Chính vì lẽ đó, công tác vận động NVNONN có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; bảo vệ an ninh từ xa, đấu tranh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU TRANG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU TRANG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Luận văn hoàn thành không chỉ là kết quả của sự nỗ lực của riêng cá nhân tôi mà còn có sự giúp đỡ của rất nhiều người Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, bạn bè và các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trường ĐHKHXHVNV, ĐHQGHN Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo hướng dẫn của tôi: PGS.TS.Vũ Quang Hiển, người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và cho tôi những ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn
Tác giả luận văn
Trang 4Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN
NĂM 2005 14
1.1 Sự cần thiết vận động người Việt Nam ở nước ngoài và chủ trương của Đảng 14
1.1.1 Sự cần thiết vận động người Việt Nam ở nước ngoài 14
1.1.2 Chủ trương của Đảng ……… ……….20
1.2 Đảng chỉ đạo công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 2001 đến năm 2005…… ……… ……….25
1.2.1 Kiện toàn và xây dựng cơ quan quản lý người Việt Nam ở nước ngoài……… … 25
1.2.2 Một số hình thức vận động và kết quả 26
Chương 2: CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014… 41
2.1 Những yếu tố mới ảnh hưởng đến người Việt Nam ở nước ngoài và chủ trương của Đảng 41
2.1.1 Những yếu tố mới ảnh hưởng đến người Việt Nam ở nước ngoài 41
2.1.2 Chủ trương của Đảng 46
2.2 Đảng chỉ đạo công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 2006 đến năm 2014……… ……… ……… 53
2.2.1 Kiện toàn và xây dựng cơ quan quản lý người Việt Nam ở nước ngoài … 53
2.2.2 Một số hình thức vận động và kết quả 55
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 83
3.1 Nhận xét 83
3.1.1 Về các ưu điểm 83
3.1.2 Về các hạn chế 86
3.2 Một số kinh nghiệm 89
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 51 CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gần 30 năm thực hiện đường lối Đổi mới, Việt Nam đã hội nhập quốc
tế sâu rộng, thế và lực của Việt Nam đã được nâng lên một tầm cao mới Trong bối cảnh đó, một yếu tố có ý nghĩa quyết định đó là: Việt Nam phải có
đủ sức mạnh nội lực để tham gia hội nhập một cách bình đẳng trong cộng đồng quốc tế Sức mạnh nội lực của đất nước được hình thành từ nhiều yếu tố, nhưng yếu tố quan trọng nhất lại bắt nguồn từ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có cộng đồng NVNONN
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có khoảng 4,5 triệu người,
cư trú trên 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Đây là một cộng đồng phức tạp về thành phần xã hội, xu hướng chính trị, địa vị pháp lý, đa dạng về ngành nghề, tôn giáo, dân tộc Bên cạnh phần lớn luôn hướng về Tổ quốc với tinh thần xây dựng còn một số không nhỏ vẫn mặc cảm về quá khứ “vượt biên”, thành kiến hoặc thiếu hiểu biết về chế độ mới, thậm chí còn có tư tưởng hận thù cách mạng Đây là nét riêng biệt của cộng đồng người Việt ở nước ngoài so với cộng đồng kiều bào khác trên thế giới Thực tế đó đặt ra rất nhiều khó khăn đối với công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, việc vận động, phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài những năm qua còn gặp nhiều khó khăn và có những hạn chế cần khắc phục: Sự phân tích, đánh giá về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài còn chưa sâu, chưa theo kịp những chuyển biến mới; Việc triển khai thực hiện công tác vận động NVNONN còn hạn chế, bó hẹp trong các hội đoàn và cá nhân tích cực, chưa chủ động nhân rộng ra cộng đồng Các hình thức, phương pháp vận động, phát huy thiếu linh
hoạt, sáng tạo, còn có khuynh hướng nặng về khai thác, tranh thủ sự đóng góp vật chất của kiều bào hơn là quan tâm tới tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, hỗ
trợ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của kiều bào ở các nước sở tại cũng như
Trang 7khi họ về nước Nhiều tổ chức hữu quan chưa thực sự thể hiện vai trò là chỗ dựa cần thiết cho các đối tượng kiều bào gặp nhiều khó khăn của cuộc sống tha hương Công tác thông tin văn hóa mới chỉ đáp ứng được nhu cầu một bộ phận kiều bào, chưa phát huy tốt tác dụng trong ngăn ngừa, đấu tranh với những luận điệu của bọn phản động luôn chống phá công cuộc đổi mới trên nhiều phương diện Những hạn chế lớn nêu trên đã ảnh hưởng lớn tới chất lượng của việc vận động đóng góp của kiều bào đối với đất nước; nhiều kiều bào vẫn mặc cảm với quá khứ; nhiều tiềm năng, sự tâm huyết của kiều bào chưa thực sự được phát huy; thậm chí còn hạn chế đối với việc tạo cơ sở, động lực trong xây đắp mối quan hệ tình nghĩa, gắn bó giữa người Việt Nam trong nước với các thế hệ kiều bào
Chính vì lẽ đó, công tác vận động NVNONN có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; bảo vệ an ninh từ xa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống lại đất nước của bọn phản động người Việt ở nước ngoài; tăng cường quan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước, củng cố vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; khai thác mọi tiềm năng và lợi thế của kiều bào phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Việc tổng kết về mặt lịch sử, từ đó rút ra những kinh nghiệm và làm rõ những thành công, hạn chế về sự lãnh đạo của Đảng trong công tác vận động NVNONN là một yêu cầu cần thiết, là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
quan trọng Chính vì những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Đảng cộng sản Việt
Nam với công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 2001 đến năm 2014” cho Luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Về sách:
- Tác giả Vũ Ngọc Bình “Thuyền nhân Việt Nam định cư hay hồi
hương” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 1996 Cuốn sách chủ yếu
Trang 8nghiên cứu những vấn đề về người tị nạn trên thế giới, về thuyền nhân Việt Nam và quá trình ra đi cũng như hồi hương của họ, về luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam đối với thuyền nhân Cuốn sách đã thống kê nhiều số liệu
về người tị nạn trên thế giới và thuyền nhân Việt Nam; phân tích các chương trình hành động toàn diện, chương trình ra đi có trật tự Đặc biệt những số liệu
về người Việt Nam vượt biên bằng đường biển, số người hồi hương, số người còn trong các trại tị nạn, số người được đi định cư ở nước thứ ba từ năm 1975 đến 1996…
- Tác giả Trần Trọng Đăng Đàn: Người Việt Nam ở nước ngoài”, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, năm 1997 Qua 12 chương sách, 662 trang, tác giả đề cập đến các mặt, các lĩnh vực khác nhau trong đời sống của NVNONN, vấn đề pháp lí kiều dân, người Việt Nam ở khu vực Liên Xô cũ và Đông Âu Đây là một chuyên khảo nghiên cứu công phu với hệ thống tư liệu phong phú, sinh động, đề cập đến nhiều vấn đề trên các mặt, các lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội… của NVNONN từ trước cho đến những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX Ngoài ra cuốn sách còn đề cập đến số lượng và sự phân bố NVNONN giữa thập kỉ 90; đôi điều về những hoạt động chống phá dai dẳng của một số ít NVNONN đối với đất nước; vấn
đề đầu tư, pháp lý kiều dân, đời sống văn hóa, văn nghệ và thân nhân của NVNONN thời gian này
Ngoài ra, tác giả còn có công trình “Người Việt Nam ở nước ngoài
không chỉ có Việt kiều”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2005 Cuốn
sách gồm những bài chuyên luận, tiểu luận, nghiên cứu, giới thiệu mà tác giả
đã công bố trên các sách, báo, tạp chí từ đầu năm 1996 đến 2002
- Viện nghiên cứu Đông Nam Á: “Việt kiều Thái Lan trong mối quan hệ
Thái Lan - Việt Nam” của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2006 Cuốn
sách đề cập đến quá trình nhập cư của cộng đồng người Việt Nam vào Thái Lan, phong trào đấu tranh của Việt kiều Thái Lan giai đoạn cuối thế kỉ XIX,
Trang 9đầu thế kỉ XX, chính sách của Chính phủ Thái Lan với Việt kiều… Ngoài ra
còn có “Vai trò của Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam
- Lào”, của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2008
- Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao
xuất bản công trình: “50 năm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước
ngoài (1959-2009), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2009 Cuốn sách
gồm 148 trang đề cập đến lịch sử phát triển của Ủy ban Nhà nước về NVNONN 50 năm qua, một số bài viết những cảm nghĩ về Ủy ban Nhà nước
về NVNONN và công tác đối với NVNONN của những nhà quản lí, nghiên cứu nhiều kinh nghiệm trong công tác NVNON
Về đề tài khoa học:
- Đề tài “Thực trạng và một số giải pháp thu hút đầu tư của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài” của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước
ngoài nghiệm thu năm 2002 Công trình này chủ yếu nghiên cứu về tiềm năng
và môi trường đầu tư liên quan tới NVNONN, kinh nghiệm một số nước trong việc thu hút đầu tư của kiều dân Đề tài nhận định một số đặc trưng cơ bản của NVNONN về mặt xã hội, địa vị pháp lý, thái độ chính trị đối với đất nước và
về đời sống văn hóa tinh thần Bên cạnh đó, đánh giá tiềm năng của người Việt định cư ở nước ngoài trên các phương diện: thu nhập và khả năng kinh
tế, thương mại, kiều hối, chất xám… Đồng thời nêu lên thực trạng đầu tư tại Việt Nam của người VNONN, đánh giá những kết quả đã đạt được về loại hình đầu tư, quy mô đầu tư, lĩnh vực đầu tư, nguồn vốn đầu tư… chỉ rõ những tồn tại yếu kém và nguyên nhân về chính sách, pháp luật, công tác thông tin cho cộng đồng và công tác bảo hộ NVNONN, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm thu hút đầu tư của NVNONN vào Việt Nam
- Đề tài “Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài thực tiễn và
một số cơ sở lí luận” của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
năm 2003 trình bày lược sử công tác vận động NVNONN từ năm 1930-2002
Trang 10Tiếp đó là phân tích một số vấn đề nổi cộm trong công tác như: huy động đóng góp của kiều bào trên các lĩnh vực kiều hối, đầu tư, kinh doanh, từ thiện; vận động trí thức NVNONN tham gia xây dựng đất nước… Đề tài cũng giới thiệu kinh nghiệm vận động kiều dân của một số nước như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc… Qua đó nêu lên một số cơ sở lý luận, bài học và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động NVNONN
- Đề tài “Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác về người
Việt Nam ở nước ngoài đáp ứng yêu cầu của tình hình mới” của Bộ Ngoại
giao do đồng chí Trần Trọng Toàn làm chủ nhiệm cùng nhóm tác giả thực hiện và nghiệm thu năm 2008 Đề tài đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác về người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay đồng thời kiến nghị phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác về người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới
- Đề án “Thu hút chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài tham gia
đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2009-2020” của Bộ Giáo dục và Đào tạo
năm 2009 Đề án đã nêu lên thực trạng đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục đại học và tiềm lực đội ngũ chuyên gia người VNONN Qua đó nêu lên các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thu hút chuyên gia NVNONN tham gia nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về Việt Nam
- Đề tài “Lịch sử xây dựng và phát triển Bộ Ngoại giao (1945-2010)” của
Bộ Ngoại giao do PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc làm Chủ nhiệm cùng nhóm tác giả thực hiện và nghiệm thu năm 2010 Đề tài đã trình bày một cách có hệ thống
và toàn diện quá trình xây dựng, phát triển, trưởng thành và hoạt động của Bộ Ngoại giao Việt Nam từ 1945-2010 Đề tài đã có những phần giới thiệu về bộ máy tổ chức và hoạt động của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài; đề cập đôi nét về chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NVNONN
Trang 11Các Luận văn và Luận án đã bảo vệ liên quan đến đề tài:
- Luận văn: “Chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước
ngoài trong thời kì đổi mới” của tác giả Nguyễn Bảo Chung, bảo vệ năm 2008 tại
Học viện Ngoại giao Đề tài phân tích rõ chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng NVNON trong thời kì đổi mới và có những kiến nghị những chính sách cần thiết để tiếp tục tăng cường công tác vận động NVNONN
- Luận văn: “Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong
sự nghiệp phát triển đất nước thời kì đổi mới”, của tác giả Phạm Văn Hùng
bảo vệ năm 2011, chuyên ngành Quan hệ quốc tế Tác giả đi sâu nghiên cứu những đóng góp của cộng đồng NVNONN vào công cuộc phát triển đất nước trong thời kì đổi mới, trình bày một số kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp để phát huy thế mạnh, tiềm năng của cộng đồng NVNONN
- Luận văn: “Công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước
ngoài - thực trạng và giải pháp” của tác giả Trần Thị Thanh Hương bảo vệ
năm 2011, chuyên ngành Quan hệ quốc tế Luận văn đi sâu phân tích thực trạng công tác thông tin đối ngoại cho NVNONN trong thời kì đổi mới, trình bày một số kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại cho NVNONN trong thời gian tới
- Luận án “Quá trình đổi mới chính sách của Đảng đối với người Việt
Nam ở nước ngoài từ năm 1986 đến năm 2009” của tác giả Trần Thị Vui bảo
vệ năm 2011, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Luận văn đi sâu phân tích quá trình đổi mới chính sách của Đảng đối với người Việt Nam
ở nước ngoài trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2009, những thành công
và kinh nghiệm chủ yếu…
Báo và tạp chí
Liên quan tới chủ đề, thời gian qua, còn có một số bài đăng trên các tạp chí Cộng sản, Quê hương, Thông tin đối ngoại; trên các báo Nhân Dân, Đại đoàn kết, Tiền phong… Đáng chú ý là các bài viết của tác giả Nguyễn Đình
Trang 12Bin “Người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và hướng về quê hương”, (Tạp
chí Cộng sản, số 4 + 5, tháng 2 năm 2003) Bài viết phân tích tình hình cộng đồng NVNONN ở một số khu vực tập trung như các nước phương Tây, Liên
Xô cũ và Đông Âu… đồng thời đề cập đến một số chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NVNONN; một số bất cập trong việc triển khai thực hiện
chính sách và đề xuất một số biện pháp tháo gỡ những bất cập đó
Tác giả Nguyễn Phú Bình “Tiềm năng cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài” (Tạp chí Quê hương, số 10, năm 2004), “Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài và những bài học thực tế” (Tạp chí Cộng sản,
số 2, tháng 1-2005), “Những chuyển biến tích cực trong công tác vận động
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài năm 2005” (Tạp chí Cộng sản, số 2
+ 3, năm 2006)… Các bài viết của các tác giả phân tích tình hình cộng đồng NVNONN về số lượng, phân bố, thành phần; tiềm năng kinh tế, chính trị, tri thức khoa học và công nghệ; ghi nhận những thành tích đóng góp của kiều bào trong những năm kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như trong công cuộc đổi mới Nêu khái quát quan điểm, chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với kiều bào qua các thời kỳ; kết quả thực hiện những chính sách đó; chỉ ra những mặt hạn chế, khiếm khuyết và đề ra một số biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác đối với NVNONN
Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa, số 8, năm 2004 có bài “Làm tốt công tác
đối với người Việt Nam ở nước ngoài” của tác giả Nguyễn Chiến Thắng Bài
viết chủ yếu giới thiệu và phân tích nội dung Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị
về công tác đối với NVNONN ban hành ngày 26-3-2004; khái quát những chính sách của Nhà nước đối với NVNONN trong những năm gần đây; về công tác tổ chức, bộ máy thực hiện chính sách là Ban Việt kiều Trung ương sau đổi thành Ủy ban về NVNONN
Bài “Thực hiện cuộc vận động trong cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài” của tác giả Phạm Sỹ Tam đăng trên Tạp chí Cộng sản - Chuyên đề cơ
Trang 13sở, số 24, tháng 12 năm 2008 đánh giá kết quả 2 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Tác giả cho biết: Sau 2 năm thực hiện, nhìn chung cán bộ đảng viên đã nhận thức được mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc vận động, thấy rõ đây là việc làm thiết thực, thường xuyên Qua đó, tác động làm chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên ở ngoài nước, nâng cao ý thức tự giác rèn luyện đạo đức, chấn chỉnh tác phong, cải tiến lề lối làm việc, chất lượng công tác
Tác giả Hà Văn Núi “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với nhiệm vụ vận động
người Việt Nam ở nước ngoài, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Tạp chí
Thông tin đối ngoại, số 9, tr 24-26, năm 2008) đi sâu phân tích vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tác giả nêu lên một số giải pháp tiếp tục đổi mới nội dung và hình thức vận động kiều bào trong đó nhấn mạnh các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động NVNONN hương về quê hương, đất nước
Tác giả Nguyễn Thanh Sơn có bài “Trí thức Việt Nam ở nước ngoài
hướng về quê hương” (đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 7, năm
2008)… Trong bài viết, tác giả khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài thực
sự là nguồn lực quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, đặc biệt khi Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế Tác giả nhấn mạnh vai trò, thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài trên từng lĩnh vực, ở từng khu vực Những đóng góp của trí thức kiều bào với công cuộc xây dựng đất nước và những chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm khuyến khích trí thức kiều bào hướng
về quê hương
Tiếp đó, tác giả Nguyễn Thanh Sơn có bài viết “Nhìn lại 6 năm thực
hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và những vấn đề đặt ra” (đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại số 12
Trang 14năm 2010) Bài viết giới thiệu nội dung cốt lõi của Nghị quyết 36 sau đó đi vào phân tích quá trình thực hiện và kết quả bước đầu trên các mặt: công tác thông tin tuyên truyền, công tác xây dựng chính sách, pháp luật liên quan tới người Việt Nam ở nước ngoài, công tác hỗ trợ, vận động cộng đồng… Tác giả chỉ ra những hạn chế trong quá trình thực hiện Nghị quyết 36 trên một số lĩnh vực và ở một số địa phương; đồng thời nêu lên một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới để Nghị quyết 36 tiếp tục đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả
Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2, năm 2010 đăng bài “Quá trình thực hiện
Nghị quyết 38 - NQ/TW của Ban Bí thư về tổ chức Đảng ngoài nước” của tác
giả Đỗ Phương Đông Bài viết tập trung đánh giá kết quả thưc hiện công tác đảng ngoài nước từ năm 1981 đến năm 2010, nhấn mạnh những thành tựu đạt được đã góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng Bên cạnh những thành tích đạt được, công tác đảng ngoài nước cũng còn bộc lộ một số hạn chế cần sớm khắc phục, cụ thể đối với cấp ủy và đối với đảng viên; đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân chủ quan và khách quan của những hạn chế đó Phần cuối của bài viết, tác giả nêu quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và một số giải pháp xây dựng tổ chức đảng ở ngoài nước
2.2 Nhận xét chung về các công trình nghiên cứu và những vấn đề cần tập trung nghiên cứu của luận văn
2.2.1 Nhận xét về các công trình nghiên cứu
Nhìn chung ở từng chừng mực về công tác vận động NVNONN đã được đề cập trong những công trình kể trên Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về Đảng lãnh đạo công tác vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2014
Về tình hình NVNONN, cũng mới chỉ dừng lại ở từng thời điểm khi các tác giả nghiên cứu, viết bài Trong khi thực tế đời sống chính trị, kinh tế, văn
Trang 15hóa, xã hội của kiều bào rất phong phú, đa dạng, thay đổi theo thời gian cũng như bối cảnh thế giới, tình hình trong nước và nước sở tại nơi kiều bào sinh sống
Về chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NVNONN, ở mỗi công trình, bài viết mới chỉ đề cập một cách khái quát giai đoạn này hay giai đoạn khác Thực tế chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống những chủ trương, chính sách của Đảng trong thời gian từ năm 2001 đến năm 2014
Về quá trình chỉ đạo thực hiện công tác vận động của Đảng và Nhà nước đối với NVNONN từ năm 2001 đến năm 2014 cũng chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh trong việc vận động NVNONN Những công trình và bài viết công bố trước năm 2004, tức là trước khi có Nghị quyết
36 của Bộ Chính trị về công tác đối với NVNONN, phần lớn tiếp xúc nguồn tài liệu và thông tin không đầy đủ, do các văn bản của Đảng về NVNONN chưa công khai Hầu hết các bài báo, tạp chí mang tính tuyên truyền, vì vậy chỉ nêu những thành tựu mà không nói đến hạn chế hoặc nếu có là rất ít
Về đánh giá công tác vận động NVNONN của Đảng từ năm 2001 đến
2014 và đúc kết những bài học kinh nghiệm cũng chưa được công trình nào nghiên cứu một cách thấu đáo, chưa nêu được bước phát triển trên mọi lĩnh vực: nghiên cứu ban hành chủ trương, cụ thể hóa chủ trương, xây dựng bộ máy tổ chức triển khai thực hiện, hỗ trợ kiều bào ở nước sở tại, phát huy nguồn lực và vai trò của kiều bào với quê hương, đất nước
2.2.2 Những vấn đề luận văn cần đi sâu nghiên cứu
Trước tiên luận văn trình bày sự cần thiết phải vận động NVNONN trong
đó nêu lên 1 số khái niệm: Việt kiều, kiều bào, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Người Việt Nam ở nước ngoài; những thế mạnh của NVNONN…
Luận văn tập trung nghiên cứu những chủ trương và quá trình Đảng chỉ đạo công tác vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2014 Qua đó làm rõ những kết quả to lớn đã đạt được của công tác trong giai đoạn này
Trang 16Bước đột phá trong công tác vận động NVNONN của Đảng được đánh dấu bằng Nghị quyết số 36 - một Nghị quyết công khai của Bộ Chính trị ban hành năm 2004 Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài Luận văn
đã đi sâu phân tích nội dung của Nghị quyết 36 và một số chỉ thị, nghị định, thông tư của Đảng và Nhà nước liên quan đến NVNONN để nêu bật quá trình vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2014
Luận văn đánh giá những kết quả thực hiện công tác vận động NVNONN
từ năm 2001 đến năm 2014, nêu rõ những thành tựu và hạn chế trong từng lĩnh vực: ban hành và cụ thể hóa chủ trương; quá trình tổ chức thực hiện công tác vận động; thu hút nguồn lực NVNONN về đầu tư kinh doanh, tri thức khoa học, kiều hối, từ thiện, du lịch… Trên cơ sở đó, luận văn nêu lên một số kinh nghiệm trong công tác vận động của Đảng và Nhà nước đối với NVNONN
3 Mục đích, nhiệm vụ
3.1 Mục đích
Khôi phục lại quá trình Đảng lãnh đạo công tác vận động NVNONN từ năn 2001 đến năm 2014, trên cơ sở đó tổng kết, rút ra những thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm để phục vụ công tác này trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp và hệ thống hóa tư liệu làm rõ quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về công tác vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2014
- Phục dựng lại quá trình Đảng chỉ đạo công tác vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2014
- Nêu lên một số thành tựu, hạn chế trong công tác vận động NVNONN
của Đảng
- Rút ra các kinh nghiệm chủ yếu để phục vụ công tác vận động
NVNONN trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Trang 17Luận văn nghiên cứu các chủ trương, chính sách và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng từ năm
2001 đến năm 2014
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về mặt nội dung: Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong công tác vận động NVNONN bao gồm hoàn cảnh lịch sử, chủ trương và quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện công tác vận động NVNONN
- Về mặt không gian: NVNONN bao gồm các nước trong khu vực và trên thế giới nhưng tập trung vào một số cộng đồng lớn như Hoa Kì, Pháp, Séc, Canada, Pháp, Úc, Nga, Ba Lan, Đức, Thái
- Về mặt thời gian: Chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2014, thời kì từ Đại hội Đảng lần IX tới nay
5 Cở sở lí luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Cơ sở lí luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác dân vận và đại đoàn kết dân tộc, các quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước cũng như các chủ trương, chính sách về công tác vận động NVNONN Về mặt thực tiễn, luận văn dựa trên thực tiễn mọi mặt đời sống của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và thực tiễn công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 2001 đến năm 2014
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gích là chủ yếu Đồng thời kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như thống kê, so sánh, đối chiếu, tổng kết thực tiễn, phương pháp phân tích tài liệu…
5.3 Nguồn tư liệu
- Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX, X, XI, những chỉ thị, nghị quyết, quyết định, nghị định của Trung ương, Bộ Chính trị
Trang 18và Chính phủ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; về đại đoàn kết dân tộc; về Mặt trận; về dân vận trong thời kỳ đổi mới
- Các văn bản của Chính phủ, của Bộ Ngoại giao, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài ban hành có liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài
- Một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đã được công bố, xuất bản
- Một số bài báo liên quan đến đề tài được đăng tải trên Tạp chí Cộng
sản, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Thông tin đối ngoại, Tạp chí Quê hương,
Báo Nhân dân, Báo Tiền phong, Báo Đại đoàn kết, các trang web của một số
báo, tạp chí…
6 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, cấu trúc của luận văn được chia làm ba chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo công tác vận động người Việt
Nam ở nước ngoài của Đảng từ năm 2001 đến năm 2005
Chương 2: Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng
từ năm 2006 đến năm 2014
Chương 3: Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu
Trang 19Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Sự cần thiết vận động người Việt Nam ở nước ngoài và chủ trương của Đảng
1.1.1 Sự cần thiết vận động người Việt Nam ở nước ngoài
- Hoàn cảnh người Việt Nam ra nước ngoài
Khái niệm “Người Việt Nam ở nước ngoài” lần đầu tiên được giải thích một cách chính thức trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 Điều 2 khoản
3 định nghĩa “Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài” [57] Trong Luật quốc tịch Việt Nam, Quốc hội thông qua năm 2008, Điều 3 quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam
cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài; Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [58, điều 3]
Cách đây hàng trăm năm đã có người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống Theo lịch sử ghi lại thì hoàng tử Lý Long Tường, con thứ hai của vua
Lý Anh Tông, đã sang Cao Ly tị nạn từ thế kỷ thứ XII Đến thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX cùng với lịch sử truyền giáo của các nước phương Tây và việc xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp, phạm vi cư trú của người Việt Nam ra nước ngoài được mở rộng Thời kỳ này, có một số tín đồ đạo Thiên chúa từ Việt Nam di cư sang Siam (Thái Lan), nhiều người di cư sang Pháp và một số thuộc địa của Pháp như Tahiti, Niu Dilân
Cuối thế kỷ XIX và nhất là đầu thế kỷ XX số người Việt Nam ra nước ngoài tăng lên về số lượng và đặc biệt là về chất lượng Cùng với việc mở
Trang 20rộng kiều cư ra các nước châu Á là các phong trào hoạt động yêu nước mà rầm rộ nhất là phong trào Đông Du Phan Bội Châu hoạt động tại Nhật Bản và Trung Hoa từ năm 1904 cho đến năm 1925; cũng từ năm 1904, Tăng Bạt Hổ xuất dương sang Nhật mưu đồ cứu nước, rồi bôn ba ngót 20 năm ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và đến cả nước Nga; Nguyễn Thượng Hiền từ năm
1907 và Phạm Hồng Thái từ năm 1918 đã trở thành một chí sĩ người Việt Nam ở nước ngoài chiến đấu cho độc lập dân tộc và hy sinh ở Trung Quốc…Bên cạnh sự hoạt động của người Việt Nam ở nước ngoài thuộc các nước phương Đông, người Việt Nam ở các nước phương Tây cũng có nhiều hoạt động sôi nổi Có một số nhân vật lỗi lạc đã trở thành niềm tự hào của người Việt Nam ở nước ngoài đó là Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh …và đặc biệt là Nguyễn Tất Thành Từ năm 1911, Người đã sống và hoạt động cách mạng trên các châu lục và trở thành Nguyễn Ái Quốc
- một nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, nhiều người Việt Nam yêu nước đã vượt biển đến vùng đông bắc Thái Lan để hoạt động chống thực dân Pháp Cùng thời gian này, một số người Việt Nam khác cũng bị thực dân Pháp đưa sang Lào và Campuchia làm phu đồn điền Thời kỳ
Mỹ xâm lược Việt Nam 1954-1975 số người Việt Nam ra nước ngoài tăng hơn, chủ yếu là để học tập và một phần là ra đi để trốn quân dịch Cho đến khi
Mỹ thất bại ở miền Nam Việt Nam, toàn bộ ngụy quyền, ngụy quân sụp đổ thì
cả một làn sóng di cư ồ ạt từ Việt Nam ra nước ngoài, mà trước hết là đến Mỹ, Canada, Ôxtrâylia, Pháp… đã làm cho số lượng người Việt Nam ở nước ngoài tăng vọt
Những năm 1975-1980, cuộc di cư ồ ạt do thất bại của Mỹ ở Việt Nam
đã trở thành những đường dây vượt biên theo nhiều cách Theo thống kê của
Cơ quan Cao ủy tị nạn Liên hợp quốc (UNHCR) thì từ năm 1975 đến năm
1991, có hơn một triệu người Việt Nam di cư ra nước ngoài Năm 1979 là
Trang 21năm có người ra đi nhiều nhất (khoảng hơn 20 nước ngoài do sự kiện xung đột quân sự tại biên giới phía Bắc và những biến động tại Campuchia, tại mặt trận biên giới Tây Nam; có một phần nhỏ đi bằng đường bộ, nhưng chủ yếu đi bằng đường thủy và họ được gọi là “vạn người”), trung bình có hơn 1,5 vạn mỗi tháng Số người này đến Hồng Kông, Thái Lan, Malaixia, Philippin, Inđônêxia, Nhật Bản và chính quyền ở đây chỉ cho “tạm trú” trong các trại tị nạn để được chọn chuyển đi định cư ở nước thứ ba Và cũng theo UNHCR cho biết đến tháng 2-1985, các nước phương Tây đã tiếp nhận 555.573
“thuyền nhân” từ các tỉnh, thành thuộc miền Nam Việt Nam
Đến nay, hiện có “gần 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, lao động, học tập tại 109 nước và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới” [24] Do nhu cầu của cuộc sống, trên 2/3 người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch
sở tại Có thể phân chia cộng đồng làm 3 khu vực với những điểm khác biệt tương đối rõ:
Số lượng và sự phân bố người Việt Nam ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật và Ôxtrâylia chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi sự kiện Mỹ thất bại tại Việt Nam hồi tháng 4-1975 Phần lớn cộng đồng đã hòa nhập, ổn định về địa vị pháp lý và kinh tế, có tiềm năng về tri thức, có khả năng giúp mở rộng quan
hệ, mở thị trường Tuy vậy đây cũng là nơi tập trung nhiều người có quan hệ với chính quyền cũ hoặc gắn bó quyền lợi với chế độ thực dân, thù hận, mặc cảm với chính quyền cách mạng
Khu vực các nước láng giềng Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, một số nước Đông Nam Á cộng đồng hình thành sớm, gắn bó với trong nước, tinh thần cách mạng cao, có nhiều đóng góp cho các cuộc kháng chiến của dân tộc Nhìn chung điều kiện kinh tế kiều bào nơi đây còn khó khăn hơn các khu vực khác, ít người được học cao
Trong khi đó kiều bào ở các nước thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu lại có những nét đặc thù riêng Cộng đồng hình thành chủ yếu sau năm 1990
Trang 22kể từ khi chế độ XHCN ở các nước trên không còn, phần lớn là cán bộ, học sinh được cử đi công tác, học tập và lao động đã ở lại Những năm 1980-1989
ở đây mới có khoảng 2000 người Năm 1990 tăng lên 6000 người và hiện nay ước tính có khoảng 300.000 người [25, tr.34] Tâm lý chung của kiều bào ở khu vực này là sẽ trở về Việt Nam khi điều kiện làm ăn khó khăn hoặc khi đã tích lũy được một số vốn nhất định
- Sự cần thiết vận động người Việt Nam ở nước ngoài
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, kể từ khi thành lập Đảng cho đến nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng lớn mạnh, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển của đất nước Trong công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nhiều kiều bào và nhiều tổ chức quần chúng của người Việt Nam ở ngoài nước không ngại khó khăn và cách trở, luôn hướng về Tổ quốc bằng những “tấm lòng vàng” và hành động thiết thực
Hiện nay “có gần 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, lao động, học tập và công tác ở hơn 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới” [24]; trong đó, trên 80% ở các nước công nghiệp phát triển Đa số người Việt Nam
ở nước ngoài đoàn kết, phát huy truyền thống và bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tôn trọng luật pháp, phong tục tập quán của nước sở tại; tích cực đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước Các tổ chức hội, câu lạc bộ, ban liên lạc… của người Việt Nam ở nước ngoài được hình thành và ngày càng phát triển Hiện có trên 1.000 tổ chức hội, đoàn, câu lạc bộ… chủ yếu là của kiều bào ta đang hoạt động; có hàng trăm tổ chức đảng, tổ chức quần chúng chủ yếu của cán bộ, đảng viên, lưu học sinh, người lao động Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc các tổ chức thuộc hệ thống chính trị trong nước Nội dung sinh hoạt đa dạng, phong phú như: văn hoá, thể thao, trao đổi học thuật, giao lưu, nắm bắt thông tin, quyên góp ủng hộ, giúp đỡ đồng bào trong và ngoài nước…
Trang 23Hiện có trên 400.000 trí thức kiều bào, chiếm gần 10% số người Việt Nam
ở nước ngoài, họ là chuyên gia giỏi đang làm việc ở những lĩnh vực công nghệ cao: điện tử, sinh học, vật liệu mới, hàng không vũ trụ… nhiều người nắm giữ những vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công
ty kinh doanh của các nước và các tổ chức quốc tế Đại đa số trí thức Việt kiều dù sống xa Tổ quốc, nhưng luôn nuôi dưỡng, giữ gìn và phát huy tinh thần yêu nước, hướng về cội nguồn và dòng tộc; nhiều người đã đóng góp vật chất, tinh thần cho
sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Ngày nay, họ luôn mong muốn làm nhịp cầu giúp đất nước tiếp thu công nghệ tiên tiến, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa…
Các doanh nhân là người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều lợi thế tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam Họ đã tích cực vận động cho việc ký kết các hiệp định thương mại song phương, đa phương giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế; giúp doanh nghiệp trong nước tìm hiểu thị trường, pháp luật kinh doanh và thúc đẩy quan hệ với các đối tác Các
dự án đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài hiện đã có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước với các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xây dựng, giáo dục, tài chính… lượng kiều hối do người Việt Nam ở nước ngoài gửi về hằng năm trên dưới 10 tỷ USD đã góp phần thiết thực vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm… cho đất nước
Tại thời điểm Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, phong trào yêu nước hướng về biển, đảo Tổ quốc của người Việt Nam ở nước ngoài như một làn sóng rất mạnh mẽ và xúc động Bằng các hình thức như mít-tinh, biểu tình, diễn đàn, tọa đàm, quyên góp… đã khơi dậy tinh thần đoàn kết, hướng về nguồn cội, thể hiện quyết tâm và tinh thần Tổ quốc là trên hết
Lúc sinh thời, bằng trải nghiệm hoạt động cách mạng với thực tiễn cực
kỳ phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra vị trí, ý nghĩa
Trang 24và sức mạnh của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Bác là tấm gương
về đoàn kết, đồng hành và tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của trí thức là Việt kiều yêu nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; qua đó, Người gắn bó
và kết giao với nhiều nhà hoạt động xã hội tiêu biểu của các nước có cảm tình
và ủng hộ cách mạng Việt Nam Nhờ thấu hiểu tấm lòng yêu nước của kiều bào, Bác luôn dành tình cảm đặc biệt đối với họ Năm 1946, trong “Thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm”, Người đã đánh giá cao tấm lòng của những người con đất Việt tuy ở nơi đất khách quê người, nhưng lòng vẫn yêu mến quê hương đất nước: "Còn Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng Đó là nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà như thế" [48, tr.245]
Tuy nhiên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng phức tạp về thành phần xã hội, xu hướng chính trị và đa dạng về nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc, đặc biệt bị chi phối, phân hoá bởi sự khác biệt về giai tầng, chính kiến và hoàn cảnh ra đi cũng như cư trú ở các địa bàn khác nhau Chính
vì vậy, tính liên kết, gắn bó trong cộng đồng không cao; cộng đồng sinh sống phân tán, sinh hoạt cộng đồng có khó khăn, việc duy trì tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống đang là thách thức lớn đối với tương lai của cộng đồng Dù được coi là thành đạt nhanh ở Mỹ và phương Tây, tiềm lực kinh tế của cộng đồng còn hạn chế, thu nhập bình quân đầu người nhìn chung thấp so với mức bình quân của người bản xứ (55% người Việt có cuộc sống
ổn định, nhiều người vẫn phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội)
Ở một số nước, địa vị pháp lý của người Việt Nam chưa vững vàng nên cộng đồng rất dễ bị tổn thương trước những hành động bài xích, phân biệt đối
xử, kỳ thị chủng tộc Sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của bà con Ngoài ra, kiều bào còn phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng, chiến tranh, xung đột Có một bộ phận kiều bào do chưa hiểu đúng về tình hình đất nước nên còn có thái độ tiêu cực hoặc dè dặt đối với đất
Trang 25nước, thậm chí có một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức còn
ít, chưa phản ánh đúng tiềm năng của cộng đồng NVNONN
Tuy nhiên, đáng chú ý là dù sống xa đất nước, đa số đồng bào có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, có ý thức giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hoá và luôn luôn hướng về Tổ quốc Nhiều người đã có những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Đông đảo bà con hoan nghênh công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước, mong muốn đất nước cường thịnh, sánh vai với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; nhiều người đã về thăm gia đình, quê hương, tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, nhân đạo, từ thiện…[39, tr.4]
Từ thực trạng của người Việt Nam ở nước ngoài đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần có những chủ trương, chính sách nhất quán, đúng đắn, phù hợp nhằm quy tụ kiều bào vào trong khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.1.2 Chủ trương của Đảng
Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã thu được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, tạo ra thế phát triển mới của đất nước Đó là những điều kiện thuận lợi để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đồng tâm nhất trí đưa nước ta ra khỏi lạc hậu, nghèo nàn và tiếp tục phát triển Đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề mới cần quan tâm giải quyết
Tháng 4 năm 2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã diễn ra với chủ đề “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa”, tự nó đã nói lên vai trò, tầm quan trọng của công tác đoàn
Trang 26kết, phát huy sức mạnh quần chúng trong tình hình mới Đại hội chủ trương:
“thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đương công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thóng nhất vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những ý kiến khác không trái với lợi ích chung của dân tộc, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội Thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành Đổi mới và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, đặc biệt là các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phân phối, tiêu dùng, bảo đảm quyền lợi
và trách nhiệm công dân” [37]
Nhằm củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vững bước đi lên CNXH, ngày 12-3-2003, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết số 23-NQ/TW về phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nghị quyết nêu rõ quan điểm:
- Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu
Trang 27và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất
Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai
Bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước; xem đó là những yếu tố quan trọng
để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị
mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu [4]
Riêng đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, Nghị quyết khẳng định:
Có chính sách động viên và tạo điều kiện cho người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương tham gia xây dựng đất nước Khuyến khích đồng bào đầu tư về trong nước, có chính sách thu hút, phát huy sự đóng góp của trí thức Việt kiều Vận động đồng bào chấp hành tốt pháp luật ở các nước sở tại, đồng thời có biện pháp tích cực bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đồng bào Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền về tình hình trong nước và các chủ trương, chính sách của Nhà nước ta trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Có chính sách khen thưởng người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều thành tích đóng góp cho Tổ quốc [40, tr.85-86]
Trang 28Tình hình cộng đồng NVNONN đã có nhiều thay đổi mạnh mẽ theo hướng ngày càng gắn bó với quê hương, đất nước Công tác vận động NVNONN đã có nhiều chuyển biến tích cực với nhiều chính sách được ban hành nhằm tạo thuận lợi và bảo đảm lợi ích chính đáng của kiều bào Tình hình mới đòi hỏi phải tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác này nhằm xây dựng, củng cố cộng đồng NVNONN phát triển ổn định và hội nhập tốt với xã hội sở tại, bảo hộ lợi ích chính đáng của đồng bào, động viên
và hỗ trợ đồng bào giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc, khuyến khích sự tham gia đóng góp của kiều bào cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để đáp ứng yêu cầu công tác đó và tạo sự nhận thức, tư duy mới về cộng đồng NVNONN và công tác vận động NVNONN, ngày 26-3-2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Nghị quyết số 36-NQ/TW là một nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt
và ý nghĩa chiến lược lâu dài, trong đó Đảng ta đã kế tục những quan điểm cơ bản của Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị năm 1993, đồng thời nêu bật tư duy đổi mới về cộng đồng NVNONN và công tác đối với NVNONN Nghị quyết
là kim chỉ nam cho hành động của Đảng và Nhà nước, các bộ, ngành và địa phương, đồng bào ở trong và ngoài nước về công tác đối với NVNONN trong tình hình mới Đây là Nghị quyết công khai đầu tiên của Đảng về công tác đối với NVNONN Nghị quyết 36-NQ/TW có ý nghĩa rất lớn đối với công tác vận động NVNONN
Trước hết, Nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với công tác này và khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng luôn coi cộng đồng “người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời
và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước” [18] Nghị quyết đã nêu trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích
Trang 29chính đáng của đồng bào ta: “Nhà nước có trách nhiệm thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lí để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế” [18] Bên cạnh việc đề cao vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với cộng đồng NVNONN, Nghị quyết cũng đã xác định rõ trách nhiệm của bà con như: “Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc” [18].
Thứ hai, Nghị quyết là cơ sở chính trị, pháp lí cho việc kiện toàn bộ máy, cơ chế phối hợp trong xây dựng và thực thi các thể chế pháp luật nhằm thúc đẩy công tác về NVNONN
Thứ ba, Nghị quyết góp phần tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khơi dy trong cộng đồng NVNONN lòng yêu nước, tự hào dân tộc, cùng chung sức xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hùng cường, một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Thứ tư, Nghị quyết đã chỉ rõ cộng đồng NVNONN là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước Nghị quyết đã chỉ rõ trách nhiệm của bà con, trước hết là yên tâm làm
ăn, ổn định cuộc sống, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau… phải được đặt lên trước, sau đó tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của mỗi người mà đóng góp xây dựng cho quê hương, đất nước Nghị quyết cũng khẳng định: Mong muốn của Đảng, Nhà nước là bà con yên tâm làm ăn, hội nhập… rồi tùy theo khả năng
và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước
Trang 30So với Nghị quyết 08, Nghị quyết 36 lần này của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều điểm mới Đây là một Nghị quyết công khai đầu tiên của Đảng đề cập toàn diện các vấn đề liên quan đến công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới Việc ra Nghị quyết công khai không chỉ tạo thuận lợi cho việc phổ biến, nghiên cứu, quán triệt trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tới bà con trong nước cũng như bà con ở nước ngoài, mà còn là một biểu hiện sinh động về sự đổi mới công tác đối với NVNONN Nghị quyết 36 trong
khi tiếp tục khẳng định “cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ
phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” (Nghị quyết 08)
và “là nguồn lực của dân tộc” (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX), đã chỉ
rõ cộng đồng là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước Đồng thời nhấn mạnh và đề cao vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong công tác bảo hộ đối với kiều bào Đây được coi là điểm mới quan trọng về chủ trương và phương hướng công tác Điều này khẳng định sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng kiều bào ta ở nước ngoài Chúng ta phải hiểu được một cách thấu đáo những tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của bà con để
có thể đáp ứng, thể hiện đầy đủ tình cảm và trách nhiệm của Tổ quốc - Đất
mẹ đối với những người con xa nhà Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị mà các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể ở Trung ương và địa phương phải quán triệt và thống nhất hành động
1.2 Đảng chỉ đạo công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài
từ năm 2001 đến năm 2005
1.2.1 Kiện toàn và xây dựng cơ quan quản lý người Việt Nam ở nước ngoài
Để tăng cường hơn nữa công tác vận động NVNONN, ngày 30-10-2002,
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 990/QĐ-22TTg thành lập Quỹ hỗ trợ,
Trang 31vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại
giao Quỹ được ngân sách nhà nước cấp 7 tỷ đồng kinh phí hoạt động ban đầu Kinh phí bổ sung hàng năm cho Quỹ được cấp căn cứ vào dự toán kinh phí thực hiện các dự án được phê duyệt sau khi đã trừ đi các nguồn tài chính có được từ tài trợ, viện trợ và đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các nguồn khác Quỹ hoạt động nhằm
hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập vào xã hội và đất nước nơi
cư trú, giúp bà con ổn định cuộc sống, giữ gìn truyền thống dân tộc và hướng về quê hương
1.2.2 Một số hình thức vận động và kết quả
- Cụ thể hóa Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị
Nhằm nhanh chóng tổ chức thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị,
ngày 23-6-2004 Thủ tướng Chính phủ đã đề ra Chương trình hành động thực
hiện Nghị quyết 36 và ký Quyết định số 110/2004/QĐ-TTg thông qua Chương
trình hành động, đồng thời chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng chương trình hành động cụ thể của mình trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Chương trình hành động của Chính phủ gồm 11 nội dung: Công tác triển khai, quán triệt và tuyên truyền sâu rộng về Nghị quyết; Các biện pháp, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại; Tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài gắn bó hơn nữa với quê hương, đất nước; Phát huy tiềm năng tri thức của người Việt Nam ở nước ngoài; Phát huy tiềm năng của người Việt Nam ở nước ngoài trong hợp tác kinh tế, đầu tư, kinh doanh;
Về việc dạy và học tiếng Việt cho thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài; Tăng cường các hoạt động giao lưu giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước; Về chính sách khen thưởng người Việt Nam ở nước ngoài; Tiếp tục đổi mới phương thức vận động người Việt Nam ở nước ngoài Trong đó, tập trung vào các vấn đề sau:
Trang 32Thứ nhất, xác định trách nhiệm, nhiệm vụ Bộ, ngành, các địa phương
Yêu cầu các Bộ ngành chủ động xây dựng, kế hoạch, lộ trình thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ, có những bước đi và biện pháp cụ thể nhanh chóng đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống
Thứ hai, tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa các cấp, các
ngành từ trung ương tới địa phương, trong nước và ngoài nước, giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức đoàn thể quần chúng; khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ trong xây dựng chính sách, thiếu thông thoáng trong qui định, thủ tục hành chính, tình trạng một số chính sách không được quán triệt và thực hiện đầy đủ ở một số ngành và địa phương tác động tới tâm tư, tình cảm cũng như lợi ích chính đáng của bà con
Thứ ba, kiện toàn bộ máy cơ quan chuyên trách, cơ quan ngoại giao và
các cơ quan có liên quan trực tiếp tới công tác đối với kiều bào, đặc biệt các
cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài cần tăng cường mạnh mẽ tiếp xúc, vận động, tuyên truyền phố biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tới bà con, đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài, kiện toàn bộ phận làm công tác với cộng đồng, tạo thuận lợi, giải quyết nhanh chóng các yêu cầu chính đáng và hợp pháp của bà con
Thứ tư, yêu cầu các cơ quan rà soát các chính sách hiện có và đề ra các
chính sách, biện pháp mới hữu hiệu nhằm thể chế hoá những ưu đãi đối với kiều bào, từng bước đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chính đáng của bà con, mong muốn được đối xử bình đẳng như người Việt Nam ở trong nước
Chương trình hành động của Chính phủ được ban hành có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Bộ Chính trị
về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống
Trang 33Ngoài Chương trình hành động của Chính phủ, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Bộ Ngoại giao, cơ quan trực tiếp quản lý về người Việt Nam ở nước ngoài, các tỉnh trong thành trong nước cũng xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, trong quá trình triển khai Nghị quyết và Chương trình hành động của Chính phủ, còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém trong việc nắm tình hình người Việt Nam
ở nước ngoài, nhất là ở từng địa bàn và các đối tượng cụ thể; trong công tác thông tin, tuyên truyền cho cộng đồng cũng như trong việc chăm lo, hỗ trợ kiều bào hội nhập và ổn định cuộc sống, giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam
Bộ máy tổ chức, cán bộ và kinh phí dành cho công tác này, cả ở trong và ngoài nước, chưa đáp ứng với tình hình và nhiệm vụ đặt ra Nhiều cơ quan ban, ngành vẫn còn có nhận thức coi công tác vận động cộng đồng là nhiệm
vụ của cơ quan chuyên trách, chưa xác định rõ đó là nhiệm vụ của chính mình Việc phối hợp công tác đã được nâng lên một bước song chưa tạo được cơ chế phối hợp chặt chẽ và thông tin đầy đủ, thường xuyên; chưa có những biện pháp hữu hiệu đấu tranh chống lại những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích của dân tộc, gây chia rẽ trong cộng đồng, phá hoại quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa Việt Nam và nước sở tại Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, tính mạng, tài sản của người Việt Nam ở nước ngoài; phòng chống sự móc nối, lôi kéo người Việt Nam ở nước ngoài vào các hoạt động chống Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch cần được quan tâm hơn nữa
Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và các bộ, ban, ngành, cấp ủy và chính quyền địa phương ở mức độ khác nhau đã tổ chức quán triệt Nghị quyết cho các cán bộ chủ chốt, đã bám sát nội dung Nghị quyết và tình hình thực tế để xây dựng
Trang 34chương trình, kế hoạch thực hiện của cơ quan, đơn vị mình, đồng thời phân công trong lãnh đạo trực tiếp chỉ đạo và tổ chức triển khai Nghị quyết
Nhìn chung, sự chỉ đạo của Đảng về công tác vận động với người Việt Nam ở nước ngoài là: công tác phải thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, mọi người Việt Nam ở trong nước và ở ngoài nước cần phát huy tốt truyền thống đó Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời
và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của kiều bào trên cơ sở pháp luật của Việt Nam, pháp luật nước sở tại và luật pháp quốc tế Nhà nước Việt Nam hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng ổn định và phát triển bền vững Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài cần mang tính đồng
bộ, công tác nghiên cứu xây dựng chính sách là cơ sở của công tác vận động kiều bào Công tác là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, coi đây là nhiệm vụ quan trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng trong việc vận động NVNONN - một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam Chương trình của Chính phủ, thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị có đề cập: “Kiến nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận kiện toàn, củng cố và tăng cường tổ chức bộ máy nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới”[62, tr 26]
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đã đề ra “Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện
Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” đã triển khai chương trình này trong hệ thống Mặt trận các cấp và
Trang 35các tổ chức thành viên của Mặt trận Đã phối hợp tổ chức Hội nghị quán triệt Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị ở các tỉnh thành phố; phối hợp với Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức giới thiệu Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị cho các tổ chức Hội người Việt Nam ở nước ngoài Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự chuyển biến trong các cấp, các ngành
và toàn xã hội về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Bên cạnh đó, các chủ trương của Đảng về công tác vận động NVNONN
đã được Quốc hội thể chế hóa trong nhiều văn bản pháp luật liên quan, được Chính phủ và các bộ, ngành cụ thể hóa bằng việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới những văn bản pháp quy quan trọng liên quan đến NVNONN như: luật về quốc tịch, đất đai, nhà ở, đầu tư, doanh nghiệp, pháp lệnh về ngoại hối, về cư trú, hồi hương… theo hướng ngày càng thuận lợi cho kiều bào và tiếp tục ban hành những chính sách, biện pháp thu hút chuyên gia, trí thức NVNONN, triển khai thực hiện nhiều họat động, phong trào… nhằm tăng cường tình đoàn kết, khơi dạy niềm tự tôn dân tộc và tình yêu đối với quê hương, Tổ quốc của kiều bào
Trong những năm 2001-2005, nhiều chỉ thị, nghị định, quyết định, thông tư của Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành được cụ thể hóa từ các chủ trương vận động của Đảng đối với NVNONN như:
Ngày 15-8-2000, Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tư pháp - Bộ Ngoại giao
- Bộ Công An có Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT/BKH-BTP-BNG-BCA,
hướng dẫn người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đầu tư theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH 10 Theo Thông tư, Nhà nước hỗ trợ tạo điều kiện cho người Việt Nam ở nước ngoài thuê đất phục vụ dự án đầu tư; miễn giảm thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập
Trang 36bổ sung, thuế nhập khẩu thiết bị, máy móc… Đồng thời thực hiện nguyên tắc một giá cho dự án đầu tư
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai kỳ họp thứ 9, Quốc
hội khóa X thông qua ngày 29-6-2001 Luật quy định: trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài có nhu cầu về nhà ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam; những người có công đóng góp với đất nước, những nhà văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam, nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, những người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam thì được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở theo quy định của Chính phủ Ngày 5-11-2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 08/2001/NĐ-CP về việc người Việt Nam định cư ở nước
ngoài mua nhà ở tại Việt Nam
Nhằm thực hiện tốt công tác vận động của Đảng đối với kiều bào, ngày
31-7-2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 144/2001/QĐ-TTg về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 210/1999/QĐ-TTg ngày 27-10-1999
về một số chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài Theo Quyết định, khi về nước, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu Việt Nam; người gốc Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài và thân nhân cùng đi (gồm vợ hoặc chồng, bố mẹ vợ hoặc chồng, con riêng của vợ hoặc chồng, con nuôi hợp pháp) thì được hưởng giá các loại dịch vụ, giá vé đi lại trên các phương tiện giao thông vận tải như áp dụng đối với người Việt Nam ở nước ngoài Người gốc Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước được miễn lệ phí nhập, xuất cảnh và được áp dụng các loại lệ phí, phí khác như người Việt Nam ở trong nước Trợ giá đối với cước vận chuyển phim ảnh, sách báo, văn hóa phẩm, ấn phẩm phục vụ kiều bào, giá vé máy bay cho các đoàn nghệ thuật trong nước đi biểu diễn phục vụ cộng đồng bằng 50% tổng số giá cước vận chuyển, giá vé máy bay thực tế thanh toán với các đơn vị vận tải
Trang 37Nghị định số 81/2001/NĐ-CP, ngày 5-11-2001 cho phép các nhà văn
hóa, nhà khoa học Việt kiều được lãnh đạo cấp Bộ, ngành, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh mời về làm việc được mua nhà ở gắn liền với quyền sử
dụng đất
Ngày 7-1-2002 của Bộ trưởng Bộ ngoại giao ra Quyết định số
24/QĐ-NC ban hành Quy chế khen thưởng kiều bào có thành tích trong củng cố, phát
triển cộng đồng và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc… Quyết định quy định đối tượng, tiêu chuẩn, các hình thức khen thưởng đối với tập thể, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài đã có nhiều đóng góp xuất sắc trong củng
cố, phát triển cộng đồng và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Tập thể
là các Hội, các tổ chức kiều bào có quan hệ với Cơ quan đại diện và trong nước
Luật đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Luật
này quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa
vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư
Luật Doanh nghiệp được quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2005 Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp); quy định về nhóm công ty Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư
Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 về đăng kí và quản lí hộ tịch
Trang 38Chỉ thị 03/2005/CT-TTg ngày 25-2-2005 về tăng cường quản lí Nhà nước
đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Sự nhìn nhận mới của Đảng cũng như việc ban hành một loạt các chính sách khuyến khích đã tạo cơ sở tinh thần và vật chất quan trọng cho công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài có bước chuyển mới, mạnh mẽ và hiệu quả hơn, thực hiện tốt hơn trách nhiệm của Đảng, Nhà nước đối với cộng đồng
- Công tác thông tin, tuyên truyền
Các chủ trương, chính sách của Đảng đối với NVNONN đã được phổ biến, hướng dẫn cho các cơ quan đại diện, các tổ chức Đảng của Việt Nam và các Hội người Việt Nam ở nước ngoài; các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế, báo chí nước ngoài tại Việt Nam Nghị quyết đã được đưa tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương với nhiều hình thức phong phú
- Tổ chức các hoạt động để đồng bào hướng về cội nguồn
Thực hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn", cuối tháng 8-2005, lần đầu tiên Ủy ban về người Việt nam ở nước ngoài đã mời các vị kiều bào có công trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ về thăm đất nước và tham dự các hoạt động nhân dịp kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2-9 Triển khai chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc, khép lại quá khứ hướng tới tương lai, ta
đã cho phép và thu xếp chu đáo cho một số nhân vật trong chế độ Sài Gòn trước đây như các ông Đỗ Mậu, Nguyễn Cao Kỳ, hoặc thiền sư Thích Nhất Hạnh, nhạc sỹ Phạm Duy được về thăm và có những hoạt động tích cực theo tinh thần trên; thúc đẩy giải quyết một số vấn đề nhân đạo do quá khứ để lại trên cơ sở đạo lý Việt Nam [21]
Hằng năm có khoảng 300 lượt chuyên gia, trí thức NVNONN về nước tham gia giảng dạy, hợp tác với trong nước Nhiều hội nghị, hội thảo với sự tham gia, đóng góp tích cực, có chất lượng của chuyên gia trí thức người Việt
Trang 39như: Hội thảo “Nối vòng tay lớn” (6-2005), Hội thảo “Tiếp tục đổi mới kinh tế
và xã hội để phát triển” (7-2005) tập hợp hơn 30 trí thức kiều bào (do Ban
Nghiên cứu của Thủ tướng cùng Uỷ ban Nhà nước về NVNONN hỗ trợ tổ
chức), Hội thảo “Chuyên gia trí thức NVNONN với sự nghiệp xây dựng quê
hương” (8-2005), Hội thảo “Cộng đồng NVNONN với sự nghiệp phát triển công nghệ thông tin nước nhà” (8-2005) Tháng 12-2005, Câu lạc bộ Khoa
học kỹ thuật NVNONN thành phố Hồ Chí Minh được thành lập với gần 200 thành viên Từ năm 2006, tổ chức VSVN (Vietnam Strategic Venture Network) với hơn 1500 chuyên gia trí thức, doanh nhân người Việt tại Silicon Valey và nhiều nước đã gửi hàng chục ngàn cuốn sách về KHCN về giúp các trường đại học
Nhằm tăng cường tình đoàn kết gắn bó với bộ phận NVNONN, NVNONN hướng về quê hương đất nước, Ủy ban về người Việt nam ở nước ngoài đã có sáng kiến cùng Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức thành công Trại hè Việt Nam 2004 cho 86 thanh niên từ 23 nước và Trại hè Việt Nam 2005 cho 90 thanh niên ở 21 nước; tổ chức thành công Đoàn kiều bào tiêu biểu với 35 vị từ 19 nước về thăm quê, chúc Tết các vị Lãnh đạo Đảng và Nhà nước và tham dự các hoạt động Tết Ất Dậu (tháng 1-2005) và đoàn đại biểu kiều bào tham dự Quốc giỗ vua Hùng (tháng 4-2005) [21]
Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh việc khen thưởng kiều bào có công trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; đưa công tác khen thưởng kiều bào đi vào nề nếp Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài đã hoàn tất hồ sơ khen thưởng kiều bào có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ đợt cuối cùng; kiến nghị và được Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ đồng ý thành lập Tổ công tác liên ngành triển khai cụ thể việc khen thưởng, đãi ngộ những kiều bào cốt cán, có công ở Thái Lan, một vấn đề lớn được kiều bào hết sức quan tâm Đã khen thưởng hoặc phối hợp giới thiệu để Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương xem xét khen thưởng hàng trăm cá
Trang 40nhân và tập thể kiều bào có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Ghi nhận sự đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài cho công cuộc xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều hình thức biểu dương khen thưởng Trong năm 2005 khoảng 400 kiều bào có đóng góp lớn cho đất nước trên các lĩnh vực đối ngoại, đầu tư, từ thiện, nghiên cứu khoa học… được trao tặng bằng khen (gấp đôi năm 2004) Trong đó, 81 bằng khen do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Di Niên tặng và 315 bằng khen do Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài tặng Tối 5-2-2005, tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội), báo Điện tử VIETNAMNET tổ chức trao tặng danh hiệu
“Vinh danh nước Việt” cho 15 kiều bào có nhiều đóng góp trong năm 2005 đối với đất nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, được bạn đọc VIETNAMNET bình chọn [21]
- Xây dựng, củng cố các hội đoàn NVNONN
Về công tác xây dựng và phát triển hội đoàn, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan chuyên trách như Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài… chỉ đạo, củng cố các Hội người Việt Nam truyền thống ở Pháp, Lào, Campuchia, Thái Lan… đồng thời hỗ trợ, khuyến khích phát triển
đa dạng các hình thức tổ chức hội đoàn với phương châm nơi nào có kiều bào, nơi đó có tổ chức Đã chỉ đạo vận động tiến tới thành lập Hội hoặc Tổng hội người Việt Nam thống nhất ở địa bàn (như ở Nga, Lào, Nhật Bản) để tăng cường sức mạnh của tổ chức trong vận động tập hợp kiều bào xây dựng cuộc sống ổn định và hướng về đất nước
Dưới sự chỉ đạo thực hiện của Đảng và các ban ngành, trong giai đoạn này, cộng đồng Người Việt Nam ở nước ngoài đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác đại đoàn kết dân tộc Tuy sống xa Tổ quốc nhưng vẫn mang trong mình dòng máu lạc hồng, tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, luôn hướng về cội nguồn, dòng tộc có tình cảm gắn bó với gia đình, quê hương xứ sở;