- Trên phương diện Thống kê toán, người ta định nghĩa: “Bảo hiểm là hoạtđộng thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường theo quy luật thống kê chongười tham gia bảo hi
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
VÀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC
KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm
Bảo hiểm ra đời, tồn tại và phát triển là do trong thực tế cuộc sống có nhiềurủi ro xảy ra, gây nên tổn thất về người và của Mặc dù con người đã luôn chú ýphòng tránh nhưng những rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy
Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằmkiểm soát cũng như hậu quả của rủi ro gây ra Hiện nay, theo quan điểm của cácnhà quản lý rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu quả do rủi rogây ra – đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các biện pháp tài trợrủi ro
- Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi
ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro Các biện pháp này thường được sử dụngđể ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro
+ Tránh né rủi ro là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống.
Mỗi người, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện pháp thíchhợp để né tránh rủi ro có thể xảy ra, tức là loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất Chẳnghạn để tránh các tai nạn giao thông người ta hạn chế đi lại, để tránh tai nạn laođộng người ta chọn những nghề không nguy hiểm Tránh né rủi ro chỉ với nhũngrủi ro có thể tránh né được Nhưng cuộc sống có rất nhiều rủi ro bất ngờ không thểtránh né được
+ Ngăn ngừa tổn thất - các biện pháp ngăn ngừa tổn thất đưa ra các hành
động nhằm làm giảm tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra Ví dụ, đểgiảm thiểu các tai nạn lao động người ta tổ chức các khóa học nâng cao chất lượng
Trang 2các hoạt động đảm bảo an toàn lao động; đề phòng chống hỏa hoạn, người ta thựchiện tốt phòng cháy chữa cháy
+ Giảm thiểu tổn thất - người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua các
biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất đã xảy ra Ví dụ, như khi có hỏahoạn, để giảm thiểu tổn thất người ta cố gắng cứu các tài sản còn dùng được haytrong một tai nạn giao thông, để làm giảm thiểu các thiệt hại về người và của người
ta đưa ngay những người bị thương đến nơi cấp cứu và điều trị
Mặc dù biện pháp kiểm soát rủi ro rất có hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặcgiảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lường hết đượchiệu quả
- Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro: bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro
và bảo hiểm Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy ra với mụcđích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có
+ Chấp nhận rủi ro- đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự chấp nhận
khoản tổn thất đó Một trường hợp điển hình của chấp nhận rủi ro là tự bảo hiểm Córất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro, tuy nhiên có thểphân chia làm hai nhóm: Chấp nhận rủi ro thụ động và chấp nhận rủi ro chủ động.Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người ta gặp tổn thất không có sự chuẩn bị trướcvà có thể phải vay mượn để khắc phục hậu quả tổn thất Đối với chấp nhận rủi rochủ động, người ta lập ra quỹ dự trũ, dự phòng và quỹ này chỉ được sử dụng để bùđắp tổn thất do rủi ro gây ra Tuy nhiên, việc này dẫn đến việc nguồn vốn khôngđược sử dụng một cách tối ưu hoặc nếu đi vay thì sẽ bị động và còn gặp phải các vấnđề gia tăng về lãi suất
+ Bảo hiểm – đây là một phần quan trọng các chương trình quản lý rủi ro
của các tổ chức cũng như cá nhân Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảohiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng Theo quan điểm xã hội, bảo
Trang 3hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trungmột số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về tổn thất khi chúng xảy ra Bảohiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất.Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sảnxuất kinh doanh
Do nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển vàkhông thể thiếu đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia Ngày nay, sựgiao lưu kinh tế, văn hóa giữ các quốc gia càng phát triển thì bảo hiểm cũng ngàycàng mở rộng [19]
1.1.2 Lợi ích của bảo hiểm
- Trước hết bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trướctổn thất do rủi ro gây ra
- Bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống conngười an toàn hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp
- Bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách Nhà nước
- Bảo hiểm còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế –xã hội
- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nướcthông qua hoạt động tác bảo hiểm
- Bảo hiểm thu hút một số lượng lao động nhất định của xã hội, góp phầngiảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội Đồng thời hoạt động bảo hiểm cũnggóp phần giải quyết đời sống cho bộ phận lao động làm việc trong ngành bảo hiểm;góp phần tạo ra một bộ phận tổng sản phẩm trong nước (GDP) của quốc gia
- Cuối cùng, bảo hiểm là chổ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức kinhtế – xã hội; giúp họ yên tâm trong cuộc sống, sinh hoạt và trong hoạt động sản xuất
Trang 4kinh doanh Bởi vì, với một giá khiêm tốn (phí bảo hiểm), bảo hiểm có thể giúp đỡcác gia đình, các tổ chức khắc phục hậu quả những rủi ro khôn lường [33]
1.1.3 Bản chất của bảo hiểm
Hoạt động bảo hiểm đã có từ lâu và cho đến nay cũng đã có rẩt nhiều địnhnghĩa về bảo hiểm, cụ thể:
- Dưới góc độ tài chính người ta định nghĩa: “Bảo hiểm là quá trình lập quỹdự phòng bằng tiền nhằm phân phối lại những chi phí, mất mát không mong đợi”
- Dưới góc độ pháp lý: “Bảo hiểm là sự cam kết bồi thường hoặc chi trả vềmặt kinh tế, trong đó người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm phải đóng mộtkhoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho đối tượng được bảo hiểm theo các điều kiện bảohiểm đã quy định Ngược lại, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường hoặc chitrả tiền bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro, sự cố bảo hiểm”
- Trên phương diện Thống kê toán, người ta định nghĩa: “Bảo hiểm là hoạtđộng thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) chongười tham gia bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi với điềukiện người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho ngườithứ ba”
- Trên phương diện kinh tế – xã hội, các chuyên gia Pháp định nghĩa: “Bảohiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vàomột khoản đóng góp của mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi
ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức chi trả, tổ chức này có trách nhiệm đối vớitoàn bộ các rủi ro và đền bù thiệt hại theo các phương pháp thống kê”
- Nếu xem xét một cách toàn diện thì: “Bảo hiểm là một hoạt động được tổ chức hợp lý bởi tập hợp những người có cùng chung rủi ro có thể xảy ra hoặc các sự kiện bảo hiểm, các khoản đóng góp về tài chính của họ cho phép bồi thường
Trang 5hoặc chi trả theo quy luật thống kê những thiệt hại mà một số người trong tập hợp hoặc người thứ ba phải gánh chịu khi tổn thất hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra” [33]
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.2.1 Khái niệm, đặc trưng và vai trò của bảo hiểm xã hội
1.2.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
“BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính, do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội” [33].
Tuy nhiên, tùy từng giác độ tiếp cận theo chuyên môn đã có cách hiểu khácnhau về BHXH Ví dụ:
- Từ giác độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người laođộng, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và đượcsự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm vàgia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, TNLĐ, thai sản, hết tuổilao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết
- Từ giác độ tài chính: BHXH là cách thức chia sẻ rủi ro về tài chính giữanhững người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật
- Từ giác độ quản lý vĩ mô: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảođời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro xãhội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội [33]
1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của bảo hiểm xã hội
Trang 6- Bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động Nói cáchkhác, khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, người lao động được bảo hiểm cho đếnlúc chết.
- Các sự kiện bảo hiểm và các “rủi ro xã hội” của người lao động có liênquan trực tiếp đến thu nhập của họ như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết Do những sự kiện và rủi ro này màngười lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập Họ cần phải có khoản thu nhậpkhác bù vào để ổn định cuộc sống Đây là đặc trưng rất cơ bản của BHXH
- Người lao động muốn được quyền hưởng trợ cấp BHXH thì phải có nghĩa
vụ đóng phí BHXH Người chủ sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng phí BHXH chongười lao động mà mình thuê mướn Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH lànguồn hình thành quỹ BHXH Quỹ BHXH dùng để chi trả các trợ cấp khi có cácnhu cầu phát sinh về BHXH
- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độBHXH cũng do luật định và Nhà nước bảo hộ các hoạt động BHXH [33]
1.2.1.3 Vai trò của bảo hiểm xã hội đối với người lao động và đối với xã hội
Đối với người lao động: BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho những người lao
động gặp phải rủi ro, bất hạnh, nhanh chóng khắc phục những khó khăn bằng cáchtạo cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện sinh hoạt thuận lợi giúp họổn đinh cuộc sống, yên tâm trong công tác, tạo cho họ niềm tin vào tương lai, từ đógóp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như tinh thần nỗ lực vìsự phát triển của doanh nghiệp, cơ quan họ đang làm nói riêng và cho toàn xã hộinói chung
Đối với xã hội: Trước hết, cần phải khẳng định rằng, BHXH là một loại dịch
vụ công Hoạt động BHXH giống như một “doanh nghiệp” sản xuất ra những dịch
vụ “bảo hiểm” cho người lao động, một loại dịch vụ cần cho mọi người chứ không
Trang 7phải chỉ là cán bộ, công nhân viên chức Khi các tổ chức này sản xuất và cung ứngngày càng nhiều loại dịch vụ bảo hiểm, đáp ứng đa dạng các nhu cầu người dân, thìgiá trị của những dịch vụ này ngày càng tăng và là một bộ phận trực tiếp làm giatăng tăng tổng sản phẩm xã hội Dưới giác độ này, BHXH được xem là một ngànhdịch vụ quan trọng của nền kinh tế.
Thứ hai, với tư cách là một trong những chính sách kinh tế- xã hội của Nhànước, BHXH sẽ giải quyết những “trục trặc”, “rủi ro” xảy ra đối với người laođộng, góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năngsáng tạo của họ và tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động xã hội.Thông qua sự trợ giúp của BHXH đối với người lao động khi họ gặp rủi ro, bằngcách tạo ra thu nhập thay thế, BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêudùng quốc gia, kích thích tiêu dùng của xã hội, hổ trợ và bổ sung các chính sách vĩ
mô khác của Chính phủ
Thứ ba, với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh mẽtới hệ thống tài chính quốc gia, tới hoạt động của hệ thống tín dụng, tiền tệ, ngânhàng Chính vì vậy, trong các hoạt động của BHXH, luôn đặt ra một yêu cầu: quỹBHXH phải tự bảo tồn và phát triển bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó cóhình thức đầu tư phát triển phần “nhàn rỗi” của quỹ Đây là một trong những kênhvốn quan trọng, có tác động không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế của đấtnước, là một trong những nguồn đầu tư lớn tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanhmới, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp,góp phần tăng thu nhập cá nhân cho người lao động và tăng tổng sản phẩm quốcdân
Thứ tư, BHXH cũng là một chính sách nhằm thực hiện công bằng xã hội, làcông cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Sự phân phối
Trang 8lại thu nhập này được tiến hành qua hai cách: phân phối lại giữa người khỏe vàngười già, người làm việc và người đã về nghỉ hưu, người trẻ tuổi và người caotuổi, giữa nam và nữ, người đang hưởng trợ cấp và người chưa được hưởng trợcấp Đây được gọi là phân phối lại theo chiều ngang Còn phân phối lại theo chiềudọc là thực hiện điều tiết giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp,giữa người giàu và người nghèo Đây là một mục tiêu quan trọng trong các chínhsách kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô [33].
1.2.2 Chức năng và tính chất bảo hiểm xã hội
1.2.2.1 Chức năng bảo hiểm xã hội
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảohiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham giaBHXH
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng caonăng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội
- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa ngườilao động với xã hội [33]
1.2.2.2 Tính chất của bảo hiểm xã hội
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội
- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian vàkhông gian
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịchvụ
Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ, quỹ BHXH muốn được hình thành, bảotoàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản
Trang 9lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích Mức đóng góp của các bên phải được tínhtoán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp người lao độngtham gia BHXH Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho người lao động theo cácđiều kiện của BHXH Thực chất, phần đóng góp của mỗi người lao động là khôngđáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro Đối với người sửdụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho ngườilao động mà mình sử dụng Xét dưới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải
bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người lao động bị mất hoặc giảmkhả năng lao động Với Nhà nước BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngânsách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hộicủa nó thể hiện rất rõ Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều cóquyền tham gia BHXH Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm chomọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động.Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khi nền kinh tế - xãhội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hóa của BHXH cũngngày càng cao [33]
1.3 NHỮNG KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRONG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.3.1 Cơ chế thu bảo hiểm xã hội ở một số nước trên thế giới
Hệ thống BHXH được thực hiện nguyên tắc: Có tham gia BHXH mới đượchưởng các chế độ BHXH Nguồn thu của hệ thống BHXH được tập hợp chủ yếu từcác khoản đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động Ngoài ra ở mộtsố nước còn có sự hổ trợ của Chính phủ với mức đóng góp và hình thức đóng gópkhác nhau phụ thuộc vào quy định của Luật pháp
Trang 10Bảng 1.1: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới
ĐVT: %
Tên nước Chính phủ
Tỷ lệ đóng gópcủa người laođộng so vớitiền lương
Tỷ lệ đóng góp củangười sử dụng laođộng so với quỹlương
Malaixia Chi toàn bộ chế độ ốm
( Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới)
Mức đóng góp vào quỹ BHXH của mỗi nước rất khác nhau phụ thuộc vàotiềm năng kinh tế của mỗi nước Về việc phân chia trách nhiệm đóng góp chongười lao động và chủ sử dụng lao động cũng khác nhau Đa số các nước bắt buộcchủ sử dụng lao động phải đóng góp nhiều hơn người lao động Một số nước nhưCHLB Đức, CH Pháp, Inđônêxia, Philipin được Chính phủ trả chi phí y tế và trợcấp gia đình, các chế độ còn lại của người lao động và người sử dụng lao độngcùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau Một số nước khác lại quy định chẳnghạn như nước Malaixia thì Chính phủ chi toàn bộ chế độ ốm đau, thai sản chongười lao động [24]
1.3.2 Những bài học rút ra từ kinh nghiệp hoạt động bảo hiểm xã hội của các nước trên thế giới
Qua nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của các nước có nền kinh tế phát triểncũng như các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, có thể rút
ra một số kinh nghiệm trong công tác thu BHXH như sau:
Trang 11Bài học thứ nhất: Xây dựng chính sách BHXH phải dựa vào khả năng kinh
tế và xã hội cụ thể của mỗi nước
Bài học thứ hai: Việc thực hiện BHXH thông qua hệ thống thuế không cần
đến một hệ thống BHXH riêng biệt và thu thuế tính trên cơ sở tiền lương của ngườilao động từ bản thân người lao động và chủ sử dụng lao động như ở Thụy Điểnkhông phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam
Bài học thứ ba: Qua kinh nghiệm của Mỹ, Anh và một số nước cho thấy,
hoạt động BHXH phải thực hiện theo nguyên tắc bắt buộc để thu hút càng đượcnhiều đối tượng càng đảm bảo an toàn cho quỹ BHXH [24]
1.3.3 Cơ chế thu bảo hiểm xã hội nước ta từ năm 1995 đến nay
1.3.3.1 Quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội
Tháng 1/1997, quy định về quản lý thu BHXH được thực hiện theo Quyết địnhsố 177/BHXH ngày 30/12/1996 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam
Tháng 1/2000, căn cứ Quy chế quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội ViệtNam ban hành kèm theo Quyết định số 20/QĐ-TTg ngày 26/01/1998 của Thủ tướngChính phủ; Thông tư số 85/1998/QĐ-BTC ngày 25/06/1998 của Bộ Tài chínhhướng dẫn Quy chế quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam; quy trìnhquản lý thu được thực hiện theo Quyết định số 2902/1999/QĐ-BHXH ngày23/11/1999 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Quyết định này đã quy định rõhơn về nghĩa vụ, trách nhiệm, của các bên tham gia BHXH trong việc thu nộpBHXH; về quản lý và tổ chức thu BHXH
Tháng 7/2003, căn cứ Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002 củaChính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảohiểm xã hội Việt Nam; căn cứ Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày 02/01/2003của Thủ tướng Chính phủ ban hành ban hành về Quy chế quản lý tài chính đối vớiBảo hiểm xã hội Việt Nam; quy trình quản lý thu BHXH, BHYT bắt buộc được
Trang 12thực hiện theo Quyết định số 722/QĐ-BHXH-BT ngày 26/5/2003 của Tổng Giámđốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Tháng 01/2007 Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 có hiệu lựcthi hành; căn cứ Quyết định số 41/2007QĐ-TTg ngày 29/3/2007 của Thủ tướngChính phủ về quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam; quy trình quản lý thuBHXH, BHYT được ban hành theo Quyết định số 902/QĐ-BHXH-BT ngày26/6/2007 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam phù hợp với quy định LuậtBHXH Đến tháng 01/2008 BHXH Việt Nam ban hành Quyết định số 1333/QĐ-BHXH ngày 26/02/2008 về việc sửa đổi bổ sung một số điều được quy định tạiQuyểt định 902/QĐ-BHXH-BT ngày 26/6/2007
Như vậy từ năm 1995 đến nay, Bảo hiểm xã hội Việt nam đã 5 lần thay đổiquy định về công tác quản lý thu BHXH Đây là vấn đề tất yếu khách quan nhằmchuẩn hóa hệ thống tổ chức và quản lý thu BHXH sao cho phù hợp với tình hìnhthực tế, đồng thời phản ánh ngành BHXH ngày càng lớn mạnh cả về lượng và chất;bên cạnh đó cũng cho thấy rằng công tác quản lý thu nói chung và đối với khu vựcKTTN nói riêng ngày càng đa dạng và phức tạp
1.3.3.2 Mục đích thu bảo hiểm xã hội
- Tạo lập quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở đóng góp của người sửdụng lao động, người lao động và Nhà nước, tách quỹ độc lập với ngân sách nhànước và thực hiện nguyên tắc hạch toán cân đối thu chi và được Nhà nước bảo hộ.Quỹ BHXH được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính của Nhà nước, bảo đảmchi ổn định, lâu dài các chế độ BHXH, giảm dần sự cấp phát từ ngân sách Nhànước
- Tạo lập mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH
Trang 13- Thực hiện nguyên tắc có đóng có hưởng, đảm bảo sự công bằng giữa cốnghiến và hưởng thụ Góp phần khắc phục các tiêu cực trong giải quyết chế độ chínhsách BHXH.
1.3.3.3 Đối tượng thuộc diện thu bảo hiểm xã hội
Hệ thống BHXH bắt đầu hoạt động từ tháng 07/1995, đối tượng thu BHXHbắt buộc bao gồm những người lao động trong các doanh nghiệp khu vực KTTNcó sử dụng từ 10 lao động trở lên [11]
Đến tháng 1/2003, Nghị định 01/NĐ-CP ngày 09/01/2003 đã mở rộng cácdoanh nghiệp có dưới 10 lao động và cả những lao động ký hợp đồng lao động(HĐLĐ) từ 3 tháng trở lên hoặc HĐLĐ dưới 3 tháng sau đó tiếp tục ký HĐLĐ mớithuộc diện tham gia BHXH bắt buộc [12]; Riêng thu BHYT, thực hiện theo Nghịđịnh 58/1998/NĐ-CP ngày 13/08/1998 của Chính phủ đối tượng thuộc diện thuBHYT bắt buộc áp dụng đối với những doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao độngtrở lên [13]
Nghị định số 63/2003/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ đã mở rộngđối tượng thuộc diện thu BHXH,BHYT bắt buộc đối với doanh nghiệp có sử dụngdưới 10 lao động [14]
Đối tượng thuộc diện thu BHXH, BHYT bắt buộc khu vực KTTN bao gồm:Người lao động làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, hợp đồng lao độngcó thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên đối với doanh nghiệp thành lập hoạt động theoLuật doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác [34]
1.3.3.4 Mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Mức đóng BHXH hàng tháng bằng 20% mức tiền lương, tiền công ghi tronghợp đồng lao động trong đó: Người lao động đóng 5%; Người sử dụng lao độngđóng 15% [17];
Trang 14Mức đóng BHYT hàng tháng bằng 3% mức tiền lương, tiền công tháng,trong đó: Người lao động đóng 1% ; Người sử dụng lao động đóng 2% [14].
Hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, người sử dụng laođộng có trách nhiệm đóng BHXH, BHYT trên quỹ tiền lương, tiền công của ngườilao động; đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng của từng người lao động đểđóng cùng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặcKho bạc Nhà nước, trong đó: nộp 23% tiền lương, tiền công đối với toàn bộ số laođộng thuộc đối tượng thu BHXH, BHYT; Chỉ nộp 3% tiền lương, tiền công đối vớinhững người thuộc đối tượng thu nêu trên nhưng đang trong thời gian nghỉ thaisản, nghỉ ốm trên 14 ngày trong tháng; nghỉ ốm dài ngày, nghỉ chờ việc khônghưởng lương, nghỉ việc do chuyển công tác hoặc nghỉ việc mà chưa trả lại thẻBHYT[17]
Từ tháng 01/2007 người lao động có mức tiền lương, tiền công cao hơn 20tháng tiền lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXHbằng 20 tháng lương tối thiểu chung [34]
1.3.3.5 Trình tự công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc
Kể từ khi bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp có trách nhiệm lập 02 bản “Danhsách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH, BHYT bắt buộc” (Mẫu số 02a-TBH) Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ký HĐLĐ hoặc quyết địnhtuyển dụng, người sử dụng lao động phải nộp toàn bộ hồ sơ (Bản sao Quyết địnhthành lập hoặc chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động; HĐLĐhoặc quyết định tuyển dụng cùng 03 bản “ Tờ khai tham gia BHXH, BHYT bắtbuộc” (Mẫu số 01-TBH) hoặc sổ BHXH người lao động (nếu có) cho cơ quanBHXH
Trang 15Người sử dụng lao động tham gia BHXH, BHYT đóng trụ sở chính ở địabàn nào thì đăng ký tham gia đóng BHXH, BHYT tại địa bàn đó theo phân cấpquản của cơ quan BHXH.
Hàng tháng doanh nghiệp có trách nhiệm thu phần phải đóng của người laođộng để chuyển cùng với phần đơn vị phải đóng vào quỹ BHXH theo tài khoản thuchuyên thu của cơ quan BHXH
Hàng tháng hoặc tháng đầu của kỳ sau (đơn vị đóng theo kỳ), căn cứ hồ sơđăng ký tham gia BHXH, BHYT và hồ sơ bổ sung (nếu có), các chứng từ chuyểntiền đóng BHXH, BHYT của đơn vị; giấy báo có của Ngân hàng hoặc Kho bạcNhà nước trong tháng, trong kỳ để kiểm tra, đối chiếu và xác định số người thamgia BHXH, BHYT, tổng quỹ lương lương, số tiền phải đóng, số tiền đã đóng, sốtiền đóng thừa, thiếu và số tiền lãi chưa đóng, chậm đóng (nếu có) Cơ quanBHXH lập 02 bản “ Thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT bắt buộc” (Mẫu 08-TBH) gửi 01 bản cho đơn vị sử dụng lao động trước ngày 10 tháng sau, 01 bản lưutại đơn vị [30]
1.3.3.6 Phân cấp quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Quyết định số 177/BHXH ngày 30/12/1996 và Quyết định số2902/1999/QĐ-BHXH ngày 23/11/1999 chưa phân cấp trách nhiệm của Bảo hiểmxã hội Việt Nam trong công tác thu Từ Quyết định số 722/QĐ-BHXH-BT ngày26/5/2003 và Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 mới quy định rõ tráchnhiệm
Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Chỉ đạo, hướng dẫn, và kiểm tra tình hình thực
hiện công tác quản lý thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trong toàn ngành; Đối chiếutình hình thu nộp BHXH, BHYT, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT; Thẩm định số thuBHXH, BHYT bắt buộc hàng năm; Xác định mức lãi suất bình quân trong năm củahoạt động đầu tư quỹ BHXH và thông báo cho BHXH tỉnh [29]
Trang 16Bảo hiểm xã hội tỉnh:
- Căn cứ tình hình thực tế của địa phương để phân cấp quản lý thu BHXH,BHYT cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
- Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu liên quan đến người lao động tham giaBHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh
- Xây dựng kế hoạch và hướng dẫn, kiểm tra tình hình thực hiện công tácthu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT theo phân cấp quản lý và quyết toán số tiền thuBHXH, BHYT đối với BHXH huyện theo định kỳ quý, 6 tháng, năm và lập “Biênbản thẩm định số liệu thu BHXH, BHYT bắt buộc” (Mẫu số 12-TBH) [29]
Bảo hiểm xã hội huyện, thành phố: Tổ chức, hướng dẫn thực hiện thu
BHXH, BHYT; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT đối với người sử dụng lao động vàngười lao động theo phân cấp quản lý [29]
1.3.3.7 Lập và giao kế hoạch thu hàng năm
Bảo hiểm xã hội huyện: Căn cứ tình hình thực hiện năm trước và khả năng
mở rộng người lao động tham gia BHXH, BHYT trên địa bàn, lập 02 bản “Kếhoạch thu BHXH, BHYT bắt buộc” năm sau (Mẫu số 13-TBH), gửi 01 bản đến
BHXH tỉnh trước ngày 05/11 hàng năm.
Bảo hiểm xã hội tỉnh
- Lập 02 bản dự toán thu BHXH, BHYT đối với người sử dụng lao động do
tỉnh quản lý, đồng thời tổng hợp toàn tỉnh, lập 02 bản “Kế hoạch thu BHXH,BHYT bắt buộc” năm sau (Mẫu số 13-TBH), gửi BHXH Việt Nam 01 bản trướcngày 15/11 hàng năm
- Căn cứ dự toán của BHXH Việt Nam giao, tiến hành phân bổ dự toán thuBHXH, BHYT cho các đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh và BHXH huyện trước ngày20/01 hàng năm
Trang 17Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch năm trước
và khả năng phát triển lao động năm sau của các địa phương, tổng hợp, lập và giaodự toán thu BHXH, BHYT cho BHXH tỉnh và BHXH thuộc Bộ Quốc phòng, BộCông an và Ban Cơ yếu Chính phủ trước ngày 10/01 hàng năm [29]
1.3.3.8 Quản lý tiền thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
- Thu BHXH, BHYT bằng hình thức chuyển khoản Trường hợp người sửdụng lao động hoặc người lao động đóng BHXH bằng tiền mặt thì cơ quan BHXHphải hướng dẫn thủ tục nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH Nếungười sử dụng lao động hoặc người lao động nộp tiền mặt trực tiếp tại cơ quanBHXH thì chậm nhất sau 3 ngày làm việc, cơ quan BHXH phải nộp vào tài khoảnchuyên thu mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
- BHXH tỉnh và BHXH huyện không được sử dụng tiền thu BHXH, BHYTvào bất cứ mục đích gì (trường hợp đặc biệt phải được Tổng giám đốc BHXH ViệtNam chấp thuận bằng văn bản)
Bảo hiểm xã hội huyện chuyển tiền thu BHXH, BHYT về tài khoản chuyênthu của BHXH tỉnh vào ngày 10 và ngày 25 hàng tháng Riêng tháng cuối nămchuyển toàn bộ số tiền thu BHXH, BHYT của huyện về BHXH tỉnh trước 24 giờngày 31/12 [29]
1.3.3.9 Thông tin báo cáo
BHXH tỉnh, huyện mở Sổ chi tiết thu BHXH, BHYT bắt buộc (Mẫu số TBH); thực hiện ghi sổ theo hướng dẫn sử dụng mẫu biểu
07-BHXH tỉnh, huyện thực hiện chế độ báo cáo tình hình thu 07-BHXH, BHYTbắt buộc (Mẫu số 09,10,11-TBH) định kỳ tháng, quý, năm; BHXH như sau:
+ BHXH huyện: Báo cáo tháng trước 22 hàng tháng; báo cáo quý trước ngày
20 tháng đầu quý sau; báo cáo năm trước ngày 25/01 năm sau