1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010

105 18 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Hội nghị ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm khóa IX đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM TÙNG HƯƠNG

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN MẠNH HÀ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà Các tài liệu,

số liệu trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn khoa học và đáng tin cậy

Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Tùng Hương

Trang 3

1.1 Một số yếu một số yếu tố tác động đến công tác xây dựng đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh thái nguyên 9 1.1.1 Quan điểm, nhận thức chung của Đảng về cán bộ và vai trò của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 9 1.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên 17 1.1.3 Truyền thống văn hóa, lịch sử tỉnh Thái Nguyên 201.2.Tình hình đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Thái Nguyên trước năm 1997 22 1.3 Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2001 25 1.3.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở 25 1.3.2 Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2001 30

CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 42

2.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong tình hình mới 42

Trang 4

2.2.Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên tăng cường lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010 49

2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010 49

2.2.2 Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010 54

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 72

3.1 Một số nhận xét 72

3.2 Một số kinh nghiệm 83

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 5

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Hội nghị ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm khóa IX đã ra Nghị quyết số 17: Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, trong thời kỳ đổi mới cùng với việc lãnh đạo đổi mới kinh tế, văn hóa - xã hội, Đảng bộ tỉnh luôn quan tâm lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở Chất lượng đội ngũ cán bộ từng bước được nâng lên Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém, bất cập; trình độ, năng lực chưa đáp ứng trước yêu cầu, nhiệm vụ Bên cạnh đó còn có một bộ phận cán bộ bị tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường nên đã có biểu hiện suy thoái về đạo đức, có lối sống quan liêu, hách dịch, mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí…đã làm giảm

Trang 6

uy tín của Đảng, giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước Tình hình đó đặt ra đòi hỏi cấp bách phải đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ của cán bộ Đảng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở

Để tái hiện quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ

sở, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, đúc rút một số kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh thời kỳ đổi mới, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới, đặc biệt là trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và để phục vụ cho công tác học tập

nghiên cứu của mình, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo

xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010" cho

luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong giai đoạn hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân đang tập trung mọi điều kiện thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ ngày càng trở nên cấp bách và là đề tài đã

và đang được nhiều cá nhân và tập thể tác giả nghiên cứu

Có thể liệt kê dưới đây những nhóm công trình sau:

- Các sách tham khảo, chuyên khảo

Đức Vượng (1995), Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn Ngọc Anh (2000), Cán bộ đảng viên

hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn Phú Trọng (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội Bùi Đình Phong (2006), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và

công tác cán bộ, Nxb Lao động Hà Nội Nguyễn Thị Tuyết Mai (2007), Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chủ chốt cấp xã, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nguyễn Duy Hùng (2008), Luận cứ khoa học

Trang 7

và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trần Thị Minh Châu (2011), Một số kỹ

năng lãnh đạo, quản lý của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, Nxb

Chính trị Hành chính, Hà Nội…

Những công trình trên đã nêu lên quan niệm trong đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ hiện nay, cũng như đề xuất, làm rõ một số quan điểm và định hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đáp ứng đòi hỏi của Đảng, nhân dân và đất nước trong thời kỳ mới

- Các bài báo, tạp chí

Lê Quang Vịnh (2002), “Cán bộ và công tác cán bộ của chính quyền

xã, phường, thị trấn ở khu vực miền núi hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 3 Nguyễn Phương Hồng (2004), “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong giai đoạn mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 16 Vĩnh Trọng (2004),

“Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1

và 2 Võ Công Khôi (2005), “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã,

phường, thị trấn trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 3

Vũ Vọng (2006), “Nâng cao kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt

ở cơ sở”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 3 Phan Thị Minh Anh (2007), “Bàn

về chương trình công tác cán bộ, công chức chính quyền cơ sở”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 12 Lê Quang (2009), “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7…

Những công trình nghiên cứu trên đã bàn nhiều về phẩm chất đạo đức, năng lực của người cán bộ ở các cấp Các tác giả đề cập nhiều đến vị trí, vai trò của người cán bộ trong tình hình mới, đồng thời nêu thực trạng đội ngũ cán bộ của Đảng ở các cấp và đưa ra một số giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ

Trang 8

- Luận án, đề tài nghiên cứu khoa học

Hồ Bá Thâm: “Nâng cao năng lưc tư duy của cán bộ lãnh đạo chủ chốt

cấp xã hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học, 1994; Bùi Thị Hồng Tiến, "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp cơ sở từ 1975-1993", Luận án Phó tiến sỹ khoa

học lịch sử, 1994; Nguyễn Mậu Dựng, “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo

chủ chốt của Đảng bộ các cấp ở Tây Nguyên hiện nay”, Luận án Phó tiến sỹ

khoa học Lịch sử, 1996; Cầm Thị Lai, “Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị,

hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc giai đoạn hiện nay”, Luận án Tiến sỹ khoa học Chính trị, 2012; Nguyễn Phương

Hải, “Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán

bộ cấp cơ sở từ năm 1996 đến năm 2006”, Luận văn Thạc sỹ khoa học Lịch

sử, 2007; Bùi Ngọc Hà, “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2006”, luận văn Thạc sỹ khoa học

Lịch sử, 2008; Phạm Anh Tuấn, “Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách xã,

phường, thị trấn ở tỉnh Cà Mau trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ

khoa học Chính trị, 2008…

Các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng cùng một mục đích là tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của Đảng Các công trình đã có sự đóng góp về việc nâng cao lý luận và thực tiễn để xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ngày một vững mạnh

Thực tế cho thấy, đến nay chưa có công trình khoa học nào được công

bố đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên Mặc dù vậy, các ấn phẩm của các tác

giả nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý cho tôi thực hiện đề tài: “Đảng

Trang 9

bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày đường lối, chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên theo 2 giai đoạn (1997-2001; 2001-2010) gắn liền với những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử

cụ thể ở mỗi giai đoạn

- Quá trình thực hiện đường lối xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ Thái Nguyên nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010

Trang 10

Quá trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ Thái Nguyên về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể, các cấp cơ sở trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, của Đảng bộ và chính quyền địa phương

“Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở” mà luận văn nghiên cứu là ba chức danh: Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

- Về thời gian: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Thái Nguyên trong

công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010

- Về không gian: nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt

cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu của luận văn bao gồm các Nghị quyết của Đại hội Đảng, các ban Đảng, văn bản, chỉ thị, pháp lệnh, quyết định… của Nhà nước, các văn kiện của Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, các Nghị quyết của Tỉnh ủy, chỉ thị, quyết định của Ủy ban nhân dân, báo cáo, số liệu của Sở Nội vụ, số liệu của Trường Chính trị tỉnh, các tài liệu có lưu trữ tại Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các tài liệu có liên quan đến xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở và các tài liệu khảo sát thực tiễn tại địa phương

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng; những quan điểm của Đảng về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu:

Phương pháp lịch sử nhằm mô tả, phản ánh một cách khách quan sự lãnh đạo của Đảng bộ; quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Trang 11

Phương pháp logic: được sử dụng trong quá trình nghiên cứu để tổng kết, đánh giá ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ cũng như thành tựu, hạn chế của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Thái Nguyên; bước đầu tổng kết một số kinh nghiệm lịch sử

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khai thác tư liệu qua một số nhân chứng lịch sử

6 Đóng góp của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 12

Chương 1: Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của

Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2001

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên tăng cường lãnh đạo xây dựng

đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

Trang 13

Chương 1 CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2001

1.1 Một số yếu tố tác động đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Thái Nguyên

1.1.1 Quan điểm, nhận thức chung của Đảng về cán bộ và vai trò của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

* Khái niệm

Hồ Chí Minh coi “cán bộ là gốc của mọi công việc” [26, tr.269]; “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [26, tr.240] Điều

đó nói lên là nếu có cán bộ tốt thì công việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn

và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng" [26, tr.54] Như vậy, từ nội dung khái niệm cán bộ nói trên, Người không đơn thuần chỉ nói về những người có chức, có quyền trong

bộ máy Nhà nước và đoàn thể nhân dân mà nêu lên những nét cơ bản nhất về nhân cách người cán bộ cách mạng trong thời đại mới Mặc dù Hồ Chí Minh

ít dùng đến khái niệm cán bộ cách mạng, nhưng trong thực tế Người luôn đòi hỏi người cán bộ phải có ý thức cách mạng, phải hết mình vì sự nghiệp của cách mạng, của nhân dân Vị trí của cán bộ là “cầu nối” giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng, nhưng không phải là “vật mang”, là “dây dẫn”, là sự chuyển tải cơ học mà chính là con người có đủ tư chất, tài năng và đạo đức để làm việc đó Bởi lẽ để có thể đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi người cán bộ, công chức phải có một trình độ, trí tuệ nhất định Nếu không, trong quá trình thực hiện nhiệm

Trang 14

vụ, người cán bộ, công chức sẽ làm sai lệch tinh thần, nội dung của đường lối, chính sách và khi đó thật là nguy hiểm Ngoài tiêu chuẩn về trình độ hiểu biết nhất định, người cán bộ còn cần phải có tiêu chuẩn khác như phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị Việc truyền đạt, giải thích và triển khai thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước là một việc khó khăn, nhưng khó khăn và phức tạp hơn nhiều là nắm chắc được tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, cũng như phản ánh được đúng thực chất của tình hình để làm căn cứ cho việc tham mưu, hoạch định chính sách Công việc này đòi hỏi người cán bộ, công chức phải đạt tiêu chuẩn ở mức cao hơn để có thể tổng kết thực tiễn, khái quát, nâng lên thành lý luận, đi vào bản chất của tình hình, đây

là việc không đơn giản Công việc này đòi hỏi sự thống nhất trong bản thân

họ, một nhà khoa học và một người chiến sỹ cách mạng nhiệt thành

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà

Nẵng xuất bản năm 2006, cán bộ được hiểu là: Người làm công tác có nghiệp

vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ

Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể và lực lượng vũ trang

Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi là những người có mức lương từ cán sự (theo ngạch bậc cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn

Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp có khác nhau, nhưng về

cơ bản, cán bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức

và quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng

sự phát triển của tổ chức

Theo Từ điển tiếng Việt, “chủ chốt” nghĩa là quan trọng nhất, có tác

Trang 15

dụng làm nòng cốt

Cơ sở là cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị các cấp (Trung ương, Tỉnh - Thành phố trực thuộc Trung ương, Quận - Huyện - Thành phố trực thuộc tỉnh, Xã - Phường - Thị trấn), nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc trưng của bộ máy quyền lực chính trị trong hệ thống chính trị ở nước ta Có thể hiểu

hệ thống chính trị cơ sở bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp có quan

hệ về mục đích, chức năng nhằm thực hiện quyền lực chính trị ở cơ sở Theo quan niệm hiện nay, hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm “cán bộ chủ chốt ở cơ sở” được hiểu là các chức danh sau:

- Các chức danh trong hệ thống chính trị ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) như: Bí thư Đảng ủy xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ nhiệm Hợp tác xã [49, tr.37]

- Là những cán bộ chủ chốt nhất trong số cán bộ chủ chốt của các tổ chức Đảng, Chính quyền và Hội đồng nhân dân Phổ biến là ba chức danh: Bí thư Đảng ủy xã, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và có thể là Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế

- Là Bí thư Đảng ủy và Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy; Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Hội nông dân xã [25, tr.141]

Một số ý kiến khác cho rằng, ngoài các chức danh trên, còn một số chức danh như: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ, Bí thư Đoàn thanh niên…

Như vậy, nội hàm khái niệm cán bộ chủ chốt cấp cơ sở chứa đựng các yếu tố sau:

Thứ nhất, là người có chức năng lãnh đạo, được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng nhất để lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ,

Trang 16

chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên về nhiệm vụ được phân công

Thứ hai, là người có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trương, chính sách

về một sự lãnh đạo toàn diện từ cấp trên

Thứ ba, là người có vai trò quan trọng nhất trong việc hiện thực hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước vào điều kiện cơ sở

Thứ tư, có thẩm quyền giải quyết các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… trong phạm vi toàn xã bằng những hình thức khác nhau

Từ các yếu tố trên, có thể hiểu: cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những

người đứng đầu, giữ vị trí trọng yếu nhất trong hệ thống chính trị ở cơ sở, có ảnh hưởng quyết định đến việc chấp hành chủ trương chính sách, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước thông qua việc trực tiếp lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn [33, tr.63]

Do đó, luận văn đề cập đến cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay bao gồm: Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

Bí thư Đảng ủy: là người chịu trách nhiệm chính về toàn bộ hoạt động của Đảng bộ; nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ và cấp ủy, của Ban Thường vụ

và chỉ đạo tổ chức thực hiện những việc do hội Nghị quyết định; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và chịu trách nhiệm về những công việc do cấp ủy phân công phụ trách trực tiếp như: chủ trì hoạt động của Hội đồng nhân dân, lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng, công tác an ninh - quốc phòng và công tác cán bộ; kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết của cấp ủy, Ban Thường vụ, Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên…

Chủ tịch Hội đồng nhân dân: là người có trách nhiệm nghiên cứu, nắm

Trang 17

vững các chỉ thị, Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận dụng vào thực tiễn của địa phương; chủ động đề xuất với Ban Thường vụ

và Đảng ủy những chủ trương, biện pháp thực hiện các nhiệm vụ chính trị, củng cố tổ chức và nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy và Đảng bộ; trực tiếp chỉ đạo công tác cán bộ theo phân cấp quản lý

Chủ tịch Ủy ban nhân dân: là người chịu trách nhiệm chính toàn bộ công tác chính quyền Nhà nước ở địa phương, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các mặt công tác do cấp trên chỉ đạo, chương trình công tác của đảng ủy về mặt chính quyền đúng pháp luật, xây dựng kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân xã từng thời gian báo cáo cấp ủy và Hội đồng nhân dân, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên Ủy ban nhân dân xã; chịu trách nhiệm trước Đảng bộ, nhân dân và cấp trên về quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách của Ủy ban nhân dân xã

Trên thực tế, ở nhiều nơi, Bí thư Đảng ủy xã đồng thời là Chủ tịch Hội đồng nhân dân Với mô hình này, thẩm quyền và trách nhiệm của Bí thư càng lớn Ngoài công tác Đảng, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân còn phải chịu trách nhiệm lãnh đạo Hội đồng nhân dân quyết sách những vẫn

đề lớn của địa phương; duy trì công tác tiếp xúc cử tri cũng như hoạt động của Hội đồng, các tổ Hội đồng hiệu quả, đúng luật định

Mô hình kiêm nhiệm cũng được áp dụng ở nhiều nơi đối với các chức danh Phó Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân

Để làm việc một cách hiệu quả, đội ngũ này cần có những người giúp việc năng động, có trình độ, đó là Phó Bí thư, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đồng thời có sự phối hợp từ Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn thanh niên,… đó là những người đứng đầu các

tổ chức chính trị xã hội, có vai trò phản hồi, kênh thông tin, tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân, là cánh tay đắc lực của Đảng, chính quyền trong việc đưa

Trang 18

chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và đời sống

Đội ngũ cán bộ chủ chốt này được giao những thẩm quyền, trách nhiệm nhất định gắn với chức vụ người lãnh đạo đảm nhiệm Thẩm quyền càng cao thì trách nhiệm càng nặng nề Trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường hiện nay, tại các đô thị lớn, tốc độ đô thị hóa ngày càng cao và mức tăng dân

số về mặt cơ học khiến cho nhiệm vụ quản lý của chính quyền xã cũng phải chủ động và linh hoạt hơn cho phù hợp với thực tiễn Do đó, có thể nói, họ là những người đứng mũi chịu sào, những người chèo lái công việc tại địa bàn đơn vị mình phụ trách; đó là những người có phẩm chất, có tư duy tổ chức, có năng lực quản lý, có cái nhìn bao quát và có khả năng quyết sách các vấn đề lớn Thực tế cho thấy, những địa phương đơn vị nào, có đội ngũ cán bộ chủ chốt tốt, đủ năng lực quản lý, điều hành thì hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương đó đạt hiệu quả cao

* Vai trò của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Thứ nhất, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người trực tiếp thực thi đường

lối chính sách của Đảng, Nhà nước ở cơ sở; quyết định việc thực hiện hóa

sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt trong đời sống xã hội ở nông thôn

Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là chủ thể cuối cùng tiếp nhận và trực tiếp tuyên truyền vận động, tổ chức nhân dân hiện thực hóa chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên và nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Nếu họ phát huy được vai trò, trách nhiệm của mình sẽ đảm bảo đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước được vận dụng một cách sáng tạo, sinh động ở cơ sở Ngược lại, cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở không hoàn thành được chức trách, nhiệm vụ được giao, yếu kém về phẩm chất, năng lực thì đường lối, chính sách của cấp trên dù có hay mấy cũng chỉ nằm trên giấy tờ, thậm chí còn bị vô hiệu hóa bằng những việc làm sai trái

Là cấp gần nhất với thực tiễn và trực tiếp nhất với cuộc sống của người

Trang 19

dân, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người trực tiếp vận dụng và tổ chức đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ở cơ sở, đảm bảo những yêu cầu an sinh của người dân và sự phát triển của cộng đồng Thông qua cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở mà ý Đảng, lòng dân được thống nhất, làm cho đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước có cơ sở bám rễ, ăn sâu trong đời sống chính trị, tạo nên

sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và dân, nâng cao sự nhất trí trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội Họ là người tổ chức, tập hợp mọi lực lượng ở cơ sở, phát huy các nguồn lực trong dân, học tập kinh nghiệm, sáng kiến, sáng tạo của dân để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Do vậy, họ có vai trò quyết định đối với mọi phong trào cách mạng của quần chúng và là hiện thân niềm tin đối với Đảng và chế độ

Thứ hai, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người chủ động đề xuất đổi mới

và góp phần vào hoàn thiện thể chế cơ sở nông thôn Họ phải hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước để có những quyết định đúng đắn, kịp thời, đồng thời tích cực đóng góp ý kiến, nhằm sửa đổi những điểm chưa đúng, những điều còn thiếu, những điểm chưa hoàn thiện để chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ngày càng đi vào cuộc sống

Vai trò của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở đây được thể hiện không chỉ là

sự tuân thủ một cách máy móc thụ động trong việc thực hiện chủ trương chính sách của cấp trên mà còn chủ động đề xuất, thử nghiệm tìm tòi, thiết kế

và góp phần hoàn thiện thể chế ở cơ sở; mạnh dạn từ bỏ những cơ chế, quy chế lỗi thời, không phù hợp với thực tế địa phương, cơ sở Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải biết lãnh đạo, chỉ đạo việc vận dụng thể chế của Trung ương vào điều kiện của địa phương nhưng không trái với chủ trương chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, không vi phạm quyền làm chủ của nhân dân

Thứ ba, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người trực tiếp tác động đến lợi

Trang 20

ích của người dân, đồng thời là đại diện hợp pháp cho lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân thừa nhận tin yêu và sẵn sàng bảo vệ

Là người đứng đầu, trực tiếp nắm và chỉ đạo thực hiện các vấn đề trọng yếu, các khâu trung tâm của hệ thống chính trị cơ sở, cán bộ chủ chốt vừa là người khởi xướng chủ trương, vừa là người chủ trì, điều khiển và chịu trách nhiệm đến cùng các mặt công tác, các lĩnh vực hoạt động của hệ thống, đó là người nắm giữ quyền lực và quyết định việc phân bổ lợi ích nên họ luôn phải minh bạch, công bằng, gương mẫu để có phương thức lãnh đạo dân chủ Đồng thời, họ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, năng lực lãnh đạo và thực sự tâm huyết, nhiệt tình với công việc mới thể hiện được vai trò của người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân

Là người đại diện hợp pháp cho lợi ích, nguyện vọng của dân, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải không ngừng chăm lo cho đời sống, giải quyết thỏa đáng các nhu cầu, lợi ích của dân, làm cho dân yên ổn, phấn khởi làm ăn, sinh sống, cố kết cộng đồng, tin tưởng và tự giác tham gia vào các phong trào cách mạng của địa phương, cơ sở

Thứ tư, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người giải tỏa các mâu thuẫn,

xung đột ở cơ sở để tạo ra sự đồng thuận trong đời sống cộng đồng Họ là người thiết lập sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất để giải quyết tình huống, duy trì quyền lực của hệ thống chính trị cơ sở nơi xảy ra điểm nóng Họ đề ra chủ trương, biện pháp giải quyết đúng đắn, kịp thời; xác định rõ các lực lượng tham gia giải quyết, đồng thời là lãnh đạo trong quá trình giải quyết các mâu thuẫn, xung đột ở cơ sở Trong điều kiện đó, cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở phải thật sự bình tĩnh, chủ động đối phó, không bị động, manh động Có nhiều phương án xử lý, đề phòng phương án xấu nhất có thể xảy ra Kiên quyết không để rơi vào tình thế bị động, đối phó Tập trung nắm chắc tình hình, phối hợp thật tốt các lực lượng tham gia Làm tốt công tác thanh tra,

Trang 21

kiểm tra, giải quyết dứt điểm những vấn đề gợn lên của cán bộ mà dân khiếu nại, tố cáo

Trong bất kỳ tình huống nào, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở cũng phải là hạt nhân đoàn kết trong Đảng và ngoài xã hội; bình tĩnh, kiên trì tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục và chủ động đối thoại với dân ngay tại thôn xóm, kể cả với số cầm đầu, chỉ huy và những đối tượng quá khích, gây rối; không áp dụng các biện pháp hành chính, mệnh lệnh đơn thuần ngay từ đầu Khi tuyên truyền, vận động quần chúng, cần kịp thời vạch mặt bọn cầm đầu quá khích Tìm cách cô lập, chỉ rõ những hành vi vi phạm và thủ đoạn thâm hiểm của chúng để quần chúng hiểu và không bị mắc mưu Thường xuyên nắm bắt diễn biến tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân Giữ vững kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước trên địa bàn Duy trì mọi hoạt động bình thường của đời sống xã hội ở cơ sở

Để thực hiện tốt các vai trò trên, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải có đủ phẩm chất, năng lực theo yêu cầu của thời kỳ mới

1.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế

xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.562,82 km² (bằng 1,08% diện tích cả nước) Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung Thái Nguyên

có 9 đơn vị hành chính: thành phố Thái Nguyên; thị xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú

Trang 22

Lương Tổng số gồm 180 xã, trong đó có 14 xã vùng cao, 106 xã miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du Trong thời kỳ đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế Thái Nguyên cũng dần chuyển dịch về

cơ cấu ngành theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp

Từ năm 2000 trở lại đây, lĩnh vực công nghiệp - xây dựng đóng góp lớn nhất cho GDP tỉnh Cụ thể: 30,4% năm 2000; 38,6% năm 2005 và 41,54% năm 2010 Cơ cấu ngành công nghiệp hiện nay của tỉnh đến nay tương đối hoàn chỉnh có đủ các ngành như: công nghiệp năng lượng, luyện kim, cơ khí, hóa chất…

Trong lĩnh vực nông nghiệp: do đặc điểm đất đai, khí hậu đa dạng nên thích hợp với nhiều loại cây trồng Tuy nhiên, phần đóng góp của ngành nông - lâm - thủy sản cho GDP tỉnh giảm nhanh qua các năm, phù hợp với đường lối chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh

Tỷ trọng của ngành này giảm từ 33,7% năm 2000 xuống 21,73% năm 2010

Với đặc điểm kinh tế như trên, tỉnh có đủ khả năng tập trung nguồn lực đầu tư cho phát triển đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới

Thái Nguyên là miền đất văn hóa đa sắc tộc Nơi đây hội tụ những nền văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số cư trú trong vùng vừa là nơi giao lưu, hội nhập với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc khác tạo nên một nền văn hóa phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc Trên địa bàn tỉnh có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, đông nhất là 8 dân tộc: Kinh (73,6%), Tày (10,7%), Nùng (5,1%), Sán Dìu (4,5%), Mông, Sán Chay, Hoa (4,1%) và Dao Mỗi dân tộc có tiếng nói, trình độ sản xuất, phong tục tập quán riêng nhưng vẫn có những nét tương đồng, hòa nhập trong một cộng đồng và chung sống cùng trên một địa bàn

Trang 23

Về hệ thống giáo dục đào tạo

Năm 2009, Thái Nguyên có 441 trường phổ thông, trong đó có 227 trường tiểu học, 181 trường trung học cơ sở, 33 trường trung học phổ thông Số học sinh phổ thông là 184.505 người với 6243 phòng học Số giáo viên giảng dạy tại bậc phổ thông là 10.748 người Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh hiện có 17 trường đại học, cao đẳng, 2 khoa trực thuộc Đại học Thái Nguyên với khoảng 70.000 sinh viên, gần 4000 học viên cao học và hơn 200 nghiên cứu sinh Số cán bộ giảng dạy tại các trường đại học - cao đẳng khoảng 3000 giáo viên Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng

Về dân số và nguồn lao động

Theo niên giám thống kê năm 2009 của tỉnh Thái Nguyên Dân số bình quân năm 2009 là 1.125.368 người với nhiều dân tộc anh em, trong số này chủ yếu là người Kinh Mật độ dân số trung bình năm 2009 là 320 người/km2,

tỷ lệ dân số nữ chiếm 50,55%, tỷ lệ dân thành thị đạt 25,58% Giống như hầu hết các tỉnh trong vùng, dân số làm nông nghiệp của tỉnh chiếm một tỷ lệ lớn, năm 2009 chiếm gần 70% tổng dân số

Về nguồn nhân lực: tính đến 12/2009, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tỉnh Thái Nguyên là 683.500 người chiếm 60,73% dân số Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh còn chậm so với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Lao động nông nghiệp tuy có giảm đi qua các năm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn, năm 2009 chiếm 68,33% tổng số lao động làm việc Giai đoạn 2005 - 2009, lao động dịch vụ tăng 0,97%; lao động công nghiệp - xây dựng tăng 2,89% Lao động nông thôn vẫn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng số lao động việc làm của tỉnh, chiếm 79,5%

Trang 24

1.1.3 Truyền thống văn hóa, lịch sử tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là nơi con người sinh sống từ rất sớm Tại khu di tích Thần Sa thuộc huyện Võ Nhai, vào những thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện được dấu tích của người tiền sử

Nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã trải qua các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước Nhiều sự kiện lịch sử quan trọng và những chiến công oanh liệt đã gắn với những tên người, tên đất Thái Nguyên

Trong gần 10 thế kỷ bị phong kiến phương Bắc đô hộ, nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã nối tiếp đứng lên đấu tranh giành độc lập

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858), nhân dân Thái Nguyên đã cùng với nhân dân cả nước không cam chịu làm nô lệ, bền bỉ, liên tiếp vùng dậy đấu tranh Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu là: khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo năm 1896; khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên dưới sự chỉ huy của Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến năm 1917…

Thái Nguyên cũng là nơi thành lập Trung đội Cứu Quốc quân II vào ngày 15/9/1941 tại Tràng Xá - Võ Nhai

Tháng 12/1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chọn Định Hóa làm ATK (an toàn khu) trong kháng chiến chống Pháp ATK là nơi làm việc của các đồng chí lãnh đạo Đảng

và Nhà nước như Trường Chinh, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… cùng các cơ quan của Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Trung ương Quân ủy, Bộ Quốc phòng cho đến ngày kháng chiến thắng lợi

Sau khi thực dân Pháp bại trận, đế quốc Mỹ từng bước tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta Phát huy truyền thống cách mạng, nhân dân Thái Nguyên vừa sản xuất vừa chiến đấu, góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ, đồng thời dốc sức chi viện cho chiến trường miền Nam góp phần mang lại chiến thắng vẻ vang giải phóng miền

Trang 25

Nam thống nhất đất nước

Tại Thái Nguyên có nhiều khu di tích lịch sử được Nhà nước công nhận

và xếp hạng như: Khu di tích lịch sử văn hóa Thần Sa (Võ Nhai), di tích lịch

sử Núi Văn - Núi Võ (Đại Từ), di tích lịch sử Đền Đuổm (Phú Lương)… Những khu di tích đó là niềm tự hào và là tài sản vô giá phản ánh truyền thống kiên cường dựng nước và giữ nước của cả dân tộc

Ngoài ra, Thái Nguyên còn có một kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú như: văn học dân gian truyền miệng với truyền thuyết, ca dao, tục ngữ… Hát “sli, lượn” (hát trữ tình) với lượn cọi, lượn slương của người Tày - Nùng, các làn điệu dân ca, chèo của người Kinh Đây cũng là nơi diễn ra nhiều lễ hội truyền thống như lễ hội Lồng tồng, lễ hội Đuổm, lễ hội Chùa Hang…Có thể nói, Thái Nguyên là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, là nơi con người xuất hiện và phát triển liên tục Đó chính là cơ sở, nền tảng và niềm tự hào để nhân dân Thái Nguyên tiến hành xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng

Như vậy, sau khi được tái lập, bên cạnh những thuận lợi, Đảng bộ và nhân dân Thái Nguyên gặp không ít khó khăn Thuận lợi cơ bản là Thái Nguyên tiếp tục kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Thái để lại; nhân dân Thái Nguyên có truyền thống cách mạng kiên cường, bất khuất, cần cù, năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, công tác học tập Đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách và trưởng thành trong đấu tranh cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết với công việc kiến thiết quê hương

Khó khăn nổi rõ nhất là Thái Nguyên vẫn là một tỉnh nghèo Khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên là một trong các vùng an toàn khu kháng chiến, tuy nhiên, do những trở ngại về địa hình, giao thông, tập quán canh tác,… đã làm cho đời sống còn nhiều khó khăn Theo số liệu kết quả khảo sát, mức

Trang 26

sống dân cư năm 2010 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ đói nghèo (theo chuẩn nghèo đói mới của Chính phủ, giai đoạn 2011 - 2015) thì tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2010 là 14,2%; trong khi đó, vùng trung du và miền núi phía Bắc

là 29,4%, là mức cao nhất cả nước Đối với tỉnh Thái Nguyên, tỷ lệ nghèo đó

là 20,57%, cao gấp gần hai lần so với mức trung bình chung toàn quốc tại cùng thời điểm Đối với các huyện miền núi, tỷ lệ nghèo đói còn rất cao, huyện Đại Từ là 27,66%; huyện Phú Bình là 24,83%, thậm chí huyện Võ Nhai lên tới 43,2% Đây là bài toán khó cần được các cấp lãnh đạo và nhân dân chung tay giải quyết

Một trong những biện pháp để giải quyết những khó khăn của tỉnh mà Đảng bộ đã đề ra là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở Vì đây là đội ngũ trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực tiễn; là cầu nối liền giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là những người trực tiếp và thường xuyên nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân, giải quyết những yêu cầu, bức xúc của dân Khi đội ngũ này được xây dựng đồng bộ, đủ số lượng và đảm bảo chất lượng thì tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng ở địa phương sẽ ổn định và phát triển bền vững

1.2 Tình hình đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Thái Nguyên trước năm 1997

Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đội ngũ cán bộ, đảng viên của tỉnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ kinh tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa

Quán triệt Nghị quyết 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng 9-1975) tới cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn, Tỉnh ủy đã

Trang 27

(29-đề ra nhiệm vụ“Củng cố và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tăng cường cải tiến quản lý kinh tế, quản lý xã hội Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp”

Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh về xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, phổ biến Nghị quyết 211- NQ/TW của Bộ Chính trị về cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới tới cán bộ của tỉnh; sơ kết phong trào tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết 23 (5-9-1975) của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã mở đợt tự phê bình và phê bình mới, xây dựng điển hình tiên tiến Tiêu biểu là tổng kết quá trình thực hiện Nghị quyết 228-NQ/TW và cuộc vận động “Nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên, kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh”

Qua đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, Đảng bộ tỉnh nhận thấy thực trạng tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên còn nhiều yếu kém, do đó cần đưa ra những biện pháp khắc phục, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên

Ngày 5/5/1996, Đại hội đại biểu lần thứ VII Đảng bộ tỉnh Bắc Thái khai mạc Đại hội đánh giá cao những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã đạt được trong công cuộc đổi mới, tạo nên sự chuyển biến toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, củng

cố, xây dựng hệ thống chính trị Hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch mà Đại hội lần thứ VI Đảng bộ tỉnh đề ra đều hoàn thành vượt mức

Đại hội cũng kiểm điểm những thiếu sót về công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ở địa phương:

“Công tác cán bộ từ quy hoạch, kế hoạch đào tạo chưa đáp ứng kịp với yêu cầu phát triển của tình hình, khâu quan trọng nhất và cũng là khâu đang

có nhiều tồn tại nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở Chưa có một chiến lược cơ bản

Trang 28

giải quyết vấn đề tổ chức cơ sở cả về Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân, từ việc thực hiện tiêu chuẩn hoá từng chức danh đến quy chế làm việc và chính sách chế độ, nhiều nơi hiện nay đội ngũ cán bộ còn thiếu cả về số lượng

và trình độ chưa đáp ứng được đòi hỏi cử thời kỳ mới” [8]

Đại hội đề ra những yêu cầu cụ thể về công tác xây dựng Đảng, về công tác nghiên cứu, học tập lý luận:“Để làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo trong thời kỳ mới, Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt, coi đây là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa quyết định vai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội

Về chính trị tư tưởng: Xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng theo định hướng nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo của Đảng Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Trung ương để đề ra những chủ trương, chính sách cụ thể phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương…” [8]

Đại hội chỉ rõ nhiệm vụ của công tác cán bộ và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ:“Làm tốt công tác tuyển chọn, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, ngành, không ngừng nâng cao kiến thức, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt Đổi mới về đánh giá, nhận xét, đề bạt và giải quyết chính sách cán bộ Mạnh dạn bổ nhiệm những cán bộ trẻ có phẩm chất, trình độ, năng lực phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới Thực hiện tốt nguyên tắc Đảng trực tiếp và thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ Để đạt được những mục tiêu đó, trước hết các tổ chức Đảng

và cấp uỷ Đảng trong toàn Đảng bộ phải thực sự chăm lo tới công tác tổ chức xây dựng Đảng Tăng cường công tác bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức ở các cấp các ngành” [8]

Trang 29

1.3 Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2001

1.3.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Sau 10 năm đổi mới, cách mạng Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới Cả nước bước vào thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đây là cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhưng đồng thời cũng là một cuộc cách mạng gay go, phức tạp và đầy khó khăn Nhưng đó là những khó khăn trong sự trưởng thành, trong quá trình đi lên của cách mạng, nếu có quyết tâm nhất định sẽ làm được, cách mạng chuyển biến thì con người phải chuyển biến Vì vậy, để đảm bảo cho sự nghiệp cách mạng này thành công, trước hết phải đổi mới công tác cán bộ

Hồ Chí Minh đã từng nói “Không phải chỉ muốn không là được Miệng nói tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhưng tư tưởng còn không thông và hành động còn không đúng thì không tiến lên được Trước hết cán bộ phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, lập trường phải rõ ràng, vững chắc đã Rồi cán bộ làm cho dân hiểu, để nhân dân hiểu, để nhân dân hăng hái tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm Khi đó cả xã hội mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được” [26, tr.30]

Trước yêu cầu của thực tiễn, tháng 7-1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng được triệu tập Đại hội đánh giá tổng quát đất nước sau

10 năm đổi mới và đưa ra mục tiêu, định hướng phát triển trong những năm tiếp theo Đại hội đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới, trong đó nhấn mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ

“Toàn Đảng phải hết sức chăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ kế cận vững vàng, đủ bản lĩnh về các mặt” [17, tr.524]

Đại hội đặt ra yêu cầu “sớm xây dựng chiến lược cán bộ của thời kỳ mới” đáp ứng được những mục tiêu cụ thể:

Trang 30

- Đào tạo bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn [17, tr.524]

- Đổi mới quan niệm và phương pháp đánh giá, bố trí cán bộ, đảm bảo thực sự dân chủ, chặt chẽ…Bố trí và sử dụng cán phải được đảm bảo đúng tiêu chuẩn và sở trường Đề bạt và sử dụng đúng lúc, giao việc đúng tầm, thay thế kịp thời khi cần thiết Xây dựng quy chế bầu cử có nhiệm kỳ, bổ nhiệm có thời hạn [17, tr.525]

- Xây dựng quy chế tuyển chọn cán bộ, tuyển chọn nhân tài [17, tr.526] Thực hiện đường lối của Đại hội VIII, ngày 18 tháng 6 năm 1997, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và ra Nghị quyết số 03/NQ- HNTU về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nghị quyết đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ; khẳng định những mặt mạnh, nêu lên những mặt còn yếu kém:

- Về đội ngũ cán bộ: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu có nhiều mặt còn chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [14, tr.65]

- Về công tác cán bộ: “Đào tạo, bồi dưỡng được hàng vạn cán bộ trên tất cả các mặt, lĩnh vực…nhưng công tác cán bộ còn chưa gắn với yêu cầu của thực tiễn” [14, tr.67]

Nghị quyết phân tích những nguyên nhân, nêu lên một số bài học kinh nghiệm trong công tác cán bộ, đề ra phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ trên cơ sở quán triệt các quan điểm, mục tiêu và tiêu chuẩn cụ thể:

- Mục tiêu “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về

Trang 31

số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội” [14, tr.74]

- Tiêu chuẩn chung “Có tinh thần yêu nước, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu, phấn đấu thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…” [14, tr.75]

Bên cạnh đó, Nghị quyết đề ra một số nhiệm vụ cụ thể trên tất cả các lĩnh vực và những giải pháp lớn trong công tác cán bộ:

- Quy hoạch cán bộ “Quy hoạch cán bộ phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức; chủ động có phương hướng đào tạo bồi dưỡng; mỗi cấp mỗi ngành phải có kế hoạch tạo nguồn cán bộ” [14, tr.78]

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: “Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với từng loại cán bộ; nội dung đào tạo bồi dưỡng phải lấy tiêu chuẩn cán

bộ làm căn cứ để xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng thống nhất trong

hệ thống các trường; nội dung đào tạo phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu đối với từng loại cán bộ; phương pháp đào tạo phải kết hợp cả chính quy với các hình thức khác cho từng loại cán bộ; kiện toàn hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ” [14, tr.80]

Nghị quyết đặc biệt chú trọng là phải đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ, đổi mới chỉnh đốn tổ chức bộ máy làm công tác cán bộ

Chiến lược cán bộ đúng đắn trên là cơ sở để xây dựng được đội ngũ cán

bộ có đủ đức, đủ tài Đây là điều kiện quyết định để chuẩn bị cho Đảng và dân tộc ta bước vào thế kỷ XXI, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, giành lấy những thắng lợi to lớn hơn trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Thời kỳ mới chính là thời kỳ tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu

Trang 32

dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa

xã hội “Công tác cán bộ được đổi mới có vai trò quyết định thực hiện thắng lợi mục tiêu đó Mặt khác, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là môi trường thực tiễn để rèn luyện, tuyển chọn và đào tạo cán bộ, nâng cao phẩm chất, kiến thức, năng lực của đội ngũ cán bộ” [14, tr.64]

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, từ năm 1996 đến năm 2000, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: kinh tế tăng trưởng khá Văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ Tình hình chính trị- xã hội cơ bản ổn định Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chú trọng Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng Bên cạnh đó vẫn còn bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm đặc biệt đó là tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên Với tinh thần tiến công cách mạng trên con đường đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX đã được triệu tập từ ngày

19 đến ngày 22 tháng 4 năm 2001

Đại hội đã kiểm điểm và đánh giá những thành tựu và khuyết điểm thời gian qua, đề ra những quyết sách cho thời kỳ mới phát huy sức mạnh toàn dân tộc đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa Đại hội khẳng định những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực trong đó có thành tựu trong công tác cán bộ:

“Xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực” “Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức coi trọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm được tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ, công chức Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán

bộ quản lý, về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính Nhà nước Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, kịp thời

Trang 33

thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hoá Cán bộ cơ sở được tăng cường Có chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng đãi ngộ đối với cán bộ

xã, phường, thị trấn” [17, tr.677]

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu thì công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác cán bộ nói riêng còn nhiều yếu kém, Đại hội nhấn mạnh: trong những năm tới, toàn Đảng phải tiếp tục thực hiện các Nghị quyết về xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 6 lần 2 khoá VIII trong đó chú trọng: Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết

là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu

về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân Có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài Thực hiện đúng đắn nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản

lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị và công tác cán bộ Làm tốt công tác quy hoạch và đào tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ nữ” [17, tr.682]

Về đánh giá và sử dụng cán bộ, Báo cáo Chính trị nhấn mạnh: “Đánh giá

và sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có phương pháp khoa học, khách quan, công tâm, theo quy trình chặt chẽ, phát huy dân chủ, dựa vào tập thể và nhân dân để tuyển chọn cán bộ Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản

lý, kết hợp các độ tuổi, đảm bảo tính liên tục kế thừa và phát triển” [17, tr.682]

Về luân chuyển, quy hoạch cán bộ: “Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy hoạch ở các ngành và địa phương; khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín trong đơn vị, ngành và địa phương” [17, tr.683]

Để cụ thể hoá những chủ trương về công tác cán bộ tại Đại hội VIII, Bộ

Trang 34

Chính trị còn ra những Quyết định, Nghị quyết, Quy định riêng về công tác cán bộ như: Quyết định số 51/QĐ-TW về quy chế bổ nhiệm cán bộ có thời hạn; Nghị quyết số 11/NQ-BCT về luân chuyển cán bộ; Quy định số 50/QĐ-

Trong bối cảnh lịch sử ấy, theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh quyết định tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ

XV Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên từ ngày 11 đến ngày 14 - 11 - 1997 Đại hội lần này vừa có ý nghĩa kế thừa bảy nhiệm kỳ của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trước đây và 31 năm xây dựng, trưởng thành của Đảng bộ tỉnh Bắc Thái, vừa

là Đại hội mở đầu thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 35

đất nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Để có thể thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành lâm thời tại Đại hội đã nêu

ra những nhiệm vụ mà Đảng bộ cần phải thực hiện: “Để làm tròn trọng trách của mình, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng từ tỉnh đến cơ sở và tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng Đảng bộ vững mạnh về mọi mặt, coi đây là nhiệm vụ then chốt trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ đối với nhân dân các dân tộc trong tỉnh Và “trọng tâm của công tác xây dựng Đảng là công tác xây dựng tổ chức Đảng, rèn luyện đảng viên và xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 (khoá VIII)” [2, tr.377]

Đại hội chú trọng đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên tất cả các lĩnh vực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình hội nhập và hợp tác với các nước trong khu vực và quốc tế:

“Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nâng cao năng lực về chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và trình độ ngoại ngữ để tham gia vào các chương trình dự án hợp tác đầu tư với nước ngoài Có cơ chế chính sách thích hợp đối với các vùng nguyên liệu làm hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức làm tư vấn dịch vụ gọi vốn đầu tư từ nước ngoài” [9]

Về công tác giáo dục chính trị tư tưởng và nghiên cứu, học tập lý luận, Đại hội nêu rõ: “Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Đảng, làm cho mỗi cán

bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ nhận thức đúng đắn và phấn đấu thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới” [9] Đại hội đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các ngành, các cấp:

Trang 36

“Các cấp, các ngành cần phải thường xuyên xây dựng quy hoạch cán bộ và có quy trình tuyển chọn, tạo nguồn đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ một cách toàn diện Thực hiện đề bạt, bổ nhiệm cán bộ theo quy trình đảm bảo tiêu chuẩn, khách quan, dân chủ Quan tâm bổ nhiệm, đề bạt cán bộ trẻ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, tạo sự đổi mới trong đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành và chuẩn bị một bước cho đội ngũ cán bộ sau năm 2000 Thực hiện bổ nhiệm, đề bạt cán bộ theo nhiệm kỳ Đại hội Đảng, nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân các cấp Hàng năm, các cấp, các ngành cần dành một phần kinh phí thích đáng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ” [9]

Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ Thái Nguyên là một sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị, tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh Nghị quyết Đại hội đã vạch ra phương hướng, nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trên địa bàn, tạo tiền đề cho tỉnh tiếp tục phát triển đi lên

Để thực hiện những chủ trương, Nghị quyết của Đảng về công tác cán

bộ, Tỉnh ủy đã tiến hành điều tra tổng hợp chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong toàn tỉnh

Trang 37

Bảng 1.1 Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt giai đoạn 1997 - 2001

TT Tiêu chí Bí thƣ

Đảng ủy

Chủ tịch HĐND

Chủ tịch UBND

Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên, tính đến tháng 12 năm 2000

Trên cơ sở đó, Tỉnh ủy xây dựng Quy chế hoạt động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; Quyết định về phân cấp quản lý cán bộ và một số quy trình đề bạt cán bộ; Quy định tuyển chọn cán bộ, nhân viên; Quy định tuyển chọn cử cán bộ đi học, bồi dưỡng…

Mục tiêu:

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ

sở, đặc biệt là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có đủ phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên lập trường của giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm chuyển tiếp liên lục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội

Trang 38

Xây dựng nguồn cán bộ dự bị cho mỗi chức danh từ 2 đến 3 cán bộ để kịp thời thay thế khi có yêu cầu, mỗi kỳ đại hội cần có từ 30% trở lên số cán

bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể và lực lượng vũ trang

Phấn đấu đến năm 2010 các cán bộ chủ chốt cấp xã phải tốt nghiệp trung học phổ thông và có từ 50% trở lên có trình độ đại học Đặc biệt coi trọng đào tạo cán bộ theo chuyên ngành

Xây dựng quy hoạch cán bộ:

Căn cứ Chỉ thị số 03 (ngày 15-01-1998) của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, nội dung quy hoạch cán bộ như sau:

Quy hoạch cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị, xác định rõ chức danh cán bộ cần quy hoạch, nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch, thời gian quy hoạch (ngắn hạn, dài hạn) Đặc biệt chú trọng quy hoạch đầu vào và đầu ra của đội ngũ cán bộ

Mỗi cấp ủy Đảng, mỗi ngành cần có quy hoạch cán bộ cho cấp mình, ngành mình Bảo đảm có đủ nguồn cán bộ để mỗi nhiệm kỳ có thể đổi mới khoảng 30-40 cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể ở các cấp Trước mắt là chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng bộ các cấp vào năm 2000, Hội đồng nhân dân vào năm 1999 và Đại hội các đoàn thể vào năm 2002, 2003, đồng thời chuẩn bị đội ngũ cho những năm 2005, 2010 Nguồn cán bộ quy hoạch gồm:

Cán bộ lãnh đạo quản lý, công chức hiện đang hoạt động trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, có thành tích và triển vọng, tuổi đời không quá 45 đối với cấp tỉnh, không quá 40 đối với cấp thành phố, huyện và cơ sở

Quá trình quy hoạch cán bộ, các cấp ủy, các ngành cần theo dõi kiểm tra, tổng kết, điều chỉnh, bổ sung, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ

Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ:

Trang 39

Lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Nội dung đào tạo phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu đối tượng từng loại cán bộ

Tranh thủ và kết hợp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ bằng nhiều hình thức phù hợp với từng lợi đối tượng đã quy hoạch, vừa tăng nhanh số lượng vừa đảm bảo chất lượng, phải gắn với thực tiễn cuộc sống

Động viên, khuyến khích và bắt buộc cán bộ đảng viên phải tự học tập,

tự nghiên cứu và có kiểm tra, sát hạch định kỳ với từng loại cán bộ, có khen thưởng và kỷ luật thỏa đáng

Xây dựng các quy chế về công tác cán bộ

Căn cứ các quy chế của Bộ Chính trị, các hướng dẫn của Trung ương

và căn cứ vào tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ tỉnh, Tỉnh ủy đã ban hành một số quy chế về cán bộ như: Quy chế về đánh giá cán bộ, Quy chế về tuyển chọn cán bộ, Quy chế về bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ, Quy chế về luân chuyển cán bộ…

Tỉnh ủy Thái Nguyên đã chủ trương đổi mới và hoàn thiện hệ thống chế

độ, chính sách cán bộ:

Nhanh chóng xây dựng quỹ đào tạo cán bộ của tỉnh Nguồn lập quỹ đào tạo cán bộ từ ngân sách Nhà nước cấp, từ kinh phí Đảng, các đoàn thể, các doanh nghiệp Nhà nước

Đầu tư thích đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng những người ưu tú có thành tích trong công tác, lao động và học tập Chú trọng con em gia đình trong diện chính sách, công nhân, nông dân và trí thức, lực lượng vũ trang, cán bộ nữ, con em dân tộc, vùng căn cứ cách mạng (ATK) Áp dụng chính sách học bổng, miễn giảm học phí và khen thưởng kịp thời những học sinh, sinh viên hiếu học vượt khó và học giỏi Có chính sách thu hút nhân tài, người

có trình độ nghiệp vụ, chuyên môn khoa học, kỹ thuật về công tác

Trang 40

Các cấp ủy Đảng, các ngành cần quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ thuộc cấp mình quản lý, trên cơ sở đó bố trí, sử dụng cán bộ để phát huy hết khả năng của họ, đồng thời kỷ luật nghiêm minh những cán bộ sai phạm; không

bố trí, sử dụng cán bộ không có năng lực

Triển khai và tổ chức tốt các chế độ chính sách của Trung ương ban hành về công tác cán bộ Cải tiến và quy hoạch lại những khoản trợ cấp cho cán bộ khám chữa bệnh, cán bộ có hoàn cảnh khó khăn

Thực hiện chính sách về nhà ở, đất ở đối với diện chính sách và đối với cán bộ đúng quy định, hợp lý, công bằng, phù hợp với khả năng và điều kiện của tỉnh

Nhiệm vụ công tác cán bộ từ năm 1997 đến năm 2001 là:

Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ Rà soát, sắp xếp, sử dụng tốt đội ngũ cán bộ hiện có; khẩn trương quy hoạch đào tạo và bồi dưỡng, rèn luyện, sớm hình thành đội ngũ cán bộ kế cận có phẩm chất và năng lực, đủ tiêu chuẩn, chuẩn bị tốt nhân sự cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các nhiệm kỳ sau

Kiên quyết đưa ra khỏi cơ quan lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, các đoàn thể những người vi phạm nghiêm trọng đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thoái hóa biến chất, cá nhân, bè phái gây mất đoàn kết nội

bộ tham nhũng…

Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, mở rộng phạm vi, quy mô đào tạo và kết hợp tốt nội dung, chương trình, hình thức đào tạo phù hợp với từng loại cán bộ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trường Chính trị tỉnh, kết hợp với các huyện, thành phố, các ban ngành có liên quan soạn thảo nội dung, chương trình để đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, thiết thực cho cán bộ chủ chốt cấp xã Đối với cán bộ còn hạn chế kiến thức, năng lực phải xem xét, sắp xếp sớm đưa đi tào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, trường hợp cần thiết có

Ngày đăng: 21/09/2020, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w