1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc

131 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1977, Vũ Ngọc Phan - tác giả cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam đã đề cập đến vấn đề: “Một đặc điểm trong tư duy hình tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc đời: đời người với đời co

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới TS Bùi Thị Thiên Thai, người đã dành nhiều thời gian quý báu tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã góp ý tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự giúp

đỡ, động viên của bạn bè và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Học viên

Trần Thị Mai Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung, các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các tài liệu sử dụng tham khảo đã được trích nguồn đầy đủ và chính xác

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trần Thị Mai Phương

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Phạm vi tư liệu và phương pháp nghiên cứu 15

5 Những đóng góp của luận văn 16

6 Cấu trúc luận văn 16

Chương 1 BIỂU TƯỢNG CÁ TRONG CA DAO DÂN TỘC KINH 17

1.1 Giới thuyết một số khái niệm 17

1.1.1 Khái niệm ca dao, dân ca 17

1.1.2 Khái niệm biểu tượng 18

1.2 Nguồn gốc biểu tượng cá trong ca dao 19

1.2.1 Xuất phát từ tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, tập quán người Việt Nam 19

1.2.2 Xuất phát từ sự quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên và đời sống hàng ngày của nhân dân ta 22

1.3 Vài nét khái quát về dân tộc Kinh 23

1.4 Thống kê tần số xuất hiện và giải mã biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh 25

1.4.1 Thống kê tần số xuất hiện 25

1.4.2 Giải mã biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh 26

1.4.2.1 Cá - ước mơ, khát vọng của con người 27

1.4.2.2 Cá - người phụ nữ 30

1.4.2.3 Cá - tình yêu, hôn nhân 33

1.5 Các biện pháp nghệ thuật chủ yếu được sử dụng để biểu hiện biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh 38

1.5.1 So sánh 38

Trang 6

1.5.2 Ẩn dụ 39

1.5.3 Hoán dụ 40

1.5.4 Công thức lặp 41

Tiểu kết chương 1 42

Chương 2 BIỂU TƯỢNG CÁ TRONG CA DAO MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG NÚI PHÍA BẮC 44

2.1 Biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Tày, Nùng 44

2.1.1 Vài nét khái quát về dân tộc Tày, Nùng 44

2.1.2.Thống kê tần số xuất hiện và giải mã biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Tày, Nùng 45

2.2 Biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Giáy 49

2.2.1 Vài nét khái quát về dân tộc Giáy 49

2.2.2.Thống kê tần số xuất hiện và giải mã biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Giáy 51

2.3 Biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Thái 56

2.3.1 Vài nét khái quát về dân tộc Thái 56

2.3.2.Thống kê tần số xuất hiện và giải mã biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Thái 57

2.4 Biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Mường 66

2.4.1 Vài nét khái quát về dân tộc Mường 66

2.4.2 Thống kê tần số xuất hiện và giải mã biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Mường 67

2.5 Các biện pháp nghệ thuật chủ yếu được sử dụng để biểu hiện biểu tượng cá trong ca dao các dân tộc Thái, Mường, Giáy, Tày - Nùng 73

2.5.1 So sánh 74

2.5.2 Ẩn dụ 74

2.5.3 Hoán dụ 75

Trang 7

2.5.4 Công thức lặp 75

Tiểu kết chương 2 77

Chương 3 SO SÁNH BIỂU TƯỢNG CÁ TRONG CA DAO DÂN TỘC KINH VÀ CÁC DÂN TỘC TÀY, NÙNG, GIÁY, THÁI, MƯỜNG 78

3.1 Sự tương đồng và khác biệt về nội dung 78

3.2 Sự tương đồng và khác biệt về nghệ thuật 88

Tiểu kết chương 3 101

PHẦN KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong số các thể loại của văn học dân gian thì ca dao là thể loại phong phú cả về số lượng, nội dung, chủ đề được các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau quan tâm tìm hiểu Ca dao là những sáng tác được phổ biến rộng rãi và có sức sống lâu bền, vượt qua thử thách của thời gian Ca dao phản ánh thế giới tâm hồn dân tộc đa dạng và phong phú Vì vậy nghiên cứu ca dao là phát hiện những cái hay, cái đẹp, những dấu ấn bản sắc dân tộc ẩn chứa trong lớp ngôn từ giản dị mà súc tích và góp phần bảo tồn mọi giá trị văn hóa truyền thống

Trong ca dao có rất nhiều biểu tượng đặc sắc, ẩn chứa nhiều nét văn hóa cần giải mã Biểu tượng không chỉ là một yếu tố hình thức, nó là một tín hiệu nghệ thuật ẩn chứa những quan niệm văn hóa, những tư tưởng và tình cảm được lưu giữ qua chiều dài lịch sử Biểu tượng là câu trả lời cho những câu hỏi mà giới tự nhiên đặt ra, hoặc ghi nhận những ấn tượng về thực tại đặc biệt mạnh mẽ, quan trọng và lặp lại nhiều lần Phương thức tư duy bằng biểu tượng là một sự tiết kiệm sức mạnh trí tuệ, đem đến một cảm xúc mỹ học tức thời và tồn tại bền bỉ trong suốt lịch sử nhân loại ở bất kỳ đâu có trí tưởng tượng sáng tạo tự do hoạt động

Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc với ngôn ngữ, điều kiện sinh sống, trình độ hiểu biết, phong tục tập quán, văn hóa…có những điểm giống và khác nhau Các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đều có mối quan hệ giao lưu, tác động lẫn nhau về mọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc gắn liền với sự củng cố, phát triển của cả cộng đồng các dân tộc Hiện nay, trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước thì vấn đề đoàn kết dân tộc là vấn đề rất quan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới Nhưng muốn thực hiện được tốt vấn đề này

Trang 10

thì một trong những việc cần làm là chúng ta phải đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu một cách nghiêm túc về văn hóa từng dân tộc Từ đó, sẽ có những hành động, chính sách cụ thể, phù hợp, hiệu quả.Trong qua trình tìm hiểu, chúng tôi cũng nhận thấy ca dao nói chung và thế giới biểu tượng trong ca dao nói riêng góp phần giúp chúng ta hiểu sâu sắc những nét đặc trưng văn hóa, những suy nghĩ, tình cảm của con người trong từng vùng miền, từng dân tộc, từng nền văn hóa khác nhau

Hiện nay, việc nghiên cứu biểu tượng nghệ thuật trong ca dao nói chung, nhất là trong ca dao người Việt nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu Nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh trong sự so sánh với các dân tộc thiểu số Với những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Biểu tượng cá trong

ca dao dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số v ng núi phía bắc”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề biểu tượng đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như Việt Nam nghiên cứu trên nhiều phương diện và đạt được những thành tựu

đáng kể Công trình nghiên cứu Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Tác

giả Jean Chavalier, Alain Gheerbrant đã khảo sát, thống kê và giải mã mẫu gốc “động vật” và từng biểu tượng loài vật cụ thể trong văn hóa nhân loại Trong quá trình giải mã, các tác giả luôn có sự so sánh, đối chiếu hệ biểu tượng động vật trong phạm vi, môi trường văn hóa khác nhau để chỉ rõ những tính phổ quát và cả những nét đặc thù

Các công trình nghiên cứu về biểu tượng ở Việt Nam cũng tương đối nhiều Ở đây, chúng tôi chỉ thống kê những công trình nghiên cứu về biểu tượng trong văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng

Năm 1968, tác giả Đặng Văn Lung có bài viết Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình Theo tác giả bài viết thì trong ca dao có nhiều yếu tố

Trang 11

trùng lặp như hình ảnh, chủ đề, đề tài, kết cấu, ngôn ngữ, biểu tượng…và ông

đã đặt vấn đề: “Khi nghiên cứu Thần thoại, anh hùng ca và truyện cổ tích, nhiều tác giả đã lập được những hệ thống môtíp trùng lặp và nhờ đó mà giải quyết được nhiều vấn đề lí thú Riêng trong lĩnh vực thơ ca dân gian thì còn ít người bàn tới vấn đề này Phải chăng ta có thể bắt đầu từ những yếu tố trùng lặp trong ca dao mà tìm hiểu được phần nào cái mà chúng ta gọi là “chất ca dao” [52, tr.306] Xu hướng khảo sát biểu tượng trong mối liên hệ với đặc trưng thể loại ca dao đã được đặt ra từ bài viết này

Năm 1977, Vũ Ngọc Phan - tác giả cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam đã đề cập đến vấn đề: “Một đặc điểm trong tư duy hình tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc đời: đời người với đời con cò và con bống”, tác giả Vũ

Ngọc Phan cho rằng người nông dân lao động thấy hình ảnh của mình như cái

cò nên đã mượn đời sống của con cò để biểu hiện đời sống của mình Con cá bống cũng được nói nhiều trong ca dao, dân ca nhưng không giống con cò vì con cò có thể là hình ảnh của cả trai lẫn gái còn con cá bống chỉ có thể là hình

ảnh người phụ nữ Ông viết: “Người dân lao động Việt Nam đem hình ảnh

con cò và con bống vào ca dao, dân ca là đưa một nhận thức đặc biệt về một khía cạnh của cuộc đời vào văn nghệ, lấy cuộc đời của những con vật trên đây

để tượng trưng vài nét đời sống của mình, đồng thời cũng dùng những hình ảnh ấy để khêu gợi hồn thơ”[57, tr.58]

Năm 1988, tác giả Hà Công Tài với bài viết Biểu tượng trăng trong thơ

ca dân gian đã phân tích và chỉ ra sự khác biệt giữa biểu tượng trăng trong

thần thoại, cổ tích với biểu tượng trăng trong thơ ca

Năm 1991, tác giả Trương Thị Nhàn có bài viết Giá trị biểu trưng nghệ thuật của một số vật thể nhân tạo trong ca dao Trong bài viết này, tác giả đã

khẳng định hai luận điểm: Thế giới vật thể nhân tạo trong ca dao cổ truyền

Trang 12

người Việt Nam là thế giới mang giá trị biểu trưng và cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng nghệ thuật của các vật thể nhân tạo trong ca dao

Năm 1992, tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao đã

đề cập đến một số biểu tượng trong ca dao như trúc, mai, hoa nhài, con cò, con bống Đây là công trình nghiên cứu tiếp tục kế thừa và phát triển các quan điểm trước đó để đi đến những nhận định xác đáng về giá trị biểu trưng của các biểu tượng đồng thời chỉ rõ sự khác biệt giữa văn học dân gian và bác học

về ý nghĩa của một số biểu tượng

Năm 1995, tác giả Trương Thị Nhàn với luận án phó tiến sĩ Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ không gian trong ca dao đã tiếp tục đi

sâu nghiên cứu một loạt biểu tượng không gian như rừng, núi, sông, bến…

Năm 1998, tác giả Phạm Thu Yến trong cuốn Những thế giới nghệ thuật ca dao đã nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca trữ tình dân gian theo ba

vấn đề: Phân biệt giữa biểu tượng và ẩn dụ; biểu tượng thơ ca dân gian – yếu

tố nghệ thuật đặc thù gắn liền với đặc trưng thể loại; sự hình thành và phát triển của biểu tượng

Năm 2002, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong luận án tiến sĩ Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt đã nghiên cứu biểu

tượng trong ca dao dưới nhiều góc độ khác nhau như: góc độ kí hiệu học, tu

từ học, folklore học, văn hóa học; tìm hiểu nguồn gốc của biểu tượng nghệ thuật trong ca dao người Việt; phân loại và miêu tả biểu tượng nghệ thuật trong ca dao người Việt; cấu tạo và chức năng của biểu tượng nghệ thuật trong ca dao người Việt

Năm 2010, tác giả Đỗ Thị Hòa trong luận án tiến sĩ Thế giới loài vật trong ca dao người Việt đã đi sâu tìm hiểu, khảo sát, thống kê tần số xuất hiện

và giải mã ý nghĩa biểu trưng của các loài động vật trong ca dao người Việt

Trang 13

Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong cuốn Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian đã nhận định rằng: biểu tượng là một loại

mã văn hóa tiêu biểu nhất Tuy nhiên những mã văn hóa dân gian thẩm thấu vào văn học dân gian không phải lúc nào cũng rõ ràng Việc tìm ra những yếu

tố văn hóa dân gian ẩn kín trong những tác phẩm và thể loại văn học dân gian

là một điều thú vị và cần thiết

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về biểu tượng trong văn học dân gian và ca dao người Việt Các công trình nghiên cứu biểu tượng trong văn học dân gian và ca dao các dân tộc thiểu số gần đây đã đạt được những thành tựu đáng kể Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu chuyên sâu còn chưa nhiều

Năm 1984, tác giả Vũ Anh Tuấn trong bài viết Suy nghĩ về một số biểu tượng đặc thù trong truyện cổ miền núi đã cho rằng để giải mã một số biểu

tượng phải đặt nó trong mối liên hệ với phong tục, tập quán, tín ngưỡng và lịch sử tộc người nhất định Nhưng ở bài viết này mới chỉ dừng lại ở những gợi mở ban đầu cho các thế hệ sau tiếp tục nghiên cứu

Năm 2000, tác giả Bùi Văn Thành trong luận văn thạc sĩ Thế giới biểu tượng thần thoại trong mo Mường đã phân biệt biểu tượng với hình tượng và

đi sâu giải mã một số biểu tượng thần thoại trong mo Mường

Năm 2007, tác giả Đặng Thị Oanh trong luận văn thạc sĩ Biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc H’Mông đã tiến hành khảo sát, thống kê sự xuất

hiện của biểu tượng lanh và có những giải mã thú vị về biểu tượng lanh

Năm 2010, tác giả Cầm Bá Phượng trong luận văn thạc sĩ Giải mã một

số biểu tượng trong ca dao – dân ca dân tộc Thái đã khảo sát, phân loại, miêu

tả và giải mã ý nghĩa biểu trưng của một số biểu tượng trong ca dao – dân ca dân

tộc Thái

Năm 2012, tác giả Đặng Thị Oanh trong luận án tiến sĩ Biểu tượng nước từ văn hóa đến văn học dân gian của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam đã

Trang 14

nghiên cứu về nguồn gốc biểu tượng nước trong văn hóa, văn học dân gian Thái và khảo sát, thống kê, giải mã các hướng nghĩa cơ bản của biểu tượng nước trong văn học dân gian Thái

Kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước đã tạo tiền đề lí thuyết

và thực tiễn cơ bản giúp chúng tôi có thêm nhiều hiểu biết, gợi mở quan trọng

để lựa chọn và nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Ca dao thường in đậm tâm hồn, cách sống, cách cảm, cách nghĩ của con

người từng vùng miền, từng dân tộc Nghiên cứu “Biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc” nhằm hướng tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý luận cho luận văn

- Khảo sát, thống kê tần số xuất hiện và giải mã ý nghĩa của biểu tượng

cá trong ca dao dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc để hiểu những nét đặc trưng văn hóa, những suy nghĩ, tình cảm và cách diễn đạt của con người trong từng vùng miền, từng dân tộc, từng nền văn hóa

- So sánh giá trị nội dung và nghệ thuật của biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc để thấy được

Trang 15

những đặc trưng mang tính chung, vùng miền, khu vực và những đặc tính riêng mang bản sắc của từng dân tộc

4 Phạm vi tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phạm vi tư liệu

- Nguyễn Xuân Kính chủ biên (2001), Kho tàng ca dao người Việt ( 2

tập), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội

- Trần Thị An chủ biên (2008): Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tập 17, 18, 19, Dân ca, Viện nghiên cứu Văn hóa – Viện

KHXH Việt Nam, Nxb Hà Nội

- Đặng Nghiêm Vạn (2002): Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập 1, (quyển 1, quyển 2), Nxb Đà Nẵng

- Thèn Sèn, Lù Dín Siềng, Sần Cháng (1977): Dân ca Giáy, Nxb Văn hóa Dân tộc

Cũng cần nói thêm rằng, đối tượng chính của luận văn là ca dao; song

để tập trung làm rõ ý nghĩa của biểu tượng cá, chúng tôi cũng cố gắng tìm kiếm những tài liệu có liên quan, trong đó đặc biệt đáng chú ý là tư liệu từ các thể loại văn học dân gian khác, từ phong tục tín ngưỡng dân gian cũng như các sản phẩm mỹ nghệ dân gian Chúng tôi hy vọng bằng cách đó có thể chạm đến những tầng nghĩa khác nhau của biểu tượng, đồng thời cũng có thể thấy được

sự biến đổi của các lớp nghĩa đó cùng với thời gian Trong một chừng mực có thể, chúng tôi cũng sẽ cố gắng từ góc độ bối cảnh văn hóa để đưa ra những so sánh cần thiết với biểu tượng cá trong văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản

và phương Tây

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành;

- Phương pháp khảo sát, thống kê;

Trang 16

- Phương pháp phân tích, tổng hợp;

- Phương pháp so sánh

5 Những đóng góp của luận văn

- Mở ra một hướng nghiên cứu về biểu tượng cá trong ca dao Từ đó, tạo

tiền đề cần thiết cho những công trình nghiên cứu ở cấp độ cao hơn

- Luận văn còn có ý nghĩa sư phạm thiết thực Thông qua việc tìm hiểu những ý nghĩa của biểu tượng cá trong ca dao người Việt và người dân tộc thiểu số sẽ góp phần giúp cho học sinh, sinh viên hiểu biết sâu sắc hơn về những nét văn hóa truyền thống của người Kinh cũng như một số các dân tộc thiểu số sinh sống trên đất nước Việt Nam Từ đó, sẽ giúp học sinh, sinh viên có điều kiện để khám phá ra cái hay, cái đẹp của ca dao và những nét truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình Trên cơ sở đó giáo dục cho các em lòng tự hào về bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc Bên cạnh đó, luận văn được hoàn thành sẽ cung cấp cho những sinh viên, giảng viên Ngữ Văn và những người yêu thích, nghiên cứu văn học dân gian có thêm một nguồn tư liệu để tham khảo

- Nghiên cứu của chúng tôi một mặt mang tính nhập môn, mặt khác cũng có ý nghĩa bảo lưu những “di tích văn hóa” dân tộc trước khi chúng bị mai một trước làn sóng toàn cầu hóa hiện nay Luận văn của chúng tôi do đó vừa có ý nghĩa khoa học, đồng thời cũng mang ý nghĩa phổ cập tri thức, mang tính giải trí và tính thực tiễn

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm

ba chương:

Chương 1: Biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh

Chương 2: Biểu tượng cá trong ca dao một số dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc

Chương 3: So sánh biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc

Trang 17

Chương 1 BIỂU TƯỢNG CÁ TRONG CA DAO DÂN TỘC KINH

1.1 Giới thuyết một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm ca dao, dân ca

Thuật ngữ ca dao, dân ca được các nhà nghiên cứu hiểu theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau Chúng tôi sẽ điểm qua một số cách hiểu về ca dao, dân

ca như sau:

- Tác giả Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam

đã định nghĩa về ca dao, dân ca như sau: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca” và “Dân ca là câu hát đã thành khúc điệu Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định” Tác giả Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng “dùng một bài ca dao

để hát thì bài ca dao đó sẽ biến thành dân ca” [57, tr.30]

- Tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao đã viết: “Ca

dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian Đối với ca dao, người ta không chỉ hát mà còn ngâm, đọc và xem bằng mắt

thường”[34, tr.79]

- Tác giả Cao Huy Đỉnh cho rằng: “Ngày xưa phần lớn ca dao trữ tình làm ra để hát Rồi từ những bài hát lại có những câu được tách ra thành ca dao Ca dao sinh ra, còn lại, truyền đi và biến đổi chủ yếu là thông qua sinh hoạt dân ca Chính vì vậy mà trên phần lớn ca dao trữ tình còn in rõ khuôn dấu dân ca Khuôn dấu ấy là lời đối đáp các kiểu hát tập thể của dân tộc

ta”[30, tr.43-44]

Trang 18

Như vậy, chúng ta có thể hiểu ca dao và dân ca có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau, nhắc đến ca dao là nói đến phần lời còn dân ca chính là

ca dao nhưng có thêm các làn điệu, tiếng đệm, thể thức hát nhất định

1.1.2 Khái niệm biểu tượng

Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều khái niệm về biểu tượng Chúng tôi chỉ xin trích dẫn một số khái niệm:

Theo Freud: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với

ý nghĩa tiềm ẩn của chúng…Khi ta nhận ra, chẳng hạn trong một hành vi, ít nhất là có hai phần ý nghĩa mà phần này thế cho phần kia bằng cách vừa che lấp vừa bộc lộ phần kia ra, ta có thể gọi mối quan hệ giữa chúng là có tính biểu tượng” [7, tr.XXIV]

Từ điển thuật ngữ Văn học cho rằng: “Biểu tượng là một phương thức

chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người và cuộc đời” [22, tr.24]

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam cho rằng: “Xét về mặt tu từ học, biểu tượng là những

hình tượng ẩn dụ, hay những tượng trưng Người ta quy ước ngầm với nhau:

từ ngữ này có thể được dùng để biểu thị một đối tượng khác ngoài các nội dung ngữ nghĩa thông thường của nó Trong ca dao, biểu tượng chủ yếu được tạo nên bởi các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, đề dụ, hoán dụ Những hình ảnh được sử dụng trong các phép tu từ này xuất hiện nhiều lần đến mức khi thoát khỏi các văn cảnh cụ thể, người ta vẫn cảm nhận được ý nghĩa biểu trưng của chúng, lúc đó, ta có các biểu tượng”[52, tr.330]

Trang 19

Tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian quan niệm: “Biểu tượng là một loại tín hiệu riêng, có chiều

sâu và phong phú hơn tín hiệu, giữa biểu tượng và cái được biểu trưng thường không có quan hệ phổ biến, liên tục Nó chính là cái nhìn thấy được để dẫn ta đến với cái không nhìn thấy được, nó là cái được cảm nhận cho ta liên hệ với cái đang còn mơ hồ, khó nắm bắt Thời gian và không gian làm cho tính biểu tượng mờ đi, khuất lấp nên phải biết chìa khóa (mã) mới khai mở được và hầu

như không thể giải mã một lần mà xong”[20, tr.62- 63]

Chúng tôi nhận thấy khái niệm biểu tượng của tác giả Nguyễn Thị Bích

Hà là phù hợp nên đã vận dụng khi nghiên cứu đề tài trong luận văn này

Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo quan niệm của Carl Gustav Jung

về biểu tượng: đơn giản nhất, như khi ta nhìn một từ hoặc một hình vẽ, lập tức lĩnh hội được nhiều hơn hình vẽ đó, vậy thì nó chính là biểu tượng…; hoặc quan niệm của Emil Preetorius: biểu tượng không chỉ biểu hiện bản thân nó

mà còn mang một ý nghĩa nào đó…vv

1.2 Nguồn gốc biểu tƣợng cá trong ca dao

Khi giải mã một biểu tượng, ta cũng phải đặt nó trong một tầng nền lịch

sử - văn hóa – xã hội Tuy nhiên, tìm hiểu cặn kẽ nguồn gốc của từng biểu tượng là một công việc khó khăn và phức tạp Con đường tìm hiểu biểu tượng trong ca dao thực chất là đi ngược lại thời gian để tìm hiểu những giá trị nhận thức, tư duy của các tộc người cùng với hiện thực khách quan thời họ sinh sống Theo sự tìm hiểu bước đầu, chúng tôi nhận thấy biểu tượng cá trong ca dao Việt Nam được hình thành từ các nguồn gốc sau:

1.2.1 Xuất phát từ tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, tập quán người Việt Nam

Cá từ lâu đã là một ký hiệu văn hóa trong thần thoại và tôn giáo của rất nhiều dân tộc trên thế giới, biểu tượng cho tính dục và sức sinh sản, đồng thời

Trang 20

cũng là biểu tượng sự sống và sáng tạo, cái chết và tái sinh, lưỡng thể nam –

nữ…Theo chúng tôi, hàm nghĩa văn hóa phồn thực cũng chính là nội hàm sâu

xa nhất của biểu tượng cá, xuất phát từ đặc thù của loài cá là có nhiều trứng, tỉ

lệ sống cao Người nguyên thủy vốn dĩ sùng bái khả năng sinh sản và từ đó sùng bái Tổ mẫu, vì người nữ đảm trách nhiệm vụ vĩ đại này Người nguyên thủy thậm chí không thể hiểu được đứa con từ đâu mà có, họ cho rằng do người mẹ tự sinh ra Chính sự sùng bái này đã khiến cho cá được đồng hóa với âm hộ nữ với hy vọng phụ nữ có thể có khả năng sinh sản như cá Từ

sùng bái âm hộ, người nguyên thủy chuyển sang sùng bái biểu tượng cho âm

hộ - cá Tuy nhiên đây là một lớp nghĩa cổ mà ngày nay chúng ta chỉ còn thấy

dấu vết của nó trong cách nói ám chỉ về “cá diếc” để ngầm chỉ sinh thực khí nữ

Trên nhiều di vật khảo cổ của văn hóa Đông Sơn, ta thấy người Việt đã tạc tượng cá sấu (rồng) giao hợp, ngoài ra còn có các biến thể của cá như ếch/cóc hay các cặp cá- chim/cò; cá - rùa Theo ông Nguyễn Minh San, người Phú Thọ - vùng đất tổ của người Việt, trong hội đua thuyền ở xã Đào Xá, huyện Tam Thanh “còn tạo ra biểu tượng riêng, ít thấy ở các nơi khác là con thuyền đực có dáng hình con chim, con thuyền cái có dáng hình con cá” [61, tr.96]

Cá cũng xuất hiện trong tranh Đông Hồ với nhiều màu vẻ sinh động, song không ngoài mục đích mong cầu con cháu đầy đàn, nhân khang vật

thịnh Dân ca Đông Hồ có câu: Hỡi anh đi đường cái quan, Dừng chân ngắm

cảnh mà tan nỗi sầu, Mua tờ tranh điệp tươi màu, Mua đàn gà lợn thi nhau

đẻ nhiều Có thể thấy tranh cá không được đưa vào câu dân ca, nhưng lớp

nghĩa “đẻ nhiều” thì không khác, và không hề thua kém tranh gà, tranh lợn

Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thái độ chung của mọi người trong đời sống cũng như trong văn học nghệ thuật là tránh né hoặc nói đến khía cạnh tình dục một cách hết sức thận trọng bằng lối nói ngầm ẩn, ám chỉ một cách

Trang 21

công phu, khéo léo Hàm nghĩa văn hóa phồn thực của cá cũng vì thế mờ dần theo thời gian và bị chồng xếp lên bởi các lớp nghĩa mới

Trong tín ngưỡng của người Việt Nam, cá chép cũng là sứ giả của thần tiên Hàng năm cứ vào ngày 23 tháng 12 âm lịch, người Việt Nam có phong tục cúng ông Táo Cá chép còn được coi là mang lại sự may mắn, theo tác giả Nguyễn Văn Hậu: Hội Đền Và ở xã Trung Hưng, ngoại ô thị xã Sơn Tây cứ 3 năm một lần tổ chức lễ hội cầu ngư, trong lễ hội có dự thi đánh bắt cá Cá bắt xong, dân làng chọn ra 99 con cá chép to nhất đem chặt lấy đuôi cúng Thần, còn đầu mình trả lại cho chủ Số cá đánh bắt được chia đều cho các nhà cùng nhau hưởng lộc Thánh [23, tr.118 - 119] Làng kẻ Giáp (xã Tứ Xã - Phong Châu, Phú Thọ) cũng có tục bắt cá thờ vào ngày 11 tháng chạp âm lịch, những con cá ngon nhất được dâng lên tế thần, còn lại chia đều cho mọi người mang về nhà làm cỗ cúng gia tiên với ý nghĩa là món quà đầu xuân của bản làng để lấy may trong năm mới Đề tài cá hóa rồng cũng đã có mặt trong các

đồ án trang trí từ khá sớm Vào thời Trần, đề tài cá hóa rồng có mặt trên các

di vật ở chùa Côn Sơn, chùa Xuân Lũng Đề tài này còn được thể hiện thành các tượng nhỏ đặt trên đao mái của tháp mộ thời Trần ở di chỉ Xuân Hồng Ngày nay, giữa lòng Thủ đô Hà Nội cũng có một một ngôi đền Cá – tức đền thờ Thần Cẩu Nhi, đền thờ Mẫu Thoải (Thủy Trung Tiên – Bà Mẹ Nước) trên hòn đảo giữa lòng hồ Trúc Bạch mà lớp tín ngưỡng thờ cá có lẽ là lớp văn hóa

Như vậy, từ trong sâu thẳm tâm thức của người Việt Nam, hình ảnh cá

đã đi vào ca dao và trở thành biểu tượng mang nhiều tầng ý nghĩa khác nhau

Trang 22

1.2.2 Xuất phát từ sự quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên và đời sống hàng ngày của nhân dân ta

Rất nhiều biểu tượng trong ca dao Việt Nam xuất phát từ sự quan sát thiên nhiên và đời sống xã hội của nhân dân ta Đây cũng là lẽ tự nhiên vì văn học phản ánh hiện thực và bám rễ vào hiện thực Trong một số công trình nghiên cứu, các tác giả đều thống nhất cho rằng những biểu tượng như con cò, con bống, con cá, hoa nhài,…đều xuất phát từ đời sống Việt Nam, từ sự quan sát các hiện tượng tự nhiên hàng ngày của người dân Trong đời sống của cư dân nông nghiệp, cá là một loài sinh vật quen thuộc không chỉ có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày mà còn đi sâu vào nếp nghĩ, nếp cảm của người dân Đào Duy Anh là người đầu tiên đưa ra nhận xét: nguồn lương thực

và thực phẩm đầu tiên của người Việt Nam là gạo, rau và cá: "Người nhà

quê có người suốt năm chỉ những ngày tế tự ở nhà hay những ngày việc làng ở đình thì mới được ăn chút thịt" Nguyễn Văn Huyên cũng có cùng ý kiến khi cho rằng, "Người Việt từ lâu sống bằng nghề nông và đánh cá, vì thế

cơ sở thức ăn của họ là gạo, rau và cá" Trần Quốc Vượng đã khái quát về ẩm thực Việt bằng công thức: “Cơm – rau - cá” Từ đó, cá mang nét nghĩa biểu trưng cho sự no đủ:

Giàu như nậu sáng cơm, chiều cá

Nghèo như em sáng rổ rau má, chiều trã cua đồng (CDK)

Quan sát đời sống, sinh hoạt của con cá, người ta còn thấy có nhiều khía cạnh tương đồng với đời sống, số phận con người, nhất là hình ảnh người phụ nữ thường được ví với hình ảnh con cá:

Thân em như cá lội tránh mồi/ Em tìm nơi sông lớn, vịnh bồi ẩn thân (CDK); Mến em, em vẫn chưa về anh/ Lúc này bốn góc trời tối mờ/ bốn góc trời tối mịt/ Cá nhảy nhót mặt sông/ Cá nhảy mừng mặt suối/ Anh muốn bắt khó lòng (CDG)

Trang 23

Để diễn tả thân phận người con gái bị ràng buộc và không may mắn,

hạnh phúc trong tình yêu, người ta hay dùng hình ảnh “cá mắc câu”, “cá mắc lưới”, “cá trong lờ”, “cá chậu chim lồng”…

Người dân quan sát thấy nước là môi trường sống thuận lợi cho cá và

cá với nước luôn gắn bó với nhau không thể tách rời nên đã mượn hình ảnh

“cá - nước” để diễn tả sự may mắn, thuận lợi hay sự gắn bó thủy chung trong tình yêu:

Trong anh chỉ một lòng mãi mãi/ Như cá nước đời đời không xa (CDT,N); Ta cũng nhớ tựa như nước nhớ cá (CDG)

Như vậy, người dân đã quan sát các hiện tượng tự nhiên xung quanh mình, rồi tích lũy không ngừng và sản phẩm cuối cùng của quá trình quan sát

và cảm nhận ấy là biểu tượng Hình ảnh con cá đi vào hệ thống biểu tượng của ca dao và trở thành một tín hiệu thẩm mĩ trong lối diễn đạt của người Việt Nam

1.3 Vài nét khái quát về dân tộc Kinh

Năm 2009, dân tộc Kinh có 73.594.431 người [41, tr.717] Dân tộc này chủ yếu sống ở đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam, sông Vàm Cỏ, châu thổ sông Cửu Long và rải rác khắp các tỉnh thành của cả nước từ tỉnh Lạng Sơn đến tỉnh Cà Mau; từ cao nguyên phía tây đến hải đảo phía đông, phía nam; từ nông thôn đến thành thị Người Kinh cư trú chủ yếu ở đồng bằng và châu thổ các dòng sông Ngoài ra, người Kinh còn cư trú suốt dọc đường bờ biển dài 3260 kilômét

Nói tới văn hóa dân tộc Kinh là nói đến một nền văn hóa lâu đời và rực

rỡ Với tư cách là dân tộc chủ thể, văn hóa người Kinh có ảnh hưởng lớn tới văn hóa của các dân tộc khác và góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển bản sắc văn hóa đất nước Việt Nam

Nền văn hoá truyền thống người Kinh được hình thành trên cơ sở của

nền văn minh nông nghiệp Cơ cấu bữa ăn truyền thống của người Kinh là

Trang 24

cơm – rau – cá bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước Nguồn lương thực của dân tộc Kinh cũng giống như các dân tộc khác ở nước ta chủ yếu là lúa gạo Ngoài ra, bữa ăn của người Kinh còn có nhiều thực phẩm đa dạng khác như các loại rau, củ, quả, thịt, cá… Văn hóa ẩm thực

của người Kinh là một trong những nét văn hóa độc đáo của dân tộc này

Trồng trọt, chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người dân tộc Kinh, nhất là người nông dân ở nông thôn Nghề nghiệp chính của người Kinh là trồng lúa nước Bên cạnh trồng lúa, người Kinh còn trồng một

số cây lương thực khác, hoa màu và cây ăn quả Ngoài ra người Kinh còn chăn nuôi nhiều gia súc, gia cầm và những nhà có ao, họ thường nuôi cá, tôm

Ngoài trồng trọt, chăn nuôi, người Kinh còn chú ý khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên trên rừng, dưới biển như: khai thác gỗ trên rừng, lấy mật ong, lấy cây thuốc quý, hái lượm hoa quả, săn bắn động vật, đánh bắt các loại thủy hải sản như: tôm, cá, sò huyết, trai ngọc… để cải thiện bữa ăn hàng ngày

và phát triển kinh tế gia đình

Sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, trong điều kiện khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển, người Kinh cũng giống như các dân tộc anh em khác tin vào vạn vật hữu linh Vì vậy, người Việt thờ các thần tự nhiên như thần đá, thần trời, thần đất, thần mưa…;thờ các con vật như cá voi, cá sấu, chim…;thờ thực vật, điển hình là quả bầu, hồn lúa Ngoài ra trong đời sống tâm linh của người Kinh còn có tục thờ cúng tổ tiên; thờ các vị thần có công với đất nước như Thánh Gióng, Trần Hưng Đạo…;thờ các vị thần chung của làng xã hoặc dân tộc như thần Thành Hoàng, thờ Hùng Vương…;thờ Mẫu là tín ngưỡng xuất phát từ tư duy nông nghiệp với mong muốn mùa màng, chăn nuôi được bội thu

Lễ hội truyền thống của người Kinh có từ lâu đời và đóng một vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội Đó là dịp biểu dương sức mạnh của cộng

Trang 25

đồng, là chất kết dính tạo nên sự đoàn kết cộng đồng và cũng là nơi các yếu

tố văn hoá truyền thống được bảo tồn, phát triển Người Kinh có nhiều loại

lễ hội như: lễ hội gắn với nghề nghiệp để cầu mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển, cầu nghề thủ công phồn vinh; lễ hội tôn vinh các hoạt động văn hóa của địa phương, kỉ niệm các sự kiện lịch sử, tôn vinh các vị anh hùng dân tộc, người có công với quê hương, đất nước; lễ hội gắn với các tôn giáo tín ngưỡng…

Kho tàng văn học dân gian của dân tộc Kinh rất phong phú và đa dạng Đây là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc và bảo tồn những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất của các thế hệ người Việt Đó

là những truyện truyền thuyết như: Sự tích Hồ Gươm, Thánh Gióng, Con Rồng cháu Tiên…những câu chuyện cổ tích như: Cây khế, Tấm Cám và các

thể loại khác như: truyện thần thoại, ngụ ngôn, truyện cười, câu đố, tục ngữ,

ca dao, Bằng ngôn ngữ dân gian giàu hình ảnh, bằng nghệ thuật nhạc điệu sinh động, văn học dân gian dân tộc Kinh đã thấm sâu vào lòng người một cách tự nhiên và dễ dàng truyền lại cho đời sau

1.4 Thống kê tần số xuất hiện và giải mã biểu tƣợng cá trong ca dao dân tộc Kinh

1.4.1 Thống kê tần số xuất hiện

Trong Kho tàng ca dao người Việt do Giáo sư Nguyễn Xuân Kính (chủ

biên) năm 2001, chúng tôi khảo sát, thống kê có 1038 lần xuất hiện từ ngữ chỉ động vật sống ở dưới nước, trong đó những từ ngữ chỉ cá xuất hiện với tần số cao nhất là 716 lần (chiếm 69%)

Theo khảo sát, thống kê của tác giả Nguyễn Văn Nở trong Biểu trưng trong tục ngữ người Việt cũng cho thấy một điều thật thú vị Trong nhóm

động vật thì cá cũng có tần số xuất hiện cao nhất (Cá: 12,46%; trâu: 11,2%; gà: 9,06%; chó: 7,68%; chim: 4,91%) [54, tr.109-122]

Trang 26

Nguồn sản vật dồi dào của môi trường sông nước luôn có mặt trong mọi thể loại của văn học dân gian Đây là một bằng chứng thuyết phục nói lên

sự cảm nhận sâu sắc và mối quan hệ mật thiết của con người với môi trường

tự nhiên nơi họ sinh sống và chứng tỏ vị trí quan trọng của chúng trong đời sống vật chất, tâm linh của người Việt

1.4.2 Giải mã biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh

Mỗi biểu tượng được sinh ra trong những nền văn hóa nhất định và nó chỉ sống trong nền văn hóa đó Tách khỏi nền văn hóa đó, rất có thể nó sẽ không còn mang ý nghĩa Đặt biểu tượng của nền văn hóa này vào một nền văn hóa khác để lí giải sẽ dẫn đến cách hiểu sai lầm, áp đặt về biểu tượng Mỗi biểu tượng chỉ tồn tại với một tập thể hay một nền văn hóa nào đó chứ không phải ở mọi dân tộc, mọi nền văn hóa Ý nghĩa của biểu tượng có thể rất khác nhau tùy theo những con người và những xã hội khác nhau Vì vậy, khi tìm hiểu biểu tượng “không được tách rời các biểu tượng khỏi bè đệm hiện sinh của nó” [7, tr.XXVIII] Tuy nhiên, mỗi biểu tượng đều có quá trình hình thành, tồn tại và lụi tàn của nó Trong quá trình giao thoa, tiếp xúc với các nền văn hóa khác, biểu tượng cũng xuất hiện thêm những ý nghĩa mới Tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant cho rằng: “cách hiểu biểu tượng không thể chỉ cứ vào diện mạo của nó, mà còn phải nhìn đến sự vận động của nó, môi trường văn hóa của nó và vai trò của nó” [7, tr.XVII]

Trong thơ ca nói chung và ca dao nói riêng, biểu tượng chính là những hình ảnh được sử dụng rộng rãi, phổ biến và được cộng đồng chấp nhận Muốn hiểu ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng, chúng ta không thể tư duy theo kiểu logic của lý trí mà còn cần có sự hỗ trợ tích cực của kinh nghiệm sống cũng như những tri thức về văn hóa truyền thống Biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh được biểu hiện ở nhiều hình thức và biểu trưng nhiều hướng nghĩa khác nhau Nhưng qua khảo sát bước đầu, chúng tôi chỉ lựa chọn giải

Trang 27

mã một số hướng nghĩa cơ bản: Cá – biểu tượng cho ước mơ, khát vọng con người; biểu tượng cho người phụ nữ và biểu tượng cho tình yêu, hôn nhân

1.4.2.1 Cá - ước mơ, khát vọng của con người

Cá biểu tượng cho ước mơ, khát vọng của con người là quan niệm khá phổ biến của người Kinh được thể hiện trong ca dao Quan niệm này được biểu hiện trên nhiều phương diện và xuất phát từ sự tương đồng giữa đời sống của loài cá với đời sống con người

Trước hết, đó là khát vọng muốn vượt ra khỏi sự tù túng, hạn hẹp, gò

bó để tìm đến nơi tự do, phóng khoáng Bởi nhu cầu được sống tự do là nhu cầu thiết yếu và chính đáng của con người:

Bấy lâu con cá cựu ở đìa Bao giờ con cá cựu trở về ao sâu?

[B 424] Môi trường sống tự do của con cá là ao sâu, biển rộng, khi bị nhốt trong chậu hay mắc câu nó sẽ bị tù túng Cũng như con người, nhất là đối với người phụ nữ sống trong xã hội phong kiến, bị ràng buộc bởi những tư tưởng hà khắc Cuộc đời của họ phụ thuộc phần lớn ở sự định đoạt của cha mẹ và người đàn ông Người con gái đến tuổi lấy chồng, không được tự do tìm hiểu

và lựa chọn người mà mình yêu thương Họ thường phải chịu cảnh ép duyên nên khát vọng lớn nhất của người con gái là mong muốn vượt ra khỏi sự tù túng để được sống hạnh phúc:

Biết thuở nào con cá nhào khỏi vực Biết thuở nào hết cực thân em

[B 488]

Em là con gái đến thì Như con cá rô thia ăn vực, có khi hoá rồng

[E 94]

Trang 28

Người con gái đến tuổi tìm hiểu yêu đương luôn khao khát, mơ ước gặp được người đàn ông mà cô ấy yêu thương:

Trông anh như cá trông mưa Ngày trông đêm tưởng chiêm bao mơ màng

Muốn cho hai bạn đến chơi

Vũ Môn cá nước thảnh thơi đua tài

[M 709]

Theo Tam Tân kí và Thủy kinh chú ở Trung Quốc, Vũ Môn là nơi có

sóng dữ, hàng năm vào tiết tháng ba, cá chép tập trung đến đây thi vượt qua

Vũ Môn Con nào vượt qua được thì hóa rồng Do đó cửa Vũ thường được chỉ

chốn trường thi và việc thi đỗ được gọi là vượt qua Vũ Môn Theo Đại Nam nhất thống chí, Việt Nam cũng có Vũ Môn ở dãy núi Khai Trướng (núi Giăng

Màn) thuộc huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Đây là một con suối lớn có ba

Trang 29

bậc Truyền thuyết kể rằng hàng năm đến tháng tư mưa to, cá chép ngược dòng nhảy qua Vũ Môn để hóa rồng [33, tr 313]

Cá vượt Vũ Môn hay cá chép hóa rồng lúc đầu có lẽ nó chỉ biểu tượng cho việc thi cử, thành đạt công danh, sau này nó còn có thêm những ý nghĩa khác như: biểu tượng cho những khó khăn, thử thách; biểu tượng cho sự may mắn; biểu tượng cho khát vọng con người chinh phục những đỉnh cao cuộc sống…

Bậu chê anh quân tử lỡ thì Anh tỉ như con cá cạn chờ khi hóa rồng

Làm trai đứng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông

(Nguyễn Công Trứ) Con người còn mang trong mình khát vọng vượt tầm, vượt lên hoàn

cảnh để làm được những điều phi thường Mặc dù điều kiện là “chỉ thắm tơ mành” nhưng con người tài giỏi, có ý chí vẫn câu được “cá kình biển Đông”:

Ví dầu chỉ thắm tơ mành Khéo câu thì đặng cá kình biển Đông

[V 215]

Sống trong hoàn cảnh nghèo khổ, thân phận thấp bé, hèn mọn, con người luôn có khát vọng muốn đổi đời:

Trang 30

Lạ thay con cá thờn bơn Nằm trên bãi cát đợi cơn mưa rào

[L 31]

Khát vọng có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người Nó nâng đỡ và tạo niềm tin để con người sống tốt hơn Người Việt dù có sống trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn, thử thách nào, họ vẫn luôn mơ ước, khát khao và tin tưởng những điều tốt đẹp sẽ đến Đó là đức tính đáng quý, một lối sống tích cực của người Việt

1.4.2.2 Cá - người phụ nữ

Người Việt nhận thấy giữa cá và người phụ nữ có nhiều điểm tương đồng Người phụ nữ có dáng vẻ yêu kiều, mềm mại, xinh xắn; tính nết dịu dàng, hiền lành, chịu khó; vai trò quan trọng của người phụ nữ là sinh đẻ Người dân quan sát thấy một số loài cá thân hình bé nhỏ, có nhiều màu sắc đẹp mắt lại uốn lượn mềm mại; có đặc tính sinh đẻ nhiều nên họ đã mượn hình ảnh một số loài cá để biểu tượng cho người phụ nữ Trong các loài cá thì đặc biệt cá bống là loài được dùng nhiều nhất để biểu tượng cho người phụ

nữ Hình ảnh cá bống xuất hiện trong ca dao người Kinh 37 lần thì 19 lần chỉ người phụ nữ Theo tác giả Vũ Ngọc Phan: “Cá bống vốn là thứ đồ ăn ngon của nhân dân lao động nước ta, một thứ đồ ăn ngon mà họ thường được ăn, có thể cầu được ước thấy, không phải một thứ chỉ có trong ước mơ của họ Cá bống cũng lại là một thứ mà người phụ nữ nông thôn thường thường kiếm ra

và do tay họ nấu nướng; không những nó ngon lành còn xinh xẻo nữa Vì những lí do ấy nên nhân dân lao động Việt Nam đã mượn hình ảnh con cá

bống để nói về người thiếu nữ hay người thiếu phụ Việt Nam” [57, tr.57]

Trong ca dao người Kinh, những hình ảnh hoa, trăng, bến,…thường dùng để biểu tượng cho người phụ nữ Trong thế giới loài cá, những từ ngữ chỉ cá nói chung và chỉ các loại cá cụ thể như: cá vàng, cá hồng, cá giếc, cá

Trang 31

chép, cá rô, cá bống, cá thờn bơn…thường được dùng biểu tượng cho người phụ nữ

Cá biểu tượng cho người phụ nữ trong tình yêu với nhiều giá trị đẹp đẽ

“Em như cá lượn đầu bờ”, “Mình như con cá hóa long” và “Anh muốn câu con cá gáy bốn đòn”…khiến người con trai luôn phải khao khát kiếm tìm:

Mình như con cá hóa long Chín tầng mây phủ ở trong da trời Anh đây lục trí thần thông Vạch mây đón gió bắt rồng cưỡi chơi

[M 320]

Người phụ nữ không chỉ có vẻ đẹp bề ngoài mà trong tâm hồn họ còn toát lên một vẻ đẹp đầy nữ tính Đó là đức tính chịu khó, đảm đang, chiều chồng thương con con, chịu phần thiệt thòi riêng mình để giữ ngọn lửa hạnh phúc trong gia đình:

Cái bống là cái bống bình Thổi cơm nấu nước một mình mồ hôi Rạng ngày có khách đến chơi Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng.

[C 68]

Trong xã hội cũ, người phụ nữ không được học hành nhưng họ luôn động viên chồng học hành thi cử, thành đạt công danh Đằng sau sự thành công của người chồng là công lao to lớn của người vợ:

Cái Bống đi chợ Cầu Canh Mua giấy mua bút cho anh vào trường Ngày mai anh đỗ làm quan Võng anh đi trước võng nàng đi sau

[C 59]

Trang 32

Trong ca dao người Kinh, cá không chỉ biểu trưng cho hình thức, tính cách của người phụ nữ mà còn biểu trưng cho hoàn cảnh, số phận của họ

Những hình ảnh “cá mắc câu”, “cá mắc đăng”, “cá trong chậu”, “cá trong lờ”…biểu tượng cho người phụ nữ đã có chồng:

Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lồng như cá mắc câu

Cá mắc câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra

[T 1641]

Tung tăng như cá trong lờ Trong ra không được ngoài ngờ là vui

[T 2064]

Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ bị đối xử rất bất công, họ bị

ràng buộc bởi những quan niệm rất khắt khe, phi lí “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” hoặc “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” Người

phụ nữ dù xinh đẹp, tài năng nhưng họ không có quyền quyết định cuộc đời mình mà phụ thuộc vào hoàn cảnh, cha mẹ hoặc người đàn ông Họ thường chỉ biết than thân, trách phận khi phải sống trong cảnh mất tự do, tù túng hay hôn nhân không toại nguyện

Cá còn biểu tượng cho người phụ nữ bất hạnh trong tình yêu vì lấy phải người chồng không xứng đôi vừa lứa:

Tiếc cho con tôm rằn nấu với ngọn rau má Tiếc cho con cá bống thệ đem nấu với ngọn lá cỏ hôi Tiếc công ơn thầy với mẹ trau điểm phấn dồi

Em ra đi lấy chồng không đặng hai chữ cân đôi với chồng

[T 1023]

Trang 33

Cái bống cõng chồng đi chơi

Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng

[C 57]

Lời ca dao phản ánh một nghịch cảnh trớ trêu, một nỗi hờn tủi chua xót cho thân phận người con gái phải lấy phải người chồng không tương xứng hay lấy đứa trẻ con làm chồng

Tuy nhiên, trong cuộc sống, tình yêu, hôn nhân cũng có một số ít người phụ nữ may mắn, hạnh phúc:

Phận gái lấy được chồng khôn Xem bằng cá vượt Vũ Môn hóa rồng

[B 534]

Qua việc tìm hiểu ca dao người Kinh, chúng ta nhận thấy người dân đã mượn cá biểu trưng cho người phụ nữ rất đậm nét về nhiều mặt phẩm chất, tâm hồn, thân phận của họ trong cuộc sống, tình yêu, hôn nhân

1.4.2.3 Cá - tình yêu, hôn nhân

Ca dao tình yêu là bộ phận lớn nhất và vô cùng phong phú, hấp dẫn trong ca dao trữ tình dân tộc Kinh Nội dung những bài ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã phản ánh được mọi biểu hiện của tình yêu, trong tất cả các chặng đường, các cung bậc cảm xúc: Những lời ướm hỏi, tỏ tình; những lời yêu thương, nhớ nhung, thề nguyền; hôn nhân hạnh phúc hay đau khổ, bất hạnh Nghệ thuật thể hiện trong ca dao tình yêu thật phong phú, đa dạng, một trong những cách tạo hiệu quả cao đó là tác giả dân gian đã sử dụng thế giới biểu tượng: trầu – cau, loan – phượng, mận – đào, cá – nước…để biểu tượng cho thế giới tình yêu muôn màu muôn vẻ

Trong bất cứ câu chuyện tình nào thì giai đoạn đầu tiên rất quan trọng,

đó là giai đoạn trai gái gặp gỡ tìm hiểu, tỏ tình Hình ảnh “câu cá”, “thả lưới,

Trang 34

buông câu”; “xe nhợ uốn cần”…thường dùng để biểu trưng cho việc chàng

trai chinh phục hay ngỏ lời cầu hôn cô gái:

Đến đây cận thuỷ xa ngư Hỏi rằng cá đã vào lừ ai chưa?

- Con cá đợi gió chờ mưa Trời chưa phong vũ, cá chưa vào lừ

[Đ 500]

Cá là hình ảnh ẩn dụ cho người con gái chưa chồng Ở hai câu trên người con trai đã mượn cá để gửi gắm tình cảm của mình với người con gái Chàng trai ướm hỏi xa xôi nhưng cô gái đã hiểu và đồng cảm Hai câu sau cô

gái đáp lại: “Con cá đợi gió chờ mưa” có nghĩa là cô vẫn chưa yêu ai và

chàng trai có thể bày tỏ tình cảm

Trong tình yêu, cá còn biểu tượng cho nỗi nhớ và cả sự ngóng trông, chờ đợi:

Mong chàng như cá mong mưa Nhớ chàng như bữa cơm trưa đói lòng

[Đ 466]

Anh trông em như cá trông mưa Ngày trông đêm tưởng như đò đưa trông nồm

[A 529]

Hình ảnh “cá – nước”, “cá vượt Vũ Môn”, “rồng – cá”…thường dùng

để biểu trưng cho tình yêu hạnh phúc, đẹp lứa vừa đôi, may mắn chọn được người như ý:

Hai ta tốt lứa đẹp đôi Rồng mây cá nước duyên trời đã xe

[N 446]

Tình cờ gặp được nàng đây Như cá gặp nước, như mây gặp rồng

[T 1151]

Trang 35

Ca dao trữ tình người Kinh viết về tình yêu đã ca ngợi rất nhiều mối tình thủy chung, hạnh phúc Tuy nhiên, cũng có những mối tình ngang trái, đôi lứa cách chia hoặc hôn nhân bất hạnh:

Theo nhau cho trọn lời vàng đá Không hay chừ kẻ Á, người Âu Gối loan chẳng đặng giao đầu Con chim bơ vơ núi Ngự, con cá thảm sầu sông Hương

Tiếc công anh xe sợi nhợ, uốn cây cần

Xe rồi sợi nhợ, con cá lần ra khơi

Trang 36

Ăn trầu người như chim mắc nhợ Uống rượu người như cá mắc câu Thương em chẳng nói khi đầu

Để cho bác mẹ ăn trầu khác nơi Đau lòng em lắm, anh ơi!

[Ă 47]

Người xưa có câu: “Cưới vợ thì cưới liền tay Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha” Đúng vậy, trong nhiều trường hợp, chàng trai đã đánh mất cơ hội

đến với người mình yêu thương:

Ngồi buồn giả chước đi câu

Cá ăn không giựt mảng sầu căn dươn 1

[N 444]

Vì vậy, người ta mới khuyên rằng:

Ai về nói với ông câu

Cá ăn thì giật để lâu hết mồi

Trang 37

Anh đừng thấy cá phụ canh Thấy tòa nhà ngói phụ tranh rừng già

[A 326]

Tiếng đồn chị Bốn có duyên Chồng chị đi cưới một thiên cá mòi

[T 1117]

Tình yêu không thành, hôn nhân bất hạnh còn do nhiều nguyên ngang trái, éo le khác:

Con sông bên lở bên bồi Một con cá lội mấy người buông câu

[T 224]

Công anh xe chỉ uốn câu

Vì chưng trời động con cá lần ra khơi

Trang 38

Một mai nên vợ nên chồng Như cá gặp nước như rồng gặp mây

[V77]

Biểu tượng cá đã góp phần thể hiện thành công chủ đề tình yêu rất phong phú và đặc sắc Tìm hiểu biểu tượng cá trong ca dao dân tộc Kinh, chúng ta được sống trong một thế giới tâm hồn trong sáng, lành mạnh, giàu khát vọng về tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình Chúng ta hiểu hơn thế giới tình cảm của ông cha và tìm thấy ở đó những giá trị đích thực làm nên sự trường tồn của biểu tượng này

1.5 Các biện pháp nghệ thuật chủ yếu đƣợc sử dụng để biểu hiện biểu tƣợng cá trong ca dao dân tộc Kinh

Trong ca dao, các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, hoán dụ được sử dụng tương đối nhuần nhuyễn với nhiều kiểu thức khác nhau, đáp ứng các cung bậc tình cảm, tâm trạng đa dạng của nhiều thế hệ nhân dân qua thể loại trữ tình này

1.5.1 So sánh

“So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng

có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” [79, tr.175]

* So sánh trực tiếp: So sánh loại này sử dụng từ “như” phổ biến hơn cả

Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lồng, như cá mắc câu

[T 1641]

Hình ảnh người con gái có chồng được so sánh với hình ảnh“cá cắn câu” xuất hiện nhiều lần biểu trưng cho sự tù túng, ràng buộc, bất hạnh

Tình cờ gặp được nàng đây Như cá gặp nước, như mây gặp rồng

[T 1151]

Trang 39

Hình ảnh người con trai gặp được người yêu như ý so sánh với hình

ảnh “cá gặp nước” Hình ảnh này cũng xuất hiện nhiều lần biểu trưng cho sự

bó gắn thủy chung, hay may mắn, hạnh phúc

* So sánh gián tiếp: So sánh này không có từ so sánh

1.5.2 Ẩn dụ

“Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng

để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng về nét

tương đồng giữa hai đối tượng” [79, tr.179]

Trong phép ẩn dụ, ý nghĩa biểu tượng được ẩn đi để cho người đọc tự suy nghĩ, liên tưởng Đây là biện pháp tu từ chủ yếu tạo nên biểu tượng trong ca dao:

Tiếc công anh đào ao thả cá

Ba bốn năm trời người lạ tới câu

[T 1040]

Hình ảnh ẩn dụ“đào ao thả cá” xuất hiện nhiều lần biểu trưng cho

người con trai vun vén cho tình yêu

Trang 40

Ai về nói với ông câu

Cá ăn thì giật để lâu hết mồi

[A 199]

Hình ảnh ẩn dụ “cá ăn thì giật” khuyên người ta đừng bỏ lỡ cơ hội

Ngồi buồn xe chỉ uốn cần Chỉ xe chưa đặng, cá lần ra khơi

[N 470]

Hình ảnh ẩn dụ “xe chỉ uốn cần” thể hiện việc chàng trai chinh phục cô gái và hình ảnh ẩn dụ “cá lần ra khơi” thể hiện sự mất mát, xa cách vì cô gái

không đồng ý lời tỏ tình của chàng trai

Trong phép tu từ ẩn dụ không xuất hiện chủ thể so sánh, không có từ ngữ so sánh chỉ có hoàn cảnh giao tiếp và dựa vào những yếu tố tương đồng giữa hình ảnh ẩn dụ và cái người ta có dụ ý so sánh ngầm mà người đọc nhận

ra nét nghĩa biểu tượng Đây cũng là yếu tố tạo nên nhiều sự liên tưởng thú vị với nhiều ý nghĩa biểu trưng

1.5.3 Hoán dụ

“Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng lôgich khách

quan giữa hai đối tượng”[79, tr.191]

Cùng với phép so sánh, ẩn dụ, biểu tượng cá còn được định hình qua các phép hoán dụ tu từ:

Thà rằng ăn bát cơm rau Còn hơn cá thịt, nói nhau nặng lời

[T 218]

Hình ảnh hoán dụ “cá thịt” là hình ảnh cụ thể thường dùng để biểu

trưng cho ý nghĩa trừu tượng đó là cuộc sống no đủ, đối lập với hình ảnh

“cơm rau” chỉ món ăn tầm thường, cuộc sống nghèo khổ

Ngày đăng: 21/09/2020, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w