1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cảm quan hậu hiện đại trong Cuộc đời của Pi ( Y. Martel)

108 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về lí luận triết học: các nhà lí luận triết học hậu hiện đại kế thừa chủ nghĩa hư vô với các quan điểm về chân lí, giá trị đạo đức, về bản ngã, với họ “mọi chân lí đều mang tính hình ảnh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội-2015

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục luận văn 5

CHƯƠNG 1: CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI VÀ TIỂU THUYẾT HẬU HIỆN ĐẠI 6

1.1 Từ hoàn cảnh hậu hiện đại đến triết học hậu hiện đại 6

1.2 Cảm quan hậu hiện đại và những biểu hiện trong tiểu thuyết phương Tây đương đại 13

CHƯƠNG 2: PI VÀ TRIẾT HỌC TÔN GIÁO ĐA NGUYÊN 23

2.1Triết học tôn giáo đa nguyên và chủ nghĩa hậu hiện đại 23

2.2.Triết lí của Pi về đạo Hindu, về Thiên Chúa giáo và về đạo Hồi 27

2.3 Mối liên hệ giữa thuyết đa tôn giáo của Pi và chủ nghĩa hậu hiện đại47 CHƯƠNG 3: TRIẾT LÍ VỀ NIỀM TIN - HIỆN THỰC VÀ TỰ SỰ PHI TRUNG TÂM 57

3 1 Hai câu chuyện về một cuộc hành trình 57

3.2 Người kể chuyệnkhông đưa ra đáp án 65

3.3 Người kể chuyện hướng người đọc đến sự “tự nhận thức” 68

3.4 Lối tư duy hòa trộn các phạm trù đối lập 71

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hậu hiện đại là khái niệm được dùng để chỉ một giai đoạn phát triển kinh tế,

khoa học kĩ thuật, nghệ thuật cao… của nhân loại Theo Lyotard – triết gia người

Pháp: “Hậu hiện đại là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự.”

Sau cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, cả Thế giới không an bình với những cuộc chiến, cuộc chạy đua vũ trang, với sự ra đời của hàng loạt thứ vũ khí hủy diệt Xã hội loài người bước vào giai đoạn phát triển khoa học kĩ thuật siêu tốc, vào thời đại “hậu công nghiệp”, những thành tựu khoa học – công nghệ cùng cuộc sống thương mại hóa biến động không ngừng nghỉ đã dần làm biến chất nhiều quan điểm hay những giá trị nhân văn vốn có Tất cả đem lại “chất liệu” cho sự hình thành nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại, góp phần làm thay đổi sâu sắc tư tưởng, tình cảm, tâm lí và tư duy của con người Con người cần một cảm quan mới

để cảm nhận và lí giải hiện thực đầy biến động và phức tạp Con người trở nên hoài nghi tất cả, hoài nghi lí trí, hoài nghi chân lí, hoài nghi những giá trị được xem như vĩnh hằng Đó cũng chính là nền tảng của chủ nghĩa hậu hiện đại Theo chúng tôi, chủ nghĩa hậu hiện đại thực chất cũng là một cảm quan

Với quan điểm hoài nghi lí trí, chân lí cũng như các giátrị được cho là chuẩn mực và vĩnh hằng, chủ nghĩa hậu hiện đại nỗ lực xóa bỏ ranh giới độc lập giữa nhận thức lí tính và nhận thức cảm tính; bởi vì, cả lí tính lẫn cảm tính đều chỉ xuất phát từ một cơ thể sống Nó đề xuất nhiệm vụ đi tìm bản nguyên của con người và vũ trụ, nền tảng của nhận thức và cách thức tri nhận thế giới, qua đó hòng cắt nghĩa đâu là

tự do, hạnh phúc đích thực của con người Một mặt nó thúc đẩy tri thức nhân loại tiến thêm, dùng khoa học – kĩ thuật làm nền tảng cho hành động, một mặt khách quan hóa cái nhìn về cuộc đời, giải phóng con người khỏi những định chế đã trở nên

lỗi thời, kìm hãm bước tiến của nhân loại “Chủ nghĩa hậu hiện đại dần dần tích tụ

một chủ nghĩa tương đối cực đoan về mặt nhận thức và màu sắc hư vô về mặt nhân sinh” [33, tr.61] Đã có nhiều “bậc tiên phong” góp phần tạo nên nền tảng hình

Trang 5

2

thành và củng cố triết học hậu hiện đại, như Jean-Francois Lyotard, Jacque Derrida, Jean Baudrillard, Jurgen Harbamas, Frederic Jameson…

Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học theo đó cũng xuất hiện và được xác

định vào khoảng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX nhằm miêu tả một khuynh hướng văn học tiếp nối chủ nghĩa hiện đại, thách thức những quy ước và truyền thống của văn học một cách quyết liệt Nền văn học phương Tây giai đoạn này đặc biệt chịu ảnh hưởng của dòng chảy văn học hậu hiện đại, chủ yếu là trong tiểu thuyết Lê

Huy Bắc nhận định trong công trình của mình: “Bắt đầu từ cuối thập niên 1910 với

thơ Đa Đa (1916), văn xuôi Franz Kafka (Biến dạng, 1915), và kịch của Samuel Beckett (Chờ đợi, 1952), chủ nghĩa hậu hiện đại tồn tại song song với chủ nghĩa hiện đại cho đến đầu thập niên 1950 và thực sự phát triển mạnh từ 1960 trở đi Đây

là khuynh hướng đối địch với chủ nghĩa hiện đại về bản chất, ở chỗ chấp nhận tính

hư vô, hỗn độn, trò chơi và liên văn bản của tồn tại…” [11,tr 32]

Life of Pi – Cuộc đời của Pi là cuốn tiểu thuyết được đánh giá cao của nhà

văn Yann Martel, giúp ông nhận được giải thưởng văn học uy tín Man Booker năm

2002 Cuốn tiểu thuyết cũng là một tác phẩm nằm trong dòng chảy và sự chuyển biến của văn học hậu hiện đại Nhiều tờ báo, chuyên san và các nhà phê bình đã dành những dòng viết đầy trân trọng đối với tác phẩm cũng như tác giả Yann Martel sử dụng lối viết hậu hiện đại mang đến thành công cho cuốn tiểu thuyết, khơi gợi được trí tưởng tượng lẫn khả năng khám phá và cảm nhận thế giới, đồng thời góp phần làm rung động tâm hồn cùng cảm nhận của người đọc

Với đề tài Cảm quan hậu hiện đại trong tác phẩm “Cuộc đời của Pi”

(Yann Martel), luận văn của chúng tôi tập trung làm rõ khía cạnhcảm quan hậu

hiện đại được tác giả thể hiện trong cuốn tiểu thuyết

2 Lịch sử vấn đề

Cuộc đời của Pi là cuốn tiểu thuyết phiêu lưu kì ảo của Yann Martel được

xuất bản vào năm 2001 Nó từng bị ít nhất 5 nhà xuất bản ở London từ chối trước khi được nhà xuất bản Knopf Canada (trực thuộc Tập đoàn Random House Canada) đồng ý xuất bản Cuốn sách không chỉ mang lại cho tác giả Yann Martel nhiều giải

Trang 6

3

thưởng cao quý và còn được hàng triệu độc giả trên thế giới yêu thích Tính đến năm 2013, cuốn sách đã được dịch ra 41 thứ tiếng tại nhiều quốc gia khắp các châu lục Đây chính là thành quả xứng đáng cho tài năng cũng như những cố gắng của tác giả

Rất nhiều phương diện của tác phẩm được các nhà phê bình, các nhà nghiên cứu quan tâm khảo sát trong nhiều công trình Có thể kể đến các phương diện như liên văn bản, giải cấu trúc, người kể chuyện không đáng tin… Ở tuyển tập

Dialogues with traditions in Canadian literatures (Đối thoại với truyền thống trong nền văn học Canada) do Anna Branach và Piotr Sadkowski biên tập, Rata

Slapkauskaite đã có bài viết về vấn đề liên văn bản trong tác phẩm Cuộc đời của

Pivới bài “Investigating Intertextuality in Yann Martel‟s Life of Pi” (Nghiên cứu

liên văn bản trong tác phẩm Cuộc đời của Pi của Yann Martel) Bài nghiên cứu này

đã chỉ ra mối tương quan giữa tác phẩm Cuộc đời của Pi với các tác phẩm

Robinson Crusoe của Daniel Defoe và Ông già và biển cả (The Old Man and the Sea) của Ernest Hemingway cũng như mối tương quan giữa Pi Patel với Robinson

Crusoe và ông già Santiago McCollister trong“Pi‟s Individuality in his Personal

Societies and a Postmodern World” (Cá tính của Pi trong xã hội cá nhân và thế giới hậu hiện đại) nghiên cứu về nhân vật Pi trên nhiều phương diện như tên gọi,

tôn giáo, đức tin, nhân cách… Với Rebecca Duncan, bài viết Life of Pi as

Postmodern Survivor Narrative (Cuộc đời của Pi với tư cách là câu chuyện của người sống sót hậu hiện đại) hướng về khám phá nhân vật Pi với tư cách là người

kể chuyện không đáng tin, không đưa ra đáp án cuối cùng cho câu chuyện Một số công trình khác nghiên cứu về tác phẩm này; chẳng hạn như Małgorzata Schulzvới

The search for Identity in Life of Pi by Yann Martel năm 2009, The Intertwining of Incommensurables: Yann Martel‟s Life of Pi của James Mensch….cũng góp phần

làm rõ những đặc trưng hậu hiện đại có trong tác phẩm Cuộc đời của Pi

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về tác phẩm Cuộc đời của Pi chưa nhiều Bài viết “Về Cuộc đời của Pi” của chính dịch giả Trịnh Lữ tham gia tham luận tọa đàm Dịch văn học – Lí tính hay cảm tính (2007) đưa ra những băn khoăn,

Trang 7

4

hoài nghi cho chính bản thân mình trong quá trình tiếp cận và tiến hành dịch cuốn tiểu thuyết sang tiếng Việt Đó là: liệu chăng ông có hay không có điều kì diệu đầu tiên của đời mình; là khi ông tự hỏi mình có hay không tín ngưỡng, có thì là gì và không có thì vì sao; hay trong đời ông đã có bao nhiêu cuộc giã biệt giống như cuộc chia li giữa Pi và con hổ Richard Parker… Bên cạnh bài viết của dịch giả, đa số các công trình có nghiên cứu về tác phẩm này thường đặt nó trong mối quan hệ với điện

ảnh,tham luận “Hai chiều tiếp nhận hai tác phẩm Mật mã Da Vinci (Dan Brown) và

Cuộc đời của Pi (Yann Martel) trong mối quan hệ biện chứng giữa Văn học - Điện ảnh” của tác giả Hoàng Hữu Phước, Đào Lê Na “Từ tác giả văn học đến tác giả điện ảnh – Tri âm và sáng tạo” được in trong tập “Những vấn đề ngữ văn” nhắc tới

tác phẩm trong mối quan hệ cải biên tác phẩm văn học

Các công trình đó đã gợi ý cho chúng tôi một số phương diện khi tiếp cận

tiểu thuyết Cuộc đời của Pi từ góc nhìn hậu hiện đại Tuy nhiên, công trình của

chúng tôi nhấn mạnh nhiều đến cảm quan triết lí hậu hiện đại và sự khúc xạ của nó trong cả phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn của chúng tôi hướng đến lí làm rõ cách tri nhận hiện thực và các

phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết Cuộc đời của Pi mang dấu ấn của tư duy

triết học hậu hiện đại Từ đó, luận văn cũng chỉ ra sự riêng biệt trong cách hình dung về mô hình thế giới và về con người của nhà văn Yann Martel

4 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng khảo sát cho đề tài của chúng tôi là cuốn tiểu thuyết Cuộc đời của

Pi (Life of Pi) – tác giả Yann Martel, Trịnh Lữ chuyển ngữ, nhà xuất bản Văn hóa

cùng công ty Nhã Nam phát hành bản tái bản năm 2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp thi pháp học, liên văn bản và thông diễn học

Trang 8

5

 Thi pháp học: nghiên cứu về đặc trưng, tổ chức, các phương thức, phương tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm mĩ của tác phẩm; nghiên cứu quy luật nội tại, cấu tạo và phong cách của tác phẩm

Liên văn bản: nghiên cứu những mối liên hệ khác nhau có thể có giữa

văn bản tiểu thuyết với những văn bản khác

Các thao tác nghiên cứu được vận dụng: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 03 chương sau:

CHƯƠNG 1: Cảm quan hậu hiện đại và tiểu thuyết hậu hiện đại

CHƯƠNG 2: Pi và triết học tôn giáo đa nguyên

CHƯƠNG 3: Triết lí về niềm tin – hiện thực và tự sự phi trung tâm

Trang 9

6

CHƯƠNG 1: CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI VÀ TIỂU THUYẾT HẬU

HIỆN ĐẠI 1.1 Từ hoàn cảnh hậu hiện đại đến triết học hậu hiện đại

Chủ nghĩa hậu hiện đại được xem là sản phẩm của kỉ nguyên truyền thông

đại chúng và công nghệ thông tin Jean-Francois Lyotard, tác giả cuốn La

Condition postmoderne (Hoàn cảnh hậu hiện đại) từng nhiều lần nhấn mạnh:

“Hậu hiệu đại không phải là sự cáo chung của hiện đại mà là một quan hệ khác

với hiện đại” [34, tr.15] Ông cho rằng hậu hiện đại có mối quan hệ mật thiết với

chủ nghĩa hiện đại thế kỉ XX Điều đó có nghĩa, ông không xem chủ nghĩa hậu hiện đại là kết quả, là con đẻ hay sự phủ nhận chủ nghĩa hiện đại mà là “xử lí lại một số đặc điểm của hiện đại, nhất là tham vọng của nó trong việc đặt cơ sở cho đề án giải phóng toàn bộ nhân loại bằng khoa học kĩ thuật” Và cũng theo ông, chính triết học

hậu hiện đại thoát thai từ tinh thần của nghệ thuật hiện đại: “Triết học hậu hiện đại

diễn đạt một cách suy lý những gì nghệ thuật hiện đại đã thể nghiệm bằng phương tiện nghệ thuật” [34, tr 17]

Phần lớn các học giả đều đồng thuận về sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại bắt đầu vào khoảng thập niên 1950 (khi Châu Âu kết thúc sự tái thiết) và có ảnh

hưởng từ khoảng thập niên 1960 Trước đó, từ hậu hiện đại đã được nhiều nhà

nghiên cứu sử dụng như nhà phê bình văn học người Tây Ban Nha Federico de Onis đưa từ này những bài viết của mình khoảng những năm 1930 để chỉ phong trào đổi mới văn học Tây Ban Nha – Châu Mỹ Latinh khoảng từ 1905 đến 1914 Nhưng

phải đến Lyotard cùng với cuốn Hoàn cảnh hậu hiện đại, thuật ngữ hậu hiện đại

này mới mang nội dung ý nghĩa như ngày nay Lyotard cho rằng hậu hiện đại chính

là “chỉ trạng thái của văn hóa sau những biến đổi tác động đến các quy tắc trò chơi

[các luật chơi] của khoa học, văn học và nghệ thuật từ cuối thế kỉ XIX” [34, tr.53]

Theo Bùi Văn Nam Sơn, cuốn sách của Lyotard đã mô tả được “sự biến chuyển từ

Hiện đại sang Hậu hiện đại: về phương diện xã hội học, những biến đổi nhanh chóng của xã hội tất yếu dẫn đến sự khủng hoảng về “tâm trạng” và hình thành nên một tâm thức (esprit) mới: tâm thức hậu hiện đại; về phương diện triết học, các

Trang 10

7

hình thức “hợp thức hóa” cho khoa học cũng lâm vào tình trạng bế tắc, đặt ta vào một hoàn cảnh (condition) mới: hoàn cảnh hậu hiện đại, cần được giải quyết về mặt khoa học luận và triết học để thoát ra khỏi hoàn cảnh bế tắc ấy.”[34, tr.9]

Sự xuất hiện và ảnh hưởng của thuật ngữ hậu hiện đại kéo theo những tranh

luận sôi nổi, đôi khi khá gay gắt giữa những quan điểm đối lập nhau, bảo vệ và phản đối của các nhà triết học đương thời Dẫu vậy, trải qua hành trình dài, hai khái niệm

“thời hậu hiện đại” và “chủ nghĩa hậu hiện đại” dần khẳng định được vị trí, đưa sức

ảnh hưởng lan tỏa khắp thế giới, trở thành khái niệm toàn cầu Thuật ngữ hậu hiện

đại khi mới xuất hiện trước tiên nhằm chỉ một khuynh hướng nghệ thuật ở phương

Tây, ý tưởng cơ bản của nó là sự gợi mở, sự phá cách, sự sáng tạo vượt qua những chuẩn mực của chủ nghĩa hiện đại Mặc dầu thuật ngữ hậu hiện đại xuất hiện khá sớm, song chủ nghĩa hậu hiện trở thành một trào lưu tư tưởng, văn hóa trong các ngành khoa học, văn học nghệ thuật phải tính đến những thập niên cuối thế kỉ XX khi hội tụ đủ các điều kiện về lịch sử – xã hội, khoa học – văn hóa, lí luận triết học

Về lịch sử xã hội: những cuộc chạy đua vũ trang liên tiếp của các cường quốc, đế quốc, các thiết chế chính trị nhằm đạt đến mục đích bành trướng thế giới, khống chế toàn cầu về quyền lực chính trị, kinh tế đã gây nên những cuộc chiến tranh thảm khốc, khiến loài người bị đặt trước nguy cơ khủng bố và diệt chủng Nhân loại đã phải trải qua những thời khắc đen tối, đã có những trải nghiệm ghê sợ với những gì bộ phận độc tài gây ra cho nhân loại trong suốt Thế chiến thứ Hai Những sự kiện vũ trang do các thế lực chính trị nhúng tay vào gây nên những chấn thương tinh thần cho con người,trong đó cần nhắc đến là những thảm họa ghê rợn như quá trình diệt chủng người Do Thái do phát xít Đức thực hiện và vụ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố ở nước Nhật là Hiroshima và Nagasaki của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ II, việc phát triển và sử dụng vũ khí hạt nhân,

vũ khí sinh học Cho đến thời đại ngày nay, những hậu quả chúng để lại vẫn khiến nhân loại rùng mình, những di chứng của chúng còn đặt con người vào trạng thái bất an, nghi ngờ đối với các đại tự sự Ở đó, đại tự sự có thể hiểu đơn giản là những chân lí được coi là phổ biến, đúng đắn để hợp thức hóa, chính đáng hóa một yếu tố

Trang 11

8

hay vấn đề nào đó, bao gồm cả chính trị và khoa học Thời gian này, con người đẩy mạnh lạm dụng khoa học kĩ thuật để phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế có tính phi nhân bản Với những sự kiện đó, tình hình thế giới tiếp tục chuyển động sang các đối cực khác nhau, tâm trạng căng thẳng luôn đặt trong xã hội lẫn con người

“Thế giới không còn an ninh, chiến tranh lạnh, đối kháng đông – tây, chạy đua vũ

trang, bóng ma của vũ khí hạt nhân, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, Algiery, chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa quân phiệt, sự đàn áp các nhân sĩ tiến bộ” [33, tr.59, 60]

Trong lòng các nước tư bản phát triển và trên toàn thế giới, phong trào đấu tranh vì quyền con người, vì sự bình đẳng giới tính, chủng tộc, bảo vệ môi trường, môi sinh, phong trào công nhân… diễn ra hết sức gay gắt nhằm chống lại các khẩu hiệu mang tính chất ngụy trang tự do, dân chủ, văn minh đã phần nào làm lung lay thiết chế chính trị Chính điều này tác động không nhỏ đến kết cấu tâm lí con người, từ chỗ duy lí về lí trí chuyển sang vào trạng thái hoài nghi, lo âu ngay trong thời hiện tại và tương lai Những câu hỏi thế giới sẽ đi về đâu, con người sẽ sống thế nào, con người thực chất là ai; phải chăng khi đời sống vật chất càng cao, đời sống tinh thần càng nghèo nàn; đạo đức, tính nhân văn, niềm tin có còn đáng tin và có còn đáng để theo đuổi nữa không… đã và đang ám ảnh con người Theo thời gian, không khí hoang mang, hoài nghi, bi quan, bất tín bao trùm lên hết thảy, vô hình chung trở thành thế giới quan chủ đạo của con người thời đại này

Về khoa học văn hóa: những thập niên cuối thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều biến động khó lường Sự bùng nổ của khoa học kĩ thuật trong lĩnh vực truyền thông – thông tin và sinh học cùng với sự tan rã của nhiều thế lực đối kháng trong chiến tranh lạnh chuyển từ đối đầu sang đối thoại, đối tác kinh tế, thế giới bước vào một hệ thống mới, ở đó quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ Vấn đề tiếp cận và hội nhập với sự vận động không ngừng của thế giới trở thành điều kiện tiên quyết cho nhân loại tồn tại và phát triển Nếu không, con người sẽ trở thành kẻ cô độc và

“hoang dại”, tưởng như không khác kẻ lạc giữa hoang đảo Con người luôn cần có

sự tương tác với nhau, và điều kiện phát triển của khoa học kĩ thuật giai đoạn này đáp ứng cho con người thực hiện điều ấy càng thêm dễ dàng Hầu hết các tương tác

Trang 12

9

của con người với nhau đều được thực hiện qua công cụ trung gian là các phương tiện truyền thông Những thông tin, những tri thức, những sự kiện… được truyền tới con người qua những phương tiện đó đã góp một phần không nhỏ trong quá trình hình thành nhận thức cho con người Điều đáng nói chính là những hiểu biết đó không còn giữ được tính khách quan nữa mà đa phần có tính chủ quan Con người chịu ảnh hưởng của nền văn hóa họ tiếp xúc và tiếp thu nên tất cả những tri thức, những niềm tin… họ có được cũng đều chịu ảnh hưởng của chính nền văn hóa kia Trong bối cảnh văn hóa hậu hiện đại, nhận thức của con người thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là khi những phát minh khoa học mới được ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống Những lí thuyết mới như thuyết hỗn độn của Eward Lorentz (1960) , thuyết điều khiển học của Nobert Weiner (1964), thuyết hình học Fractal của nhà toán học Benoit Mandelbrot (1977), những khám phá về vật lí học đã góp phần không nhỏ mở ra những cái nhìn đa chiều về hiện thực

Những thành tựu về khoa học công nghệ từ đó cũng đã đem tới nhiều chất

liệu cần và đủ cho sự hình thành của nhận thức luận chủ nghĩa hậu hiện đại “Đó là

quan niệm về thực tại phi tuyến tính, bất định, xác suất, đa tầng, chủ quan được gợi

mở từ thuyết tương đối và cơ học lượng tử, là sự tỉnh táo trước tham vọng xây dựng những lí thuyết phổ quát có tính chặt chẽ, nhất quán, tuyệt đối từ định lí bất toàn, là chiến lược nghiên cứu mới với định hướng tìm ra những quy luật đặc thù trong từng tình huống cụ thể từ lí thuyết tai biến, là việc tìm kiếm các quy luật xác suất trong các đối tượng hỗn độn và hình học fractal” [45, tr.23] Trong hoàn cảnh mới dường

như giá trị nhân văn trở nên lu mờ, con người càng trở nên hoài nghi, lo âu, ích kỉ, dần sụp đổ niềm tin trước thời đại

Về lí luận triết học: các nhà lí luận triết học hậu hiện đại kế thừa chủ nghĩa

hư vô với các quan điểm về chân lí, giá trị đạo đức, về bản ngã, với họ “mọi chân lí đều mang tính hình ảnh, biểu tượng là những ẩn dụ, hoán dụ, những ảo tưởng bị lãng quên, mục đích của tri thức phải được xem xét dưới góc độ văn hóa chứ không phải là sự phản ánh tương đương một lí tưởng nào đó” Mặt khác, họ tìm thấy sự tác động của chủ nghĩa cấu trúc, triết học Max, phân tâm học S.Freud, triết học ngôn

Trang 13

10

ngữ Wittgenstein, chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng luận hay chủ nghĩa chứng thực logic đã góp phần hình thành chủ nghĩa hậu hiện đại với vai trò là các điều kiện lí luận nền tảng

Càng ngày, chủ nghĩa hậu hiện đại càng có tác động rõ nét trên nhiều phương diện và lĩnh vực, tạo được sự quan tâm, chú ý của giới trí thức Tây Âu và Bắc Mỹ

Ở phương diện kinh tế, nó là con đẻ của chủ nghĩa tư bản hậu kì, theo

Lyotard, nó coi tri thức là một sản phẩm hàng hóa Trong cuốn “Hoàn cảnh hậu

hiện đại”, Lyotard bàn về thân phận tri thức, hay “hoàn cảnh của tri thức trong các

xã hội phát triển nhất” [34, tr.53] ông quyết định gọi đó là hoàn cảnh hậu hiện đại,

“nó chỉ trạng thái của văn hóa sau những biến đổi tác động đến các quy tắc trò

chơi [các luật chơi] của khoa học, văn học và nghệ thuật…” [34, tr.53] Ở thời đại

khoa học và tin học nắm quyền tuyệt đối trên mọi lĩnh vực thông tin, tri thức trở thành món hàng tiêu dùng, buôn bán, cung cấp lợi nhuận như những thứ hàng hóa khác, vượt khỏi sự kiểm soát của chính con người Ở phương diện chính trị, nó ra đời trong hoàn cảnh tồn tại những đối cực: xã hội chủ nghĩa – tư bản chủ nghĩa và

phát triển khi những đối cực này không còn nữa “…Tri thức đang thay đổi vị thế

ngay khi các xã hội bước vào thời đại gọi là hậu công nghiệp và các nền văn hóa bước vào thời đại gọi là hậu hiện đại” [34, tr.59] Chủ nghĩa hậu hiện đại mở rộng

phạm vi, thâu tóm nhiều mặt đời sống, tự mang cả hai nhiệm vụ xóa bỏ (hoặc kế

thừa) và xây dựng Điều này có thể thấy rõ nhất trong các bài viết, các công trình

của Jean-Francois Lyotard – một trong những người có công đầu phát hiện và phát triển chủ nghĩa hậu hiện đại, triết học hậu hiện đại Sống trong giai đoạn Châu Âu

có nhiều biến động, phải đối mặt với xung đột, nghịch lí, đổ nát, mất mát, vỡ mộng trước những vận động lịch sử cũng như sự chuyển biến nhanh chóng và phức tạp về kinh tế, xã hội, văn hóa, đời sống thế giới giai đoạn nửa sau thế kỉ XX, ông cùng những người theo thuyết hậu hiện đại phải đặt ra nhiều câu hỏi, đặt lại hàng loạt vấn

đề Từ đây, “mối hoài nghi” hình thành và phát triển, trở thành một trong những

tâm thức của các nhà triết học hậu hiện đại “Nói một cách thật đơn giản,“hậu hiện

đại” là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự” [34, tr.54] nghĩa là Lyotard thông qua

Trang 14

11

nghiên cứu của mình đã đả phá những hệ thống quan điểm, lý thuyết cố hữu cùng những phương pháp luận cứng nhắc nhưng tự cho mình là chuẩn mực Từ đây, Lyotard sẽ đưa ra những quan điểm và biện luận về đại tự sự và tiểu tự sự với chiều hướng ủng hộ tiểu tự sự

Với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn học, dựa trên cơ sở lí luận thực tiễn của chủ nghĩa hậu cấu trúc, giải cấu trúc, các nhà lí luận hậu hiện đại đưa

ra những khái niệm cơ bản “thế giới là một sự hỗn độn”, “cảm quan hậu hiện đại”,

“thế giới như là một văn bản”, “ý thức như là một văn bản”, “tính liên văn bản”,

“bất tín nhận thức” Trên những cơ sở đó, các nhà văn hậu hiện đại đi tìm cho bản thân những phương thức thể hiện hoàn toàn mới Trước hết, đó chính là cảm quan cảm nhận thế giới Không có nguyên tắc nào mang tính phổ quát, đại tự sự không

có chỗ đứng, tiểu tự sự lên ngôi, văn bản không bị áp đặt chủ đề hay tư tưởng Văn học hậu hiện đại là hình thái ý thức xã hội – thẩm mỹ đặc thù phản ánh cuộc sống bằng hình tượng thông qua chất liệu ngôn từ cũng rất đặc thù của chủ thể sáng tạo, chưa kể sự khúc xạ và đặc thù riêng của từng nước nên quá trình nhận diện, trừu xuất chúng thành những quan niệm, khái niệm, hệ thi pháp chung là vô cùng khó

Chủ nghĩa hậu hiện đại đề cao nguyên tắc biện chứng và phản tư, họ không

có niềm tin với nhận thức và tính khách quan của hiện thực đương thời, đề xuất quan điểm “phi lí” và cách nói “mỉa mai” trở thành một thuộc tính của chủ nghĩa này Chủ nghĩa hậu hiện đại luôn đặt con người vào những hoàn cảnh hay môi trường cụ thể để phát huy năng lực bởi nó coi trọng con người cá nhân Song cái

“Tôi” được khẳng định trong đó lại là cái “Tôi” tan vỡ, cái tôi này ý thức được cái tôi khác Bên cạnh đó, chủ nghĩa hậu hiện đại, nỗ lực xóa bỏ ranh giới nhận thức lí tính và nhận thức cảm tính để chỉ ra tất cả đều xuất phát từ cơ thể sống Nó hướng

đến hình thành “tính nhục thể”, từ đó coi tính dục là một trong những diễn ngôn

quan trọng để xác lập các giá trị và chi phối hành vi, nhận thức của con người Chủ nghĩa hậu hiện đại còn đưa ra quan điểm đề cao chân lí khách quan Những gì các nhà hậu hiện đại làm là mong muốn giải phóng khả năng sáng tạo, tạo sự bình đẳng cho con người với việc sử dụng hiệu quả tri thức, tùy thuộc vào mỗi cá nhân

Trang 15

12

Lyotard cho rằng tất cả mọi khía cạnh của xã hội hiện đại, bao gồm cả khoa học, hình thức căn bản của tri thức, hoàn toàn tùy thuộc vào những đại tự sự; trong khi đó, chủ nghĩa hậu hiện đại phê phán, phủ nhận tính áp đặt của đại tự sự, cổ xúy

cho những tiểu tự sự Ông đưa ra “siêu tự sự” với cặp khái niệm đại tự sự và tiểu tự

sự với những đặc tính phân biệt như sau:

- Những gì được đúc kết, định hình

thành nguyên lí, có khả năng “hợp thức

hóa” tư tưởng, quan điểm

- Thuộc về chủ nghĩa hiện đại

- Diễn ngôn: đầy tự tin, mạch lạc, logic

- Chấp nhận tính trung tâm

- Thừa nhận tính tất nhiên

- Những gì đang trên quá trình hình thành, chỉ đề xuất, gợi mở khả năng trở thành chân lí, nguyên tắc

- Thuộc về chủ nghĩa hậu hiện đại

- Diễn ngôn: rụt rè, đầy hoài nghi, không lên gân

tự sự Bản thân đại tự sự có thể coi là “những tham vọng bá chủ, độc tài muốn quy

những tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng nào đó vào một mối và dùng nó để chi phối tất thảy đời sống con người… Đương nhiên, việc làm của các đại tự sự sẽ là lực cản đối với sự phát triển của nhân loại… Sự cố định của các đại tự sự đều lỗi thời, thuộc về quá khứ và không còn phù hợp với con người hậu hiện đại” [11, tr.38]

Thuật ngữ đại tự sự (grands récits) J.F Lyotard đưa ra, nhìn chung được các nhà nghiên cứu phương Tây quy về ba phương diện: đó là đại tự sự về huyền thoại duy lí tính, về nhận thức luận và về sự giải phóng con người; cả ba đã chi phối và

Trang 16

13

tác động mạnh mẽ đến hoạt động sáng tạo của phương Tây trong hai thế kỉ qua; hay dưới một góc độ khác, là đại tự sự về khả năng vô hạn của phép biện chứng tinh thần (liên quan đến huyền thoại Hégel), huyền thoại về Giải thích học (hay Thông diễn học) về nghĩa và sự giải phóng chủ thể lí tính và chủ thể lao động

Từ sự già cỗi của cơ chế siêu tự sự, những quan điểm hoài nghi xuất hiện khiến vị thế của siêu tự sự, đại tự sự bị lung lay

Lyotard đã kết luận, hoàn cảnh hậu hiện đại chính là “sự hoài nghi đối với

mọi đại tự sự” Và đây chính là cơ sở cho sự hình thành của nền triết học hậu hiện

đại trên thế giới Từ đó, nghệ thuật hậu hiện đại ra đời trên cơ sở phá bỏ “đại tự sự” của chủ nghĩa hiện đại về “chân lí cuối cùng” trong nhận thức thế giới và con người

1.2 Cảm quan hậu hiện đại và những biểu hiện trong tiểu thuyết phương Tây đương đại

Cảm quan hậu hiện đại (hay cảm thức hậu hiện đại) là một trong những định

đề quan trọng của triết học hậu hiện đại được Lyotard đề xuất và được các nhà triết học hậu hiện đại khác hưởng ứng Nó là hình thức cảm nhận thế giới mang tính chất đặc thù và là phương thức phản xạ tư duy lí thuyết tương ứng với nó Nó tiêu biểu cho tư duy khoa học của các nhà nghiên cứu văn học thuộc định hướng hậu cấu trúc, hậu hiện đại Do cảm quan hậu hiện đại có hình thức cảm nhận thế giới đặc thù, phản xạ tư duy lí thuyết hậu hiện đại nên nó luôn hướng đến thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại: nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống,

sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồ nghi tồn tại và tình trạng bất an của con người… Cảm quan hậu hiện đại vì thế có thể bao gồm cảm quan về

hiện thực và cảm quan về con người “Nhưng trước khi trở thành một hệ hình tư

duy, một phương pháp khoa học… hậu hiện đại hiện diện trước hết với tư cách là một tâm thức, một thế giới quan mới đối với hiện thực” [11, tr.35] Tâm thức hậu

hiện đại được xây dựng với những bước trưởng thành từ quan niệm mới về nghệ thuật và mĩ học tiếng lên triết học hậu – hiện đại Cảm quan hậu hiện đại nhận thức

về tính hỗn độn của thế giới, sự tồn tại của sự vật chồng chéo, hỗn loạn hoàn toàn

Trang 17

14

ngẫu nhiên và sự bất tín nhận thức của con người trước các đại tự sự đã dẫn đến

quan niệm và hành động giải trung tâm Lyotard đã khái quát trong tác phẩm Hoàn

cảnh hậu hiện đại

Các nhà hậu hiện đại xem tồn tại của thế giới là một khối hỗn mang (chaos)

Các sự vật, hiện tượng luôn đan cài, chồng chéo lên nhau, xuất hiện, biến mất rồi lại xuất hiện tự do; ở đó không có bất kì tiêu chuẩn giá trị nào, không có ý nghĩa được xác định, không có gì bất biến Theo họ, sự tồn tại đó hoàn toàn ngẫu nhiên nên họ không thiết lập trật tự cho sự hỗn độn đó; từ đây, dấu ấn của một cơn “khủng hoảng niềm tin” ngày càng trở nên nặng nề hơn bao giờ hết, con người hoài nghi mọi trật

tự, mọi giá trị vốn có, từng tồn tại từ trước Không có sự sắp xếp trật tự, khó có thể tìm ra trung tâm, nghĩa là lúc này sẽ không có gì là trung tâm hay thậm chí không

có cả xu thế trở thành trung tâm Chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận tất cả các nhận thức từ Thượng đế đến tồn tại khách quan và hoài nghi tất cả (Lyotard hoài nghi đại

tự sự, Ihab Hassan hoài nghi chính trị xã hội, hệ thống nhận thức và tinh thần, tâm lí

cá nhân, các khái niệm…) Trong ý thức nghệ thuật, cảm quan hậu hiện đại mang tới niềm tin mới, quan điểm mới Đối với các nhà nghệ thuật hậu hiện đại, sẽ là vô nghĩa nếu cứ muốn áp đặt hay thiết lập một mô hình thế giới “chuẩn mực”, một trật

tự đẳng cấp hay ưu tiên nào đó; bởi vì, thế giới không tồn tại theo một chuẩn mực duy nhất, một cách hiểu duy nhất hay tuân theo một thế giới quan duy nhất Thế giới, nếu coi là một mô hình thì đó là mô hình có độ bất định tối đa, với nhiều góc cạnh, phương diện đa dạng không ai có thể “quan sát” hết được Vì vậy, những nhà hậu hiện đại coi thế giới là một khối hỗn mang, chứa đựng trong đó sự hỗn độn vô

định dẫn đến hình thành phạm trù thế giới quan bất tín nhận thức

Bất tín nhận thức (epistemologiacal uncertainty) được coi là phạm trù thế

giới quan tiêu biểu cho ý thức hậu hiện đại, được nảy sinh trong quá trình “khủng hoảng niềm tin” vào những giá trị đã tồn tại trước đó Con người hoài nghi tất cả, không còn niềm tin vào sự siêu nhiên, coi Thượng đế như đã chết; theo đó, mọi chân lí đều bị lãng quên, tín ngưỡng không còn được sùng bái như trước Hậu hiện đại chính là sự mất niềm tin, bất tín nhận thức sâu sắc vào tri thức khoa học, vào lí

Trang 18

15

tính, không tin vào các giá trị truyền thống, phê phán hiện thực, tố cáo các hiện tượng xã hội và chỉ cảm nhận được thế giới hỗn độn bị xé nhỏ, bị phân mảnh Vì thế, hậu hiện đại chấp nhận cái hữu hạn như một lẽ tất nhiên Trong tư tưởng của mình, hậu hiện đại cho rằng tất cả những gì được gọi là hiện thực song thực tế, chỉ

là sự hình dung dựa vào những gì não bộ con người ghi nhận lại; nhưng mỗi người đều có cảm nhận riêng, không giống nhau trong khi thực tế lại luôn luôn biến đổi

Sự biến đổi nhanh chóng đó làm cho con người khó lòng nắm bắt đúng và đầy đủ bản chất, dấu hiệu, quy luật cơ bản trọn vẹn của thực tế Con người càng lúc càng trở nên hoang mang, băn khoăn giữa tin tưởng với hoài nghi, cái gì là thực cái gì là

ảo, đâu là đúng đâu là sai… Những niềm tin bị phá vỡ khiến cảm quan của con người với thế giới xung quanh càng nhiều hoài nghi hơn trước, niềm tin đứng trước

sự sụp đổ hiển nhiên

Cũng tựa như thế giới hỗn độn xung quanh, con người trong chủ nghĩa hậu

hiện đại càng dị thường, tha hóa Cái “Tôi” bị hoài nghi và con người bị phân tán thành “chủ thể phi trung tâm”, đặc tính phi trung tâm xuất hiện Cùng với khái

niệm phi trung tâm hóa, văn học hậu hiện đại coi trọng sự đa dạng, các giá trị khác nhau, đề cao nữ quyền nên được coi là chủ nghĩa đa nguyên văn hóa, chấp nhận

giá trị truyền thống Có thể hiểu phi trung tâm hóa nghĩa là tạo ra nhiều trung tâm,

mỗi nhân vật trong tác phẩm trở thành một trung tâm của một câu chuyện nào đó; giữa các câu chuyện này có thể có hoặc không có mối liên hệ nào và không có khả năng kết hợp lại với nhau; tất cả tạo thành các mảnh vỡ được khớp nối theo sở thích của tác giả Nói cách khác, bản thân mảnh vỡ mang trong nó nội hàm của sự phi trung tâm Vì thế, khi đọc tác phẩm hậu hiện đại, người đọc sẽ phải phiêu lưu trôi dạt theo các mảnh vỡ mà không nắm bắt được câu chuyện; vả lại, cũng chẳng có một câu chuyện nào theo mô hình kể chuyện truyền thống được đưa ra ở đây Người đọc rơi vào trạng thái bất định mà nguyên lí bất định trong toán học đã được E Thom đưa ra Trạng thái bất định đó cũng là hiện thực của cuộc sống đương diễn ra Khi các nhà hậu hiện đại chấp nhận trạng thái đó, nghĩa là họ phải chấp nhận những sắp đặt lại những trật tự đã bị hỗn độn, chấp nhận sự dịch chuyển và những tồn tại

Trang 19

đây, khái niệm hiện thực thậm phồn (hay còn gọi là phì đại) xuất hiện đi cùng với

đó là những yếu tố “đa” (đa nguyên, đa trị, đa điểm nhìn…) Hiện thực thậm phồn

là sự bất khả phân biệt giữa hiện thực và những sản phẩm tái tạo hiện thực vì những sản phẩm này tựa như thật, đôi khi chính xác và đáng tin hơn cả hiện thực Trong giai đoạn trước đây, khi khoa học chưa phát triển mạnh mẽ, hiện thực đối với con người không nằm ngoài những gì con người mắt thấy tai nghe trong không gian và thời gian họ tồn tại Nhưng khi khoa học phát triển mạnh, nhiều phát minh ra đời làm cho nhận thức của con người về hiện thực hoàn toàn cải biến Hiện thực – thứ thay thế hiện thực hay hiện thực khác lạ song song tồn tại khơi gợi trí tưởng tượng của con người, mang tới nhận thức đúng sai, thật giả về hiện thực, kiểu hiện thực đa chiều kích có thể mở rộng đến bất cứ nơi nào trí tưởng tượng của con người có thể vươn tới được Từ đây, nó hướng con người ý thức được quá trình “tự nhận thức”

để tiếp cận với thế giới Quá trình ấy dễ dàng hơn rất nhiều với sự bùng nổ của thời đại công nghệ thông tin, thời đại kĩ thuật số, khi đó, con người chỉ cần ngồi ở nhà cũng có thể biết được sự vận động của thế giới, hiểu được quá khứ đã xảy ra những

gì, dự cảm được tương lai của nhân loại… làm cho khái niệm không gian và thời gian dần trở nên mơ hồ, khó nắm bắt, dần mang tính tương đối, đôi khi lại trở thành nghịch lí Thế giới do các thành tựu công nghệ tạo ra trở thành “thế giới ảo” mang theo những tiêu chí của thế giới thật, thỏa mãn khát vọng tưởng tượng vô hạn của con người dù nó không có thực nên đôi khi nó mê hoặc và cải biến con người khỏi

những giới hạn, chuẩn mực đương thời “Hiện thực thậm phồn ra đời trên cơ sở

phản đối khái niệm ta quen dùng bấy lâu „hiện thực” mà theo các nhà hậu hiện đại

là không đảm bảo yêu cầu của hiện thực đúng nghĩa Họ cho rằng hiện thực đó vốn không phải là bản chất của cuộc sống mà luôn bị bóp méo theo quan điểm, lợi ích của ai đó hay một nhóm thiểu số nào đó Do vậy khi đòi hỏi văn chương phản ánh

Trang 20

17

hiện thực một cách chân thực thì thật là nực cười Bởi lẽ, còn đâu hiện thực “tinh”

để mà phản ánh” [11, tr.40] Đến đây, các nhà hậu hiện đại nhận ra có một hiện thực huyền ảo tồn tại song hành với hiện thực thậm phồn Hiện thực huyền ảo là những

gì con người có thể tri giác và linh giác được về tất cả sự vật trong thế giới xung quanh theo cách thế giới đó được nhìn từ góc nhìn bản thể và được nâng lên thành

“hiện thực”, ấy là thế giới ảo, thế giới vô thức, thế giới ma quái, thế giới huyền diệu

không thể nắm bắt… Điều này góp phần mở rộng dân chủ cho hiện thực và đưa văn

chương tới gần hơn với nguyên tắc trò chơi, tạo nên tính “đại chúng” trong các sáng tác Nỗi mơ hồ về thế giới, về hiện thực và hiện thực huyền ảo đặt các nhà hậu hiện

đại tại ngã ba đường về nhận thức và quan điểm đúng – sai, thật – giả, ổn định – bất

ổn… Thật hay không thật, đúng hay sai… đều phụ thuộc hoàn toàn vào quan điểm hay cảm quan chủ quan của mỗi cá nhân tiếp thu và gán cho sự vật, cho môi trường Vạn vật tồn tại trong sự hỗn độn, chúng là sự tổng hòa của nhiều khía cạnh, nhiều phương diện nên khi chấp nhận sự hỗn độn có nghĩa là các nhà hậu hiện đại phải tiếp nhận việc nhìn nhận sự vật với bản chất khách quan nhất và đặt chúng trong hiện thực thậm phồn thách thức mọi khả năng tri nhận của con người

Chủ nghĩa hậu hiện đại coi thế giới là một văn bản được trình bày theo một diễn ngôn nào đó Đối với các nhà hậu hiện đại, tri thức là nền tảng xã hội, là sự phản ánh năng lực tri nhận cuộc sống của con người được dựa trên ngôn ngữ - nền tảng của mọi tri thức Có thể hiểu lí thuyết hậu hiện đại được xây dựng trên ngôn

ngữ và khả năng hành chức của nó, như Lyotard khẳng định “Tri thức khoa học là

một loại diễn ngôn” [34, tr.60] Nhưng diễn ngôn luôn có tính định hướng, trở thành

đại tự sự nên chủ nghĩa hậu hiện đại cần giải các đại tự sự, đưa cuộc sống về bản thể

(vật tự nó) và vì thế nên hậu hiện đại bất tín nhận thức của con người, nêu lên cái

chết của chủ thể và cho rằng khách thể vừa là khách thể vừa là chủ thể của chính nó

mà không có sự phân biệt Quay lại với quan điểm tri thức được thực hiện thông qua các diễn ngôn, nhà triết học người Áo Ludwig Wittgenstein (1889 – 1951) gọi

các loại phát ngôn khác nhau là các trò chơi ngôn ngữ Có nghĩa là “mỗi một loại

phát ngôn khác nhau đó có thể phải được xác định theo các quy tắc chuyên biệt cho

Trang 21

18

các đặc điểm riêng của chúng và cho việc sử dụng mà người ta ấn định cho chúng, giống y như trò chơi cờ được quy định bằng bộ quy tắc xác định đặc điểm của các quân cờ như cách thức di chuyển từng nước cờ phù hợp” [34, tr.79] Điều này có

nghĩa là ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong nhận thức của conngười Cũng

vì lẽ đó, một bộ phận đã lợi dụng ngôn ngữ tạo nên các đại tự sự để chi phối đời

sống xã hội “ Tri thức và quyền lực là hai mặt của cùng một vấn đề: ai quyết định

cái gì là tri thức và ai biết cần phải quyết định cái gì? Vấn đề tri thức ở thời đại tin học hơn bao giờ hết là vấn đề của chính quyền ” [34, tr.75] Các nhà hậu hiện đại

hướng tới giải phóng ngôn ngữ khỏi những quy tắc định hình và không hề cố định

nó vào một nhóm nguyên tắc nhất định nào đó Đây chính là bản chất của quan niệm trò chơi ngôn ngữ Lyotard chỉ ra ba quan sát về quan niệm này: thứ nhất, các

quy tắc không có sự hợp thức hóa ở bản thân trò chơi mà là đối tượng của “khế ước

mặc nhiên hay minh nhiên” giữa những người chơi, ở đây chính là người viết – tác

giả và người đọc – người tiếp nhận; thứ hai, không có quy tắc không có trò chơi;

thứ ba, “mọi phát ngôn phải được xem như một nước đi trong một trò chơi” [34,

tr.80], nghĩa là không có trò chơi sẽ không có diễn ngôn hậu hiện đại Hậu hiện đại coi trọng vai trò của ngôn ngữ nên mỗi tác giả hậu hiện đại luôn cố gắng tạo ra được những phong cách riêng, không trùng lặp người khác và cũng không trùng lặp chính bản thân mình trong những sáng tác khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau

Như đã đề cập ở trên, chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận tính khách quan của việc tri nhận thế giới, coi khách thể vừa là khách thể vừa là chủ thể Lyotard cho rằng tri thức là một dạng hàng hóa đặc thù, là nền tảng phát triển xã hội Nghĩa là, các nhà hậu hiện đại cho rằng tri thức phải được sinh lời, việc cung cấp tri thức và lĩnh hội tri thức hướng đến mục đích tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa hơn mang lại

giá trị đích thực cho con người “Quan hệ của người cung cấp tri thức và người sử

dụng tri thức đối với chính tri thức đang và sẽ có xu hướng khoác hình thức quan hệ của người sản xuất và người tiêu dùng hàng hóa đối với hàng hóa – đó là hình thức giá trị.” [34, tr.64] Tri thức được biểu thị qua các diễn ngôn và hình thức của nó là

trò chơi ngôn ngữ Trò chơi đó buộc người ta phải tự thân cảm thụ và tìm kiếm tri

Trang 22

19

thức nên diễn ngôn hậu hiện đại bao giờ cũng mang đặc tính phân tán, vừa thế này lại vừa thế kia Sự giải phóng ngôn ngữ khỏi những quy tắc định hình và không nỗ lực cố định nó vào một hoặc vài nguyên tắc nào đó chính là bản chất của quan niệm trò chơi Có nghĩa là nó lấy sự do dự, kiệm lời, không nói hết ý, ý tại ngôn ngoại làm nền tảng Điều này rất gần với quan điểm của nhà văn Ernest Hemingway

(1899 – 1961) về nguyên lí tảng băng trôi với một phần nổi, bảy phần chìm, đưa người đọc lạc vào ma trận của ngôn từ để tìm kiếm những nội dung, ý nghĩa, những

điều được ẩn giấu phía sau các trang sách để khám phá cái hay, cái đẹp của tác

phẩm Nói cách khác, nhà văn để lại những khoảng trống và người đọc sẽ tự lấp đầy

chúng, tính mở của văn bản nhờ đó được tạo ra trên nhiều cấp độ, phù hợp với những nhóm người đọc có trình độ khác nhau

Văn học hậu hiện đại ra đời như là hệ quả tất yếu ứng với thời Hậu hiện đại cùng chủ nghĩa hậu hiện đại Các tác giả văn chương hậu hiện đại nổi tiếng có thể được kể ra ở đây như Samuel Beckett (1906 – 1989), Gunter Grass (1927 – 2015), Gabriel Garcia Marquez (1927 – 2014), Donal Barthelme (1931 – 1989),Umberto Eco (1932), J M Coetzee (1940)… Các nhà văn này thường đi theo những khuynh

hướng chính đặc trưng cho văn học văn xuôi hư cấu hậu hiện đại như “sự hỗn độn

thế tục (Temporal disorder), cóp nhặt (Pastiche), mảnh vỡ (Fragmentation), sự nới lỏng tổ chức (Looseness of associationg), tính hoài nghi (Paranoia), vòng tương tác (vicious circles)” [11, tr.31]

Như đã nhắc tới ở những phần trước của luận văn, chủ nghĩa hậu hiện đại với cảm quan về sự hỗn loạn, phi lí, hư vô… trở thành dòng tư tưởng chủ đạo của văn

học giai đoạn sau Thế chiến II “Các nhà hậu hiện đại khai thác dòng chảy nội tâm

nhưng đó là dòng chảy “tỉnh táo”, các yếu tố tác động bên ngoài vẫn được tính đến

để tạo nên một hiệu ứng có khả năng “lấp đầy” nhất định giữa các sự kiện được nói đến khi tác phẩm được tiếp nhận” [11, tr.48] Có thể nhận thấy các nhà văn hậu

hiện đại luôn tìm kiếm và khai thác những phương thức thể hiện khác biệt so với quy chuẩn của văn học giai đoạn trước nó là văn học hiện đại Văn học hậu hiện đại hướng theo hình thức mở hay còn gọi là phi hình thức với các chi tiết, biến cố được

Trang 23

20

sắp xếp ngẫu nhiên, không theo bất cứ trật tự nào Ở đây, người đọc nhận thức được yếu tố sắp đặt của nhà văn nhưng hạn chế tối đa sự bộc lộ quan điểm chủ quan của mình Nền tảng xã hội tạo nên khuynh hướng hậu hiện đại rõ ràng là những chấn động và đổ vỡ của các tiêu chí về nhân sinh nhanh chóng, bất ngờ Trong hoàn cảnh

đó, các nhà hậu hiện đại hình thành cách cải tạo xã hội của riêng mình: cải tạo mà không cải tạo Họ coi những biến đổi đó là tất yếu, chấp nhận nó và thuận theo nó

dù bản thân họ vẫn giữ những gì là truyền thống, là tập tục

Franz Kafka được coi như là người khai sinh khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo – một nhánh của văn học hậu hiện đại đồng thời là cha đẻ của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Kafka là người tiên phong trong việc đan cài các yếu

tố huyền ảo và hiện thực, thể hiện sự bất tín vào hiện thực, vào những gì con người

có thể hiểu, lí giải hay cắt nghĩa Trong những tác phẩm của mình, Kafka đưa ra hiện thực với các yếu tố có thể cắt nghĩa và không thể cắt nghĩa, đôi lúc tồn tại trong thế giới ảo hay thế giới của giấc mơ Theo nhận định của tác giả Lê Huy Bắc,

“một mặt Kafka xem những cái hoang đường là một bộ phận tất yếu của hiện thực

Mặt khác, ông lại phá vỡ tính mạch lạc để tạo nên những liền kề, đứt đoạn ngẫu nhiên của hiện thực.” [11, tr.49] Người đọc bắt gặp ở hầu khắp các tác phẩm của

Kafka như “Biến dạng”, “Thầy thuốc nông thôn”, “Vụ án”, “Lâu đài” một thế giới

“giấc mơ” thường mang theo “nỗi ám ảnh về sự cô đơn, sự phi lí, sự tha hóa và thói

quan liêu độc tài Trong những giấc mơ mang tính bản thể này Kafka đã chạm đến được nhiều bí ẩn trong đời sống tâm hồn con người.” [11, tr.56] Kafka đã đặt được

dấu ấn và tầm ảnh hưởng đối với các nhà văn thế hệ sau về quan điểm và phong cách sáng tác mang tính “hậu hiện đại” của mình

Chủ nghĩa hậu hiện đại về cơ bản là sự nguyên hợp tri thức nhân loại và ngày càng được thực hiện một cách có chủ định Nhà văn Beckett cho rằng nhân vật trong các tác phẩm của mình chỉ là những “mảnh vỡ” và nền tảng triết học của ông thực chất cũng giống như của Kafka chính là cái nhìn hư vô về cuộc đời và sự chấp nhận nó Nhưng nhắc đến “mảnh vỡ”, nhà văn được coi là một trong những người

đi đầu lại chưa hẳn là Beckett mà là Donald Barthelme với tuyên bố về những

Trang 24

hiện đại còn “mở ra tối đa những con đường, những khả thể để người đọc tự đi vào

văn bản.” [11, tr.77] Đối tượng của “mảnh vỡ” ở các tác phẩm hậu hiện đại đa dạng,

trở thành bản chất của vạn vật và nó tồn tại khi con người không còn tin vào những

gì hoàn hảo, tròn đầy, dễ nắm bắt Như các nhân vật trong những tác phẩm hậu hiện đại luôn luôn bị lu mờ, mơ hồ về nhân dạng, về tính cách, về hành động, điểm nhìn thường thay đổi khiến chân dung, tâm trạng, cá tính bị phân tán thành nhiều mảng

vỡ Muốn nắm bắt được nhân vật, người đọc phải lắp ghép từ những chi tiết ngẫu nhiên xuất hiện đâu đó rải rác trong tác phẩm Cùng với đó, người đọc cũng phải tiếp nhận và kết nối những giá trị của tác phẩm tồn tại như những mảnh ghép nhỏ vụn rải rác Người đọc lúc này trở thành người đồng sáng tạo với tác giả

Khi chấp nhận sự hỗn độn và tạo ra những mảnh vỡ thì các nhà văn hậu hiện

đại sử dụng nguyên lí trò chơi “… Mỗi một nhà văn hậu hiện đại là một hệ phong

cách Sự không trùng lặp trong sáng tạo đến các nhà hậu hiện đại mới thực sự được đẩy xa Tính trò chơi trong triết học hậu hiện đại còn xuất phát từ việc chống lại chân lí khách quan (objective truth) và chống diễn ngôn văn hóa toàn cầu (global cultural narrative)” [11, tr.41, 42] Như nhà văn người Colombia Gabriel Garcia

Marquez từng thừa nhận các nhà văn thế hệ trước ảnh hưởng rất nhiều tới những sáng tác của ông nhưng giới phê bình và độc giả vẫn nhận ra dấu ấn phong cách của riêng ông, không trùng lặp với bất cứ ai Đó là nhờ ngôn ngữ và hẳn nhiên là nhờ nguyên tắc trò chơi của nó Trong cuốn tiểu thuyết đồ sộ từng đoạt giải Nobel văn

học của ông Trăm năm cô đơn người ta bắt gặp các nhân vật đã xuất hiện trong

những tác phẩm khác ra mắt trước đó thế nhưng, những nhân vật này tồn tại theo

Trang 25

22

cách riêng của chúng Hay như bản thân các nhân vật trong dòng họ Buendía trong cuốn tiểu thuyết có những hình mẫu ngoài đời song không hề lặp lại nguyên bản, các nhân vật đời sau có sự lặp lại của đời trước nhưng hết thảy đều có những nét riêng, hoàn cảnh, cá tính không hề lẫn với nhau Câu chuyện được nhà văn kể lại nhuốm màu sắc của nỗi cô đơn bởi sự hoang mang lo sợ trước truyền thống “loạn luân” của gia đình Họ càng lo sợ trốn tránh, xa lánh tất cả càng hãm sâu vào nỗi cô đơn, càng hoài nghi tất cả những gì đang diễn ra quanh mình, dẫu cẩn trọng đến đâu cũng không phải vĩnh viễn tránh khỏi điều luôn lo lắng Thông điệp Garcia Marquez nhắn nhủ chính là con người cần sống đúng với bản chất của mình, bản chất của con người nhất – là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội, vượt qua định kiến, thành kiến

cá nhân, lấp bằng mọi hố ngăn cách để đồng hóa với gia đình và xã hội

Tiểu kết chương 1

Chủ nghĩa hậu hiện đại mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trên phạm vi thế giới tại nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có văn học Dù còn nhiều ý kiến trái chiều nhau về quan điểm hậu hiện đại nhưng không thể phủ nhận những ảnh hưởng

nó mang tới cho văn chương nhân loại giai đoạn này

Sự biến động nhanh chóng của thế giới sau cuộc chiến tranh Thế giới lần 2 cùng với sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ như vũ bão của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã tạo nên hoàn cảnh mới – hoàn cảnh hậu hiện đại Lyotard đã đưa ra nhận định ngắn gọn những đầy đủ về hoàn cảnh hậu hiện đại là “sự hoài nghi đối với mọi đại tự sự” Chính hoàn cảnh ấy đã góp phần quan trọng hình thành nên nền triết học hậu hiện đại Khi những điều kiện về lịch sử – xã hội, khoa học – văn hóa, lí luận triết học được hội tụ đủ thì chủ nghĩa hậu hiện đại trở thành một trào lưu

tư tưởng, văn hóa trong mọi lĩnh vực, có tác động lớn trên nhiều phương diện, nâng tầm ảnh hưởng trên toàn thế giới Cảm quan hậu hiện đại chủ đạo tồn tại như là một tâm thức, một thế giới quan mới đối với hiện thực: chính là sự hoài nghi trước một thế giới hỗn mang cùng sự bất tín nhận thức trước các đại tự sự; quan điểm phi trung tâm, chấp nhận cái chết của chủ thể; cho rằng tri thức được thực hiện thông

qua các diễn ngôn bằng các trò chơi ngôn ngữ

Trang 26

23

CHƯƠNG 2: PI VÀ TRIẾT HỌC TÔN GIÁO ĐA NGUYÊN

2.1 Triết học tôn giáo đa nguyên và chủ nghĩa hậu hiện đại

Tôn giáo có thể hiểu là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang

tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại như một

cách hư ảo, nhằm lí giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Hay,

tôn giáo là một hệ thống các niềm tin và ứng xử, dựa trên một hệ thống biểu tượng

Niềm tin tôn giáo hướng đến được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời

kì lịch sử, hoàn cảnh địa lí, văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng tôn giáo khác nhau

Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào, luôn luôn phải

đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình Những thế giới tưởng như đối nghịch nhau nhưng luôn bổ trợ cho nhau

Tôn giáo còn là biểu hiện cho sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội Bởi con người còn thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần Bên cạnh đó tôn giáo hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện mà ở đó quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải Trên khía cạnh đó, tôn giáo góp phần tích cực trong văn hoá, đạo đức xã hội như: đoàn kết, hướng thiện, quan tâm đến con người… Tôn giáo là niềm an ủi, chỗ dựa tinh thần của quần chúng lao động

Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tôn giáo và bản chất của tôn giáo Thần học coi tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người,

là niềm tin vào cái siêu nhiên Với tâm lí học, tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình C Mác cho rằng “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của

Trang 27

xu thế toàn cầu hóa chi phối mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trình độ học vấn được nâng cao, thành tựu khoa học, công nghệ phát triển làm các tôn giáo trở nên “thế tục hóa” kéo theo sự đa dạng trong đời sống tôn giáo Từ đây xuất hiện các ý kiến khác nhau, dẫn đến sự chia rẽ trong các tôn giáo thành những giáo phái với tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan Bên cạnh đó, cảm quan mới về thế giới, cảm quan hậu hiện đại, đem tới cho con người, bao gồm các tín đồ tôn giáo, nhiều cảm thức hoài

nghi, bất tín Những điều nàytrở thành cơ sở cho sự ra đời của đa nguyên tôn giáo,

nghĩa là chấp nhận sự tồn tại song hành của nhiều tôn giáo, tạo ra những lựa chọn rộng rãi về tôn giáo, tín ngưỡng Đó là kết quả của tiến trình lịch sử di cư, nhập cư, định cư, giao thoa văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng giữa các dân tộc, các quốc gia

Chủ nghĩa hậu hiện đại mang đặc tính phi trung tâm, mở ra hướng tiếp cận

đa nguyên cho khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Triết học tôn giáo không nằm ngoài quy luật đó Con người luôn hoài nghi, thế giới chuyển thành hỗn độn, đức tin độc nhất lung lay, con người sẽ tìm kiếm đến đời sống tâm linh phù hợp hơn tạo cơ

sở cho sự phát triển của tôn giáo đa nguyên Chủ nghĩa hậu hiện đại đã biến triết

học tôn giáo trở thành triết học tôn giáo đa nguyên Tư duy hậu hiện đại không tìm

cách quay trở về thời tiền hiện đại, cũng đồng nghĩa với việc không xem sự trở lại với tôn giáo độc tôn, quyền uy là lời giải đáp Quan điểm hậu hiện đại cho rằng cả khoa học lẫn tôn giáo đều đã thất bại trong việc mang lại những câu trả lời cho những bí mật và những vấn đề phức tạp của đời sống hiện đại Tâm thức hậu hiện đại nghi ngờ sâu sắc đối với những yêu sách và những lời tuyên bố to tát các nhà hậu hiện đại vẫn gọi là “đại tự sự” Cuộc đời là phức tạp không có một con đường cho tất cả mọi người, vì thế, tôn giáo là một trong nhiều lựa chọn, khi con người đi tìm sự thật và ý nghĩa của riêng mình

Trang 28

25

Với nhiều tín đồ, họ chỉ chấp nhận tính chính đáng của truyền thống tín ngưỡng tôn giáo của mình Đối với việc chấp nhận tính chính đáng của những tôn giáo khác, họ cho rằng có thể làm tổn hại tính nguyên vẹn niềm tin tôn giáo, bởi vì

nó đòi hỏi phải thu nạp những con đường tâm linh khác nhau Một tín đồ Hồi Giáo

có thể cảm thấy chấp nhận những truyền thống khác là hợp lí sẽ đòi hỏi việc từ bỏ niềm tin và sự liên hệ đến Đấng Tiên Tri Muhammad Hoặc, một người Ki Tô hữu

có thể cảm thấy việc chấp nhận tính chính đáng của những tôn giáo khác sẽ đưa đến

sự tổn thương đức tin then chốt mà trong hệ tư tưởng của họ thì chỉ qua Jesus Ki-Tô mới có con đường tìm thấy Thượng Đế Thế nên, việc “chạm trán” với một tín ngưỡng hay tôn giáo khác, người ta có thể không né tránh cũng không giải thích thoái thác, sẽ đưa ra một thách thức nghiêm trọng đến những tiền đề sâu xa của chính bản thân tôn giáo truyền thống của họ.Vậy, niềm tin tôn giáo duy nhất, đơn độc của con người có thể cùng tồn tại với sự chấp nhận tính chính đáng của những tôn giáo khác hay không? Liệu có phải tính đa nguyên tôn giáo thực sự không thể xuất hiện ở một con chiên ngoan đạo, người hiến dâng một cách mạnh mẽ đức tin

và lòng trung thành cho truyền thống tín ngưỡng của họ?

Trên phương diện lịch sử, các tôn giáo trải qua một chiều dài tuyến tính xa xưa, thậm chí là thông qua những cuộc chiến tranh để truyền bá rộng rãi lập trường của mình về những gì các tín đồ cho là đúng đắn Ngay trong chính nội bộ của mình, các tôn giáo đã trừng trị một cách vô cảm những giọng nói không chính thống hay

dị giáo mà truyền thống xem như phá hoại tính nguyên vẹn của những chân lý không thể xâm phạm Quá trình truyền giáo có thể hiểu như việc sử dụng các giáo lí của tôn giáo mình để đem đến sự chuyển đổi hành động của con người từ những tôn giáo khác nhau hoặc những con người vốn không tín ngưỡng hướng đến “một phương pháp chân chính”, là hành động tuân theo giáo lí chính đáng Nói một cách

dễ hiểu hơn, truyền giáo thực chất làm thay đổi những người thuộc tôn giáo khác, hoặc không thuộc bất cứ tôn giáo nào thành tín đồ của tôn giáo của mình

Các tôn giáo hầu hết đều có lịch sử lâu dài, giáo lí có phần “độc đoán”thường khó duy trì tính toàn vẹn của niềm tin từ phía tín đồ Từ đó, họ dễ dàng chấp nhận

Trang 29

26

đa nguyên, với tinh thần hòa hợp liên tôn chân thành dựa trên sự thấu hiểu qua lại

giữa các tôn giáo Những học giả tôn giáo nêu ra ba cách ứng xử với tôn giáo:

 Sự độc tôn cực đoan, coi tôn giáo của mình là tôn giáo chân chính duy nhất và điều ấy phủ nhận tính chính đáng của những truyền thống tôn giáo khác

 Những giáo huấn của tôn giáo khác phần nào được chứa đựng trong truyền thống tín ngưỡng của chính họ

 Chủ nghĩa đa nguyên chấp nhận giá trị tất cả truyền thống tôn giáo Vậy, làm thế nào để điều hòa hai khái niệm dường như đối kháng với nhau

có liên quan đến những truyền thống tôn giáo của thế giới? Làm thế nào một tín đồ, một con chiên ngoan đạo nhận thức “một chân lý, một tôn giáo” trong giáo lí của tôn giáo mình có thể công nhận khái niệm “nhiều chân lý, nhiều tôn giáo” cùng song hành tồn tại trên thế giới?

Trong xã hội ngày nay, con người có rất nhiều cơ hội để tiếp xúc, để giao lưu

và “thẩm thấu” những giá trị văn hóa của các quốc gia, dân tộc toàn thế giới, trong

đó có cả tôn giáo Con người dần phải thừa nhận sự tồn tại của các tôn giáo khác ngoài tôn giáo của cá nhân mình, nghĩa là thực tế không hề có tôn giáo nào là độc tôn, duy nhất, không có giáo lí nào là tối thượng, thống trị

Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn từng nhận định trong bài tham luận của

mình:“Sự mở rộng tâm linh đối với những khả thể trải nghiệm chủ quan” có thể nói

là đặc điểm cốt lõi của bước chuyển từ tâm thức “hiện đại” sang tâm thức “hậu hiện đại” Sự chuyển biến này làm thay đổi cách nhìn về thế giới, cách hiểu về thực tại và chân lý, và cách tiếp cận những vấn đề cơ bản của đời sống” [Từ hậu hiện

đại đến hậu hậu hiện đại trong tư tưởng tôn giáo, Bài tham luận hội thảo quốc tế: Chủ nghĩa Hậu hiện đại và tôn giáo mới, tổ chức tại Trường Đại học Quốc gia TP

Hồ Chí Minh, ngày 14.06.2013] Với những thước đo mới cho thế giới hậu hiện đại, con người hậu hiện đại tự cho mình quyền uy và chỉ chấp nhận thừa nhận những gì bản thân đã tự trải qua; họ đi tìm niềm tin đích thực không phải ở một tôn giáo độc tôn mà trải nghiệm những tâm linh tôn giáo ở những tôn giáo có thể đem lại niềm tin và sự giải thoát tâm hồn cho họ

Trang 30

27

Tôn giáo hậu hiện đại và sự lý giải hậu hiện đại về tôn giáo tăng cường giá trị cá nhân, đề xướng một thứ thần học không giáo điều, tạo ra một không gian mở cho các tín đồ Đồng thời nó đưa tới nhận thức về sự đa nguyên tôn giáo, là tổng hòa của nhiều đức tin từ các truyền thống tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau và thách thức quan niệm về các chân lý tuyệt đối, bất biến Xu hướng này nâng cao vị thế của con người cá nhân, đối diện với những hệ tư tưởng “dòng chính” hay những cấu trúc quyền lực đang thống trị tư duy có phần cởi mở hơn rất nhiều Với mục tiêu sáng tạo nên “một tính tâm linh không có ranh giới hay giáo điều cứng nhắc”, phong trào “New Age” ra đời vào thế kỉ XX luôn đưa ra mục tiêu hướng đến một thế giới quan “toàn thể luận”, “nhất nguyên luận”, thống nhất giữa Tinh thần, Thể xác và Tâm linh, hỗn dung các truyền thống siêu hình học và tâm linh của phương Tây và phương Đông với những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại lẫn những

bí thuật phi – chính thống Đa nguyên tôn giáo nhờ đó trở nên vững chắc và được chấp nhận trên phạm vi toàn thế giới

2.2.Triết lí của Pi về đạo Hindu, về Thiên Chúa giáo và về đạo Hồi

Pi sinh ra trong một gia đình khá giả, cậu là con trai của ông chủ sở thú giàu

có tại Pondicherry (trước đó họ sở hữu một khách sạn lớn ở Madras) Cậu được cha

mẹ cho theo học tại ngôi trường tốt nhất trong khu vực, “trường Petit Seminaire,

trường trung học tư thục dùng tiếng Anh tốt nhất ở Pondicherry” [36, tr.50] Trong

môi trường giáo dục “tân tiến” ấy, cậu bé Pi, với niềm yêu thích tìm tòi vốn có, dần hình thành thái độ hiếu học đúng mực về cả kiến thứ, học vấn lẫn quan điểm sống hay tư duy tâm linh Cậu có điều kiện tiếp xúc trên nền nhận thức tiến bộ với các tôn giáo tồn tại trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ

Pi không phải mặc nhiên theo tôn giáo nào, như lẽ thường cha mẹ theo một tôn giáo thì con cái đương nhiên cũng sẽ đi theo tôn giáo đó Cậu đến với cả ba tôn giáo với sự ngẫu nhiên có định hướng (nhờ bà bác, nhờ ông cha cố, người thợ làm bánh trong ngôi đền) Cho đến khi câu chuyện kết thúc, Pi vẫn theo ba tôn giáo đó

và vẫn là con người sùng đạo, hướng về những bậc thánh thần đứng đầu với niềm sùng kính linh thiêng nhất và cũng trong sáng nhất

Trang 31

28

Sinh ra trong cộng đồng theo đạo Hindu, Pi đương nhiênlà một tín đồ Hindu giáo, nhưng thực tế, bà bác (chị gái của mẹ) là người đã dẫn dắt cậu bé Pi đến với

Hindu giáo từ thuở còn thơ bé “Nhân vật đưa tôi đến với Thượng đế lần đầu tiên

trong đời là là người chị của mẹ tôi, người đã mang tôi đến một ngôi đền khi tôi còn

bé tí Bác Rohini rất sung sướng được gặp gỡ đứa cháu mới ra đời và bác nghĩ rằng Đức Thánh mẫu cũng phải được chia sẻ nỗi sung sướng ấy” [36, tr.84] Người

bác đã cho cậu một “chuyến du hành đầu tiên” Dù trong kí ức, cậu không thể ghi nhớ rõ nhưng lại là mở đầu cho cậu đến với đạo Hindu chân chính

Đạo Hindu là tôn giáo cổ xưa nhất, lâu đời nhất của Ấn Độ, tạo được ảnh hưởng rất lớn tới đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, tinh thần ở đất nước Ấn Độ nhiều quốc gia ở khu vực Đông Nam Á Khác với các tôn giáo khác, Hindu giáo không có người sáng lập, không có người đứng đầu hay giáo điều; nó tập hợp các

hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng, triết học – được hình thành và phát triển theo chiều dài lịch sử của đất nước Ấn Độ Lịch sử của đạo Hindu trải qua ba giai đoạn lớn là

Vệ Đà – Bà-la-môn – Hindu Giai đoạn Vệ Đà xây dựng nền móng về thần điện, giáo lí và nghi thức kéo theo sự ra đời của tầng lớp tăng lữ Bà-la-môn và thuyết về bốn giai đoạn cuộc đời con người, Ashrama Đến cuối cùng, giai đoạn Hindu trừu tượng hóa các vị thần thành những biểu tượng Brahma, Vishnu, Siva đại diện cho

Vũ trụ, Sáng tạo, Bảo tồn và Phá hoại Ở vào giai đoạn cuối, những lễ thức của đạo Hindu được đơn giản hóa và được tiến hành vào các dịp có tính chất xã hội, tôn giáo (sinh, tử, giá thú…) tại các đền thờ hay các điểm hành hương linh thiêng Tất

cả chúng phần nào đã làm nên nét văn hóa rất đặc trưng của đất nước Ấn Độ Cũng như những tín đồ khác, Pi yêu thích các lễ nghi và nghi thức thiêng liêng ấy Cậu hiểu biết về thế giới từ quan điểm của Hindu giáo, toàn bộ vũ trụ có nghĩa lý trong cách nhìn Hindu của cậu Cậu hiểu với tư cách là nhân loại, cậu là một thực thể của

sự Luân hồi, vòng tròn của sự sống giúp cho con người đầu thai sau khi chết đi Để kết thúc sự luân hồi và đạt tới cảnh giới giải thoát, con người phải tiến hành những cách dâng hiến Cách của Pi là Bakhti – lòng tận tụy với thần linh, thực hiện các nghi lễ và nghi thức, đồng thời tuân thủ Karma – Nghiệp (là nguyên nhân đưa tới

Trang 32

29

Quả báo, tạo thành luật Nhân – Quả tuần hoàn trong Luân hồi), và thực hiện những hành vi tốt, tránh khỏi những hành vi xấu xa Từ thuở còn được mẹ bế trong tay, Pi

đã được bà bác dìu dắt “Trong kí ức của tôi không thể ghi nhớ rõ chuyến đi vòng

quanh trong ngôi đền đó, nhưng một chút hương nhang, một vài tia sáng và bóng tối, một vài ánh lửa, những vệt màu vụt lóe lên, một cái gì đó thâm trầm và bí ẩn của ngôi đền chắc chắn đã đọng lại trong tôi Một hạt giống của niềm hoan lạc tín ngưỡng, chưa bằng một hạt cải, đã được gieo vào và nảy mầm trong tôi Nó đã không ngừng lớn lên từ ngày ấy.” [36, tr.85] Trong suy nghĩ của Pi, cậu là tín đồ

Hindu vì những gì thân quen quanh cậu, “bởi những thỏi nhang hình côn nặn bằng

bột kumkum màu đỏ và những giỏ trầm vàng, bởi những vòng hoa kết và những mẩu cùi dừa, bởi tiếng chuông ngân dài dọn bước chân người đến với Thượng đế, bởi những âm thanh khắc khoải của cây sáo sậy nadaswaram và tiếng trống đổ dồn, bởi tiếng chân trần bước trên sàn đá những hành lang tối có những tia sáng mặt trời xuyên nghiêng huyền ảo, bởi hương thơm của nhang, bởi lưỡi lửa của các cây đèn arati chập chờn trong bóng tối, bởi những khúc ca bhajan cất lên ngọt ngào làm vậy, bởi bầy voi đứng chầu quanh đền đợi ban phước lành, bởi những bức tranh tường kể bao câu chuyện lung linh, bởi những vầng trán mang trên chúng những kí hiệu khác nhau của chỉ một từ - niềm tin Tôi trở nên trung thành với những ấn tượng cảm xúc đó trước cả khi hiểu lý do và ý nghĩa của chúng” [36, tr.85]

Tất cả những thứ thân quen ấy tồn tại quanh Pi như một lẽ hiển nhiên và vì thế, chúng tự động trở thành một phần của cậu, làm cậu không thể không trung thành với niềm tin tôn giáo của gia đình, của cộng đồng Cảm xúc về tôn giáo của cậu như trang giấy trắng được thực tế tô vẽ trước cả khi cậu tự hiểu về nó hay có ý thức tự cầm bút vẽ cho riêng mình Cảm quan của cậuđứng trên lập trường tín đồ Hindu

giáo là tôn thờ thực tại tối cao Brahman – Đại ngã – là hiện thực siêu việt vô hạn

không thay đổi, là Đấng tối cao, là người sáng tạo và lèo lái vũ trụ, là cha của các thần và loài người Đó là thực tại có trước nhất và là thực thể duy nhất, tuyệt đối, tối cao, vĩnh viễn, vô danh vô sắc v.v… là bản thể của tất cả, ở ngoài mọi giới hạn của thời gian và không gian… Brahman là thực tại siêu việt khách quan, ở ngoài và ở

Trang 33

30

trong con người Được hun đúc từ nhỏ với tư tưởng ấy về Brahman, Pi có thể cảm

nhận về Đấng tối cao ấy trong cách nhìn rất Hindu của cậu Đó là, “có Brahman,

linh hồn của thế giới, các khung muôn đời trên đó dải lụa sinh tồn được dệt nên muôn hình vạn trạng, với tất cả những điểm trang không gian và thời gian của nó Rồi cóBrahman nirguna, vô tính chất, nằm ngoài tầm biết, không thể mô tả, không thể với tới… gọi nó là Thái cực, là Chân lý, là Cõi một, là Ý niệm tuyệt đối, là Thực

tế cuối cùng… và cố mặc vừa cho nó, nhưng Brahman nirguna luôn luôn làm bục chỉ những bộ quần áo đó của chúng ta… còn có Brahman saguna, có tính chất, mặc vừa bộ áo Thế là chúng ta gọi là Shiva, Krishna, Shakti, Ganesha… ta có thể phân biệt được những thuộc tính của nó – yêu thương, xót xa, sợ hãi - và ta cảm thấy được sức hút dịu dàng của quan hệ Brahman saguna là Brahman được biểu hiện

ra cho những giác quan hạn hẹp của ta, là Brahman được biểu hiện không phải qua thần linh mà qua người, thú vật, cây cỏ, thậm chí qua cả chỉ một nhúm đất, vì bất kì cái gì cũng có một vệt thánh thần ở trong nó.” [36, tr.86, 87]

Kinh Upanishad của đạo Bà-la-môn (một chi phái của Hindu giáo) cho rằng

“Cái gì là thực tại đầu tiên, duy nhất, tối cao, là căn nguyên của tất cả, mà khi nhận thức được nó người ta sẽ biết được mọi cái và có thể giải thoát được linh hồn con người khỏi mọi lo âu khổ não của cuộc đời” thì đó chính là “tinh thần vũ trụ tối cao Brahman" [37] Người ta có thể hiểu “toàn thể vũ trụ là Brahman” và “cái ngã tiềm

ẩn trong lòng ta, đó là Brahman” Nó là quỹ đạo chi phối vạn vật theo một trật tự như là điều lý có sẵn Trong khi đó, vạn vật là những thực tại hữu thủy, hữu chung, được điều lý và định hướng trong Brahman Brahman được hình tượng hóa như một cái tổ chim có ba con chim nhô cái đầu ra là Viraj, Hiranya Garbha và Ishvara: “Khi tuyệt đối được quan niệm là độc lập, tự hữu thì gọi là Brahman Khi được coi là hiện thân thành vũ trụ thì gọi là Hiranya garbha, khi được coi là thượng đế sáng tạo hữu ngã thì gọi là Ishvara Ishvara trở thành Brahman, Vishnu và Shiva khi ba chức phận của Ngài được phân biệt” Có rất nhiều hình tượng và những liên tưởng khác nhau để miêu tả về Brahman; hoặc lấy hình tượng con nhện giăng tơ để miêu tả

hành động sáng tạo và thu hồi của Brahamn: “Cũng như con nhện giăng tơ và rút tơ

Trang 34

31

về, cũng như cỏ sinh trên mặt đất, cũng như lông mộc trên thân người sống, thì nơi đây trong vũ trụ, phàm cái hữu tồn là xuất tự Bất di bất dịch”; hoặc dùng toàn bộ

những chữ “không” để nói: “Brahman không lớn, không nhỏ, không ngắn, không

dài, không rực rỡ, không tối tăm, không mùi, không vị, không mắt, không tai, không tiếng nói, không hơi thở, không trong, không ngoài, không tiêu hủy mà cũng không

bị tiêu hủy”[37] Mặc dù không thể định nghĩa cụ thể được Brahman, nhưng

Brahman vẫn luôn được thừa nhận là: Thực hữu (Chat), Ý thức (Chit), An lạc (Ananda) Brahman là thực hữu vì không phải là hư không, là ý thức vì là nguồn gốc của mọi nhận biết, là an lạc vì đó là hạnh phúc vĩnh hằng Con người có thể cảm nhận Brahman bằng trực giác tâm linh Turiya – được coi là bản chất của ý thức

về tự ngã duy nhất, nơi tất cả muôn vật trong thế giới đều trở về, yên vui, thanh tịnh

Pi đã nhìn ra được thực tại phi phẩm tính (Nirguna Brahman) luôn nằm ngoài tầm với, tầm hiểu biết của con người, có nghĩa là con người không bao giờ có thể định hình nó trong những khuôn mẫu cố định được Nó luôn luôn tìm cách vượt thoát khỏi những ràng buộc con người dành cho nó bởi nó là Ý niệm tuyệt đối, là Chân lí, là Thái cực, là Thực tế cuối cùng Brahman Nirguna luôn gợi lên một thực thể vừa tối thượng vừa siêu việt Ngược lại, Saguna Brahman (thực tại có phẩm tính) được xem là hành động ở trình độ thấp, như một sức lực sống động trong mọi sự và cũng là Isvara (từ ngữ tổng quát dùng để gọi Thượng đế) Thuật ngữ Saguna Brahman gợi lên một Brahman có đủ thứ phẩm tính để thuận tiện cho việc thờ

phụng, như Pi nhận định: “phân biệt được những thuộc tính của nó – yêu thương,

xót xa, sợ hãi” Thuộc tính này của Brahman đưa triết lí Hindu đến gần hơn với tín

đồ, giúp họ nhận ra sự tồn tại của Tạo hóa, của Chân lí không phải vĩ mô và xa vời

ở Thần linh mà đơn giản, thân thuộc trong từng nhánh cây ngọn cỏ Pi nhận thức được những gì đơn giản nhất quanh cậu đều chứa đựng dấu vết của thần thánh, nghĩa là con người có thể sùng bái và thực hành giáo lí của Hindu giáo thông qua hành động, thái độ đối với mọi vật, mọi đối tượng và mọi người quanh mình

Tư tưởng Bà-la-môn bắt nguồn từ kinh Vedas và Upanishad, chủ yếu là sự đồng nhất giữa linh hồn cá nhân Atman với linh hồn tối cao vũ trụ Brahman, tức

Trang 35

32

quan niệm “vạn vật đồng nhất thể” còn gọi là Bất Nhị, nghĩa là Tiểu Ngã (Atman) hay linh hồn của mỗi chúng sinh đều cùng chung một bản thể đồng nhất với linh hồn Đại Ngã (Brahman) hay linh hồn vũ trụ Nói cách khác, nếu Brahman là linh hồn vũ trụ, là Bản Ngã tối cao, là thực thể tuyệt đối, duy nhất, đầu tiên và bất diệt, sáng tạo và chi phối vạn vật, là nguồn gốc sinh ra vạn vật, thì Atman (Tiểu Ngã hay

Tự Ngã) là một thực thể nội tại, là linh hồn trong mỗi cá nhân Theo quan điểm của đạo Bà-la-môn, hơi thở con người là nguồn sống của vật chất, Atman là linh hồn, là nguồn sống của tâm linh Atman là thực thể có thể giúp con nguời vượt lên trên vạn vật Có thể nói Atman là thành phần của Brahman trong con người Brahman là cái ngã vũ trụ đại đồng, còn Atman là cái ngã cá nhân Pi cho rằng Brahman và Atman không khác nhau quá nhiều, bởi chúng đều là linh hồn; một là linh hồn của thế giới còn một là linh hồn của cá thể, chúng bao hàm, nương tựa và phụ thuộc lẫn nhau Pi hiểu, như nhiều tín đồ khác, Atman được gọi là linh hồn tối cao vì Brahman và Atman tên gọi tuy khác nhau nhưng cùng một thể Brahman thuộc phương diện vũ trụ, Atman thuộc phương diện tâm lý Căn cứ vào phương diện tâm lý, linh hồn bất diệt, nghĩa là Atman khi lìa thể xác linh hồn được quy thuộc về Brahman Những

nhận định của Pi về Brahman và Atman đã chứng thực sự “hiểu” ấy của cậu “Thực

sự là Brahman chẳng khác gì Atman, cái sức mạnh tinh thần bên trong ta, cái mà ta

có thể gọi là linh hồn Linh hồn cá thể chạm tới linh hồn thế giới cũng như một cái giếng thông mạch với tầng nước ngầm của nó Cái có thể duy trì vũ trụ bên ngoài ý nghĩ và lời nói, và cái nằm bên trong cốt lõi của chúng ta và luôn gắng gỏi để tự biểu hiện, chỉ là một mà thôi Cái nhất định bên trong cái vô cùng, cái vô cùng bên trong cái nhất định Nếu hỏi ta Brahman và atman quan hệ với nhau chính xác như thế nào, ta sẽ nói rằng cũng như cách mà ngôi Cha, Con và Thánh thần quan hệ với nhau, nghĩa là một cách thần bí… Atman tìm cách để thực hiện Brahman, để được nhập một với cái Tuyệt đối, và nó du hành trong đời sống như một cuộc hành hương trong đó nó sinh ra rồi chết đi, lại sinh ra và chết đi lần nữa… mãi đến khi

nó trút bỏ được các lớp vỏ bọc đã cầm tù nó” [36, tr.87]

Trang 36

33

Tất cả những hành vi của kiếp nhân sinh và vạn vật đều nhằm biểu lộ trật tự của Brahman nội tại trong Atman và do những tác dụng của định luật về Nghiệp tạo nên những điều kiện hậu lai của những vòng luân hồi có tính thưởng phạt Những vòng luân hồi này giam giữ thể xác trong vòng quay không ngừng của bánh xe Định mệnh, hướng tới sự giác ngộ và thực hiện sự đồng nhất Atman-Brahman, và ràng buộc nó trong vòng sinh tử luân hồi bất tận, bị điều động và chi phối bởi nghiệp báo Điều đó lí giải về Nghiệp báo là sự giam hãm con người trong vòng luân hồi tới khi con người đạt được chân tri, đạt đến giải thoát, đến trạng thái đồng nhất với thiêng liêng, với tự ngã tuyệt đối và bất diệt Có nghĩa là khi tự ngã Atman của con người, của chúng sinh chưa hoà nhập với Bản thể tuyệt đối – Brahman, thì Tự ngã của con người vẫn còn phải luân hồi trong vòng sinh tử Họ chủ trương “Brahma-Atman đồng nhất” và con người giải thoát là con người hoà đồng vào bản thể của vũ trụ Tiểu Ngã hoà đồng với Đại Ngã vô biên trong một trạng thái vĩnh cửu Theo đó, Thiên đàng chỉ là cõi yên vui có hạn định dành cho những người chăm chỉ, cần cù

và thường làm những công việc hướng thiện và họ được hưởng thụ ân phúc ở kiếp này hay kiếp sau Đó là hành động tạo nghiệp, vì hành động tự nó có tính cách ràng buộc và luôn gây ra phản hồi tương xứng Hành động tạo lập công đức có thể đưa con người tới cõi Thiên đàng hưởng phúc Dù vậy, chúng cũng không thể giải thoát con người ra khỏi vòng sinh tử luân hồi để đưa đến cõi bất diệt Vì thế, sau một thời gian hưởng phúc trên chốn thiên đàng, linh hồn con người phải quay trở về với nơi trần thế phàm tục, tiếp tục bước vào vòng luân hồi Quan điểm giải thoát của Hindu giáo chỉ ra chỉ có hành động vô chấp, vô cầu vô dục vọng thúc đẩy, không tiêm nhiễm thói quyến luyến đam mê mới đưa ta đến cõi bất diệt hay “nẻo đường thần linh” cũng chính là chốn hạnh phúc viên mãn đời đời Cõi ấy chỉ dành riêng cho những người chọn cuộc đời thoát tục, thiền định Nó chính là cõi bất diệt, là cứu cánh, là giải thoát thực sự của đời người, giúp con người đoạn tuyệt với nỗi khổ luân hồi Nó giải thoát vạn vật và chúng sinh, nhưng đúng ra ý tưởng giải thoát chỉ đặt ra với con người có lý trí, có tự do lựa chọn và quyết định khi hành động

Trang 37

34

Bên cạnh đó, các giáo lí Hindu giáo còn hướng cho các tín đồ ba nẻo đường giải thoát tuy khác nhau nhưng cùng đưa tới một mục đích là giải thoát linh hồn, thực hiện sự hợp nhất với thực tại tối hậu Tùy theo những khuynh hướng hoặc thiên hướng suy tưởng khác nhau, hoặc thiên về tình cảm, hoặc thiên về hoạt động… của mỗi người mà từng cá nhân thực hiện lựa chọn những nẻo đường phù hợp với mình Những nẻo đường được nhắc đến là: nẻo đường tri thức, nẻo đường sùng tín, nẻo đường hành động Pi nhận thức được tất cả những tư duy giáo lí đó của Hindu giáo – tôn giáo cậu thuận theo suốt cuộc đời mình Cậu từng nhận định

“Con đường đi đến giải thoát là muôn ngả, nhưng mà ngân hàng dọc con đường đó

chỉ là một, Ngân hàng Nghiệp kiếp, nơi tài khoản giải thoát của mỗi chúng ta được giàu thêm hoặc nghèo đi bằng chính những hành động của chúng ta.” [36, tr.87]

Phải chăng vì điều đó, đối với Pi, cuộc đời của cậu dù có trải qua khó khăn nhất cậu vẫn luôn lựa chọn con đường, lựa chọn hành động cao thượng nhất để cái “Nghiệp” bớt chút gian truân và nhiều hơn tính nhân văn Vậy nên, cậu đã có thể kiên trì tìm được đất liền sau nhiều ngày lênh đênh trên biển và rồi có một cuộc sống giản dị, thanh bình, hạnh phúc về sau Bản thân cậu nhận biết được chỗ đứng của chính mình trong vũ trụ nhờ vào những ý niệm và xác tín Hindu đã theo cậu và gia đình cậu từ thuở cậu lọt lòng Nhưng không vì thế cậu chỉ nhất nhất sùng bái một tôn giáo duy nhất, coi nó là độc tôn, là tối thượng

“Khi tôi mười bốn tuổi – một tín đồ Hindu đang thực sự hạnh phúc trong

niềm tin tôn giáo của mình – thì vào một ngày lễ nọ, tôi gặp Jesus Christ.” [36,

tr.89] Bởi quan điểm không coi tôn giáo nào là độc tôn nên Pi dễ dàng tiếp nhận một tôn giáo khác có nguồn gốc từ phương Tây xa xôi và hoàn toàn xa lạ với tôn giáo Hindu của cậu Tôn giáo thứ hai của Pi là Thiên chúa giáo (Cơ đốc giáo) và Cha Martin là người dẫn dắt cậu đến với Chúa Jesus

Thiên chúa giáo – Cơ Đốc giáo (còn gọi là Ki-tô giáo) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham Abraham cũng được coi là tổ phụ của người Do Thái

và người Ả Rập (với hai tôn giáo là Do Thái giáo và Hồi giáo) Kitô hữu (người Cơ Đốc) tin Giêsu là Con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người Do Thái như

Trang 38

35

đã được tiên báo trong Kinh thánh Cựu Ước Thuộc tôn giáo độc thần, hầu hết tín

đồ Kitô tin chỉ có một Thiên Chúa duy nhất hiện hữu trong 3 thân vị gọi là Ba Ngôi Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa, cũng như các xác tín và hệ phái khác nhau

Trải qua hai thiên niên kỷ, Kitô giáo tự hình thành nên ba nhánh chính là Công giáo Rôma, Chính thống giáo Đông phương và Tin Lành Về sau này, người Công giáo dùng chữ "Kitô" để chỉ Giêsu, người Tin Lành thường dùng chữ "Christ" Ngoài ra, một số người dùng cách gọi Thiên Chúa giáo để chỉ Công giáo nói riêng

và Kitô giáo nói chung Hạt nhân trung tâm trong quan điểm Cơ Đốc giáo là qua cái chết và sự phục sinh của Jesus, con người tội lỗi được phục hòa với Thiên Chúa, nhờ đó nhận được sự cứu rỗi và hưởng sự sống đời đời

Mười bốn tuổi Pi mới thực sự được tiếp xúc với Thiên Chúa giáo dù trước đó, cậu đã được theo học tại ngôi trường mang danh Cơ Đốc giáo Đó cũng là lần đầu tiên cậu bé Pi quyết tâm “liều” bước chân vào một nhà thờ Cơ Đốc giáo Trong cái

sự “liều” ấy, Pi lo sợ những người Cơ Đốc giáo sẽ xua đuổi, la mắng cậu, nên dù vô cùng hiếu kì, cậu đành phải lén lút nấp trốn để thỏa mãn tính tò mò của mình

Hình ảnh của vị Cha xứ đến với Pi bình yên và thanh thản vô cùng “Ông ta

ngồi ngoảnh mặt ra phía cửa ra vào và cửa sổ, tay cầm một cuốn sách, chắc là cuốn Thánh kinh Ông đọc một lúc, ngẩng lên, lại đọc một lúc nữa, rồi lại ngẩng lên, dáng điệu vừa nhàn tản lại vừa tỉnh táo và tự tin Ông để hai tay ấp vào nhau lên mặt bàn và ngồi đó, vẻ mặt bình thản, không chờ đợi gì mà cũng không thoái lui.”

[36, tr.91] Cha xứ trở thành một phần của khung cảnh thanh bình trong Pi, khung cảnh lần đầu tiên Pi được nhìn thấy và được cảm nhận Lần đầu, nhưng ấn tượng để lại với cậu bé Pi vô cùng sâu sắc khiến mãi về sau cậu không thể nào quên được

“Lối vào ấy sạch, những bức tường trắng; cái bàn và những chiếc ghế dài bằng gỗ

sẫm màu; còn vị tu sĩ ấy thì mặc tấm áo choàng trắng tinh – mọi thứ đều gọn ghẽ, đơn giản, mộc mạc Một cảm giác yên bình xâm chiếm tôi Không phải chỉ vì cái quang cảnh ấy, mà vì một cảm thức tự nhiên rằng ông ở đó – rộng mở và bình tĩnh – sẵn sàng cho bất kỳ ai muốn đến nói chuyện với mình; một khúc mắc trong tâm

Trang 39

36

hồn, một gánh nặng trong lòng, một vùng tăm tối trong lương tâm, ông sẽ lắng nghe bằng tình yêu thương Ông là một người mà nghề nghiệp là yêu thương, và ông sẽ cho ta niềm an ủi, dẫn dắt ta tận tình.” [36, tr.91, 92] Khung cảnh ấy gây nên những

rung động nhẹ nhàng mà sâu lắng vào tận sâu cõi lòng của Pi Cậu xúc động cũng đồng nghĩa với việc Thiên Chúa giáo đã chạm vào sợi tinh thần đồng cảm của Pi, là nốt nhạc đầu giúp cậu cảm thụ những giáo lí đầy yêu thương và hi sinh của tôn giáo này Thiên Chúa giáo luôn mở cánh cửa cho con chiên của mình bước chân vào và phải chăng bởi vậy, trước mắt cậu bé Pi ngày ấy, cả hai cánh cửa ngoài và trong đều mở; và ở đó, Cha xứ cùng đồng sự của ông vẫn sẵn sàng chờ đợi những đứa con của Chúa đến với ngôi nhà chung của họ

Nếu so với những vị thần và những câu chuyện tôn giáo của Hindu giáo Pi quen thuộc từ thuở nhỏ thì Jesus, những vị thần và những câu chuyện của Cơ Đốc giáo lại khiến Pi ngỡ ngàng, có phần e sợ nhưng lại có sức lôi cuốn vô cùng mãnh

liệt “Có một bức họa Có phải tranh nhà thờ của họ không nhỉ? Cái gì đó như là

cảnh lấy người làm con sinh hiến tế Một thượng đế phải được chiều lòng bằng máu Những người đàn bà ngây dại ngẩng mặt lên trời và những đứa trẻ béo tốt có cánh bay lượn xung quanh Một thứ chim thần Ai là thượng đế ở trong đó? Một bên nội sảnh có một bức tượng gỗ sơn Lại một nạn nhân nữa, sưng vù và đẫm máu với những màu sắc táo bạo Tôi dán mắt vào hai đầu gối của bức tượng Trầy tróc kinh khủng lớp da màu hồng bị lột ra trông như những đài hoa, để lộ hai xương bánh chè đỏ rực như xe cứu hỏa… Người Cơ Đốc có tiếng là khắc nghiệt và có nhiều hình phạt nặng nề.” [36, tr.92, 93] Trong quan điểm Hindu của Pi, kẻ nào làm ác kẻ

đó phải chịu tội, cái được gọi là Nghiệp của kẻ đó sẽ nhiều thêm và sớm muộn cũng vận vào hắn; khi đó, các vị thần sẽ là những đấng cầm trịch công lý, sẽ phán xét và

xử tội hắn Nhưng, trong câu chuyện Cha Martin kể, cậu cảm thấy thật sự không thể tin được, và điều ấy hấp dẫn, lôi cuốn cậu muốn tìm hiểu sâu hơn về Thiên chúa

giáo “Cái gì thế không biết? Loài người phạm tội nhưng chính Con trai Thượng đế

lại phải trả giá?” Sự khổ hạnh và đau đớn về xác thịt lẫn tinh thần của đấng Cứu

thế dường như “trần tục” hơn rất nhiều so với các vị thần Hindu Pi đã biết

Trang 40

37

“Việc một vị thần phải chịu đựng gian truân, tôi có thể hiểu được Các vị

thần Hindu đều phải đương đầu với trộm cắp, nạt nộ, bắt cóc, tiếm đoạt trong số phận của họ… Gian truân, đồng ý Hoạn nạn, cũng được Kể cả phản bội nữa Nhưng nhục nhã? Chết?… Tôi không nghe thấy có vị thần Hindu nào chết Linh hồn trong thế giới không thể chết, ngay cả khi nó ngụ trong một bình chứa hữu hạn Điều sai lầm của đấng tối cao Cơ Đốc là để cho con ruột của mình phải chết Điều

đó cũng ngang với việc để cho một của chính Ngài phải chết Nếu Thượng đế trên Thập tự giá là Thượng đế giả vờ chịu trận cho tấn bi kịch của loài người, nó sẽ biến Tình yêu của đáng Christ thành Màn kịch hề của đấng Christ Cái chết của ngôi Con phải thực.” [36, tr.94, 95] Đối với các vị thần, dù của bất cứ tôn giáo nào, để có

thể đạt tới cảnh giới tối thượng, luôn phải trải qua trăm ngàn khó khăn, thử thách, khổ đau, cay đắng Có lẽ chỉ có Đức Christ mới có cái chết trong nỗi nhục nhã về cả thể xác lẫn tâm hồn như vậy Điều này khiến Pi hoang mang khi mới tiếp xúc với Thiên Chúa giáo Trong khi các vị thần của Hindu giáo rất hoàn hảo, dẫu có khổ đau, có gian truân nhưng cuối cùng các vị ấy đều đạt được thứ mình mong muốn và trở thành thần thánh tối thượng, được các tín đồ ngưỡng vọng, không hề bị vấy bẩn hay ô uế; thì Thượng đế của Cơ Đốc giáo lại thấm đẫm máu và nước mắt

Cũng như Brahman, Thiên Chúa chính là Đấng toàn năng, là Đáng sáng tạo

ra vũ trụ và muôn loài trong 6 ngày (ngày thứ 7 là ngày Ngài nghỉ ngơi) Theo Kinh thánh, Thiên Chúa là Cha của con người và vũ hoàn, vì chính nhờ Ngài, con người cùng vũ trụ hiện hữu Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng, là Đấng tốt lành, là Đấng thành tín, luôn luôn ở cùng con người, là Đấng phục sinh con người Ngài chính là Cha của Chúa Jesus, Ngài gọi Jesus là Con Ngài; sâu xa, Jesus chính là Thiên Chúa hóa thân với hình hài con người, đưa con người được bước tới gần Thiên Chúa hơn.Chúa Jesus là ngôi Hai trong Ba ngôi, được gọi là Chúa Con, Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người Vì là người nên Chúa Jesus phải trải qua những đau khổ và

bị cám dỗ như con người dù Ngài không hề phạm tội Vì là Thiên Chúa, Ngài đánh bại quyền lực của cái chết và sống lại từ trong cái chết Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa đã cho Chúa Jesus sống lại và đặt Chúa ngồi bên hữu của Chúa Cha và Ngài

Ngày đăng: 21/09/2020, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w