Nghiên cứu về hoạt động HTNĐ của LHQ trong hoàn cảnh THTN ở phương diện lý luận quan hệ quốc tế kết hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn đang trở nên cần thiết để có được nhận thức và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Vũ Thị Anh Thư
HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO CỦA LIÊN HỢP QUỐC
ỨNG PHÓ VỚI THẢM HỌA THIÊN NHIÊN (2000-2015)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUỐC TẾ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Vũ Thị Anh Thư
HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO CỦA LIÊN HỢP QUỐC
ỨNG PHÓ VỚI THẢM HỌA THIÊN NHIÊN (2000-2015)
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUỐC TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG PHƯỚC HIỆP
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
PGS.TS Hoàng Phước Hiệp GS.TS Nguyễn Văn Kim
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Các kết luận của luận án chưa từng được cá nhân hoặc
tổ chức nào công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Thị Anh Thư
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Công trình nghiên cứu này sẽ khó được hoàn thành nếu thiếu sự chỉ dẫn và chia sẻ kinh nghiệm của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp trong suốt thời gian tôi triển khai đề tài
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Hoàng Phước Hiệp, người đã luôn động viên và nhiệt tình đồng hành với tôi trong suốt quá trình học tập từ trình độ thạc sĩ đến tiến sĩ
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và các phòng ban chức năng của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo nhiều điều kiện vô cùng thuận lợi cho tôi trong quá trình vừa học tập, nghiên cứu và vừa thực hiện nhiệm vụ của giảng dạy
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp tại Khoa Quốc tế học, các bạn đồng môn và thầy cô giáo khác ở trong và ngoài trường đã chia sẻ cho tôi nhiều thông tin, tư liệu và những kinh nghiệm quý báu trong thời gian tôi thực hiện Luận án
Lời tri ân sâu sắc tôi xin dành cho những người thân trong gia đình, đặc biệt
là GS.NGND Vũ Dương Ninh, “người Thầy” với đầy đủ ý nghĩa nhất luôn khích lệ
và định hướng cho sự nghiệp của tôi Những lời động viên và sự ủng hộ của cha mẹ, chồng, con và anh chị em đã tiếp sức cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Thị Anh Thư
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 13
1.1 Nghiên cứu về sự hình thành và biến chuyển của chủ nghĩa nhân đạo và
hỗ trợ nhân đạo trong quan hệ quốc tế 13
1.2 Nghiên cứu về cơ sở pháp lý của hoạt động hỗ trợ nhân đạo ứng phó với
thảm họa thiên nhiên 22
1.3 Nghiên cứu về vai trò của Liên Hợp Quốc trong hỗ trợ nhân đạo quốc tế 24
1.4 Nhận xét 26
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO CỦA LIÊN HỢP QUỐC ỨNG PHÓ VỚI THẢM HỌA THIÊN NHIÊN 29
2.1 Cơ sở lý luận 29
2.1.1 Các khái niệm 29
2.1.2 Cách tiếp cận trong hỗ trợ nhân đạo ứng phó với thảm họa thiên nhiên 39
2.1.3 Điều kiện tiến hành hỗ trợ nhân đạo ứng phó với thảm họa thiên nhiên 46
2.1.4 Áp dụng các lý thuyết nghiên cứu về hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc 51
2.2 Cơ sở thực tiễn 58
2.2.1 Cơ sở pháp lý hình thành hệ thống thiết chế hỗ trợ nhân đạo của
Liên Hợp Quốc 58
2.2.2 Vai trò của Liên Hợp Quốc trong mạng lưới hỗ trợ nhân đạo quốc tế 61
2.2.3 Tình hình thảm họa thiên nhiên và hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc
trước năm 2000 64
Tiểu kết 68
Chương 3: HỆ THỐNG THIẾT CHẾ VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU PHỐI HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO CỦA LIÊN HỢP QUỐC ỨNG PHÓ VỚI THẢM HỌA
THIÊN NHIÊN (2000-2015) 69
3.1 Nguyên nhân thúc đẩy tăng cường hỗ trợ nhân đạo sau năm 2000 69
3.1.1 Nguyên nhân khách quan 69
3.1.2 Nguyên nhân chủ quan 73
3.2 Hệ thống thiết chế hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc 74
3.2.1 Hệ thống thiết chế hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc ở cấp quốc tế 74
3.2.2 Hệ thống thiết chế hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc ở cấp quốc gia 78
3.2.3 Thẩm quyền ra quyết định về hỗ trợ nhân đạo quốc tế 80
3.2.4 Đặc điểm của hệ thống thiết chế hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc 82
Trang 63.3 Cơ chế điều phối hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc 83
3.3.1 Cơ chế huy động và phân phối nguồn tài chính 83
3.3.2 Cơ chế lãnh đạo và điều phối hoạt động hỗ trợ nhân đạo 87
3.3.3 Phối kết hợp với lực lượng quân sự 93
3.3.4 Cơ chế phân phối viện trợ 95
3.4 Một số hoạt động hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc ứng phó với thảm họa thiên nhiên (2000-2015) 96
3.4.1 Hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc sau cơn sóng thần ở Ấn Độ Dương
năm 2004 96
3.4.2 Phối kết hợp giữa Liên Hợp Quốc và ASEAN ứng phó với thảm họa
thiên nhiên ở Myanmar năm 2008 97
3.4.3 Hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc ở Haiti sau động đất năm 2010 100
3.4.4 Hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc ở Vùng Sừng Châu Phi 105
3.4.5 Hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc cho Việt Nam 107
Tiểu kết 116
Chương 4: ĐÁNH GIÁ VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO CỦA LIÊN HỢP QUỐC ỨNG PHÓ
VỚI THẢM HỌA THIÊN NHIÊN (2000-2015) 118
4.1 Đánh giá về hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc ứng phó với thảm họa
thiên nhiên 118
4.1.1 Đánh giá về hệ thống thiết chế và cơ chế điều phối hỗ trợ nhân đạo
của Liên Hợp Quốc 118
4.1.2 Đánh giá về hiệu quả hoạt động hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc 123
4.1.3 Cơ hội và thách thức đối với hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc 131
4.2 Khuyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ nhân đạo ứng phó với
thảm họa thiên nhiên 145
4.2.1 Cải tổ hệ thống thiết chế hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc 145
4.2.2 Thay đổi cách tiếp cận trong hoạt động hỗ trợ nhân đạo 147
4.2.3 Đổi mới hoạt động hỗ trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc thích ứng với
thách thức mới 149
Tiểu kết 153
KẾT LUẬN 155
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
HĐBA Hội đồng bảo an
HĐKTXH Hội đồng kinh tế - xã hội
Từ viết tắt Nguyên văn tiếng Việt - Anh
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á -
Association of Southeast Asian Nations
EU Liên minh châu Âu - European Union
ECOWAS Cộng đồng kinh tế của các quốc gia Tây Phi -
The Economic Community of West Africa States
FAO Tổ chức nông lương thế giới -
Food and Agriculture Organisation
IASC Ủy ban thường trực liên cơ quan -
Inter-Agency Standing Committee
ICRC Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế -
International Committee of Red Cross
IFRC Liên đoàn quốc tế của Hiệp hội Chữ Thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ -
International Federation of Red Cross and Red Crescent Societies
IGO Tổ chức liên chính phủ - Inter-Governmental Organisation
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế - International Monetary Fund
IOM Tổ chức di cư quốc tế - International Organisation for Migration
MDGs Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ -
Millennium Development Goals
NGO Tổ chức phi chính phủ - Non-Governmental Organisation
Trang 8OCHA Văn phòng điều phối hoạt động nhân đạo LHQ -
United Nations Office for the Co-ordination of Humanitarian Affairs
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế -
Organisation for Economic Cooperation and Development
SDGs Mục tiêu phát triển bền vững - Sustainable Development Goals
UNDAC Nhóm phối hợp và đánh giá thảm họa -
United Nations Disaster Assessment and Coordination
UNDP Chương trình hỗ trợ phát triển của LHQ -
United Nations Development Programs
UNICEF Quỹ nhi đồng LHQ - The United Nations Children’s Fund
UNISDR Văn phòng Giảm rủi ro thảm họa của LHQ -
The United Nations Office for Disaster Risk Reduction
UNHCR Cao ủy LHQ về người tị nạn -
The United Nations High Commissioner for Refugee
UN-HABITAT Chương trình định cư con người LHQ -
United Nations Human Settlements Programme
USD Đô la Mỹ - United States dollar
WB Ngân hàng Thế giới - World Bank
WFP Chương trình lương thực thế giới - World Food Program
WHO Tổ chức y tế thế giới - World Health Organisation
WHS 2016 Hội nghị thượng đỉnh về hỗ trợ nhân đạo thế giới 2016 -
World Humanitarian Summit 2016
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chiến tranh Lạnh kết thúc, cả thế giới bước vào giai đoạn tập trung phát triển chuẩn bị cho một thiên niên kỷ mới Nhưng thế giới đang phải chứng kiến những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan tác động đến cuộc sống của con người Trái đất nóng dần lên và khả năng con người dễ bị tổn thương trước những đợt tấn công của thiên tai gây ra THTN ở nhiều khu vực và đang là mối lo ngại không chỉ của từng quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu Sự thay đổi tính chất của khủng hoảng nhân đạo do hậu quả của XĐVT nội bộ, thời tiết cực đoan, dịch bệnh, thay đổi nhân khẩu, đô thị hóa vào đầu thế kỷ XXI làm gia tăng nhu cầu HTNĐ và đe dọa đến những nỗ lực toàn cầu trong việc đạt MDGs trong giai đoạn 2000-2015 THTN đã xóa đi nhiều thành tựu phát triển, ngăn cản sự tiến
bộ xã hội và tăng trưởng kinh tế, đẩy người dân của một số nước đang phát triển lâm vào cảnh đói nghèo cùng cực, xung đột và ly tán Khủng hoảng nhân đạo diễn
ra dai dẳng ở một số khu vực trên thế giới đã trở thành mối quan tâm của cộng đồng quốc tế Thảo luận về tăng cường cường hiệu quả của cứu trợ khẩn cấp và quản lý rủi ro thảm họa tiếp tục là chủ đề nóng trong các chương trình nghị sự về phát triển của LHQ Mạng lưới HTNĐ quốc tế đã và đang nỗ lực rất nhiều để chấm dứt khủng hoảng nhân đạo nhưng thực tế cho thấy chưa bao giờ HTNĐ đáp ứng đủ nhu cầu của các nạn nhân sau THTN
LHQ với vị trí là tổ chức quốc tế lớn nhất, bên cạnh các nhiệm vụ duy trì hòa bình, an ninh và tuân thủ pháp luật quốc tế, LHQ còn có trách nhiệm thúc đẩy phát triển bền vững, bảo vệ quyền con người LHQ giữ vai trò trung tâm của sự hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hội, văn hóa và HTNĐ toàn cầu [United Nations 1945, Điều 1 khoản 3] Nghị quyết của ĐHĐ LHQ số 46/182
ngày 19 tháng 12 năm 1991 là văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định LHQ có “vai
trò trung tâm và duy nhất để quy định sự lãnh đạo và phối hợp những nỗ lực của cộng đồng quốc tế hỗ trợ các nước bị ảnh hưởng” bởi THTN và các trường hợp khẩn cấp khác
Trang 11Bước vào thế kỷ XXI, LHQ đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện hệ thống thiết chế HTNĐ và cải cách phương thức hoạt động để thích ứng với tình hình khủng hoảng nhân đạo gia tăng, tăng cường thiết lập quan hệ đối tác để cải thiện sự ứng phó với THTN Tuy vậy, cộng đồng quốc tế vẫn cho rằng những nỗ lực đó của LHQ chưa
có chuyển biến rõ rệt về hiệu quả của HTNĐ ứng phó với THTN và những cải cách trong phương thức hoạt động HTNĐ của LHQ chưa có sự thay đổi đáng kể để giải quyết triệt để nguyên nhân của khủng hoảng nhân đạo Gần ba thập kỷ qua, LHQ vẫn chưa thể tạo ra sự gắn kết và cộng tác giữa các chủ thể trong mạng lưới HTNĐ quốc tế Nguyên nhân có thể là do hệ thống HTNĐ của LHQ đã lạc hậu, hoặc là số lượng các chủ thể tham gia vào mạng lưới HTNĐ quốc tế ngày càng tăng và giữ vị trí độc lập, tự chủ hơn, nhu cầu phối hợp và tuân theo sự lãnh đạo của LHQ là không thường xuyên, thậm chí có sự mất cân bằng quyền lực giữa các chủ thể trong mạng lưới đó, hoặc là gia tăng lợi ích quốc gia trong chính sách HTNĐ của các nhà tài trợ chính phủ Việc thiếu cam kết chính trị từ các nhà tài trợ chính phủ gây nên tình trạng khan hiếm nguồn tài chính cung cấp cho hoạt động HTNĐ cũng đang là thách thức lớn đối với mạng lưới HTNĐ quốc tế Những nguyên nhân đó có thể ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động HTNĐ quốc tế ứng phó với THTN Bên cạnh đó, LHQ cũng chịu nhiều áp lực từ những yêu cầu cải tổ hệ thống thiết chế và cơ chế hoạt động để tăng cường vai trò lãnh đạo và điều phối mạng lưới HTNĐ quốc tế nhằm thu hút và gắn kết các chủ thể tham gia vào một môi trường HTNĐ ổn định hơn, giúp nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động HTNĐ quốc tế
Nghiên cứu về hoạt động HTNĐ của LHQ trong hoàn cảnh THTN ở phương diện lý luận quan hệ quốc tế kết hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn đang trở nên cần thiết để có được nhận thức và đánh giá khoa học và thực tiễn sâu hơn về vai trò của LHQ trong lĩnh vực HTNĐ quốc tế giúp các quốc gia ngăn chặn và sẵn sàng ứng phó với khủng hoảng nhân đạo do thiên tai gây ra Xuất phát từ những nhận
thức trên, tôi chọn vấn đề “Hỗ trợ nhân đạo của LHQ ứng phó thảm họa thiên nhiên (2000 -2015)” làm đề tài nghiên cứu của Luận án tiến sĩ Việc nghiên cứu này góp
phần phân tích những nhân tố thúc đẩy sự thành công hay cản trở hiệu quả hoạt động HTNĐ của mạng lưới HTNĐ quốc tế, trong đó LHQ đóng vai trò trung tâm
Trang 122 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ hoạt động HTNĐ của LHQ ứng phó với THTN trong giai đoạn 2000-2015, phân tích hệ thống thiết chế và cơ chế điều phối hoạt động HTNĐ của LHQ, Luận án đánh giá kết quả hoạt động và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động HTNĐ ứng phó với THTN
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, Luận án tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau đây:
Làm rõ khung lý thuyết nghiên cứu về HTNĐ ứng phó với THTN
Phân tích hệ thống thiết chế HTNĐ của LHQ và chỉ ra các đặc điểm của hệ thống đó
Phân tích cơ chế điều phối hoạt động và phương thức triển khai HTNĐ của LHQ ứng phó với THTN trong giai đoạn 2000-2015, qua việc phân tích một
số trường hợp nghiên cứu điển hình
Đưa ra các đánh giá về thành tựu và hạn chế của hoạt động HTNĐ của LHQ ứng phó với THTN, nhận diện các nhân tố thúc đẩy hay cản trở hiệu quả của hoạt động HTNĐ, cơ hội và thách thức đối với hoạt động HTNĐ ứng phó với THTN
Nêu ra một số đề xuất nhằm cải tổ hệ thống thiết chế HTNĐ của LHQ, đổi mới cách tiếp cận và hoạt động của LHQ để nâng cao hơn nữa hiệu quả HTNĐ của mạng lưới HTNĐ quốc tế ứng phó với THTN
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu về hoạt động HTNĐ của LHQ ứng phó với THTN từ năm 2000 đến 2015
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu về hoạt động HTNĐ của
LHQ từ năm 2000 đến năm 2015 Đây là giai đoạn về cơ bản LHQ đã hoàn thiện hệ thống thiết chế HTNĐ và có một số cải cách so với trước năm 2000 để thích ứng kịp thời với sự thay đổi tính chất của khủng hoảng nhân đạo cũng như gia tăng nhu
Trang 13cầu HTNĐ vào đầu thế kỷ XXI Đây cũng là giai đoạn quan hệ quốc tế chuyển từ chấm dứt Chiến tranh Lạnh sang phát triển và toàn cầu hóa, LHQ khuyến khích các quốc gia phấn đấu đạt MDGs nhằm chấm dứt đói nghèo, bất bình đẳng xã hội Sự tác động tiêu cực của THTN và khủng hoảng nhân đạo có thể làm ảnh hưởng tới việc các quốc gia nỗ lực phấn đấu và duy trì các thành quả của MDGs Do vậy, Luận án lấy mốc thời gian 2000-2015 cho phù hợp với Chương trình nghị sự về Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ Ở một phạm vi nhất định, Luận án có thể cập nhật một số vấn đề được nêu ra trong hai năm tiếp theo (2016-2017), vẫn đang là thách thức cần LHQ và mạng lưới HTNĐ quốc tế hiện nay và cần tích cực giải quyết nhằm chấm dứt khủng hoảng nhân đạo
Phạm vi không gian: hoạt động HTNĐ của LHQ ứng phó với THTN trên phạm
vi toàn cầu, nhưng Luận án sẽ tập trung nghiên cứu một số trường hợp được LHQ triển khai hay tham gia HTNĐ ở khu vực châu Á (bao gồm cả châu Á - Thái bình dương) và châu Phi là những nơi gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề hơn sau THTN
Phạm vi vấn đề: Luận án tập trung phân tích hệ thống thiết chế và cơ chế điều
phối hoạt động HTNĐ của LHQ ứng phó với THTN Cụ thể là phân tích các đặc điểm của hệ thống thiết chế HTNĐ và cơ chế điều phối việc triển khai HTNĐ ở cấp độ quốc
tế, khu vực và quốc gia, qua đó đánh giá hiệu quả và vai trò của LHQ trong việc lãnh đạo và điều phối hoạt động cứu trợ nhân đạo, phục hồi, tái thiết sau THTN cũng như sẵn sàng ứng phó và quản lý rủi ro thảm họa theo cách tiếp cận tổng hợp của LHQ
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết
Luận án áp dụng Lý thuyết về Tổ chức và lý thuyết quan hệ quốc tế để phân tích về chức năng và cấu trúc của hệ thống thiết chế HTNĐ và cơ chế điều phối của LHQ
Dựa vào Lý thuyết Tổ chức, Luận án phân tích mối quan hệ giữa các đơn vị nội bộ trong hệ thống thiết chế HTNĐ của LHQ cũng như mối quan hệ giữa LHQ với các chủ thể khác tham gia vào lĩnh vực HTNĐ Lý thuyết Tổ chức sẽ giúp tác giả Luận án chỉ ra được các đặc điểm của hệ thống thiết chế và cơ chế điều phối HTNĐ của LHQ và những hạn chế của hệ thống đó trong việc thu hút và gắn kết các chủ thể khác tham gia mạng lưới HTNĐ quốc tế
Trang 14Các lý thuyết quan hệ quốc tế (QHQT) được sử dụng trong Luận án như chủ nghĩa tự do giúp Luận án xác định vai trò của một tổ chức quốc tế đa phương và lớn nhất là LHQ trong hợp tác chức năng, cụ thể là lãnh đạo và điều phối hoạt động HTNĐ quốc tế Chủ nghĩa kiến tạo giúp Luận án tìm hiểu về các giá trị nhân văn, đạo đức, niềm tin của cộng đồng quốc tế chung tay giúp đỡ các nạn nhân đang phải gánh chịu rủi ro do tác động của THTN Chủ nghĩa hiện thực mới giúp Luận án tìm hiểu về động cơ hay mối quan tâm của các chủ thể tham gia mạng lưới HTNĐ quốc
tế, đặc biệt là động cơ chính trị của các nhà tài trợ chính phủ với mong muốn gia tăng lợi ích quốc gia khi tài trợ cho hoạt động HTNĐ quốc tế Những lợi ích quốc gia đó tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động và nguyên tắc HTNĐ
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin để luận giải các vấn đề nghiên cứu một cách khách quan và có cơ sở khoa học
Luận án cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu QHQT:
÷ Phương pháp lịch sử: để phân tích quá trình hình thành khái niệm HTNĐ và tham gia hoạt động HTNĐ của LHQ ứng phó với THTN
÷ Phương pháp phân tích nội dung: giúp cho việc tìm kiếm các khái niệm cũng như kết quả của HTNĐ của LHQ và mạng lưới HTNĐ quốc tế
÷ Phương pháp nghiên cứu hệ thống giúp Luận án phân tích tổng thể về hệ thống và trật tự nhân đạo quốc tế, trong đó LHQ giữ vị trí trung tâm trong lãnh đạo và điều phối hoạt động với các chủ thể khác
÷ Phương pháp nghiên cứu trường hợp để phân tích một số trường hợp có sự tham gia HTNĐ của LHQ ở một số nước và khu vực cụ thể
5 Đóng góp của Luận án
5.1 Về ý nghĩa khoa học
Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên ở Việt Nam dưới góc độ QHQT về hoạt động HTNĐ của LHQ ứng phó với THTN Qua Luận án này, tác giả mong muốn có một số đóng góp sau đây:
Trang 15 Luận án đưa ra một khung lý thuyết để làm sáng tỏ khái niệm về HTNĐ ứng phó với THTN và cách tiếp cận của LHQ về vấn đề này
Luận án rút ra được các đặc điểm của hệ thống thiết chế HTNĐ và cơ chế điều phối hoạt động của LHQ để lý giải những điểm mạnh và yếu trong vai trò lãnh đạo và điều phối hoạt động HTNĐ của LHQ Luận án góp phần nghiên cứu tổng thể về hệ thống và trật tự HTNĐ quốc tế dưới góc độ luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế, mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố pháp lý, chính trị, đạo đức và quyền lực chi phối hiệu quả hoạt động HTNĐ quốc tế ứng phó với THTN
5.2 Về ý nghĩa thực tiễn:
÷ Từ những nghiên cứu cơ sở khoa học nói trên, Luận án đưa ra những đánh giá
và đề xuất về định vị lại vai trò của LHQ, sự cần thiết cải tổ hệ thống thiết chế, đổi mới cách tiếp cận và hoạt động HTNĐ của LHQ nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của mạng lưới HTNĐ quốc tế với mục tiêu chấm dứt nhu cầu HTNĐ
÷ Luận án có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực QHQT Công trình nghiên cứu này cũng giúp các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực HTNĐ có thêm sự hiểu biết về vai trò lãnh đạo và điều phối hoạt động của LHQ trong mạng lưới HTNĐ quốc tế và các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của HTNĐ quốc tế
6 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án gồm 4 chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng hợp và đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
và nước ngoài về sự hình thành và biến chuyển của chủ nghĩa nhân đạo và HTNĐ trong quan hệ quốc tế, cơ sở pháp lý của HTNĐ ứng phó với THTN, vai trò của LHQ trong vấn đề này Từ đó, Luận án đưa ra nhận xét chung và những điểm Luận
án có thể kế thừa nghiên cứu và những đóng góp mới của Luận án
Trang 16Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hỗ trợ nhân đạo của Liên hợp quốc ứng phó với thảm họa thiên nhiên
Chương này tập trung phân tích nội hàm của hai khái niệm về HTNĐ và ứng phó với THTN, xác định cách tiếp cận quyền con người trong hoạt động HTNĐ của LHQ Luận án cũng phân tích các điều kiện cung cấp HTNĐ quốc tế trên cơ sở tôn trọng chủ quyền quốc gia, cơ sở pháp lý hình thành hệ thống thiết chế HTNĐ của LHQ, xác định vai trò trung tâm của LHQ trong mạng lưới HTNĐ quốc tế và kết quả hoạt động HTNĐ của LHQ ứng phó với THTN trước năm 2000
Chương 3: Hệ thống thiết chế và cơ chế điều phối hỗ trợ nhân đạo của Liên hợp quốc ứng phó với thảm họa thiên nhiên (2000-2015)
Chương này tập trung phân tích về tổ chức của hệ thống thiết chế HTNĐ của LHQ, cơ chế ra quyết định và điều phối hợp tác giữa các cơ quan trực thuộc LHQ với các chủ thể khác, các phương thức phối hợp triển khai hoạt động và phân phối nguồn viện trợ Trên cơ sở đó, Luận án rút ra đặc điểm của hệ thống thiết chế và cơ chế điều phối, những yếu tố tác động đến hiệu quả của hoạt động HTNĐ của LHQ
Chương 4: Đánh giá và khuyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ nhân đạo của Liên hợp quốc ứng phó với thảm họa thiên nhiên (2000-2015)
Chương này tập trung đánh giá về thành công và hạn chế của hệ thống thiết chế và cơ chế điều phối và hoạt động HTNĐ của LHQ, những nguyên nhân dẫn tới
sự thành công hay hạn chế đó Luận án cũng phân tích các cơ hội và thách thức đối với hoạt động HTNĐ của LHQ trong tương lai Trên cơ sở đó, Luận án đưa ra một
số khuyến nghị về giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động HTNĐ của LHQ và mạng lưới HTNĐ quốc tế
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu về sự hình thành và biến chuyển của chủ nghĩa nhân đạo và
hỗ trợ nhân đạo trong quan hệ quốc tế
+ Nghiên cứu về lịch sử hình thành chủ nghĩa nhân đạo và hỗ trợ nhân đạo
Tìm hiểu về chủ nghĩa nhân đạo và khái niệm HTNĐ, công trình nghiên cứu
của Barnett M (2011) “Impire of Humanity - A History of Humanitarianism” (Đế
chế của tính nhân văn - Lịch sử của chủ nghĩa nhân đạo) [Cornel University Press, 2011] đã phân tích cụ thể quá trình hình thành và biến chuyển của chủ nghĩa nhân đạo dưới sự tác động của lịch sử thế giới Michael Barnett có cái nhìn xuyên suốt về chủ nghĩa nhân đạo từ khi bắt đầu cho tới hiện tại trong ba giai đoạn: (i) từ đầu những năm 1800 đến Chiến tranh thế giới thứ Hai được gọi là “chủ nghĩa nhân đạo thực dân”; (ii) từ 1945 -1989 gọi là giai đoạn chủ nghĩa nhân đạo mới; và (iii) sau Chiến tranh Lạnh được gọi là chủ nghĩa nhân đạo tự do, trong khi đó, nhiều công trình khác chỉ tập trung nghiên cứu các sự kiện can thiệp nhân đạo trong một số cuộc XĐTV sau năm 1990
Quan điểm thứ hai của tác giả là lịch sử hình thành chủ nghĩa nhân đạo cần được hiểu trong bối cảnh toàn cầu và tác giả nhấn mạnh đến sự kết hợp của ba yếu
tố địa chính trị, chủ nghĩa tư bản và đạo đức hình thành nên môi trường toàn cầu mà chủ nghĩa nhân đạo hoạt động ở đó Với cách tiếp cận tổng hợp như vậy, tác giả đã xây dựng một khung tư duy về xu hướng vận động của chủ nghĩa nhân đạo và tác giả khẳng định khung tư duy đó không phải là các học thuyết nhưng ít nhất nó giúp tác giả xác định được các yếu tố chính cho việc giải thích và sự thay đổi các mối quan hệ tác động lẫn nhau Bằng các dẫn chứng lịch sử, tác giả cho rằng mặc dù số lượng các tổ chức nhân đạo phát triển rất nhanh, nhưng một số tổ chức lớn có xu hướng mở rộng phạm vi hoạt động của mình: không chỉ là cứu trợ nạn nhân chiến tranh mà còn tham gia giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của bạo lực, bảo vệ quyền con người, xây dựng thể chế dân chủ Hướng đi đó đã ảnh hưởng đến các giá trị nhân văn và tính chất tự nguyện của HTNĐ khi các tổ chức đó hướng đến việc xây
Trang 18dựng nhà nước, duy trì hòa bình sau chiến tranh, người bạn đồng hành với họ là các nhà nước với những động cơ chính trị và muốn sử dụng HTNĐ làm chính sách đối ngoại quốc gia Tác giả nêu ra hai câu hỏi là sự thay đổi trong xu hướng hoạt động của tổ chức nhân đạo đã “nhân đạo hóa thế giới chính trị” hay chúng đã “chính trị hóa thế giới nhân đạo”? Tác giả ví hành động nhân đạo như một quả lắc đung đưa trong một số vấn đề chính như chủ nghĩa nhân đạo là nhân tố của một thế giới mong muốn văn minh; đạo đức nhân đạo vừa có tính chất toàn cầu vừa có tính chất cụ thể; chủ nghĩa nhân đạo được xác định bởi nghịch lý của sự giải phóng và thống trị; HTNĐ vừa phá hoại vừa thúc đẩy sự tiến bộ; HTNĐ vừa đáp ứng nhu cầu của người khác vừa đáp ứng nhu cầu của chúng ta Câu trả lời được tác giả đưa ra là HTNĐ là tất cả mọi thứ, bao gồm mọi khả năng và được tạo nên trong sự đa dạng của các khái niệm “hành động nhân đạo”, “chủ nghĩa nhân đạo” và “hệ thống nhân đạo” Mỗi chủ thể sẽ có cách hiểu riêng tùy thuộc vào động cơ của họ Tuy vậy, phần phân tích của tác giả chỉ tập trung vào một số trường hợp can thiệp nhân đạo của Mỹ trong bối cảnh có XĐVT dưới lăng kính của chính trị quốc tế, tập trung chủ yếu vào chính sách đối ngoại, sự tham gia và chi phối của nhà tài trợ Mỹ Tác giả chưa chỉ ra được xu hướng gia tăng các nhà tài trợ chính phủ khác, đặc biệt là các nhà tài trợ ở các nước Nam bán cầu tham gia vào HTNĐ, do đó những kết luận của tác giả về “tính giả dối”, “kỳ cục” của HTNĐ có lẽ chưa được thuyết phục dưới góc nhìn của chủ nghĩa kiến tạo
Những tư tưởng trên của Michael Barnett được tiếp tục phản án trong cuốn
sách “Humanitarianism Contested - Where angels fear to tread” (Sự tranh luận về
chủ nghĩa nhân đạo - Nơi các thiên thần sợ bị giày xéo) viết chung với Thomas Weiss [Roudledge, 2011] Bằng sự kết hợp các yếu tố lịch sử, chính trị, văn hóa, tổ chức và xem xét ảnh hưởng của ba lực lượng đến HTNĐ như sự phá hủy (bạo lực), sản xuất và sự cảm thông, hai tác giả đưa ra các trường hợp nghiên cứu để phân tích những thay đổi sâu sắc của chính trị thế giới và hành động nhân đạo trong ba giai
đoạn tương tự như nêu trong cuốn sách “Impire of Humanity - A History of Humanitarianism” Ngoài ra, các tác giả phân tích thế khó xử của các tổ chức nhân
đạo bằng câu hỏi “phải chăng các nhà hoạt động nhân đạo bị mất phương hướng”
Trang 19Lý giải cho câu hỏi này, hai tác giả phân tích thách thức đối với nguyên tắc trung lập và vô tư trong HTNĐ của các tổ chức nhân đạo, đặc biệt là những nỗ lực của ICRC để gìn giữ hai nguyên tắc này Đồng thời, các tác giả phân tích sự tác động của toàn cầu hóa đến động cơ của chủ thể tham gia HNTĐ
Nghiên cứu về lịch sử HTNĐ vẫn tiếp tục được đề cập trong một số hội thảo
và các nghiên cứu chính sách gần đây Ví dụ: hội thảo với chủ đề “The history of humanitarian action in East and Southeast Asia: Asian perspective1” (Lịch sử hành động nhân đạo ở Đông Á và Đông Nam Á: Quan điểm của châu Á) của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) tổ chức năm 2013 hay bài viết của Davey E
(2014)về “Humanitarian history in a complex world” (Lịch sử nhân đạo trong một
thế giới phức tạp) Xuất phát từ lý do HTNĐ trong một số năm gần đây không đạt được hiệu quả như mong muốn, các học giả cho rằng một trong nhiều nguyên nhân
là do thiếu sự hiểu biết về lịch sử kèm theo sự phân tích không đầy đủ bối cảnh chính trị của khu vực hay quốc gia cần HTNĐ Các tổ chức nhân đạo quốc tế thường sử dụng các giải pháp ngoại sinh để phục vụ các nhu cầu và thách thức nội sinh Xu hướng này đang đối mặt với nhiều chỉ trích nhưng chưa được giải quyết
Vì thế, các bài nghiên cứu đều thể hiện mục đích là cần xem xét các yếu tố lịch sử
và truyền thống văn hóa của những người sống ở khu vực cần trợ giúp Các thông tin lịch sử nên đưa vào thành một phần trong khi nghiên cứu và phân tích yếu tố kinh tế - chính trị và lịch sử của hoạt động cứu trợ và bảo vệ con người
Thực hiện dự án “A global history of humanitarian action” do Viện nghiên
cứu phát triển nước ngoài của Anh khởi xướng, trong khoảng hai năm 2013-2014 một loạt bài nghiên cứu đã ra đời với những góc độ phân tích về khái niệm và cách tiếp cận của chủ nghĩa nhân đạo và HTNĐ ở một số khu vực và một số nước Ví dụ: những nét riêng của lịch sử nhân đạo theo quan điểm của phương Tây được phân
tích trong công trình “A history of the humanitarian system - Western origins and foundations” (Lịch sử của hệ thống nhân đạo - nguồn gốc và nền tảng phương Tây)
của Davey E., Borton J và Foley M (2013) Trong khi Thomas Weiss và Michael
www.odi.org/sites/odi.org.uk/files/odi-assets/events-documents/5026.pdf
Trang 20Barnett chia lịch sử hình thành và phát triển chủ nghĩa nhân đạo thành ba giai đoạn
và tập trung phân tích các hoạt động HTNĐ trong một số trường hợp XĐVT điển hình thì nhóm nghiên cứu của Davey E chia thành bốn giai đoạn: từ giữa thế kỷ XIX đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ Nhất; trong Chiến tranh thế giới thứ Hai, Chiến tranh Lạnh và sau Chiến tranh Lạnh Điểm khác nữa của bài nghiên cứu này
là nhóm tác giả phân tích quá trình hình thành và phát triển của mạng lưới HTNĐ quốc tế theo tuyến thời gian xuyên suốt với các sự kiện xảy ra cả trong trường hợp
có XĐVT và THTN với các nhóm vấn đề rộng như viện trợ lương thực, tác động của phi thực dân và chiến tranh giải phóng dân tộc đến các chuẩn mực hỗ trợ nhân đạo sau Chiến tranh Lạnh, chia sẻ tri thức cộng đồng về HTNĐ Bằng việc thu thập các sự kiện thực tế, các tác giả nhận định những thách thức mà mạng lưới HTNĐ quốc tế đang phải đối mặt đã tồn tại trong quá khứ, do đó, các tác giả gợi ý là cần phải xem xét lại lịch sử hệ thống HTNĐ trong một số cách thức để vượt qua được
những cản trở Bài nghiên cứu thứ hai trong dự án nói trên là “Understanding humanitarian action in East and Southeast Asia - A historical perspective” (Tìm
hiểu về hành động nhân đạo của Đông Á và Đông Nam Á) của Yeophantong P (2014) Bằng phương pháp so sánh, tác giả cho rằng mặc dù những khái niệm nhân văn và chủ nghĩa nhân đạo được những người truyền giáo phương Tây đưa vào khu vực Đông Á và Đông Nam Á nhưng không có nghĩa là sự giải thích về chủ nghĩa nhân đạo của người phương Tây nổi trội hơn cách hiểu của người Á Đông Tác giả phân tích cách hiểu của người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Campuchia về HTNĐ để cho thấy yếu tố văn hóa, tín ngưỡng, nghĩa vụ xã hội quyết định đến nhận thức và hành động nhân đạo của người châu Á, điều này trái ngược với tinh thần tự nguyện bắt nguồn từ phong trào Khai sáng ở phương Tây trong thế kỷ XVIII Tương tự như truyền thống của người Á Đông, HTNĐ là một nguyên tắc nền tảng
trong Đạo Hồi theo phân tích của Krafess J (2005) khi viết “The influence of Muslim religion in humanitarian aid” (Sự ảnh hưởng của Hồi giáo trong hỗ trợ
nhân đạo) Tác giả nhận định rằng chính các quy định tôn giáo trong Kinh Qu‟ran
đã thúc đẩy động cơ quyên góp làm từ thiện hàng ngày của người dân, điều này giúp cho HTNĐ có hiệu quả, thậm chí họ có thể cung cấp viện trợ cho các dự án phát triển lâu dài
Trang 21+ Nghiên cứu về mạng lưới hỗ trợ nhân đạo quốc tế và thách thức trong thế kỷ XXI Bài viết “An overview of the structure of the current system” (Tổng quan về
cấu trúc của hệ thống hiện tại” của Barbara Brown in trong cuốn Stephen L Green
S (1979), Disaster Assistance: Appraisal, Reform and New Approaches (Hỗ trợ vì thảm họa: Đánh giá, Cải cách và Các cách tiếp cận mới) phân tích thực trạng của hệ thống cứu trợ thảm họa quốc tế trong những năm 1970 Tác giả đề cập đến vai trò của các chủ thể chính phủ và phi chính phủ tham gia vào hoạt động cứu trợ, tuy nhiên, hệ thống cứu trợ đó không đáp ứng được nhu cầu của nước tiếp nhận hỗ trợ
do sự quan liêu nên mọi nỗ lực cứu trợ không đạt được hiệu quả như mong muốn Tác giả cho rằng cần phải cải cách hệ thống hiện tại bằng việc thể chế hóa để đạt được các mục tiêu cứu trợ trong THTN
Nghiên cứu về sự hình thành mạng lưới HTNĐ quốc tế được đề cập đến trong
cuốn “Shaping the Humanitarian World” (Sự hình thành thế giới nhân đạo) của
Walker P., Maxwell D (2009) Dựa vào lịch sử phát triển của nền chính trị thế giới, các tác giả phân tích quá trình hình thành của một số chủ thể HTNĐ chính như ICRC, LHQ, NGO v.v để tạo nên mạng lưới HTNĐ quốc tế ngày nay cũng như các thách thức mà mạng lưới đó đang đối mặt, đặc biệt khi có sự can thiệp quân sự trong XĐVT và THTN hay trong trường hợp chống khủng bố
Những hoạt động và đóng góp cụ thể của mạng lưới HTNĐ quốc tế được phân tích chi tiết hơn trong các nghiên cứu về “Global Humanitarian Assistance2” (Hỗ trợ nhân đạo toàn cầu) do Viện Sáng kiến phát triển của Anh thực hiện hàng năm
(2000-2016) Các nghiên cứu cung cấp một nguồn số liệu phong phú về nguồn lực phục vụ hỗ trợ nhân đạo để đánh giá tính hiệu quả trong từng năm
Vấn đề về năng lực đối phó với thảm họa của mạng lưới HTNĐ quốc tế ngày
càng được quan tâm hơn Trong bài viết “Planning from the Future - Is the Humanitarian System Fit for Purpose?” (Lập kế hoạch từ tương lai - hệ thống
nhân đạo có phù hợp với mục đích không?) của King‟s College London, Tufts University, Feinstein International Centre (2016) Bằng phương pháp phân tích tổng hợp từ các nhân tố đột biến lịch sử đến sự thay đổi tính chất của khủng hoảng
2
Các nghiên cứu hàng năm được đăng trong website http://devinit.org/post/global-humanitarian-assistance
Trang 22nhân đạo cũng như hành động nhân đạo, bài viết đặt ra câu hỏi liệu có cần xem xét lại cách thức hoạt động của mạng lưới HTNĐ quốc tế và nhóm tác giả đã đưa ra
hai luận điểm để trả lời cho câu hỏi trên Thứ nhất, mạng lưới HTNĐ quốc tế ngày
này đã phát triển và đa dạng về chủ thể tham gia nhưng cấu trúc của mạng lưới
không có gì thay đổi so với những năm 1950 Thứ hai, cơ chế thị trường và
chương trình chuyển giao tiền mặt đến các nạn nhân thông qua hệ thống công nghệ và điện thoại thông minh được xem là nhân tố đột biết trong cách thức hỗ
trợ, nhưng vấn đề tồn tại trong mạng lưới HTNĐ quốc tế là cơ chế lãnh đạo và ra
quyết định quá phức tạp, nhiều thủ tục hành chính Ngoài ra, vấn đề an ninh hóa
và quân sự hóa HTNĐ làm cho các nguyên tắc hoạt động tiếp tục bị đe dọa, từ đó tác giả đề xuất một số khuyến nghị về những giải pháp gia tăng hiệu quả của HTNĐ cũng như cần xem xét vấn đề cải tổ mạng lưới HTNĐ quốc tế để thích ứng với các thách thức trong tương lai
Bằng cách tiếp cận thực tế thông qua việc tiến hành hàng trăm cuộc phỏng vấn
thực địa, Minear L (2002) đã viết cuốn “The Humanitarian Enterprise: Dilemmas and Discoveries” (Doanh nghiệp nhân đạo: Thế lưỡng nan và Sự khám phá) để
phân tích những vấn đề chính cản trở sự biến chuyển về tư duy và thực tiễn của tổ chức nhân đạo trong các cuộc XĐVT sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh Các tổ chức nhân đạo phải đối mặt với lựa chọn: hoặc là chịu sự tác động chính trị liên quan đến ngăn chặn và giải quyết XĐVT hoặc là đứng tách xa khỏi sự can thiệp chính trị Tác giả thừa nhận rằng các cơ quan ngoại giao, chính trị và quân sự có ảnh hưởng lớn đến sự thành công của HTNĐ Ngoài ra, tác giả đi sâu phân tích nguyên nhân của các hạn chế về cấu trúc và bộ máy thể chế của các tổ chức nhân đạo gây nên sự ứng phó không đầy đủ đối với các khủng hoảng nhân đạo trong XĐVT như ở Campuchia, Rwanda, Trung Mỹ, các nước Ban-căng, Sudan)
+ Nghiên cứu về tác động của chính trị và quyền lực đến hỗ trợ nhân đạo
Một công trình tiêu biểu được nhiều nhà nghiên cứu tham khảo và trích dẫn là
“Humanitarianism in Question: Politics, Power, Ethics” (Chủ nghĩa nhân đạo:
Chính trị, Quyền lực và Đạo đức) của Barnett M và Weiss T (2008) Dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo, hai tác giả đã
Trang 23phân tích tính chất phức tạp của chủ nghĩa nhân đạo trước sự tác động của lịch sử các cuộc chiến tranh, đặc biệt là sự chi phối của chính trị và quyền lực ở một số trường hợp khủng hoảng nhân đạo do XĐVT trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh HTNĐ đã bị một số quốc gia sử dụng làm công cụ trong chính sách ngoại giao của
họ Các tác giả tập trung phân tích những điểm yếu về cấu trúc HTNĐ, trách nhiệm giải trình và những thách thức đối với các nguyên tắc HTNĐ bị chi phối bởi lợi ích quốc gia của một số nước lớn LHQ được phân tích trong vai trò lực lượng gìn giữ hòa bình kiêm HTNĐ Các dẫn chứng được đưa ra chủ yếu tập trung vào giai đoạn những năm 1990 trong hoàn cảnh XĐVT nội bộ diễn ra ở một số nước
Các yếu tố kinh tế chính trị tác động tới HTNĐ cũng được phân tích tương đối
kỹ trong cuốn sách “The Charity of Nations - Humanitarian Action in a Calculating World” (Lòng từ thiện của Quốc gia - Hành động nhân đạo trong một thế giới toan
tính” của Smillie I và Minear L (2004) Bằng các sự kiện lịch sử trong Chiến tranh thế giới thứ Hai và Chiến tranh Lạnh, hai tác giả nhận xét rằng đạo đức trong hành động nhân đạo không còn được xem là điều hiển nhiên nữa mà dường như nó có thể
bị các “doanh nghiệp viện trợ” lợi dụng như một cơ hội kinh doanh, điều này làm xói mòn tính chất cao quý của HTNĐ Bên cạnh đó, các tổ chức nhân đạo và bảo vệ quyền con người tiêu quá nhiều tiền và tốn công sức cho các hành động nhân đạo vì mục đích an ninh chính trị hơn là trách nhiệm đạo đức Do đó, các tác giả đã chỉ ra
sự thiên vị với động cơ chính trị trong việc cấp viện trợ cho trường hợp này mà lờ đi trường hợp khác Các tác giả phê phán việc cấp vốn có điều kiện của một số nhà tài trợ là một trong các nguyên nhân gây nên sự kém hiệu quả trong HTNĐ
Cùng với quan điểm trên, Holmes J (2013), nguyên Phó tổng thư ký phụ trách
vấn đề nhân đạo của LHQ đã viết cuốn “The Polictics of Humanity: The Reality of Relief Aid” (Tính chính trị của nhân văn: Hiện thực của viện trợ khẩn cấp) Với cách
tiếp cận thực chứng, ông nhận định rằng các chương trình nhân đạo của LHQ bị xói mòn và không có được sự tin tưởng của cả hai bên trong cuộc XĐVT Ông muốn khẳng định lại các nguyên tắc nhân đạo cần phải được duy trì và đưa ra cảnh báo về những hậu quả của sự phản bội nguyên tắc đó
Trang 24Một công trình liên quan đến nghiên cứu chính sách và chính trị đối với
khủng hoảng nhân đạo trong hai trường hợp THTN và XĐVT là “The politics and policies of relief, aid and reconstruction, contrasting approach to disaster and emergencies” (Chính trị và chính sách cứu trợ, viện trợ và tái thiết, cách tiếp cận
tương phản giữa thảm họa và trường hợp khẩn cấp) do Attina F chủ biên (2012) Theo cách nhìn nhận đa ngành của các nhà khoa học chính trị và nhân học, các tác giả tập trung phân tích một số cách tiếp cận và lý thuyết liên quan đến sự hợp tác và chính sách đối với THTN và các trường hợp khẩn cấp mà ở đó các chính sách được
thực thi Attina F và các tác giả khác nhận định: thứ nhất, sự tiến bộ của hợp tác về
HTNĐ trong nền chính trị thế giới đã mở đường cho việc đưa các sự kiện khẩn cấp trở thành một đối tượng mới trong chính sách đa phương của hệ thống toàn cầu, do
đó, các nhà khoa học chính trị cần phải nghiên cứu nhiều hơn Thứ hai, vấn đề
THTN vốn thuộc phạm vi nghiên cứu của khoa họa tự nhiên thì nay cũng cần được quan tâm dưới góc độ khoa học xã hội Các tác giả nêu ra hai cách tiếp cận chính của khoa học xã hội để phân tích về THTN: đó là cách tiếp cận “nghiên cứu thảm họa” để phân tích hậu quả của thiên tai thông qua phương pháp thực nghiệm mô tả hành vi và cách tiếp cận từ nghiên cứu phát triển để phân tích tính dễ bị tổn thương của nguyên nhân gây ra THTN Từ đó, các tác giả đưa ra những đề xuất liên quan đến việc quốc tế hóa chính sách ứng phó với THTN, quan tâm nhiều hơn về mặt lý thuyết đến các trường hợp khẩn cấp và thảm họa như là một hiện tượng phức tạp Sau sự kiện cứu trợ khẩn cấp cho Haiti do hậu quả của trận động đất năm
2010, một số bài viết về lợi ích quốc gia trong HTNĐ đã xuất hiện Điển hình là bài
viết “The “Chinese way” - The evolution of Chinese humanitarianism” (Phương
thức Trung Quốc - Sự biến chuyển trong hành động nhân đạo của Trung Quốc) của Krebs H (2014) Tác giả phân tích chủ nghĩa thực dụng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc thông qua HTNĐ cho một số quốc gia như Nepal, Haiti sau THTN
Hay là bài báo “The politics and problems of humanitarian aid” (Chính trị và vấn
đề của viện trợ nhân đạo) của Chambard E (2016), “Does humanitarian aid improve America’s image” (Viện trợ nhân đạo có cải thiện hình ảnh của nước Mỹ
không) của Wike R (2014) đều tập trung phân tích về sự HTNĐ của Mỹ sau THTN
Trang 25ở một số nước như Haiti, Nhật Bản, Pakistan, Philippines với câu hỏi liệu Mỹ có ưu tiên các hành động mang tính chất đạo đức hơn là những cái có thể làm gia tăng lợi ích quốc gia? Các tác giả cho rằng nếu Mỹ làm được như vậy thì HTNĐ có thể trở nên có hiệu quả hơn, nhưng ngược lại các nước đang gặp khủng hoảng sẽ luôn phải trông ngóng và dựa vào nguồn viện trợ nước ngoài
Nghiên cứu về hậu quả của THTN có thể gây ra XĐTV, Ferris E (2010)đã
viết “Natural disasters, conflict, and human rights: tracing the connections”
(THTN, xung đột và quyền con người: tìm thấy mối liên hệ) Với cách tiếp cận bảo
vệ quyền con người, tác giả cho rằng việc ứng phó với THTN là vô cùng quan trọng
vì nó không chỉ khẳng định quyền và nhân phẩm của các nạn nhân mà còn là giải pháp ngăn chặn xung đột sau thảm họa
Ở trong nước, vấn đề hoạt động HTNĐ tiếp tục được nghiên cứu trong Luận
án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Thu Huyền “Hoạt động nhân đạo quốc tế của Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế và tác động chính trị của nó từ năm 1991 đến nay3” năm
2016 Với quan điểm chính trị học, luận án tập trung phân tích hoạt động nhân đạo của ICRC trong XĐVT và THTN và các thảm họa khác, những tác động chính trị của hoạt động nhân đạo quốc tế và các tranh luận liên quan đến hoạt động nhân đạo của ICRC Luận án chưa có đánh giá sâu về các tác động chính trị như thế nào và ảnh hưởng đến ai cũng như chưa có phân tích về các thách thức đặt ra đối với nguyên tắc hoạt động của ICRC Liên quan đến vấn đề chủ quyền quốc gia trong sự
can thiệp nhân đạo, công trình “Can thiệp nhân đạo trong chính sách đối ngoại của Mỹ” của tác giả Nguyễn Thái Yên Hương và Nguyễn Quốc Lộc (2005) đề cập khái
quát tới cơ sở lý luận và pháp lý của can thiệp nhân đạo, tập trung phân tích chính sách đối ngoại của Mỹ trong vấn đề can thiệp nhân đạo bằng quân sự thông qua một
số trường hợp nghiên cứu có XĐVT ở Somalia, Rwanda, Bosnia, Kosovo trước năm 2000 Các tác giả nhận định rằng về mặt lý luận can thiệp nhân đạo là vì mục đích bảo vệ các quyền của các nạn nhân trong cuộc XĐVT, tuy nhiên trên thực tế, can thiệp nhân đạo đã trở thành công cụ thực thi chính sách đối ngoại của Mỹ để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác Mỗi hình thức hay cách thức can
3
Thư viện Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 26thiệp của từng trường hợp đều được tính toán để phù hợp với lợi ích của Mỹ trong từng thời kỳ Các tác giả dự đoán rằng Mỹ vẫn có thể tiếp tục sử dụng hình thức can thiệp nhân đạo phục vụ chính sách đối ngoại của Mỹ trong tương lai nhưng thận trọng hơn
1.2 Nghiên cứu về cơ sở pháp lý của hoạt động hỗ trợ nhân đạo ứng phó với thảm họa thiên nhiên
+ Nghiên cứu về tôn trọng chủ quyền quốc gia trong hoạt động hỗ trợ nhân đạo Công trình nghiên cứu “International disaster response law” (Luật ứng phó
với thảm họa quốc tế) do Adrea de Gutty, Gestri M và Venturini M chủ biên (2012) đã phân tích một loạt các vấn đề pháp lý liên quan đến ứng phó với thảm họa: vấn đề quyền và nghĩa vụ của nhà nước khi thảm họa tấn công; nghĩa vụ quốc
tế và giới hạn của “Trách nhiệm bảo vệ” liên quan đến bảo vệ quyền con người; các chủ thể tham gia; các thách thức và dự báo xu hướng của việc ứng phó với thảm họa Xuyên suốt các bài phân tích là sự khẳng định về tôn trọng chủ quyền quốc gia
và trách nhiệm đầu tiên của quốc gia khi bị thảm họa tấn công, cộng đồng quốc tế chỉ được can thiệp nhân đạo nếu có sự đồng ý của nước sở tại
Bàn luận về “Trách nhiệm bảo vệ”, bài viết “The responsibility to protect populations from natural disasters; an extension of International Humanitarian Law” (Trách nhiệm bảo vệ dân thường tránh THTN; sự mở rộng Luật Nhân đạo
quốc tế) của Eburn M (2015) xem xét vấn đề liệu nước khác có được quyền can thiệp để cung cấp viện trợ cho các nạn nhân mà không có sự đồng ý của quốc gia bị thảm họa tấn công Đứng ở vị trí của quốc gia cung cấp HTNĐ, tác giả đưa ra một
số luận điểm để giải thích cho hành vi can thiệp như bảo vệ công dân của nước mình đang có mặt tại nơi xảy ra thảm họa, hay vì lý do tự vệ hay vì sự cần thiết do chính phủ nước sở tại không được công nhận v.v Nhưng khi xem xét các biện luận
đó dưới góc độ luật pháp quốc tế, đặc biệt là chương VII của Hiến chương LHQ4
, tác giả nhận định rằng nếu không có lý do để chứng minh các hành vi của nước chủ nhà đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế và nếu không có được sự đồng ý của
Trang 27
HĐBA thì không quốc gia nào có quyền hay nghĩa vụ can thiệp vào quốc gia khác theo học thuyết “Trách nhiệm bảo vệ"
Tiếp theo hướng nghiên cứu trên, ở trong nước luận văn thạc sĩ “Khái niệm Trách nhiệm bảo vệ và ý nghĩa của vấn đề5” của Nguyễn Thị Tú năm 2015 phân tích về trách nhiệm của cộng đồng quốc tế khi thực hiện hành vi can thiệp theo học thuyết “Trách nhiệm bảo vệ”, những điều kiện và giới hạn của sự can thiệp Tác giả nêu ra một số gợi ý liên quan đến việc quốc gia sẽ có phản ứng gì khi có sự xung đột giữa chủ quyền quốc gia và vấn đề nhân quyền, hơn thế tác giả đề xuất coi
“Trách nhiệm bảo vệ” là một “nguyên tắc” của quan hệ quốc tế Nhưng tác giả chưa đưa ra những sự giải thích về việc áp dụng nguyên tắc này như thế nào và trong hoàn cảnh nào của quan hệ quốc tế
Luận văn thạc sĩ luật của tác giả Trần Thị Vân Trà “Luật quốc tế và học thuyết can thiệp nhân đạo6” năm 2010 cũng phân tích những điểm hợp pháp và bất hợp pháp khi tiến hành can thiệp nhân đạo bằng quân sự với lý do bảo vệ quyền con người và nêu ra một số đề xuất để xây dựng một hành lang pháp lý quốc tế cho sự can thiệp nhân đạo chỉ nhằm phục vụ mục đích gìn giữ hòa bình Luận văn thạc sĩ
“Vấn đề can thiệp nhân đạo trong quan hệ quốc tế7” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoa năm 2014 cho rằng nhu cầu bảo vệ các giá trị nhân quyền khi bị xâm phạm sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho can thiệp nhân đạo tồn tại, tuy nhiên các nước phương Tây đã lợi dụng hành vi can thiệp nhân đạo để thực hiện những ý đồ riêng vì lợi ích quốc gia Tác giả đánh giá rằng “trách nhiệm bảo vệ” thay cho “can thiệp nhân đạo”
sẽ đảm bảo tính khách quan hơn và phù hợp với luật quốc tế
+ Nghiên cứu về quyền của nạn nhân được nhận hỗ trợ nhân đạo sau THTN
Xuất phát từ thực tế một số chính phủ không đủ khả năng, thậm chí không muốn giúp đỡ các nạn nhân của THTN, Hardcastle R và Chua A (1998) đã viết
“Humanitarian assistance: towards a right of access to victims of natural disasters”
(Hỗ trợ nhân đạo: hướng tới quyền tiếp cận các nạn nhân của THTN) Trên cơ sở xác định khái niệm về HTNĐ, hai tác giả xem xét các tiêu chí để phát triển một
Trang 28
quyền con người mới và đặt vấn đề liệu quyền được HTNĐ có thể tồn tại như một quy tắc của luật tập quán quốc tế không Do không chắc chắn xung quanh sự tồn tại
và nội dung của một quyền như vậy dành cho các nạn nhân, cho nên HTNĐ thường
bị triển khai chậm trễ trong khi tần suất THTN xảy ra ngày càng tăng Hai tác giả đề xuất việc thông qua một thỏa thuận về việc công nhận quyền được HTNĐ của các nạn nhân THTN
1.3 Nghiên cứu về vai trò của Liên hợp quốc trong hỗ trợ nhân đạo quốc tế
+ Nghiên cứu về sự tham gia của LHQ trong hỗ trợ nhân đạo ứng phó với thảm họa thiên nhiên
Lịch sử về sự tham gia của LHQ trong HTNĐ ứng phó với THTN được
nghiên cứu trong bài viết “Between expectation and endeavor: UNDRO and the problems of international relief coordination” (Giữa hy vọng và sự nỗ lực: UNDRO
và các vấn đề về phối hợp cứu trợ quốc tế) của Thomas Stephens trong cuốn sách của Stephen L và Green S (1979) “Disaster Assistance: Appraisal, Reform and New Approaches” (Hỗ trợ sau thảm họa: Đánh giá, cải cách và cách tiếp cận mới) Tác giả phân tích những cản trở cho sự thống nhất hành động trong UNDRO khi bị các nhân tố chính trị hàng ngày tại LHQ tác động
Đề cập đến mối quan hệ giữa THTN và phát triển, cuốn sách “Disaster Preparedness and the United Nations - Advance Planning for Disaster Relief” (Sẵn
sàng với thảm họa và LHQ: lập trước kế hoạch cứu trợ đối với thảm họa) của Brown B (Pergamon Press 1979) đã tập trung phân tích vai trò của bảy tổ chức và chương trình trực thuộc LHQ tham gia vào hoạt động cứu trợ và nhu cầu chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với THTN ở các nước đang phát triển Tác giả gợi ý rằng các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực HTNĐ nên xem xét lại chính sách và phương thức hoạt động để gia tăng khả năng ứng phó với THTN
+ Nghiên cứu về việc triển khai sự phối hợp hỗ trợ nhân đạo của LHQ
Quá trình tham gia vào lĩnh vực HTNĐ của LHQ tiếp tục được nghiên cứu
trong công trình “International Humanitarian Assistance: Disaster Relief Actions in International Law and Organisations” (HTNĐ quốc tế: Hành động cứu trợ thảm
họa trong Luật và các Tổ chức quốc tế) của.Macalister-Smith P (1985) Tác giả phân tích những khó khăn trong quá trình phối hợp hành động của LHQ với các tổ
Trang 29chức khác trong giai đoạn 1960-1970 và đề xuất LHQ cần chú ý hơn về HTNĐ trong hoàn cảnh THTN
Vấn đề tăng cường hiệu quả HTNĐ được tiếp tục nghiên cứu trong bài viết
“Making humanitarian relief networks more effective: operational coordination trust and sense making” (Làm cho mạng lưới cứu trợ nhân đạo có hiệu quả hơn:
phối hợp hoạt động, sự tin tưởng và ý nghĩa) của Stephenson M (2005) Tác giả đã chỉ ra một số nghịch lý trong sự phối hợp HTNĐ và cho rằng cần có nhận thức mới
về sự hiệp lực giữa các tổ chức thông qua một mạng lưới xã hội thay vì trao thẩm quyền cho một tổ chức để điều phối sự phối hợp Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng sự tin cậy là yếu tố quyết định sự hợp tác và chia sẻ văn hóa tổ chức, ý nghĩa tập thể để tạo nên tính hiệu quả trong HTNĐ
Sự phối hợp giữa các tổ chức nhân đạo được nghiên cứu trong công trình
“Interagency coordination during disaster - Strategy choices for the UN, NGOs, and other humanitarian actors in the field” (Phối hợp liên tổ chức trong thảm họa -
Sự lựa chọn chiến lược cho LHQ, NGOs, và các chủ thể nhân đạo khác trên hiện trường) của Gillmann N (2010) Trong công trình này, tác giả phân tích những lỗ hổng trong sự phối hợp HTNĐ giữa các tổ chức nhân đạo quốc tế Tác giả sử dụng
Lý thuyết về Mạng lưới Xã hội để phân tích các yếu tố thuận lợi và bất lợi của mô hình phối hợp trong cách thức triển khai phương thức nhóm phối hợp của LHQ Tác giả đã áp dụng khung lý thuyết này đánh giá tính hiệu quả của HTNĐ ở Darfur (Sudan) trong XĐVT theo nhiều lớp cắt trong mối quan hệ giữa các tổ chức, chương trình của LHQ với các tổ chức nhân đạo khác cũng như sự tương tác giữa các nhóm phụ trách từng lĩnh vực cứu trợ khác nhau
Tiếp theo hướng nghiên cứu trên, Wong J (2012) đã phân tích quan hệ đối tác
trong đề tài “Humanitarian coordination and response: International partnerships in face of natural disasters” (Phối hợp hoạt động nhân đạo và sự ứng phó: quan hệ đối
tác quốc tế trong sự đối mặt với THTN) Tác giả sử dụng một số trường hợp nghiên cứu để phân tích phương thức phối hợp nhóm và tác giả kết luận là nếu không có sự tin cậy, cởi mở, trao quyền và phối hợp chặt chẽ giữa các đối tác thì HTNĐ khó thành công
Trang 30+ Nghiên cứu về vấn đề cải tổ hoạt động hỗ trợ nhân đạo của LHQ
Cải tổ hoạt động HTNĐ của LHQ được đề cập trong vấn đề cải tổ LHQ nói
chung đã được bàn luận từ lâu Liên quan đến vấn đề này có công trình “What’s wrong with the United Nations and How to fix it” (Cái gì sai với LHQ và làm thế nào
để điều chỉnh nó) của Weiss T (2012) Với cách tiếp cận có chọn lọc và quy nạp, tác giả phân tích những nhược điểm của hệ thống như sự không kết nối giữa các thách thức toàn cầu với LHQ cũng như lợi ích quốc gia trong các quyết định của quốc gia thành viên khi giải quyết thách thức toàn cầu Điều này gây ra cản trở cho hoạt động của LHQ; vấn đề chia rẽ Bắc - Nam, cấu trúc phong kiến, quản trị quan liêu của tổ chức LHQ đang là những rào cản cho hoạt động hiệu quả của LHQ nói chung Trên
cơ sở hiện thực đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị cải tổ LHQ như thống nhất hành động, định hình lại lợi ích quốc gia, chấm dứt việc chia rẽ Bắc -Nam
Hiện nay ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về HTNĐ ứng phó với THTN nói chung cũng như sự tham gia của Liên Hợp Quốc trong vấn đề này
1.4 Nhận xét
Nhận xét chung
- Các công trình đã phản ánh sự đa dạng trong cách tiếp cận nghiên cứu về chủ nghĩa nhân đạo và HTNĐ: từ phương diện lý thuyết, thực tiễn hay theo quan điểm đạo đức, tôn giáo, chính trị quốc tế Tuy vậy, các nghiên cứu đều có nhận định chung
là HTNĐ cho dù được thực hiện bởi các cá nhân, IGO, NGO hay tổ chức nào đều hướng tới mục tiêu chung là giảm bớt sự đau khổ cho nạn nhân của các cuộc XĐVT hay THTN, bảo vệ tính mạng và phẩm giá cho họ Nét đặc trưng của HTNĐ đó là sự
tự nguyện cứu giúp những con người xa lạ ở quốc gia khác Chủ nghĩa nhân đạo gắn liền với “cộng đồng quốc tế” bằng sự dính kết của ba khái niệm: nhân văn, toàn cầu
và thế giới đại đồng (cosmopolitanism) Sự phát triển của chủ nghĩa nhân đạo và
HTNĐ đi cùng với sự biến động lịch sử trong nền chính trị quốc tế và chịu sự chi phối của ba nhân tố: bạo lực, sự phân hóa xã hội và tình thương yêu của cộng đồng
- Có nhiều ý kiến ủng hộ về mối quan hệ giữa HTNĐ và quyền lực với lý giải rằng một chủ thể muốn thực hiện HTNĐ có hiệu quả thì cần nắm trong tay các nguồn lực về nhân lực và vật lực, có thẩm quyền ra quyết định Bên cạnh đó, xuất hiện ý kiến ủng hộ và không ủng hộ về mối liên hệ giữa HTNĐ với chính trị Những
Trang 31ý kiến khác nhau đó xuất phát từ cách tiếp cận HTNĐ của các chủ thể khác nhau trong mạng lưới HTNĐ quốc tế
- LHQ cũng được nghiên cứu trong các công trình nói trên với tư cách là một
tổ chức trung lập và là một trong các chủ thể tham gia vào HTNĐ Các nghiên cứu
có nhận định chung là hoạt động HTNĐ của LHQ cũng chịu sự tác động chính trị vì lợi ích quốc gia của một số nước lớn tham gia với tư cách là nhà tài trợ hoặc thậm chí họ can dự trực tiếp vào HTNĐ bằng các biện pháp quân sự tại một số cuộc XĐVT Trong những trường hợp như vậy, tiếng nói và thẩm quyền của HĐBA LHQ đã bị vô hiệu Bên cạnh đó, các tác giả cũng đánh giá rằng trong vai trò là lực lượng gìn giữ hòa bình tại các quốc gia có bất ổn về an ninh và chính trị trong XĐVT trong những năm 1990, LHQ cũng không dễ dàng thực hiện HTNĐ do tính chất phức tạp trong nội bộ của quốc gia sở tại cũng như khó khăn trong việc huy động nguồn viện trợ Trong hoạt động HTNĐ sau THTN, các nghiên cứu cũng cho thấy LHQ cũng bị đánh giá là chưa phát huy được vai trò lãnh đạo và điều phối hoạt động trong một mạng lưới HTNĐ quốc tế mang tính cạnh tranh
- Tại Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu và đánh giá vai trò của LHQ trong hoạt động HTNT nói chung và ứng phó với THTN nói riêng Các công trình nghiên cứu của Việt Nam nêu trên chủ yếu tập trung phân tích tính chất pháp
lý của hành vi “can thiệp nhân đạo” hay “trách nhiệm bảo vệ” hay hoạt động nhân đạo của ICRC trong hoàn cảnh XĐVT
Những vấn đề chưa được làm rõ trong các nghiên cứu nói trên
- Về cách tiếp cận trong HTNĐ: Chưa có công trình nào đề cập đến cách tiếp cận về HTNĐ của LHQ là gì Để đánh giá về hiệu quả của các phương thức và biện pháp áp dụng trong HTNĐ của LHQ, cần xác định được cách tiếp cận của LHQ từ góc độ bảo đảm hòa bình và an ninh hay bảo vệ quyền con người
- Về phạm vi nghiên cứu: Các công trình nghiên cứu tập trung vào sự biến chuyển của chủ nghĩa nhân đạo cũng như thay đổi quan điểm về HTNĐ để giải quyết khủng hoảng nhân đạo trong XĐVT nhiều hơn, đặc biệt là sau Chiến tranh Lạnh Nghiên cứu về HTNĐ trong THTN chủ yếu là phân tích và đánh giá về các kết quả của việc thực hiện của mạng lưới HTNĐ quốc tế LHQ không phải là đối tượng
Trang 32nghiên cứu chính trong các công trình đó, LHQ chỉ được đề cập tới như là một trong các chủ thể của mạng lưới đó để thực hiện các hoạt động HTNĐ ở một số quốc gia
- Về nội dung nghiên cứu: Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ về hệ thống tổ chức, cơ chế và vai trò lãnh đạo, điều phối của LHQ trong lĩnh vực nhân đạo nói chung và trong hoàn cảnh THTN nói riêng trên phạm vi toàn cầu sau năm 2000
Những điểm kế thừa của Luận án
Các nghiên cứu về chủ nghĩa nhân đạo và lợi ích quốc gia là những gợi ý cho Luận án nghiên cứu cách tiếp cận HTNĐ dưới nhiều góc độ khác nhau (đạo đức, nhân văn, quyền con người, an ninh và phát triển) theo các lý thuyết về quan hệ quốc tế, từ đó xác định được cách tiếp cận của LHQ trong lĩnh vực này Đặc biệt với công trình nghiên cứu của Nina Gillmann đã gợi mở cho tác giả Luận án tìm hiểu về hệ thống tổ chức, cơ chế phối hợp và vai trò lãnh đạo, điều phối của LHQ
để thấy rõ hơn mối quan hệ nội bộ cũng như với bên ngoài của LHQ trong quá trình triển khai về HTNĐ cũng như các yếu tố tác động tới hiệu quả HTNĐ của LHQ
Những điểm phát triển của Luận án
Trang 33CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ NHÂN ĐẠO
CỦA LIÊN HỢP QUỐC ỨNG PHÓ VỚI THẢM HỌA THIÊN NHIÊN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về hỗ trợ nhân đạo
Ngay từ khi xã hội hình thành nên cộng đồng dân cư, tinh thần sẵn sàng giúp
đỡ người khác đang trong hoàn cảnh nguy cấp, khốn cùng của nghèo đói, bệnh dịch hay chiến tranh đã trở thành truyền thống trong đời sống xã hội Tình thương yêu hay lòng trắc ẩn muốn giúp đỡ đồng loại đang gặp rủi ro đã luôn tiềm ẩn trong mỗi con người cho dù sự giúp đỡ đó không đem lại lợi ích nào cho bản thân người giúp Nhiều người dựa vào triết lý đạo đức hay niềm tin tôn giáo để lý giải cho sự ứng xử nhân văn này Những ghi nhận trong lịch sử cho thấy việc giúp đỡ người khác trong những hoàn cảnh khó khăn đã rất phổ biến ở những thế kỷ trước công nguyên, đặc biệt là trong thời kỳ Hy lạp và La mã cổ [Walker, 2009, tr.32-34] Các hành động đạo đức được xem xét dưới tư tưởng triết học của Immanuel Kant, đó là mang bản chất tự nhiên tồn tại bên trong mỗi con người, thúc giục họ phải làm điều gì tốt đẹp
để giúp đỡ người khác và coi đó bổn phận cá nhân Những quan niệm về lòng từ thiện và sẵn sàng trợ giúp người yếu thế cũng được tìm thấy trong giáo lý của đạo
Cơ đốc, Phật giáo, đạo Hồi8
và Do thái9 Trên phương diện tôn giáo, các đạo này đều hướng các môn đệ của mình đến ý thức tôn trọng, cảm thông và chia sẻ nỗi đau của người khác Theo nhà xã hội học Emile Durkheim, tôn giáo có chức năng duy trì sự thống nhất đạo đức trong xã hội, góp phần củng cố sự đoàn kết và trách nhiệm chung giữa các thành viên trong một xã hội [Bellah, 1973, tr.159] Những người theo chủ nghĩa bình quyền cũng đề xướng thuyết về chuẩn mực đạo đức, trong đó xem đạo lý về sự quan tâm tới người khác là phản ánh sự tiến bộ về mặt đạo đức
8
Đạo Hồi quy định bắt buộc mỗi môn đệ phải có nghĩa vụ bố thí tài sản của mình cho người nghèo (Zakat)
Nghĩa vụ này được quy định trong Thiên Kinh Qu‟ran
hỗ trợ và tiền mặt cho những người nghèo hoặc đang trong tình trạng hiểm nguy có nhu cầu giúp đỡ
(Tzedaka) Đây là hành động được xem không chỉ là từ thiện mà còn có ý nghĩa công bằng và lẽ phải
Trang 34của con người10 Họ tự nguyện cống hiến sức lực và tài sản để cứu trợ người bị nạn
và coi hành động đó là trách nhiệm chung, nghĩa vụ lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng quốc tế Những giá trị đạo đức đó đã góp phần tạo tiền đề cho việc hình thành chủ nghĩa nhân đạo và hệ thống nhân đạo quốc tế sau đó Các nhà Lý thuyết Phê Phán cũng ủng hộ tư tưởng này và nhấn mạnh hơn đến sự chia sẻ nỗi đau khổ, cảm thông và đoàn kết tương trợ nhau, tạo ra một giá trị đạo đức phổ quát [Hoàng Khắc Nam 2017, tr.218-219]
Ý tưởng về giảm nhẹ nỗi đau của các nạn nhân trong chiến tranh hay thiên tai xuất phát từ tư tưởng từ thiện và lòng nhân đạo được cho là bắt nguồn từ châu Âu Vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, trong các cuộc chiến tranh giữa các nhà nước
- thành bang (city-states) ở Hy lạp cổ đại, người ta đã có những quy tắc không thành
văn về việc nhà nước - thành bang giành chiến thắng phải tôn trọng tù nhân và có các biện pháp để bảo vệ cho những người đang cứu giúp các nạn nhân chiến tranh Nhưng quy tắc này chỉ áp dụng trong các cuộc chiến tranh hoặc xung đột giữa các thành bang của Hy lạp cổ đại mà không áp dụng trong các cuộc chiến tranh giữa nhà nước Hy lạp cổ đại với những nước khác Vì thế các quy tắc nhân đạo của nhà nước Hy lạp cổ đại không phổ biến [Cahill.K, 2003, tr.4]
Từ thế kỷ XVII, châu Âu được tiếp nhận ý tưởng cách mạng và tư tưởng triết học của Descartes, Spinoza, Kant, Marx về con người với tư cách là từng cá nhân
và khái niệm “nhân đạo” được đề cập với tinh thần là tất cả phụ nữ và nam giới đều
là những con người bình đẳng và phải được đối xử như nhau, không có sự phân biệt
về thân phận [Cahill K 2003, tr.6] Tiếp thu những ý tưởng trên, từ cuối thế kỷ XVIII hàng loạt các hoạt động cứu trợ khẩn cấp như cung cấp dịch vụ y tế được thực hiện trong các cuộc cách mạng, chiến tranh bất kể người lính đó chiến đấu cho bên nào nhưng khi họ đã là phế binh thì họ phải được đối xử và chăm sóc như nhau Đáng chú ý là việc ký kết thỏa thuận đầu tiên giữa các bên tham chiến về việc sử dụng bệnh viện của nhau trong trận chiến ở Bethingen (Đức) năm 1743 giữa chính
10.
Đạo lý của sự quan tâm (ethics of care) là một trong những thuyết về chuẩn mực đạo đức do những người
theo chủ nghĩa bình quyền nam nữ nêu ra từ nửa cuối thế kỷ XX để soi xét hành động nào là đúng hoặc trái với đạo lý Thuyết này nhấn mạnh đến việc làm thế nào để giúp đỡ người khác hơn là trả lời cho câu hỏi cái
gì hợp lẽ phải của những người theo luận thuyết đạo đức về nghĩa vụ (deontological moral theories),
Trang 35phủ Pháp và Anh, tiếp theo là thỏa thuận giữa Tướng de Barail và Henry Seymour Conway trong cuộc chiến tranh Anh - Pháp kéo dài 7 năm (1756-1763) [Cahill.K,
2003, tr.7]
Phong trào Khai sáng ở phương Tây đã giúp cho việc chuyển đổi từ sự cảm thông và tấm lòng từ thiện của từng cá nhân dành cho những người yếu thế sang hành động tập thể để cố gắng làm giảm nỗi đau của những người đang gặp rủi ro trong hoàn cảnh chiến tranh hay thiên tai và ở bất cứ nơi nào trên thế giới, giúp hình thành một tình đoàn kết xuyên biên giới
Năm 1859, trận chiến Solferino ở miền Bắc Italia đã đánh dấu sự khởi nguồn hình thành thuật ngữ “HTNĐ” Henry Dunant, một thương gia Thụy sĩ, sau khi chứng kiến cảnh hàng vạn người lính bị chết, bị thương nằm la liệt trên chiến trường trong trận chiến giữa quân đội Pháp với Áo-Hung ở Ý nhưng không được
ai chăm sóc, ông đã kêu gọi dân làng ở những vùng xung quanh khu vực chiến trường tình nguyện làm tất cả những gì có thể để giúp đỡ những người lính đã bị loại khỏi cuộc chiến Họ phải được đối xử bình đẳng, nhân đạo và bảo hộ về tính mạng, thân thể và nhân phẩm mà không có sự phân biệt về quốc tịch, phe phái
Trong tác phẩm có tiêu đề “Kỷ niệm về Solferino” (A Souvenir of Solferino) xuất
bản năm 1862, Henri Dunant khẩn thiết kêu gọi thành lập các hội cứu trợ quốc tế
để cứu vãn mạng sống của các nạn nhân trong chiến tranh Cuốn sách gây xúc động mạnh mẽ ở châu Âu và đã thuyết phục được đại tướng Guillaume Henri Dufour và một số người bạn nữa cùng với Henri Dunant thành lập một ủy ban với mục đích đảm bảo chăm sóc y tế và trợ giúp cho những người bị thương trong chiến tranh Tại hội nghị ở Geneva vào ngày 17 tháng 2 năm 1863, đại diện của 17 nước đã thành lập “Ủy ban quốc tế cứu trợ những người bị thương” với quy chế là
tổ chức nhân đạo phi chính phủ quốc tế đầu tiên Việc thành lập Phong trào Chữ thập đỏ quốc tế vào ngày 26 tháng 10 năm 1863 và đại diện của 12 nước ký kết
“Công ước Geneva về cải thiện điều kiện cho người bị thương trong quân đội nơi chiến trường” đã ghi nhận chính thức về thuật ngữ “HTNĐ” trong điều ước quốc
tế, hình thành cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động HTNĐ mang tính chất có tổ chức và trên phạm vi quốc tế HTNĐ được quy định trong Công ước Geneva năm
Trang 361863 “bao hàm các nguyên tắc về tính thống nhất và lòng khoan dung trong các vấn đề chủng tộc, dân tộc và tôn giáo” [UNCHR 1998, tr.3], đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử nhân loại và là tiền đề cho sự hình thành các quy tắc và luật lệ trong chiến tranh và bảo vệ quyền con người
Năm 1875, ICRC tiếp tục phát triển Công ước Geneva để mở rộng phạm vi cứu trợ và bảo vệ cho nạn nhân của bất kỳ loại thảm họa do thiên tai hay con người gây ra ở bất kỳ nước nào và đang ở trong tình trạng khủng hoảng nhân đạo11
do chính quyền nước sở tại không đủ năng lực hoặc không muốn cứu giúp họ ICRC không nêu ra định nghĩa cụ thể về HTNĐ nhưng ICRC đã xác định ba vấn đề cơ
bản: thứ nhất, mục đích của HTNĐ là nhằm mục đích cứu sống, giảm nhẹ sự đau khổ và bảo vệ phẩm giá của các nạn nhân; thứ hai, ICRC hoạt động dựa vào bảy
nguyên tắc nhân đạo, vô tư, trung lập, độc lập, tự nguyện, thống nhất và toàn cầu;
thứ ba, thông qua Luật nhân đạo quốc tế12 Những đóng góp đó của ICRC đặt nền móng cho sứ mệnh, tầm nhìn và nguyên tắc hoạt động của mạng lưới HTNĐ quốc
để giúp các nạn nhân tạm thời khắc phục được sự thiếu thốn, đặc biệt là những đối
11
Khủng hoảng nhân đạo được định nghĩa là “một hay nhiều sự kiện thể hiện mối đe dọa lớn đến sức khỏe,
an toàn hoặc phúc lợi của cộng đồng hoặc một nhóm dân cư lớn, thường ở khu vực rộng” (United Nations
international strategy for disaster reduction (2007) “Terminology” www.unisdr.org/we/inform/terminology Khủng hoảng nhân đạo được xác định dựa vào đánh giá mức độ trầm trọng của việc không cung cấp đầy đủ
và kịp thời các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu như lều trại, khôi phục sớm, giáo dục, điều phối và quản lý trại tạm trú, an ninh lương thực, chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, nước và bảo vệ cho các nạn nhân của thảm họa (xem Key Humanitarian Indicators, https://interagencystandingcommittee.org/needs-assessment)
lĩnh vực hiện vẫn còn hiệu lực: các Công ước Geneva ngày 12/8//1949 về (i) cải thiện tình cảnh của những
người bị thương và bị bệnh thuộc các lực lượng vũ trang chiến đấu trên bộ (Công ước I); (ii) cải thiện tình cảnh của những người bị thương và bị bệnh và bị đắm tàu thuộc các lực lượng vũ trang trên biển (Công ước
II); (iii) đối xử với tù binh (Công ước III); (iv) bảo hộ dân thường trong thời kỳ chiến tranh (Công ước IV);
Trang 37tượng bị mất nhà cửa và buộc phải rời đi lánh nạn Nhưng sự hỗ trợ như vậy chưa thể giúp cho người dân và cộng đồng bị ảnh hưởng bởi THTN có thể khôi phục và trở lại cuộc sống bình thường
Theo quan điểm về phát triển, Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) của OECD cho rằng HTNĐ là một phần trong hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và ủng hộ mục đích của HTNĐ mà ICRC nêu ra, nhưng DAC mở rộng phạm vi hoạt động HTNĐ hơn so với định nghĩa của Viện luật quốc tế Theo đó, HTNĐ bao gồm ngăn chặn và sẵn sàng với thảm họa, cứu trợ phục hồi và tái thiết, phối hợp cứu trợ, cung cấp dịch vụ hỗ trợ và bảo vệ an ninh, viện trợ lương thực khẩn cấp và các loại cứu trợ khẩn cấp hay trong tình trạng hiểm nguy khác DAC gắn kết việc cứu trợ với khôi phục và tái thiết sau thảm họa để nhanh chóng chuyển sang giai đoạn phát triển Bên cạnh đó, DAC cho rằng cần xây dựng các chương trình và kế hoạch giảm rủi ro thảm họa để giúp cho việc cảnh báo sớm và giảm những cú sốc khi cộng đồng đối mặt với thiên tai DAC cũng cam kết tuân thủ nguyên tắc vô tư
và trung lập trong lĩnh vực HTNĐ, điều này đánh dấu sự cam kết của các nhà tài trợ DAC trong việc cung cấp nguồn tài chính cho HTNĐ mà không đòi hỏi bất kỳ điều kiện gì từ nước nhận viện trợ
Mặc dù LHQ xác định HTNĐ là thực sự cần thiết cho các nạn nhân của THTN
và các trường hợp khẩn cấp khác nhưng không đưa ra bất kỳ định nghĩa pháp lý nào
về HTNĐ Tuy vậy, định hướng phạm vi HTNĐ của hệ thống nhân đạo LHQ được thể hiện rõ trong Nghị quyết 46/182 của ĐHĐ LHQ năm 1991 là “hỗ trợ khẩn cấp phải được cung cấp theo những cách mà sẽ hỗ trợ cho việc khôi phục và phát triển lâu dài”, do vậy HTNĐ cần đi kèm với các cam kết về tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Các hoạt động HTNĐ của LHQ vẫn tập trung vào việc cứu trợ ngắn hạn nhưng các biện pháp hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân được xây dựng theo hướng kết nối với giai đoạn tái thiết và phát triển để giúp cho cộng đồng bị ảnh hưởng có khả năng chống chịu và thích ứng với các đợt thiên tai tiếp theo tốt hơn Đồng thời với định hướng trên, LHQ mong muốn các nhà tài trợ thay đổi tư duy và có sự gắn kết giữa các nguồn vốn cấp cho HTNĐ và viện trợ phát triển nhiều hơn, thậm chí xóa bỏ sự phân biệt giữa hai nguồn vốn này
Trang 38Sự gia tăng các tổ chức tư nhân và NGO tham gia vào lĩnh vực HTNĐ đã giúp hình thành nguyên tắc hành động hợp với lẽ phải, góp phần thúc đẩy hành động yêu thương của cá nhân trở thành trách nhiệm tập thể Khoa học kỹ thuật phát triển đã thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, nhà nước chú ý hơn đến cải cách xã hội và cải thiện điều kiện sống của người dân Nhà nước cung cấp nhiều phúc lợi xã hội góp phần thúc đẩy lòng thiện chí của chính nhà nước và người dân của mình, sẵn sàng cung cấp nhiều loại hình viện trợ và bảo vệ cho các nạn nhân của thảm họa ở đất nước khác trên tinh thần vừa tự nguyện vừa là trách nhiệm của nhà nước trong quan hệ quốc tế Bên cạnh đó, bốn trong bảy nguyên tắc hoạt động của ICRC bao gồm nhân đạo, vô tư, trung lập, độc lập được xem là kim chỉ nam cho hoạt động HTNĐ quốc
tế trở nên chuyên nghiệp hơn, góp phần xây dựng một trật tự trong việc cung cấp sự
hỗ trợ đến các nạn nhân Sự biến chuyển này góp phần hình thành nên tính chất và mục đích của quản trị toàn cầu trong một thế giới đoàn kết, trong đó những nạn nhân của khủng hoảng nhân đạo được đặt ở vị trí trung tâm của HTNĐ quốc tế Giá trị nhân văn trong HTNĐ không bị giới hạn bởi ý nghĩa bổn phận đạo lý của con
người về hành động đó đúng hay sai theo luận thuyết về nghĩa vụ (deontological theory) mà trở nên hiện thực hơn theo thuyết vị lợi (utilitarianism) là làm thế nào để
hướng tới một kết quả tốt đẹp hơn cho số đông những người cần được giúp đỡ Jeremy Bentham13 đã nói “hành động hay chính sách đúng là cái mà đem lại hạnh phúc lớn hơn cho nhiều người hơn, điều đó làm gia tăng tối đa các ích lợi hoặc phúc lợi của nhiều người cho các nạn nhân” là nền tảng cho chuẩn mực đạo đức và pháp
lý Ý kiến này trùng hợp với với quan điểm của các nhà lý tưởng chủ nghĩa khi họ tin rằng bản chất con người là vị tha và sẵn sàng giúp đỡ người yếu thế hơn Do vậy thông qua giáo dục đạo đức và sự nhận thức của cá nhân, mọi người có thể hợp tác với nhau không chỉ giới hạn ở trong phạm vi một nhà nước mà có thể mở rộng ra giữa các quốc gia với nhau thông qua các thể chế quốc tế và pháp luật quốc tế Lợi ích của các quốc gia cũng cần đưa chia sẻ thông qua sự hợp tác để gìn giữ an ninh
và hòa bình chung Kết quả của HTNĐ phải làm thay đổi tình trạng hiện có của các
13
Trang 39nạn nhân theo hướng tốt hơn Do đó, giá trị phổ quát của HTNĐ được chứng minh bằng tinh thần tương trợ, tính cộng đồng, bao gồm các nghĩa vụ chung và trách nhiệm đạo đức giữa các thành viên và trên tinh thần có đi có lại phù hợp với tư tưởng của các nhà lý thuyết Kiến tạo
Có thể khẳng định là HTNĐ đã kế thừa những tư tưởng và giá trị về đạo đức
và tính nhân văn của tình yêu thương con người và các hành động từ thiện trong xã hội nhưng có sự phát triển, mở rộng phạm vi không gian của sự giúp đỡ: đó là sự tự nguyện cứu giúp những người ở đất nước khác khi họ lâm vào tình thế khẩn cấp và
có yêu cầu được hỗ trợ Nhờ đó, chủ nghĩa nhân đạo trong QHQT đã được hình thành Hỗ trợ và bảo vệ các nạn nhân của thảm họa là hai trụ cột chính của HTNĐ Tinh thần tự nguyện sẵn sàng giúp đỡ các nạn nhân của thảm họa ở bất kỳ quốc gia nào theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, vô tư, trung lập và độc lập trong hoạt động của các tổ chức đã tạo nên bản sắc riêng của HTNĐ quốc tế, đồng thời phản ánh giá trị đạo đức và pháp lý trong việc xây dựng các chuẩn mực ứng xử của hệ thống hỗ trợ nhân đạo quốc tế
2.1.1.2 Khái niệm về ứng phó với thảm họa thiên nhiên
Cuộc sống của chúng ta đang phải đối mặt với nhiều hiện tượng thời tiết bất thường Các mùa mưa bão đã không còn hoạt động theo quy luật Thiên tai ngày càng nhiều và dữ dội hơn ở khắp các châu lục Các quan điểm truyền thống về nguyên nhân gây ra thiên tai là do các yếu tố tự nhiên hay gọi đó là “hành động của
Chúa trời” (act of God) đã không được chấp nhận khi sự tác động tiêu cực của con
người vào môi trường sống đã vượt quá mức Biến đối khí hậu và suy thoái môi trường làm gia tăng hiểm họa tự nhiên (động đất, sóng thần, núi lửa phun, bão lốc,
lũ lụt, hạn hán v.v) và đặt ra nhiều thách thức cho cuộc sống của con người và sinh vật trên trái đất Nguy cơ đối mặt với các tổn thất về tính mạng, tài sản đã làm cho vấn đề bảo đảm an ninh con người trở thành mối quan tâm chính trị toàn cầu Thảm họa bắt nguồn từ các mối hiểm họa tự nhiên thường để lại hậu quả là “sự gián đoạn nghiêm trọng trong hoạt động của cộng đồng hay một xã hội kéo theo nhiều thiệt hại và tác động lan rộng đến con người, vật chất, kinh tế và môi trường mà vượt quá khả năng đối phó của cộng đồng hoặc xã hội bị ảnh hưởng” [UNISDR, 2009, tr.13]
Trang 40Vào đầu những năm 1970, có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng tổn thất về tính mạng và tài sản trong THTN tăng trong khi số lượng thiên tai xảy ra hàng năm không thay đổi nhiều và có cường độ tương tự Các nhà nghiên cứu đã đề xuất loại
bỏ “tính tự nhiên” ra khỏi các mối hiểm họa tự nhiên và chỉ ra rằng hệ thống xã hội
là nguyên nhân của các tổn thất và thiệt hại phát sinh từ THTN Họ đưa ra nhận xét sau khi có những quan sát cụ thể là hầu hết những người dễ bị tổn thương phải chịu đau khổ nhiều nhất trong các THTN [Gillespie D., 2010, tr.5] Thực tế cũng đã chứng minh là THTN xảy ra nhiều hơn ở các nước kém phát triển hoặc ở những vùng có điều kinh tế xã hội khó khăn hoặc do sự yếu kém về năng lực quản lý của chính quyền Người dân phải sống ở những khu vực cạnh sông suối thường phải chịu lũ lụt và sạt lở đất, hay sống ở những khu vực có nguy cơ động đất hay núi lửa thì nguy cơ dễ gặp rủi ro trước thiên tai càng lớn Nhìn nhận dưới góc độ kinh tế chính trị có thể thấy môi trường xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự an toàn của người dân Những hạn chế về tiếp cận thông tin, sự phân chia không đều các nguồn phúc lợi và bảo trợ xã hội, cơ hội tìm kế sinh nhai, quyền sử dụng đất đều có liên quan đến tính dễ bị tổn thương và năng lực chống chịu với THTN của người dân Những người yếu thế là đối tượng dễ bị tổn thương và thường xuyên phải hứng chịu rủi ro lặp đi lặp lại và ngày càng nghiêm trọng hơn nếu nhà nước không có chính sách bảo trợ hợp lý và kịp thời Nhiều ý kiến thống nhất là tính dễ bị tổn thương của con người trước THTN bắt nguồn từ hai nguyên nhân kết hợp với nhau, đó là cấu trúc
xã hội (như vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, quản lý môi trường, phân chia giai cấp, bất bình đẳng giới v.v.) và từ hoàn cảnh cụ thể của cá nhân (như địa vị xã hội, điều kiện sống, sinh kế) [Gillespie 2010, tr.8] Do đó, không nên xem xét THTN là một hiện tượng tự nhiên đơn giản mà là kết quả của ba yếu tố xã hội, công nghệ và môi trường Như vậy, các nhà nghiên cứu đã có sự thay đổi cách nhìn nhận về THTN, từ
sự phân tích mối liên hệ của ba yếu tố riêng biệt chuyển sang mối liên hệ giữa ba yếu tố tương tác lẫn nhau để đánh giá điều kiện sống an toàn của con người trước thiên tai Sự thay đổi đó cũng giúp cho quốc gia bị ảnh hưởng bởi THTN định hình
kế hoạch hỗ trợ theo hướng không chỉ khắc phục hậu quả mà cần tạo điều kiện để giúp cho người dân có thể ổn định cuộc sống và kế sinh nhai càng sớm càng tốt nhằm giảm nguy cơ rủi ro trước các đợt thiên tai tấn công trong tương lai