1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cảnh sát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam hiện nay : Luận văn ThS. Triết học: 60 22 85

121 65 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế cho thấy, trong những năm qua và hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã quan tâm đến công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC nên đã tăng cả về số lượng, chất lượng và có sự biến đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_    

NGUYỄN NGỌC QUỲNH

CÔNG TÁC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

CẢNH SÁT PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phan Thanh Khôi

Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với các thầy, cô khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia

Hà Nội; đến gia đình và đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích

lệ trong suốt quá trình học tập, hoàn thanh luận văn này; đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Phan Thanh Khôi đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2011

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Ngọc Quỳnh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phan Thanh Khôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2011

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Ngọc Quỳnh

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CAND : Công an nhân dân

CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

NNL : Nguồn nhân lực

PCCC : Phòng cháy chữa cháy

NCKH : Nghiên cứu khoa học

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

KTTT : Kinh tế thị trường

UBND : Ủy ban nhân dân

NQTW : Nghị quyết Trung ương

ILO : Tổ chức Lao động quốc tế Nxb : Nhà xuất bản

Trang 5

1.1 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy 7

1.1.1 Các khái niệm cơ bản và các quy định về tổ chức của nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy 7 1.1.2 Những nhiệm vụ cơ bản góp phần phát triển đất nước của nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy 19

1.2 Vai trò của công tác giáo dục và đào tạo đối với nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy 32

1.2.1 Quan niệm về công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực 32 1.2.2 Công tác giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng đối với số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy 40 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 50

PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC VÀ

CHỮA CHÁY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 51 2.1 Thực trạng của công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam hiện nay 51

2.1.1 Thành tựu và nguyên nhân của công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC 52

Trang 6

2.1.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế của công tác giáo dục và đào tạo

nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy chữa cháy 77

2.2 Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo nguồn lực cảnh sát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam hiện nay 84

2.2.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 84

2.2.2 Một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy chữa cháy 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 105

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC .112

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, tiến hành CNH, HĐH đất nước đã và đang là con đường tất yếu nhằm phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới Để thực hiện mục đích đó phải huy động mọi nguồn lực cần thiết (trong nước và ngoài nước), bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lực tài nguyên, các ưu thế và lợi thế về vị trí địa lý, thể chế chính trị…vào những quá trình trên Tuy nhiên, trong các nguồn lực đó, nguồn nhân lực (nguồn lực con người) là yếu tố quan trọng nhất, quyết định các nguồn lực khác

Ở Việt Nam hiện nay, phát triển kinh tế thị trường, tăng cường hội nhập quốc tế và đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác GD&ĐT NNL, đặc biệt là NNL cảnh sát PCCC Cùng với quá trình phát triển, những ảnh hưởng sâu sắc của kinh tế thị trường đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng đậm nét, đồng thời với những biến đổi của khí hậu ngày càng phức tạp, từ đó nguy cơ gây cháy, nổ cũng không ngừng gia tăng và tác động trực tiếp đến nền kinh tế và ổn định xã hội của nước ta Vậy để, phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả, bền vững và đúng định hướng XHCN thì việc nâng cao vai trò của công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC đã và đang là vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Từ thực tế cho thấy, trong những năm qua và hiện nay Đảng, Nhà nước

và nhân dân ta đã quan tâm đến công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC nên

đã tăng cả về số lượng, chất lượng và có sự biến đổi mạnh về cơ cấu tổ chức

và quy mô lực lượng v.v…Tuy vậy, với yêu cầu ngày càng cao của công

Theo Quyết định số 586/QĐ-BCA, ngày 23/2/2010 của Bộ trưởng Bộ Công an Về việc đổi tên lực lượng cảnh sát PCCC thành lực lượng cảnh sát PCCC và cứu nạn, cứu hộ: Ở Trung ương có Cục cảnh sát PCCC [ký hiệu C66] và ở địa phương có Sở cảnh sát PCCC thành phố Hồ Chí Minh và 62 Phòng cảnh sát PCCC thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [ký hiệu PC66]

Trang 8

cuộc phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế thì công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC còn nhiều bất cập như: chất lượng còn chưa đáp ứng được so với những đòi hỏi của phát triển kinh tế – xã hội; số lượng còn ít; cơ cấu còn chưa cân đối giữa các ngành đào giữa các vùng, miền; cơ chế, chính sách sử dụng, sắp xếp, bố trí NNL này còn chưa phù hợp, chưa thoả đáng; việc đầu tư kinh phí để xây dựng NNL cảnh sát PCCC còn thấp, chưa tương xứng với vai trò và vị thế của NNL này… Chính vì vậy, việc nâng cao vai trò công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC đang đặt ra là hết sức quan trọng và cần thiết

Để thực hiện mục đích trên, có nhiều con đường, cách thức và biện pháp khác nhau đã được áp dụng nhưng trong đó, công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC được coi là hoạt động chủ yếu, quyết định

Từ những lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Công tác

giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cảnh sát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

Những năm qua, vấn đề nguồn lực nói chung, nguồn nhân lực và nguồn nhân lực cảnh sát PCCC nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu bàn đến và dưới các khía cạnh khác nhau Cụ thể là:

2.1 Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn nguồn nhân lực ở Việt Nam

Nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp, chiến lược….để đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở các cấp, các ngành khác nhau, trong đó nổi lên có một

số đề tài sau: Từ năm 1991 đến năm 1995, đề tài khoa học cấp nhà nước KX-

07 “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội”

do GS.TS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm; từ năm 2001 đến 2005 thực hiện chương trình KX.05 “Phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân lực trong

Trang 9

thời kỳ CNH, HĐH” do GS.TS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, trong đó có

một số đề tài nhánh sau: KX 05-01 “Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên

cứu và phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân lực trong điều kiện KTTT, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế” do PGS.TS Hồ Sĩ Quý chủ trì; KX

05-11 “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nânng cao hiệu quả quản lý và sử

dụng NNL trong quá trình CNH, HĐH” do PSG.TS Phạm Thành Nghị chủ

trì Ngoài ra còn có nhiều đề tài cấp bộ như: “Các chính sách khuyến khích

đào tạo lao động cho khu vực công nghệ cao và các ngành kinh tế mũi nhọn”

do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (chủ trì) và Viện Khoa học Lao động

và các vấn đề xã hội là đơn vị thực hiện Đề cập đến các vấn đề này còn có

luận án sau: “Sử dụng NNL trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta” của TS Trần Kim Hải; “Phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH” của TS Nguyễn Thanh; “Phát triển NNL thông qua GD&ĐT: kinh nghiệm Đông Á” của TS

Lê Thị Ái Lâm…Xung quanh vấn đề này đã thu hút hàng trăm bài báo, báo cáo khoa học đề cập đến vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau của các nhà khoa học trong cả nước như: Nguyễn Duy Quý, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Ngọc Long, Phan Thanh Khôi, Đặng Hữu Toàn, Phạm Văn

Đức, Đoàn Văn Khái, …

2.2 Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn nguồn nhân lực cảnh sát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam

Trong những năm vừa qua, lĩnh vực PCCC nói chung, công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC nói riêng đã được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu và đề cập trong các công trình khoa học khác nhau, dưới nhiều khía cạnh khác nhau Nhưng được đánh giá cao cả về lý luận

và thực tiễn thì có các công trình khoa học sau: Đề tài khoa học cấp bộ “Một

số giải pháp nâng cao nâng cao hiệu quả hoạt động PCCC trong các cơ sở sản xuất công nghiệp ở nước ta hiện nay” do TS Nguyễn Ngọc Sơn làm chủ

nhiệm; đề tài khoa học cấp bộ “Những giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo

Trang 10

đại học PCCC” do Th.s Vũ Văn Bình làm chủ nhiệm; đề tài khoa học cấp bộ

“Những cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định nhu cầu nhân lực và tổ chức

đào tạo cán bộ PCCC cho các ngành, đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội” do TS Đào Quốc Hợp làm chủ nhiệm Cũng vấn đề này có một số luận

án và đề tài cấp cơ sở nổi lên như: Luận án “Dịch vụ PCCC – một loại hàng

hóa công cộng trong nền KTTT hiện nay ở nước ta” của TS Nguyễn Quang

Thứ; đề tài cấp cơ sở “Dịch vụ PCCC trong nền KTTT và yêu cầu đối với việc

đào tạo NNL làm công tác PCCC ở nước ta từ nay đến năm 2020” do TS

Nguyễn Quang Thứ làm chủ nhiệm Ngoài ra còn có rất nhiều bài báo, báo

cáo khoa học chuyên đề nghiên cứu về vấn đề này như: “Đổi mới công tác

đào tạo, NCKH trong lĩnh vực PCCC đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ CNH, HĐH đất nước” của Lê Thế Tiệm (Thứ trưởng Bộ Công an Tạp chí

Khoa học và Giáo dục PCCC, số 3, tháng 1/2009, tr 6-8); “Tăng cường hợp

tác quốc tế trên lĩnh vực PCCC trong tình hình mới” của Trần Đại Quang

(Thứ trưởng Bộ Công an Tạp chí PCCC, số 7, tháng 2/2010, tr.6-7); “Thực

trạng và các giải pháp tăng cường sự gắn kết NCKH, đào tạo và thực tiễn chiến đấu của lực lượng” của Đỗ Ngọc Cẩn (Tạp chí PCCC, số 7, tháng

2/2010, tr.8-9); “Một số suy nghĩ về xây dựng lực lượng cảnh sát PCCC đáp

ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới” Nguyễn Mạnh Hà (Tạp chí khoa

học và giáo dục PCCC, số 5, tháng 9/2009, tr 14-15; Nâng cao chất lượng

đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” của Đặng Văn Hiếu

(Thứ trưởng Bộ Công an, tạp chí PCCC số 01/2010, tr.8-9)…

Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, nhưng tác giả tập trung đi sâu vào phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp để xây dựng NNL cảnh sát PCCC đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước Kết quả của luận văn góp phần làm hoàn chỉnh hơn cho các hoạt động của lĩnh vực PCCC, đặc biệt là việc bổ sung lực lượng cảnh sát PCCC trong giai đoạn hiện nay Đây là một

đề tài không trùng lặp với các công trình đã được công bố

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích:

Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận về NNL, GD&ĐT NNL, thực trạng công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC ở nước ta, luận văn đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước

3.2 Nhiệm vụ:

Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về nguồn lực, nguồn nhân lực,

nguồn nhân lực cảnh sát PCCC; phân tích một số hoạt động của cảnh sát PCCC ở nước ta hiện nay, làm rõ được vai trò quan trọng của công tác GD&ĐT đối việc phát triển NNL cảnh sát PCCC trong giai đoạn hiện nay của đất nước

Thứ hai, nghiên cứu và đánh giá thực trạng của công tác GD&ĐT

nguồn nhân lực cảnh sát PCCC ở nước ta những năm qua

Thứ ba, nghiên cứu xây dựng phương hướng và đề xuất một số giải

pháp nâng cao hiệu quả của công tác GD&ĐT NNL cảnh sát từ năm 2015 tầm nhìn 2020

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu: công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC 4.2 Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu và làm rõ vai trò quan trọng của

công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên tập trung khảo sát vấn đề GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC từ năm 1999 đến năm 2010 tại Trường Đại học PCCC, Sở cảnh sát PCCC thành phố Hồ Chí Minh và các Phòng cảnh sát PCCC thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trang 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng, Nhà nước ta

5.2 Phương pháp nghiên cứu: quá trình thực hiện tác giả đã sử dụng

một số phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích và tổng hợp, tổng kết thực tiễn, đối chiếu và so sánh, lịch sử và lôgíc, thống kê, điều tra, khảo sát, hệ thống hóa v.v

6 Đóng góp mới về mặt khoa học

Thứ nhất, đã làm rõ được khái niệm NNL cảnh sát PCCC và tầm quan

trọng của NNL cảnh sát PCCC đối với quá trình phát triển của đất nước

Thứ hai, khảo sát, phân tích vai trò và đề xuất được một số giải pháp để

nâng cao hiệu quả công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC từ 2010 đến 2020

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Những kết quả đạt được góp phần làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định các phương hướng, chiến lược, chính sách để nâng cao hiệu quả công tác GD&ĐT NNL cảnh sát PCCC trong nền KTTT định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta Đồng thời, được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền về PCCC các chuyên đề liên

quan đến vấn đề NNL cảnh sát PCCC trong quá trình hội nhập ở nước ta

Trang 13

Chương 1 TẦM QUAN TRỌNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CẢNH SÁT PHÒNG CHÁY,

CHỮA CHÁY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy

1.1.1 Các khái niệm cơ bản và các quy định về tổ chức của nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy

Phát triển con người vừa là động lực vừa là mục tiêu cao nhất trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia và nó đã trở thành xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới Thực chất của việc phát triển NNL là quá trình làm cho con người thích ứng được với các yêu cầu mới của xã hội, nâng cao hiệu quả công việc, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, chức năng của mình Xét đến cùng, để phát triển NNL có hiệu quả, phục vụ tốt cho quá trình phát triển đất nước thì sự nghiệp này cần được đưa vào trong chiến lược phát triển kinh tế-

xã hội; hơn nữa, phải đặt ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược chung của đất nước Đối với Việt Nam, trên cơ sở nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng NNL trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trong đó ngoài việc phát triển mạnh NNL của lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thì hoạt động phát triển NNL tham gia vào quá trình gìn giữ, bảo

vệ con người và thành quả cho quá trình lao động đó cũng đang được đặt ra

và cần phải đổi mới, mà lực lượng cảnh sát PCCC là một bộ phận quan trọng, đặc thù trong lực lượng này [25, 47]

Để nhìn nhận và khẳng định tầm quan trọng, vai trò và vị trí của NNL cảnh sát PCCC trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cũng như việc giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an toàn cháy, nổ và bảo

vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, chúng ta phải có những nhận thức chung về nguồn lực, NNL và NNL cảnh sát PCCC

Trang 14

1.1.1.1 Khái niệm nguồn lực, nguồn nhân lực, nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy

- Khái niệm nguồn lực: cho đến nay các công trình nghiên cứu, các bài

viết về nguồn lực rất phong phú, dưới nhiều hình thức và quan điểm khác nhau Qua tìm hiểu nguồn lực có thể được hiểu dưới dạng tổng quát như sau: nguồn lực là toàn bộ các yếu tố vật chất lẫn tinh thần đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát triển và trong những điều kiện thích hợp nó sẽ thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia dân tộc Hơn nữa, nguồn lực có phạm

vi bao quát rộng, hàm chứa không chỉ những yếu tố mới dưới dạng sức mạnh tiềm năng; không chỉ nói lên sức mạnh mà còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hoặc nơi cung cấp sức mạnh; phản ánh không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố, đồng thời nói lên sự biến đổi không ngừng của các yếu

tố đó [26, 60] Đồng thời, nguồn lực được hiểu “là tổng thể vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ

nhất định” Theo quan điểm của các nhà biên soạn Giáo trình chủ nghĩa xã

hội khoa học, do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì cho rằng: nguồn lực “là hệ

thống các nhân tố mà mỗi nhân tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ với nhau tạo nên sự phát triển của sự vật, hiện tượng nào đó”[9, 271]

Việc phân loại nguồn lực tuỳ thuộc vào cách xác định các tiêu chí và xem xét chúng trong mối quan hệ xác định: theo quan hệ chủ thể, khách thể thì có nguồn lực chủ quan (con người) và nguồn lực khách quan (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, vốn trong nước và nước ngoài ); theo quan hệ bên trong (nội lực) bao gồm con người, vốn trong nước, cơ sở vật chất-kỹ thuật, tài nguyên thiên nhiên, vị trí điạ lý ) - bên ngoài (ngoại lực) có vốn, kinh nghiệm quản lý, tài nguyên thiên nhiên, con người, công nghệ, thị trường

Trang 15

Từ những nhìn nhận đó, nguồn lực được hiểu “là toàn bộ các yếu tố vật

chất lẫn tinh thần đã, đang sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát triển và trong những điều kiện thích hợp thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia, dân tộc”

Như vậy, các tiêu chí để xem xét đánh giá về nguồn lực rất phong phú

và đa dạng, các nguồn lực cũng rất phong phú, trong đó nguồn nhân lực được coi là nguồn lực quan trọng nhất và có tác động đến nhiều nguồn lực khác

- Khái niệm nguồn nhân lực:

Khái niệm NNL được sử dụng vào những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á và giờ đây nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới Ở Việt Nam, khái niệm này bắt đầu được sử dụng khoảng thập niên 90 của thế kỷ XX, tuy nhiên, đến nay vấn đề NNL đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau và cơ bản chưa hoàn toàn thống nhất Vấn đề NNL được phát biểu dưới hai khía cạnh sau:

Nghiên cứu nguồn nhân lực dưới góc độ là yếu tố có vai trò quan trọng tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Để phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia phải dựa trên nhiều nguồn lực: nguồn lực con người, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên…trong các nguồn lực đó thì nguồn nhân lực

là yếu tố quan trọng nhất và nó tạo ra động lực cho sự phát triển nói chung cho sự phát triển của các nguồn lực khác Bởi vì, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước Nhưng thực tế lại cho thấy chúng lại phụ thuộc vào khả năng khai thác của con người Ở một số nước, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi và là nhân tố làm cho đất nước giàu mạnh; nhưng ở một số nước khác, với điều kiện tự nhiên cũng tương tự, hoặc còn thuận lợi hơn mà đất nước đó ngày càng kiệt quệ, nghèo nàn và tài nguyên ngày càng cạn kiệt Nguyên nhân của

Trang 16

tình trạng đó là do việc phát huy chưa tốt nguồn lực con người Mặt khác, tiền

tệ cũng là nhân tố quan trọng cho bất cứ sự phát triển của một quốc gia nào Nhưng như C.Mác đã khẳng định tiền chỉ trở thành tư bản thông qua sức lao động của công nhân

Khẳng định NNL có vị trí quan trọng đối với quá trình phát triển kinh

tế - xã hội còn có các quan điểm sau:

Theo nghĩa rộng, NNL được hiểu là nguồn lực con người (Human resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Theo quan niệm của liên hợp quốc, cho rằng NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước; Theo GS.TSKH Phạm Minh Hạc khẳng định, NNL là

tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là người lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là người lao động có kỹ năng (khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [19, 269] Theo PGS.TS Dương Văn Thịnh cho rằng: “NNL là tổng thể những yếu tố quy định sức mạnh của con người trong quá trình con người họat động cải tạo tự nhiên và xã hội, là tổng thể số lượng dân, chất lượng con người, cơ cấu kết hợp con người, tính tổ chức kỷ luật của con người, truyền thống văn hóa, gia đình và hệ thống giáo dục mà con người có thể vận dụng vào trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội”[45, 40] Cũng theo nghĩa này, các tác giả của chương trình khoa học – công nghệ cấp nhà nước: “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” (Mã số KX 07) đã định nghĩa: “NNL được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc”[17, 19] Đối với một

số nhà khoa học của trường Đại học Kinh tế quốc dân khẳng định NNL thông

Trang 17

qua GD&ĐT là: “Hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình; là hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai; là hoạt động học tập vượt qua khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức hoặc phát triển khả năng nghề nghiệp của họ”[18, 47]

Qua các quan niệm trên thấy rằng, dù là có điều kiện tự nhiên, vị trí địa

lý thuận lợi, vốn, khoa học kỹ thuật Nhưng nếu không biết phát huy tốt các khả năng của con người trong quá trình lao động thì những lợi thế trên cũng chỉ là ở dạng tiềm năng, nó chỉ có vai trò quan trọng khi chúng ta gắn nó với các hoạt động thực tiễn của xã hội

Theo nghĩa hẹp, NNL được hiểu như là nguồn lao động hay nguồn

nhân lực xã hội, lực lượng lao động Đó là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Theo cách đánh giá này có một số quan niệm

cơ bản sau: đầu tiên, giáo trình Kinh tế lao động của Trường Đại học Kinh tế

quốc dân cho rằng, NNL đó chính là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội,

bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường; hay là tổng hợp cá

nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là toàn bộ các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Một số

quan điểm khác lại cho rằng, với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế -

xã hội, là khả năng lao động của xã hội NNL bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động

Nghiên cứu nguồn nhân lực trên hai bình diện số lượng, chất lượng

Về số lượng nguồn nhân lực, được xác định dựa trên các yếu tố sau: quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực, ngành và vùng lãnh thổ của dân số Ở nước ta, số lượng nguồn nhân lực được xác định bao gồm tổng số người trong độ tuổi lao động (Nam: 15 đến 60; Nữ: 15 đến

Trang 18

55), người lao động phải ít nhất đủ 15 tuổi và được hưởng chế độ hưu trí hàng năm khi có đủ điều kiện về tuổi đời (Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) và thời gian đóng bảo hiểm xã hội (20 năm trở lên) Đây là lực lượng lao động tiềm năng của nền kinh tế - xã hội [19, 19]

Về chất lượng, nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động lao động sản xuất

và phát triển con người trong xã hội Do vậy chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: Tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn và năng lực phẩm chất… Chất lượng nguồn nhân lực liên quan trực tiếp đến nhiều vấn đề như: đảm bảo dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đào tạo, lao động, việc làm gắn với tiến bộ khoa học kỹ thuật, trả công lao động và các mối quan

hệ xã hội khác Như GS.TS Hoàng Ngọc Hòa khẳng định: “Chất lượng NNL

là năng lực, trình độ về thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, tác phong và đạo đức của các thành viên hợp thành NNL” [21, 35]

Bên cạnh những khái niệm về NNL trên, còn có một số khái niệm liên quan

đến NNL như: nhân lực, sức lao động, nguồn lao động, lực lƣợng lao động

Nhân lực là nguồn lực về con người, con người là nhân tố trung tâm và

là mục đích của nền sản xuất xã hội Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí

lực của con người, nó phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động xã hội Quá trình vận động, phát triển của xã hội, đòi hỏi sức lao động ngày càng phải có chất lượng cao hơn Điều này đã được C.Mác khẳng định “sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”[27, 217-218] Nguồn lao động được hiểu là toàn

bộ dân số trong độ tuổi lao động trừ đi những người trong độ tuổi này hoàn toàn mất khả năng lao động Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu tại Tổng cục Thống kê lại cho rằng: nguồn lao động là những người trong độ tuổi lao

Trang 19

động có khả năng lao động và những người ngoài tuổi lao động đang làm việc

trong các ngành kinh tế quốc dân Còn đối với lực lượng lao động là khái

niệm hẹp hơn so với nguồn lao động Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm

Tóm lại, nguồn nhân lực là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất và tinh

thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội…tạo thành năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội khác

- Khái niệm nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy

Cũng như các NNL khác, cảnh sát PCCC là một bộ phận của NNL nói chung trong xã hội và ngày càng có những đóng góp rất to lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là lực lượng thuộc Bộ Công an và đảm nhiệm những nhiệm vụ rất đặc thù như: tham mưu đề xuất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về PCCC; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức về PCCC; hướng dẫn xây dựng phong trào quần chúng tham gia hoạt động PCCC; thực hiện các biện pháp PCCC kịp thời khi

có cháy xảy ra; xây dựng lực lượng PCCC; trang bị và quản lý phương tiện PCCC; tổ chức nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực PCCC; kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phòng PCCC; tham gia cứu nạn, cứu hộ trên biển, sông nội địa và đường bộ trên phạm vi cả nước (khi có yêu cầu)

Hơn nữa, lực lượng cảnh sát PCCC còn có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước Thực hiện tốt nhiệm vụ của mình cảnh sát PCCC sẽ góp phần không nhỏ vào sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời lực lượng cảnh sát PCCC còn

Trang 20

đảm nhiệm một số nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị, giữ gìn trật tự an toàn

xã hội và bảo vệ các thành quả lao động của xã hội Lực lượng cảnh sát PCCC còn là lực lượng chuyên trách về công tác PCCC công việc này đòi hỏi quá trình tuyển dụng và đào tạo phải rất khoa học, bài bản Vì vậy, những người tham gia học tập ngành này được tuyển lựa rất khắt khe (kĩ lưỡng) và phải đảm bảo có sức khỏe tốt, có phẩm chất đạo đức trong sạch, chấp hành tốt chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và chính sách của địa phương NNL này được đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện tại Trường Đại học PCCC, Sở cảnh sát PCCC thành phố Hồ Chí Minh và các Phòng cảnh sát PCCC các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với nhiều hệ đào tạo, bồi dưỡng và chuyên ngành khác nhau

Từ những quan điểm trên, NNL cảnh sát PCCC có thể được hiểu như sau: NNL cảnh sát PCCC là những người Công an nhân dân, hoạt động trên

cơ sở kiến thức chuyên sâu về ngành PCCC, giữ vững an ninh quốc gia, trật

tự an toàn xã hội; có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức tốt, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước; là lực lượng

có vai trò, vị trí quan trọng đối với quá trình phát triển của đất nước

1.1.1.2 Các quy định về tổ chức bộ máy của cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy

Ở Việt Nam cảnh sát PCCC là một lực lượng thuộc Bộ Công an quản lý, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của mình theo đúng quy định của pháp luật hiện hành Cũng như các cơ quan, tổ chức khác thuộc quản lý của Nhà nước, “bộ máy” của lực lượng cảnh sát PCCC cũng được xây dựng trên cơ

sở Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Theo nghị quyết của Quốc Hội số 27/2001/QH10, ngày 29/6/2001 và

Lệnh số 08/2001/L-CTN ngày 12 tháng 7 năm 2001 của Chủ tịch nước của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về việc công bố “Luật Phòng cháy và

chữa cháy” đã quy định: Lực lượng Phòng cháy và chữa cháy bao gồm: Lực

Trang 21

lƣợng cảnh sát PCCC; lực lượng PCCC cơ sở; lực lượng dân phòng và lực

lượng PCCC chuyên ngành

Cảnh sát PCCC là đơn vị thuộc lực lượng CAND, trong đó ở Trung ương có 2 đơn vị, đó là Cục cảnh sát PCCC thuộc Tổng cục Cảnh sát và Trường Đại học PCCC chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND

Ở cấp tỉnh, Sở cảnh sát PCCC thành phố Hồ Chí Minh là một đơn vị độc lập, được thí điểm thành lập theo Quyết định số 719/QĐ-TTg, ngày 15/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ, trực thuộc Bộ Công an và có quan hệ công tác với Tổng cục Cảnh sát; Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND và Cục cảnh sát PCCC theo quy chế riêng của Bộ Công an Hiện nay ở nước ta có 62 Phòng cảnh sát PCCC thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Dưới các Phòng cảnh sát PCCC thuộc Sở và Phòng cảnh sát PCCC thuộc Công an địa phương, là các đội Nghiệp vụ và các đội chữa cháy Chuyên nghiệp được bố trí ở trung tâm tỉnh lỵ và ở những khu vực, địa bàn trọng điểm về PCCC

Ở cấp huyện, thực hiện chủ trương của Bộ Công an về việc phân công

và phân cấp nhiệm vụ PCCC cho Công an cấp huyện, hiện nay đã bố trí một

số cán bộ được đào tạo nghiệp vụ PCCC về công tác tại huyện Tuy nhiên, vấn đề này mới chỉ thực hiện được ở một số địa bàn trọng điểm và những cán

bộ đó thuộc đội cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, nên trong thực

tế công tác phải đảm nhiệm về chuyên môn PCCC còn ít, phải kiêm nhiệm thêm nhiều công việc về Quản lý hành chính, giữ vững tật tự an toàn xã hội

Hiện nay biên chế toàn bộ lực lượng tính đến tháng 10 năm 2009 hiện

có khoảng 10.399 người Số lượng cán bộ chiến sĩ trực tiếp làm công tác chữa cháy là 8.857 người, chiếm trên 85,1% quân số của toàn lực lượng, trong đó, chiến sĩ nghĩa vụ là 2.269 người chiếm 25,6% tổng số cán bộ chiến sĩ trực tiếp làm công tác chữa cháy; lái xe, tầu chữa cháy hiện có 845 người chiến 9,5%; chiến sĩ chữa cháy chuyên nghiệp là 5.503 người chiếm 62,1%; số thợ máy

Trang 22

hiện có 31 người chiếm 0,35% và có khoảng trên 200 người cán bộ chiến sĩ làm công tác cứu nạn, cứu hộ, chiếm khoảng 2% Còn 1.542 người là công nhân viên công an và hợp đồng có thời hạn, số lao động này chiếm khoảng 14,8% (Điều

này được thể hiện tại phụ lục 1 – trang 112)

- Tổ chức bộ máy hiện tại của Cục cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy

Tính đến năm 2005, Cục cảnh sát PCCC có 7 đầu mối (đơn vị) cấp

phòng và tương đương Ngày 23/02/2010, Bộ Công an có Quyết định số 586/QĐ-BCA Quy định về tổ chức bộ máy của Cục cảnh sát PCCC Theo đó, được bổ sung thêm 2 phòng mới, như vậy, đầu mối cấp phòng và tương đương là 9, đó là: Phòng Tham mưu; Phòng Thanh tra, kiểm tra PCCC; Phòng Thẩm duyệt về PCCC; Phòng Công tác chữa cháy; Phòng Hậu cần; Phòng Tuyên truyền và Xây dựng phong trào quần chúng PCCC; Phòng Hướng dẫn điều tra - Xử lý về cháy, nổ; Phòng Hướng dẫn chỉ đạo công tác cứu nạn, cứu hộ và Trung tâm Nghiên cứu khoa học và tư vấn, chuyển giao công nghệ PCCC Tổng quân số của Cục cảnh sát PCCC có khoảng 108 người, trong đó, lãnh đạo Cục có 4 người; lãnh đạo cấp phòng và tương đương

có 22 người; có 86,1% cán bộ đạt trình độ đại học trở lên, trong đó có 6 tiến sỹ,

6 thạc sỹ, 81 đại học, cao đẳng Trình độ chính trị cao cấp 11 người, trung cấp

79 người Ngoài ra còn có 3 nhân viên hợp đồng (Thể hiện rõ ở sơ đồ tổ chức

bộ máy của Cục cảnh sát PCCC tại phụ lục 2 – trang 113)

- Tổ chức bộ máy của Trường Đại học Phòng cháy, chữa cháy

Theo Quyết định số 2009/2006/QĐ-BCA ngày 25/12/2006 của Bộ

trưởng Bộ Công an, tổ chức bộ máy của Trường Đại học PCCC hiện có 17

đầu mối gồm: Bộ môn Mác-Lênin và khoa học Xã hội nhân văn; Bộ môn Khoa học cơ bản và Ngoại ngữ; Bộ môn Pháp luật, Nghiệp vụ Công an; Bộ môn Quân sự, võ thuật và thể dục thể thao; Khoa Tự động và phương tiện kỹ thuật PCCC; Khoa Phòng cháy; Khoa Chữa cháy; Phòng Quản lý đào tạo; Phòng Quản lý khoa học và thông tin, tư liệu; Phòng Hành chính tổng hợp;

Trang 23

Phòng Quản lý và giáo dục học viên; Phòng Xây dựng lực lượng; Phòng Hậu cần; Phòng Quản lý nhà ăn; Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật PCCC và đào tạo lái xe chữa cháy; Tạp chí Khoa học PCCC và Ban

Quản lý dự án Vừa qua, Bộ Công an có Quyết định thành lập thêm 04 đơn vị

mới là: Phòng Quản lý khoa học và Đào tạo sau đại học (tiền thân là phòng Quản lý khoa học và thông tin, tư liệu); Khoa Cứu nạn, cứu hộ (tách ra từ khoa Chữa cháy); Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa (tách từ phòng Quản lý khoa học và thông tin, tư liệu) và Trung tâm Dạy nghề và đào tạo lái xe PCCC, nâng tổng số lên 21 đầu mối

Biên chế hiện có khoảng 233 (10/2010) người, trong đó: Ban Giám hiệu có 05 người, Trưởng, Phó Khoa, Phòng, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm bộ môn, Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm có 51 người; giảng viên 105 người; cán bộ khác 76 người Có 83,69% cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng trở lên, trong đó: 01 phó giáo sư, 18 tiến sỹ, 58 thạc sỹ, 141 đại học, cao đẳng; có 72,96% cán bộ có trình độ chính trị trung cấp trở lên, trong đó: cao cấp 58, trung cấp 132 (Xem cụ thể tại phụ lục 3 – trang 114)

- Tổ chức bộ máy của Sở cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy thành phố

Hồ Chí Minh

Theo Quyết định số 719/2006 ngày 15/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc Sở cảnh sát PCCC thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 1562/2006/QĐ-BCA(X13) ngày 13/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Công an, tổ chức bộ máy của Sở cảnh sát PCCC thành phố Hồ Chí Minh gồm có 09 đơn

vị nghiệp vụ cấp phòng (Phòng Tham mưu trong đó có Trung tâm thông tin chỉ huy; Phòng Hướng dẫn, chỉ đạo về phòng cháy; Phòng Hướng dẫn, chỉ đạo về chữa cháy; Thanh tra Sở; Phòng Chính trị; Phòng Hậu cần và trang bị

kỹ thuật; Trung tâm đào tạo và huấn luyện PCCC; Phòng Cảnh sát PCCC trên sông) và các Phòng cảnh sát PCCC ở quận, huyện (Hiện có 15 phòng Cụ thể xem tại phụ lục 4 – trang 115)

Trang 24

Tổng biên chế khoảng 1.954 người, trong đó Ban Giám đốc Sở 4 người; lãnh đạo cấp phòng thuộc Sở 65 người; lãnh đạo cấp đội 112 người; chiến sĩ nghĩa vụ là 587 người; chữa cháy chuyên nghiệp là 1.008 người, trong đó có 85 là cán bộ tiểu đội; lái xe, lái tầu chữa cháy là 93 người

- Tổ chức, biên chế hiện tại của các Phòng cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng

Các Phòng cảnh sát PCCC (trừ các phòng thuộc Sở cảnh sát PCCC thành phố Hồ Chí Minh) thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về PCCC ở cấp tỉnh Theo Quyết định số 3716/2008/QĐ-X11 ngày 03/9/2008 của Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND Tổ chức bộ máy của Phòng cảnh sát PCCC thuộc

Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 03 đội nghiệp vụ (Đội

Tham mưu tổng hợp; Đội Hướng dẫn và Kiểm tra an toàn PCCC; Đội Hậu cần và Quản lý phương tiện PCCC) và các Đội chữa cháy chuyên nghiệp

Theo thống kê của Cục Cảnh sát PCCC, tổng quân số của các đơn vị

cảnh sát PCCC địa phương là 6.903 người, trong đó, cán bộ lãnh đạo cấp phòng có 275 người, chiếm 3,9%; cán bộ lãnh đạo cấp đội có 705 người, chiếm 10,2% Chiến sĩ chữa cháy chuyên nghiệp có 4.495 người, chiếm

65,1%; chiến sĩ nghĩa vụ có 1.682 người, chiếm 24,1%; lái xe, tàu chữa cháy

có 752 người, chiếm 10,8%; thợ máy có 31 người, chiếm 0,17% và hơn 1.000 công nhân viên, hợp đồng, tạm tuyển có người[3,17]

Hiện nay, cả nước có 151 đội cảnh sát PCCC, trong đó có 63 đội chữa cháy trung tâm, 80 đội khu vực và 8 đội tàu chữa cháy 51/63 địa phương chỉ

có từ 01 đến 04 đội chữa cháy Trong 5 năm, từ 2001 đến 2006, trung bình mỗi năm cả nước ta chỉ phát triển thêm được 5 đến 7 đội chữa cháy khu vực

Do số lượng đội cảnh sát PCCC còn quá mỏng so với địa bàn cần bảo vệ, nên

ở các thành phố lớn, mỗi đội phải quản lý khu vực với diện tích từ cách chỗ đơn vị đóng quân hàng trăm km2, trong khi theo tiêu chuẩn Việt Nam quy

Trang 25

định bán kính phục vụ có hiệu quả của các đội chữa cháy trung tâm là 05 km, các đội khu vực là 03 km Đặc biệt, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương có đội khu vực phải bảo vệ an toàn PCCC cho khoảng 1.700 cơ sở Vì vậy, việc xây dựng thêm các đội cảnh sát PCCC khu vực trong tương lai là rất cần thiết và cần triển khai nhanh chóng

- Tổ chức bộ máy của lực lượng cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy tại Công an cấp Huyện

Trên cả nước hiện nay, mới có 10 tỉnh, thành phố đã bố trí được cán bộ làm công tác PCCC tại Công an cấp huyện, với số lượng gần 600 đồng chí, trong đó có 98 người chuyên trách và 466 người kiêm nhiệm Có 38 địa phương đã tiến hành phân công, phân cấp cho công an cấp Huyện thực hiện quản lý hoạt động PCCC Do chưa có mô hình tổ chức đội cảnh sát PCCC ở Công an cấp Huyện, số cán bộ được điều về đây là trực thuộc quân số của đội cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, nên việc thực hiện nhiệm vụ PCCC không được chuyên sâu, bị động, nhiều nơi còn bỏ trống địa bàn

1.1.2 Những nhiệm vụ cơ bản góp phần phát triển đất nước của nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy

1.1.2.1 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, huấn luyện, bồi

dưỡng nghiệp vụ, kiến thức về phòng cháy cho nhân dân

Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ về phòng cháy đã được tiến hành từ rất sớm, thường xuyên và ngay

cả trong hoàn cảnh đất nước vẫn đang còn chiến tranh Điều này được thể hiện rất rõ qua nhiều quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong thư gửi cán bộ chiến sĩ Đội PCCC Công an Hà Nội ngày 03

tháng 8 năm 1966 Người viết: “Các đồng chí phải thường xuyên hướng dẫn

và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng dân phòng ngày càng tiến bộ để họ trở thành người giúp việc thật đắc lực cho các đồng chí” [38, 211]

Trong những năm vừa qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,

Bộ Công an công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật, huấn luyện, bồi

Trang 26

dưỡng nghiệp vụ về kiến thức phòng cháy đã được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau và chất lượng ngày càng được nâng cao Hoạt động này có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm nâng cao ý thức tự giác cho cán bộ, chiến sĩ cảnh sát PCCC và người dân tại các khu dân cư, đơn vị hành chính, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế trong việc phòng ngừa, sớm phát hiện loại trừ các nguyên nhân và điều kiện có khả năng gây cháy, nổ; đồng thời thông qua hoạt động này giúp lực lượng cảnh sát PCCC kịp thời xử

lý những tình huống cháy, nổ ngay từ giai đoạn đầu, góp phần giữ vững cuộc sống bình yên cho nhân dân và đảm bảo an toàn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở, doanh nghiệp

Nội dung tuyên truyền, phổ biến, huấn luyện, bồi dưỡng những kiến thức về phòng cháy rất phong phú và đa dạng, bao gồm những kiến thức về pháp luật, kiến thức cơ bản về PCCC, các biện pháp, phương pháp và các nguyên lý, nguyên tắc phòng cháy phù hợp với đặc điểm của địa bàn (cơ sở, doanh nghiệp, dân cư ), thông báo tình hình cháy nổ trên thế giới, những kinh nghiệm về hoạt động phòng cháy của các ngành, địa phương, đơn vị bạn, biểu dương gương người tốt, việc tốt trong hoạt động phòng cháy và phê phán, nhắc nhở, xử lý những người, đơn vị có những hành vi vi phạm quy định, nội dung an toàn PCCC [5, 45]

Việc tuyên truyền, phổ biến, huấn luyện, bồi dưỡng pháp luật và kiến thức về phòng cháy phần lớn là do Cục cảnh sát PCCC và Sở cảnh sát PCCC thành phố Hồ Chí Minh và các Phòng cảnh sát PCCC trực thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đảm nhiệm Hình thức tuyên truyền rất

đa dạng, phong phú có thể là thông qua hội nghị, hội thảo, nói chuyện chuyên

đề, tọa đàm, thông báo bản tin, tờ rơi, trên hệ thống loa truyền thanh nội bộ; đồng thời các hoạt động này cũng được thực hiện thông qua công văn, báo chí, tranh ảnh, băng hình, băng rôn khẩu hiệu Đối với những hoạt động này, người báo cáo viên có thể là những người trực tiếp tham gia quản lý về phòng

Trang 27

cháy của các cơ sở, địa bàn này hoặc có thể mời cán bộ của Cục cảnh sát PCCC hoặc Trường Đại học PCCC Tuy nhiên, đội ngũ báo cáo viên phải có kiến thức sâu rộng về pháp luật và phòng cháy để hoàn thành được tốt nhiệm

vụ truyên truyền, phổ biến, huấn luyện về kiến thức phòng cháy, đồng thời đưa ra được các giải pháp thúc đẩy phong trào quần chúng tham gia phong trào phòng cháy ở cơ sở đi vào thực chất có chất lượng và hiệu quả Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, huấn luyện, bồi dưỡng được tiến hành đối với các đối tượng chính sau:

Thứ nhất, lực lượng cảnh sát PCCC ở các tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương và các tổ chức, đơn vị gián tiếp làm công tác PCCC (kiểm lâm, cảnh sát biển) để cùng tiến hành trao đổi, phổ biến các kiến thức về phòng cháy mới, tiên tiến, hiện đại

Đối với lực lượng cảnh sát PCCC ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, là lực lượng thuộc Bộ Công an và chuyên trách về công tác phòng cháy tại các địa bàn này Đối với lực lượng cảnh sát PCCC, ngoài việc tập huấn định kỳ theo kế hoạch của Bộ Công an mỗi năm 02 lần, đồng thời giữa các tỉnh và thành phố còn tổ chức các buổi giao lưu, học hỏi kinh nghiệm

về công tác phòng cháy và tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về kiến thức phòng cháy cho nhiều đối tượng, tham gia các lớp huấn luyện những kiến thức mới

về phòng cháy của các đơn vị trong và doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, tham gia các hội thảo NCKH và báo cáo chuyên đề về phòng cháy Chính những hoạt động này đã làm cho lực lượng cảnh sát PCCC ngày càng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới

Đối với lực lượng Kiểm lâm, công tác phòng cháy của lực lượng này là thực hiện chức năng phòng cháy đối với các loại rừng Hiện nay nhận thức của người dân về phòng cháy, đặc biệt là phòng cháy rừng và tác hại của nó đã dần được nâng lên Tuy nhiên do tập tục mà một bộ phận người dân vẫn tiếp tục

Trang 28

tham gia các hoạt động khai thác rừng trái phép để canh tác nông, lâm nghiệp; hoạt động đó là do tự phát nên rất khó kiểm soát và thường để lại những thiệt hại lớn khi xảy ra cháy, nổ [24, 50] Nhận biết được điều này và được sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an hàng năm lực lượng cảnh sát PCCC thường tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề về phòng cháy rừng và mỗi năm lực lượng này tham gia ít nhất 01 khóa huấn luyện và bồi dưỡng về nghiệp vụ phòng cháy rừng, đặc biệt là đối với vấn đề phòng cháy rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng quốc gia Các hoạt động này thời gian qua đã có những đóng góp nhất định cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước Duy trì được hoạt động này, cũng

là biện pháp để tăng cường GD&ĐT kiến thức về phòng cháy nói chung, phòng cháy rừng nói riêng cho lực lượng Kiểm lâm

Đối với lực lượng cảnh sát Biển (thuộc Bộ Quốc phòng), là một bộ phận của lực lượng vũ trang, có nhiệm vụ đảm bảo an toàn cháy, nổ, giữ vững sự ổn định và bình yên cho các hoạt động trên biển, thềm lục địa, sông nội địa Vì vậy, việc tuyên truyền, huấn luyện, bồi dưỡng về kiến thức phòng cháy đối với lực lượng này cũng rất quan trọng Mặt khác, hoạt động cháy và nổ không chỉ diễn ra ở một hình thức nhất định nào mà

nó xảy ra ở nhiều dạng khác nhau khi hội tụ đủ điều kiện Hơn nữa, trong những năm gần đây hoạt động khai thác, vận chuyển dầu khí và khí gas và các chất dễ gây cháy khác bằng đường biển, sông nội địa đã gia tăng nhanh chóng; đồng thời nhận thức của ngư dân về phòng cháy chưa sâu sắc, hời hợt và đây cũng là một trong những lĩnh vực mà các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng để chống phá nước ta

Chính vì những nguyên nhân đó, lực lượng cảnh sát PCCC đã tham mưu cho Bộ Công an và Bộ Quốc phòng tổ chức các hoạt động tuyên truyền, huấn luyện, bồi dưỡng về kiến thức phòng cháy cho cán bộ, nhân viên của tổng công ty Dầu khí Việt Nam, các tổng công ty sản xuất khí Gas, công ty đóng tàu và ngư dân ; đồng thời lực lượng cảnh sát PCCC cũng thường tổ

Trang 29

chức các khóa huấn luyện kiến thức phòng cháy gas, xăng dầu, các chất dễ cháy, nổ khi được vận chuyển bằng đường thủy, tổ chức các buổi tọa đàm, các hội thảo khoa học, hội thảo rút kinh nghiệm về hoạt động phòng cháy, phổ biến những kinh nghiệm phòng cháy mới, tiên tiến, hiện đại cho các lực lượng thuộc cảnh sát Biển Những hoạt động này trong những năm vừa qua đã thu được nhiều thành tựu và có những đóng góp đáng kể cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Thứ hai, tuyên truyền đối với lực lượng phòng cháy tại chỗ (dân

phòng, lực lượng phòng cháy cơ sở, lực lượng phòng cháy chuyên ngành) Lực lượng dân phòng được thành lập tại nơi cư trú (tổ dân phố, thôn, bản, ấp); Lực lượng phòng cháy cơ sở, được thành lập ở nơi làm việc (nhà máy, xí nghiệp, kho tàng, trụ sở làm việc, trường học, bệnh viện, rạp hát, khách sạn, chợ trung tâm ); Lực lượng phòng cháy chuyên ngành, được thành lập tại các đặc khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc các khu công nghệ cao

Hiện nay, để giữ vững và phát triển kinh tế - xã hội thì có rất nhiều yếu

tố, trong đó công tác phòng cháy luôn được coi trọng và đặt lên hàng đầu, đặc biệt là đối với những khu vực trọng điểm (đặc khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, nhà máy, xí nghiệp ) Hiểu được điều đó, những năm vừa qua lực lượng cảnh sát PCCC đã thường xuyên tổ chức các lớp tuyên truyền, huấn luyện nghiệp vụ, bồi dưỡng về kiến thức phòng cháy cho những người làm công tác này tại cơ sở Đối với các khu trọng điểm, hàng tháng lực lượng cảnh sát PCCC tiến hành các hoạt động tuyên truyền, huấn luyện, bồi dưỡng theo chuyên đề của từng tháng, đồng thời cũng tổ chức các hội thảo, nói chuyện chuyên đề, các buổi trao đổi kinh nghiệm về phòng cháy giữa các cơ sở hoặc giữa cơ sở với lực lượng cảnh sát PCCC Đối với lực lượng dân phòng và phòng cháy cơ sở, đây cũng là lực lượng rất quan trọng trong việc tuyên truyền những kiến thức về phòng cháy cho người dân

Trang 30

Nhận thức được điều này, trong những năm vừa qua lực lượng cảnh sát PCCC

đã thường xuyên bồi dưỡng kiến thức về phòng cháy cho các lực lượng này

1.1.2.2 Xây dựng phương án chữa cháy, thực hiện kịp thời các biện pháp chữa cháy khi có cháy xảy ra trên phạm vi cả nước

Trang 31

cháy, nổ vẫn gia tăng Để giảm bớt thiệt hại do các vụ cháy, nổ gây ra, lực lượng cảnh sát PCCC thời gian qua đã thực hiện các nội dung cơ bản sau:

Tiến hành tư vấn, giúp đỡ người dân trong công tác xây dựng phương

án chữa cháy cho các cơ sở, doanh nghiệp, thôn ấp, phương tiện giao thông

đặc biệt, rừng Điều này được quy định tại điều 31 của Luật Phòng cháy,

chữa cháy quy định rõ: “Mỗi cơ sở, thôn ấp, bản, tổ dân phố, khu rừng,

phương tiện giao thông cơ giới đặc biệt phải chuẩn bị phương án chữa cháy

do người đứng đầu cơ sở, trưởng thôn, trưởng ấp, trưởng bản, tổ trưởng tổ dân phố, chủ rừng, chủ phương tiện xây dựng và phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt” Và cũng trong điều này nêu rõ “Các phương án chữa cháy phải được tổ chức luyện tập định kỳ theo phương án được duyệt Các lực lượng phương tiện có trong phương án khi được huy động thực tập phải tham gia đầy đủ” [34, 23] Phương án chữa cháy là tài liệu nghiệp vụ dùng cho chỉ

huy chữa cháy trong công tác chuẩn bị và quá trình dập tắt đám cháy tại một

cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ Phương án chữa cháy thể hiện rõ tình hình và đặc điểm của các cơ sở có liên quan đến chữa cháy, dự kiến trước các tình huống có khả năng diễn ra cháy, đồng thời đề ra các phương sách, thủ pháp chữa cháy hữu hiệu nhất đối với từng loại cơ sở và tình huống cụ thể Căn cứ vào tính chất và đặc điểm của các loại cơ sở, phương án chữa cháy tồn tại hai dạng: Phương án chữa cháy của lực lượng cảnh sát PCCC, phương án chữa cháy tại chỗ của lực lượng chữa cháy cơ sở Thực hiện tốt phương án chữa cháy, là giúp cho lực lượng chữa cháy nắm chắc được những tính chất và đặc điểm của các cơ sở có liên quan đến công tác chữa cháy, dự đoán trước khả năng, phát triển của đám cháy, chủ động sử dụng các phương pháp, biện pháp chữa cháy phù hợp Ngoài ra, thông qua phương án chữa cháy, giúp người lãnh đạo và cán bộ công nhân viên cũng như quần chúng củng cố thêm về ý thức trách nhiệm với công tác chữa cháy, biết rõ những nơi nào, khu vực nào có nguy

cơ cháy, nổ và những công việc cần làm khi có cháy, nổ xảy ra [23, 32]

Trang 32

Thời gian qua, lực lượng cảnh sát PCCC ngoài việc tuyên truyền, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ về phòng cháy cho nhiều lực lượng trong xã hội, công tác c

đã được lực lượng cảnh sát PCCC tiến hành lập phương án chữa cháy và tiến hành luyện tập định kỳ theo các phương án cho các cơ sở Ngoài ra, do các cơ sở cũng thường thay đổi về quy

mô, cách thức, nên các phương án cũng luôn thay đổi Mặt khác, việc tiến hành xây dựng các phương án ngoài việc tuân thủ các quy định về PCCC thì việc áp dụng các biện pháp chữa cháy mới, hiện đại và hiệu quả cũng luôn được lực lượng cảnh sát PCCC tiến hành tư vấn cho các cơ sở, đặc biệt là đối với các cơ sở đặc khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất

Trong những năm gần đây, các vụ cháy, nổ đã diễn ra ngày càng nhiều

và tính chất rất phức tạp, khó chữa cháy Tuy nhiên, với vai trò là lực lượng chuyên trách về công tác chữa cháy trên phạm vi toàn quốc, lực lượng cảnh sát PCCC đã tiến hành kịp thời các biện pháp chữa và ngăn chặn nhiều vụ cháy, nổ đạt kết quả cao

Trong 10 năm qua, bằng những sự lỗ lực của mình lực lượng cảnh sát PCCC đã kết hợp với các lực lượng chữa cháy khác đã tiến hành nhiều nhóm biện pháp chữa cháy hiện đại, hiệu quả để dập tắt nhiều đám cháy như: nhóm các phương pháp làm lạnh, nhóm các phương pháp cách ly, nhóm phương pháp làm giảm nồng độ chất cháy, nhóm các phương pháp kìm hãm (ức chế) hóa học các phản ứng cháy, Ngoài ra, theo số liệu của Cục cảnh sát PCCC thống kê từ năm 2000 đến năm 2009 lực lượng cảnh sát PCCC kết hợp với các lực lượng chữa cháy khác đã chữa cháy cho khoảng 18.000 cơ sở, cơ quan, doanh nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, nhà dân và đã cứu sống được gần

Trang 33

700 người dân bị ảnh hưởng, mắc kẹt do các vụ cháy, nổ và đã làm giảm thiệt hại cho Nhà nước khoảng trên 1.000 tỷ đồng

Tuy nhiên, do lực lượng còn thiếu, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, phương tiện, thiết bị chưa đầy đủ, hệ thống giao thông chưa tương xứng, kết cấu xây dựng nhà không hợp lý, nhận thức của người dân còn chưa cao chính vì vậy, hiệu quả của công tác chữa cháy trong những năm qua vẫn còn một số hạn chế, bất cập

1.1.2.3 Góp phần vào giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta đã chứng minh, để chống lại kẻ thù xâm lược và giải phóng đất nước, ngoài đường lối, chủ trương, biện pháp thì lực lượng tham gia kháng chiến cũng có vai trò đặc biệt quan trọng Trong quá trình đấu tranh thống nhất đất nước lực lượng tham gia kháng chiến bao gồm những lực lượng chủ yếu sau: quân đội nhân dân, công an nhân dân, thanh niên xung phong, nhân dân Tuy có cùng một mục đích là đấu tranh chống lại kẻ thù để giải phóng tổ quốc, nhưng mỗi lực lượng này lại đảm nhiệm những nhiệm vụ khác nhau, trong đó không thể không nói đến vai trò quan trọng của lực lượng cảnh sát PCCC với việc dập tắt những đám cháy, tham gia cứu giúp người dân khỏi những cuộc tấn công

và đánh phá của địch [30, 34] Đến giai đoạn hiện nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tác giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội đang đặt ra những yêu cầu cấp bách không chỉ đối với lực lượng An ninh nhân dân và Cảnh sát nhân dân mà ngay cả đối với lực lượng cảnh sát PCCC

Là một lực lượng đặc thù trong ngành Công an nhưng từ năm 2000 đến năm 2009, được sự chỉ đạo của bộ trưởng Bộ Công an lực lượng cảnh sát PCCC đã kết hợp với lực lượng An ninh nhân dân tham gia bắt nhiều tội phạm nước ngoài vào Việt Nam với mục đích chống phá nước ta bằng nhiều hình thức khác nhau, đồng thời cùng tham gia điều tra và truy bắt các tội

Trang 34

phạm trong nước tham gia vào những tổ chức phản động nước ngoài, đặc biệt

là các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia Ngoài ra, cùng với lực lượng An ninh nhân dân tổ chức nhiều cuộc vận động nhân dân tố giác tội phạm và hòa giải các vụ xung đột dân tộc, tôn giáo Không chỉ thế, lực lượng cảnh sát PCCC còn liên kết với nhiều đơn vị khác như: cảnh sát điều tra về trật tự xã hội, cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, cảnh sát giao thông, cảnh sát môi trường và cảnh sát cơ động để tổ chức nhiều buổi diễn tập chống khủng bố và tiến hành điều tra và truy bắt các tội phạm có tổ chức, tham gia bảo đảm an ninh, trật tự cho các hội nghị lớn của Đảng và Nhà nước Nhiều năm qua, lực lượng cảnh sát PCCC còn kết hợp với Bộ Quốc phòng thực hiện nhiều yêu cầu, nhiệm vụ trong việc giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, cảnh sát PCCC đã luôn luôn nêu cao việc gắn kết giữa công tác vận động, tổ chức quần chúng PCCC với cuộc vận động quần chúng bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Vận động, tổ chức quần chúng PCCC là một trong những hình thức tuyên truyền, cổ động, hướng dẫn quần chúng trong các cơ quan, xí nghiệp, khu dân cư đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, do thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc chính quyền các cấp, nhằm động viên, hướng dẫn quần chúng tự giác thực hiện các biện pháp phòng cháy và sẵn sàng kịp thời dập tắt các đám cháy Công tác vận động quần chúng PCCC nhằm động viên, tổ chức quần chúng tham gia phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc trong lĩnh vực PCCC, công tác này được vận động tới mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, nhiều trình độ và nghề nghiệp khác nhau, mọi thành phần trong cơ quan cũng như ngoài xã hội

Là một bộ phận của phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, phong trào quần chúng PCCC khi được phát động, xây dựng, tổ chức sẽ góp phần tích cực vào việc thực hiện phương hướng, mục tiêu, nội dung của phong trào bảo

vệ an ninh Tổ quốc Phương hướng, mục tiêu và nội dung của phong trào bảo

Trang 35

vệ an ninh Tổ quốc chỉ được hoàn chỉnh khi các phong trào vận động quần chúng được tất cả lực lượng Công an tham gia Do đó, nếu trong cuộc vận động, tổ chức quần chúng tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, không đưa nội dung vận động, tổ chức quần chúng PCCC thì phương hướng, mục tiêu, nội dung của phong trào không được thực hiện toàn diện Trong 10 năm qua, công tác vận động, tổ chức quần chúng PCCC đã được các cấp, ngành ủng hộ được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, quy mô, phạm vi ngày càng mở rộng và hiệu quả ngày càng biểu hiện rõ rệt

1.1.2.4 Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học - công nghệ trong lĩnh vực Phòng cháy, chữa cháy và tăng cường kiểm tra, xử

lý các hành vi vi phạm pháp luật về Phòng cháy, chữa cháy

Công tác NCKH có vị trí rất quan trọng đối với tất cả các ngành, các lĩnh vực và PCCC cũng không phải là ngoài lệ Trong thời đại kinh tế tri thức

và hội nhập kinh tế quốc tế, KTTT, NCKH càng thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung, sự phát triển của các cơ quan, doanh nghiệp nói riêng

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự lãnh đạo trực tiếp của

Bộ Công an công tác NCKH đối với ngành PCCC được đẩy mạnh trong những năm qua Kết quả của công tác này đã góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận nghiệp vụ Công an nhân dân, nâng cao hoạt động thực tiễn của cán bộ chiến sĩ ngành cảnh sát PCCC PCCC là một lĩnh vực thuộc nghiệp vụ của Công an nhân dân, vừa thực hiện quyền quản lý Nhà nước

về PCCC, vừa tổ chức phòng ngừa và chiến đấu dập tắt các đám cháy, bảo

vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, góp phần tích cực trong công tác bảo đảm trật tự an toàn xã hội

Trong những năm qua, hoạt động NCKH của lực lượng cảnh sát PCCC đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, góp phần thiết thực cho

sự nghiệp đào tạo cán bộ của lực lượng cảnh sát Trong 10 năm gần đây,

Trang 36

công tác NCKH trong lĩnh vực PCCC đã có nhiều thành tích và được các cấp, các ngành đánh giá cao như: hoàn thiện 21 đề tài cấp bộ, hơn 60 đề tài cấp cơ sở và 64 đề tài phối hợp và tham gia với các Bộ, ngành khác liên quan đến lĩnh vực PCCC; tham gia biên soạn và góp ý xây dựng 59 tiêu chuẩn liên quan đến công tác PCCC Kết quả đó đã tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị thực tiễn cao, ứng dụng tốt đối với công tác PCCC như: trung tâm báo cháy tự động ứng dụng thiết bị điều khiển khả trình, thiết bị chữa cháy cố định cho bể chứa xăng dầu theo phương pháp phun bọt từ đáy bể chứa, thiết bị đo các thông số cơ bản của đầu báo cháy; nghiên cứu ứng dụng tin học trong công tác quản lý các hoạt động PCCC; nghiên cứu sản xuất chất bọt A-B, sản xuất bình bột chữa cháy loại 2kg và 5kg; mạng báo cháy thông minh kết nối từ cơ sở đến trung tâm chỉ huy PCCC; nghiên cứu các hệ thống chữa cháy không phá hủy tầng ôzon với vật liệu mới như: nitrogen, fm200; các phương án mẫu trong PCCC chợ ở Việt Nam; thiết kế mẫu quần áo chữa cháy, xây dựng tiêu chuẩn trụ nước chữa cháy, lăng phun nước chữa cháy cầm tay đa tác dụng, [10, 6-7] Đồng

thời, công tác kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về PCCC

cũng được tiến hành thường xuyên và đạt hiệu quả cao

Đối với công tác kiểm tra an toàn, xử lý vi phạm về PCCC Hoạt động này được tiến hành thường xuyên, đúng trình tự, thủ tục của pháp luật, đồng thời là một mặt của hoạt động nghiệp vụ PCCC, thông qua đó

để thấy rõ thực trạng và tình hình thực hiện các hoạt động về PCCC của

cơ sở, đồng thời phát hiện các sơ hở, thiếu sót và đề ra các biện pháp khắc phục để đảm bảo an toàn PCCC cho cơ sở Quá trình kiểm tra và xử lý các

cơ sở của lực lượng cảnh sát PCCC tiến hành với hai nội dung chính:

- Thứ nhất, kiểm tra việc thực hiện các điều kiện an toàn về PCCC

Công tác này bao gồm một số nội dung sau: Xem xét cơ sở có quy định, nội quy, biển cấm, biển báo, sơ đồ hoặc biển chỉ dẫn về PCCC không; có

Trang 37

văn bản thẩm duyệt về PCCC đối với công trình thuộc diện phải thiết kế

và thẩm duyệt PCCC; hệ thống điện, thiết bị sử dụng điện, hệ thống chống sét phải bảo đảm an toàn PCCC; có quy trình kỹ thuật an toàn về PCCC phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; có lực lượng PCCC cơ sở được tổ chức huấn luyện PCCC và thường trực sẵn sàng chữa cháy đáp ứng yêu cầu tại chỗ, đồng thời có đầy đủ các phương tiện chữa cháy khác theo quy định, có sổ nhật ký theo dõi hoạt động PCCC theo quy định

- Thứ hai, kiểm tra trách nhiệm về PCCC của người đứng đầu cơ

quan, tổ chức, chủ hộ gia đình những người này là người chịu trách nhiệm tổ chức hoạt động và thường xuyên kiểm tra PCCC trong phạm vi trách nhiệm của mình và họ có trách nhiệm phải thực hiện các nội dung sau: ban hành các quy định, nội quy về PCCC, tổ chức tuyên truyền, huấn luyện, phổ biến pháp luật và các kiến thức về PCCC, xây dựng phong trào quần chúng tham gia PCCC, xử lý hoặc đề xuất xử lý các hành vi vi phạm quy định, nội quy về PCCC, chuẩn bị các phương tiện để chữa cháy, viết các báo cáo theo định kỳ về tình hình PCCC của cơ sở mình phụ trách

Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện các quy định, nội quy về an toàn PCCC của các cơ sở, cũng như của các chủ doanh nghiệp, xí nghiệp, chủ hộ gia đình còn thực hiện chưa đúng, thậm chí né tránh, lách luật Để thực hiện đúng các quy định, nội quy về PCCC và để giảm bớt thiệt hại cho các doanh nghiệp, xí nghiệp, cơ sở và giữ vững an ninh, trật tự xã hội Trong 10 năm qua, căn cứ vào các quy định về PCCC trong luật PCCC, nghị định, thông thư lực lượng cảnh sát PCCC đã tiến hành xử lý vi phạm về quy định, nội quy về PCCC khoảng 4.739 cơ sở vi phạm và thu về cho ngân sách nhà nước khoảng trên 70 tỷ đồng Đồng thời, cũng thời gian này hoạt động tuyên truyền, phổ biến, huấn luyện

Trang 38

cũng được đề cao, đặc biệt là đối với các cơ sở, doanh nghiệp tiềm ẩm nguy cơ cháy, nổ cao

1.2 Vai trò của công tác giáo dục và đào tạo đối với nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy

1.2.1 Quan niệm về công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực

1.2.1.1 Công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực

Trong lịch sử tồn tại và phát triển loài người, con người muốn sinh sống, tồn tại thì không thể tách khỏi các hoạt động lao động kiếm sống và đấu tranh chống chọi với những khắc nghiệt của thiên nhiên Tuy nhiên, thế giới

tự nhiên và cuộc sống lại luôn luôn vận động và biến đổi, đồng thời, nhận thức của con người về thế giới xung quanh ngày càng sâu sắc Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người đã dần tích luỹ được những kinh nghiệm lao động sản xuất, kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên và đấu tranh với tự nhiên và xã hội, từ đó xuất hiện nhu cầu cần truyền đạt những kinh nghiệm của những thế hệ trước cho thế hệ sau Chính từ những nguyên nhân này mà hoạt động GD&ĐT sơ khai đã bắt đầu ra đời

Đối với khái niệm giáo dục Ban đầu hoạt động giáo dục xuất hiện như

một hiện tượng tự phát, diễn ra rất đơn giản theo lối quan sát, con người bắt chước nhau cách săn bắn, hái lượm, cách chế tác công cụ lao động, phương pháp ứng xử trong cuộc sống, về sau cùng với sự tiến bộ trong nhận thức, trong đời sống và sản xuất kinh tế, xã hội, hoạt động giáo dục đã trở thành một hoạt động có ý thức, có tổ chức và mang tính cộng đồng ngày càng cao Trải qua hàng ngàn năm bằng những kinh nghiệm của cuộc sống, lao động loài người từng bước xác định mục đích giáo dục, xây dựng nội dung giáo dục phù hợp và tìm ra những phương pháp giáo dục tương ứng với yêu cầu của xã hội các hoạt động này ngày càng được đổi mới và đang đạt được những kết quả rất tốt

Trang 39

Hiện nay, trong xã hội hiện đại cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

có xu hướng phát triển nhanh chóng, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và đời sống của con người Trong bối cảnh đó, giáo dục trở thành nhân tố quyết định nhất đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục đã trở thành một hệ thống toàn cầu, được coi là quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia, được tiến hành trên những

cơ sở khoa học vững chắc, có chương trình, nội dung, có phương pháp, trang thiết bị phương tiện kỹ thuật hỗ trợ ngày càng hiện đại và đang diễn ra với nhịp độ rất khẩn trương trên toàn thế giới Sự phát triển của các quốc gia trên thế giới đã khẳng định, giáo dục là một động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá Chính vì thế ở nhiều quốc gia, đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cho phát triển

Nhìn nhận giáo dục với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một hiện tượng văn minh của xã hội loài người và phát triển theo yêu cầu của xã hội thì có những quan điểm khách nhau như PGS.TS Phạm Viết Vượng khẳng

định: “Về bản chất, giáo dục là hiện tượng truyền đạt và lĩnh hội kinh

nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ con người Về mục đích, giáo dục là sự định hướng của thế hệ đi trước đối với sự phát triển của thế hệ tiếp theo Về phương thức đối với mỗi cá nhân, giáo dục là cơ hội để học hỏi, tiếp thu và thành đạt, tránh được những mò mẫm, vấp váp, đối với nhân loại giáo dục là phương thức để bảo tồn và phát triển kho tàng tri thức văn hoá xã hội”[44,

11] Theo các nhà soạn thảo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 2) đã cho rằng giáo dục “Là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người, nảy sinh

cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội”[22, 120] Một số nhà sư phạm lại cho rằng: Giáo dục là một quá trình được tổ chức một cách khoa học, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt

và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội của loài người

Trang 40

Như vậy, một cách khái quát nhất có thể hiểu giáo dục là một quá trình

bao gồm tất cả các hoạt động định hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo) và phẩm chất (niềm tin, đạo đức, thái độ)

ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ và trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội

Chúng ta cũng thấy rằng, ở đâu có sự truyền đạt và lĩnh hội tri thức, sự tác động qua lại để hình thành phẩm chất con người thì ở đó có giáo dục

Nhưng để nhấn mạnh tới tính mục đích, nội dung và tính kế hoạch của quá

trình truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội thì người ta thường dùng khái niệm đào tạo

Đối với khái niệm đào tạo Đến nay vấn đề này còn có nhiều quan

điểm khác nhau, nhưng cơ bản cho rằng: đào tạo là quá trình tác động, cung cấp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…cho con người và trang bị cho họ những hành trang để họ thích nghi tốt với cuộc sống và làm cho xã hội ngày càng phát triển

Theo quan điểm của nhà khoa học Hà Ngọc Trạc và một số nhà khoa

học trong Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Đào tạo là quá trình tác

động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [40, 735] Ngoài ra, nghiên cứu đào tạo dưới góc

độ là một dạng đặc thù của giáo dục và quá trình đào tạo thì cũng có một số quan điểm sau: Các nhà biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: đào tạo là “Quá trình tác động đến con người một cách có mục đích, nhằm

chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức truyền thụ và lĩnh hội những kiến

Ngày đăng: 21/09/2020, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w