Khi phát triển KTTT một mặt đã tạo ra cơ hội để tôn tạo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày phù hợp với điều kiện mới nhưng cũng khó tránh khỏi sự thay đổi về BSVH dân t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ KIM HƯNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ KIM HƯNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
MÃ SỐ: 62 22 03 08
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DƯƠNG VĂN THỊNH
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung của luận
án có sự tham khảo, sử dụng một số thông tin, tài liệu từ các nguồn sách, tạp chí đã đƣợc tác giả ghi rõ nguồn gốc và liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo Kết luận rút ra trong luận án là trung thực, nghiêm túc
Nghiên cứu sinh
Lê Thị Kim Hƣng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 8
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp mới của luận án 9
6 Ý nghĩa của luận án 9
7 Kết cấu của luận án 9
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10
1.1 Những công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 10
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc 10
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 14 1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến bản sắc văn hóa dân tộc Tày 18 1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế thị trường và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường 22
1.3.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 22
1.3.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng, giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường 24
1.4 Đánh giá chung 31
1.4.1 Đánh giá kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu 31
1.4.2 Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
Chương 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 33
Trang 52.1 Khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân
tộc Tày 33
2.1.1 Khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc 33
2.1.2 Dân tộc Tày và bản sắc văn hóa dân tộc Tày 40
2.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và người Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay 43
2.2.1 Điều kiện tự nhiên ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay 43
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay 45
2.2.3 Người Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay 47
2.3 Quan niệm và nội dung của việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam 51
2.3.1 Quan niệm về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 51
2.3.2 Nội dung giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc 55
2.4 Kinh tế thị trường và tác động của kinh tế thị trường đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam69 2.4.1 Kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 69
2.4.2 Tác động của kinh tế thị trường đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 79
Chương 3 GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 80
3.1 Thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay 80
3.1.1 Những thành tựu trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc 80
3.1.2 Những hạn chế của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc 100
Trang 63.1.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc 106
3.2 Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay114
3.2.1 Mâu thuẫn giữa trình độ nhận thức của đồng bào còn hạn chế với yêu cầu
nâng cao hiệu quả giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc 114 3.2.2 Mâu thuẫn giữa bảo tồn yếu tố văn hóa cũ với tiếp thu yếu tố văn hóa mới khi thực hiện giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc 116 3.2.3 Mâu thuẫn giữa sự thiếu hụt, hạn chế về điều kiện vật chất với đảm bảo
hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc118
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 120 Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN
SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 121 4.1 Quan điểm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam 121
4.1.1 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị
trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam phải đi đôi với đấu tranh khắc phục những yếu tố văn hóa lạc hậu 121 4.1.2 Đảm bảo thực hiện mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế thị trường và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam 123 4.1.3 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị
trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam cần đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa
truyền thống và hiện đại 124
4.2 Giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay 127
Trang 74.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương trên lĩnh vực văn hóa 127 4.2.2 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa cho đồng bào dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc 130 4.2.3 Đẩy mạnh phát triển kinh tế ở một số tỉnh Đông Bắc nhằm nâng cao đời sống vật chất cho đồng bào, từ đó tạo điều kiện để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày có hiệu quả 134 4.2.4 Tích cực ngăn ngừa, khắc phục và chống mọi biểu hiện phi văn hóa 138 4.2.5 Tăng cường xây dựng thiết chế văn hoá cơ sở tại các bản, làng, thôn, xóm, đến vùng sâu, vùng xa của dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam 140 4.2.6 Đẩy mạnh công tác điều tra, sưu tầm, kiểm kê lại toàn bộ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc 146
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 149 KẾT LUẬN 150 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 153 TÀI LIỆU THAM KHẢO 154 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Đó là kết quả bước đầu trong điều kiện kinh tế thị trường của đất nước, của bản sắc văn hoá Việt Nam, của con người Việt Nam Xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về văn hoá và xu thế phát triển của nhân loại, Nhà nước ta rất đề cao vai trò của bản sắc văn hoá dân tộc Hiện nay, giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc trong quá trình phát triển là một nhu cầu khách quan
Khi phát triển nền kinh tế thị trường, mục tiêu của nước ta là xây dựng Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và văn minh Để thực hiện mục tiêu đó cần quan tâm xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã vạch ra qui luật khách quan rằng, đời sống vật chất (hiện thực) quy định đời sống tinh thần của xã hội Do đó, trình độ kinh tế - chính trị - xã hội tiên tiến và hiện đại trong điều kiện KTTT sẽ có những tác động nhất định đến sự phát triển văn hoá, xã hội Văn hóa là mục tiêu, là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, phát triển văn hóa nhằm xây dựng và bồi dưỡng nguồn lực con người về trí tuệ và tâm hồn, năng lực, sự thành thạo, tài năng, đạo đức, nhân cách, lối sống của cá nhân và cộng đồng
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã nhấn mạnh “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện -
mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội” [34; tr.28-29] Thực
tế cho thấy, sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta phải tìm mục tiêu, động lực của
sự phát triển không phải ở riêng các yếu tố kinh tế thuần túy mà cần phải tìm cả trong các yếu tố văn hóa Do vậy, phát triển KTTT luôn gắn liền với yếu tố văn hóa
- nền tảng tinh thần của xã hội
Văn hóa được coi là linh hồn của một dân tộc, gắn với những giá trị truyền thống tốt đẹp Trong giai đoạn hiện nay, văn hóa Việt Nam luôn mở cửa đón nhận những yếu tố mới, hội nhập với thế giới và tiếp thu những yếu tố thích hợp cho môi trường sống của cộng đồng các dân tộc anh em Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa của 54 dân tộc Cộng đồng người Việt có những phong tục, tập quán tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa gắn với không gian sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ
và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật Các yếu tố thường được coi là đặc trưng của văn hóa Việt
Trang 10Nam khi nhìn nhận từ bên ngoài bao gồm tôn kính tổ tiên, tôn trọng các giá trị cộng đồng và gia đình, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, lao động cần cù và hiếu học Chính sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo nên những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa Kinh Kỳ, văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Đông Bắc đã tạo nên nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng
Vùng Đông Bắc Việt Nam có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó cộng đồng dân tộc Tày đông thứ hai sau dân tộc Kinh Lịch sử cư trú của cộng đồng dân tộc Tày có bề dày văn hóa, gắn với những nét riêng biệt, đặc trưng, đậm đà bản sắc Trong suốt chiều dài lịch sử, văn hóa truyền thống của dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc luôn là di sản quý giá, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hóa dân tộc
Khi phát triển KTTT một mặt đã tạo ra cơ hội để tôn tạo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày phù hợp với điều kiện mới nhưng cũng khó tránh khỏi sự thay đổi về BSVH dân tộc, đặc biệt có những thay đổi dẫn tới pha tạp, làm giảm giá trị, xuất hiện xu hướng “Kinh hóa” có nguy cơ đánh mất bản sắc riêng Trước sự biến động đó cần thiết phải quan tâm, nghiên cứu, đề xuất những quan điểm, giải pháp kịp thời để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển
Trong những năm vừa qua, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc Tày, có một số công trình đã đề ra được các nhóm giải pháp khả thi, có thể áp dụng vào thực tiễn Song, chưa có công trình nghiên cứu mang tính toàn diện, cụ thể về việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc Tày trong điều kiện KTTT ở một số tỉnh Đông Bắc
Nhận thức được ý nghĩa của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc nói chung, văn hóa dân tộc Tày nói riêng là quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay đã trở thành
lý do để nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài luận án: "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích của luận án:
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ một số vấn đề lý luận về giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, làm rõ thực trạng, phân tích những vấn đề đặt ra và
đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở
Trang 11một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ các khái niệm “Văn hóa”, “Bản sắc văn hoá dân tộc”; đặc trưng của bản sắc văn hoá dân tộc Tày, quan niệm về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
- Phân tích nội dung giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện tác động của kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay
- Đánh giá thực trạng; nguyên nhân và những vấn đề đặt ra từ thực trạng đó
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trong luận án, tác giả tập trung nghiên cứu việc giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt
Nam là một vấn đề lớn, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở 3 tỉnh thuộc Đông Bắc Việt Nam là Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn từ khi đất nước tiến hành đổi mới đến nay Chủ thể của việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc Tày là đồng bào dân tộc Tày, các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, đồng thời, luận giải vấn đề trong giới hạn của góc độ nghiên cứu
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận của luận án:
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quan điểm về đời sống tinh thần của xã hội, về các hình thái ý thức xã hội, về văn hóa Đồng thời dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội; quy luật phủ định của phủ định
Luận án dựa trên các quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước
Luận án kế thừa thành tựu của các học giả đi trước về các nội dung có liên quan đến luận án
Trang 124.2 Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như lôgic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, điền dã, khái quát hóa, hệ thống hóa để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án đề ra, cụ thể:
Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp để làm rõ các khái niệm ở chương 2 như khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc
Các phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử và lôgic, so sánh, điền dã còn được sử dụng trong việc đánh giá về thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay
5 Đóng góp mới của luận án
Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án được thể hiện ở một số nội dung cụ thể sau:
- Làm rõ những nội dung bản sắc văn hoá dân tộc Tày cần giữ gìn và phát huy trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay
- Đánh giá thực trạng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay và phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực trạng đó
6 Ý nghĩa của luận án
6.1 Về mặt lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn
đề lý luận và thực tiễn về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày vùng Đông Bắc trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; định hướng cho việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc; hướng con người tới những giá trị nhân văn, góp phần xây dựng và phát triển đất nước
6.2 Về mặt thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, giảng dạy và học tập các chuyên đề về văn hóa, về bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho những người tham gia hoạch định các chính sách về giữ gìn và phát huy các yếu tố thuộc về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của đồng
bào dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc nước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Những công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Trong thời đại ngày nay, lý luận về văn hóa, quan điểm về văn hóa và phát triển đang được bổ sung nhiều nhận thức mới Mục tiêu xây dựng nền văn hóa cũng
là mục tiêu xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời là chủ thể của sự phát triển Thực tế cho thấy, tầm quan trọng, vai trò, tác dụng của văn hóa đang ngày càng gia tăng
Trong những năm gần đây, tuy đã có nhiều công trình khoa học và đề tài nghiên cứu về văn hóa mang tính hệ thống, đa diện hơn nhưng nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong bối cảnh nền KTTT tác động làm cho nền văn hóa nước ta vừa có cơ hội phát triển, vừa phải chịu những thách thức lớn cần vượt qua Do đó, cần có tư duy biện chứng để tìm hiểu về văn hóa và BSVH dân tộc dựa trên quan điểm của Đảng với chủ trương xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Nền văn hóa đó chính là mục tiêu, hệ điều chỉnh và còn là động lực của sự phát triển, hướng tới xây dựng một đất nước phát triển bền vững theo định hướng XHCN
Văn hóa vốn là một hoạt động thuộc thế giới người nói chung, đồng thời
là đặc trưng của mỗi cộng đồng người nói riêng Văn hóa là điều kiện sinh tồn
và cũng là thành tựu của từng tộc người, là một lĩnh vực để phân biệt giữa cộng đồng người này với cộng đồng người khác Thông qua hoạt động văn hóa sẽ xác định được cá tính của từng dân tộc trong cộng đồng, là cầu nối cùng giao lưu, hợp tác về văn hóa để đưa ra thông điệp giúp các dân tộc xích lại gần nhau Văn hóa là cơ sở, nền tảng, trụ cột, sức mạnh quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội Mỗi dân tộc với bản sắc riêng được coi là tiềm lực, sức sống, thực lực độc đáo để biểu hiện và tỏ rõ sức mạnh tổng hợp của đất nước Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, BSVH dân tộc
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc
Đối với Việt Nam, tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa, về BSVH dân tộc đã được chú ý từ lâu Song, cũng như nhiều quốc gia khác, chỉ từ cuối những năm 80 trở lại đây thì vấn đề này mới được quan tâm hơn cả về số lượng và chất lượng Điều đó được ghi nhận trong một số cuốn sách:
Phạm Văn Đồng với công trình“Văn hóa và đổi mới” [41] đã phân tích mối
quan hệ biện chứng giữa văn hóa và kinh tế, văn hóa và xã hội, văn hóa và hệ thống
Trang 14chính trị, văn hóa và xu thế đổi mới Tác giả khẳng định: “Văn hóa là đổi mới, đổi mới
là văn hóa, như vậy hai là một và một thành hai” [41; tr.43] Đồng thời, nhà nghiên cứu nhấn mạnh đổi mới là sự nghiệp của văn hóa và trí tuệ Như vậy, tác giả đã nâng tư duy
về văn hóa lên tầm lý luận mang tính triết lý và khái quát cao Công trình đã giúp tác giả luận án nhìn nhận sâu sắc hơn về văn hóa trong sự nghiệp đổi mới
James Wilson, Stan Le Roy Wilson với công trình “Mass Media, Mass Culture” [145] nghiên cứu về văn hóa và thông tin đại chúng - những huyền thoại
phổ biến, tác giả cho rằng trong văn hóa đại chúng, các phương tiện truyền thông đại chúng thường là những tác nhân xã hội hóa có ảnh hưởng đến đời sống của con người; Về vai trò của các phương tiện truyền thông trong một nền văn hóa tác giả cho rằng phương tiện truyền thông, văn hóa đại chúng và văn hóa tiêu dùng có liên
hệ với nhau và chúng ảnh hưởng lẫn nhau Qua nghiên cứu các chủ đề và đặc điểm của một nền văn hóa, chúng ta có thể hiểu biết hơn về giá trị con người trong nền văn hóa đó; Văn hóa dân gian với các lễ hội đường phố, uống rượu ở quán ven đường và các câu chuyện cổ tích dân gian; sự tác động qua lại giữa văn hóa và truyền thông đại chúng là cơ sở hình thành các hoạt động thương mại hóa văn hóa của con người, đồng thời xác định trong xu thế phát triển chung của thế giới, sự giao thoa văn hóa và hợp tác về văn hóa có xu hướng ngày càng gia tăng
Nguyễn Tri Nguyên với công trình nghiên cứu “Văn hóa tiếp cận từ vấn đề
và hiện tượng” [97] đã khái quát chung về văn hóa, theo đó tác giả đã phân tích
khái niệm văn hóa hiểu theo truyền thống phương Đông và theo truyền thống phương Tây, tác giả nhấn mạnh, mọi cuộc cách tân văn hóa chân chính đều phải cắm gốc rễ rất sâu vào quá khứ, không có truyền thống lớn sẽ không thể có cách tân văn hóa lớn Bên cạnh đó, tác giả phân tích khái niệm BSVH dân tộc, khẳng định bản sắc dân tộc là điều kiện để đổi mới văn hóa, văn hóa là hạt nhân của bản sắc dân tộc Qua những phân tích, nhận định trong công trình nghiên cứu giúp nghiên cứu sinh có một cái nhìn tổng thể hơn về nội hàm và các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm văn hóa, BSVH dân tộc
Cuốn sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm
[113] đã phân tích cơ sở lý luận về văn hóa Việt Nam; văn hóa nhận thức; văn hóa tổ chức cộng đồng, đời sống tập thể; văn hóa tổ chức cộng đồng, đời sống cá nhân; văn hóa ứng xử với môi trường tư nhiên; văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Tác giả cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có những ảnh hưởng hai chiều đến giá trị văn hóa truyền thống của người Việt Nam, từ đó, tác giả đã gợi mở những yếu tố phù hợp có thể phát triển và hạn chế những yếu tố tiêu cực trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, đồng thời cũng khẳng định, cần biết gạn đục, khơi trong các giá trị văn
Trang 15hóa để thích nghi với điều kiện mới nhằm phát triển kinh tế gắn liền với việc giữ gìn và phát huy BSVH của quê hương, đất nước
Công trình nghiên cứu “Bản sắc văn hoá dân tộc” của tác giả Hồ Bá Thâm
[112] đã phân tích quan niệm về về văn hóa, BSVH và động lực phát triển của văn hoá dân tộc Việt Nam; văn hóa trong thách thức của KTTT và toàn cầu hóa, hiện đại hóa; bản sắc tư duy triết học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Trong đó, tác giả đã phân tích rõ bản chất, đặc trưng của văn hóa Việt Nam, tác giả cho rằng, văn hóa phải có đủ các đặc trưng ở góc độ tiếp cận hoạt động, tiếp cận giá trị, tiếp cận phát triển, tiếp cận công nghệ, ở bốn phương diện cơ bản đó tạo thành chỉnh thể của văn hóa như một bản thể người sáng tạo, sinh động vừa bất biến và dĩ biến
trong quá trình phát triển con người và xã hội loài người Trong cuốn sách, tác giả
cũng nêu lên những hạn chế của nền văn hóa Việt Nam trước yêu cầu đổi mới để phát triển hiện nay, đó là cá nhân chưa được phát triển với tư cách là một chủ thể tự chủ, chưa được khuyến khích cao độ những động lực và lợi ích cá nhân, tài năng sáng tạo của cá nhân; các yếu tố văn hóa sản xuất, văn hóa kinh doanh, văn hóa làm giàu chưa được thúc đẩy; tinh thần hợp tác trong lao động sản xuất còn manh mún, phân tán, đó chính là vấn đề văn hóa mới chúng ta đang thiếu hụt cần phải bổ sung, phát triển; chưa có nếp sống thực sự theo pháp luật dân chủ của xã hội công dân; thiếu văn hóa khoa học và công nghiệp, văn hóa đô thị, văn hóa môi trường xanh - sạch, hiện đại Từ đó, tác giả cho rằng cần phải thực hiện đồng thời vừa kiến thiết
xã hội mới, vừa xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, sự phát triển đồng thời đó phải có bước ưu tiên thích đáng để mặt trận văn hóa đi trước một bước, nhằm thực hiện vai trò động lực trong thời đại văn hóa và phát triển không chỉ ở nước ta mà có tính toàn cầu Cuốn sách là tư liệu quý giá cho nghiên cứu sinh tìm hiểu thêm về lý luận và thực tiễn về văn hóa, BSVH để thực hiện đề tài luận án
Tác giả Phạm Duy Đức với công trình nghiên cứu “Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” [42] đã khái quát
những giá trị tiêu biểu trong quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam, đồng thời phân tích những tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế đối với văn hóa nước ta Trong công trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những giải pháp để phát huy những thế mạnh, hạn chế những mặt tiêu cực, vượt qua những khó khăn hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Cuốn sách có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để nghiên cứu sinh tiếp cận vấn đề nghiên cứu trong đề tài đã lựa chọn
Tác giả Nguyễn Duy Quý với công trình nghiên cứu “Nhận thức văn hóa Việt Nam” [102] đã khái quát một số nhân vật lịch sử văn hóa từ thế kỷ X cho đến
Trang 16nay Tác giả đã phân tích sức mạnh của cội nguồn văn hóa, những giá trị văn hóa Việt Nam, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Có thể nói rằng, nhà nghiên cứu đã thể hiện quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể khi nghiên cứu về nguồn cội tạo nên sức mạnh của văn hóa Việt Nam, đồng thời nhận thấy tính phong phú, thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa dân tộc
Cuốn sách “Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa, một góc nhìn
từ Việt Nam” [94] của tác giả Phạm Xuân Nam đã làm sáng tỏ quan niệm về toàn cầu
hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Tác giả đã đưa ra những quan điểm mang tính chất dự báo tương lai, những vấn đề và nhiệm vụ đặt ra đối với việc bảo tồn sự đa dạng của văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa, đồng thời phân tích xu hướng vận động của các nền văn hóa và văn minh trên thế giới Bên cạnh đó, tác giả đã
đề ra phương châm, nguyên tắc bảo tồn sự đa dạng văn hóa và tăng cường sự đối thoại giữa các nền văn hóa Ở phần cuối cuốn sách, tác giả đã phân tích một số quan điểm có tính chất định hướng cho việc thực hiện việc bảo tồn tính đa dạng văn hóa, tăng cường đối thoại giữa các nền văn hóa vì mục tiêu hòa bình, phát triển bền vững của quốc gia
Tác giả Trần Ngọc Thêm với cuốn sách “Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện tại” [114] đã tập hợp 33 bài viết của nhiều tác giả với các
góc độ nghiên cứu, các cách tiếp cận khác nhau về hệ giá trị của văn hóa, trong đó một số bài viết đã quan tâm đến hệ giá trị của văn hóa trong quá trình tồn tại và phát triển, các trụ cột chủ yếu để xây dựng hệ giá trị và phát triển văn hóa trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển KTTT và hội nhập quốc tế, bàn thêm
về các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của Việt Nam, hiện tượng “lệch chuẩn”
và ứng xử văn hóa của người Việt trong điều kiện hiện nay Trong cuốn sách, các tác giả đã phân tích quá trình chuyển đổi của văn hóa Việt Nam từ văn hóa để tồn tại đến văn hóa để phát triển do sự thúc bách của thời đại, văn hóa để phát triển dựa trên trí tuệ và lý trí, bản chất của đời sống văn hóa - lối sống văn hóa thể hiện những giá trị con người, giá trị xã hội hình thành trong quá trình sản xuất và trong các quan hệ xã hội Cuốn sách có ý nghĩa quan trọng để tác giả luận án tiếp cận được vấn đề BSVH dân tộc đang nghiên cứu
Trần Văn Thụy với bài viết “Quan điểm của Đảng về xây dựng văn hóa và con người Việt Nam hiện nay” [120] Bài viết đã nêu lên một số giải pháp cơ bản để
xây dựng văn hóa và con người Việt Nam có nhân cách, đạo đức, lối sống đẹp Tác giả đã nhấn mạnh, xây dựng văn hóa là mục tiêu của chính trị, kinh tế và quá trình đổi mới đất nước, cần xây dựng văn hóa thành động lực cho sự phát triển kinh tế, xã
Trang 17hội, đồng thời cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa ở nước ta hiện nay
Hội thảo khoa học với chủ đề “Văn hóa và phát triển những vấn đề của Việt Nam và kinh nghiệm của thế giới” [62] Hội thảo đã đề cập đến 5 nội dung chính:
Văn hóa trong các lý thuyết phát triển; vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước; mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển; những rào cản từ thể chế ảnh hưởng tới sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam; kinh nghiệm một số nước trong việc sử dụng văn hóa để xây dựng triết lý phát triển Các nội dung trên được nhiều nhà khoa học làm sáng tỏ bằng những nhận định mang tính lý luận, thực tiễn cao và
có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Qua việc tìm hiểu những bài viết trong hội thảo khoa học có ý nghĩa thiết thực đối với nghiên cứu sinh khi tiếp cận khung lý thuyết
ở chương 2 của luận án
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình khác nghiên cứu về chủ đề này, tiêu biểu
như: Hồ Sỹ Quý với công trình nghiên cứu “Tìm hiểu về văn hóa và văn minh” [104]; Tác giả Lò Giàng Páo với công trình nghiên cứu “Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số” [98]; Cuốn sách “Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” [81] của tác giả Ngô Văn Lệ (1998); Trường Lưu với công trình nghiên cứu “Văn hóa một số vấn đề lý luận” [84]; Cuốn sách “Văn hóa và sự phát triển các dân tộc Việt Nam” [11] của tác giả Nông Quốc Chấn Bên cạnh đó, còn có một số bài viết nổi bật như: Nguyễn Trọng Chuẩn với bài viết “Phát triển, phát triển bền vững và vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững ở Việt Nam” [16]; Nguyễn Thị Ngọc Hoa với bài viết “Quản lý Nhà nước về văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” [54] và nhiều công trình nghiên cứu khác Thông qua các công trình
nghiên cứu, bài viết nói trên đã giúp nghiên cứu sinh hiểu rõ hơn các quan điểm về văn hóa, BSVH dân tộc; vai trò của văn hóa và những yếu tố văn hóa truyền thống đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay
Như vậy, ở nước ta đã có rất nhiều công trình viết về văn hóa, bản sắc văn hoá dân tộc Các tác giả đều đặt vấn đề xây dựng một nền văn hoá hiện đại, nhân văn, có sự tiếp thu và chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng thời giữ gìn và phát huy BSVH các dân tộc
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Vấn đề giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm,
nhất là trong điều kiện KTTT đặt ra nhiều vấn đề cần phải lý giải, làm cơ sở cho việc xác định phương hướng, lựa chọn các yếu phù hợp và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển nền văn hóa nước nhà Tiêu biểu có các công trình sau:
Trang 18Lê Như Hoa với công trình nghiên cứu “Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [53] đã phân tích để làm sáng tỏ văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là yếu tố nội sinh, động lực của sự phát triển và cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Tác giả cho rằng, để làm rõ BSVH Việt Nam thì việc tìm ra ranh giới giữa tinh hoa và các yếu tố lạc hậu trong văn hóa truyền thống là cần thiết Mặt khác, tác giả cũng nhấn mạnh BSVH Việt Nam đang đứng trước nguy cơ và thách thức của nền KTTT như vấn đề xuống cấp của đạo đức xã hội, gia tăng tệ nạn xã hội; trong sáng tác và lý luận phê bình cũng phát sinh những khuynh hướng sai lầm, lệch lạc với biểu hiện phủ nhận quá khứ, phủ nhận những thành tựu cách mạng và văn hóa văn nghệ cách mạng Qua đó, nhà nghiên cứu đã đưa ra một vài
đề xuất nhằm giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Cuốn sách “Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại” [49] của tác giả Phạm Minh Hạc đã phân tích các
quan điểm về văn hóa, văn minh; phân tích vai trò của văn hóa đối với sự phát triển
xã hội Nhà nghiên cứu đánh giá vai trò của yếu tố con người trong phát triển văn hóa và kinh tế - xã hội Ngoài ra, tác giả đã phân tích và làm sáng tỏ vai trò của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong việc chống “diễn biến hòa bình” Nhà nghiên cứu lý giải với nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc kết hợp với tiếp thu các yếu tổ nhân bản, hợp lý, khoa học và tiến bộ, tiếp thu nền văn minh thế giới sẽ phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, đồng thời biết kết hợp nền KTTT mở cửa, hòa nhập rộng rãi với giữ gìn và phát huy các giá trị tinh thần và truyền thống, xây dựng một xã hội nề nếp, có kỷ luật, chống lại mọi biểu hiện “diễn biến hòa bình”
Tác giả Phan Ngọc với công trình nghiên cứu “Bản sắc văn hóa Việt Nam”
[95] đã đưa ra quan điểm về văn hóa, BSVH Đồng thời, tác giả phân tích bề dày văn hóa Việt Nam, BSVH Việt Nam trong giao lưu văn hóa, nền tảng của giao lưu quốc tế Ngoài ra, tác giả đã làm sáng tỏ cách phát huy văn hóa trong cuộc tiếp xúc văn hóa hiện nay và ưu thế văn hóa Việt Nam trong nền KTTT Trong đó, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác bề dày văn hóa để làm cho đất nước giàu có, cần có thế hệ tri thức quan tâm hơn đến văn hóa và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Đây là những nội dung quan trọng mà nghiên cứu sinh tiếp cận để làm
rõ về các khái niệm công cụ trong luận án
Nguyễn Trọng Chuẩn - Phạm Văn Đức - Hồ Sỹ Quý (đồng chủ biên) với
công trình nghiên cứu “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [16] đã phân tích các giá trị văn hóa truyền thống và
những biến đổi của chúng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Trang 19đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Công trình nghiên cứu “Toàn cầu hóa và vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc”
[85] của tác giả Trường Lưu đã phân tích những vấn đề cơ bản của toàn cầu hóa và bảo tồn văn hóa dân tộc, khẳng định nhân tố con người làm nên BSVH, đồng thời cho rằng trong văn hóa thể hiện tính dân tộc, tính hiện đại tạo nên nét riêng biệt của mỗi nền văn hóa trong xu thế mới Mặt khác, tác giả đặt ra vấn đề hội nhập và giao lưu văn hóa trong điều kiện hiện nay với những cơ hội và thách thức mới Tác giả cũng cho rằng trong quá trình giao lưu, hợp tác về văn hóa cần khẳng định sức mạnh nội sinh của mỗi dân tộc, hội nhập nhưng không đánh mất mình, không tuyệt đối hóa những giá trị văn hóa của các dân tộc khác
Tác giả Đinh Xuân Lâm - Bùi Đình Phong với bài viết “Giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc” [76] đã khẳng định tầm quan trọng của việc nhận thức về
công tác giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó bài viết đã nêu lên các khía cạnh cơ bản trong mô hình phát triển văn hóa Việt Nam Các tác giả nhấn mạnh, cần phải thường xuyên bồi bổ cho lịch sử - văn hóa với ý nghĩa là cội rễ của dân tộc, là cái vốn của riêng mình, từ đó làm cho cốt cách của văn hóa dân tộc thấm sâu vào tâm lý quốc dân
Tác giả Lô Thị Hương với bài viết “Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và những vấn đề đặt ra cho các trường phổ thông dân tộc nội trú trong giai đoạn hiện nay”[69] Bài viết nhấn mạnh những dân tộc nào thích ứng với sự chuyển
biến của thời đại thì mới có thể tồn tại và phát triển Qua thực tiễn, tác giả cho rằng các trường phổ thông dân tộc nội trú chưa quan tâm đến việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc, nhận thức của học sinh về văn hóa dân tộc còn hạn chế, do đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp để triển khai việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc
ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tại các địa phương với hình thức phong phú, hấp dẫn học sinh tham gia Đồng thời, tác giả nhấn mạnh để văn hóa dân tộc thiểu
số có thể tồn tại, phát triển và thích ứng được trong dòng chảy chung của văn hóa đất nước thì những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cần được điều chỉnh và bổ sung thêm Qua bài viết đã cho thấy, BSVH là yếu tố cốt lõi của văn hóa mỗi dân tộc, bên cạnh việc giữ gìn văn hóa dân tộc cần tiếp thu tinh hoa văn hóa của dân tộc khác là tất yếu trong bối cảnh hiện nay
Tác giả Hồ Thị Minh Trâm với bài viết “Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở nước ta hiện nay” [130] đã phân tích thực trạng nền văn hóa của
Việt Nam nói riêng và của các nước đang phát triển nói chung đang phải đương đầu với những thách thức chưa từng có trong lịch sử, nguy cơ bị đồng hóa hay ít nhất
Trang 20làm mất đi BSVH dân tộc đang hiện hữu, từ đó tác giả nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Nguyễn Ngọc Hòa với bài viết “Văn hóa các dân tộc thiểu số - Thực trạng và các nguyên tắc bảo tồn, phát huy” [55] đã chứng minh văn hóa là một lĩnh
vực rất quan trọng của đời sống xã hội, hiện nay văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu
số có nhiều biến đổi, do đó cần xác định các dân tộc thiểu số là những chủ thể của những nền văn hóa vô cùng đa dạng, đồng thời chính sự đa dạng đó đã làm nên tiềm năng văn hóa vô cùng độc đáo của nền văn hóa nước nhà Sự đan xen của giá trị, BSVH với sự hao hụt vốn di sản văn hóa ở các dân tộc thiểu số Việt Nam đang diễn
ra từng ngày, từng giờ trong nếp nghĩ, lối sống, ứng xử, đặc biệt là ở các dân tộc thiểu số bản địa Tác giả phân tích sự biến đổi văn hóa sẽ làm thay đổi BSVH của các dân tộc thiểu số, vấn đề đặt ra là cần bảo tồn và phát huy BSVH các dân tộc thiểu số, cách thức bảo tồn và phát huy cần diễn ra tự giác và khoa học hơn, đồng thời cần giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa con người với văn hóa
Tác giả Hoàng Chương với bài viết “Thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc” [17] khẳng định muốn bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc tốt hơn,
hiệu quả hơn, bền vững hơn Đảng và Nhà nước cần phải có một chính sách đầu tư hợp lý hơn, phải quan tâm, khuyến khích những tổ chức, những cá nhân đang dốc lòng, dốc sức trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Đây là vấn đề được tác giả lý giải một cách khách quan, khoa học, có tính thực tiễn cao
Bài viết “Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [77] của tác giả Lê Võ Thanh Lâm đã có những nghiên cứu, đánh giá về BSVH dân tộc, từ đó nhấn mạnh những yếu tố thuộc về BSVH dân tộc được thể hiện thông qua các lĩnh vực sản xuất, chiến đấu, học tập, ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán, lễ hội, ngôn ngữ, chữ viết… Đồng thời, tác giả bài viết đưa ra quan niệm về giữ gìn BSVH dân tộc Việc tìm hiểu bài viết giúp nghiên cứu sinh làm rõ hơn khái niệm công cụ về bản sắc văn hóa dân tộc trong luận án
Công trình nghiên cứu “Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị truyền thống Việt Nam” [117] được rút ra từ đề tài nghiên cứu Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập (03.14/06-10) do tác giả Ngô Đức Thịnh chủ biên, đề tài thuộc chương trình cấp Nhà nước “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” (KX.03/06) Trong đề tài, các tác giả đã phân tích và đánh giá những giá trị
văn hóa truyền thống Việt Nam và sự biến đổi của nó trong thời kỳ đổi mới và hội nhập Đồng thời, công trình nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp nhằm
Trang 21bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa trong công cuộc xây dựng và phát triển con người, văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước
Ngoài ra, còn rất nhiều cuốn sách, bài viết về chủ đề này, tiêu biểu như: Tác
giả Nguyễn Văn Huy với công trình nghiên cứu “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” [65]; Tác giả Đỗ Thị Minh Thúy với công trình nghiên cứu “Xây dựng
và phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc” [121]; Công trình nghiên cứu “Văn hóa với sự phát triển của xã hội Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[115] của
tác giả Lê Quang Thiêm và nhiều công trình nghiên cứu khác Thông qua các công trình nói trên đã giúp nghiên cứu sinh có nhận thức tổng thể hơn về sự biến đổi của văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước
Qua tham khảo các công trình tiêu biểu trên đây của các nhà nghiên cứu đã giúp nghiên cứu sinh có được góc nhìn đa chiều về văn hóa, BSVH dân tộc và vấn đề giữ gìn, phát huy BSVH dân tộc trong giai đoạn hiện nay Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, có nhiều yếu tố mang tính thời đại tác động đến việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc như công nghiệp hóa, hiện đại hóa; KTTT; hội nhập quốc tế; cách mạng khoa học công nghệ Những yếu tố này tác động tích cực và tiêu cực đến nền văn hóa Việt Nam Từ đó, nghiên cứu sinh thấy được tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc, đây là vấn đề mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến bản sắc văn hóa dân tộc Tày
Dân tộc Tày có dân số đông và tập trung ở hầu hết các tỉnh vùng Đông Bắc của nước ta Đồng bào dân tộc Tày còn được xem như là chủ thể văn hóa của vùng Đông Bắc Vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày, có thể kể đến các công trình:
Cuốn sách“Văn hóa Tày - Nùng” [82] của các tác giả Lã Văn Lô - Hà Văn
Thư đã giới thiệu khá đầy đủ về xã hội, con người và văn hóa của hai dân tộc Tày - Nùng Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích tín ngưỡng của hai dân tộc này Các tác giả khẳng định, trong đại gia đình Tổ quốc Việt Nam, Tày - Nùng là hai dân tộc sống bên cạnh nhau, có những quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hóa và huyết thống Các tác giả nhận định, trong văn hoá người Tày - Nùng rất đề cao yếu tố tâm linh, thờ các vật tổ Họ có thói quen thờ tổ tiên, tuy nhiên chỉ thờ lễ vào dịp tết, các dịp lễ khác họ chỉ dọn dẹp bàn thờ và thờ bằng rượu Thờ mụ cũng khá phổ biến và được thờ tại đầu giường của người mẹ mới sinh Ngoài ra, cộng đồng dân tộc Tày -Nùng rất coi trọng thầy Mo trong thờ cúng, quan niệm thầy Mo là con của trời, có thể nói chuyện với trời và thầy Mo trong cộng đồng dân tộc nơi đây còn phải thờ
Trang 22âm binh, thiên tướng Tuy nhiên, nhiều đặc trưng văn hóa mang tính địa phương của dân tộc Tày chưa được tác giả đề cập toàn diện
Cuốn sách “Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam” [134] của Viện Dân tộc
học là công trình nghiên cứu mang tính toàn diện và công phu nhất về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử tộc người, kinh tế truyền thống, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, tổ chức xã hội của hai dân tộc Tày - Nùng nói chung trong
9 trang (từ trang 302 đến trang 310) Công trình cũng chỉ ra do những nguyên nhân lịch sử hình thành và đặc điểm cư trú nên văn hóa của hai dân tộc này có nhiều nét tương đồng Công trình nghiên cứu đã đề cập đến lễ hội Lồng Tồng của cư dân Tày
- Nùng, trong đó các tác giả đã trình bày khá chi tiết về thời gian, cách thức tổ chức
lễ hội, các nghi lễ và các trò chơi trong lễ hội Từ đó, các tác giả đã khẳng định nét đặc sắc trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Tày - Nùng cần phải bảo tồn và phát huy trong đời sống cộng đồng
Công trình nghiên cứu “Văn hóa truyền thống Tày - Nùng” của các tác giả
Hoàng Quyết - Ma Khánh Bằng [106] đã làm rõ về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh
tế, xã hội, dân cư Tày - Nùng, lịch sử tộc người và văn hóa Tày - Nùng, nghệ thuật làm nhà của người Tày - Nùng, đặc biệt là chữ Nôm Tày - Nùng, văn học dân gian Tày - Nùng ở Việt Nam Các tác giả cho rằng, các dân tộc Tày - Nùng đã sớm xây dựng cho mình một nền văn hóa truyền thống đặc sắc Đồng thời, các tác giả đã nêu rõ các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Tày, từ đó khẳng định tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người
Các tác giả Hoàng Ngọc La - Hoàng Hoa Toàn với công trình nghiên cứu
“Tín ngưỡng dân gian Tày” [74] đã làm sáng tỏ về tín ngưỡng dân gian Tày, với các
phong tục thờ cúng, các tàn dư ma thuật và các lễ nghi trong đời sống tinh thần của đồng bào Tày Đây là công trình nghiên cứu giúp tác giả luận án hiểu rõ hơn về tín ngưỡng và vai trò của tín ngưỡng trong đời sống tinh thần dân tộc Tày khi thực hiện đề tài luận án
Các tác giả Hoàng Ngọc La - Hoàng Hoa Toàn - Vũ Anh Tuấn với công trình
nghiên cứu “Văn hóa dân gian Tày” [73] đã phân tích những đặc trưng cơ bản về văn
hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của người Tày ở Việt Nam Trong đó, văn hóa vật thể được tác giả đề cập đến như nhà ở, ẩm thực, trang phục dân tộc, dụng cụ lao động được hình thành trong quá trình sinh tồn, lao động sản xuất của đồng bào dân tộc Tày Bên cạnh đó, tác giả đã nêu bật những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Tày như quan điểm về vũ trụ, nhân sinh, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán; ngôn ngữ và văn học dân gian; nghệ thuật dân gian và những hình thức văn hóa đa dạng khác Từ đó, tác giả đã nêu rõ, đồng bào dân tộc Tày đã có mặt lâu
Trang 23đời ở nước ta, là dân tộc thiểu số đã có những đóng góp tích cực trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc Tày đều có nhiều nét đẹp làm giàu BSVH truyền thống của dân tộc ta Với các nội dung được đề cập trong cuốn sách đã khẳng định tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc Tày nói riêng và BSVH Việt Nam nói chung Mặc dù vậy, tác giả nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc dưới góc độ lịch sử nhưng chưa nêu rõ nguồn gốc, xu hướng biến đổi của BSVH dân tộc Tày trong bối cảnh hiện nay
Cuốn sách “Tín ngưỡng dân gian Tày - Nùng” [139] của tác giả Nguyễn Thị
Yên đã nghiên cứu công phu và chuyên sâu về tín ngưỡng của người Tày - Nùng Cuốn sách đã mô tả tổng quan về người Tày- Nùng về lịch sử hình thành tộc người
và văn hóa truyền thống của hai tộc người này Công trình nghiên cứu phân tích khá sâu về tín ngưỡng của hai tộc người này, trong đó trình bày hệ thống các quan niệm tín ngưỡng làm nền tảng hình thành các hình thức và các nghi lễ tín ngưỡng tiêu biểu Tác giả cũng trình bày về trình tự tiến hành và ý nghĩa của một số nghi lễ tín ngưỡng tiêu biểu đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Tày - Nùng Công trình nghiên cứu cũng chỉ ra những nét tương đồng và những nét khác biệt cụ thể trong tín ngưỡng của dân tộc Tày và dân tộc Nùng Đồng thời, tác giả đã tiến hành khảo sát hiện trạng đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào hiện nay ở một số địa phương và nêu lên vai trò của tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của người dân Cuốn sách cũng chỉ ra những xu hướng biến đổi của các hình thức tín ngưỡng của người Tày - Nùng dưới sự tác động của cuộc sống hiện đại ngày nay
Cuốn sách “Đến với người Tày và văn hoá Tày” [140] của tác giả La Công
Ý là một công trình chuyên khảo công phu, đề cập một cách có hệ thống về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của người Tày Với 416 trang sách đã trình bày được những nét riêng, mang tính đặc thù của đồng bào dân tộc Tày ở một địa phương cụ thể Bên cạnh
đó, cuốn sách mô tả chi tiết những hiện vật văn hóa mà người Tày chế tác và sử dụng, dựa theo những hiện vật được lưu giữ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nơi tác giả đã từng tiếp cận ở vùng cư dân Tày Đặc biệt, công trình nghiên cứu còn sưu tầm hơn 150 ảnh, hình vẽ minh hoạ và một bản đồ phân bố các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ở các tỉnh phía Bắc
Tác giả Hà Đình Thành với công trình nghiên cứu “Văn hóa dân gian Tày - Nùng ở Việt Nam” [109] đã khái quát về hai dân tộc người Tày - Nùng ở Việt Nam với
đặc điểm nơi cư trú và lịch sử hình thành tộc người Cuốn sách cũng mô tả những đặc trưng văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Tày, nghiên cứu văn hóa dân
Trang 24gian của người Tày - Nùng bao gồm: văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian, tín ngưỡng, tôn giáo và các lễ hội dân gian Công trình nghiên cứu này đã sưu tầm và hệ thống hóa một cách đầy đủ văn hóa dân gian của người Tày - Nùng ở nước ta Cuốn sách giúp tác giả luận án hiểu rõ hơn về các yếu tố văn hóa của hai dân tộc Tày - Nùng, từ đó thấy được một số điểm tương đồng trong đời sống văn hóa của hai dân tộc nêu trên
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về BSVH của dân tộc Tày
như: Tác giả Đỗ Thúy Bình với công trình nghiên cứu “Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” [6]; Cuốn sách “Bước đầu nghiên cứu
về Then Việt Bắc” [56] của tác giả Nông Văn Hoàn; Tác giả Dương Sách với công trình nghiên cứu “Văn hóa ẩm thực các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc”
[108] và nhiều công trình khoa học khác Các cuốn sách này đã đi sâu tìm hiểu
về các yếu tố văn hóa của dân tộc Tày Đây là những nét sinh hoạt văn hóa đang ảnh hưởng sâu sắc và có vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào Tày
Như vậy, những công trình khoa học trên đã mang lại cái nhìn tổng quan
về dân tộc Tày và những đặc trưng trong đời sống văn hóa của cộng đồng Các công trình đã khái quát bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của người Tày Với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, điều kiện cư trú và lịch sử hình thành, người Tày đã xây dựng hệ thống văn hóa vật chất đặc trưng về nhà ở, trang phục, ẩm thực… Họ cũng xây dựng đời sống văn hóa tinh thần độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, đó là một kho tàng văn học và nghệ thuật dân gian phong phú, những hình thức sinh hoạt lễ hội văn hóa văn nghệ đa dạng Đặc biệt, các cuốn sách cũng khẳng định tín ngưỡng của dân tộc Tày mang bản sắc độc đáo Các quan niệm tín ngưỡng cho tới những hình thức tín ngưỡng và nghi lễ tín ngưỡng tất cả đều đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Tày
Có thể nói rằng, các cuốn sách, các bài viết nêu trên đã phản ánh một bước tiến lớn trong lịch sử nghiên cứu về văn hóa dân tộc Tày trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Song, phần lớn các tác phẩm nghiên cứu trên một phạm vi rộng với những đặc trưng văn hóa của người Tày nói chung, chưa phân tích rõ được những sắc thái phong phú, đa dạng của văn hóa dân tộc Tày ở một
số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay Các công trình của những nhà nghiên cứu
đi trước là cơ sở để tác giả tiếp tục khai thác và nghiên cứu cụ thể, chi tiết hơn
về đời sống văn hóa của dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam trong điều kiện KTTT hiện nay
Trang 251.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế thị trường và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường
1.3.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Các tác giả Vũ Đình Bách - Trần Minh Đạo (đồng chủ biên) với công trình
nghiên cứu “Đặc trưng của Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [2] Cuốn sách đã khái quát quá trình hình thành và phát triển KTTT trên thế
giới; nêu lên các mô hình tiêu biểu và xu hướng vận động của KTTT tư bản chủ nghĩa; bản chất và đặc trưng của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; các điều kiện đảm bảo cho sự vận hành và phát triển của nền KTTT định hướng XHCN
Tác giả Vũ Đình Bách chủ biên với công trình nghiên cứu “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [1] Đây là công trình nghiên cứu thuộc chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.01 “Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa” Trong cuốn sách, tác giả đã nêu lên quan điểm về KTTT định
hướng XHCN; thể chế và quản lý Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN; thị trường và động lực phát triển trong nền KTTT định hướng XHCN; nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; từ đó tác giả đã phân tích, đánh giá về các điều kiện đảm bảo cho sự vận
hành và phát triển của nền KTTT định hướng XHCN
Ở cuốn sách “Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội” của nhiều tác giả
[131] đã phân tích các đặc trưng, vai trò của nền KTTT định hướng XHCN, đồng thời công trình nghiên cứu đã nêu ra những quan điểm để tiếp tục hoàn thiện thể chế
Trang 26KTTT định hướng XHCN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Công trình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng giúp tác giả luận án tiếp cận khung lý thuyết ở chương 2
Công trình nghiên cứu “Tính phổ biến và tính đặc thù trong phát triển Kinh
tế thị trường” [21] của tác giả Phạm Văn Dũng chủ biên có nhiều bài viết của các nhà khoa học trong Hội thảo với chủ đề: “Tính phổ biến và tính đặc thù trong phát triển kinh tế thị trường” Nhiều bài viết với nội dung thể hiện quan điểm của các
nhà khoa học trong việc nhìn nhận, đánh giá những vấn đề mang tính phổ biến và đặc thù trong phát triển nền KTTT định hướng XHCN, đồng thời cung cấp những
cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu, đánh giá về vai trò, bản chất của KTTT đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Cuốn sách “Đẩy mạnh xây dựng văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc” [61] của Hội
đồng lý luận Trung ương là tập hợp các tham luận của các nhà khoa học, nghiên cứu của hai Đảng Nội dung cuốn sách đề cập đến các vấn đề đi sâu cải cách thể chế văn hóa, vấn đề nâng cao sức mạnh mềm văn hóa quốc gia, vấn đề sáng tác, xuất bản sản phẩm văn hóa…, thể hiện sâu sắc nhận thức đối với cơ hội và thách thức trong sự nghiệp xây dựng văn hóa, xác định yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng văn hóa trong nền KTTT, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Đây là chủ đề mà Đảng ta rất quan tâm do ý nghĩa lý luận và thực tiễn vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản, lâu dài Đảng ta đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa trong tiến trình cách mạng và trong công cuộc đổi mới với mong muốn dẫn dắt đất nước theo phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Đảng ta cũng xác định cần xây dựng văn hóa để nắm bắt đặc điểm và quy luật xây dựng văn hóa trong tình hình mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, phát triển văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển phồn vinh của đất nước
Bài viết “Về mối quan hệ giữa đảm bảo an sinh xã hội với phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam” [12] của tác giả Nguyễn Văn Chiều đã phân tích và đưa ra
một số giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa đảm bảo an sinh xã hội với phát triển KTTT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Phát triển kinh tế là điều kiện để đảm bảo an sinh xã hội, phát triển văn hóa và ngược lại, an sinh xã hội được thực hiện tốt là động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu nhưng từ sự vận động, biến đổi của thực tiễn đòi hỏi phải tiếp tục
có sự đổi mới trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đảm bảo an sinh xã hội với phát triển KTTT ở nước ta hiện nay một cách mạnh mẽ hơn nữa như: tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, đổi mới và hoàn thiện chính sách
an sinh xã hội, văn hóa theo hướng đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng, trình
Trang 27độ, yêu cầu phát triển, đẩy mạnh chính sách giảm nghèo bền vững trong nền KTTT, phát huy vai trò điều tiết của Nhà nước trong việc tạo lập sự gắn kết giữa đảm bảo
an sinh xã hội, phát triển văn hóa với các chính sách phát triển kinh tế Thực hiện được những giải pháp này sẽ góp phần đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của nước ta trong bối cảnh nền KTTT hiện nay
Ngoài ra, còn một số bài viết như: “Xu hướng biến đổi tâm lý xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” [72] của tác giả Trần Ngọc Khuê chủ biên; Tác giả Nguyễn Chí Mỳ với bài viết “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” [90] , Bài viết “Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [43] của
tác giả Phạm Văn Đức và nhiều bài viết khác
Các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên thể hiện nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, các tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn như khái niệm, bản chất, đặc trưng của KTTT, trình bày các mô hình KTTT điển hình trên thế giới; một số vấn đề chủ yếu của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam như bản chất, đặc điểm, thể chế và vai trò quản lý của Nhà nước, các hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế, vai trò của thị trường trong quá trình trao đổi, mua bán
1.3.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng, giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường
Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, phát triển nền KTTT định hướng XHCN đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân đã được cải thiện đáng kể Tuy vậy, tác động của mặt trái nền KTTT cũng ảnh hưởng đến việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc nói chung và văn hóa dân tộc Tày nói riêng Vì thế, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về BSVH dân tộc Tày:
Công trình nghiên cứu “Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc” của tác giả
Hoàng Quyết - Tuấn Dũng [107] đã phân tích sâu sắc về đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Tày ở chiến khu Việt Bắc với những phong tục tập quán đặc trưng như tục lệ đặt tên làng, về nhà ở, trang phục, thờ cúng tổ tiên, lễ cưới từ xa xưa cùng với những nét văn hóa độc đáo trong các lễ hội như lễ hội Lồng Tồng, ném còn, hát Lượn đối đáp của người Tày Cuốn sách rất có ý nghĩa đối với những người làm công tác văn hóa xã hội tại các địa phương có đồng bào dân tộc Tày sinh sống trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, công trình nghiên cứu đã giúp tác giả luận án hiểu thêm về yếu tố văn hóa tinh thần trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Tày
Trang 28Tác giả Hoàng Văn Páo với “Lễ hội Lồng Tồng của người Tày bản Chu, xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn” [99] đã phác họa sinh động về nét đẹp
trong Lễ hội Lồng Tồng của người Tày qua các nghi thức và các hoạt động nổi bật trong lễ hội Đồng thời, nhà nghiên cứu đã khẳng định, trong sinh hoạt văn hóa của đồng bào dân tộc Tày không thể thiếu Lễ hội Lồng Tồng được tổ chức vào đầu năm mới với mong ước cầu một năm mới mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu Đây là dịp để đồng bào dân tộc Tày và nhân dân các địa phương sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể hiện tinh thần đoàn kết trong cộng đồng Từ đó, tác giả khẳng định Lễ hội Lồng Tồng là món ăn tinh thần ý nghĩa trong cuộc sống của đồng bào dân tộc Tày ở bản Chu, xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Tác giả Hoàng Nam với công trình nghiên cứu “Văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc” [93] đã khái quát về môi trường địa lý tự nhiên, môi trường lịch sử nhân
văn; đặc điểm kinh tế - xã hội truyền thống và trình bày rất sinh động về văn hóa vật thể; văn hóa phi vật thể, trong đó tác giả đã phân tích tiếng Tày và tiếng Nùng rất gần nhau cả về ngữ âm, từ vựng và cả cú pháp Trong giao tiếp thường ngày giữa người Tày và người Nùng, dân tộc nào nói tiếng dân tộc đó, không cần phiên dịch mà vẫn hiểu nhau hoàn toàn, do vậy trong quá trình giao tiếp ở trong vùng Đông Bắc, tiếng Tày, tiếng Nùng đã từ lâu trở thành tiếng phổ thông trong vùng, được các dân tộc khác sử dụng làm phương tiện giao tiếp cho toàn vùng thấp Đông Bắc Tác giả cho rằng, tiếng nói của các dân tộc Tày và Nùng đã phát triển khá cao,
hệ thống từ vựng của các thứ tiếng này tương đối phong phú, đủ sức phản ánh những nội dung liên quan đến các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội thời kỳ tiền công nghiệp Mặt khác, tác giả đã khẳng định nhân tố văn hóa mới trong văn hóa truyền thống các dân tộc vùng Đông Bắc, đó là hệ quả của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của vùng với những thành tựu tốt đẹp trong quá trình giao lưu văn hóa trong vùng Đồng thời, tác giã đã phân tích, nhận định về xu hướng phát triển của văn hóa nói chung, văn hóa người Tày ở vùng Đông Bắc nói riêng
Công trình khoa học “Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn” của các tác giả Hà Văn Viễn - Lương Văn Bảo - Lâm Xuân Đình [133] đã
khái quát truyền thống văn hóa của các dân tộc sinh sống trong địa bàn tỉnh Bắc Kạn, trong đó có dân tộc Tày Đây là dân tộc chiếm 52,9% dân số trong toàn tỉnh Bắc Kạn nên văn hóa truyền thống của người Tày có sức lan tỏa và ảnh hưởng tới các dân tộc khác, nhất là trong quá trình giao thoa văn hóa giữa các vùng miền của đất nước trong giai đoạn hiện nay
Với bài viết “Bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay” [48] của tác giả Đỗ Thanh Hà đã khái quát thực trạng các yếu tố đặc
Trang 29sắc của văn hóa dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc Tày Đồng thời, tác giả khẳng định các yếu tố văn hóa đặc sắc của từng dân tộc, từng vùng kết hợp lại với nhau tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng Tác giả cho rằng, hiện nay đồng bào dân tộc thiểu số đã sản xuất theo phương thức tiến bộ, phương thức sản xuất này cũng biểu hiện cuộc sống văn hóa được nâng cao hơn Vì vậy, nhu cầu về văn hóa của đồng bào cũng đổi mới và tăng lên rõ rệt Điều kiện ăn, ở, đi lại, học hành của đồng bào dân tộc được cải thiện, lối sống và nếp sống có nhiều thay đổi Đây là những trung tâm kinh tế và văn hóa có khả năng phát triển nhiều hơn nữa đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào dân tộc Tày ở Đông Bắc nói riêng
Trong bài viết “Một số vấn đề cấp bách trong bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” của tác giả Phạm Thị Hoàng Hà [47] đã phân
tích các lý do dẫn đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số chưa tốt Ở Yên Bái chỉ có 14,8% ý kiến cho rằng các di sản văn hóa dân tộc thiểu số ở địa phương được bảo tồn tốt, có 83,4% ý kiến cho rằng các di sản văn hóa dân tộc thiểu số nguyên hiện trạng, không bảo tồn, không phá hỏng Trong đó, có 1,6% ý kiến khẳng định các di sản văn hóa dân tộc thiểu số không được bảo tồn Tác giả cũng khẳng định, với thực trạng này, các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số chưa được làm giàu và phát huy Đó là những biểu hiện đáng lo ngại về công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số và thực hiện bình đẳng trên lĩnh vực này giữa các dân tộc
Cuốn sách “Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam” [5] của tác giả Trần Bình đã giới thiệu về tập quán mưu sinh của các dân tộc
qua 9 chương Tác giả đã khái quát chung về môi trường vùng Đông Bắc Việt Nam, phân tích về tập quán mưu sinh của các dân tộc như dân tộc Tày, dân tộc Hà Nhì, dân tộc Dao, dân tộc Sán Chay Từ các nội dung nêu trên, tác giả đã đưa ra một vài nhận xét chung về các dân tộc thiểu số và tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Ma Ngọc Dung với cuốn sách “Văn hóa ẩm thực của người Tày ở Việt Nam” [20] đã khái quát về đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và
nguồn lương thực, thực phẩm của người Tày, tác giả nghiên cứu những nét đặc sắc
về món ăn, đồ uống, thức hút và ăn trầu của đồng bào dân tộc Tày Đồng thời, tác giả nêu cách ứng xử xã hội trong ăn uống của người Tày Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích sự biến đổi tập quán ăn uống của người Tày và đề xuất những giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống trong ăn uống Từ việc nghiên cứu văn hóa ẩm thực của người Tày, tác giả cho rằng, giữ gìn và phát huy các giá trị trong văn hóa ẩm
Trang 30thực cũng hết sức cần thiết như việc bảo tồn các loại hình văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần khác, bởi nó là một phần giá trị văn hóa truyền thống, do đó cần phải phát huy những yếu tố đặc sắc trong văn hóa ẩm thực Công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa đối với tác giả luận án khi tìm hiểu về văn hóa vật chất của dân tộc Tày
Tác giả Nguyễn Thị Yên với công trình nghiên cứu “Hiện trạng và vai trò của các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng trong đời sống của người Tày - Nùng các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam” [138] đã sưu tầm, nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề
liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo của người Tày - Nùng Đồng thời, nhà nghiên cứu
đã phân tích sự hình thành và biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người Tày - Nùng làm cơ sở cho việc điều tra, khảo sát thực tế sinh hoạt văn hoá của nhóm dân tộc Tày - Nùng, khẳng định vai trò và tác động của nó trong đời sống xã hội hiện tại, từ đó đưa ra những kiến nghị đóng góp cho công tác xây dựng đời sống văn hoá tinh thần của người Tày - Nùng ở miền núi Đông Bắc Việt Nam
Tác giả Vương Xuân Tình với bài viết “Biến đổi văn hóa các tộc người vùng Đông Bắc từ góc nhìn sử dụng ngôn ngữ” [124] đã xem xét sự biến đổi văn hóa qua một
thành tố của nó, đó là ngôn ngữ Góc tiếp cận của bài viết là chỉ xem xét việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng các tộc người Kinh, Nùng, Dao, Tày, Sán Dìu biến đổi theo các xu hướng khác nhau dưới tác động của việc giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ hiện nay Tác giả bài viết đánh giá chung về sử dụng ngôn ngữ trong môi trường gia đình và cộng đồng ở dân tộc Tày không cao Từ đó, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trong công cuộc đổi mới
Cuốn sách “Lễ hội Lồng Tồng của người Tày huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên (truyền thống và biến đổi)” của tác giả Dương Thị Lê 2010 [78] đã khắc họa
chi tiết hoạt động tổ chức Lễ hội Lồng Tồng tại xã Phú Đình (huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên) được diễn ra vào ngày mồng 10 tháng giêng hàng năm của đồng bào dân tộc Tày sinh sống trên vùng chiến khu xưa ATK Định Hóa Trong đó, tác giả đã trình bày về quan niệm, các nghi thức và hình thức tổ chức lễ hội đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày tại “thủ đô gió ngàn” năm xưa Đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc của bà con vùng cao, được tổ chức sau một năm vất vả với công việc đồng áng, để mừng thành quả lao động đã đạt được của mình, đồng thời tạ ơn trời đất, thần linh, tổ tiên và cầu cho một năm mới mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, nhà nhà no ấm, hạnh phúc Tác giả đã phân tích giá trị và sự biến đổi trong lễ hội hiện nay với phần lễ không có sự thay đổi nhưng phần Hội có sự thay đổi, mai một ít nhiều do tác động của nền kinh tế thị trường Tác giả cũng khẳng định, việc tổ chức Lễ hội Lồng Tồng ở ATK Định Hóa - Thái Nguyên không chỉ góp phần lưu giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của lễ
Trang 31hội mà còn giới thiệu, quảng bá hình ảnh, tiềm năng kinh tế, du lịch ATK Định Hóa, tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch kinh tế, nâng cao thu nhập cho nhân dân vùng căn cứ địa cách mạng
Cuốn sách “Phát triển bền vững văn hóa tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông Bắc” [123] của các tác giả Vương Xuân Tình và Trần Hồng Hạnh đã phân
tích cơ sở lý luận về vấn đề hội nhập của các tộc người vùng Đông Bắc trong bối cảnh toàn cầu hóa, nền KTTT và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; Đánh giá về di sản văn hóa truyền thống của các tộc người vùng Đông Bắc trước khi diễn ra hội nhập (trước 1986); Sự hội nhập kinh tế của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Kinh vùng Đông Bắc trong bối cảnh toàn cầu hóa, nền kinh tế thị trường và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; Đánh giá thực trạng và tính bền vững của văn hóa tộc người vùng Đông Bắc Như vậy, đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng khái niệm và các chỉ báo về phát triển bền vững về văn hóa tộc người; Đánh giá mức độ bền vững văn hóa của một số tộc người vùng Đông Bắc; Xem xét ảnh hưởng của quá trình hội nhập tới
sự bền vững văn hóa của các tộc người trong khu vực nghiên cứu; Đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững về văn hóa cho các tộc người trong quá trình hội nhập Công trình với những thông tin chi tiết, phong phú giúp tác giả luận án nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa tộc người vùng Đông Bắc, đặc biệt là văn hóa dân tộc Tày đối với sự phát triển bền vững
Tác giả Dương Thuấn với công trình “Văn hóa Tày ở Việt Nam và tiến trình hội nhập thế giới” [119] đã nghiên cứu chi tiết về văn hóa Tày ở Việt Nam Tác giả
Dương Thuấn đã mang đến một bức tranh đa sắc màu về văn hóa, văn hóa trong hội nhập Đặc biệt, tác giả của cuốn sách đã nêu dấu ấn về lịch sử, địa lý và tác động của văn hóa đối với cuộc sống của người Tày hôm nay Mặt khác, tác giả đã phân tích đầy đủ các biểu hiện cụ thể của văn hóa Tày; một số biểu tượng đặc sắc trong đời sống văn hóa Tày; thực trạng văn hóa Tày từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay Đồng thời, trong bức tranh toàn cảnh về văn hóa Tày, tác giả còn làm sáng
rỏ nhận định về văn hóa Tày trong tiến trình hội nhập thế giới hiện nay với các xu hướng do tác động từ bên ngoài, xu hướng do nhu cầu nội tại với các phương thức hội nhập qua phương tiện truyền thông, qua trao đổi văn hóa tự phát hoặc có kế hoạch, qua giao thương kinh tế Từ đó, tác giả đã khẳng định kết quả của hội nhập văn hóa góp phần nâng cao trình độ thưởng thức văn hóa của công chúng; đời sống văn hóa phong phú hơn trước; các chính sách xây dựng văn hóa của Nhà nước về vùng dân tộc và miền núi buộc phải thay đổi; hội nhập để nhận thức lại và nâng cao văn hóa dân tộc Cuốn sách là tài liệu thiết thực giúp nghiên cứu sinh tìm hiểu, nhận
Trang 32định về thực trạng văn hóa dân tộc Tày ở Việt Nam nói chung và vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam nói riêng
Cuốn sách “Nhà sàn truyền thống của người Tày” (Vùng Đông Bắc Việt
Nam) [19] của tác giả Ma Ngọc Dung đã làm sáng tỏ những nét đặc trưng, nghệ thuật kiến trúc độc đáo nhà sàn của người Tày vùng Đông Bắc Tác giả đã mô tả chi tiết về nguồn nguyên liệu làm nhà, cấu trúc chung ngôi nhà sàn của người Tày, quy trình làm một ngôi nhà sàn, những điều kiêng kỵ liên quan đến ngôi nhà sàn từ đó, giúp người đọc hình dung khá rõ về tập quán sinh hoạt của người Tày trong ngôi nhà sàn Tác giả đã có sự đánh giá tương đối tổng quát về những đặc trưng văn hóa của người dân vùng Đông Bắc, trong đó nhà sàn của người Tày là một biểu tượng độc đáo gắn liền với đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của người Tày Như vậy, cuốn sách đã khái quát những yếu tố chung của nhà sàn người Tày, đồng thời tìm ra những yếu tố riêng trong kết cấu nhà sàn của các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang Trong cuốn sách, tác giả đã nêu rõ điều kiện tự nhiên
và xã hội vùng Đông Bắc Việt Nam; cấu trúc nhà sàn dân tộc Tày; quá trình làm nhà sàn của người Tày; ý nghĩa của ngôi nhà sàn trong đời sống của người Tày, qua
đó đề xuất một số biện pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của nhà sàn dân tộc Tày trong giai đoạn hiện nay
Đây là công trình nghiên cứu thực sự hữu ích đối với việc giữ gìn giá trị kiến trúc nhà sàn của người Tày trong sự nghiệp đổi mới Đặc biệt, hiện nay trước yêu cầu của công tác bảo vệ rừng thì phát triển nhà sàn của người Tày theo kết cấu bê tông là rất cần thiết nhưng vẫn giữ được nét truyền thống, tạo không gian sinh hoạt văn hóa bản sắc vẫn được người Tày ở các địa phương đón nhận Công trình nghiên cứu giúp nghiên cứu sinh hiểu được những giá trị văn hóa qua việc xây dựng ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Tày ở Đông Bắc
Các tác giả Bế Văn Hậu - Mai Văn Huyên với bài viết “Một số nhận xét về biến đổi văn hóa của người Tày ở Lạng Sơn trong thời kỳ đổi mới” [51] đã phân tích thực
trạng biến đổi về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của người Tày ở Lạng Sơn trong thời kỳ đổi mới Từ đó, các tác giả đã đưa ra một số nhận xét sơ bộ qua thực tiễn khảo sát
về mặt xã hội học đối với sự biến đổi văn hóa dân tộc Tày Đồng thời, tác giả cũng cho rằng hiện nay người Tày ở Lạng Sơn không còn sống khép kín trong các bản làng, mà có mặt ở khắp mọi miền của Tổ quốc và không ít người có mặt ở các châu lục trên thế giới,
từ đó những thông tin về người Tày, những nét văn hóa độc đáo của dân tộc Tày cũng được nhiều nơi biết đến Vì thế, văn hóa Tày vẫn đang vận động, biến đổi và phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay
Trang 33Trong cuốn sách “Tang ma của người Tày ở Tỉnh Bắc Kạn” của Lương Thị
Hạnh [50] đã khái quát về lịch sử tộc người, đặc điểm văn hóa vật chất và tinh thần hàm chứa những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, những quy tắc ứng xử của gia
đình, quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo và nhận thức của người Tày ở Tỉnh Bắc
Kạn Đồng thời, tác giả đã khảo cứu về nội dung, nghi lễ , hình thức, các lễ vật cúng
tế trong tang ma của dân tộc Tày ở Bắc Kạn, từ đó nêu bật tác dụng của nghi lễ tang
ma, đề cao đạo hiếu, đạo nghĩa của người sống đối với người quá cố, củng cố ý thức gắn kết trong gia đình và cộng đồng, bên cạnh đó phản ánh tín ngưỡng sơ khai của tộc người Tày, bảo lưu các loại hình nghệ thuật dân gian của tộc người, đây chính là
cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc Tày Tác giả cho rằng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong tang ma của người Tày là một việc làm cần thiết nhằm đóng góp cho công cuộc xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn hiện nay, từ đó phát huy những mặt tích cực trên
cơ sở khắc phục những điểm còn hạn chế, tiêu cực như giảm bớt các thủ tục, nghi lễ phức tạp, những kiêng kỵ thái quá trong và sau tang lễ, để làm thế nào vừa giữ gìn được những yếu tố truyền thống, vừa phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của người dân, đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra Trong cuốn sách, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa trong tang ma của người Tày hiện nay
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu “Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam” của Hoàng Lương [83]; Tác giả Ngô Đức Thịnh
có “Tổng quan về tộc người Tày, Nùng” in trong “Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam” [116]; Tác giả Hoàng Hoa Toàn với công trình nghiên cứu
“Các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc với môi trường sinh thái” [125] và nhiều
cuốn sách, bài viết khác
Như vậy, những công trình khoa học nêu trên đã mang lại cái nhìn tổng quan về dân tộc Tày và những nét đặc trưng, đặc sắc trong đời sống văn hóa của dân tộc Tày bao gồm những giá trị văn hóa vật chất và những giá trị văn hóa tinh thần Các công trình đã khái quát bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của người Tày Với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, điều kiện cư trú và lịch sử hình thành, người Tày đã xây dựng hệ thống văn hóa vật chất đặc trưng về nhà ở, trang phục, ẩm thực… Họ cũng xây dựng một đời sống văn hóa tinh thần độc đáo, đó là một kho tàng văn học và nghệ thuật dân gian phong phú, những hình thức sinh hoạt lễ hội văn hóa văn nghệ đa dạng Với việc khảo sát các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến các vấn đề cơ bản trong văn hóa của
Trang 34đồng bào dân tộc Tày, trình bày thực trạng và nêu một số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy BSVH dân tộc Tày ở Việt Nam nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng
1.4 Đánh giá chung
1.4.1 Đánh giá kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu
Hiện nay, nguồn tư liệu về văn hóa, BSVH dân tộc, BSVH dân tộc Tày trong điều kiện KTTT khá phong phú Trong chương tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài với các nội dung chính theo trật tự lôgic, tác giả kế thừa và sử dụng
để làm cơ sở nghiên cứu cho 3 chương sau
Trước thực tế và yêu cầu phát triển nền KTTT, để phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc, trong đó có sức mạnh của văn hóa đã đặt ra những vấn đề cấp bách
xung quanh việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc Sau khi khái quát những công
trình nghiên cứu, tác giả luận án rút ra một số vấn đề liên quan đến nội dung của
luận án có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn sau đây:
Một là, những công trình được nghiên cứu thể hiện nhiều khía cạnh khác
nhau, các tác giả đã làm rõ các khái niệm về văn hóa, BSVH dân tộc, văn hóa dân tộc Tày, đặc điểm và bản chất của nền KTTT định hướng XHCN
Hai là, thông qua quá trình tiếp cận và tìm hiểu cho thấy, các tác giả đã có
cách thức khác nhau trong việc làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu về KTTT, BSVH dân tộc Tày ở Việt Nam nói chung và ở một số tỉnh Đông Bắc nói riêng
Ba là, với các công trình nghiên cứu, các tác giả đã thấy được sự cần thiết có
nhiều giải pháp khác nhau để giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày
1.4.2 Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu, một số vấn đề sau cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án và làm rõ dưới góc độ chủ nghĩa xã hội khoa học, đó là:
Thứ nhất, làm rõ các khái niệm về BSVH dân tộc, KTTT, giữ gìn và phát
huy BSVH dân tộc
Thứ hai, làm rõ những tác động của KTTT ở Việt Nam đến việc giữ gìn và
phát huy BSVH dân tộc Tày
Thứ ba, đề xuất những giải pháp cơ bản để tiếp tục giữ gìn và phát huy
BSVH dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay
Trong luận án, tác giả nghiên cứu BSVH dân tộc Tày ở 03 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn (thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam), từ đó thấy được những đặc điểm và các lĩnh vực văn hóa cần giữ gìn và phát huy ở các tỉnh để có quan điểm, giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong thời gian tới
Trang 35TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ việc tổng hợp tình hình nghiên cứu các tài liệu liên quan đến văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc Tày, đặc điểm kinh tế thị trường ở Việt Nam và một số tỉnh Đông Bắc cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau, từ đó tác giả thấy rằng, các công trình đã đề cập đến nhiều nội dung luận án cần làm sáng tỏ
Thông qua các công trình nghiên cứu, nhiều tác giả đã khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc Tày rất đặc sắc và độc đáo được thể hiện trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Những màu sắc văn hóa phong phú và đa dạng của đồng bào dân tộc Tày ở Đông Bắc được hiện hữu ngay trong cuộc sống sinh hoạt đời thường Khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, các hoạt động kinh tế của đồng bào dân tộc Tày đã có nhiều thay đổi, kinh tế thị trường của các tỉnh Đông Bắc đã có nhiều khởi sắc, từ đó sự giao thoa văn hóa ngày càng mở rộng và văn hóa dân tộc Tày đã có ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng các dân tộc khác, từ đó đóng góp vào sự phát triển văn hóa xã hội của vùng Đông Bắc nước ta hiện nay
Qua khảo sát cho thấy, các công trình có ý nghĩa rất thiết thực đối với việc nghiên cứu đề tài luận án Tuy nhiên, việc tìm hiểu những tài liệu về dân tộc Tày ở Đông Bắc cũng cho thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu dưới góc độ chủ nghĩa xã hội khoa học để thấy được văn hóa nói chung, văn hóa dân tộc Tày nói riêng có mối quan hệ với các lĩnh vực của đời sống xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, đồng thời thúc đẩy nhau cùng phát triển Mặc dù vậy, tác giả đã thấy có một số công trình nghiên cứu dưới góc độ văn hóa học, dân tộc học, xã hội học Với những công trình được tìm hiểu, tác giả tiếp tục đi nghiên cứu để xây dựng nội dung của luận án ngày càng đầy đủ hơn
Trang 362.1.1 Khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
2.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một bộ phận không thể tách rời trong cuộc sống của con người
Để có một quan niệm đầy đủ, toàn diện về văn hóa quả không phải là điều đơn giản
Có rất nhiều quan niệm đã được đưa ra vì mỗi cá nhân, mỗi tác giả lại đứng trên một góc độ khác nhau để nhìn nhận về văn hóa
Trong quan niệm của triết học mácxít, văn hóa xuất hiện từ lao động, là một quá trình biến con người thành chủ thể của sự vận động lịch sử và trở thành một cá nhân toàn vẹn, nghĩa là văn hóa gắn với phương thức sản xuất xã hội, cá nhân với cộng đồng, truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, đặc biệt là coi trọng vai trò của lao động nhất là lao động của lực lượng đông đảo nhất trong xã hội là nhân dân lao động Do vậy, văn hóa chính là một hiện tượng xã hội gắn liền với các hoạt động nhiều mặt của con người
Theo Tổng giám đốc Unesco F.Mayor: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [10; tr.29] Quan điểm trên đã khẳng định văn hóa
là cội nguồn trực tiếp của sự phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết
xã hội, văn hóa là yếu tố nội sinh của sự phát triển, văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện bản thân, đồng thời văn hóa quyết định tính cách riêng của một dân tộc, làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác Mỗi nền văn hóa đều ra đời gắn với một cộng đồng nhất định và phản ánh điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của cộng đồng ấy Nền văn hóa không tồn tại độc lập mà luôn tiếp nhận thành tựu của các nền văn hóa khác như là điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
Văn hóa được hình thành gắn với hoạt động thực tiễn của con người, nó cũng có những quy luật vận động, phát triển riêng, trong đó tính dân tộc được coi là thuộc tính cơ bản của văn hóa, phản ánh mối quan hệ giữa dân tộc và văn hóa trong điều kiện dân tộc
đã hình thành Nội lực của dân tộc, một mặt chính là nguồn nhân lực to lớn mà dân tộc
đó sở hữu, mặt khác là truyền thống, là BSVH dân tộc đã được kết tinh và hiện đại hóa
Trang 37Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa” [89; tr.431] Như vậy, lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa Để trở thành văn hóa đích thực thì những sáng tạo đó phải hướng
về các giá trị nhân văn, hoàn thiện nhận thức, nhân cách con người Các giá trị quý báu đó góp phần làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, dân tộc
Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai, tháng 7 năm 1948 thay mặt Đảng ta, đồng chí Trường Chinh đã đọc bản báo cáo nổi tiếng “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” trong đó khẳng định: “Văn hóa là một vấn đề rất lớn, bao gồm
cả văn học, nghệ thuật, khoa học, triết học, phong tục, tôn giáo” [13, tr.29]
Theo tác giả Phan Ngọc: “Văn hoá là tổng thể sống động những hoạt động sáng tạo của con người diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thị hiếu, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [96; tr.45] Như vậy, nếu không có hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động sản xuất xã hội sẽ không có văn hóa, do đó văn hóa gắn liền với phương thức tồn tại và phát triển của con người và cộng đồng người
Sinh thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có những nghiên cứu sâu sắc về văn hóa
và khẳng định “văn hóa là tổng thể toàn bộ ý thức xã hội của con người gắn với đặc điểm quốc gia dân tộc Văn hóa là các lực lượng bản chất người của con người tham gia vào cải biến tự nhiên nhằm mục đích sinh sống và tồn tại, phát triển” [87; tr.587] Như vậy, mỗi hình thái kinh tế - xã hội sẽ có một kiểu văn hóa xác định, văn hóa chính là sự sáng tạo, văn hóa là giá trị riêng của mỗi dân tộc, đồng thời là
sự biểu hiện của các lực lượng bản chất người Theo quan điểm của Kroeber và Kluckhon về văn hóa, các tác giả đã dùng chữ “Culture” để nói về văn hóa chỉ “một quá trình vun trồng hay phát triển các năng lực theo hướng tiến bộ” [141; tr.32]
Có thể nói rằng, văn hoá chính là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đạt được trong tiến trình phát triển của lịch sử, nghĩa là tất cả những gì con người tạo ra và đạt được trong quá trình tương tác với tự nhiên và xã hội là văn hoá Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính chất một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc Năm 1986, Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, phát triển nền KTTT theo định hướng XHCN, xây dựng đời sống mới Đảng ta đã khẳng định:
Trang 38Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về
tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội, kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc [29; tr.123]
Từ đây, cùng với các lĩnh vực khác, văn hoá được Đảng ta quan tâm hơn bằng những chủ trương cụ thể nhằm "Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội" [30; tr.33] Đại Hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định: "Làm cho giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực, mọi mặt hoạt động, mọi quan hệ xã hội, thành
sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển bền vững" [34; tr29] Trong giai đoạn hiện
nay, văn hoá là một mặt trận quan trọng đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng
và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, cần có những bước đi phù hợp với sự thay đổi của điều kiện thực tiễn
Từ việc tìm hiểu các quan niệm về văn hóa, theo tác giả, văn hóa là sản phẩm của lao động, bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
Như vậy, với những cách hiểu khác nhau, quan niệm về văn hóa không ngừng được bổ sung, hoàn thiện theo sự phát triển của lịch sử Văn hóa là phương thức hoạt động đặc thù của một thiết chế xã hội, là trình độ, năng lực hoạt động sống của con người Với những mối quan hệ của cá nhân với cá nhân, cá nhân với gia đình - dòng tộc, cá nhân với cộng đồng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng để hình thành những giá trị văn hoá Vì thế, văn hoá còn bao gồm hệ thống những giá trị quy định trong giao tiếp, đó là văn hoá xã hội hay gọi là văn hoá tổ chức quan hệ xã hội
2.1.1.2 Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc
Văn hóa của một dân tộc được nảy mầm, bắt rễ sâu trong đời sống lao động, sản xuất, đấu tranh sinh tồn trong suốt chiều dài lịch sử Có thể nói rằng, thước đo
vị thế, trình độ phát triển của một dân tộc chính là văn hóa Những giá trị tinh hoa cốt yếu, những sắc thái đặc thù bền vững của dân tộc gắn kết trong một nền văn hóa tạo nên BSVH dân tộc
Văn hóa của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy Bản sắc văn hóa là một sản phẩm gắn với từng bước phát triển của cộng đồng dân tộc, luôn
có xu thế hướng tới tương lai Chính BSVH Việt Nam đã giúp dân tộc ta ngày nay
có quyền tự hào về một đất nước tuy không rộng, người không đông nhưng sau những năm dài bị đô hộ vẫn giữ được bản sắc của mình Sức mạnh người dân Việt Nam có được là do biết “bảo vệ văn hóa dân tộc” [45; tr.42]
Trang 39Hiện nay, có nhiều thuật ngữ liên quan đang được sử dụng như "bản sắc dân tộc", "bản sắc văn hóa" hay kết hợp "bản sắc dân tộc của văn hóa", "bản sắc văn hóa dân tộc" Theo tiếng Hán, từ nguyên, “bản sắc” là mẫu gốc, chưa bị pha trộn, là sắc thái
tự nhiên, hồn nhiên chưa pha tạp; Từ “bản sắc” trong ngữ hệ Châu Âu là nhận dạng, dấu ấn, cá tính riêng; Theo cách hiểu nguyên nghĩa của từ "bản sắc" có nghĩa như sau: Với từ "bản" nghĩa là gốc, cái cốt lõi thuộc về phần mình như bản nguyên (nguồn gốc),
cơ bản (nền gốc)… "Sắc" nghĩa là màu, vẻ, dung mạo, sắc thái Như vậy, "bản sắc" là tính chất đặc biệt vốn có, là cái riêng để phân biệt với những cái khác "Bản sắc dân tộc" là những nét đặc trưng làm nên bản lĩnh, sắc thái, dấu ấn riêng của từng dân tộc, là cái biểu hiện tập trung diện mạo dân tộc, để nhận diện một dân tộc hay đó là những nét
để phân biệt sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác
BSVH dân tộc Việt Nam tương đối ổn định nhưng không phải bất biến mà thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử Gần đây, tốc độ biến đổi có xu hướng gia tăng Trong bản sắc đó không phải chỉ có những đặc trưng văn hóa của người Kinh mà có
sự hội tụ, sự kết tinh đặc trưng văn hóa của 54 dân tộc anh em chung sống trên đất nước Việt Nam Mặc dù mỗi dân tộc có những nét riêng nhưng lại được thống nhất
về mặt nhận thức, tư tưởng và luôn có ý thức thống nhất trong đa dạng đã trở thành nguồn sống, là động lực mạnh mẽ để BSVH dân tộc Việt Nam tồn tại và phát huy trong bối cảnh nền KTTT
Như vậy, BSVH dân tộc được hình thành trong tiến trình lịch sử với sự đóng góp của nhiều thế hệ, vì thế một cá nhân không thể đại diện cho một dân tộc, một truyền thống không thể đại diện cho mọi truyền thống và để giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta cần phải ủng hộ, tôn vinh những cái tốt đẹp, tiến bộ, đồng thời đấu tranh chống lại những cái xấu, lạc hậu, không phù hợp với điều kiện thực tiễn đang không ngừng vận động, biến đổi Trên thực tế, để xác định nội dung cụ thể của BSVH dân tộc Việt Nam là một việc làm rất khó khăn và phức tạp Mặc dù vậy, đến nay chúng ta cũng có thể liệt kê được một vài quan niệm của các nhà nghiên cứu về BSVH dân tộc Việt Nam Tác giả Bùi Thanh Quất khẳng định:
BSVH không phải là cái gì trừu tượng khó thấy, mà nó là điều được hiển lộ ra trong đời sống hàng ngày của mỗi người và cả cộng đồng, theo cách làm cho chúng ta có thể thấy và phân biệt được người Việt Nam với các cộng đồng dân tộc khác trên thế giới, từ nếp sống của mỗi thành viên trong gia đình
với nhau đến cách ứng xử của cả dân tộc với các dân tộc khác [100; tr.29]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy cho rằng “BSVH là nét riêng biệt biểu hiện ra trong nếp sống của một quốc gia hay một cộng đồng người” [22, tr.239]
Trang 40Theo tác giả Phan Ngọc: "Khái niệm BSVH đến nay vẫn được lý giải theo kiểu tinh thần luận Cần phải có một cách lý giải thao tác luận mới có những biện pháp làm việc để duy trì, phát huy các mặt tốt; chống đối, ngăn cản các mặt xấu" [95; tr.5] Theo tác giả Phan Ngọc, BSVH không phải là một vật, mà là một kiểu quan hệ, nói đến bản sắc văn hóa Việt Nam là nói đến các mặt được duy trì qua lịch sử làm thành cái quý báu của nền văn hóa này, đồng thời nhà nghiên cứu cũng đưa ra một cách tiếp cận mới, dùng khái niệm độ khúc xạ làm chìa khóa mở cánh cửa bí ẩn để giải thích sự tiếp thu và biến đổi của văn hóa Việt Nam
Nhà nghiên cứu Lê Như Hoa đã khẳng định:
BSVH là cái cốt lõi, cái đặc thù, cái định hình làm nên tính riêng biệt, độc đáo của văn hóa mỗi dân tộc BSVH của mỗi dân tộc được hình thành, bảo tồn và phát huy trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Cũng giống như bất kỳ hiện tượng tự nhiên và xã hội nào, BSVH của một dân tộc không ngừng vận động, phát triển, luôn tiếp thu, bổ sung thêm những yếu tố làm phong phú bản sắc, đồng thời gạn lọc, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, không thích hợp [53; tr.19]
Tác giả Hồ Bá Thâm cho rằng: “BSVH dân tộc, đó là một kiểu tổng hợp, kết hợp những phẩm chất, những giá trị văn hóa nội sinh và ngoại sinh tạo thành linh hồn, sức sống bền vững của dân tộc, có những nét ưu trội hơn một số dân tộc khác, mang tính ổn định trong quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc đó” [112; tr.18] Tác giả đã nhấn mạnh đến sự kết hợp các yếu tố nội sinh và ngoại sinh để tạo nên sức sống bền vững của một dân tộc Tuy vậy, tác giả chưa phân tích rõ cơ chế của sự kết hợp những phẩm chất, giá trị văn hóa nội sinh và ngoại sinh để thấy rõ vị trí của từng yếu tố trong quá trình kết hợp Mặt khác, tác giả nhấn mạnh đến "những nét ưu trội hơn một số dân tộc khác" dễ dẫn đến
sự hiểu lầm về sự cao thấp trong bản sắc văn hóa dân tộc là mầm mống của chủ nghĩa sô vanh và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã từng xuất hiện một vài lần trong lịch sử Tác giả Hồ Bá Thâm trình bày BSVH dân tộc Việt Nam được khái quát bởi những đặc trưng sau:
Thứ nhất, tính ưu trội là văn hóa nhân sinh, văn hóa chính trị - đạo đức Văn
hóa cứu nước trội hơn văn hóa lao động sản xuất; văn hóa gia đình, dân tộc trội hơn văn hóa giai cấp; tình cảm trội hơn lý trí; cái cộng đồng trội hơn cái cá nhân; nước trội hơn nhà; nhu trội hơn cương
Thứ hai, văn hóa Việt Nam là văn hóa tích hợp, mang tính chất mở là chính
nên có nhiều đạo như Nho, Phật, Lão, Ki tô ở phương Đông, phương Tây duy lý và tâm linh, có thể dung hòa để cùng phát triển