17, tr.6]
Sóng thần quan trắc được tại nhiều khu vực của Nhật Bản Theo dữ liệu quan trắc trong ngày 11/3 của Cục Khí tượng Nhật Bản, chiều cao sóng thần (mức nước biển, chiều cao sóng thần đạt được tại bờ biển) đo được ở khu vực Shoya thị trấn Erimo (Hokkaido) lúc 15 giờ 44 phút là 3.5m; ở Miyako (tỉnh Iwate) lúc 15 giờ 26 phút là trên 8.5m; ở Ofunato (tỉnh Iwate) lúc 15 giờ 18 phút là trên 8.0m; ở Kamaishi (tỉnh Iwate) lúc 15 giờ 21 phút là trên 4.2m; ở Ishinomaki (tỉnh Miyagi) lúc 15 giờ
26 phút là trên 8.6m; ở Oarai (tỉnh Ibaraki) lúc 16 giờ 52 phút là 4.1m [17, tr.6] Mức sóng thần dâng cao nhất đo được tại thành phố Soma (tỉnh Fukushima) lúc 15 giờ 51 phút là trên 9.3m Theo nhóm hợp tác điều tra sóng thần trên toàn Nhật Bản, sóng thần đánh ngược vào đất liền cao nhất đến độ cao 40.5m, đạt kỷ lục trong lịch sử quan trắc của Nhật Bản [17, tr.2]
Không như động đất hay gây ra các đợt dư chấn và động đất phái sinh trong khoảng thời gian dài sau đó, hoạt động của sóng thần diễn ra ngắn hơn do những biến động địa chất dưới lòng đại dương, trong trường hợp thảm họa kép tháng 3/2011 là
do sự trượt lún của mảng kiến tạo lục địa Các cảnh báo đại sóng thần cũng đã được
dỡ bỏ hoàn toàn vào chiều ngày 13/3/2011, tức là chỉ hai ngày sau thiên tai động đất Mặc dù vậy, qua những báo cáo về tình trạng thiệt hại dưới đây, cũng như điều tra thực địa của tác giả, ta có thể thấy rằng mức độ ảnh hưởng của sóng thần là vô cùng
to lớn Có thể nói rằng, phần lớn những thiệt hại về người và nhà cửa trong thảm họa kép động đất – sóng thần ngày 11/3/2011 chủ yếu gây ra bởi sóng thần Mức độ, quy
mô của động đất, sóng thần có thể thấy là khác nhau và giảm dần từ tâm chấn Điều này là một trong các yếu tố tác động đến mức độ của tình trạng căng thẳng trong thảm họa, và theo đó cũng tác động đến các hành động tương trợ của cư dân các khu vực khác nhau của Nhật Bản – đối tượng mà đang được xét đến trong nghiên cứu này Tuy vậy, trong những phần kế tiếp, bằng những điều tra thực tế trên thực địa, tác giả
sẽ xem xét thêm những yếu tố tác động khác đến hành động tương trợ có thể đề cập trong nghiên cứu này
Trang 211.1.2 Tình trạng thiệt hại
Thảm họa kép động đất – sóng thần tháng 3/2011 đã gây ra nhiều tổn thất vô cùng to lớn cho Nhật Bản, trong đó bao gồm các thiệt hại về người và nhà cửa (thiệt hại cá nhân), hệ thống cơ sở hạ tầng và đời sống sinh hoạt của người dân (thiệt hại xã hội) Một đặc điểm quan trọng của thảm họa kép tháng 3/2011 là thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về người Theo thống kê tạm thời của Ban chỉ huy ứng phó thảm họa khẩn cấp của chính phủ Nhật Bản, cho đến ngày 30/5/2011, thảm họa kép đã cướp đi sinh mạng của 15270 người, làm 8499 người mất tích (tổng cộng là 23769 người) Trong đó, 3 tỉnh bị ảnh hưởng nặng nhất bởi sóng thần cũng là những khu vực có con
số thương vong lớn nhất: tỉnh Miyagi có 9122 người chết, 5196 người mất tích; tỉnh Iwate có 4501 người chết, 2888 người mất tích; tỉnh Fukushima có 1583 người chết,
411 người mất tích) [17, tr.10-12]
Các con số thương vong cũng biến động rất lớn theo thời gian Trong hai ngày sau thảm họa, con số người chết và mất tích là khoảng vài nghìn người, đến ngày 14/3 tăng lên mức khoảng 1 vạn người Những ngày sau đó, mỗi ngày số người chết và mất tích lại tăng lên vài nghìn người Con số thương vong đạt đỉnh điểm vào 19 giờ ngày 13/4/2011 là 28525 người Tuy nhiên sau đó, các con số này giảm dần đi, không phải do giảm số lượng thi thể tìm thấy mà giảm về số người mất tích được tìm thấy
Số người được cho là mất tích và sau đó được tìm thấy rất lớn Đây là một đặc điểm nổi bật trong con số thương vong của thảm họa kép này Theo thống kê của Cục Cảnh sát Nhật Bản ngày 14/11/2011, số người tử vong trên toàn quốc là 15838 người, mất tích 3647 người, tổng cộng là 19485 người [8, tr.3] Theo công bố mới nhất ngày 10/9/2015 của Cục Cảnh sát Nhật Bản, con số thương vong trong thảm họa kép tháng 3/2011 là 15893 người chết, 2572 người mất tích, 6152 người bị thương12
Thiệt hại về người trong thảm họa kép tháng 3/2011 rất nặng nề và vượt xa so với các thảm họa lớn khác kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (Biểu đồ 1-1) Trước chiến tranh, từ thời Minh Trị, ở Nhật Bản đã có những thiên tai thảm khốc hơn, như
Trang 22động đất Nobi (1891) làm 7273 người chết và mất tích, động đất sóng thần Sanriku (1896) làm gần 22 nghìn người chết và mất tích, động đất Kanto (1923) làm gần 105 nghìn người chết và mất tích [17, tr.23] Nhưng có lẽ, đối với xã hội Nhật Bản sau Chiến tranh, thảm họa kép động đất – sóng thần 2011 thực sự là một sự kiện “chưa từng có” trong lịch sử cá nhân của nhiều người Và điều đó khẳng định lại tính chất căng thẳng, nguy cấp của sự kiện đối với nhiều người dân Nhật Bản
Biểu đồ 1-1 Số người chết và mất tích do thảm họa tự nhiên tại Nhật Bản
sau Chiến tranh thế giới thứ hai (Đơn vị: người)
Nguồn: Sách trắng Phòng chống thiên tai của Nhật Bản (2011), tr.22-23 13
Những thiệt hại về nhà cửa, theo báo cáo mới nhất của Cục Cảnh sát Nhật Bản,
số căn nhà bị hư hại hoàn toàn là 124685 căn, hư hại bán phần 275082 căn, bị cháy
297 căn, bị ngập nước 13583 căn, bị hư hại một phần 747055 căn, thiệt hại các công trình phi dân dụng (các công trình không dùng làm nhà ở) 56276 căn14
Trang 23Cùng với những thiệt hại về người và nhà cửa, động đất ngoài khơi Thái Bình Dương cũng đã gây ra hiện tượng sụt lún nền đất, chủ yếu ở các vùng duyên hải Sóng thần cực mạnh và hiện tượng sụt lún đất đã làm phát sinh ngập úng tại nhiều khu vực Tổng diện tích bị ngập nước trên toàn Nhật Bản do ảnh hưởng của thảm họa này là 561km2 (trong đó tỉnh Aomori ngập 24km2, tỉnh Iwate ngập 58km2, tỉnh Miyagi ngập 327km2, tỉnh Fukushima ngập 112km2, tỉnh Ibaraki ngập 23km2, tỉnh Chiba ngập 17km2) [17, tr.14] Diện tích đất nông nghiệp bị ảnh hưởng (theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của Nhật Bản) là 23600ha, chiếm khoảng 2.6% diện tích đất nông nghiệp năm 2010 Những tỉnh bị thiệt hại nặng nề nhất là Miyagi 15002ha (11.0%), Fukushima 5923ha (4.0%), Iwate 1838ha (1.2%) [17, tr.16]
Hệ thống cơ sở hạ tầng và đời sống sinh hoạt của người dân cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Động đất và sóng thần đã gây thiệt hại cho 4198 khu vực đường bộ,
29 khu vực đường sắt, 116 cây cầu và 45 khu vực đê điều hư hỏng, 207 khu vực bị núi lở15 Mạng lưới giao thông trợ giúp cho việc tiếp tế nhu yếu phẩm như đường bộ, cảng biển, sân bay cũng bị gián đoạn ở nhiều nơi Sau mỗi thiên tai xảy ra, chính quyền và các tổ chức tự trị địa phương của các thành phố, thị trấn, thôn xóm ở Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành, triển khai các giải pháp ứng cứu Tuy nhiên, trong thảm họa kép tháng 3/2011, chính quyền và tổ chức tự trị của nhiều khu vực cũng là những đối tượng chịu thiệt hại nặng nề (cả về người và các trụ sở hành chính), gây trở ngại lớn đến hoạt động ứng phó và phục hồi sau thảm họa Cùng với đó, vật tư thiết yếu cho đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân
như ga, điện, nước ở nhiều khu vực cũng bị tê liệt tạm thời Thống kê của Sách trắng Phòng chống thiên tai của Nhật Bản cho biết, do ảnh hưởng của thảm họa kép, 891
vạn hộ bị mất điện; 48 vạn hộ bị ngừng cung cấp ga; 220 vạn hộ bị cắt nước; 120 cơ
sở xử lý nước thải chịu thiệt hại, 957km đường ống, 21504 cống thoát nước bị hư hỏng; 100 vạn tuyến đường điện thoại, 14800 điểm phát sóng di động ngừng hoạt động; 2 trạm phát sóng truyền hình (tỉnh Miyagi) bị mất điện và hư hỏng; 6 đơn vị lọc dầu, 1137 cây xăng ở khu vực Đông Bắc ngừng hoạt động
15 Cục Cảnh sát Nhật Bản, tài liệu đã dẫn
Trang 24Về các cơ sở giáo dục, có 6400 trường học, 3300 cơ sở giáo dục bị thiệt hại Tại
3 tỉnh Iwate, Miyagi, Fukushima, có khoảng 300 bệnh viện, 1174 phòng khám, 875
cơ sở phúc lợi xã hội bị thiệt hại (trong đó có 11 bệnh viện, 167 phòng khám, 59 cơ
sở phúc lợi bị phá hủy hoàn toàn) [17, tr.33-37] Các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, các ngành sản xuất, các hộ kinh doanh cũng chịu nhiều thiệt hại nặng nề Chính phủ Nhật Bản, chính quyền và các tổ chức tự trị, các đơn vị công ở các địa phương đã thực hiện nhiều biện pháp để giảm thiểu và khắc phục con số thiệt hại sau đó Tổng giá trị thiệt hại của khu vực thiên tai (vốn xã hội, nhà cửa, các cơ sở xí nghiệp dân doanh, chưa kể ảnh hưởng từ sự cố nhà máy điện hạt nhân và các thiệt hại tin đồn khác) theo ước tính sơ bộ của chính phủ Nhật Bản là vào khoảng 16 ~ 25 nghìn tỷ yên Nhật [17, tr.14]
1.1.3 Các hệ lụy và vấn đề phái sinh
Thảm họa kép động đất – sóng thần tháng 3/2011 không chỉ gây ra nhiều thiệt hại về người và vật chất như đã được trình bày ở trên, mà còn kéo theo rất nhiều vấn
đề phái sinh, làm phức tạp thêm tình hình sau thảm họa, và kéo theo nhiều hệ lụy khác Dưới đây, tác giả sẽ khái lược một số vấn đề tiêu biểu
1) Những người gặp khó khăn trong việc trở về nhà tại vùng thủ đô Tokyo
Theo báo cáo tháng 6/2011 của Bộ Đất đai, cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải và
du lịch của Nhật Bản, rung chấn mạnh tại khu vực vùng thủ đô đã khiến các chuyến tàu tại khu vực này rơi vào tình trạng hỗn loạn, nhiều người đã không có phương tiện
để trở về nhà vào buổi chiều ngày diễn ra thảm họa Trong chiều ngày hôm đó, Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản cũng đã phát đi thông báo đề nghị người dân ở các khu vực vùng thủ đô tránh về nhà do sẽ gây ra tình trạng hỗn loạn khi giao thông còn đang
bị đình trệ và các chuyến tàu chưa được vận hành trở lại do ảnh hưởng của động đất, bất chấp tình hình người dân lo lắng về tin tức an toàn của người thân
Một cuộc điều tra xã hội qua mạng internet với mẫu 2026 người có mặt tại khu vực vùng thủ đô Tokyo ngày 11/3/2011 cho thấy, khoảng 20% số người tham gia điều tra không thể trở về nhà trong ngày hôm đó và phải ở lại tại công ty hay các cơ
Trang 25sở công cộng Do các tuyến đường sắt chủ yếu bị ngừng hoạt động, có khoảng 2 vạn người bị ách tắc lại tại các ga lớn của thủ đô Tokyo như ga Shinjuku (khoảng 9 nghìn người), ga Ikebukuro (khoảng 3 nghìn người), ga Tokyo (khoảng 1 nghìn người), ga Ueno (khoảng 1500 người)…
Để ứng phó với tình trạng rất nhiều người không thể trở về nhà, trong đêm hôm
đó đến sáng ngày 12/3, tại Tokyo có khoảng 1030 cơ sở lưu trú tiếp nhận trên 9 vạn người, ở Yokohama có khoảng 50 cơ sở tiếp nhận khoảng 18 nghìn người, ở Kawasaki có khoảng 33 cơ sở tiếp nhận khoảng 5500 người trọ lại Các thành phố cũng đã ngay lập tức ký kết hợp đồng, thỏa thuận với các cửa hàng tiện lợi, các nhà hàng ăn trong việc giúp đỡ người gặp khó khăn trong việc trở về nhà trong ngày đầu thảm họa (tăng cường phục vụ, cho sử dụng nhà vệ sinh…) [10, tr.14-15]
Như vậy, trong khi vùng Đông Bắc đang rơi vào tình trạng nguy kịch, khẩn cấp
và chưa hết kinh hoàng vì những thiệt hại về người và vật chất gây ra bởi động đất và sóng thần thì vùng thủ đô Tokyo cũng gặp những ảnh hưởng nhất định Trong nhìn nhận của Nhật Bản ở lĩnh vực phòng chống thiên tai, tình trạng các chuyến tàu ngưng hoạt động gây ra ách tắc ở các nhà ga, khiến cho rất nhiều người gặp khó khăn trong việc trở về nhà và phải trú lại tại các cơ sở lưu trú công cộng là một trong những thiệt hại thứ cấp gây ra bởi thảm họa kép Trong khi đó, tác giả cho rằng, nếu so sánh với những thiệt hại ở vùng Đông Bắc thì đây không phải là những thiệt hại nghiêm trọng
mà chỉ là những ảnh hưởng gián tiếp Thêm vào đó, việc hỗ trợ cho những đối tượng được coi là “nạn nhân” này cũng có thể coi là một trong những hoạt động cứu trợ, tương trợ của chính quyền và các tổ chức công cộng, cộng đồng doanh nghiệp… Mặc
dù vậy, những hành động này với đối tượng này lại không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn
2) Sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima
Một trong những thiệt hại liên đới nặng nề nhất và để lại hậu quả lâu dài của thảm họa kép động đất – sóng thần tháng 3/2011 là sự cố sóng thần đánh vào nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1
Trang 26Nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1 có 6 tổ máy, trong thời điểm thảm họa xảy
ra có 4 tổ máy đang hoạt động và 2 tổ máy đang trong thời gian kiểm tra định kỳ Do
đó, nếu có 1 tổ máy trục trặc thì vẫn có các tổ máy khác phát điện Ngoài ra, các tổ máy đều có máy phát điện diesel dự phòng nên tỉ lệ tất cả các máy đều không phát điện là rất thấp Mặc dù vậy, trong trận động đất cực mạnh lần này, tháp phát điện đặt trên khu vực đất bồi đắp đã bị đổ và ngừng phát điện từ trước khi sóng thần đánh vào Máy phát điện diesel cũng mất tác dụng do bị sóng thần đánh vào nên nhà máy điện rơi vào tình trạng khẩn cấp tất cả các nguồn cấp điện đều bị mất Hệ thống làm nguội khẩn cấp tâm lò phản ứng không thể sử dụng được trong khoảng thời gian dài, kết hợp với việc áp suất trong lò gia tăng làm nứt các đường ống và rò rỉ nước làm mát
đã khiến cho lò phản ứng không thể làm mát thanh nhiên liệu được Tại bề mặt thanh nhiên liệu, kim loại Zirconi bị làm nóng đã phản ứng với nước làm phát sinh khí hydro, thoát ra nhà chứa lò phản ứng qua các cửa phát thải, gây nổ khí hydro tại các
lò phản ứng 1, 2 và 3 Kết quả là các nhà chứa lò phản ứng bị hư hỏng Đặc biệt, tại
lò phản ứng số 2, do phòng ngăn áp suất bị phá hỏng đã làm rò rỉ một lượng lớn các vật chất phóng xạ ra bên ngoài qua cửa phát thải Lượng vật chất phóng xạ thoát ra ngoài được đánh giá ở mức độ 7 trong thang sự cố nguyên tử quốc tế (INES), tương đương với cấp độ của sự cố tại nhà máy điện nguyên tử Chernobyl (1986)
Thủ tướng Nhật Bản đương thời Kan Naoto đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp
và ra lệnh cho người dân di tản hoặc ở trong nhà Trong ngày thảm họa xảy ra, khu vực người dân phải di tản là trong bán kính 3km, khu vực người dân phải ở trong nhà
là trong phạm vi bán kính 3 ~ 10km tính từ nhà máy điện hạt nhân Tuy nhiên, chỉ ngay ngày hôm sau, lò phản ứng số 1 tiếp tục nổ và do đó, khu vực di tản đã được nâng lên trong vòng bán kính 10km, khu vực người dân phải ở trong nhà là 10 ~ 20km tính từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima [8, tr 8-9]
Sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1 đã làm cho tình trạng thảm họa ở Nhật Bản vào lúc đó trở nên thêm phần căng thẳng, kéo theo tâm lý lo ngại, bất an về
sự an toàn trong tâm trạng của những người dân khu vực xung quanh nhà máy điện hạt nhân Mặc dù vậy, đối với thảm họa kép động đất – sóng thần thì đây vẫn là một
Trang 27sự kiện riêng biệt về mặt bản chất nên để giới hạn vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tách biệt sự cố này khỏi thảm họa kép, và chỉ xem xét ảnh hưởng của thảm họa tại khu vực hai tỉnh Miyagi và Iwate Sự cố này cùng với thảm họa kép động đất – sóng thần lại tiếp tục kéo theo những thiệt hại tin đồn khác sẽ được trình bày dưới đây
3) Truyền thông và các thiệt hại tin đồn
Sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1 được truyền thông đưa tin là sự
cố năng lượng hạt nhân lớn nhất thế giới Cùng với thảm họa kép động đất – sóng thần, Nhật Bản tập trung mọi sự chú ý của truyền thông quốc tế trong khi tình trạng
sự việc ngày một trở nên trầm trọng Với cách thức và mức độ đưa tin của truyền thông, sự cố này bỗng trở thành “sự cố năng lượng hạt nhân lớn nhất thế giới” trong nhận thức của nhiều người
Mặc dù sự cố hạt nhân khiến cho nhiều người bị mất nhà cửa và không thể trở
về quê hương nhưng việc đưa tin quá độ về sự kiện này trên báo hoặc truyền hình đã gây ra sự hỗn loạn về tình trạng ô nhiễm phóng xạ kéo theo các vấn đề xã hội điển hình, chính là các thiệt hại tin đồn
Thiệt hại thứ nhất, sau khi sự cố hạt nhân xảy ra, các vật tư nhu yếu phẩm sinh hoạt không được chuyển đến các khu vực trong bán kính 30km từ nhà máy điện hạt nhân và các thành phố lân cận như Soma, Minami Soma, Iwaki Mặc dù doanh nghiệp
có thể có nhiều lý do khác như bị đình trệ sản xuất, thiếu nhiên liệu, bận xác minh tin tức an toàn của nhân viên… do những ảnh hưởng của động đất – sóng thần, nhưng trên thực tế, những người dân sống trong khu vực mà chính phủ đã khẳng định sự “an toàn” vẫn không nhận được hàng hóa sinh hoạt
Thiệt hại thứ hai, các hàng hóa nông sản, hải sản của Fukushima và Bắc Kanto, được kiểm soát mức độ an toàn phóng xạ chặt chẽ và hạn chế xuất hàng nhưng việc nhấn mạnh một cách quá mức tính an toàn của các sản phẩm bị hạn chế xuất hàng đã sinh ra tâm lý e ngại nói chung đối với các sản phẩm này và do đó, các mặt hàng thực phẩm không được kiểm định phóng xạ hay các mặt hàng thực phẩm khác có trị số kiểm tra trong mức an toàn cũng không bán được
Trang 28Bên cạnh đó, lo ngại trước sự an toàn của Nhật Bản, số lượng khách du lịch cũng giảm mạnh Đồng thời, Tokyo và các vùng trên toàn Nhật Bản bị thế giới nhìn nhận thành những khu vực nguy hiểm Một số đại sứ quán, lãnh sự quán ở Nhật Bản cũng đóng cửa và sơ tán nhân viên về nước
Tình hình càng trở nên tồi tệ khi truyền thông bị đánh mất niềm tin từ khán giả Việc nước máy ở Tokyo được kiểm tra nồng độ an toàn phóng xạ ban đầu được các báo đài đồng loạt đưa tin, nhưng để tránh gây tâm lý hoang mang cho người dân, các báo lại đưa ra một loạt các tin tức, bài báo nhấn mạnh vào sự an toàn của nguồn nước
ở Tokyo Sự mất niềm tin vào các nguồn thông tin chính thống của chính phủ hay các chuyên gia cũng lan rộng khi Chánh văn phòng Nội các trả lời báo chí rằng các thực phẩm được kiểm tra nồng độ phóng xạ “không gây ảnh hưởng đến sức khỏe người” Tuy nhiên, trong tình trạng sự cố nhà máy điện hạt nhân vẫn ngày một nghiêm trọng, những phát ngôn “an toàn” hay “không vấn đề” từ các chính trị gia hay các nhà chuyên môn lại không được người dân tin tưởng, gây nên tình trạng hỗn loạn thông tin trong dư luận Nhật Bản [8, tr.6-7]
1.1.4 Phản ứng ban đầu từ phía chính phủ Nhật Bản
Như đã trình bày ở trên, khi một thảm họa xảy ra, Nhật Bản đã có sẵn các cơ chế ứng phó trong tình trạng khẩn cấp Nhưng cũng cần nhớ rằng, với tính chất bất thường của thảm họa lần này, cùng những ràng buộc về cơ chế, không phải tất cả mọi người dân Nhật Bản đều có thể kịp thời phản ứng theo những kịch bản phòng chống thiên tai đã được thiết lập từ đầu Những phản ứng được đề cập đến trong mục này phản ánh sơ lược những ứng phó ban đầu, chung nhất, trên bình diện chính sách vĩ
mô của chính phủ Nhật Bản Những phản ứng đã dạng của người dân (chỉ đối với những người còn sống) thì cần nhiều thời gian hơn để kiểm chứng thông qua nhiều hình thức khác nhau như điều tra phỏng vấn, ghi chép nhật ký cá nhân, lời kể lại… Ngay sau khi trận động đất xảy ra lúc 14 giờ 46 phút ngày 11/3, cảnh báo đại sóng thần được phát đi khoảng 3 phút sau đó bởi Cục Khí tượng Nhật Bản Đến 15 giờ 14 phút cùng ngày, Ban chỉ huy ứng phó thảm họa khẩn cấp được thành lập do thủ tướng Nhật Bản đương nhiệm Kan Naoto làm người đứng đầu Đồng thời, về các
Trang 29phản ứng của địa phương, ngay sau khi động đất xảy ra, trị sự (Chủ tịch tỉnh) các tỉnh Iwate, Miyagi, Ibaraki, Fukushima, Aomori, Hokkaido, Chiba đã phát đi đề nghị phái trợ lực lượng tự vệ Nhật Bản trong tình trạng thảm họa Chính quyền tự trị của các tỉnh liên quan cũng quyết định áp dụng thực hiện luật cứu trợ thảm họa
Ngày hôm sau đó 12/3, chính phủ Nhật Bản chỉ định đối tượng khu vực thảm họa nghiêm trọng là trên toàn lãnh thổ Nhật Bản Nội các Nhật Bản áp dụng luật cứu trợ, tái thiết cuộc sống cho người bị nạn đối với toàn bộ các khu vực của tỉnh Iwate Sau đó, lần lượt các tỉnh khác, trong đó có thủ đô Tokyo cũng được áp dụng luật này Ngày 20/3, Ban chỉ huy ứng phó đặc biệt hỗ trợ nạn nhân tái thiết cuộc sống do Bộ trưởng chuyên trách Phòng chống thiên tai làm trưởng ban được thiết lập Một tháng sau đó, ngày 11/4, Nội các Nhật Bản ra quyết nghị thực hiện Hội nghị xây dựng kế
hoạch Tái thiết sau thảm họa kép miền Đông Nhật Bản Ngày 24/6, Luật cơ bản về tái thiết sau thảm họa kép miền Đông Nhật Bản được công bố và thi hành Luật này
quy định việc thiết lập Ban chính sách Tái thiết sau thảm họa kép miền Đông Nhật Bản, căn cứ và quyền hạn thiết lập Hội nghị xây dựng kế hoạch Tái thiết Sau đó, cũng theo luật này, đến ngày 10/2/2012, Ban chính sách Tái thiết được thay thế bằng
Bộ Tái thiết trực thuộc Nội các Nhật Bản
Do các nhà máy điện hạt nhân trên toàn Nhật Bản phải tạm thời dừng hoạt động, tình trạng thiếu điện trở nên trầm trọng Ngày 13/3, Ban chỉ huy ứng phó khẩn cấp việc cung cấp điện do Chánh văn phòng Nội các đứng đầu được thiết lập Theo đó,
kế hoạch cắt điện luân phiên đã được thực hiện từ ngày 14/3 đến ngày 8/4 Ngày 11/4,
Bộ Giáo dục, Văn hoá, Thể thao, Khoa học và Công nghệ của Nhật Bản đã tiến hành thiết lập Ban điều tra phân xử vụ việc bồi thường thiệt hại do sự cố hạt nhân và lần lượt công bố các hướng dẫn về phạm vi thiệt hại, các thiệt hại liên quan đến hoạt động
tự ý lánh nạn… trong thời gian sau đó
Về lực lượng quân sự điều động, trong ngày 11/3, Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã phát mệnh lệnh điều động ứng phó thảm họa quy mô lớn và mệnh lệnh điều động ứng phó sự cố hạt nhân Ngày 14/3, Đội đặc nhiệm tổng hợp được thành lập dưới sự chỉ huy của Chỉ huy quân sự khu vực Đông Bắc, và giải tán vào ngày 1/7 Thời điểm tối
Trang 30đa, có đến 59 chiến hạm, 541 máy bay, 107 nghìn quân đã được điều động cho việc ứng phó với cả thảm họa kép động đất – sóng thần và sự cố hạt nhân Cục Cảnh sát Nhật Bản ngày 11/3 đã ra lệnh điều động Đội cứu trợ khẩn cấp trên khu vực rộng lớn, với tổng quân số điều động vào khoảng 94300 người (tính đến 7/2/2012) Cục Tiêu phòng Nhật Bản cũng đã ra lệnh điều động Đội cứu trợ khẩn cấp từ ngày 11/3 đến 6/6 với số lượng khoảng 8920 đơn vị, 30463 người, tính đến ngày 1/12/2011 đã có khoảng 33374 đơn vị với 121071 người được điều động Về lực lượng quân sự ngoài Nhật Bản, cũng trong ngày 11/3, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản cũng đã chính thức gửi đề nghị tới Đại sứ quán Mỹ tại Nhật Bản yêu cầu hỗ trợ từ lực lượng quân đội
Mỹ đang đóng tại Nhật Bản Tính đến ngày 12/4, tức thời điểm được điều động nhiều nhất, quân đội Mỹ đã cử 20 hàng không mẫu hạm và tàu chiến, 160 phi cơ, cùng khoảng 2 vạn lính Mỹ giúp Nhật Bản ứng phó với thảm họa Ngoài ra, các đội cứu trợ, nhà chuyên môn đến từ 29 quốc gia, khu vực và các tổ chức quốc tế cũng đã được phái cử đến Nhật Bản (tính đến ngày 15/9) Cùng với đó, Nhật Bản cũng tiếp nhận hàng hóa cứu trợ từ 63 quốc gia, khu vực và các tổ chức quốc tế (tính đến ngày 17/10) [8, tr.10-11]
Trên đây, tác giả đã giới thiệu khái quát về cơ chế phát sinh của thảm họa kép tháng 3/2011, những thiệt hại trực tiếp, gián tiếp, những sự kiện phát sinh liên đới cùng với các phản ứng ban đầu của Nhật Bản Thảm họa kép động đất – sóng thần ngày 11/3/2011 là một thảm họa có quy mô lớn “chưa từng có” trong lịch sử Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Thảm họa đã gây ra những thiệt hại hết sức nặng nề đối với Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực Trong đó, ảnh hưởng đầu tiên trực tiếp là những thiệt hại to lớn về số người chết và mất tích, những thiệt hại vật chất về nhà cửa, cơ sở hạ tầng, cơ sở kinh tế, công cộng và dân dụng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt thường nhật của người dân nhiều khu vực tại Nhật Bản Không những vậy, thảm họa kép này còn kéo theo sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima, cùng với đó là rất nhiều hiện tượng xã hội khác Ở những sự kiến phái sinh này, thiệt hại gián tiếp cũng không hề nhỏ, hơn nữa lại mang tính chất lâu dài, khó khắc phục Tuy nhiên, như tác giả đã chỉ rõ ở trên, thảm họa kép tháng 3/2011 tách biệt với sự
Trang 31cố hạt nhân, là một sự kiện mang tính chất khẩn cấp, bất thường trong kinh nghiệm của nhiều cá nhân người Nhật Mức độ thiệt hại dù to lớn nhưng tầm ảnh hưởng của thảm họa đến từng khu vực là hết sức khác biệt phụ thuộc tương đối vào khoảng cách đến tâm chấn Tác giả cũng đã khái quát một vài phản ứng chung nhất mang tính chính sách vĩ mô của chính phủ Nhật Bản cũng như chính quyền các địa phương trong việc đối phó với thảm họa Bên cạnh những phản ứng mang tầm quốc gia, phản ứng của các cư dân sống tại các khu vực thảm họa thường ít được công bố trong các tài liệu báo cáo chính thức Các hoạt động tương trợ trong phạm vi cộng đồng cần được tìm hiểu thông qua việc điều tra các tự sự cá nhân, sẽ được trình bày trong phần tiếp theo của chương này
1.2 Cuộc điều tra tại vùng Đông Bắc Nhật Bản
1.2.1 Mục đích
Trong phần Mở đầu, tác giả đã nêu lên mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu sự biến đổi trong cấu trúc quan hệ xã hội của người Nhật thông qua hoạt động tương trợ trong thảm họa, và trả lời câu hỏi vì sao trong những tình huống khó khăn, các cư dân vùng thảm họa vẫn có thể tương trợ và quan tâm lẫn nhau như vậy Đối tượng nghiên cứu mà luận văn hướng đến đó là các hành động tương trợ “mang tính
xã hội” với tính chất “cá nhân” hay “hoạt động tương trợ” của cộng đồng Những phản ứng hay những hành động tương trợ này tuy có thể được tìm thấy thông qua một vài tư liệu ghi chép sau thảm họa, nhưng so với các hoạt động “công” các tư liệu này quá ít và mơ hồ Tác giả luận văn vẫn thấy cần phải trực tiếp điều tra thực địa tại vùng thảm họa, lắng nghe trực tiếp và ghi lại câu chuyện từ các nhân chứng và phân tích
về những hành động tương trợ trong thời kỳ thảm họa Trên thực tế, tác giả đã thực hiện được một số cuộc phỏng vấn như ở hai tỉnh Miyagi và Iwate Chuyến điều tra thực địa này đã giúp tác giả có được cái nhìn cụ thể, cận cảnh đối với đời sống xã hội
và tính chất của cộng đồng khu vực này Qua đó, tác giả có thể đưa ra thêm những yếu tố đóng vai trò bối cảnh tác động đến hành động tương trợ giữa các cá nhân trong cộng đồng địa phương
Trang 321.2.2 Phương pháp và quá trình điều tra
Các phương pháp được sử dụng trong chuyến điều tra điền dã tại khu vực này
là phương pháp quan sát, ghi lại hình ảnh thực địa, lựa chọn đối tượng và tiến hành phỏng vấn sâu có chuẩn bị trước Toàn bộ quá trình điều tra được thực hiện bằng tiếng Nhật Về diễn biến quá trình điều tra, sau 3 năm kể từ thời điểm trận động đất xảy ra (ngày 11/3/2011), tác giả đã tiến hành 2 cuộc điều tra phỏng vấn trong tháng
3 và tháng 9 năm 2014 tại các thành phố Sendai, Matsushima, Kesennuma (khu vực cảng Kesennuma và đảo Oshima), Rikuzentakata của hai tỉnh Miyagi và Iwate Đây đều là những thành phố nằm bên bờ Thái Bình Dương, là những khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất của động đất và sóng thần Phương pháp phỏng vấn chủ yếu là để các nhân chứng tự kể về các trải nghiệm của bản thân trong thảm họa Thời gian lắng nghe, phỏng vấn trung bình khoảng 60 phút/ nhân chứng (hoặc nhóm trong trường hợp phỏng vấn nhóm nhân chứng) Ngoài ra, tùy từng nhân chứng và thời điểm thích hợp, tác giả đã hỏi thêm một số thông tin dựa theo các câu hỏi đã chuẩn bị trước để làm rõ hơn nội dung trả lời, trong trường hợp nhân chứng chưa đề cập đến vấn đề cần xác nhận (nội dung các câu hỏi có thể được tham khảo trong phần Phụ lục) Tổng số nhân chứng tác giả đã trực tiếp tiến hành phỏng vấn là 13 người, trong đó có 4 trường hợp phỏng vấn sâu ở các khu vực khác nhau (2 trường hợp tại Sendai, 1 trường hợp tại Kesennuma, 1 trường hợp tại Rikuzentakata) có nội dung trải nghiệm trực tiếp liên quan đến các hành động tương trợ đã được lựa chọn để phân tích trong nghiên cứu này
Cuộc điều tra thứ nhất được tiến hành từ ngày 11 đến ngày 12 tháng 3 năm 2014 tại thành phố Sendai và thị trấn Matsushima của tỉnh Miyagi Trước chuyến đi này, khi thu thập tư liệu ở thủ đô Tokyo, thông qua sự giới thiệu của bạn bè, tác giả đã có dịp phỏng vấn nhân chứng O.I16 đến từ Sendai kể về những trải nghiệm trong thời gian thảm họa Sau đó, dưới sự giúp đỡ của nhân chứng này, tác giả đã đi khảo sát khu vực bờ biển Matsushima, dấu tích còn lại của trường tiểu học Arahama (thành
16 Để bảo mật thông tin, tên các nhân chứng được ký hiệu bằng chữ cái đầu họ và tên Tuổi của các nhân chứng được tính vào thời điểm thảm họa xảy ra
Trang 33phố Sendai) và vùng phụ cận, khu vực nhà ga Sendai Cũng nhờ sự giới thiệu của O.I, tác giả đã trực tiếp phỏng vấn về những trải nghiệm trong thảm họa của một số cư dân sống tại khu vực Quá trình điều tra thực địa và phỏng vấn các nhân chứng được thực hiện như Bảng 1-2
Lần điều tra thứ hai diễn ra từ ngày 18 đến ngày 21 tháng 9 năm 2014 tại thành phố Sendai, cảng Kesennuma, đảo Oshima (thành phố Kesennnuma) của tỉnh Miyagi,
và thành phố Rikuzentakata của tỉnh Iwate Chuyến đi này nằm trong khuôn khổ môn học Thực tập Điều tra Xã hội học mà tác giả tham gia trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Nhật Bản Trước chuyến đi, giảng viên liên hệ với các nhân chứng sắp xếp lịch phỏng vấn Các học viên tìm hiểu trước về khu vực điều tra và được hướng dẫn
về đạo đức điều tra Trong đợt điều tra này, tác giả không những tận mắt chứng kiến đời sống của cư dân khu vực thảm hoạ, mà còn phỏng vấn các nhân chứng thuộc nhiều thành phần xã hội đang sinh sống tại địa phương Cuộc điều tra này đã giúp tác giả tiếp cận một cách gần nhất và sâu sắc nhất với cộng đồng khu vực chịu thảm họa Quá trình điều tra thực địa và phỏng vấn các nhân chứng được thực hiện như Bảng 1-3
Sử dụng các phương pháp điều tra như đã trình bày ở trên, tác giả thu được các
dữ liệu điều tra bao gồm các ghi chép và hình dung về khu vực điều tra và nhân chứng; một số hình ảnh chụp được tại thực địa, tư liệu địa phương và tư liệu hình ảnh do nhân chứng cung cấp, dữ liệu ghi âm cuộc phỏng vấn Tác giả sử dụng phương pháp phân tích định tính để xử lý các dữ liệu trên, bao gồm: (1) đối chiếu các tư liệu hình ảnh thu được tại thực địa với các tư liệu hình ảnh đã có như bản đồ khu vực, bản đồ diện tích ngập nước do sóng thần, ảnh không trung của khu vực trước và sau thảm họa… ; (2) văn bản hóa và biên tập dữ liệu âm thanh phỏng vấn, chiết xuất các trường hợp có thể được cho là hoạt động tương trợ trong thảm họa, các vấn đề trong đời sống cộng đồng khu vực sau thảm họa, các vấn đề và mối quan tâm trong quá trình tái thiết
và phục hưng
Trang 34Bảng 1-2 Quá trình điều tra lần 1 (11-12/3/2014)
Thời gian Địa điểm Nhân chứng Ghi chú
11/3/2014
Buổi sáng
Matsushima (Kanrantei, chùa
Zuiganji)
A.K (21 tuổi, sinh viên)
Uống trà và nói chuyện với nhân chứng A.K tại Kanrantei Do thời gian ngắn nên chưa lấy được các thông tin về trải nghiệm nhân chứng trong thảm họa Quan sát các dấu tích thảm họa quanh khu vực và chùa Zuiganji
11/3/2014
Buổi chiều
Tiểu học Arahama (TP Sendai)
Đi bộ quan sát khu vực xung quanh đã
bị phá hủy hoàn toàn bởi thảm họa và đang được tiến hành san đất chờ kế hoạch tái thiết Người dẫn chuyện: nhân chứng O.I
12/3/2014
Buổi sáng
Đền Zuihoden (TP Sendai)
S.A (18 tuổi, sinh viên)
Quan sát địa hình các khu vực trong
TP Sendai từ xe buýt du lịch Lắng nghe trải nghiệm động đất của nhân chứng S.A
12/3/2014
Buổi chiều
Khu vực trung tâm
TP Sendai
T.A (18 tuổi, sinh viên)
Phỏng vấn trải nghiệm thảm họa của nhân chứng T.A
12/3/2014
Buổi tối
Khu vực trung tâm
TP Sendai
N.A (32 tuổi, kiến trúc sư) T.A (19 tuổi, sinh viên)
Ăn tối và nói chuyện với các nhân chứng Trường hợp nhân chứng N.A trải nghiệm động đất tương tự các nhân chứng khác nên tập trung vào nhân chứng T.A đến từ thị trấn Ishinomaki,
bị mất người thân trong thảm họa
Nguồn: tác giả tự lập
Trang 35Bảng 1-3 Quá trình điều tra lần 2 (18-21/9/2014)
Thời gian Địa điểm Nhân chứng Ghi chú
18/9/2014
Buổi sáng
Khách sạn Reoparesu
K.K (Chủ tịch Hiệp hội ngành tang lễ tỉnh Miyagi)
Điều tra lắng nghe những trải nghiệm của nhân chứng trong thảm họa và các hoạt động tái thiết sau thảm họa
19/9/2014
Buổi sáng
Khu vực cảng và nội thành TP
Kesennuma, Bảo tàng Cá mập
K.M (33 tuổi, Hiệp hội Du lịch
và hội nghị Kesennnuma)
Quan sát các dấu tích thảm họa xung quanh thành phố, tham quan Bảo tàng Cá mập (được phục dựng lại sau thảm họa) theo lời kể của nhân chứng Lắng nghe những trải nghiệm của nhân chứng trong và sau thảm họa
Phỏng vấn nhóm đối với các thành viên của Hội thanh niên TP Kesennuma về những trải nghiệm trong và sau thảm họa, các hoạt động tái thiết và phục hưng đang thực hiện
A.H (58 tuổi, giám đốc Công
ty cổ phần Aoyagi, một công ty về dịch
vụ tang lễ)
Quan sát dấu tích thảm họa tại các khu vực xung quanh thành phố Rikuzentakata như khu phố chính, khu ven biển, khu an táng nạn nhân… theo lời kể của nhân chứng 20/9/2014
Buổi
chiều
Ever Hall Aoyagi
Phỏng vấn nhân chứng về trải nghiệm trong và sau thảm họa, các hoạt động tái thiết và phục hưng 21/9/2014
Buổi
chiều
Các nhóm phân chia khu vực điều tra Tác giả điều tra tại đảo Oshima (TP
Kesennuma)
K.S (84 tuổi)… Phỏng vấn các nhân chứng về trải
nghiệm trong và sau thảm họa
Nguồn: tác giả tự lập
Trang 36Sơ đồ 1-2 Các khu vực tiến hành điều tra (3&9/2014)
Nguồn: Tác giả tự lập
Luận văn tập trung phân tích các yếu tố có liên quan đến các hoạt động tương trợ, như các trường hợp tương trợ, bối cảnh địa lý, xã hội của khu vực Việc phân tích các trường hợp tương trợ được tổng hợp trong chương 2 của luận văn Bên cạnh việc tổng hợp các hoạt động tương trợ có tổ chức của cộng đồng nói chung, tác giả đi sâu phân tích hai trường hợp tương trợ có tổ chức trong cộng đồng khu vực ở thành phố Kesennuma Sau đó, tác giả lựa chọn khảo sát một số tình huống tiêu biểu về hành động tương trợ tự phát của các nhân chứng, hoặc lời kể của nhân chứng về hành động tương trợ giữa những người xung quanh thông qua dữ liệu ghi chép của bốn nhân chứng O.I và T.A ở thành phố Sendai, nhân chứng K.M của thành phố Kesennuma
Trang 37và nhân chứng A.H của thành phố Rikuzentakata Trong chương 3, tác giả thử đối chiếu các trường hợp tương trợ này với các lý thuyết xã hội học nhằm giải thích cơ chế của hành động tương trợ
Tiểu kết chương 1
Thảm họa kép động đất – sóng thần với quy mô và mức độ thiệt hại lớn nhất kể
từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã đem đến tình trạng “bất thường”, “chưa từng có” trong trải nghiệm của nhiều người dân Nhật Bản Mặc dù vậy, qua điều tra thực địa, tác giả nhận thấy mức độ ảnh hưởng của thảm họa là khác nhau tại nhiều khu vực
ở Nhật Bản, thậm chí khác nhau ngay giữa các khu vực trong cùng một vùng thảm họa (vùng Đông Bắc) do sự khác biệt về điều kiện địa lý và mức độ đô thị hóa Sự khác biệt này kéo theo những khác biệt trong mức độ căng thẳng gây ra bởi thảm họa
ở từng khu vực Thêm vào đó, thông qua dữ liệu điều tra thực địa, ta cũng có thể hình dung được bối cảnh xã hội, mức độ đô thị hóa khác biệt giữa các khu vực thảm họa Đây chính là những bối cảnh quan trọng, những yếu tố tác động đến hành động tương trợ giữa các cư dân của khu vực, sẽ được phân tích trong các chương tiếp theo
Trang 38CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TRONG THẢM HỌA CỦA
CƯ DÂN VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN
Thảm họa kép tháng 3/2011, như đã trình bày, là thảm họa tự nhiên có quy mô
và mức độ thiệt hại to lớn nhất tại Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Kết quả điều tra thực địa tại khu vực Đông Bắc, vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ thiên tai, đã cho thấy sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng do điều kiện địa lý, mức độ
đô thị hóa và điều kiện cơ sở hạ tầng… của mỗi khu vực Không những thế, điều tra thực địa kết hợp với đối chiếu tư liệu đã làm sáng tỏ về bối cảnh đời sống cộng đồng
xã hội của địa phương Chương 2 tập trung tổng hợp các hoạt động tương trợ của cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép Tuy nhiên, trước đó, tác giả sẽ điểm qua các hoạt động cứu trợ công và tương trợ cộng đồng bên ngoài phạm vi khu vực thảm họa
2.1 Tóm lược hoạt động cứu trợ của chính phủ và chính quyền địa phương
Các hoạt động cứu trợ của chính phủ và chính quyền địa phương trong thời gian sau thảm họa kép động đất – sóng thần được Nội các Nhật Bản công bố cụ thể trong
Sách trắng Phòng chống thiên tai của Nhật Bản năm 2011 Sau khi thảm họa xảy ra,
chính quyền trung ương và địa phương đã có các phản ứng nhằm khắc phục hậu quả thiên tai và hỗ trợ ổn định cuộc sống cho người dân Hoạt động cứu trợ của chính phủ Nhật Bản đối với người bị nạn có thể tổng hợp thành bảy nội dung chính bao gồm: 1) thiết lập Ban ứng phó đặc biệt về việc hỗ trợ đời sống cho người bị nạn; 2) tập hợp
và vận chuyển hàng hóa cứu trợ; 3) hoạt động cải thiện môi trường sống tại các cơ sở lánh nạn; 4) hoạt động phái cử cán bộ đến các thành phố, thị trấn, thôn xóm; 5) Hoạt động đảm bảo các dịch vụ bảo hiểm, y tế, phúc lợi và giáo dục; 6) Hoạt động hỗ trợ tái thiết cuộc sống; 7) Hoạt động thúc đẩy ổn định chỗ ở
Bên cạnh các hoạt động này, chính phủ Nhật Bản còn tiến hành một số các hoạt động hỗ trợ gián tiếp khác như tiến hành thu gom, xử lý rác thải tồn đọng tại các khu vực sau thảm họa; điều hòa một số cơ chế chính sách theo hướng có lợi cho những người bị nạn (như đơn giản hóa các thủ tục nhập khẩu hàng hóa hỗ trợ người bị nạn,
Trang 39đảm bảo dịch vụ y tế cho những đối tượng bị mất thẻ bảo hiểm do thảm họa, linh hoạt trong việc khai báo tạm trú, kéo dài thời hạn đóng nộp các loại thuế, hỗ trợ người nước ngoài đăng ký lại thẻ lưu trú sau thảm họa do bị mất, hỗ trợ người bị mất giấy
tờ tùy thân mở tài khoản ngân hàng bằng các giấy cam kết…); tập hợp, làm đầu mối cho các hỗ trợ nhân đạo, tình nguyện từ cộng đồng và nước ngoài Cho đến 30/5/2011, chính phủ Nhật Bản đã tiếp nhận đề nghị viện trợ, hỗ trợ từ hơn 159 quốc gia, khu vực và 43 tổ chức quốc tế Trong đó, 55 quốc gia, khu vực và tổ chức quốc tế đã gửi lương thực, nước uống, thuốc men, và các vật dụng hỗ trợ khác đến Nhật Bản, và lần lượt các hàng hóa cứu trợ này đã được chuyển tới các khu vực thảm họa Ngoài ra, quân đội Mỹ đóng tại Nhật cũng tham gia vào hoạt động vận chuyển, phân phát hàng hóa cứu trợ dưới chiến lược tác chiến có tên gọi “Tomodachi”17 [17, tr.46-47] Trước hết, với tư cách quốc gia độc lập, hoạt động cứu trợ công dân là hoạt động nhằm đảm bảo tính chính thống, hợp pháp của bất kỳ chính phủ, nhà nước nào Do
đó, hoạt động cứu trợ của chính quyền trung ương và địa phương của Nhật Bản đối với công dân có thể coi là vừa mang ý nghĩa bảo hộ công dân, vừa mang ý nghĩa “tổ chức cứu trợ” trong thảm họa Trên lý thuyết, các hoạt động cứu trợ của chính quyền được thực hiện thông qua cơ chế, chính sách, được thực hiện cả trước, trong, và sau thảm họa (phòng chống, ứng phó, khắc phục) Mặc dù vậy, trên thực tế, nhiều chính quyền địa phương cũng là những đối tượng trực tiếp bị gặp nạn nên đã mất đi chức năng điều phối cứu trợ cũng như khắc phục hậu quả thiên tai Thêm vào đó, các hoạt động cứu trợ của chính quyền trung ương vẫn có độ trễ nhất định, do đó tính chất của các hoạt động tương trợ này chủ yếu là các biện pháp khắc phục hậu quả Mặc dù không thể phủ nhận những kết quả to lớn của hoạt động cứu trợ từ chính quyền do các hoạt động này đã giúp đỡ được nhiều nạn nhân trên diện rộng, nhưng chính do những đặc trưng mang tính cơ chế, hệ thống, nên trên thực tế điều tra, một số phản ứng của chính quyền vẫn được phản ánh là chậm trễ so với nhu cầu của người dân Không những vậy, khi bất kỳ cơ chế nào được hình thành nhằm đáp ứng lợi ích của số đông trong xã hội thì các vấn đề bất cập sẽ nảy sinh Trong quá trình tiến hành
17 Trong tiếng Nhật có nghĩa là “bạn bè”
Trang 40điều tra tại Nhật Bản, tác giả được lắng nghe rất nhiều vấn đề trong cộng đồng người
bị nạn, như người dân không biết đến đúng cơ sở lánh nạn được quy định khiến việc quản lý người lánh nạn, cấp phát lương thực, chỗ ở… gặp khó khăn; một số cơ sở lánh nạn không được nhà nước chỉ định nên đã không nhận được hàng hóa cứu trợ ngay lập tức; khi sóng thần ập đến thì nhiều nhân viên tiêu phòng, cứu hộ của địa phương cũng đã mất đi tính mạng của mình khi thực hiện hoạt động sơ tán người dân, tìm kiếm cứu nạn; hoạt động lánh nạn tập trung làm mất đi quyền riêng tư khiến nhiều
cá nhân bị stress, bệnh tinh thần… dẫn đến tự tử…; việc ưu tiên nhiên liệu cho các phương tiện cứu trợ của chính quyền trong những ngày đầu sau thảm họa đã vô hình chung làm đánh mất quyền lợi của nhiều cá nhân trong việc tìm kiếm người thân bị mất tích; một số cá nhân lợi dụng để lừa chiếm đoạt tiền hỗ trợ từ chính phủ, việc giải ngân tiền trợ cấp không được tiến hành kịp thời cho các khu vực cần ưu tiên… Hoạt động tái thiết cộng đồng sau thảm họa lại càng nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn, như việc người dân đi lánh nạn bị thúc giục phải ra khỏi các căn nhà tạm và phải nhanh chóng tìm cách đến nơi ở mới nhưng số lượng người già sống bằng lương hưu không
đủ tiền chi trả cho những căn nhà mới lại nảy sinh khiến cho việc tái định cư trở nên chậm trễ là một ví dụ
Cùng với quá trình biến đổi cấu trúc “công – cộng” trong xã hội Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cũng từ sau thực tế của thảm họa Động đất Hanshin – Awaji (Kobe), vai trò cứu trợ của chính quyền trong thảm họa bị cho là hết sức hạn chế, và hoạt động tương trợ, cứu trợ giữa các cá nhân, nhóm trong cộng đồng khu vực lại gia tăng và phát triển Chủ thể của những hành động cứu giúp, tương trợ ngay khi động đất hay sóng thần ập đến, không ai khác chỉ có thể là chính những cá thể trong cộng đồng khu vực Với bối cảnh đó, từ Động đất Hanshin – Awaji trở đi, các hoạt động tương trợ của cộng đồng ngày càng được đề cao trong xã hội Nhật Bản so với những cứu trợ truyền thống từ chính quyền Trong phần dưới đây, tác giả sẽ thử xem xét về hoạt động tương trợ đến từ khu vực ngoài chính phủ