Bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Sơn “Giao ưu văn hóa v sự xích lại gần nhau giữa các nền văn hóa Đ ng – Tây trong th i đại ng na ” trên Tạp chí Nghiên cứu lý luận năm 2008 đã phân tíc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ MINH THẢO
ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Văn Thịnh
Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Lê Văn Thịnh – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy đã tận tình chỉ bảo, định hướng cho tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ từ các thầy cô trong trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, các thầy cô trong khoa Lịch sử, trong bộ môn Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam - những người thầy đã dạy dỗ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn
bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành khóa học
Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực song luận văn không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được ý kiến cuả quý thầy cô và các bạn Xin chân thành cám ơn
Tác giả luận văn
Ngô Minh Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 9
4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
5.Phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu 11
6.Đóng góp của luận văn 11
7.Bố cục 12
Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 13
1.1 Khái quát chung về ngoại giao văn hóa 13
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 13
1.1.2 Vai trò của ngoại giao văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa 17
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm 2000 đến 2005 19
1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng 19
1.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 23
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014 32
2.1 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm 2006 đến năm 2010 32
2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng 32
2.1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 36
Trang 62.2 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm
2011 đến năm 2014 43
2.2.1 Những điều kiện mới và chủ trương của Đảng 43
2.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 47
Tiểu kết chương 2 59
Chương 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 61
3.1 Một vài nhận xét 61
3.1.1 Ưu điểm 61
3.1.2 Hạn chế 67
3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 72
3.2.1 N ng cao nh n th c cho c n bộ, nhân dân; tăng cư ng sự nh đạo của Đảng quản lý của Nh nước về hoạt động ngoại giao văn hóa 72
3.2.2 Kết hợp, lồng ghép ngoại giao văn hóa với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế 74
3.2.3 Coi trọng c c hoạt động th ng tin tu n tru ền v quảng bá hình ảnh Việt Nam 76
3.2.4 hai th c hiệu quả tiềm năng của cộng đồng ngư i Việt Nam ở nước ngoài trong hoạt động ngoại giao văn hóa 77
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 100
Trang 7DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
EU Liên minh châu Âu NVNONN Người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa vẫn luôn được coi là một trong những lĩnh vực quan trọng của xã hội bên cạnh kinh tế, chính trị Đặc biệt, trong thời đại hiện nay, khi hội nhập, toàn cầu hóa diễn ra sôi nổi, văn hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn ở mỗi quốc gia, dần trở thành động lực và mục tiêu của phát triển kinh tế, chính trị, xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm khẳng định vai trò của văn hóa
“vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội”
Ngoại giao văn hóa đã được một số nước tiến hành từ lâu đời, coi đó là một dạng “sức mạnh mềm”, “quyền lực mềm” (soft power), có vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế quốc tế và sức mạnh ngoại giao của nước mình trên trường quốc tế Từ cuối thế kỷ XX đến nay, cùng với sự biến đổi của tình hình thế giới, ngày càng có nhiều quốc gia quan tâm và công nhận vị trí của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giao hiện đại
Ở Việt Nam, khái niệm ngoại giao văn hóa xuất hiện muộn nhưng sớm được Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng Ngoại giao văn hóa đã được Bộ Ngoại giao xác định là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam bên cạnh ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế (2006) Năm 2009 được xác định là Năm ngoại giao văn hóa Năm 2011, Thủ tướng chính phủ ký quyết
định phê duyệt Chiến ược ngoại giao văn hóa đến năm 2020 đề ra các biện
pháp cụ thể triển khai hoạt động ngoại giao văn hóa Sự coi trọng đó cho thấy
sự đổi mới về tư duy ngoại giao, đồng thời thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển xã hội: gắn kết chặt chẽ và đồng bộ chính trị với kinh tế và văn hóa trong từng bước của quá trình phát triển đất nước Ngoại giao văn hóa đã dần xác lập vị trí và vai trò to lớn trong nền ngoại giao Việt Nam
Trang 9Trong bối cảnh thế giới phẳng hiện nay, khi thế giới ngày càng trở thành một thực thể gắn kết chặt chẽ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, sự phụ thuộc giữa các quốc gia càng tăng lên; Việt Nam đã chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại Việt Nam tuyên bố sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển
Liên minh châu Âu (EU) không phải là một đối tác ngoại giao truyền thống của Việt Nam Nếu như trước đây trong thế trận đối đầu giữa Đông và Tây dẫn tới sự loại trừ lẫn nhau; ngày nay thế giới đang đi vào đối thoại cùng tồn tại, phát triển hoà bình, bền vững, biên giới Đông – Tây ngày càng sát lại
EU là một tổ chức khu vực có sự liên kết chặt chẽ, tiềm năng lớn về kinh tế Tuy quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với nhiều nước thành viên EU
đã được tiến hành từ lâu, đến năm 1990, hai bên mới chính thức xác lập quan
hệ Mối quan hệ Việt Nam – EU đã và đang phát triển nhanh chóng Đến nay, các nước EU được coi là đối tác quan trọng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế
Vì nhiều lý do, từ khi bắt đầu xác lập quan hệ ngoại giao, văn hoá không phải là lĩnh vực được ưu tiên trong quan hệ Việt Nam – EU Tuy nhiên trong thời gian gần đây hai bên bắt đầu có những hoạt động giao lưu, trao đổi văn hóa với mật độ ngày càng dày đặc Năm 2005, Việt Nam đã thông qua đề
án tổng thể Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu, tiếp đó là Chương trình hành động đến 2010 và định hướng tới 2015 với mục tiêu đưa quan hệ Việt
Nam - EU trở thành "Quan hệ đối tác toàn diện và bền vững, trên tinh thần ổn
định lâu dài và tin c y lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong các th p kỷ tới của thế kỷ 21" Trong bối cảnh hai bên đang tích cực
tiến hành phát triển mối quan hệ đa dạng, toàn diện, ngoại giao văn hóa sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với EU
Trang 10Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại
giao văn hóa của Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2000 đến năm 2014” làm đề tài luận văn chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khái niệm ngoại giao văn hóa đã sớm xuất hiện trên thế giới, hoạt
động ngoại giao văn hóa đã được tiến hành ở nhiều nước từ lâu Tuy nhiên, gần đây khái niệm này mới được nhắc đến nhiều ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về nó còn ít Trong quá trình khảo sát tư liệu, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu này có thể chia thành ba nhóm như sau:
Nhóm 1: Những công trình nghiên cứu về văn hóa, ngoại giao văn hóa, giao lưu văn hóa nói chung
Trong cuốn “T c động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển của văn
hóa v con ngư i Việt Nam” của GS.TS Dương Phú Hiệp đã tập hợp các bài
phân tích, luận chứng của các nhà nghiên cứu, học giả về các vấn đề đối ngoại
và ngoại giao văn hóa, văn hóa đối ngoại như GS.TS Hồ Sĩ Quý, GS.TS Dương Phú Hiệp, GS.TS Ngô Đức Thịnh, TS Hoàng Khắc Nam… Xoay quanh chủ đề hội nhập văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, các tác giả đã đưa ra những lý thuyết bàn về phát triển văn hóa và con người trong bối cảnh toàn cầu hóa
Cuốn “Một số vấn đề về quản ý Nh nước kinh tế văn hóa gi o dục
trên thế giới và Việt Nam” của tác giả Lê Thanh Bình do nhà xuất bản Chính
trị quốc gia phát hành vào năm 2010 đã đưa ra những vấn đề khái niệm về ngoại giao văn hóa và khẳng định tính tất yếu của giao lưu văn hóa quốc tế trong thời đại ngày nay
Bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Sơn “Giao ưu văn hóa v sự xích lại
gần nhau giữa các nền văn hóa Đ ng – Tây trong th i đại ng na ” trên
Tạp chí Nghiên cứu lý luận năm 2008 đã phân tích tầm quan trọng của việc giao lưu văn hóa đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện đại
Trang 11Trong cuốn “Ngoại giao và Công tác Ngoại giao” của Vũ Dương
Huân do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2009 đã trình bày những nội dung có liên quan đến ngoại giao và công tác ngoại giao như: các khái niệm ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, thư tín ngoại giao, tiếp xúc ngoại giao, ngoại giao kinh tế, đàm phán ngoại giao, văn kiện ngoại giao, lễ tân ngoại giao, trong đó dành một chương nói về ngoại giao văn hóa
Tác giả Vũ Dương Huân trong bài viết “V i su nghĩ về ngoại giao văn
hóa” trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 4 năm 2007 đề cập đến nội hàm khái
niệm ngoại giao văn hóa trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Trong “Ngoại giao văn hóa: bắt đầu từ khái niệm” của tác giả Hoàng
Vinh Thành trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm 2009 có bàn về khái niệm ngoại giao văn hóa và các khái niệm liên quan khác như: văn hóa ngoại giao, văn hóa đối ngoại
Trong bài: “Ngoại giao Việt Nam hiện đại trong th i kỳ hội nh p” của
Phạm Gia Khiêm trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm 2009 đã phân tích nội hàm của khái niệm ngoại giao văn hóa và vị trí của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giao hiện đại Việt Nam
Tác giả Phạm Thái Việt trong bài “Quan hệ công chúng và ngoại giao
văn hóa” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 3 năm 2009 đã bàn về mối quan
hệ giữa quan hệ công chúng và ngoại giao văn hóa
Trong bài viết “Ngoại giao văn hóa và truyền thống văn hóa đối ngoại
trong bối cảnh hội nh p quốc tế” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm
2009, tác giả Đặng Thị Thu Hương đã nghiên cứu về ngoại giao văn hóa và mối quan hệ của nó với hoạt động thông tin đối ngoại
Tác giả Lê Thanh Bình trong bài “Xu hướng văn hóa – truyền thông
thế giới t c động đ n b o chí ngoại giao văn hóa quốc tế đương đại và khuyến nghị cho Việt Nam” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2 năm 2009
Trang 12đã trình bày về ngoại giao văn hóa như một trong những xu hướng văn hóa – truyền thông thế giới và đưa ra những khuyến nghị cho ngoại giao văn hóa Việt Nam
Bài viết “Yếu tố văn hóa trong quan hệ quốc tế hiện đại của Dương
Quốc Thanh” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm 2009 đã phân tích
một số trường hợp yếu tố văn hóa đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc
tế, từ đó đề xuất một số gợi ý cho ngoại giao văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện đại
Nhìn chung trong nhóm một, mỗi công trình nghiên cứu đều đề cập đến một số khía cạnh khác nhau của văn hóa, giao lưu văn hóa, ngoại giao văn hóa như: khái niệm, nội hàm của ngoại giao văn hóa và các khái niệm liên quan, quy luật phát triển của văn hóa, tính tất yếu của ngoại giao văn hóa trong thời điểm hiện tại
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về đường lối văn hóa, đường lối ngoại giao văn hóa của Đảng nói chung
Trong cuốn “Gi o trình Lý u n văn hóa v đư ng lối văn hóa của
Đảng” do Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn năm 2000 đã
trình bày lý luận về văn hóa, khẳng định giao lưu văn hóa là một quy luật phát triển của văn hóa
Trong bài viết “Định hướng của Đảng về Ngoại giao Văn ho trong tình
hình mới” trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Ngoại giao Văn hóa vì một bản sắc Việt Nam tr n trư ng quốc tế, phục vụ hòa bình, hội nh p và phát triển bền vững tác giả Nguyễn Bắc Sơn đã trình bày về định hướng văn hoá, chính sách
giao lưu văn hoá của Đảng đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng, một số nội dung cần được quan tâm trong thực hiện ngoại giao văn hoá
Trong bài “Quan điểm về Ngoại giao Văn hóa” trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Ngoại giao Văn hóa vì một bản sắc Việt Nam tr n trư ng quốc tế,
Trang 13phục vụ hòa bình, hội nh p và phát triển bền vững, tác giả Vũ Khoan đã trình
bày một số quan điểm về chủ trương, chính sách Ngoại giao Văn hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam và những bài học cần thiết để làm tốt hoạt động Ngoại giao Văn hóa trong giai đoạn hiện nay
Trong bài viết “Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành nhằm hu động
các nguồn lực triển khai hoạt động ngoại giao văn hóa” in trong Kỷ yếu Hội
thảo Quốc gia: Ngoại giao Văn hóa vì một bản sắc Việt Nam tr n trư ng quốc
tế, phục vụ hòa bình, hội nh p và phát triển bền vững; tác giả Nguyễn Văn
Tình đã đề cập đến mục tiêu và những loại hình chính của ngoại giao văn hóa cũng như một số cơ chế phối hợp hiệu quả nhằm huy động mọi nguồn lực cho các hoạt động ngoại giao văn hóa
Bài viết “Quan điểm của Đảng v Nh nước ta về mở rộng giao ưu
văn hóa trong th i kỳ đổi mới” của tác giả Nguyễn Danh Tiên in trên Tạp chí
Lịch sử Đảng số 12 năm 2005 trình bày một số quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề văn hóa, giao lưu văn hóa trong thời kỳ đổi mới
Trong những bài viết của Bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm như
“Đẩy mạnh công tác ngoại giao văn hóa nhằm góp phần thực hiện thắng lợi
đư ng lối đối ngoại của Đảng”, (Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 62, 5/2009);
“Ngoại giao Việt Nam năm 2008: bước tiến mới v phương hướng năm
2009”, (Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 37); “ Tiếp tục triển khai thành công
đư ng lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần th 10”,(Tạp chí Lịch sử Đảng, số
1 (28), 1/2009) có đề cập đến tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa nói chung trong hoạt động ngoại giao và những phương hướng để tiến hành công tác ngoại giao văn hóa hiện nay
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế: “Ngoại giao văn hóa
Việt Nam trong th i kỳ đổi mới” của tác giả Đỗ Lan Phương (bảo vệ năm
2009) trình bày một số cơ sở hoạch định chính sách, đường lối chính sách,
Trang 14thực tiễn triển khai công tác ngoại giao văn hóa từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mới đến năm 2009, vai trò của Bộ Ngoại giao trong việc thực hiện hoạt động ngoại giao văn hóa
Trong luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Trần Thị Thúy Hà “Hoạt động
ngoại giao văn hóa của Đảng v Nh nước Việt Nam 1986-2009” (bảo vệ
năm 2009) đã trình bày sâu về khái niệm ngoại giao văn hóa và các hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam trong giai đoạn từ 1986 đến 2009
Trong luận văn thạc sĩ “Chủ trương của Đảng v Nh nước Việt Nam
về ngoại giao văn hóa từ năm 1986 đến năm 2011” của tác giả Lê Thị Duyên
(bảo vệ năm 2013) đã trình bày khái quát về văn hóa và ngoại giao văn hóa; chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về ngoại giao văn hóa từ năm
1986 đến năm 2011 và đưa ra một số đánh giá, kinh nghiệm chủ yếu
Trong luận án tiến sĩ “Đảng Cộng sản Việt Nam nh đạo hoạt động
đối ngoại tr n ĩnh vực văn hóa trong th i kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa giai đoạn 1996 – 2006” (bảo vệ năm 2013) của Trịnh Thúy
Hương đã trình bày về cơ sở lý luận và thực tiễn của chủ trương đối ngoại trên lĩnh vực văn hóa; chủ trương của Đảng về đối ngoại trên lĩnh vực văn hóa
và sự chỉ đạo thực hiện từ năm 1996 đến năm 2006
Nói chung các công trình, bài viết nghiên cứu trên, ở những mức độ khác nhau đều khẳng định ngoại giao văn hóa đóng vai trò quan trọng trong chính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước Việt Nam Các công trình đã trình bày một số khía cạnh chủ yếu trong chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về ngoại giao văn hóa, mối quan hệ giữa ngoại giao văn hóa
và các lĩnh vực ngoại giao khác Tuy nhiên các công trình này nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với EU cũng như chưa khái quát được thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam – EU
Trang 15Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về quan hệ văn hóa giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu cũng như các nước thành viên trong Liên minh châu Âu
Trong bài viết “Quan hệ văn hóa Việt Nam – Li n minh ch u Âu” trên
Tạp chí Văn hóa dân gian số 5 năm 2005, tác giả đã trình bày mối quan hệ văn hóa hai chiều giữa Việt Nam và EU như một quá trình giao lưu văn hóa Đồng thời tác giả phân tích một số nguyên nhân tại sao văn hóa không được các nhà hoạch định chính sách giữa Việt Nam và EU quan tâm Tác giả cũng chỉ ra những dấu hiệu cho thấy quá trình ấm dần của những giao lưu, trao đổi văn hóa giữa hai bên
Nhiều công trình đã khái quát quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt
Nam và các nước thành viên EU như: “V i nét về quan hệ văn hóa Ph p –
Việt” của tác giả Đặng Việt Bích in trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 7
năm 1997; “Về mối quan hệ về văn hóa Đ c và Việt Nam” của tác giả Đặng
Việt Bích in trong Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 8 năm 1999
Trong bài viết “Việt Nam và Liên minh châu Âu trong bối cảnh hiện
tại” in trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Khoa học xã hội và
Nhân văn tập 30, số 2, tác giả Michael Reiterer đã trình bày một cách khái quát về quan hệ Việt Nam – EU trong bối cảnh thay đổi của thế giới và khu vực Tuy nhiên, tác giả chủ yếu chỉ chú trọng phân tích mối quan hệ của hai bên về hợp tác kinh tế, an ninh mà chưa đi sâu vào các quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và EU
Các công trình trên đã đề cập đến mối quan hệ văn hóa giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu cũng như giữa Việt Nam với một số nước thành viên trong Liên minh châu Âu nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, có tính chất gợi mở, chưa đi sâu phân tích hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu; cũng như vai trò của sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đó
Trang 16Tổng hợp cả ba nhóm công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy các tác giả chủ yếu đề cập đến ngoại giao văn hóa ở các khía cạnh khác nhau như khái niệm, nội hàm, vai trò, vị trí Một số công trình bắt đầu đi sâu phân tích các chính sách ngoại giao văn hóa của Đảng Tuy nhiên những công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ngoại giao văn hóa, chính sách ngoại giao văn hóa của Đảng nói chung, chưa đi sâu, phân tích một cách hệ thống để làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với EU; đồng thời cũng chưa đánh giá được những ưu điểm, hạn chế của Đảng trong việc lãnh đạo này
Các công trình trên ở những mức độ khác nhau đã giúp tác giả có được những hiểu biết chung về các xu hướng nghiên cứu liên quan đến đề tài Đây
là những tài liệu có ý nghĩa tham khảo cho luận văn, góp phần vào việc
nghiên cứu đề tài “Đảng nh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt
Nam với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2000 đến năm 2014” dưới góc độ
Trang 17+ Làm rõ, phân biệt khái niệm ngoại giao văn hóa và các khái niệm liên quan; vai trò của ngoại giao văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
+ Hệ thống hóa và phân tích các quan điểm, chủ trương của Đảng về ngoại giao văn hóa nói chung
+ Làm rõ quá trình thực hiện chủ trương của Đảng trong hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU Chỉ ra những kết quả của việc thực hiện chủ trương này
+ Đánh giá và rút ra những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với EU
4.Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghi n c u
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU)
4.2 Phạm vi nghi n c u
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu chủ trương chung của Đảng về
ngoại giao văn hóa Đồng thời luận văn xem xét sự chỉ đạo cụ thể của Nhà nước Việt Nam đối với hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU
Ngoại giao văn hóa có nội hàm khá rộng lớn Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ chỉ tập trung làm rõ một số hoạt động chính yếu: ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU thông qua các Chương trình Ngày Việt Nam ở nước ngoài, các kênh hợp tác quốc tế (UNESCO), thông tin đối ngoại, hoạt động du lịch, thông qua cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài…
Để tạo điểm nhấn, ngoài những thông tin chung về EU, luận văn sẽ khai thác thông tin ở một vài quốc gia cụ thể như Pháp, Đức, Italia, Anh
Về th i gian: Tập trung vào giai đoạn từ 2000 đến 2014
Trang 185.Phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu
5.1 Phương ph p nghi n c u
Cơ sở phương ph p u n: Dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Phương ph p nghi n c u: Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch
sử và logic Ngoài ra, với từng vấn đề cụ thể, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
5.2 Nguồn tư iệu
Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước Việt Nam có liên quan đến vấn đề ngoại giao, ngoại giao văn hóa, văn hóa đối ngoại, giao lưu văn hóa, trao đổi hợp tác quốc tế về văn hóa
Các bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ ngoại giao, cán bộ văn hóa của Việt Nam
Các công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo, các bài báo, tạp chí, luận án, luận văn, tiểu luận, đề tài cấp bộ…có liên quan đến ngoại giao văn hóa, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU, giữa Việt Nam với các nước thành viên thuộc EU
Nguồn tài liệu Internet: các trang web chính thức của Đảng, Bộ Ngoại giao và một số trang báo điện tử khác có liên quan đến đề tài
6.Đóng góp của luận văn
Bằng kết quả nghiên cứu, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những quan điểm, chủ trương của Đảng về ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU Đồng thời qua đó làm rõ thêm về thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU cũng như giữa Việt Nam với các nước thành viên EU
Trang 19Đưa ra một số nhận xét, bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU từ năm 2000 đến năm 2014
7 Bố cục
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết lu n và Danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam
với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2000 đến năm 2005
Chương 2: Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2006 đến năm 2014
Chương 3: Một vài nhận xét và kinh nghiệm
Trang 20Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA
CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Khái quát chung về ngoại giao văn hóa
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
Văn hóa
Khái niệm “văn hoá” đã được bàn luận từ xa xưa Các học giả, nhà nghiên cứu với các góc nhìn khác nhau đã đưa ra rất nhiều khái niệm của riêng mình Đặc biệt, khi quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa diễn ra mạnh
mẽ, đồng thời với đó là việc giữ gìn bản sắc văn hóa riêng Vấn đề văn hoá càng được quan tâm rộng rãi và sâu sắc Có thể kể đến một số định nghĩa tiêu biểu như:
Trên thế giới, ở phương Tây, trong tiếng Anh, văn hóa là culture, trong tiếng Đức là kultur, trong tiếng Nga là kultura Những chữ này có chung gốc Latinh là cultus animi có nghĩa là trồng trọt tinh thần Như vậy, cultus có nghĩa là văn hóa được hiểu với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo cá thể hay cộng đồng đề họ phát triển những giá trị nhân văn và có những phẩm chất tốt đẹp
Trong công trình Việt Nam văn hóa sử cương, học giả Đào Duy Anh quan niệm: “Văn hóa là cách sinh hoạt của con người.” [1; tr.10] Hiểu theo định nghĩa này tức là tất cả các mặt ăn, ở, đi lại, đến cách cư xử của con người đều tựu chung lại là văn hóa
Là người am hiểu đồng thời văn hóa phương Đông và phương Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [144; tr.20] Như vậy, theo khái niệm này, dấu ấn của văn hóa xuất hiện trên mọi mặt của đời sống cộng đồng, bao gồm cả đường lối đối ngoại của mỗi quốc gia sau này
Trang 21Có thể nói, mỗi định nghĩa kể trên đều góp phần làm rõ những khía cạnh khác nhau của khái niệm văn hóa nhưng không phải định nghĩa nào cũng được chấp nhận một cách rộng rãi
Hiện nay, định nghĩa được nhiều người chấp nhận được đưa ra bởi Liên hợp quốc Tháng 8 năm 1982, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa UNESCO đã thông qua Tuyên bố chung, trong đó nêu rõ: “Theo nghĩa rộng nhất của nó, ngày nay văn hóa có thể được xem là toàn bộ phức thể những nét nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó không chỉ gồm nghệ thuật, văn học mà còn cả lối sống, các quyền lợi cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, truyền thống
và tín ngưỡng.”[111, tr.20]
Như vậy, có thể khái quát văn hóa là sự kết hợp của cả các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Mỗi dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển theo thời gian sẽ sáng tạo ra nền văn hóa riêng của mình, khẳng định bản sắc của dân tộc đó
Giao ưu văn hóa
Nhắc đến văn hóa đồng thời phải nhắc đến một khái niệm khác: “giao lưu văn hóa” Giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa Trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc, qua giao lưu tiếp xúc với những nền văn hóa bên ngoài, người bản địa không những quảng bá được những nét đặc sắc riêng trong nền văn hóa của mình, phát huy được những lợi thế sẵn có của mình trong hợp tác kinh tế quốc tế, mà còn làm quen với những yếu tố văn hóa ngoại lai và nhận biết những yếu tố nào trong số đó
có ích lợi có thể bổ sung những mặt còn chưa phát triển đầy đủ hoặc chưa có trong nền văn hóa bản địa để sử dụng và những yếu tố nào thì không
Lợi ích căn bản và lâu dài mà giao lưu văn hóa đem lại là thúc đẩy sự phát triển của mỗi nền văn hóa Lịch sử cho thấy, không một nền văn hóa nào
Trang 22có thể phát triển nhanh hoặc vượt bậc mà không có sự giao lưu với nền văn hóa khác Giao lưu văn hóa làm cho những cộng đồng, những quốc gia dân tộc đóng kín trở nên mở hơn, đã mở trở nên ngày càng mở hơn Giao lưu văn hóa là cơ sở bước đầu để thực hiện ngoại giao văn hóa sau này
Nếu như trong quá khứ, giao lưu văn hóa chủ yếu thể hiện qua sự tác theo chiều từ Tây sang Đông mà ít có ảnh hưởng ngược lại Thì đến thế kỷ XXI, các nền văn hóa phương Đông đã có tác động mạnh hơn, thể hiện trong khái niệm “đối thoại văn hóa”
Văn hóa ngoại giao
Văn hóa ngoại giao nặng về cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh, đồng thời thể hiện thuần phong mỹ tục Còn có thể gọi đó là phong thái ngoại giao Đó là một yêu cầu trước hết đối với cán bộ ngoại giao, đó cũng là yêu cầu đối với mọi người từ lãnh đạo đến cán bộ trong tiếp xúc đối ngoại
Ngoại giao văn hóa
Giống như văn hóa, khái niệm ngoại giao văn hóa đến nay vẫn chưa được thống nhất Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia: ngoại giao văn
hóa là thuật ngữ để chỉ “một hình th c ngoại giao với một loạt những phương
s ch m cơ sở cho hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả; những phương sách này bao gồm sự thừa nh n và hiểu biết rõ ràng về động lực văn hóa của nước ngoài và sự tuân thủ những nguyên lý phổ biến chỉ đạo qu trình đối thoại cơ bản” (“Cu tural diplomacy specifies a form of diplomacy that carries a set of prescriptions which are material to its effectual practice; these prescriptions include the unequivocal recognition and understanding of foreign cu tura d namics and observance of the universa tenets” that govern basic dialogue)
Nhà học giả Nicholas J.Cull cho rằng: “Ngoại giao văn hóa là những nỗ lực của một chủ thể nhằm tác động đến môi trường quốc tế thông qua việc tận
Trang 23dụng những nguồn lực về văn hóa và những thành tựu được bên ngoài biết đến và thúc đẩy phổ biến văn hóa ở nước ngoài Trong lịch sử, ngoại giao văn hóa từng được hiểu là chính sách của một quốc gia nhằm thúc đẩy xuất khẩu những đặc trưng văn hóa của mình” [144]
Theo trang web chuyên về ngoại giao văn hóa Cultural Diplomacy.org, thành công của ngoại giao văn hóa phụ thuộc vào sự đối thoại và tôn trọng lẫn nhau giữa các nền văn hóa Như vậy, ngoại giao văn hóa luôn có tính hai chiều Trong khi nhấn mạnh vào khả năng xây dựng hình ảnh tốt đẹp về một quốc gia đối với các nước khác, ngoại giao văn hóa cũng phải chú ý đến bản sắc văn hóa của quốc gia, dân tộc mình đang hướng tới
Có thể sử dụng bốn tiêu chuẩn sau đây để đánh giá một hoạt động đó có thuộc phạm trù ngoại giao văn hóa hay không Một là, có mục đích ngoại giao
rõ ràng hay không Hai là, chủ thể thực thi có phải là quan chức hoặc được sự ủng hộ và khuyến khích của quan chức hay không Ba là, có nhằm đúng đối tượng đặc biệt trong một thời gian dài hay không Bốn là, có phải là hoạt động quan hệ công được triển khai qua hình thức biểu hiện của văn hóa không
Về nội hàm, nhà nghiên cứu Milton C Cumming cho rằng: ngoại giao văn hóa là sự giao lưu ý tưởng, thông tin, giá trị, hệ thống, niềm tin và các khía cạnh văn hóa khác, với mục đích tăng cường hiểu biết lẫn nhau [164]
Việt Nam xác định nội hàm của ngoại giao văn hóa là “bông hoa đào năm cánh” bao gồm năm yếu tố Mở đường- Xúc tác- Quảng bá- Vận động- Tiếp thu Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại nhau “Mở đường, khai thông quan hệ với các nước và khu vực chưa có nhiều quan hệ với Việt Nam; xúc tiến, tăng cường và làm sâu sắc hiểu biết với các quốc gia; quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trên trường quốc tế; vận động để Việt Nam có nhiều di sản được UNESCO công nhận và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc.” [6]
Trang 24Tựu chung lại, ngoại giao văn hóa có thể được xem như một trong ba trụ cột của nền ngoại giao hiện đại, xây dựng, quảng bá hình ảnh quốc gia đến thế giới nhằm tăng cường hiểu biết, quan hệ với nước ngoài, nâng cao vai trò,
vụ thế của quốc gia dân tộc Đồng thời thông qua hoạt động ngoại giao văn hóa, quốc gia cũng tiếp thu văn hóa, văn minh quốc tế làm giàu, bổ sung cho văn hóa dân tộc
1.1.2 Vai trò của ngoại giao văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
Từ xa xưa, các quốc gia đã tiến hành giao lưu văn hóa Tuy nhiên, trong lịch sử, vai trò của văn hóa thường bị đánh giá thấp hơn so với chính trị, quân sự và các thể chế khác Những hoạt động ngoại giao văn hóa sơ khai có
lẽ là việc trao đổi lễ vật và vật phẩm văn hóa giữa giới cầm quyền các nước Cho đến ngày nay, khi hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, vai trò của ngoại giao văn hóa mới được coi trọng hơn
Vai trò của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giao hiện đại liên quan chặt chẽ đến một khái niệm khác gọi là sức mạnh mềm hay quyền lực mềm
Theo Giáo sư Joseph Nye - giáo sư Đại học Harvard của Mỹ - người được coi là cha đẻ của thuyết “sức mạnh mềm”, thì sức mạnh tổng hợp của một quốc gia gồm có “sức mạnh cứng” (hard power, gồm sức mạnh quân sự, kinh tế, khoa học- công nghệ,…) và “sức mạnh mềm” (soft power, gồm sức mạnh của văn hóa, thể chế xã hội và các chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia đó)
Trong đó, sức mạnh cứng chi phối, tác động, chinh phục các quốc gia khác bằng quân sự hay trừng phạt kinh tế (có thể liên hệ đến cây gậy và củ cà rốt trong chính sách đối ngoại của Mỹ) Sức mạnh mềm là khả năng lôi cuốn, thu phục, cảm hóa người khác bằng sức hấp dẫn của các giá trị về văn hóa, về thể chế, thông qua đó mà nhận được cảm tình, sự nể phục và hợp tác bền vững của các nước khác
Trang 25Mối quan hệ giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm là mối quan hệ giữa cái hữu hình và cái vô hình Để nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, ngoài sức mạnh cứng, các nước phải biết phát huy sức mạnh mềm của mình.Sức mạnh mềm là thể hiện sự nối dài và mở rộng của sức mạnh cứng Một quốc gia đã yếu kém về kinh tế và quốc phòng sẽ khó có thể có sức mạnh mềm đáng kể; ngược lại, sức mạnh mềm sẽ làm tăng sức mạnh cứng, ví như tính thống nhất dân tộc, sự đồng thuận quốc gia, sự ổn định chính trị của đất nước, sức hấp dẫn về văn hóa và thể chế xã hội,…là những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh mềm, nó sẽ góp phần làm tăng sức mạnh cứng
Ngược lại, nếu sức mạnh cứng khỏe, nhưng sức mạnh mềm yếu kém, cũng không gây được cảm tình, không cạnh tranh được với ai Hiện nay, các nước lớn trong khi tăng cường sức mạnh cứng vẫn đang rất chú trọng phát huy sức mạnh mềm của mình, nhất là về văn hóa
Tuy vậy, sức mạnh mềm không phải là giải pháp cho tất cả mọi vấn đề
Nó cũng có những hạn chế nhất định Sử dụng sức mạnh mềm, các quốc gia cần có thời gian để sức hấp dẫn của các giá trị bản thân nước mình có thể lan tỏa, đó là cả một quá trình dài vận động, quảng bá Thêm vào đó, chiến lược sức mạnh mềm chỉ được triển khai hiệu quả khi bản thân quốc gia đó tạo ra được những giá trị đích thực, nhất là về văn hóa, được nhiều người thừa nhận, mến mộ và chia sẻ
Thực tế ngoại giao văn hóa chính là một dạng sức mạnh mềm Ngoại giao văn hóa tạo nên nền tảng tin tưởng giữa dân tộc này với dân tộc khác, để
từ đó các nhà hoạch định chính trị, kinh tế, và quân sự có thể tìm kiếm sự đồng thuận và hợp tác Trong xu thế hòa bình, sự phụ thuộc giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng sâu sắc, vai trò của ngoại giao văn hóa ngày càng trở nên quan trọng và được quan tâm hơn bao giờ hết
Bước vào thế kỷ XXI, nhiều nước đã thực hiện ngoại giao văn hóa một cách có hiệu quả như Singapho, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc…
Trang 26Nhật Bản xem ngoại giao văn hóa là một trong những ưu tiên và là nhiệm vụ cấp bách trong chiến lược đối ngoại; là biện pháp xây dựng lòng tin với các đối tác trong quan hệ chính trị và kinh tế, và là kênh hấp thu những giá trị văn hóa tinh túy của thế giới và cộng sinh ra các dạng thức văn hóa mới trong quá trình truyền bá và hấp thu
Mỹ cũng là một đất nước coi trọng vai trò của ngoại giao văn hóa Ủy ban cố vấn về ngoại giao văn hóa, Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng ngoại giao văn hóa là con đường hai chiều: giúp cho người dân nước ngoài hiểu nước Mỹ, đồng thời giúp cho nước Mỹ hiểu các dân tộc khác đang nghĩ gì
Đối với Việt Nam, sức mạnh cứng của Việt Nam chưa đủ mạnh, mà sức mạnh mềm cũng đang yếu, khả năng tác động quốc tế chưa nhiều, sức hấp dẫn về văn hóa cũng chưa đáng kể Tuy nhiên văn hóa là một lợi thế của Việt Nam, hoàn toàn có thể tăng cường và phát huy sức mạnh mềm của mình, bắt đầu từ văn hóa
Tuy cụm từ “ngoại giao văn hóa” mới xuất hiện ở Việt Nam, nhưng vai trò của nó đã sớm được coi trọng Bàn về tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm cho rằng: “Ngoại giao văn hóa với điểm tựa là văn hóa dân tộc, vừa có sức lan tỏa riêng, vừa có thể lồng ghép với nhiều hoạt động của các lĩnh vực khác, hỗ trợ và tạo thuận lợi cho chính trị, kinh tế thành công” [93]
Nhìn chung, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều rất đề cao vao trò của ngoại giao văn hóa trong đường lối đối ngoại của mình Ngoại giao văn hóa tạo sức hút của quốc gia, dân tộc, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm
2000 đến 2005
1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng
Bước vào thế kỷ XXI, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển, đặt ra nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các nước, dù là quốc gia phát triển hay
Trang 27đang phát triển Toàn cầu hóa là một hiện tượng khách quan, một xu thế lớn của thế giới đương đại Nó tác động mạnh đến mọi lĩnh vực hoạt động của con người, đến nhiều mối quan hệ của các quốc gia dân tộc
Cách mạng khoa học xông nghệ hiện đại là động lực thúc đẩy, kinh tế tri thức ra đời, kinh tế tác động đến văn hóa Thế giới lúc này đã bước vào một thời kỳ mới như UNESCO nhận định: người ta không thể giải quyết vấn
đề của thế giới bằng vũ khí, khủng bố hay sự đối đầu mà phải bằng giáo dục, khoa học, văn hóa, thông tin, bằng khuyến khích đối thoại, chung sống hòa bình và sự khoan dung
Mối quan hệ Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) bắt đầu được thiết lập từ sau năm 1975, chủ yếu thông qua viện trợ kinh tế Bước chuyển biến lớn đánh dấu một thời kỳ mới sang quan hệ đối tác chính trị đa dạng và sâu rộng hơn trong quan hệ Việt Nam - EU là việc hai bên chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 28-11-1990 Mười năm qua, mối quan hệ giữa hai bên phát triển nhanh chóng, ngày càng đi vào ổn định và thực chất hơn
Với chủ trương hội nhập và phát triển, Việt Nam đã chủ động tăng cường tiếp xúc với các nước thành viên EU Năm 1995 hai bên đã ký Hiệp định khung về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Ủy ban châu Âu (EC) thiết lập các nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa hai bên Từ đó, EU luôn được coi là đối tác chiến lược quan trọng trong đường lối đối ngoại của Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn quan điểm chỉ đạo đường lối văn với yếu tố dân tộc Ngay từ năm 1943, Đảng đã ban hành "Đề cương văn hóa", thể hiện rõ quan điểm phát triển văn hóa, văn nghệ của Đảng với phương châm: Dân tộc, khoa học và đại chúng Trong công cuộc đổi mới, đứng trước nhu cầu giao lưu văn hóa quốc tế, Đảng đặc biệt quan tâm đến văn hóa từ hình thức đến nội dung, từ tư tưởng đến chất lượng sáng tác, từ ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc đến việc chắt lọc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới.
Trang 28Toàn cầu hóa đã đưa lại nhiều thành tựu quan trọng, nhưng đồng thời cũng gây ra không ít hệ quả tiêu cực, có cả tác động tốt và tác động xấu đối với các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau Đặc biệt, trong lĩnh vực nhạy cảm như văn hóa, nếu không có chủ trương, biện pháp đúng đắn có thể dẫn đến mất dần bản sắc văn hóa dân tộc
Trước tình hình đó, Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được coi là văn kiện chuyên đề văn hóa đầu tiên của Đảng, sau Đề cương về văn hóa Việt Nam, là một Nghị quyết đã “trúng ý Đảng, hợp lòng dân” đã nêu
rõ chủ trương của Đảng: “Đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ về văn hóa (Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, cá nhân) nhằm tiếp thu được nhiều tinh hoa, kinh nghiệm của nước ngoài, ngăn ngừa những tác động tiêu cực.” [44; tr.77]
Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) nhấn mạnh làm tốt việc giới thiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới, “nêu cao lòng yên nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống, bản sắc dân tộc” [44; tr.68]
Kế thừa truyền thống lịch sử, quan điểm của Đảng về văn hóa tiếp tục được khẳng định trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4-2001) khẳng định: “Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại” [44; tr.115] Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với
mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền vời chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa độc hại
Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng bởi giao lưu và hội nhập vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực Mặt tích cực của nó sẽ giúp cho văn hóa của mỗi dân tộc hay mỗi quốc gia luôn phát triển, thu nhận được những
Trang 29giá trị tiến bộ, tích cực trên mọi lĩnh vực của văn hóa quốc gia và các dân tộc khác, và ngược lại sẽ quảng bá được văn hóa của mình cho các dân tộc, các nước khác Tuy nhiên, giao lưu và hội nhập văn hóa cũng tồn tại những mặt tiêu cực của nó, nếu không biết giữ gìn bản sắc
Cũng trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng khẳng định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Quan điểm nhất quán của Đảng là: việc các nước có chế độ chính trị khác nhau cũng không ngăn cản sự hợp tác để cùng phát triển, nếu biết tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi
Có thể nói ở Đại hội này, với những chủ trương và những định hướng lớn về chính sách văn hoá của Đảng vừa thể hiện sự nhạy bén với bối cảnh mới vừa đáp ứng yêu cầu trong quan hệ quốc tế trên mọi mặt Chủ trương này
đã tạo những điều kiện thuận lợi cho việc triển khai hoạt động văn hoá nói chung và ngoại giao văn hoá nói riêng
Tiếp nối chủ trương trên, năm 2003, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 18/CT/TW ngày 24 tháng 01 năm 2003 về tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) về công tác văn học nghệ thuật trong tình hình mới, trong đó khẳng định nhu cầu giới thiệu văn hóa Việt Nam thông qua việc giao lưu văn học với thế giới: “Đẩy mạnh giao lưu, trao đổi văn hóa nghệ thuật với thế giới; giới thiệu có hệ thống những giá trị của nền văn học, nghệ thuật cách mạng và những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa của văn học, nghệ thuật thế giới [45] Bên cạnh đó Đảng yêu cầu Bộ Văn hóa – Thông tin cần phối hợp với Bộ Ngoại giao và cơ quan hữu quan xây dựng Quy chế “đoàn ra, đoàn vào” chặt chẽ, ngăn chặn nhập khẩu các văn hóa phẩm phản động, đồi trụy [45]
Quy chế “đoàn ra, đoàn vào” được xây dựng trong thời kỳ này chính là một cơ sở quan trọng để tiến hành những Chương trình Ngày Việt Nam ở
Trang 30nước ngoài – một hoạt động quảng bá, tuyên truyền văn hóa Việt Nam trên diện rộng ở nhiều nước, khu vực trên thế giới
Đó là những quan điểm, chủ trương cơ bản về ngoại giao và văn hóa, tạo tiền đề cho sự triển khai, thực hiện các chính sách ngoại giao văn hóa trong giai đoạn này và những giai đoạn tiếp theo
1.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện
Thực chất, bản chất của ngoại giao đã là hoạt động văn hóa; và trên thực tế ngoại giao văn hóa có lịch sử phát triển lâu đời, xuất phát từ đặc trưng văn hóa hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc, từ nhu cầu trong quá trình dựng nước và giữ nước, trong xây dựng và phát triển quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các quốc gia
Bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam mở rộng cửa theo phương châm
đa phương hóa, đa dạng hóa, muốn là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng động thế giới Dù thời gian này, cụm từ “ngoại giao văn hóa” chưa xuất hiện trong các văn kiện của Đảng, nhưng dựa vào sự định hướng chỉ đạo của Đảng về đường hướng phát triển của ngoại giao, văn hóa, trên thực tế, Việt Nam đã tiến hành hoạt động này
Trên tinh thần thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng IX về mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại trên nhiều địa bàn, châu lục, tháng 6/2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể quan hệ Việt Nam-EU đến năm
2010 và định hướng đến 2015, chủ trương xây dựng "Quan hệ đối tác toàn
diện và bền vững, trên tinh thần ổn định lâu dài và tin c y lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong các th p kỷ tới của thế kỷ 21."
Mục tiêu đưa quan hệ Việt Nam - EU trở thành quan hệ đối tác toàn diện và bền vững, trên tinh thần ổn định lâu dài và tin cậy lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong các thập kỷ tới của thế kỷ XXI
Việc Đề án này được phê duyệt đã nâng tầm quan hệ Ngoại giao Việt Nam – EU lên một tầm cao mới Các hoạt động hợp tác, trao đổi trong lĩnh
Trang 31vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ ngày càng phong phú và
đa dạng, đưa quan hệ hai bên phát triển một cách toàn diện Chính phủ Việt Nam chủ trương tăng cường các hoạt động trao đổi, giao lưu văn hoá nghệ thuật với các nước thành viên EU, nhất là với các nước mà Việt Nam đã kí hiệp định hợp tác văn hoá Trong đó Chính phủ, đại diện là Bộ Văn hoá chú trọng công tác thông tin đối ngoại, giới thiệu quảng bá hàng hoá, dịch vụ, du lịch, văn hoá nghệ thuật, hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, pháp luật và môi trường đầu tư của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trên các phương tiện thông tin truyền thông trong và ngoài nước Bên cạnh đó, Việt Nam nhấn mạnh tới việc chủ động, tích cực khai thác những tinh hoa văn hoá của các nước EU, cử người đi đào tạo cơ bản ở những nước này
Đây là một cơ sở quan trọng giúp Việt Nam và EU có được mối quan
hệ đối tác toàn diện, then chốt Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông Nam Á chủ động triển khai chiến lược hợp tác tổng thể với EU và EU là đối tác đầu tiên của Việt Nam có chiến lược tổng thể về hợp tác Đây cũng là cơ sở, tiền đề để hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam và EU phát triển sau này
Trong giai đoạn này, Nhà nước Việt Nam đã ban hành một loạt văn bản như: Chỉ thị số 10/2000/CT – TTg về tăng cường quản lý đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại; Nghị định số 72/2000/NĐ – CP về công bố phổ biến tác phẩm ra nước ngoài; Quyết định số 37/2001/QĐ-BVHTT ngày 05 tháng 7 năm 2001 vê hoạt động ban hành xuất bản phẩm; Nghị định số 88/2002/NĐ-
CP về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa không nhằm mục đích kinh doạnh; Luật số 28/2001/QH10 về di sản văn hóa; Quyết định thành lập Tạp chí Di sản Văn hóa thuộc Cục Bảo tồn Bảo tàng; Quyết định số 19/QĐ-TTg
về việc phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đến năm 2005” Những văn bản này đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi, dần hoàn thiện về cơ sở pháp lý đến việc thực hiện chủ trương giới thiệu văn hóa, đất nước con người Việt Nam đến thế giới
Trang 32Cụ thể, Nghị định số 72/2000/NĐ – CP của Chính phủ về công bố phổ biến tác phẩm ra nước ngoài quy định chi tiết các loại hình tác phẩm được phổ biến ra nước ngoài
Xuất bản phẩm từ lâu đã là công cụ, phương tiện hữu ích trong giao lưu văn hóa của nhân loại Đây là một dạng tác phẩm, tài liệu về chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học – nghệ thuật được xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam Năm
2001, Bộ Văn hóa Thông tin ban hành Quy chế số 37/2001/QĐ-BVHTT về hoạt động ban hành xuất bản phẩm trong đó nhấn mạnh: “Phát hành xuất bản phẩm là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa tư tưởng không phải là hoạt động đơn thuần kinh doanh, thông qua việc phổ biến xuất bản phẩm phục vụ nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần nâng cao dân trí, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế [15] Điều này đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam về việc đưa nền văn hóa Việt Nam đến với thế giới
Một trong những nội hàm của ngoại giao văn hóa chính là “vận động” Luật số 28/2001/QH10 về di sản văn hóa khẳng định: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [9]
Điều 11 của Luật này ghi rõ: “Các cơ quan văn hóa thông tin đại chúng
có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài các giá trị di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.” [9] Luật di sản văn hóa cũng quy định chặt chẽ về việc tổ chức và hợp tác quốc tế về bảo
vệ và phát huy giá trị văn hóa cũng như những nội dung hợp tác quốc tế về di sản văn hóa Điều này đã tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam tiến hành vận động UNESCO công nhận các di sản của Việt Nam
Trang 33Trong giai đoạn này, Việt Nam đã tiến hành vận động UNESCO công nhận các di sản thế giới Đến năm 2005, Việt Nam đã có 7 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được công nhận là Di sản văn hóa thế giới Cùng với những
di sản thế giới được UNESCO công nhận như: kinh đô Huế (1993), Vịnh Hạ Long (1994 và 2000), khu di tích Mỹ Sơn (1999) từ đó quảng bá, đưa hình ảnh Việt Nam ra thế giới
Với sự vận động của Việt Nam, UNESCO đã tôn vinh Nguyễn Trãi là Danh nhân văn hóa; tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng Dân tộc, Danh nhân văn hóa và Con người Hòa Bình (2003) Thủ đô Hà Nội được danh hiệu “Thành phố vì Hòa Bình” (1999) đồng thời nơi này cũng được chọn để tổ chức lễ phát động năm quốc tế văn hóa hòa bình của Liên Hợp Quốc
Để tăng cường việc giới thiệu văn hóa đất nước và con người Việt Nam với nhân dân các nước, Việt Nam đã cử nhiều đoàn văn hóa – nghệ thuật đi nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước thuộc EU như Đức, Áo, Pháp, Italia, Tây Ban Nha Các đoàn này đa dạng về loại hình cũng như quy mô tổ chức, không chỉ tập trung vào loại hình nghệ thuật biểu diễn như trước mà còn kế hợp các loại hình văn hóa dân gian độc đáo như múa rối nước, nặn đồ chơi tò he; giới thiệu mỹ thuật Việt Nam truyền thống và đương đại như tranh sơn mài, tranh Hàng Trống; tranh Đông Hồ; giới thiệu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam Ngoài ra còn trưng bày và trình diễn thời trang, trang phục các dân tộc Việt Nam, trang phục áo dài và giới thiệu văn hóa ẩm thực Việt Nam
Đặc biệt, thời gian này Việt Nam đã chú ý đến việc nghiên cứu địa bàn
để lựa chọn các loại hình văn hóa nghệ thuật phù hợp với từng nước Qua đó, chất lượng nghệ thuật và hiệu quả hoạt động của các đoàn ra cao, có sức hấp dẫn và thu hút được khán giả quốc tế Điều này thể hiện rõ chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, kết hợp giữa hợp tác song phương với hợp tác đa phương, giữa mở rộng địa bàn hợp tác với ưu tiên khu vực
Trang 34Các đoàn ra nước ngoài là dịp tốt để cho đội ngũ những người làm văn hóa tìm hiểu thực tế tại các nước, qua đó góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết và kinh nghiệm chuyên môn phục vụ cho thực hiện hoạt động ngoại giao văn hóa các giai đoạn sau này Để khuyến khích hoạt động này, ngày 24 tháng
12 năm 2001, Thông tư liên tịch số BNG đã được ban hành, trong đó hướng dẫn thực hiện trợ giá đối với cước vận chuyển ấn phẩm văn hóa và giá vé máy bay các đoàn nghệ thuật đi biểu diễn phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) Ngoài ra,
103/2001/TTLT/BTC-BVGCP-BVHTT-sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm giữa các cơ quan trong nước và các cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở các nước EU, vốn được đánh giá là một địa bàn phức tạp đã góp phần đảm bảo cho thành công của các hoạt động giới thiệu văn hóa của Việt Nam
Trong giai đoạn này, đã có một số Hiệp định, văn bản hợp tác văn hóa – thông tin được ký với các nước trong khối EU như: Hiệp định hợp tác văn hóa Việt Nam – Tây Ban Nha; Biên bản ghi nhớ về Hợp tác văn hóa Việt Nam – Luxemburg… Ngoài ra Trung tâm Văn hóa – thông tin Việt Nam tại Pháp cũng được tiếp tục nghiên cứu, triển khai trong giai đoạn này
Điểm trọng tâm của ngoại giao văn hóa là thông qua các hoạt động văn hóa để khắc họa hình ảnh của Việt Nam trong lòng người dân thế giới nói chung, EU nói riêng Vì vậy vai trò của công tác thông tin đối ngoại càng trở nên quan trọng, nhất là trong thời đại thông tin hiện nay, các phương tiện truyền thông đã và sẽ du nhập văn hóa thế giới đến từng căn nhà Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định “Thông tin đối ngoại
là một bộ phận rất quan trọng trong công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta” Trong đó, phương châm triển khai thông tin đối ngoại được nhấn mạnh là toàn diện, rộng khắp song có trọng tâm, trọng điểm trước hết là đối với các nước láng giếng và trong khu vực
Trang 35Chỉ thị đồng thời đưa ra hai nội dung có liên quan đến việc đẩy mạnh giới thiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Nam đến với thế giới Một là,
Bộ Văn hóa – Thông tin chủ trì, phối hợp cùng Bộ Ngoại giao vạch kế hoạch
cử tùy viên văn hóa ở một số cơ quan đại diện ngoại giao tại một số địa bàn cần thiết và kế hoạch xây dựng các cơ quan thường trú một số báo chí Việt Nam ở nước ngoài Hai là Bộ tài chính chủ trì, phối hợp với các các Bộ ngành liên quan xây dựng chính sách trợ giá, trợ cước cho việc in ấn, phát hành các tài liệu (bao gồm cả sách) dùng cho thông tin đối ngoại
Các sản phẩm thông tin đối ngoại đa dạng, phong phú về chủng loại, được đầu tư về nội dung và hình thức, phù hợp với mục đích Nhà xuất bản Thế giới của Việt Nam đã xuất bản nhiều bộ sách của Việt Nam bằng nhiều ngôn ngữ thông dụng trong đó có tiếng Anh tại nhiều nước thuộc khối EU Để quảng bá, đưa hình ảnh Việt Nam ra thế giới Đảng chủ trương mở rộng hợp tác quốc tế nhằm khuyến khích đưa sách của Việt Nam ra thế giới Nhà nước
có chính sách tài trợ để xuất bản bằng tiếng nước ngoài một số đầu sách có giá trị của các tác giả được giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước Đồng thời, Việt Nam cũng bổ sung các quy định pháp lý, chính sách để các nhà xuất bản chủ động tham gia quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt đối với vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ, xuất bản điện tử
Nhiều sách báo, tạp chí đối ngoại; các loại phim tài liệu nghệ thuật, phim giới thiệu văn hóa đã được sản xuất và chuyển cho các cơ quan đại diện
ở nước ngoài làm tài liệu tuyên truyền giới thiệu Việt Nam Trong giai đoạn này đã có nhiều bộ ảnh khổ lớn, có chất lượng giới thiệu về văn hóa, con người Việt Nam, như các bộ ảnh: “Việt Nam tiến vào thiên niên kỷ mới”, “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa Việt Nam”, “Việt Nam – 30 năm thống nhất đất nước”,…
Giai đoạn này đã có manh nha sự kết hợp giữa ngoại giao văn hóa và ngoại giao kinh tế Trong các hoạt động văn hóa – nghệ thuật nhằm quảng bá
Trang 36hình ảnh đất nước đã có sự kết hợp, lồng ghép với các hoạt động xúc tiến thương mại, và triển lãm hội chợ, qua đó cũng thu hút đầu tư nước ngoài Sự kết hợp này bước đầu đem lại kết quả tốt cho việc quảng bá Việt Nam, giới thiệu các tiềm năng đầu tư, thương mại của Việt Nam
Một trong những kênh để quảng bá Việt Nam đó là thông qua du lịch Ngày 22 tháng 7 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định phê duyệt
“Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010”, trong đó nhấn mạnh mục tiêu: “Đẩy mạnh xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch với các hình thức linh hoạt; phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; tranh thủ hợp tác quốc tế trong hoạt động xúc tiến du lịch ở trong và ngoài nước” Nhiệm vụ được đặt ra với du lịch Việt Nam là tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế về du lịch nhằm tăng cường củng cố; mở rộng hợp tác song phương và hợp tác đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế Thực hiện các cam kết và khai thác quyền lợi trong hợp tác du lịch với tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), Hiệp hội
du lịch Đông Nam Á (ASEANTA), Liên minh châu Âu (EU)…
Nội hàm của ngoại giao văn hóa còn bao gồm “tiếp thu” Tiếp thu được hiểu là sự chọn lọc tinh hoa văn hóa, tri thức, khoa học tiên tiến thế giới vào Việt Nam để làm phong phú hơn kho tàng văn hóa Việt Nam, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiến tới định hướng phát triển cho một nền công nghiệp văn hóa Việt Nam
Việt Nam luôn tạo điều kiện để EU nói chung và các nước thành viên
EU nói riêng được giới thiệu văn hóa của mình tại Việt Nam qua các kế hoạch, chương trình và dự án hợp tác trao đổi văn hóa mà Việt Nam đã ký với các nước; qua các cơ quan ngoại giao của các nước tại Việt Nam nhân dịp các
sự kiện ngoại giao quan trọng Tiêu biểu như năm 2004 Phái đoàn Ủy ban châu Âu đã phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam tổ chức cuộc thi tìm hiểu
EU trên Quizshow Hành trình văn hoá Năm 2005, kỉ niệm 15 năm thiết lập
Trang 37quan hệ ngoại giao chính thức Việt Nam – EU, phái đoàn của Uỷ ban châu
Âu tại Việt Nam đã chọn Ngày châu Âu 9 tháng 5 làm ngày Văn hoá Châu
Âu Phái đoàn đã tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về EU và phát trên Đài Phát thanh với 12 chương trình phát sóng nhằm vào 12 chủ đề khác nhau; những hoạt động này giúp cho người dân Việt Nam hiểu biết hơn về EU
Ngoài ra qua các công ty, doanh nghiệp và tổ chức hoạt động trên lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật với mục đích chủ yếu là quảng bá kinh doanh thông qua hoạt động văn hóa; văn hóa của các nước khối EU cũng được quảng bá đến Việt Nam
Trong giai đoạn này, tuy hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam
và liên minh châu Âu mới manh nha, còn rất sơ khai nhưng những hoạt động này đã giới thiệu với nhân dân các nước EU về một nước Việt Nam có nền văn hóa độc đáo, mang bản sắc truyền thống hòa cùng dấu ấn hiện đại
Tiểu kết chương 1
Văn hóa là linh hồn của một dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Ngọai giao văn hóa là một dạng sức mạnh mềm Khác với giao lưu văn hóa hay văn hóa đối ngoại, ngoại giao văn hóa là tổng hòa của quan hệ văn hóa đối ngoại mà chính phủ một nước theo đuổi, nói cách khác là quan hệ văn hóa chính thức của quốc gia chủ quyền với tư cách là chủ thể, thực thi chủ quyền đối ngoại Nội hàm của ngoại giao văn hóa rất rộng, bao gồm năm yếu tố: mở đường, xúc tác, quảng bá, vận động, tiếp thu
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đa phương theo cả bề rộng
và chiều sâu, ngoại giao văn hóa giữ một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia Ngoại giao văn hóa có thể góp phần tăng cường
an ninh quốc gia theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu một cách bền vững Thông qua tuyên truyền, quảng bá hình ảnh góp phần làm nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế
Trang 38Việt Nam luôn nhấn mạnh vai trò của văn hóa, được thể hiện bằng các văn bản, nghị quyết qua các kỳ đại hội Tiêu biểu là Đề cương văn hóa năm
1943 và Nghị quyết Về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đó là những cơ sở hình thành nên quan điểm, chủ trương về ngoại giao văn hóa những giai đoạn tiếp theo
Việt Nam luôn đánh giá cao vị trí chính trị của EU bởi đây không chỉ là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ hàng đầu thế giới mà còn là một cực có ảnh hưởng chi phối trên thế giới, góp phần định hình trật tự thế giới Từ khi xác lập quan hệ ngoại giao, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác lâu dài với EU, trước hết
để Liên minh này hiểu rõ hơn tình hình phát triển trên nhiều lĩnh vực của Việt Nam, qua đó thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam
Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam và EU mới được tiến hành một cách sơ khai, nhỏ lẻ Tuy nhiên, thông qua các hoạt động tuyên truyền, quảng bá; hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đã bước đầu được giới thiệu đến EU cũng như các nước thành viên trong khối
Trang 39Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA
CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014 2.1 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm
2006 đến năm 2010
2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng
Từ năm 2006 đến năm 2010 là một thời kỳ trên thế giới diễn ra nhiều
sự kiện, diễn biến sôi động, đa dạng và phức tạp Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; xu hướng đa cực, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển; phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, chống chiến tranh, chống đơn phương, áp đặt cường quyền đã giành được những tiến triển mới
Tuy nhiên, về cục bộ, thế giới vẫn chưa ổn định và chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc khó lường Chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, khủng bố, phổ biến vũ khí hạt nhân, tranh chấp về biên giới lãnh thổ, tài nguyên vẫn diễn ra phức tạp Một số "điểm nóng" khu vực thậm chí còn diễn biến theo chiều hướng căng thẳng hơn, đặc biệt ở Trung Đông Hợp tác
và đấu tranh trong quan hệ quốc tế đan xen, phức tạp
Trong quá khứ, các nước châu Á không phải là một mục tiêu trong chính sách phát triển của EU Vào những năm 60 của thế kỷ trước, EU chủ yếu tập trung vào các nước thuộc địa cũ của mình, sau đó mới dần dần mở ra các khu vực khác để hướng tới trao đổi thương mại quốc tế Tuy nhiên với sự phát triển ngày càng nhanh của khu vực châu Á, các nước trên thế giới đã tập trung hơn vào khu vực này và EU cũng không phải là một ngoại lệ
Chiến lược năm 2001 “Châu Âu và châu Á” đưa ra sáu mục tiêu cho hợp tác EU – châu Á Một là, tăng cường quan hệ để đóng góp vào hòa bình
và an ninh Hai là, tăng cường thương mại song phương và đầu tư Ba là, hợp
Trang 40tác phát triển và xóa nghèo Bốn là, đóng góp vào việc bảo vệ quyền con người, thúc đẩy dân chủ, quản trị tốt và các quy định của pháp luật Năm là, làm việc theo hướng quản trị toàn cầu và bảo vệ môi trường Sáu là, nâng cao nhận thức về nhau
Đối với Việt Nam, từ khi xác lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam luôn coi EU là một đối tác chiến lược quan trọng Kế hoạch tổng thể quan hệ Việt Nam – EU đến năm 2010 và định hướng năm 2015 đã chỉ rõ điều này Giai đoạn 2006-2010, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU vẫn tiếp tục phát triển, nâng tầm cao mới
Với tình hình thế giới và khu vực như vậy, hoạt động đối ngoại của Đảng giai đoạn này được triển khai trong một môi trường quốc tế biến đổi nhanh chóng, thuận lợi và thách thức đan xen Có thể nói chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sự kế tục tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao Việt Nam, là sự tiếp tục đường lối đối ngoại trong thời kỳ đổi mới với điểm tựa quan trọng là văn hóa
Đại hội lần thứ X của Đảng đánh dấu mốc quan trọng của chặng đường
20 năm thực hiện công cuộc Đổi mới thành công, đã xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước đến năm 2010 và 2020 Nhiệm vụ đặt ra cho Ngoại giao Việt Nam hết sức nặng nề, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ là: giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa-hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trên cơ sở đánh giá sâu sắc những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nhấn mạnh cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền