1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu phát triển du lịch huyện Sóc Sơn, Hà Nội : Luận văn ThS. Du lịch (chương trình đào tạo thí điểm)

153 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, Sóc Sơn còn có rất nhiều di tích lịch sử, văn hoá gắn với các lễ hội truyền thống, trong đó phải kể đến cụm di tích lịch sử đền Sóc gắn với lễ hội Gióng được UNESSCO công nh

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội

tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Nguyễn thị thu h-ơng

NGHIÊN CứU phát triển du lịch

huyện sóc sơn, hà nội

chuyên ngành: Du lịch (Ch-ơng trình đào tạo thí điểm)

luận văn thạc sĩ du lịch

ng-ời h-ớng dẫn khoa học: pgs.ts phạm quốc sử

Hà Nội, 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình

từ các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè cả về tinh thần cũng như kiến thức khoa học

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Phạm Quốc Sử - người đã hướng dẫn tận tình, tạo cho học viên động lực nghiên cứu

Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Du lịch học - Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã đào tạo tôi trong quá trình học tập tại khoa từ bậc đại học đến bậc cao học

Cuối cùng học tôi gửi lời cảm ơn tới bạn bè và gia đình của tôi đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi vượt qua những quãng thời gian khó khăn nhất

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu phát triển du lịch

huyện Sóc Sơn, Hà Nội” là một công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân

tôi Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều chính xác Các kết luận khoa học chƣa đƣợc công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Kết cấu luận văn 7

Chương 1: CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN SÓC SƠN 8

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội huyện Sóc Sơn 8

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 8

1.1.2 Điều kiê ̣n kinh tế – xã hội 10

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển huyện Sóc Sơn 13

1.2.1 Quá trình hình thành 13

1.2.2 Lược sử kinh tế và văn hoá 15

1.3 Tài nguyên du lịch 17

1.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 18

1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 23

Chương 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LI ̣CH HUYỆN SÓC SƠN 48

2.1 Cơ sở hạ tầng du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 48

2.1.1 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 48

2.1.2 Cơ sơ ̉ vật chất kỹ thuật du li ̣ch 53

2.2 Các điều kiện khác 55

2.2.1 Vê ̣ sinh môi trường 55

2.2.2 An ninh trật tự 56

2.3 Thư ̣c tra ̣ng hoa ̣t đô ̣ng du li ̣ch huyê ̣n 56

2.3.1 Thị trường khách du lịch 56

2.3.2 Thu nhâ ̣p từ du li ̣ch 58

2.3.3 Lao đô ̣ng trong ngành du li ̣ch 60

2.3.4 Sản phẩm du lịch 62

Trang 5

2.3.5 Công tác quy hoạch và đầu tư phát triển du lịch: 62

2.3.6 Nguyên nhân của những hạn chế và thuâ ̣n lợi, khó khăn trong hoạt động du lịch huyện Sóc Sơn 63

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LI ̣CH HUYỆN SÓC SƠN 69

3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 69

3.1.1 Quan điểm phát triển 69

3.1.2 Mục tiêu phát triển 70

3.2 Một số giải pháp phát triển du lịch huyện Sóc Sơn 70

3.2.1 Giải pháp xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch 72

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện , phát triển cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch 77

3.2.3 Giải pháp đa ̀ o tạo nguồn nhân lực và giáo dục cộng đồng 83

3.2.4 Giải pháp đầu tư pha ́ t triển du li ̣ch 85

3.2.5 Giải pháp xây dựng và phát triển thị trường 87

3.2.6 Giải pháp khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên du lịch 87

3.2.7 Giải pháp về hoạt động tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá 93

3.2.8 Giải pháp về công tác quản lý 96

3.2.9 Giải pháp về cơ chế, chính sách 100

3.2.10 Giải pháp tăng cường hợp tác liên kết 101

3.2.11 Giải pháp về các nguồn vốn đầu tư 101

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 103

1 Kiến nghị với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội 103

2 Kiến nghị với UBND huỵên 103

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

2.2 Thống kê số lƣợng khách và doanh thu tại khu vực Đền Sóc Sơn 59

2.3 Cơ cấu lao động theo ngành trên địa bàn huyện Sóc Sơn 60

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sóc Sơn là huyện ngoại thành Hà Nội có nhiều lợi thế về mặt địa lý, cách Hà Nội 30km theo đường cao tốc Bắc Thăng Long – Nội Bài, có sân bay Quốc tế Nội Bài, có nhiều đầu mối giao thông quan trọng

Về cảnh quan thiên nhiên, Sóc Sơn là vùng đất gò đồi, có nhiều hồ nằm trên núi, phong cảnh hữu tình là một tiềm năng rất lớn về du lịch sinh thái, du lịch nghỉ ngơi cuối tuần Bên cạnh đó, Sóc Sơn còn có rất nhiều di tích lịch

sử, văn hoá gắn với các lễ hội truyền thống, trong đó phải kể đến cụm di tích lịch sử đền Sóc gắn với lễ hội Gióng được UNESSCO công nhận là Di sản thế giới phi vật thể nhân loại năm 2010 – là một tài nguyên vô cùng quí giá cho việc phát triển du lịch tâm linh

Hiện tại, Sóc Sơn đã và đang thực hiện một số dự án như: khu du lịch nghỉ ngơi cuối tuần đền Sóc; khu dự án Lâm Viên; Tổ hợp khu du lịch và sân gôn Minh Trí; dự án xây dựng các khu du lịch ở hồ Đồng Đò, Hàm lợn Đây

là những lợi thế cơ bản của huyện, nếu đặt Sóc Sơn trong quan hệ mở với các quận, huyện khác và đặt Sóc Sơn trong xu thế bùng nổ về nhu cầu du lịch nghỉ ngơi cuối tuần của dân cư nội thành Hà Nội thì Sóc Sơn sẽ đóng vai trò quan trọng đối với Thủ đô Hà Nội trong tương lai, khi thành phố có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, các trung tâm thương mại, dịch vụ phát triển, khi mật độ dân số tăng cao

Năm 2012, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Sóc Sơn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được phê duyệt Quy hoạch tổng thể huyện Sóc Sơn là cụm công nghiệp và đô thị phát triển tầm cỡ có nhiều đóng góp cho phát triển chung của Hà Nội trong đó chú trọng chuyển dịch ngành kinh tế theo hướng công nghiệp – dịch vụ là chính

Để đảm bảo sự phát triển nhất quán trong phát triển kinh tế - xã hội trên điạ bàn huyện nói riêng và sự thống nhất trong phát triển chung ngành du lịch

Trang 8

của thành phố và quốc gia, đồng thời, để đảm bảo tốt việc phát triển du lịch trên địa bàn theo hướng bền vững,việc nghiên cứu phát triển du lịch Sóc Sơn

là yêu cầu cần thiết nhằm phát triển du lịch Sóc Sơn thành ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội của huyện Xuất phát từ yêu

cầu đó, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch huyện

Sóc Sơn, Hà Nội” làm luận văn Thạc sỹ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay, chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu về phát triển du lịch huyện Sóc Sơn Do vậy, luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên và có ý nghĩa gợi mở cho du lịch của huyện Sóc Sơn phát triển Luận văn tập trung vào việc xác định sản phẩm chính, mang tính đặc thù trên cơ sở phát huy hiệu quả khai thác các tài nguyên du lịch một cách tối đa Từ đó đưa ra được các giải pháp và đề xuất hữu hiệu cho việc phát triển du lịch trên địa bàn huyện

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch huyện Sóc Sơn, Hà Nội” là nhằm cụ thể hoá các chủ trương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện đối với phát triển du lịch theo hướng bền vững và đưa ra các giải pháp tăng cường hiệu quả, tạo cơ sở thống nhất trong hoạt động quản lý, khai thác tiềm năng và kinh doanh du lịch của huyện, nâng cao

vị thế và sức cạnh tranh của du lịch Sóc Sơn đối với du lịch của thủ đô và du lịch của cả nước

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu tài nguyên du lịch (tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn) từ đó đưa ra những đánh giá chung về điều kiện và

tiềm năng phát triển du lịch của huyện Sóc Sơn

Trang 9

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch huyện Sóc Sơn, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch huyện Từ đó đưa ra được

những giải pháp và đề xuất cho phát triển du lịch huyện Sóc Sơn trong tương lai

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Là tất cả các yếu tố liên quan đến sự phát triển du lịch của huyện Sóc Sơn, đó là:

- Tài nguyên du lịch (Tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn);

- Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch;

- Quản lý du lịch;

- Sản phẩm du lịch;

- Nhân lực du lịch

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu các đối tượng thuộc địa giới toàn

bộ địa lý hành chính huyện Sóc Sơn, trong mối quan hệ với các vùng du lịch

lân cận và du lịch Thủ đô Hà Nội

- Về thời gian: Luận văn quan tâm đến tình hình phát triển du lịch huyện Sóc Sơn từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu, phương pháp nghiên cứu thực địa, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp bản đồ, phương pháp phân tích tổng hợp và lấy ý kiến chuyên gia

6 Đóng góp của luận văn

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về vấn đề phát triển du lịch cho huyện Sóc Sơn nên công trình có tính thực tiễn cho sự phát kinh tế - xã hội nói chung và phát triển du lịch nói riêng của huyện Sóc sơn

Trang 10

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu tiềm năng du lịch của huyện, thực trạng hoạt động du lịch của huyện và từ đó đưa ra các giải pháp mang tính thực tế nhằm khai thác tài nguyên du lịch một cách hiệu quả

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Các điều kiện phát triển du lịch huyện Sóc Sơn

Chương 2: Hiện trạng phát triển du lịch huyện Sóc Sơn

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch huyện Sóc Sơn

Trang 11

Chương 1 CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN SÓC SƠN 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội huyện Sóc Sơn

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí, cương vực

Huyện Sóc Sơn là huyện ngoại thành, nằm ở phía Bắc của Thủ đô Hà Nội cách khu vực trung tâm thành phố Hà Nội 35km Trong ranh giới hành chính huyện Sóc Sơn có diện tích tự nhiên khoảng 30.651.30ha, bao gồm 25

xã và 01 thị trấn

+ Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên

+ Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc

+ Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh

+ Phía Nam giáp huyện Mê Linh và huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Vị trí địa lý của huyện là thế mạnh của vùng cho việc giao lưu hàng hóa, hoạt động thương mại, phát triển kinh tế và đặc biệt là cho việc phát triển

du li ̣ch Cụ thể, khoảng cách đến nguồn gử i khách được rút ngắn , đồng nghĩa với viê ̣c khách du li ̣ch sẽ không phải chi thêm tiền cho viê ̣c đi la ̣i và khách sẽ kéo dài thời gian lưu trú tại nơi du lịch vì thời gi an đi la ̣i mất ít Rõ ràng, sự thuâ ̣n lợi về vi ̣ trí sẽ hấp dẫn khách du li ̣ch đến với Sóc Sơn nhiều hơn khi thời gian đi du li ̣ch là ngắn ngày

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Trang 12

vùng trũng ven sông Cấu tạo địa chất phần lớn được tạo thành nhờ quá trình bồi tụ và lắng động phù sa của hệ thống sông Cầu, sông Công, sông Cà Lồ

*) Thơ ̀ i tiết, khí hậu

Sóc Sơn nằm ở chân đuôi dãy nú i Tam Đảo về phía Đông Nam nên có

đă ̣c điểm khí hâ ̣u trung du và đồng bằng Bắc Bô ̣ Tuy nhiên, do yếu tố đi ̣a hình đã tạo cho các thềm chân núi có nhiệt độ thấp hơn vùng kế cận 4-5 đô ̣ và mùa đông ấm áp hơn do có núi che chắn

Nhiê ̣t đô ̣ bình quân: 23,50

C Lượng mưa bình quân: 1680mm/năm

Độ ẩm trung bình trong năm 85%

Hướng gió chủ đa ̣o : gió Đông Nam vào mùa hè và gió Đông Bắc vào mùa đông

Nhìn chung, Sóc Sơn có khí hậu điều hòa , mùa đông không quá lạnh, mùa hè không quá nóng , đô ̣ ẩm vừa phải , không khí ban ngày dễ chi ̣u , ban đêm mát mẻ Mùa mưa ở Sóc Sơn thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mưa trong mùa thường là mưa rào , mưa giông trong thời gian ngắn , do đó ít ảnh hưởng đến hoa ̣t đô ̣ng du li ̣ch cuối tuần, du li ̣ch nghỉ dưỡng

*) Đất đai

Sóc Sơn là một trong những huyện có diện tích đất tự nhiên lớn nhất thành phố Hà Nội Theo số liệu từ cục Thống kê Sóc Sơn, quỹ đất của huyện Sóc Sơn là 30.651,3 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 18.000,83 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 11.592,48 ha

Trang 13

Bảng 1.1: Bảng hiện trạng sử dụng đất huyện Sóc Sơn

2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 1.486,61 4,85

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Sóc Sơn đến năm 2011

*) Sông ngòi - thuỷ văn:

Huyện Sóc Sơn có 3 tuyến sông chính, bao gồm sông Cà Lồ chảy qua phía Nam, sông Cầu bao quanh phía Đông và sông Công chảy qua phía Bắc

Hệ thống sông ngòi thuận lợi tạo điều kiện cho Sóc Sơn phát triển vận tải thuỷ

và đáp ứng được một phần nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp

*) Cảnh quan thiên nhiên:

Huyện Sóc Sơn có nhiều hồ ở vùng đồi gò như Hàm Lợn, Đồng Đò, Đồng Quan, Cầu Bãi… Các hồ này thường nằm bên núi, phong cảnh hữu tình cùng với vùng gò đồi rộng lớn, tạo ra lợi thế lớn cho huyện trong việc phát triển du lịch danh lam thắng cảnh và du lịch sinh thái

1.1.2 Điều kiê ̣n kinh tế – xã hội

*) Dân số và lao động 1 :

Tính đến cuối năm 2011 tổng dân số trung bình trên địa bàn huyện là 296.416 người với 73.686 hộ

1

Số liệu thống kê năm 2011 của Chi cục Thống kê huyện Sóc Sơn

Trang 14

Lực lượng lao động của huyện chiếm tỷ lệ tương đối cao trong tổng

dân số Năm 2011, toàn huyện có 199.264 lao động, chiếm tỷ lệ 67,7% dân số trong đó chủ yếu là lao động thuần nông

Chất lượng lao động, số lao động có trình độ chuyên môn tại thời điểm năm 2011 như sau:

Tiến sỹ: 6 người chiếm 0,003% lực lượng lao động toàn huyện

Thạc sỹ: 64 người chiếm 0,027% lực lượng lao động toàn huyện;

Cử nhân: 5446 người chiếm 2,27% lực lượng lao động toàn huyện Trình độ cao đẳng: 6.072 người chiếm 2,53% lực lượng lao động toàn huyện; Trình độ trung học chuyên nghiệp: 14.115 người chiếm 5,88% lực lượng lao động toàn huyện;

Lao động chưa qua đào tạo: 116.816 người chiếm 48,71 % lực lượng lao động

Qua số liệu trên cho thấy chất lượng lao động của huyện chưa cao Tuy nhiên, đây chính là lực lượng lao động tiềm năng khi hoạt động du lịch – dịch

vụ phát triển.

*) Cơ cấu kinh tế:

Quy mô khu vực kinh tế trên địa bàn huyện Sóc Sơn thể hiện qua bảng 1.2 Tổng giá trị sản xuất năm 2010 của toàn huyện đạt hơn 6.635 tỷ đồng, trong đó, các ngành nông lâm thủy sản, xây dựng cơ bản và dịch vụ, vận tải

có đóng góp tương đương Tổng giá trị sản xuất năm 2011 đạt hơn 8.091 tỷ đồng trong đó ngành sản xuất công nghiệp chiếm sản lượng gấp đôi so với các ngành còn lại thể hiện được tiềm năng chính của huyện Sóc Sơn đó là phát triển công nghiệp công nghệ cao Bên cạnh đó các ngành nông lâm thủy sản, dịch vụ, vận tải, và xây dựng cơ bản cũng có đóng góp đáng kể vào tổng giá trị sản xuất

Trang 15

Bảng 1.2: Cơ cấu kinh tế huyện Sóc Sơn năm 2010 -2011

tính

Thực hiên

% so sánh Năm

2010

Năm

2011

1 Ngành nông, lâm nghiệp thuỷ sản Triệu đồng 1.160.152 1.508.855

2 Ngành CN - TCN Triệu đồng 2.674.510 3.023.840

3 Ngành xây dựng cơ bản Triệu đồng 1.335.833 1.703.010

4 Ngành thương nghiệp dịch vụ Triệu đồng 1.091.806 1.380.217

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Sóc Sơn năm 2011

*) Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa ho ̣c – công nghê ̣ 22

Trên địa bàn huyện hiện có 104 trường học, trong đó: 30 trường mầm non (28 công lập, 02 dân lập, 33 trường tiểu học, 27 trường THCS, 14 trường THPT và bổ túc văn hóa) Mạng lưới trường học trên địa bàn huyện đã được đầu tư xây dựng, chất lượng giảng dạy đã được nâng cao, đem lại nhiều nét mới so những năm trước đây nhưng so với yêu cầu phát triển của ngành giáo dục và thành phố thì hệ thống giáo dục của huyện cơ sở vật chất còn sơ sài, phòng học chức năng còn thiếu, cơ sở vật chất, thiết bị còn lạc hậu

Mạng lưới y tế phân bổ chưa đều nên không đáp ứng được hết nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, đặc biệt là những xã ở xa trung tâm Trên địa bàn huyện có 01 bệnh viện đa khoa, 01 trung tâm y tế, 05 phòng khám đa

2 Báo cáo kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn năm 2013

Trang 16

khoa khu vực, 26 trạm y tế xã, thị trấn và 184 cơ sở ngành hàng nghề y dược

tư nhân

Các ngành thương mại, dịch vụ có bước phát triển theo hướng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân Tuy nhiên các doanh nghiệp thương mại còn ít, quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu dưới hình thức kinh tế hộ gia đình Đặc biệt các chợ nông thôn, chợ quê chưa được quan tâm đầu tư Trên địa bàn hiện có 13 chợ trong đó có 3 chợ trung tâm thuộc loại 2 và 10 chợ nông thôn với khoảng 3.888 hộ kinh doanh Ngoài 3 chợ: Nỷ, Phù Lỗ, Sóc Sơn được xây dựng kiên cố, các chợ còn lại chủ yếu là tranh tre, lều lán tạm

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển huyện Sóc Sơn

1.2.1 Quá trình hình thành 3

Sóc Sơn là đất của hai huyện Đa Phúc và Kim Anh thuộc tỉnh Vĩnh Phú Tháng 7/1977, hai huyện hợp nhất và lấy tên mới là huyện Sóc Sơn Ngày 01/4/1979, huyện Sóc Sơn được chuyển giao về trực thuộc Thủ đô Hà Nội

Đa Phúc xưa từ đời Trần và thời thuộc Minh gọi là Tân Phúc thuộc tỉnh Bắc Giang Đời Lê đổi thành Thiên Phúc Đầu đời Nguyễn mới đổi thành Đa Phúc thuộc phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc Thành phủ Đa Phúc được xây dựng năm 1938 ở khu vực hai thôn Tiên Tảo và Ngọc Hà ở xã Việt Long và Xuân Giang ngày nay, đến năm 1907 chuyển lên khu vực làng Bình Kỳ (xã Trung Giã ngày nay) và sau này chuyển tiếp về khu vực Lạc Long (nay thuộc địa phận xã Tiên Dược, xã Phù Linh và Thị trấn Sóc Sơn)

Kim Anh nguyên là đất Đại Hành, nằm trong trấn Cổ Pháp Từ thời Lý, huyện thuộc phủ Thiên Đức Thời Trần huyện thuộc phủ Đông Ngàn, châu

Vũ Ninh, lộ Bắc Giang Đến đời Hậu Lê, Kim Anh thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc Về sau khu vực thuộc huyện Kim Anh được đổi tên thành Kim Hoa, thuộc tỉnh Bắc Ninh Năm 1901, huyện Kim Anh thuộc

3 UBND huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Lịch sử hình thành huyện Sóc Sơn, sđđ, tr 10.

Trang 17

tỉnh Phù Lỗ, sau là tỉnh Phúc Yên.Trước đây huyện lỵ Kim Anh đặt ở làng Hương Gia (xã Phú Cường) Từ năm 1907, huyện lỵ đặt ở Thạch Lỗi (xã Thanh Xuân ngày nay)

Sóc Sơn là vùng đất có lịch sử lâu đời, trải qua hàng ngàn năm kiến tạo

đã nhiều lần thay đổi về tên gọi, địa giới hành chính, thay đổi về châu, tỉnh trực thuộc Sóc Sơn cũng là mảnh đất nối hai quốc đô xưa nhất của nước ta là thành Phong Châu, kinh đô nước Văn Lang và thành Cổ Loa, kinh đô nước

Âu Lạc Con người Sóc Sơn trưởng thành từ thời đại các vua hùng dựng nước

và giữ nước Vào thời Hùng Vương thứ VI, giặc Ân sang xâm lược nước Văn Lang Thế giặc mạnh, quân dân Sóc Sơn nằm trong tuyến lửa phải chịu biết bao gian khổ và chiến đấu ác liệt Nhân dân Sóc Sơn đã góp phần cùng nhân dân cả nước đánh tan quân xâm lược nhà Ân, giữ nước Văn Lang Sự nghiệp anh hùng đó đến nay vẫn còn dấu tích mà sự ra đời của Đền Sóc - thờ Thánh Gióng và ghi dấu chiến công oanh liệt của Ngài là một điển hình Cụ thể, sau khi dẹp tan giặc Ân, mang lại thái bình cho đất nước, Thánh Gióng đã dừng chân trên đỉnh núi Sóc Sơn ngắm nhìn tạm biệt quê hương rồi phi ngựa sắt bay thẳng về trời Để ghi nhớ công ơn vị anh hùng huyền thoại Thánh Gióng, nhân dân địa phương đã lập đền thờ Ngài ngay tại chân núi Sóc thuộc làng Vệ Linh, xã Phù Linh ngày nay Qua các tài liệu thành văn, khẩu truyền các chứng tích còn lại thì khoảng một nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân Sóc Sơn đã chiến đấu rất anh dũng Đến thời kỳ khôi phục độc lập dân tộc kể từ chiến thắng Bạch Đằng thời Ngô Quyền về sau, nhân dân Sóc Sơn hăng hái tham gia các cuộc kháng chiến chống quân Tống, Nguyên, Thanh, Minh lập nhiều công lớn Trong cuộc kháng chiến chống Tống lần I ở thế kỷ X, dân Vệ Linh

đã cung cấp lương thực cho quân sỹ và cùng quân nhà vua đánh tan giặc Tống, góp phần vào chiến thắng Vũ Nhai Đời vua Trần Nhân Tông chống quân xâm lược Nguyên năm 1218 ở vị trí cầu Phù Lỗ bắc qua sông Cà Lồ trên quốc lộ 3 nhân dân Sóc Sơn và nhân dân cả nước cùng vua Trần đánh thắng giặc Nguyên Thời kỳ chống Pháp giữa thế kỷ XIX, vùng Sóc Sơn ban đầu do

Trang 18

một số tướng của Đề Thám như Cả Huỳnh, Cả Đinh, Ba Liều mang một số quân về đóng, nhân dân Sóc Sơn hết lòng giúp đỡ lương thực và khí giới Dần dần trai tráng trong các làng cũng tham gia vào nghĩa quân của Đề Thám và ngay trên mảnh đất Sóc sơn cũng diễn ra nhiều trận đánh Pháp ác liệt: Trận Hiền Lương, trận Lập Trí, trận Xuân Lai (1908), trận Núi Hàm Lợn (1909) Trở lại xâm lược nước ta lần 2, thực dân Pháp đã xây dựng vành đai trắng dày đặc đồn bốt, để canh giữ vòng ngoại thành Hà Nội Hiệp định Giơnevơ được

ký, xã Trung Giã - Sóc Sơn là nơi tiến hành hội nghị Việt Pháp về quân sự để thực hiện kế hoạch giải phóng thủ đô 10/10 năm 1954.Trong thời kỳ chiêế tranh chống Mỹ cứu nước, Sóc Sơn nằm giữa hợp điểm hai quốc lộ 2 và quốc

lộ 3 và có sân bay nên thường xuyên bị máy bay địch chống phá, ném bom ác liệt Phối hợp với lực lươợn phòng không, không quân, 9 máy bay phản lực Hoa Kỳ đã bị hạ trên vùng trời phía Bắc thủ đô này Quân và dân Sóc Sơn có hàng vạn ngày công sửa chữa đuờng băng, đắp ụ chiến đấu cho pháo, tên lửa, đào hào giao thông trong sân bay Huyện Sóc Sơn đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Từ khi có Đảng, nhân dân Sóc Sơn sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng Ngày 17/3/1933 chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên của tỉnh Vĩnh Phúc và cả vùng nông thôn phía Bắc của Hà Nội thành lập Sóc Sơn là nơi có nhiều cơ sở cách mạng của Trung Ương hoạt động như: Xuân Kỳ, Xuân Bảng, Bình Phú Nhiều cán bộ của Trung ương như đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Đôc Mười, Lê Quang Đạo, Đào Duy từ cũng về Sóc Sơn hoạt động cách mạng

1.2.2 Lược sử kinh tế và văn hoá 4

Sóc Sơn là huyện thuộc vùng trung du, địa hình đa dạng, phong phú tài nguyên, sản xuất nông nghiệp Trong sản xuất nông nghiệp, chủ đạo là trồng lúa nước, ngoài ra, nhân dân còn trồng các loại cây hoa màu như: ngô, khoai,

4

UBND huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Lịch sử hình thành huyện Sóc Sơn, sđđ, tr 25.

Trang 19

sắn ; cây thực phẩm như: lạc, vừng, đậu, rau ; cây ăn quả và một số cây công nghiệp như: chè, thuốc lá

Sóc Sơn có những vùng quê sản xuất lúa gạo, rau quả ngon có tiếng cùng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu

“Rau Ngô Đạo, gạo Cốc Lương, giường tre Thu Thuỷ”

Các làng thủ công, chợ làng, thị tứ ra đời phục vụ đời sống nhân dân quanh vùng Trong đó có một số nghề thủ công như nghề gốm đã đi vào chuyên môn hoá với trình độ cao Trên địa bàn huyện đã phát hiện được một

số di tích khảo cổ học như: di tích gốm - sành - sứ ở thôn Đoài (xã Phù Lỗ), ở Hương Gia (xã Phú Cường), ở Thắng Trí (xã Minh Trí); Lò gốm (xã Xuân Thu); xóm Trại Gốm (Xã Việt Long)

Nghề đan lát ở Xuân Dương (xã Kim Lũ) đã có cách đây hàng nghìn năm Nghề xây dựng cũng phát triển Các làng nghề có nhiều nghệ nhân, nhiều thợ giỏi

Năm 1783, cụ Bùi Đình Khái ở Kim Lũ Thượng đã được vua Lê Hiển Tông phong 2 đạo sắc là “Phán lực tướng binh hộ chức sắc” và “Kim tráng sĩ thiết kỵ uý thiên hộ chức” Cụ Dương Văn Cửu ở Kim Lũ Thượng từng được vua Minh Mạng phong sắc “Thất phẩm thiên hộ chức” Cụ Chấn ở Kim Lũ Thượng đã có công xây dựng cung đình Huế trong 12 năm, được vua Nguyễn phong làm “Biện lại”

Ngoài ra, Sóc Sơn là vùng đất có bề dầy lịch sử, nhân dân nơi đây có truyền thống văn hoá, hiếu học Trong khoảng 5 thế kỉ, từ thế kỉ XV đến thế

kỉ XIX, Sóc Sơn có 12 người đỗ Đại khoa (không kể Hương cống, Cử nhân

và những học vị mới sau này) gồm 4 vị đỗ Hoàng giáp, 8 người đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sỹ xuất thân Trong số 12 đại khoa, có 8 người thi đỗ thời Lê

sơ, 3 người thi đỗ thời Mạc, 1 người thi đỗ thời Lê - Trịnh Họ đều được ghi danh trong Bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Tiêu biểu nhất là ở xã Phù Lỗ có 4 người đỗ đại khoa văn và 4 người đỗ đại khoa võ Cụ thể: 4 người đỗ đại khoa Văn là: Nguyễn Tĩnh (đỗ năm 1475); Nguyễn Dương Hiền

Trang 20

(đỗ năm 1475); Nguyễn Thuận Lễ (đỗ năm 1487); Nguyễn Đôn Mục (đỗ năm 1547) 4 người đỗ đại khoa Võ là: Trình Tự Đình (năm 1754); Trịnh Tự Hiếu (đỗ năm 1779); Trịnh Tự Thuần (đỗ năm 1785); Trịnh Tự Thức (đỗ năm 1785)

Ngoài ra, huyện Sóc Sơn, có nhiều người đỗ đạt và làm quan trong triều đình phong kiến từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX Cụ thể:

Đỗ Nhuận: thi đỗ tiến sỹ năm Bính Tuất (1466) là phó nguyên soái hội Tao Đàn Năm 1483, ông cùng Thân Nhân Trung biên soạn sách “Thiên nam

dư hạ tập” và có công lớn trong việc dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu

Vợ chồng thi sĩ Ngô Chi Lan và Phù Thúc Hoành: Bà Ngô Chi Lan quê

ở Phù Lỗ, nổi tiếng tài văn thơ, được vua Lê Thánh Tông mời vào cung dạy cho cung nữ và được phong chức “Phù gia nữ học sĩ” Bà để lại tập thơ “Mai trang” hiện nay còn 7 bài Chồng bà Ngô Chi Lan là ông Phù Thúc Hoành người Phù Xá (xã Phú Minh), ông thi đỗ làm quan và giữ đến chức học sĩ ở Hàn lâm viện

Ngày nay, trong thời kỳ kinh tế cả nước đang trên đà phát triển, huyện Sóc Sơn cũng đang chuyển mình thay da đổi thịt Theo đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X xác định phương hướng, mục tiêu tổng quát trong 5 năm 2010-2015 là: Phát huy lợi thế, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, tranh thủ mọi thời

cơ, nguồn lực, xây dựng Sóc Sơn trở thành đô thị vệ tinh của thành phố Hà Nội với cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ - nông lâm nghiệp theo hướng sinh thái, bền vững, có hệ thống hạ tầng và quy hoạch đồng bộ, hiện đại, văn hóa xã hội phát triển, nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng, an sinh xã hội được đảm bảo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội đảm bảo ổn định, hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện

1.3 Tài nguyên du lịch

Theo qui đi ̣nh của Luâ ̣t du li ̣ch 2005 – tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du li ̣ch tự nhiên và tài nguyên du li ̣ch nhân văn đang được khai thác hoă ̣c chưa được khai thác Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa

Trang 21

chất, đi ̣a hình, đi ̣a ma ̣o, khí hậu, thủy văn, hê ̣ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên

có thể sử dụng phục vụ mục đích du li ̣ch Tài nguyên du lịch nhân văn gồm hệ thống văn hóa , các yếu tố văn hóa , văn nghê ̣ dân gian , di tích li ̣ch sử , cách mạng, kiến trúc, khảo cổ, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản vật thể, phi vâ ̣t thể khác có thể được phu ̣c vu ̣ mu ̣c đích du li ̣ch

1.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

1.3.1.1 Hệ thống rừng và hệ động vật

*) Hệ thống rừng: Sóc Sơn từng có rừng nguyên sinh nhiệt đới Từ xa xưa, rừng nguyên sinh Sóc Sơn cùng với các cánh rừng Tam Đảo, Ba Vì và các khu rừng phía nam tỉnh Hòa Bình, Tuyên Quang, Yên Bái tạo thành hành lang xanh bao bọc Hà Nội Nơi đây đã từng tồn tại các khu rừng nguyên sinh nhiệt đới, với các cây tiêu biểu cho loại hình rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới với nhiều loài lâm sản, cây thuốc quý giá

Theo số liê ̣u kiểm kê đất đai 1/1/2000 của huyện thì diện tích rừng Sóc Sơn tương đối lớn là 6.630,00 ha Trong đó c ó 4.436,46 ha rừng phòng hô ̣ Khác với các huyê ̣n khác thuộc Hà Nội , huyện Sóc Sơn cò n mô ̣t diê ̣n tích tự nhiên khá lớn chư a sử dụng , trong đó có tới 1.057,99 ha đồi núi có thể đưa vào khai thác sử dụng cho mục đích du lịch 2

Đặc biệt, diện tích rừng khá lớn này phân bố chủ yếu ở các khu vực gò đồi có sông, hồ, núi tạo thành cảnh quan sơn thủy hữu tình, khí hậu trong lành , mát mẻ có ý nghĩa lớn đối với hoạt động du lịch nghỉ dưỡng và du lịch cuối tuần Đối với hoạt động du li ̣ch đây là thế ma ̣nh mà các huyê ̣n ngoa ̣i thành khác của Hà Nô ̣i không có Cụ thể, các đồi thông ở Sóc Sơn là một địa điểm khá nổi tiếng quanh khu vực ngoại thành Hà Nội Trên đỉnh của một quả đồi, đứng ở đây ta có thể phóng tầm nhìn rất xa, ngắm toàn bộ phong cảnh của vùng miền Sóc Sơn Đây là điểm đến khá thường xuyên của các chuyến picnic, dã ngoại, chụp ảnh cưới, chụp ảnh đồi thông mùa hoa của giới trẻ thủ đô

Trang 22

*) Hệ đô ̣ng vâ ̣t: Hiện tại, Sóc Sơn có khu bảo tồn diện tích 10 ha nuôi

giữ nhiều loa ̣i đô ̣ng vâ ̣t như nhím , sóc, rùa, khỉ… và có nhiều loại chim , thú được đưa về đây nuôi dưỡng , phục hồi sức khỏe và tập làm quen với môi trường hoang dã trước khi được đưa về tự nhiên Trong tương lai, trung tâm này sẽ được xây dựng, mở rộng với mục đích bảo tồn và phát triển nhằm mục đích phục vụ hoạt động du lịch Du khách có thể ngắm nhìn các loài động vật hoang dã trước khi đưa chúng về tự nhiên tại khu bảo tồn này

*) Một số ngọn núi có giá trị khai thác phục vụ du lịch (tổ chức trekking, picnic )

Dãy Độc Tôn: thuộc địa phận huyện Sóc Sơn, có khoảng 8 - 9 đỉnh núi, trong đó Hàm Lợn là đỉnh cao nhất Do còn ít người đặt chân lên đây, nên du khách phải vạt cây, lội suối vượt ghềnh, nhiều lúc phải dùng dây thừng để kéo nhau qua vách đá mới đi được Phía Đông núi Hàm Lợn có núi Don cao 327m Về phía Bắc có núi Thanh Lanh cao 427m, núi Bà Tượng cao 334m, núi Lục Dinh cao 294m Ngoài ra, còn có các ngọn núi Bàn Cờ, Cao Tung, Mũi Cày, Trảm Tướng Được biết, vượt qua Hàm Lợn, sang bên kia là hồ

Đại Lải, tiếp tục đi là tới dải Tam Đảo

Núi Hàm Lợn: Cách Hà Nội khoảng 40km, nằm trên địa phận xã Minh Phú và xã Hiền Ninh, huyện Sóc Sơn Đường đi ngắn nhất từ trung tâm Hà Nội là qua cầu Thăng Long, đi dọc theo đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài đến ngã tư giao với quốc lộ 2 thì rẽ trái đi về hướng Vĩnh Phúc Đi tiếp tới ngã tư giao với tỉnh lộ 135 (đường 35) thì rẽ trái Đường đi này cùng đường đến Việt Phủ Thành Chương

Núi Hàm Lợn là tên đỉnh núi cao nhất trong dãy núi Độc Tôn với độ cao 462m Núi với địa hình hiểm trở, hoang sơ nhưng quen thuộc với những người yêu thích trekking Cho dù nếu bạn không có mục đích leo núi thì nơi này vẫn hoàn toàn có thể là một địa điểm picnic lý tưởng Ngoài ra: dưới chân núi là hồ Hàm Lợn (hay còn gọi là hồ Suối Bàu) khá đẹp nằm giữa những đồi

Trang 23

thông, keo xanh mướt và hoang sơ Dãy núi Độc Tôn được che phủ bởi rừng thứ sinh xen lẫn rừng trồng chủ yếu là thông và keo Đỉnh Hàm Lợn là địa điểm dã ngoại cực kỳ lý tưởng trong một hoặc hai ngày nghỉ cuối tuần Mặt đất khô thoáng, phủ đầy lá thông, lá keo Ngả lưng trên thảm lá cây khô ráo khi đã cảm thấy mệt mỏi trong ngày hè oi bức hay ngày đông lạnh lẽo luôn đem đến cảm giác êm ái dễ chịu Giấc ngủ có thể đến mà không hay

Có hai lựa chọn cho các đoàn dã ngoại:

Nếu đi ngược dòng suối để lên đỉnh núi, du khách có thể trải nghiệm cảm giác trèo đèo, vượt suối như những người lính hành quân xưa Hành trình ngược suối có thể mất 3 tiếng đồng hồ ngay cả với những người đã có kinh nghiệm Du khách sẽ phải trang bị găng tay, giày leo núi, chấp nhận bị ướt và nhiều khó khăn khác Bù lại, theo lối này bạn có thể thưởng thức bản giao hưởng nhạc rừng của những chú chim ẩn trong các lùm cây bên suối Trên đường, nếu may mắn, các bạn sẽ gặp một vài chú cua núi xù xì đang giương cặp càng đe dọa những người lạ xâm nhập Đường suối lại chia làm 2 nhánh, một nhánh rẽ trái dễ đi dẫn thẳng lên khu đất trống mênh mông để cắm trại Một nhánh khác rẽ phải hầu như không có người đặt chân đến, còn nguyên vẹn nét hoang sơ, phù hợp với những người yêu thích khám phá, mạo hiểm Hai bên suối phủ đầy cây bụi, cành gai, nếu không có dao hay rựa mở đường thì vượt qua cung đường tưởng chừng rất ngắn này là điều không thể

Một lựa chọn khác là men theo đường mòn để lên đỉnh núi trong khoảng một tiếng đồng hồ Đường mòn thoai thoải và dễ đi, không có bụi rậm và đặc biệt là không có vắt Bạn sẽ len lỏi giữa những cây thông cây keo Dưới mỗi bước chân là thảm lá cây phủ dầy Chỉ sau chừng hai đến ba lần nghỉ lấy hơi, bạn đã có thể đặt trên đến bãi cắm trại rộng rãi, bằng phẳng.Cảnh quan bỗng chốc mở rộng ra bốn phía mênh mông, rất lý tưởng cho một buổi dã ngoại nướng thịt nhẹ nhàng và hít thở không khí trong lành

Trang 24

1.3.1.2 Hê ̣ thống sông ngòi và các suối, hồ tự nhiên

Huyện có khoảng 1565,31ha đất mă ̣t nước , chiếm 5,1% tổng quỹ đất.Trong đó, đất sông ngòi, kênh rạch, suối là 803,54ha; đất mặt nước chuyên dùng là 761,77ha Hệ thống sông, suối, ao, hồ không chỉ có tác du ̣ng tưới, tiêu trong phát triển nông nghiê ̣p mà còn còn là ưu thế nổi trô ̣i để phát triển du lịch của huyện Sóc Sơn

*) Hệ thống sông ngòi:

Huyện Sóc Sơn có 3 con sông chảy qua: sông Cầu, sông Công, sông Cà

Lồ Sông Cà Lồ chảy qua phía Nam huyện với chiều dài 56km, cao độ mực nước tại xã Phú Cường Sông Cầu chảy qua phía Đông huyện với chiều dài 13km từ xã Trung Giã đến xã Việt Long Sông Công chảy qua phía Bắc huyện với chiều dài 11km là sông nhánh nhập với sông Cầu tại xã Trung Giã

Dọc theo 3 con sông, đă ̣c biê ̣t là sông Cà Lồ là hê ̣ thống dày đă ̣c các di tích được xếp hạng cấp quốc gia Hai bên sông là những ruộng rau trồng hữu

cơ, những cánh đồng lúa xanh mướt trù phú Với lợi thế này, trong tương lai ngành du lịch huyện có thể xây dựng tuyến du lịch di tích và du lịch trải

nghiệp nông nghiệp dọc hai bên bờ sông hấp dẫn du khách

*) Các suối và hồ tư ̣ nhiên:

Sóc Sơn là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi , không chỉ có nhiều rừng

mà còn có nhiều hồ với số lượng lớn, hơn 30 hồ lớn nhỏ và điều đă ̣c biê ̣t là đa số các hồ đẹp tập trung ở vùng gò đồi kết hợp hài hòa vớ i cảnh núi rừng ta ̣o nên những thắng cảnh nên thơ có giá tri ̣ cho viê ̣c phát triển du li ̣ch si nh thái,

du li ̣ch nghỉ dưỡng, cụ thể:

Quần thể hồ ở phía Đông Bắc của huyê ̣n : hồ Đồng Quan, hồ Đạc Đức, hồ Thanh Trì, hồ Lai Cách với diê ̣n tích là 1500ha, riêng hồ Đồng Quan có diê ̣n tích là 90ha

Hồ Đồng đò, suối Đồng Đò nằm ở xã Minh Trí là hồ rộng và cảnh quan hài hòa với diện tích hơn 90ha

Trang 25

Hồ kèo Cà, hồ Anh Bé, hồ Hàm lợn, hồ Ban Tiê ̣n, Hồ Xuân Bảng, suối Đồng lạnh nằm ở phía Bắc của huyê ̣n và hà ng chu ̣c các hồ lớn nhỏ nằm rải rác quanh vùng

*) Một số hồ đẹp có giá trị phát triển du lịch:

Hồ Hàm Lợn: Hàm Lợn là tên đỉnh núi cao nhất trong dãy núi Độc Tôn

ở Sóc Sơn, cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km Núi Hàm Lợn với địa hình hiểm trở cao 462m đã quen thuộc với những người yêu thích du lịch Tuy nhiên, nếu bạn không có mục đích leo núi thì nơi này có thể là một điểm picnic lý tưởng Dước chân núi là hồ Hàm Lợn (hay còn gọi là Suối Bàu) nằm giữa những đồi thông, keo xanh mướt và khá hoang sơ

Còn gì lãng mạn hơn khi dựng lều dưới những tán thông rợp mát hoặc cạnh hồ nước xanh trong, thậm chí có thể nằm ngay trên những thảm lá thông dày êm ái, tận hưởng cảm giác tan vào thiên nhiên Nếu may mắn, vào sáng sớm bạn có thể được chứng kiến sương mù giăng phủ trên mặt hồ như những làn khói lãng đãng rất ấn tượng Tuy nhiên, đường vào hồ khá khó tìm, vì vậy hãy hỏi người dân bản xứ để tìm được vị trí dã ngoại thích hợp nhất

Hồ Đập Đồng Quan: thuộc xã Quang Tiến, là một trong 25 xã của huyện Sóc Sơn Phía Đông và Nam giáp với xã Mai đình, phía Tây giáp với

xã Hiền Ninh, phía Bắc giáp đền Sóc Sơn Chỉ mất khoảng 35 phút xe chạy từ

Hà Nội theo hướng Thăng Long - Nội Bài là đến khu vực hồ Đồng Quan

Bởi hồ này chưa được quan tâm đầu tư phát triển cho du lịch, vì vậy khu vực này hoàn toàn vẫn là vẻ hoang sơ, độ sâu của hồ chưa được nghiên cứu và đo lường chính xác Nếu đi vào tháng 6, bạn có thể ngắm hoa sim đang phủ tím những quả đồi Muộn một chút, đi vào tháng 7, sẽ được thỏa thích hái sim chín Đây còn là một địa điểm tuyệt vời đối với những ai thích câu cá, vì vừa câu miễn phí, lại có cơ hội bắt được cá “khủng” Ngồi tựa lưng vào những gốc cây ven hồ, buông cần chờ cá cắn câu, ngắm cảnh núi non hùng vĩ thì còn gì bằng Đập Đồng Quan còn là một địa điểm hấp dẫn cho

Trang 26

những đôi uyên ương chụp ảnh cưới Sông nước hữu tình, núi non trùng điệp lại thêm không khí mát mẻ khiến địa điểm này luôn thu hút một lượng lớn những bạn trẻ lui tới mỗi buổi chiều

1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

1.3.2.1 Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

a) Di tích lịch sử văn hóa

Sóc Sơn là vùng đất cổ có bề dầy lịch sử văn hóa , huyê ̣n có nhiều di tích gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tô ̣c Viê ̣t Nam nói chung và truyền thống văn hóa lâu đời, phong tục tập quán của huyện Sóc Sơn nói riêng Do vậy, ngoài các giá trị về lịch sử, văn hóa, các di tích còn có giá trị rất lớn về mặt du lịch

Hiện nay, toàn huyện hiện có 440 di tích, trong đó có 45 di tích đã được xếp hạng, trong đó, có 15 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 30 di tích được xếp hạng cấp thành phố5

Các di tích trên địa bàn huyện đại đa số đều được quản lý tốt, không có hiện tượng lấn chiếm di tích Qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa bằng nguồn vốn ngân sách và sự đóng góp của nhân dân, hiện nay đa số các di tích trên địa bàn được bảo tồn được cơ bản các giá trị kiến trúc, lịch sử, đồ thờ tự, tư liệu hán nôm

*) Các di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu:

- Khu Di tích đền Sóc Sơn (Làng Lệ Linh, xã Phù Linh): Nơi thờ Thánh

Gióng - một trong tứ bất tử của Việt Nam – một trong những anh hùng văn hóa của người Việt thời dựng nước Khu di tích này nằm dưới chân núi Sóc trong cung núi Tam Đảo, thuộc thôn Vệ Linh, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn Cảnh sắc ở đây hùng vĩ, “cây cỏ lẫn mây ngàn” (Ngô Chi Lan) Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu văn hóa, có thể trước khi có câu chuyện vị thiên tướng Thánh Gióng sau khi đánh tan giặc đã chọn vùng địa linh này để bay về

5 Số liệu thống kê của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Sóc Sơn

Trang 27

trời, thì đây là nơi thể hiện tín ngưỡng thờ Sơn thần của nhân dân vùng chân núi, nơi tụ khí thiêng của đất trời mà các triều vua thường đến thụ khí, cầu đạo trước khi ra trận, thắng trận rồi sắc phong xây sửa qua nhiều đời, trùng

tu nhiều lần mà nên diện mạo như hồi đầu thế kỷ này Khu di tích đền Sóc Sơn là một quần thể di tích lớn, xung quanh được bao bọc bởi một bên là núi, một bên là hồ nước, tạo nên cảnh quan rất hài hòa, vừa hùng vĩ mang thần khí linh thiêng, vừa toát lên vẻ lãng mạn sơn thủy hữu tình Quần thể di tích đền Sóc Sơn được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử từ năm 2002 Khu di tích này bao gồm nhiều công trình kiến trúc có liên quan mật thiết với nhau là: Đền Trình, Đền Thượng, Đền Mẫu, nhà Bia, chùa Đại Bi

Đền Trình (Đền Hạ): là nơi thờ vị Sơn thần núi Sóc Đền có kiến trúc hình chữ tam với tiền đường có 5 gian 8 mái, chính điện và hậu cung 3 gian hai mái Lịch sử hình thành đền Trình liên quan tới huyền thoại Thánh Gióng Theo truyền thuyết, quan sơn thần núi Sóc được lệnh của Đức thánh Phù Đổng Thiên Vương tới giúp vua Lê Đại Hành đánh giặc Tống và được phong hai chữ Thánh Vương Trên đầu mũ ngài có ba chữ : “Thánh thần Vương” Trong đền hạ có các di vật như bia đá, chuông đặc biệt là pho tượng đồng đen có niên đại triều Nguyễn thế kỷ XIX

Đền Mẫu: là nơi thờ thân mẫu của Phù Đổng Thiên Vương Hiện nay trên toàn quốc có hơn 60 làng thờ Thánh Gióng, tuy nhiên chỉ có hai nơi là làng Phù Đổng (Gia Lâm) và khu di tích đền Sóc Sơn mới có đền thờ Thánh Gióng (đền Thượng) và thờ mẫu mẹ Gióng riêng rẽ, trang trọng, với tầm cỡ khá lớn Đền Mẫu kiến trúc hình nhị, gồm tiền đường và chính điện Trước sân đền chếch về phía bên phải có một giếng nước khơi, nước giếng trong vắt, mát lạnh

Chùa Đại Bi (Đại bi tự): theo dân gian truyền lại, xưa kia nơi đây chỉ là một chiếc lều cỏ, có một vị sư tên là Ngô Chân Lưu, hiệu Khuông Việt Quốc

Sư, ngày đêm gõ mõ, ăn chay, niệm phật Một đêm mưa to gió lớn, sấm chớp

Trang 28

sáng lóe cả vùng rừng núi, Khuông Việt Quốc Sư được báo mộng là ngày hôm sau sẽ có một tráng sĩ đi cả người lẫn ngựa về vùng địa linh này Quả nhiên hôm sau có người như thế về thật Khuông Việt Quốc Sư chỉ cho người này cây đại thụ là cây trầm hương gần chùa để khoác áo bào lên đó, rồi cả người lẫn ngựa lên đỉnh núi cao nhất bay về trời Nhà sư khuyên dân làng lập một miếu thờ Thiên tướng ngay bên cạnh gốc cây trầm hương Về sau nhà sư lên khu đất có ngôi chùa non bây giờ xây chùa tu ở đó

Đền Thượng: nơi thờ Đức thánh Phù Đổng Thiên Vương, nằm ngay dưới chân núi Sóc Trước mặt đền có núi Độc Tôn, núi Đại Thính, bên phải có núi Vây Rồng, bên trái có núi Đá Đen, phía sau đền là núi Thanh Lãm Ở cổng chính đi vào đền Thượng có hai con long mã đứng chầu hai bên, long

mã có đầu rồng, mình ngựa biểu tượng ước vọng thái bình Đền Thượng có kiến trúc hình chữ công Tiền đường được thiết kế 7 gian 8 mái kiểu chồng diêm Gian giữa trước tiền đường được bố trí thành một tiền sảnh 4 mái nhỏ Thiên hương 3 gian 2 mái Thượng điện 3 gian 4 mái Theo nội dung ghi trên mặt bia số 4, của Bia 8 mặt thì đền Sóc được xây dựng từ thời tiền Lê (năm 980) nhưng nay chỉ thấy các hoa văn trang trí mang đậm nét thời Nguyễn Tượng Thánh được tạc từ cây trầm hương, chân tượng là gỗ cây trầm, phần phụ gia bao bọc ở bên ngoài là: muối + mật + giấy bản

Bia 8 mặt: đây là tấm bia đá lớn tám mặt, ngự trên đỉnh núi Bia - hòn núi nằm phía sau lưng của đền Thượng, được khởi dựng vào tháng 4 năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức thứ nhất (1672) Núi bia này cao khoảng 50m (so với mặt nước biển), từ chân núi đến đỉnh núi hiện có con đường bao gồm 133 bậc Từ trên đỉnh núi Bia có thể nhìn bao quát toàn bộ khu di tích và

xa hơn nữa, thâu tóm được vẻ đẹp hùng vĩ và trữ tình của vùng địa linh có núi non, ao hồ bao bọc lẫn nhau Nội dung bia ghi thần tích Thánh Gióng, tóm tắt lịch sử dựng đền và tiến trình lễ hội đền Sóc Sơn, theo đó người đọc bia ngày nay có thể hình dung được những nhận thức và cách lý giải của người xưa về

Trang 29

nhân vật huyền thoại này, những quy định, tập tục của dân làng vùng núi Sóc Sơn đối với việc mở hội Gióng đền Sóc Sơn hàng năm

- Chùa Sóc Thiên Vương (Chùa Non - Xã Phù Linh): nằm trong quần thể khu di tích đền Sóc Sơn ở độ cao hơn 110m so với chân núi Chùa nằm chính giữa dãy núi hình vòng cung, tựa như người ngồi trên chiếc ngai, hướng nhìn xuống hồ nước trong xanh và những xóm làng trù phú của huyện Sóc Sơn Chùa Non Nước thu hút khách thập phương và khách du lịch trong nước

và quốc tế bởi có pho tượng Phật Tổ bằng đồng cao 6,5m đúc liền khối nặng

30 tấn, lớn nhất Đông Nam Á Năm 2001 bức tượng Phật khổng lồ này được rước lên đặt chính giữa nền chùa Non Nước Chùa được xây dựng trên nền đất cũ từ thời Tiền Lê, theo kiểu kiến trúc chùa cổ 7 gian 2 trái, trang trí những hoạ tiết hoa văn cũng theo nguyên mẫu thời Tiền Lê

Chùa Non hoà chung với khu di tích đền Sóc Sơn, học viện phật giáo, tượng đài Thánh Gióng tạo nên cảnh quan kiến trúc di sản đặc sắc ở chân dãy núi Sóc Sơn

- Cụm đền, chùa Thuỵ Hương (xã Phú Cường)

Đền Thuỵ Hương ở thôn Thụy Hương, xã Phú Cường Đền thờ anh em Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy (là các vị tướng có công trong cuộc kháng chiến chống quân nhà Lương xâm lược) được phong làm Thánh Tam Giang và thờ ở nhiều nơi Đền Thụy Hương được xây dựng

từ lâu, lưu giữ được 21 đạo sắc phong, trong đó có đạo sớm nhất ghi niên đại

1647 (Đinh Hợi) năm Phúc Thái thứ 5 (Lê Chân Tông) Đền có bố cục tiền chữ “Nhất”, hậu chữ “Công” Nhà tiền đường 5 gian 2 chái, nhà cầu 3 gian, hậu cung 3 gian Trong đền còn bảo lưu nhiều mảng chạm khắc, di vật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII Đền được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1990

Trang 30

Chùa Thuỵ Hương (Linh Quang tự) ở thôn Thụy Hương, xã Phú Cường Chùa nằm ở Bắc thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thành phố Hà Nội khoảng 35km, nằm dọc theo con sông Cà Lồ chảy qua địa bàn huyện

Theo nghiên cứu hệ thống di vật còn lưu lại chùa thì chùa được xây dựng vào thời Lê Trung Hưng Ngôi chùa được trùng tu nhiều lần, hiện nay tại di tích còn nhiều hạng mục kiến trúc mang dấu ấn kết quả lần trung tu lớn vào thời Nguyễn và những năm gần đây Chùa Thụy Hương trước đây là một danh lam và được mô tả trong bài minh ghi trên quả chuông đồng đúc năm Thiệu Trị 4 (1844) như sau: “Chùa ta, trước có dòng sông Nguyệt Đức xinh đẹp, đỉnh núi Sóc chon von, phong cảnh như vẽ, thật là một danh lam của huyện Kim Hoa” (nay là huyện Sóc Sơn) Chùa có bố cục kiến trúc kiểu chữ đinh gồm: tiền đường và thượng điện, xung quanh có khu vườn cây rộng với sân gạch trước sau Đến nay, ngoài lối kiến trúc cổ, đẹp, chùa còn lưu giữ bộ sưu tập di vật quý: 6 tấm bia đá trong đó có bia niên hiệu Chính Hoà 12 (1691), một tấm bia niên hiệu Quang Trung 5 (1792), một bia niên hiệu Minh Mệnh 13 (1832), 30 pho tượng tròn mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII, XIX, bát hương gốm Phù Lãng, Chuông đồng niên hiệu Thiệu Trị 4 (1844) Chùa được UBND Thành phố Hà Nội xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2007

- Đền Hương Gia: ở thôn Hương Gia, xã Phú Cường Đền thờ 5 anh em

Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và cô em gái Đạm Nương (là các vị tướng có công trong cuộc kháng chiến chống quân nhà Lương xâm lược) được phong làm Thánh Tam Giang và thờ ở nhiều nơi Đền

đã qua nhiều lần trùng tu, hiện nay quay hướng Đông Nam, phía sau đền là chùa, phía ngoài đền có bình phong xây gạch Nhà tiền tế 5 gian 2 chái, phương đình, trung Đường 5 gian 2 chái, nhà cầu 3 gian, hậu cung 3 gian xây theo kiểu đầu hồi bít đốc, là những kiến trúc của ngôi đền còn lại đến ngày nay Di tích còn giữ được nhiều mảng chạm khắc, 15 đạo sắc phong, trong đó

Trang 31

sắc phong có niên đại sớm nhất là năm 1740, cùng nhiều di vật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII, thê kỷ XIX

- Cụm đình, chùa Phù Xá Đoài (xã Phú Minh):

Đình Phù Xá Đoài: thuộc thôn Phù Xá Đoài, xã Phú Minh, cách trung

tâm thành phố Hà Nội khoảng 35km về phía Bắc Đền thờ Lê Phụng Hiểu, nhân vật thời Lý, được thờ làm thành hoàng làng Di tích làm từ thời Lê, năm cảnh hưng thứ 37 (Lê Hiển Tông), bố cục hình chữ “đinh”

Hiện nay, đình còn lưu giữ nhiều chạm khắc và kiến trúc thế kỷ XVIII với trang trí tứ linh, tứ quí, hươu, nai và nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật như sắc phong, hoành phi, câu đối, bài vị, ngai thờ, kiệu bát cống, hương án hạc thờ, sập, bia đá, chuông Năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

về chúc tết nhân dân trong xã ở đình Phù Xá Đoài

Chùa Phù Xá Đoài có tên chữ là Phúc lâm tự Chùa có bố cục tam quan, tòa tam bảo, kiến trúc bố cục hình chữ “công” Chùa còn giữ được những mảng chạm khắc trên gỗ các hoa văn, lá, tứ linh, tứ quí và đầy đủ hệ thống tượng phật như Kim Cương, đức ông, Thánh Tăng, Khuyến Thiện, Trừng Ác, Cửu Long, Phạm Thiên, Đế Thích mang phong cách điêu khắc thế

kỷ XIX, quả chuông đúc năm 1803 triều Gia Long năm thứ hai

Hội làng Phù Xá Đoài diễn ra trong 3 ngày từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 10 âm lịch, chính hội ngày 12 Trong lễ có rước kiệu, tế ở đình, vật phẩm có xôi, gà, hoa quả Hết phần lễ là phần hội Hội có các trò vui hấp dẫn như hát chèo, múa bang, múa sênh tiền, võ vật

Đình, chùa Phù Xá Đoài được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1991

- Chùa Phù Xá Đông ( thuộc thôn Phù Xá Đông, xã Phú Minh): chùa

có tên chữ là Kim Long tự (chùa Hưng Long), nằm về phía Bắc thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố 30km Theo truyền thuyết và những hiện vật còn lưu giữ trong chùa thì chùa được xây dựng vào năm Thành Thái (1889-1907)

Trang 32

Chùa Phù Xá Đông được xây dựng trên khu đất cao rộng ở phía tây nam của thôn Ngoài phần kiến trúc, chùa còn có khuôn viên cây xanh bao quanh, tạo cảnh quan và sự thanh u tĩnh mịch nơi cửa thiền Kiến trúc chùa mang phong cách nghệ thuật dân gian truyền thống, trang trí chủ yếu trên các đầu bẩy, đầu con rường, cốn nách, thân xà, than kẻ, câu đầu… với những đường nét thanh thoát Hiện nay, chùa còn lưu giữ được một bộ di vật có giá trị lịch sử văn hóa và nghệ thuật cao với nhiều loại hình: bộ tượng tròn với 40 pho lớn nhỏ, 3 bức đại tự sơn son thếp vàng niên hiệu Tự Đức, Thành Thái; một bộ chuông đồng niên hiệu Minh Mệnh 4 (1823), cây nến đồng, bát hương đồng, lục bình vẽ lam… Chùa được UBND Thành phố Hà Nội xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2007

- Đình Hạ Xuân Lai: thuộc thôn Xuân Lai, xã Xuân Thu, cách trung

tâm thành phố Hà Nội khoảng 35km về phía Tây Bắc, thờ Đức Thánh Tam Giang (Trương Hống, Trương Hát), xây dựng khoảng cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn Đình còn giữ nhiều di vật quý như: Kiệu rước, nhang án, bát bửu, long ngai được chạm khắc tỷ mỷ, và sơn son thếp vàng lộng lẫy Đặc biệt, đình còn lưu giữ cuốn thần phả và 8 đạo sắc phong của các triều vua ban sắc cho thần, cùng những tấm bia đá, hoành phi câu đối Đình đã được bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1997

- Chùa Đại Bi ( xã Xuân Thu): Khởi dựng vào khoảng cuối thời Lê

Chùa còn lưu giữ bộ sưu tập di vật quý gồm: Một quả chuông đồng ghi niên đại Minh Mệnh 6(1825), bộ tượng tròn 40 pho phủ sơn son thếp vàng lộng lẫy mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX-XX, một tấm bia trụ (cột hương đá 4 mặt khắc chữ có niên Vĩnh Thịnh 13(1717); một viên gạch thời Lê thế kỷ XVI-XVII; một khám thờ hai lớp chạm thủng hình tứ linh mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII Chùa được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1997

Trang 33

- Đình thượng Xuân Lai (xã Xuân Thu): Thờ Đức thánh Tam Giang

(Trương Hống, Trương Hát), được khởi dựng vào thời Lê Trung Hưng (trước

năm 1692) Đình còn bảo lưu được một số hiện vật không phong phú về số lượng nhưng là những hiện vật quí có giá trị cao về lịch sử và nghệ thuật: 01 hương án lớn nghệ thuật thế kỷ XIX, 1 hương án nhỏ trang trí mặt hổ phù, 1

án văn trang trí rồng chầu mặt trời, 1 đôi quán tẩy gỗ chạm cách điệu hệ tứ linh, 1 bộ bát bửu, 1 mâm thờ gỗ, 2 bộ kiệu bát cống, 8 sắc phong có niên hiệu Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định; một cuốn thần phả, một bia đá niên hiệu Chính Hoà 13 (1692)

- Đình, chùa Yên Phú (xã Xuân Thu):Thờ đức thành hoàng Bạch Hạc Tam

Giang, Trương Hống, Trương Hát, khởi dựng từ rất sớm vào khoảng thời Hậu Lê

- Cụm Đình, đền Kim Thượng (Xã Kim Lũ)

Đình Kim Thượng: thờ các vị thành hoàng làng: Quí Minh, Đống Vĩnh, Đức thánh Tam Giang, được khởi dựng từ thời Hậu Lê Đây là công tình kiến trúc bề thế, dựng trên mặt bằng rộng 900m2 Trước mặt là đường làng và ao lớn với nhiều cây cổ thụ Khu chính trước sân đình được lát gạch đỏ Bát Tràng Mặt bằng kiến trúc theo bố cục chữ đinh, bao gồm phần đại đình và hậu cung Những di vật còn lưu giữ không phong phú về số lượng nhưng mang giá trị cao về lịch sử và nghệ thuật gồm: tấm bia trụ 4 mặt niên hiệu Bảo Thái 4 (1723) đời Lê Dụ Tông và quả chuông đồng niên hiệu Minh Mệnh

20 (1839) Đình được UBND Thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật năm 2003

Đền Kim Thượng: thờ các vị thành hoàng làng là: Quí Minh, Đống Vĩnh, Đức Thánh Tam Giang, khởi dựng từ thời Lê, hoặc sớm hơn nữa Những di vật cổ còn lưu giữ những truyền thống văn hóa tốt đẹp, có giá trị lịch sử về nghệ thuật như: bài ký ghi những người hiền tài trên tấm bia 4 mặt

có niên đại Bảo Thái 4 (1723) đời Lê Dụ Tông và hệ thống kiến trúc có nhiều mảng trạm trổ, trang trí, 3 bộ ngai và bài vị 3 vị thần, 3 bộ kiệu bát cống sơn

Trang 34

son thếp vàng thời Nguyễn Đền được UBND Thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 2003

- Chùa Kim Trung (Kim Lũ): được xây dựng vào thời Nguyễn Chùa

còn lưu giữ bộ sưu tập di vật quý: 37 pho tượng tròn sơn son thếp vàng lộng lẫy mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX, hương án chạm tứ quý, sạp thờ chân quỳ, bát hương gốm

- Cụm đình, đền, chùa Xuân Dương (xã Kim Lũ):

Đình Xuân Dương: Thờ Sơn thần Cao sơn đại vương, Bạch hạc Tam Giang, Tá phụ Đương Dương, Ba y linh thánh (lương hậu phi nhân), khởi dựng năm Đình còn lưu giữ được bộ di vật văn hoá lịch sử với nhiều chủng loại và chất liệu khác nhau, gồm: Một bản chữ Hán nội dung ghi chép sự tích của các vị thần; một hòm sắc phong trong đó có 5 đạo sắc phong thần; bốn bộ long ngai bài vị chạm rồng chầu, tứ linh, hoa dây thế kỷ XIX; ba bộ kiệu bát cống, chạm rồng chầu, hoa dây, hổ phù thế kỷ XIX; hai bức hoành phi câu đối; một bộ y môn trang trí rồng chầu mặt trời thế kỷ XX; một bộ bát bửu sơn son thếp vàng; một giá văn trang trí rồng chầu thế kỉ XIX; một bộ giá quán tẩy thế kỷ XIX; một quả chuông niên hiệu Duy Tân thứ 5 (1911); một lư hương gốm phù làng men da lươn nghệ thuật thế kỷ XIX

- Đền Xuân Dương: Thờ Sơn thần Cao sơn đại vương, Bạch hạc Tam

Giang, Tá phụ Đương Dương, Ba y linh thánh (Lương hậu phi nhân) Đền còn lưu giữ được bộ di vật văn hoá lịch sử với nhiều chủng loại và chất liệu khác nhau, gồm: Một bản chữ Hán nội dung ghi chép sự tích các vị thần; một hòm sắc phong trong đó có 7 đạo sắc phong các thần; bốn bộ long ngai bài vị nghệ thuật thế kỷ XIX, ba bộ kiệu bát cồng, hai bức hoành phi câu đối, một bộ bát bửu sơn son thếp vàng, một giá văn trang trí rồng chầu chữ thọ, có đường diềm trang trí hoa văn kỷ hà; một đôi hạc đứng trên lưng rùa, một đôi giá quán tẩy, một quả chuông đồng

Trang 35

- Chùa Xuân Dương: được khởi công xây dựng từ cuối thế kỷ XVII

(thời Lê), sau đó được trung tu sửa chữa nhiều lần vào thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII, thế kỷ XIX Hiện chùa còn lưu giữ được nhiều di vật quí, gồm: 32 pho tượng lớn nhỏ nghệ thuật thế kỷ XIX-XX; 2 cây hương đá có niên hiệu Chính Hoà 19; 01 bia có niên hiệu Khải Định; 01 chuông đồng có niên hiệu Bảo Đại 4; 01 bát hương gốm thổ hà nghệ thuật thế kỷ XX

- Đền Thanh Nhàn (xã Thanh Xuân): thờ Phù đổng thiên vương Thánh

Gióng Tương truyền đây là nơi đức Thánh Gióng đi qua, nghỉ ngơi, lấy thêm quân trong dân làng để đánh giặc Ân, được xây dựng từ cuối thế kỷ XVI Đền còn lưu giữ được những đạo sắc phong, bia đá cổ, tượng đức Thánh Gióng đúc bằng đồng liền với án gốc nặng 2,5 tấn, 1 con ngựa bạch, một con ngựa hồng đúc bằng đồng…Đền được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1990

- Đền Sọ (xã Phù Lỗ): thờ Thánh Gióng, là nơi Thánh Gióng trên

đường đi đánh giặc đã dừng chân gội đầu, nghỉ tại đây Đền còn lưu giữ nhiều

di tích và cổ vật có giá trị: Một giếng, nơi Thánh Gióng gội đầu, một tấm bia

đá ghi rõ việc 54 xã trong tam tổng phụng thờ Phù đổng thiên vương Đền Sọ được bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1997

- Đền Chôi (xã Đông Xuân): thờ vị thần Hỏa nhạc đại vương – người

có công rèn ngựa sắt, áo giáp sắt, nón sắt, roi sắt cho Thánh Gióng Hiện nay, đền còn lưu giữ nhiều di vật quí như: 5 tấm bia đá thời Nguyễn, ngai thờ, nhang án, kiệu rước…

b) Di tích cách mạng

- Di tích Cách mạng Tân Yên (xã Hồng Kỳ): Thuộc thôn Tân Yên, xã

Hồng Kỳ Đây là nơi ghi dấu việc thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của huyện

Đa Phúc (nay là huyện Sóc Sơn) Di tích bao gồm: khu nhà bia, khuôn viên vườn hoa cây cảnh và một cây duối – là địa điểm chi bộ Tân Yên thành lập và

Trang 36

cũng là nơi các đảng viên trong chi bộ dùng để trôn dấu tài liệu cách mạng Nhà bia lưu niệm chi bộ Tân Yên được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội gắn biển di tích cách mạng – kháng chiến năm 2006

- Di tích cách mạng Xuân Kỳ (xã Đông Xuân): thuộc thôn Xuân Kỳ, xã

Đông Xuân: là nơi làm việc của Trung ương, trạm liên lạc đưa đón cán bộ và phát hành sách báo, tài liệu các mạng, là nơi số đầu tiên của báo Cứu quốc ra đời và chi bộ đầu tiên của đảng bộ huyện Kim Anh (nay là huyện Sóc Sơn) được thành lập

Di tích gồm nhà trưng bày truyền thống rộng 120m2, sân rộng, hai bên vườn trồng nhiều loại cây cảnh, vườn bên phải đặt một tấm bia Việc xây dựng nhà truyền thống các mạng Xuân Kỳ góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Hà Nội, giáo dục truyền thống yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, biết trân trọng và ghi nhớ công lao của thế hệ cha anh đi trước, nâng cao lòng tự hào dân tộc và truyền thống cách mạng của quê hương đất nước

- Di tích Hội nghị quân sự Trung Giã (xã Trung Giã): thuộc thôn Xuân

Sơn, xã Trung Giã Đây là nơi diễn ra hội nghị quân sự giữa đoàn đại biểu Bộ

tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và đoàn đại biểu Bộ tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, họp bàn để giải quyết vấn đề rút quân về nước của Pháp do Hội nghị Giơ – Ne – Vơ đặt ra Sự kiện này diễn ra từ ngày 4/7 đến ngày 27/7/1954, đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam Quân và dân ta đã đánh thắng trận Điện Biên Phủ, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ buộc Pháp phải ký hiệp định Giơ ne vơ

Khu di tích gồm có các công trình sau: Nhà hội nghị- nơi diễn ra cuộc họp giữa đoàn đại biểu của ta và đoàn đại biểu của Pháp; khu nhà nghỉ của bộ chỉ huy quân đội Pháp được lợp bằng tôn, khu nhà nghỉ của đoàn đại biểu quân đội nhân dân Việt Nam làm bằng tre, nứa lá Một hồ nước và khu khuôn viên vườn hoa, cay cảnh để nghỉ ngơi thư giãn, tạo thành một tổng thể hài

Trang 37

hòa Tất cả được xây dựng trên cơ sở các tư liệu ảnh hiện lưu giữ và lời kể của các nhân chứng lịch sử Từ những nội dung giá trị của di tích, năm 2002,

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cách mạng Trung Giã là di tích cách mạng – kháng chiến

- Di tích Núi Đôi và câu chuyện về người nữ du kích làng Xuân Dục:

Lối ta đi giữa hai sườn núi

Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi

Em vẫn đùa anh: Sao khéo thế

Núi chồng, núi vợ đứng song đôi

(Thơ Vũ Cao)

Từ ngã tư trung tâm thị trấn Sóc Sơn, theo đường nhựa giao với quốc lộ

3, đi về phía đông hơn 2m là đến Núi Đôi Đây là vùng giáp ranh giữa ba địa bàn: Thị trấn Sóc Sơn, xã Phù Linh và xã Tân Minh, gần đường xe lửa Hà Nội – Thái Nguyên Giữa cánh đồng xanh rờn sắc lúa và lồng lộng gió trời nổi lên hai mỏm đất cao rợp mát hàng trăm tán thông luôn rì rào tiếng nhạc thiên nhiên Gọi là núi nhưng thực ra chỉ là hai quả đồi cao trên dưới 50m, chân núi thoải dài thoải mái cho du khách có thể đi lên từ mọi ngả

Núi Đôi là di tích lịch sử thời chống Pháp, là minh chứng cho tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường của nhân dân Sóc Sơn Đặc biệt, đây là nơi bắt nguồn cảm hứng cho nhà thơ Vũ Cao sáng tác bài thơ nổi tiếng “Núi Đôi” Bài thơ viết về câu chuyện tình đẹp và lãng mạn của đôi trai gái tuổi mới mười bảy, đôi mươi Tình yêu của họ gắn liền với Núi Đôi “Núi chồng, núi vợ”, mới chớm nở đã phải chia xa vì quân thù kéo đến Anh đi bộ đội để bảo vệ quê hương còn em ở lại làm du kích chiến đấu bảo vệ xóm làng Và một ngày kia người em ngã xuống trên mảnh đất quê hương để lại mình anh với niềm đau “Núi vẫn đôi mà anh mất em” Câu chuyện tình thời chiến đã cho Vũ Cao viết bài thơ được truyền tụng rộng rãi bấy lâu nay, lại được nhà văn Nguyễn Thạch ở địa phương sáng tác thành kịch bản phim truyền hình

Trang 38

phát nhiều lần trên sóng Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội Vì vậy mà Núi Đôi được cả nước biết đến

Hiện nay, trên đỉnh Núi Đôi vẫn còn lưu giữ một số lô cốt của quân Pháp xây từ năm 1947 để chống phá và đàn áp quân và dân huyện Sóc sơn trong những năm kháng chiến Đây là một trong những bằng chứng chứng tỏ

sự thất bại của quân thù cũng như chiến thắng của quân và dân Sóc Sơn nói riêng và người dân Việt Nam nói chung Đứng trên đỉnh Núi Đôi, du khách sẽ nghe thấy tiếng ngàn thông reo như tiếng reo hò của quân ta khi đánh chiếm được bốt địch và cũng tại nơi đây du khách sẽ được nghe người dân địa phương kể câu chuyện cảm động về nữ du kích làng Xuân Dục Trần Thị Bắc (nhân vật ngoài đời của bài thơ Núi Đôi) Vào năm thứ sáu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1952), Trần Thị Bắc vừa tròn tuổi 20 Cô vào loại gái đẹp nhất làng lại nết na, hiền thục Gia đình đã nhận chầu cau dạm ngõ của chàng trai thôn Vệ, nhưng đất nước còn giặc, anh phải đi đánh giặc nên chưa tính chuyện cưới xin Vùng Núi Đôi lúc ấy thuộc huyện Đa Phúc nằm trong khu vực địch tạm chiếm Chúng xây lô cốt trên núi, lập đồn binh để trấn giữ mạn bắc Hà Nội, nằm trong phòng tuyến ngăn chặn với quân đội ta ở thủ

đô kháng chiến Thái Nguyên Một lần đi công tác giao liên, chuyển tài liệu cơ quan cách mạng và đưa đoàn cán bộ cao cấp ra vùng tự do qua vành đai địch, chị đã bị địch bắt Dù quân thù tra tấn dã man, chúng cũng không moi được ở chị một lời nào Cuối cùng chúng đã bắn chết chị Nhân dân mai táng người con gái anh dũng của làng ngay dưới chân Núi Đôi Hòa bình lập lại, quê hương được giải phóng có một viện quân y về đóng gần đấy, chiều chiều anh

em thương binh dìu nhau ra Núi Đôi chơi mát Câu chuyện về người nữ du kích thôn Xuân dục được kể cho nhau nghe ngay bên tấm bia mộ chân núi

Vũ Cao đã viết bài thơ xuất sắc ấy vào năm 1956

Bây giờ đến Núi Đôi, chúng ta không còn thấy ngôi mộ người nữ du kích, di hài của chị đã được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ huyện Sóc Sơn

Trang 39

Quang cảnh vùng Núi Đôi ngày nay khá tươi đẹp, không khí thoáng đãng, mát mẻ Ô tô vào tận chân núi Con đường từ trung tâm huyện vào tới chân núi, đi qua hai dãy núi, đi qua hai dãy phố đông vui với các cơ quan hành chính của huyện, nhà văn hóa, sân vận động, chợ huyện… đã được Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội quyết định đặt tên là đường Núi Đôi

Ngày nay, Sóc Sơn có nhiều thay đổi, với nhiều khu công nghiệp và các khu du lịch văn hóa – sinh thái đang được xây dựng Địa danh Núi Đôi và các khu di tích lịch sử - văn hóa là địa chỉ tham quan, dã ngoại rất hấp dẫn và

bổ ích với thanh niên, học sinh và khách du lịch

c) Hệ thống tượng đài:

- Đài chiến thắng B52 (xã Phù Lỗ): nằm trên cánh đồng Chuôm, được

dựng trên khu đất rộng 16m2, là nơi ghi dấu sự kiện chiếc máy bay B52G của

Đế quốc Mỹ bị tiểu đoàn 59, trung đoàn 261, bộ đội tên lửa bảo vệ thủ đô đã bắn rơi tại chỗ khi vừa xâm phạm vùng trời Hà Nội

- Tượng đài không quân: đặt trên đỉnh núi Dậm thuộc xã Tiên Dược

Tượng đài có độ cao 65m, chiều dài 322,5m với 253 bậc lên, xuống Tượng đài được xây dựng năm 1995, để tưởng nhớ chiến công và sự hy sinh anh dũng vì nền độc lập – tự do của tổ quốc, vì sự trưởng thành lớn mạnh của Không quân nhân dân Việt Nam Hàng năm, tượng đài là nơi đón rất nhiều đoàn khách trong và ngoài quân đội đến tham quan và thắp hương tưởng niệm, đặc biệt, đây là hành trình hướng về cội nguồn của các em học sinh để giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước

- Tượng đài Thánh Gióng: tọa lạc trên đỉnh núi Ðá Chồng, xã Phù

Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội Vị trí tượng đài là nơi tương truyền là điểm xuất phát khi Thánh Gióng hoá bay về trời nên có ý nghĩa lịch sử tâm linh Tượng đài được đúc bằng đồng nguyên chất có chiều cao tới đỉnh là 11,07m, với độ vươn ra là 16m, trọng lượng 85 tấn, mô phỏng hình ảnh vị thánh trẻ tuổi tay mang tre ngà, thúc ngựa hướng về trời xanh

Trang 40

Ngoài ra, huyện Sóc Sơn còn có nhà truyền thống huyện (thị trấn Sóc Sơn): Nơi trưng bày giới thiệu về địa lý, lịch sử, truyền thống cách mạng của vùng đất và con người Sóc Sơn

d) Một số điểm tham quan hấp dẫn:

Việt Phủ Thành Chương: là công trình nghệ thuật với 100% đầu tư là

của họa sỹ Thành Chương

“Việt phủ Thành Chương” cách Hà Nội 30km, là tên gọi được nhà văn Kim Lân và nhiều bạn bè đặt cho khu nhà vườn của con trai mình – họa sĩ Thành Chương

Được xây dựng từ tháng 8/2001 và hoàn thành vào năm 2009, Việt Phủ

có diện tích hơn 10.000m², lưng dựa vào núi Sóc, kề bên là hồ Kẻo Cả quanh năm nước trong xanh Từ cổng chính, đi qua con đường lát gạch Bát Tràng,

du khách sẽ vào bên trong Việt Phủ với hàng chục ngôi nhà được xây dựng theo kiến trúc nhà truyền thống ở nhiều vùng miền khác nhau: nhà Thanh Tĩnh bằng gỗ lim của người công giáo vùng Nam Định; nhà sàn cổ của người Mường ở Hòa Bình; nhà Tường Vân tiêu biểu cho phong cách của tầng lớp quan lại dưới thời nhà Nguyễn tại kinh đô Huế; nhà Đại Khoa được làm bằng

gỗ xoan, đặc trưng cho kiến trúc của vùng đất Kinh Bắc xưa; nhà Long Đình được thiết kế mang dáng dấp của một ngôi đình, nơi khách tham quan có thể ngồi thưởng trà, ngắm sen và thưởng thức các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân gian cổ truyền như: ca trù, quan họ, chèo, chầu văn, múa rối nước ; nhà nghỉ chân dành cho du khách được làm bằng gỗ, lợp cói khô… Ở trung tâm của Phủ còn có một tháp nước cao 25m được xây dựng theo kiến trúc chùa Dâu

Trong Việt Phủ trưng bày nhiều hiện vật cổ bằng đồng, gốm, sứ có từ các thời kỳ: Đinh, Lý, Trần, Lê Ngoài sân trưng bày rất nhiều vật dụng đặc trưng của người nông dân Việt Nam như: chum nước, vại sành, cối giã gạo, cối xay thóc, cày, cuốc, nơm lờ, thúng, mủng, dần, sàng… Ngoài ra, đến đây,

Ngày đăng: 21/09/2020, 23:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm