Có thể nói, nếu “cái Tôi” được nhận thức đúng đắn sẽ giúp cho thanh niên - sinh viên nói chung và sinh viên trường Học viện Cảnh sát nhân dân nói riêng đánh giá chính xác thực lực của mì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÃ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lã Thị Thu Thuỷ
Tôi cũng xin cam đoan đề tài này không trùng với bất cứ đề tài luận văn nào
đã được công bố ở Việt Nam Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Thị Lan Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất
đến PGS TS Lã Thị Thu Thủy, người đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô trong trường Học viện Cảnh sát nhân dân đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi, đặc biệt xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn đã cung cấp cho tôi nền tảng kiến thức quý báu và sự giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn được hoàn chỉnh
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn sinh viên trường Học viện Cảnh sát nhân dân đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập số liệu phục vụ luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp cùng bạn
bè đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2014
Học viên
Trần Thị Lan Anh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH NGHỀ 10
1.1.Tổng quan một số công trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 10
1.1.1.Một số nghiên cứu ở nước ngoài 10
1.1.2.Các công trình nghiên cứu ở trong nước 13
1.2.Một số vấn đề lý luận chung 14
1.2.1.Tự đánh giá 14
1.2.2.Phẩm chất nhân cách 15
1.2.3 Sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân và một số đặc điểm tâm lý 21
1.3Một số vấn đề lý luận về tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát về những phẩm chất nhân cách nghề 22
1.3.1 Khái niệm tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát về những phẩm chất nhân cách nghề 22
1.3.2 Một số phẩm chất nhân cách nghề của sinh viên Học viện Cảnh sát 22
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá về những phẩm chất nhân cách nghề của sinh viên 27
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Vài nét về Học viện Cảnh sát nhân dân 31
2.2 Tổ chức nghiên cứu 33
2.2.1 Nghiên cứu lý luận 33
2.2.2 Nghiên cứu thực tiễn 33
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 35
2.3.2 Phương pháp chuyên gia 35
2.3.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 35
2.3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 37
2.3.5 Phương pháp xử lý thông tin bằng thống kê toán học 37
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN HỌC VIÊN CẢNH SÁT NHÂN DÂN VỀ MỘT SỐ PHẨM CHẤT
NHÂN CÁCH NGHỀ 40
3.1 Thực trạng tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân về một số phẩm chất nhân cách nghề 40
3.1.1 Đánh giá chung 40
3.1.2 Tự đánh giá của sinh viên về các phẩm chất nhân cách cụ thể 44
3.1.3 Sự khác biệt trong tự đánh giá về các phẩm chất nhân nghề ở các nhóm sinh viên khác nhau 61
3.1.4 Lý do chọn trường và mong muốn khi ra trường của sinh viên 66
3.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát về phẩm chất nhân cách nghề 69
3.2.1 Các yếu tố chủ quan 69
3.2.2 Các yếu tố khách quan 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Mẫu nghiên cứu 33
Bảng 2.2: Độ tin cậy của thang đo 36
Bảng 3.1 Tự đánh giá của sinh viên về một số phẩm chất nhân cách nghề 40
Bảng 3.2 Đánh giá của sinh viên về sự cần thiết các phẩm chất nhân cách nghề 42
Bảng 3.3 Tự đánh giá của sinh viên về tính dũng cảm 44
Bảng 3.4 Tự đánh giá của sinh viên về tính trung thực 46
Bảng 3.5 Tự đánh giá của sinh viên về tính đoàn kết 48
Bảng 3.6 Tự đánh giá của sinh viên về tính kỷ luật 50
Bảng 3.7 Tự đánh giá của sinh viên về tính năng động 52
Bảng 3.8 Tự đánh giá của sinh viên về tính linh hoạt mềm dẻo 54
Bảng 3.9 Tự đánh giá của sinh viên về tính cụ thể của lý tưởng 56
Bảng 3.10 Tự đánh giá của sinh viên về tính khiêm tốn 58
Bảng 3.11 Tự đánh giá của sinh viên về tính trách nhiệm 59
Bảng 3.12 Tự đánh giá của sinh viên về tính vị tha 60
Bảng 3.13 Sự khác biệt về giới tính khi tự đánh giá về một số phẩm chất nhân cách nghề 62 Bảng 3.14 Sự khác biệt về học lực khi tự đánh giá về một số phẩm chất nhân cách nghề 63
Bảng 3.15 Sự khác biệt về chuyên ngành khi tự đánh giá về một số phẩm chất nhân cách nghề 64
Bảng 3.16 Sự khác biệt về nghề nghiệp của bố mẹ khi tự đánh giá về một số phẩm chất nhân cách nghề 65
Bảng 3.17 Lý do sinh viên chọn trường Học viện Cảnh sát 67
Bảng 3.18 Mong muốn sau khi ra trường của sinh viên 68
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của nhận thức nghề đến tự đánh giá các phẩm chất nhân cách nghề của sinh viên 70
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của hứng thú nghề đến tự đánh giá các phẩm chất nhân cách nghề của sinh viên 71
Bảng 3.21 Mối tương quan giữa niềm tin vào tương lai nghề và sự tự đánh giá các phẩm chất nhân cách nghề 72
Trang 8Bảng 3.22 Mối tương quan giữa mức độ hài lòng với chuyên ngành đang theo học
và sự tự đánh giá các phẩm chất nhân cách nghề 73 Bảng 3.22 Ảnh hưởng của môi trường học tập đến tự đánh giá các phẩm chất nhân cách nghề 75 Bảng 3.23 Ảnh hưởng của gia đình đến tự đánh giá các phẩm chất nhân cách nghề 76 Bảng 3.24 Mối tương quan giữa tự đánh giá các phẩm chất nhân cách nghề với nhóm yếu tố ảnh hưởng khách quan 77
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá, Việt Nam đã mở rộng quan hệ đối ngoại theo nền kinh tế thị trường, đồng thời đang từng bước gia nhập vào nền kinh tế thế giới Mặt khác, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã đặt ra yêu cầu xã hội cần có một đội ngũ nhân lực trí tuệ để hội nhập nền kinh tế quốc tế Muốn đạt được mục tiêu đó bước đầu của khâu đào tạo là cung cấp được nguồn nhân lực có trình độ đáp ứng được nhu cầu phát triển các mặt của xã hội
Bên cạnh giáo dục gia đình và nhà trường, quá trình tự giáo dục và tự rèn luyện bản thân của mỗi con người là điều cốt yếu nhất để trở thành người có ích cho
xã hội Đó là việc mỗi cá nhân tiếp nhận những tri thức từ gia đình và xã hội, đồng thời biến nó thành những quan điểm, lập trường của bản thân tác động trở lại xã hội Khi đã là một người trưởng thành họ phải biết tự phân tích, tự đánh giá vấn đề và xử
lý các vấn đề trong cuộc sống theo hướng tích cực Tâm lý học hoạt động cho rằng, việc cá nhân tự đối chiếu bản thân với chuẩn mực xã hội giúp cho họ nhận ra giá trị của bản thân, từ đó cá nhân có những ứng xử phù hợp với những chuẩn mực đó, chính là năng lực tự đánh giá bản thân
Học viện Cảnh sát nhân dân là cơ quan đầu ngành đào tạo cán bộ, sĩ quan cho lực lượng cảnh sát nhân dân Mỗi năm có khoảng 1000 sinh viên cảnh sát tốt nghiệp, tham gia công tác tại các đơn vị Sinh viên Học viện Cảnh sát ngoài những đặc điểm chung của sinh viên Việt Nam thì còn có những điểm riêng, mang đặc trưng của ngành Với chức năng là công cụ duy trì pháp luật và trật tự Nhà nước, người cảnh sát nhân dân có một vai trò quan trọng trong xã hội Việc tự đánh giá bản thân về những phẩm chất nhân cách phù hợp với hoạt động nghề của những sinh viên này có ý nghĩa quan trọng đối với việc định hướng trong công tác của mỗi cá nhân, do đó có ảnh hưởng đến nhiều vấn đề xã hội khác Có thể nói, nếu “cái Tôi” được nhận thức đúng đắn sẽ giúp cho thanh niên - sinh viên nói chung và sinh viên trường Học viện Cảnh sát nhân dân nói riêng đánh giá chính xác thực lực của mình để phấn đấu nhiều hơn nữa trong học tập cũng như trong cuộc sống …
Xuất phát từ đặc thù công tác của lực lượng cảnh sát nhân dân, một loại hình nghề nghiệp đặc biệt với nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và thực thi
Trang 11pháp luật, góp phần hoàn thiện nhân cách con người đòi hỏi người cảnh sát phải có những phẩm chất nhân cách phù hợp với yêu cầu công việc, được xã hội chấp nhận
Do vậy, việc nghiên cứu rèn luyện tự đánh giá về một số phẩm chất nhân cách nghề của người cảnh sát nhân dân cho học viên trường cảnh sát là một việc làm quan trọng, góp phần củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ cảnh sát nhân dân nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Hơn nữa, việc nghiên cứu sự đánh giá về phẩm chất nhân cách của người cảnh sát nhân dân trên một nhóm khách thể chuẩn bị làm nghề - sinh viên học viện cảnh sát là điều rất hữu ích
Từ những lí do trên chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu việc tự đánh giá của sinh viên Học viện cảnh sát nhân dân về những phẩm chất nhân cách phù hợp với hoạt động nghề hiện nay là vấn đề cấp thiết không chỉ về mặt lí luận mà còn cả về thực tiễn, đóng góp về lý luận giúp gia đình, nhà trường, các cơ quan chức năng có biện pháp giáo dục phù hợp với lứa tuổi này, đồng thời giúp sinh viên tự đánh giá phù hợp và định hướng đúng đắn trong việc tìm bản thân đi riêng vào cuộc sống
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Tự đánh giá của
sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân về một số phẩm chất nhân cách nghề”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn mức độ tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân về những phẩm chất nhân cách nghề và các yếu tố ảnh hưởng đến chúng, đề xuất một số kiến nghị để tìm ra những người phù hợp, rèn luyện để phù hợp với nghề cảnh sát
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Biểu hiện của mức độ tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân
về một số phẩm chất nhân cách nghề
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống một số lí luận về TĐG, TĐG của sinh viên Học viện cảnh sát nhân dân và một số yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của sinh viên Học viện cảnh sát nhân dân về những phẩm chất nhân cách nghề
Trang 124.2 Làm rõ thực trạng TĐG về những phẩm chất nhân cách nghề của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân và các yếu tố ảnh hưởng
4.3 Đề xuất một số kiến nghị
5 Khách thể nghiên cứu
Tổng số khách thể nghiên cứu bao gồm: 280 sinh viên, trong đó:
- Khách thể tham gia khảo sát thử: 30 sinh viên
- Khách thể tham gia khảo sát trên diện rộng: 250 sinh viên
- Khách thể tham gia phỏng vấn sâu: 10 sinh viên (số sinh viên này nằm trong số sinh viên khảo sát trên diện rộng)
6 Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu TĐG của sinh viên về 10 phẩm chất nhân cách phù hợp với hoạt động nghề cảnh sát: Tính kỷ luật, lòng dũng cảm, tính trung thực, tính mềm dẻo linh hoạt, tính đoàn kết, tính cụ thể của lý tưởng, tính năng động, tinh thần trách nhiệm, tính khiêm tốn và vị tha
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên sinh viên năm thứ ba, thứ tư và năm cuối thuộc 4 nhóm ngành học: Kinh tế, Quản lý hành chính, Môi trường, Kỹ thuận hình sự và Hình sự
7 Giả thuyết khoa học
Phần lớn sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân TĐG khá cao bản thân mình
có những phẩm chất nhân cách phù hợp với hoạt động nghề như: Tính kỷ luật, lòng dũng cảm, tính trung thực, tính mềm dẻo, linh hoạt…
Mức độ TĐG này chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan như: nhận thức về tầm quan trong của nghề, hứng thú, niềm tin vào hương lai của nghề và các yếu tố khách quan như: môi trường học tập, mức độ quan tâm và định hướng của gia đình Trong đó, các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh hơn các yếu tố khách quan
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;
- Phương pháp phỏng vấn sâu;
Trang 13- Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học
9 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có ba phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: Gồm 3 chương, cụ thể:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
+ Chương 3: Kết quả nghiên cứu
- Phần kết luận và kiến nghị
Ngoài ba phần trên, luận văn còn có thêm phần mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC
PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH NGHỀ 1.1 Tổng quan một số công trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Từ những năm 90 của thế kỉ XIX, đã có nhiều nghiên cứu về TĐG ở nước ngoài Các tác giả tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: nghiên cứu về cái Tôi; về các yếu tố của tự đánh giá; vai trò của tự đánh giá đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân… Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về vấn đề này
Một trong những người đầu tiên nghiên cứu về TĐG bản thân là William James - nhà Tâm lý học người Mỹ Trong chương sách “Ý thức về bản thân” thuộc tác phẩm “Những điều trọng yếu trong tâm lý học” , W James có quan điểm nghiên cứu về cái Tôi khá thuyết phục.Ông cho rằng khái niệm cái tôi được phát triển từ sự
so sánh xã hội, chúng ta thường so sánh mình với “những người quan trọng khác” Trong hoạt động, người ta luôn so sánh thành tích đạt được với những nguyện vọng được hình thành Thông qua kinh nghiệm bản thân và ảnh hưởng của người khác
mà cá nhân nhận ra: Tôi là ai? Tôi sẽ là người như thế nào? Họ muốn tôi là người như thế nào? Để tìm câu trả lời này, trong quá trình so sánh mình với người khác các cá nhân đã có sự tự đánh giá về mình và tự đánh giá về người khác, qua đó thấy được vai trò và vị thế của mình trong các nhóm xã hội Như vậy, ông đã đưa ra công thức của TĐG bản thân = Thành công/ khả năng [28, tr47]
Đồng quan điểm với W James khi nghiên cứu tự đánh giá, George H.Mead (nhà Tâm lý học, Xã hội học người Mỹ) đã nghiên cứu về cái Tôi và con đường hình thành cái Tôi Coi trọng yếu tố tương tác xã hội tạo nên cái tôi, Mead tập trung vào quá trình cá nhân gia nhập và trở thành thành viên của một nhóm xã hội Ông cho rằng, nguyên nhân của quá trình này là cá nhân nội tâm hoá những ý tưởng và thái độ của những nhân vật quan trọng trong cuộc sống mà anh ta đã quan sát, chấp nhận chúng và thể hiện chúng ra ngoài như là của riêng mình Nội tâm hoá thái độ của người khác đối với mình, cá nhân đánh giá cao bản thân khi được những người khác chấp nhận và
Trang 15ngược lại cá nhân đánh giá thấp bản thân khi bị bác bỏ, từ chối Do đó, có thể hiểu cái Tôi được hình thành trên việc “nội tâm hoá thái độ” và điều chỉnh thái độ của bản thân dựa trên đánh giá của người xung quanh về mình
Theo Sigmund Freud (1856 - 1939), cấu trúc tâm lý nhân cách của con người gồm 3 phần: Bản năng, ý thức và siêu ý thức Trong đó Freud cho rằng ý thức tự ngã luôn luôn bị chi phối bởi bản năng mà nội dung chính của nó là “libido”; là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thuỷ và các xúc cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn là một con thú, bản chất của cái nó là thuộc về dục tính (sexual in nature), nó vốn vô thức Mục đích của nó là thoả mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến các hậu quả Nhưng khi ý thức tự ngã bị kiềm chế bởi cái tôi - những định khuôn, quy ước xã hội (social conventions) – thì lúc này cái tôi đóng vai trò là “viên trọng tài giữa những đòi hỏi bản năng của cái nó
và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài” Do đó, “cái Tôi” luôn bị mâu thuẫn bởi sự chi phối của bản năng dục vọng và sự kiềm chế của ý thức xã hội Cho nên, cá nhân luôn diễn ra sự đấu tranh nội tâm, có sự đánh giá chính mình để vừa thoả mãn những nhu cầu bản năng đồng thời phù hợp với chuẩn mực xã hội Do đó, đây cũng chính là một trong những nguồn gốc bên trong của TĐG [dẫn theo 9, tr10]
Các nhà Tâm lý học theo chủ nghĩa Freud mới là H.S Sullivan, K Horney, A Adler nghiên cứu sự hình thành TĐG đã lý thuyết hoá nguồn gốc của sự TĐG bản thân Mối quan hệ liên nhân cách là nền tảng của sự TĐG bản thân, nhấn mạnh sự quan trọng đặc biệt của cha mẹ, anh chị em ruột Cụ thể là, việc cha mẹ nuông chiều con cái
có ảnh hưởng tiêu cực đến đứa trẻ: những đứa trẻ được nuông chiều sẽ có một giá trị thổi phồng không thực tế so với giá trị thực của chúng; Chúng trở thành tự kỷ trung tâm và đòi hỏi, không muốn hoặc không chuẩn bị phấn đấu cho sự trưởng thành trong các mối quan hệ xã hội
Horney cho rằng: đứa trẻ có nguy cơ bị mắc chứng nhiễu tâm liên quan đến
sự phát triển không thuận lợi của các mối tương quan ở trẻ, ảnh hưởng đến tự đánh giá, dẫn đến việc trẻ mang hình tượng cái tôi bị xuyên tạc: “Nó không mang lại cho người bị nhiễu tâm khả năng hiểu và chấp nhận bản thân thực tế với chính mình”
Trang 16Chứng rối nhiễu tâm lý có thể phòng ngừa được nếu ở lứa tuổi ấu thơ đứa trẻ ở trong một gia đình có đủ tình yêu thương, ấm áp và thông cảm, nó cảm thấy được
an toàn Do đó có thể khẳng định, TĐG của cá nhân chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu
tố giáo dục gia đình
Tác giả Morris Rosenberg là một trong số người có nhiều cống hiến cho việc nghiên cứu nguồn gốc và yếu tố ảnh hưởng đến sự TĐG Là một nhà xã hội học, ông cho rằng các điều kiện xã hội có ảnh hưởng nhiều đến sự TĐG, trong đó sự quan tâm và chú ý của người cha khác nhau trong các nhóm dân tộc, địa vị, nhóm thiểu số có liên quan có ý nghĩa tới sự TĐG của con cái Thanh thiếu niên có sự gần gũi với cha mình có sự TĐG cao hơn những người có mối quan hệ cha con xa cách Stanley Coopersmith cũng nghiên cứu về nguồn gốc của sự TĐG trong tác phẩm
“Những tiền đề của tự đánh giá” và cho rằng nguồn gốc của TĐG ở trẻ:
- Là toàn bộ hoặc gần như toàn bộ sự chấp nhận của cha mẹ đối với đứa trẻ
- Các giới hạn và nội quy đối với đứa trẻ được xác định rõ
- Sự tôn trọng các hành động cá nhân tồn tại trong giới hạn được xác định trên
Hệ quả là cha mẹ của những đứa trẻ có sự TĐG cao thì quan tâm và chú ý tới đứa trẻ và xây dựng một cuộc sống phù hợp với những cách thức mà họ cho là phù hợp và cho phép một mức độ tự do tương đối lớn trong khuôn khổ đã được hình thành Khi giới hạn được xác định rõ, cho phép đứa trẻ đánh giá được rõ các thành tích hiện có cũng như so sánh các hành vi và thái độ trước đó Điều này sẽ giúp cho đứa trẻ có sự TĐG bản thân cao [26, tr56]
Một hướng nghiên cứu của Alfred Adler liên quan đến TĐG đó là, yếu tố thể chất của cá nhân cũng ảnh hưởng đến TĐG của cá nhân đó: Sự không khoẻ mạnh về thể chất, sự yếu ớt trong việc phát triển cơ bắp, sự thiếu hụt một vài bộ phận trên cơ thể… có ảnh hưởng lớn đến TĐG của cá nhân Khái niệm “mặc cảm tự ti” nảy sinh khi cá nhân nhận thấy sự thua kém của bản thân khi cố gắng vượt qua những nhược điểm nhưng nhiều lần bị thất bại; hoặc cá nhân quá chú ý đến sự kém cỏi của bản thân sẽ dẫn đến sự tự ti
Trang 17Có thể thấy rằng, TĐG đã được nghiên cứu từ rất sớm dưới nhiều góc độ khác nhau trong đó có Tâm lý học Nhìn chung, các tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ như: sự hình thành của TĐG, các đặc trưng của TĐG, vai trò của TĐG đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Trong đó, đối tượng của TĐG chính là bản thân chủ thể, là “cái Tôi”: Cá nhân đánh giá khái quát về các giá trị của mình đồng thời đánh giá cụ thể từng phẩm chất năng lực của bản thân trong mối tương quan với người khác TĐG là điều kiện bên trong của tự ý thức, tự hoàn thiện nhân cách.TĐG có nguồn gốc từ đặc điểm và thái độ của các nhóm xã hội mà cá nhân tham gia vào, đồng thời cũng xuất phát từ bên trong là mong muốn, nguyện vọng của mỗi cá nhân
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Theo quan điểm thông thường tại Việt Nam thì “đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật” Từ những quan điểm trên có thể thấy rằng khái niệm đánh giá chỉ việc định giá về giá trị của một con người, một sự vật, một hiện tượng
“Nghiên cứu tự đánh giá thái độ học tập môn toán của sinh viên cao đẳng sư phạm Hà Nội” (năm 2000), tác giả Đào Lan Hương đã tiến hành nghiên cứu trên
360 sinh viên Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu là điểu tra bằng bảng hỏi, bên cạnh đó tác giả còn sử dụng phương pháp thực nghiệm khảo sát thực trạng mức độ phù hợp của TĐG về thái độ học toán ở sinh viên; và áp dụng biện pháp thử nghiệm tác động nhằm nâng cao khả năng TĐG phù hợp của sinh viên về thái độ học toán; đồng thời nghiên cứu cũng tiến hành thực nghiệm kiểm chứng biện pháp nâng cao khả năng TĐG phù hợp của sinh viên về thái độ học toán
Với nghiên cứu này, Đào Lan Hương đã rút ra một số kết luận:
Khả năng TĐG thái độ học toán của sinh viên phát triển không đồng đều với các mức độ khác nhau: Có sự khác biệt về khả năng TĐG thái độ học toán ở những sinh viên khác nhau về kết quả học tập, thái độ học tập, vị thế trong tập thể, hoạt động nghề nghiệp và môi trường học tập, cụ thể là: TĐG phù hợp chiếm tỉ lệ cao nhất ở nhóm sinh viên khá, giỏi là 44.16%, sinh viên có học lực trung bình có tỉ lệ là 26.25%
và sinh viên yếu, kém là 8.7% Trong đó, những sinh viên học tập đạt kết quả thấp lại
Trang 18có xu hướng tự đánh giá cao: 61.25% ở nhóm học lực trung bình và 83.04% ở nhóm học lực yếu, kém Sinh viên có thái độ học tập tích cực tự giác ở mức cao hơn thì tự đánh giá cũng phù hợp hơn: 45.66% ở sinh viên khá, giỏi 27.87% ở sinh viên học lực trung bình và 20.66% ở sinh viên học lực yếu, kém Nghiên cứu này cũng chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của sinh viên: Trình độ phát triển nhân cách là yếu tố bên trong ảnh hưởng đến sự tiếp thu của cá nhân đối với đánh giá bên ngoài, vì vậy nó ảnh hưởng một cách gián tiếp lên TĐG [13]
Nếu tự đánh giá là thích hợp - nghĩa là phù hợp với khách quan, trên cơ sở đạo đức, tiến bộ, đúng đắn thì sẽ thuận lợi cho sự phát triển tâm lý và đạo đức Trái lại, sự tự đánh giá không phù hợp có thể diễn ra theo hai hướng: Hoặc là thấp hơn khả năng thực tế của bản thân, hoặc là cao hơn Trong trường hợp thấp hơn, nếu không thấp quá thì không có hại gì, nhưng nếu thấp quá so với khả năng thực tế thì chủ thể đạo đức rơi vào tình trạng hoài nghi, mất tự tin thậm chí có thể bi quan và
do nhu cầu tự khẳng định bị tổn thương dễ làm cho nhân cách “co lại”, tự ti Ngược lại, nếu tự đánh giá lệch lạc về hướng quá cao sẽ làm cho bản thân rơi vào tình trạng
tự cao tự đại, có thể dẫn đến coi thường tập thể
Ở Việt Nam, TĐG được nghiên cứu khá phong phú ở lứa tuổi học sinh, sinh viên Các tác giả đã đề cập đến vấn đề TĐG dưới nhiều khía cạnh liên quan đến nhận thức, cảm xúc về bản thân và ý thức về bản ngã… Các tác giả tập trung nghiên cứu ở các lứa tuổi như: tuổi mẫu giáo, học sinh trung học cơ sở hay nghiên cứu ở thanh niên sinh viên…nhằm mục đích chỉ ra những đặc trưng TĐG của từng lứa tuổi Với sinh viên, một số tác giả đã chỉ ra đặc điểm khái quát về sự phát triển tâm
lý lứa tuổi của sinh viên, trong đó có nhấn mạnh đến TĐG của các em.Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể biểu hiện của TĐG ở lứa sinh viên trong các mặt cụ thể, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của lứa tuổi này
1.2 Một số vấn đề lý luận chung
1.2.1 Tự đánh giá
Trang 19Theo nhà xã hội học Morris Rosenberg trong cuốn “Xã hội và hình ảnh bản thân của thanh thiếu niên” (1965) đã định nghĩa tự đánh giá như là “thái độ tốt hay không tốt đối với bản thân” [26, tr95]
Cùng quan điểm nêu trên, tác giả Vũ Dũng cho rằng, cá nhân đánh giá chính mình, đánh giá những năng lực, phẩm chất và vị trí của mình so với những người khác Giá trị mà cá nhân gán cho mình hoặc cho những phẩm chất riêng biệt của mình gọi là tự đánh giá
Theo tác giả Đỗ Ngọc Khanh: TĐG là một hình thức phát triển cao của tự ý thức, là sự đánh giá tổng thể của một cá nhân về các giá trị bản thân với tư cách là một con người trong hoạt động và giao tiếp với người khác [14, tr33]
Qua tìm hiểu một số khái niệm về tự đánh giá, chúng tôi nhận thấy mỗi tác giả đã nhấn mạnh tới các nội dung khác nhau trong tự đánh giá: Có tác giả thì nhấn mạnh mặt thái độ, có tác giả thì nhấn mạnh mặt nhận thức, hoặc nhấn mạnh mặt quan hệ Song các tác giả đều thống nhất ở một điểm là đều coi tự đánh giá có bản chất là sự nhận xét, đánh giá về chính mình, là sự phát biểu của chủ thể về chính bản thân mình Tổng hợp từ các nghiên cứu về tự đánh giá, trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định:
Tự đánh giá là một hình thức phát triển cao của tự ý thức, trong đó con người nhận thức về chính bản thân mình, đánh giá tổng thể về các giá trị của bản thân trong mối quan hệ với những người xung quanh
Tự đánh giá là một trong những chỉ số của mức độ phát triển tự nhận thức và
là thành phần cơ bản của tự ý thức Trong bậc thang phản ánh thì đây là trình độ phản ánh của phản ánh, khi con người tự nhìn nhận, tự phê phán và tự đánh giá chính mình Tự đánh giá là đánh giá tổng thể của cá nhân về các giá trị của bản thân, thể hiện qua các mặt khác nhau của nhân cách với tư cách là một thành viên của xã hội
1.2.2 Phẩm chất nhân cách
Trang 20Nhân cách là một khái niệm rộng và phức tạp của tâm lý học Ở mỗi góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu có những quan niệm khác nhau về nhân cách.Vì vậy,
có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách Ngay từ năm 1949, G.Allport đã dẫn ra trên 50 định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về nhân cách
Khái niệm nhân cách chỉ nói về mặt xã hội, mặt tâm lý của cá nhân với tư cách thành viên của một xã hội nhất định, là chủ thể của các quan hệ người-người, của hoạt động có ý thức và giao tiếp Nhà Tâm lý học Xô viết X.L Rubinstein đã viết: “Con người là cá tính do nó có những thuộc tính đặc biệt, con người là nhân cách do nó xác định được quan hệ của mình với người xung quanh một cách có ý thức” [23, tr278]
Trong các quan niệm về nhân cách, cũng có những quan niệm sai lầm coi nhân cách nằm trong các đặc điểm sinh vật hay đặc điểm hình thể của con người theo kiểu “nhìn hình dáng để đoán số mệnh con người” Hoặc có quan niệm lại lấy quan hệ gia đình, dòng họ để thay thế một cách đơn giản máy móc các thuộc tính của cá nhân Có quan niệm chỉ chú ý đến cái chung, bỏ qua cái riêng trong nhân cách, đồng nhất nhân cách với con người…
Ngày nay, tâm lý học coi nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội - lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch
sử cụ thể của xã hội được chuyển vào trong mỗi con người Có thể nêu một số định nghĩa tiêu biểu về nhân cách như: “Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một
vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định”, hay
“Nhân cách là một con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội”
Ở mỗi cá nhân, nhân cách do các thuộc tính tâm lý của cá nhân hợp nhất lại
mà thành Trong nghiên cứu này, nhân cách được hiểu là tổ hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân quy định bản sắc và giá trị xã hội của con người
Phân tích khái niệm này cho thấy, nhân cách có một số đặc điểm sau đây:
Trang 21Thứ nhất, nhân cách không phải là tất cả các đặc điểm cá thể của con người
mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của con người như là một thành viên của xã hội
Thứ hai, nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà
là một cấu tạo tâm lý phức hợp Nói cách khác nhân cách là tổng thể những đặc điểm tâm lý đặc trưng với một cơ cấu xác định
Thứ ba, nhân cách con người không bẩm sinh, không tự nhiên có, nhân cách được hình thành dần trong quá trình tham gia các mối quan hệ của con người
Nhân cách quy định bản sắc riêng của cá nhân trong sự thống nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biến của cộng đồng mà cá nhân đó là đại biểu Nhân cách biểu hiện trên ba cấp độ: bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân và cấp độ siêu
cá nhân
Ở cấp độ bên trong cá nhân, nhân cách thể hiện tính riêng biệt, tính không đồng nhất, tính tích cực trong việc khắc phục những hạn chế của hoàn cảnh và của bản thân Phân tích nhân cách ở cấp độ bên trong cá nhân là xem xét nhân cách của bản thân cá nhân
Ở cấp độ liên cá nhân, nhân cách được thể hiện trong các mối quan hệ, liên
hệ với nhân cách khác Như vậy, phân tích nhân cách ở mức độ liên cá nhân là đã đặt nhân cách trong nhóm của nó (trong nhóm, trong tập thể, trong giai cấp…)
Cấp độ siêu cá nhân là mức độ cao nhất, ở cấp độ này nhân cách được xem xét như là một chủ thể đang tích cực hoạt động và gây những biến đổi ở người khác Phân tích nhân cách ở mức độ siêu cá nhân là xem xét những hoạt động của nhân cách có ảnh hưởng như thế nào tới những nhân cách khác, ảnh hưởng tới mức độ nào
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách thì nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm là những phẩm chất nhân cách cốt lõi
- Nhân là thật thà, thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào… sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ Vì thế mà không ham giàu
Trang 22sang, không e cực khổ, không sợ uy quyền Những người đã không ham, không e, không
sợ thì việc gì là việc phải, họ đều làm được
- Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc
gì phải giấu đoàn thể, ngoài lợi ích của đoàn thể, không có lợi ích riêng phải lo toan
- Trí là không bị việc gì làm cho mù quáng, đầu óc lúc nào cũng sáng suốt, trong sạch, dễ hiểu lý, dễ tìm phương hướng, biết xét người, xét việc Vì vậy mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho đoàn thể
- Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc gì khó phải có gan làm, thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa, cực khổ, khó khăn phải có gan chịu đựng Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng
- Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình Vì vậy mà quang minh chính đại không bao giờ
hủ hóa Chỉ có một cái ham là ham học, ham làm và ham tiến bộ [18, tr186]
Có thể so sánh quan điểm của Hồ Chí Minh và Khổng Tử về đạo đức của con người Khổng Tử cũng nêu lên năm đức tính: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín Mặc dù quan niệm của Khổng Tử về năm đức tính đó là tiến bộ trong thời đại của ông.Nhưng thực chất cũng chỉ nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị Ông đề cao đại nhân, còn tiểu nhân vẫn bị ông coi thường Điều khác so với nội dung đạo đức của Khổng Tử là lễ và tín, ở nội dung đạo đức Hồ Chí Minh là dũng và liêm Điều này thể hiện tính chất cách mạng trong quan niệm đạo đức Hồ Chí Minh Con người có phẩm chất dũng cảm, có ý chí mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng và xã hội giao cho Người cán bộ tiêu chuẩn quan trọng phải là liêm khiết, không tham ô, tham nhũng thì mới gọi là con người có đạo đức
Đức và tài là cách nói quen thuộc của Việt Nam (phù hợp với quan niệm cấu trúc nhân cách 4 khối) và được sắp xếp thành 2 mặt thống nhất đức và tài Theo quan niệm này thì đức và tài là phẩm chất và năng lực dưới sự chỉ đạo của ý thức
"bản ngã" tức là cái tôi [23, tr312]
1 Phẩm chất xã hội (hay đạo đức chính 1 Năng lực xã hội hóa
Trang 23trị) Bao gồm
- Thế giới quan, nhân sinh quan
- Lập trường
- Thái độ chính trị, thái độ lao động
- Lý tưởng niềm tin
- Chủ động tích cực
4 Cung cách ứng xử
- Tác phong, tính khí
- Lễ tiết
4 Năng lực giao lưu:
- Khả năng thiết lập và duy trì mối quan
hệ với người khác
- Phẩm chất nhân cách người cảnh sát nhân dân
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn.Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000
Trang 24Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau
Hoạt động nghề là quá trình hoạt động của con người bằng các năng lực chuyên môn của mình, thực hiện những nhiệm vụ nhất định mà xã hội giao phó để đảm bảo sự sinh tồn của mỗi cá nhân và đáp ứng nhu cầu của xã hội
Với mỗi nghề nghiệp nhất định thì sẽ có những hoạt động nghề khác nhau với những nhóm chuyên môn khác nhau
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân luôn quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, trong đó có CAND Người đã dành nhiều tâm trí, tình cảm cho quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển của lực lượng CAND, từ việc xác định quan điểm, đường lối; biện pháp công tác; xây dựng tổ chức; bố trí cán bộ đến những lời huấn thị, dạy bảo ân cần Bác luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng các phẩm chất của người chiến sĩ công an với quan điểm Công an của ta là Công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào dân mà làm việc
Bác nói: Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân Nếu biết dựa vào dân thì việc gì cũng xong Bác khái quát tư cách của người Công an cách mệnh là:
“Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép Đối với công việc, phải tận tuỵ
Đối với địch, phải cương quyết khôn khéo”
Lời dạy trên cũng chính là lời huấn thị chung cho lực lượng CAND [22, tr46]
Trang 25Như vậy có thể hiểu phẩm chất nhân cách của người cảnh sát là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của người cảnh sát nhân đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp, được hình thành và phát triển trong thực tiễn đời sống và trong hoạt động công tác của người cảnh sát
1.2.3 Sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân và một số đặc điểm tâm lý liên quan đến hoạt động nghề
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh là “student” có nghĩa là những người làm việc và học tập tích cực, tìm hiểu và khai thác tri thức khoa học Theo I.X Kôn thì: sinh viên là một bộ phận của thanh niên, mặt khác lại là một bộ phận của giới tri thức Có thể nói, sinh viên là một nhóm xã hội đặc thù, nhóm xã hội này vừa mang những đặc điểm chung của tầng lớp thanh niên và những đặc điểm riêng của mình là những người đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng hay trung học chuyên nghiệp
Sinh viên Học viện Cảnh sát, một bộ phận cấu thành quan trọng của lực lượng sinh viên Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước Sinh viên công an là tập hợp những người đang học tập tại các trường học viện, đại học, trung cấp công an trên phạm vi cả nước và được hưởng những chính sách đặc biệt của nhà nước dành cho lực lượng vũ trang nhân dân
Ngoài những đặc điểm tâm lý chung của sinh viên như: tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn, vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi, sáng tạo và tham gia các hoạt động tập thể thì sinh viên Học viện Cảnh sát còn có những đặc điểm tâm lý đặc trưng riêng Số sinh viên trúng tuyển vào đào tạo của trường đại
bộ phận là những đoàn viên gương mẫu được chọn lựa qua sơ tuyển về phẩm chất đạo đức, năng lực và tiêu chuẩn chính trị, có tâm huyết phấn đấu và rèn luyện trong môi trường của lực lượng vũ trang Là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự, lực lượng Công an nhân dân luôn xứng đánh là công cụ sắc bén để bảo vệ đảng, bảo vệ nhân dân Chính vì vậy, trong môi
Trang 26trường giáo dục đặc biệt, tất cả sinh viên cảnh sát đều nhận thức được vai trò quan trọng của mình, học tập và rèn luyện theo đúng kỷ luật, kỷ cương, chấp hành đúng điều lệnh, có mục đích chính trị rõ ràng và mục tiêu học tập đúng đắn, phù hợp với quan điểm của đảng, tinh thần đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đã chọn, vững vàng niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân
1.3 Một số vấn đề lý luận về tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát về những phẩm chất nhân cách nghề
1.3.1 Khái niệm tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát về những phẩm chất nhân cách nghề
Dựa trên khái niệm TĐG, các đặc điểm của sinh viên Học viện Cảnh sát và những yêu cầu đối với hoạt động nghề cảnh sát đã được trình bày ở trên, trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra khái niệm tự đánh giá về các phẩm chất nhân cách nghề của sinh viên Học viện Cảnh sát làm công cụ cho nghiên cứu này như sau:
Tự đánh giá của sinh viên Học viện cảnh sát về các phẩm chất nhân cách nghề là quá trình phát triển cao của tự ý thức, ở đó sinh viên Học viện Cảnh sát có những đánh giá tổng thể về những phẩm chất nhân cách của mình có phù hợp với những yêu cầu của hoạt động nghề cảnh sát hay không, trên cơ sở đó, sinh viên có thể điều chỉnh hành vi để đạt kết quả học tập tốt
1.3.2 Một số phẩm chất nhân cách nghề của sinh viên Học viện Cảnh sát
Trên cơ sở cấu trúc 4 nội dung của các phẩm chất nhân cách và những yêu cầu đối với hoạt động nghề của người cảnh sát nhân dân đã được trình bày ở trên chúng tôi nhận thấy có 10 phẩm chất nhân cách nổi trội cần có ở người cảnh sát bao gồm: Lòng dũng cảm; Tính trung thực; Tư tưởng, lập trường vững vàng; Kỷ luật, tập trung, tính thống nhất; Tính thực tế; Tính năng động; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tinh thần đoàn kết… Đây cũng chính là 10 phẩm chất nhân cách được đưa và bộ
Trang 27công cụ khảo sát thực tiễn nhằm xem xét mức độ TĐG của sinh viên Học viện Cảnh sát về những phẩm chất nhân cách này
- Tư tưởng lập trường vững vàng: Ngay từ khi bước chân vào cổng trường học
viện, từng sinh viên đã xây dựng rõ được vai trò của bản thân, xây dựng một lập trường, quan điểm, tư tưởng đúng đắn, xây dựng cho mình một lý tưởng sống đẹp, rèn luyện phẩm chất, đạo đức người cán bộ công an cách mệnh, một bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm, quyết chiến, quyết thắng Thấm nhuần hơn nữa chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng đạo đức mới xã hội chủ nghĩa Học tập, noi gương đạo đức, tác phong của Bác Hồ - người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam Ghi nhớ và làm theo lời dạy của Người “6 điều Bác Hồ dạy Công
an nhân dân Việt Nam”, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đề cao vai trò của tập thể
Xây dựng bản lĩnh, tuyệt đối trung thành với Đảng, “còn Đảng còn mình”, trung thành với Chủ Nghĩa Xã Hội, trung thành với lý tưởng, sự nghiệp của Đảng, lợi ích của dân tộc và nhân dân
Xây dựng cho bản thân lý tưởng sống đúng đắn, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc: Đó là tình yêu nghề nghiệp, là niềm tự hào khi mang trên mình bộ cảnh phục màu xanh của hòa bình, công lý và tự do, là tâm nguyện “gác cho dân vui chơi, thức cho dân ngủ ngon, lấy niềm vui hạnh phúc của nhân dân làm lẽ sống của mình”
- Lòng dũng cảm: Trong môi trường làm việc phải đối phó với nhiều kiểu tội
phạm và nhiều hành vi vi phạm pháp luật, người chiến sĩ cảnh sát cần rèn luyện cho mình đức tính dũng cảm Đối tượng đấu tranh của lực lượng Công an nói chung, lực lượng cảnh sát nói riêng là bọn phản Cách mạng, bọn tội phạm và những mặt trái của
xã hội với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Đặt ra yêu cầu đối với cán
bộ chiến sĩ trong ngành phải thường xuyên rèn luyện phẩm chất này để tạo ra cho mình bản lĩnh chống lại âm mưu của kẻ thù
- Tính kỉ luật, tập trung, thống nhất cao: sinh viên công an nhân dân luôn thực
hiện chế độ kỉ luật nghiêm minh của một lực lượng vũ trang nhân dân Điều đó cho
Trang 28thấy, trong sinh viên công an tính kỉ luật bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu nhằm đảm bảo phát huy sức mạnh của tập thể Hơn nữa, sinh viên công an sinh hoạt và học tập trong một môi trường tập trung đặt dưới sự quản lí thống nhất của các cấp lãnh đạo Vì vậy, sinh viên công an nhân dân luôn phát huy được sức mạnh và có tính thống nhất cao trong các hoạt động cụ thể Nhắc đến sinh viên lính nói chung
và sinh viên Công an nói riêng, khác với những sinh viên trường ngoài, mỗi sinh viên Công an luôn xác định được nhiệm vụ và vai trò của mình, ngoài công việc học tập thì luôn phải đề cao vấn đề rèn luyện Không những rèn luyện về thể chất mà còn về phẩm chất đạo đức Sinh viên phải học tập và rèn luyện trong môi trường kỷ luật, kỷ cương với những nội quy, quy chế của nhà trường đặt ra tương đối khắt khe hơn so với sinh viên các trường đại học bên ngoài Ở đây mỗi sinh viên đều được trang bị đầy đủ về quân tư trang, tư quần áo giầy dép, cặp sách…đều theo điều lệnh Công an nhân dân Từ đó tạo ra tư thế tác phong nghiêm trang, cứng rắn và nghiêm túc và trong từng cách đi đứng, ăn mặc đến lời ăn tiếng nói luôn được chú trọng …
- Tính trung thực: Đây là một phẩm chất cần thiết đối với mọi nghề nghiệp
Nhưng với nghề cảnh sát, tính trung thực là yêu cầu rất quan trọng để cán bộ chiến
sĩ thực hiện tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó Trong môi trường làm việc phức tạp, các loại tội phạm luôn tìm cách mua chuộc lực lượng chức năng để đạt được mục đích xấu Mỗi chiến sĩ cảnh sát cần đề cao tính trung thực, trước hết
là trung thực với chính bản thân mình, trung thực với tổ chức, với ngành và với nhân dân để không bị cuốn vào những việc làm sai trái
- Tính linh hoạt, mềm dẻo: Với tư cách là người dại diện cho nhà nước, hàng
ngày, hàng giờ tiếp xúc với nhân dân và duy trì trật tự an toàn xã hội, lực lượng cảnh sát luôn phải đối phó với hàng loạt các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch Chúng luôn tìm mọi cách, lợi dụng mọi cơ hội để bôi xấu lực lượng, bôi xấu ngành, nhằm hủy hoại lòng tin của quần chúng đối với lực lượng cảnh sát Để đối phó với các âm mưu này, các chiến sĩ cảnh sát cần rèn luyện không chỉ bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, tỉnh táo, nhạy bén, mà còn phải có sự linh hoạt, mềm dẻo trong công tác để chủ động ngăn chặn và đấu tranh
Trang 29làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch mà vẫn
giữ được sự tin tưởng của quần chúng
- Tính năng động: Trong môi trường kỷ luật, kỷ cương nhưng sinh viên Cảnh
sát luôn biết chủ động tìm tòi cái mới, luôn cố gắng học hỏi, nâng cao khả năng sáng tạo, chủ động tìm tòi tài liệu, sách báo phục vụ cho yêu cầu học tập cũng như rèn luyện Luôn nhạy bén với thời cuộc, nắm vững xu thế của thời đại, rèn đức luyện tài phục vụ yêu cầu đó Luôn tìm đến những phương pháp mới, đưa học tập thành chủ đạo, đưa những kiến thức khô khan trong sách vở thành những kiến thức thực tế thu hút sinh viên
Để đối đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và thực hiện tốt vai trò của mình khi tham gia công tác, mỗi sinh viên Học viện Cảnh sát cần rèn luyện cho mình tính năng động Bởi xã hội vô cùng phức tạp, nếu bản thân người chiến sĩ công an không năng động thì sẽ không thể đáp ứng được các yêu cầu của ngành và của xã hội đặt ra Vì thế, ngay từ khi còn học tập tại học viện, nhiều sinh viên công
an vừa tham gia học tập trên lớp, tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, các hoạt động võ thuật thể dục thể thao và tham gia các hoạt động xã hội khác tham gia phong trào tình nguyện…
- Tính cụ thể của lý tưởng: Sinh viên công an luôn được rèn vững về lý
tưởng Đó là kiên định theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, hết lòng phục
vụ đất nước, phục vụ nhân dân Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích của tất
cả mọi người Bên cạnh việc rèn luyện thì học tập được xem là vấn đề cốt lõi, cần thiết đối với mỗi sinh viên cảnh sát Mỗi sinh viên đã xác định cho mình động cơ học tập đúng đắn, tự giác học tập, nắm vững các chủ trương, đường lối, chính sách của đảng, trau dồi nâng cao lập trường giác ngộ giai cấp Chấp hành nghiêm chỉnh mọi chủ trương chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, các chỉ thị nghị quyết của ngành Công an
- Tính liên đoàn kết - liên kết: Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các
mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm Điều này là một lợi
Trang 30thế của sinh viên công an do điều kiện sinh sống và làm việc trong một môi trường tập thể
- Tinh thần trách nhiệm: Ở đây nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tinh thần
trách nhiệm, đạo đức cách mạng và ý thức pháp luật ở người Cảnh sát nhân dân.là người chiến sĩ có trách nhiệm trực tiếp bảo vệ trật tự, an ninh cho xã hội, là cầu nối trực tiếp giữa pháp luật và thi hành pháp luật Trước hết, người Cảnh sát nhân dân phải nêu cao tinh thần: muốn “uốn nắn” người khác, trước tiên phải “uốn nắn” mình, phải luôn gương mẫu đi đầu trong việc chấp hành pháp luật, chỉnh đốn tác phong nhất là khi thi hành công vụ trước các cơ quan Đảng, Nhà nước, các cơ quan ngoại giao, các cơ quan bảo vệ pháp luật, trước nhân dân, thực thi đúng nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, không được tùy tiện, bao che các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật Người cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân phải tăng cường bảo vệ pháp luật, chủ động tiến công các loại tội phạm và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật
- Khiêm tốn: Khiêm tốn là nền tảng đạo đức của cả dân tộc Việt Nam, Bác Hồ
đã từng nói, người khiêm tốn là người “đối với bản thân bao giờ cũng nhìn ra điều kém cỏi của mình Đối với đồng chí và bạn bè ai cũng là thầy học của mình phải học tập Đối với kẻ thù cần biết cái mạnh của địch, cái yếu của ta” Sinh viên học viện Cảnh sát phải biết đánh giá không thiên vị thực tài, luôn nêu cao ý thức học tập, phát triển không ngừng tư duy sáng tạo; sống cho phù hợp với hoàn cảnh và các giá trị chân - thiện - mĩ
- Vị tha: Vị tha là một tấm lòng vì mọi người, biết sống vì người khác, biết hi
sinh cho người khác hay nói khác đi là biết tương trợ, giúp đỡ mọi người Vị tha là một trong những phẩm chất cao đẹp nhất của con người, cũng như của người cảnh sát nhân dân nói riêng Lòng vị tha làm cho người gần người hơn, làm cho cuộc sống có
ý nghĩa hơn Nhờ lòng vị tha mà những cán bộ, chiến sĩ cảnh sát nhân dân mới có được đức hi sinh, tinh thần dũng cảm… để hoàn thành nhiệm vụ [22, tr56, 57,58] Theo quan điểm về Đức (phẩm chất) như đã trình bày ở trên, chúng tôi có thể nhóm các phẩm chất nhân cách nghề thành các nhóm như sau:
Trang 31- Nhóm phẩm chất xã hội: tính cụ thể của lý tưởng
- Nhóm phẩm chất cá nhân: tính năng động và tính trung thực
- Nhóm phẩm chất ý chí: tính đoàn kết, tính dũng cảm, tính kỷ luật và tinh thần trách nhiệm
- Nhóm cung cách ứng xử: vị tha, khiêm tốn và tính linh hoạt mềm dẻo
Tuy nhiên sự phân chia như trên chỉ mang tính chất tương đối vì có những phẩm chất nhân cách nghề có thể nằm ở cả hai hoặc nhiều nhóm phẩm chất khác nhau
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá về những phẩm chất nhân cách nghề của sinh viên
Nhận thức nghề nghiệp là một quá trình con người nhận biết, tìm hiểu về nghề nghiệp mình đang quan tâm
- Niềm tin vào tương lai nghề:
Niềm tin là một trong những giá trị quan trọng quyết định đến số phận, công danh, thành bại của mỗi con người, mỗi tập thể hay là mỗi quốc gia Niềm tin vào bản thân giúp con người có động lực, bản lĩnh, ý chí kiên cường vươn lên trong công việc và cuộc sống
Trang 32Nếu chúng ta không có niềm tin vào tương lai của ngành nghề mà chúng ta đang theo đuổi thì cũng có nghĩa là chúng ta sẽ không dành toàn bộ tâm huyết, quyết tâm của mình và công việc, đặt biệt trong những hoàn cảnh khó khăn
- Hứng thú với nghề:
Hứng thú là thái độ đặc biệt của con người đối với sự vật hiện tượng nào đó, vừa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống, vừa đem lại cho họ những khoái cảm trong quá trình hoạt động E.M.Chevlov cho rằng: “Hứng thú là động lực quan trọng nhất trong việc nắm vững tri thức, mở rộng học vấn, làm giàu nội dung của đời sống tâm lý con người Thiếu hứng thú hoặc hứng thú mờ nhạt, cuộc sống con người sẽ trở nên ảm đạm và nghèo nàn Đối với con người như vậy thể hiện đặc trưng nhất ở họ là sự buồn chán” Hứng thú khiến cho con người làm việc chăm chỉ, quên mệt mỏi, là nhân tố kích thích hoạt động, kích thích khả năng tìm tòi, sáng tạo
ở con người
Theo tiến sĩ N.G.Marôzôva, có ít nhất ba yếu tố đặc trưng cho hứng thú: 1
Có xúc cảm đúng đắn đối với hoạt động; 2 Có khía cạnh nhận thức của xúc cảm này (niềm vui tìm hiểu và nhận thức); 3 Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tức là hoạt động tự nó lôi cuốn và kích thích, không phụ thuộc vào các động cơ khác [3, tr37]
Hứng thú đối với nghề nghiệp thể hiện thái độ của con người đối với một hoặc một số nghề xác định, biểu hiện thái độ của con người muốn làm quen tìm hiểu những nghề đó, là động lực thúc đẩy người ta chọn nghề và là nguồn gốc cơ bản của lòng yêu nghề, niềm vui nghề nghiệp
Hứng thú nghề được biểu hiện trong ý thức về giá trị của nghề và sự cuốn hút cảm xúc đối với người đó, trong sự say mê đối với quá trình lao động và học tập nhằm hoàn thiện, nâng cao học vấn chung và tay nghề của mình Hứng thú nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy con người tìm tòi, sáng tạo trong lao động, đi sâu vào mọi hoạt động có liên quan đến nghề nghiệp mà mình yêu thích
1.3.3.2 Yếu tố khách quan
- Mức độ quan tâm của gia đình:
Trang 33Mức độ quan tâm của gia đình có ảnh hưởng nhiều đến cách tư duy và định hướng học tập của sinh viên Gia đình chu cấp hàng tháng, gia đình thường xuyên động viên, thăm hỏi; gia đình định hướng cho con cái… Tất cả những điều đó đều ảnh hưởng đến quá trình học tập và công tác của học viên
- Môi trường học tập:
Môi trường học tập cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên việc học tập và tiếp thu kiến thức của học sinh, sinh viên Môi trường học tập và hứng thú học tập có mối quan hệ mật thiết với nhau Chính vì vậy, nhà trường và người dạy cũng cần chú trọng đến việc cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương pháp học tập, tài liệu giảng dạy Qua đó người học sẽ có cơ hội có thể phát huy hết sở trường, khả năng của mình và hứng thú trong học tập
Tiểu kết chương 1
Có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về tự đánh giá, tiêu biểu như
William James, George H.Mead, Sigmund Freud, K Horney, A Adler, Morris
Rosenberg, Phạm Minh Hạc, Đào Lan Hương… Tuy nhiên nghiên cứu tự đánh giá của sinh viên Học viện Cánh sát về các phẩm chất nhân cách nghề là đề tài nghiên mới
Tự đánh giá về các phẩm chất nhân cách nghề của sinh viên Học viện cảnh sát là quá trình phát triển cao của tự ý thức, ở đó sinh viên Học viện Cảnh sát có những đánh giá tổng thể về những phẩm chất nhân cách của mình có phù hợp với những yêu cầu của hoạt động nghề cảnh sát hay không, trên cơ sở đó, sinh viên có
thể điều chỉnh hành vi để đạt kết quả học tập tốt
Căn cứ vào yêu cầu của hoạt động nghề cảnh sát nhân dân, một số phẩm chất nhân cách nghề của người cảnh sát được xác định bao gồm: Lòng dũng cảm; Tính trung thực; Kỷ luật; Tính năng động; Tính linh hoạt mềm dẻo; Tinh thần đoàn kết, tính vị tha, tính khiêm tốn, tinh thần trách nhiệm và tính cụ thể của lý tưởng
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự đánh giá về các phẩm chất nhân cách nghề, trong đó bao gồm những yếu tố khách quan như mức độ quan tâm và
Trang 34định hướng của gia đình, môi trường học tập và yếu tố chủ quan như niềm tin vào tương lai nghề, nhận thức nghề, hứng thú với nghề…
Trang 35Chương 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về Học viện Cảnh sát nhân dân
Học viện Cảnh sát nhân dân với tiền thân là Khoa Cảnh sát nhân dân trực thuộc trường Công an trung ương được Bộ trưởng quyết định thành lập từ năm
1962, đến năm 1968 tách ra thành lập trường Cảnh sát nhân dân Trong hơn 40 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, từ một khoa Cảnh sát nhân dân trực thuộc trường Công an Trung ương (1962), tiếp đến là Phân hiệu Cảnh sát nhân dân trực thuộc trường Công an trung ương (1965), Trường Cảnh sát nhân dân (1968), Trường Sĩ quan Công an nhân dân (1976), Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (1981) và Học viện Cảnh sát nhân dân từ năm 2001 cho đến nay, Học viện Cảnh sát nhân dân đã có một ví trí quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước, các trường Công an nhân dân và trong hệ thống các nhà trường Cảnh sát của khu vực Từ chỗ chủ yếu là đào tạo hệ sơ cấp, trung cấp ban đầu, tiếp đến đào tạo đại học và ngày nay Học viện Cảnh sát nhân dân đã vươn lên đào tạo sau và trên đại học, bồi dưỡng nâng cao, chỉ huy các cấp, trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đầu ngành của lực lượng Công an và lực lượng Cảnh sát nhân dân của cả nước Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đều được đào tạo cơ bản, có năng lực, trình độ và phương pháp sư phạm Mục tiêu chương trình đào tạo ngày càng hoàn thiện, bám sát với yêu cầu phát triển của thực tiễn Chất lượng đào tạo của Học viện không ngừng được nâng cao, với hơn 4 vạn học viên tốt nghiệp ra trường trong thời gian qua đã trưởng thành về nhiều mặt Nhiều đồng chí đã trở thành các nhà lãnh đạo, nhà khoa học có uy tín trong và ngoài ngành; một số đồng chí đã giữ những cương vị cấp cao của Đảng, Nhà nước và của ngành Công an nhân dân; trong đó không ít học viên quốc tế thuộc lực lượng Cảnh sát nhân dân các nước bạn láng giềng: Lào, Campuchia và các nước trong khu vực Cơ sở vật chất của Học viện được đầu tư, phát triển theo hướng hiện đại, phục vụ nhiệm vụ dạy học, nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và sinh viên nhà trường
Trang 36Năm 2012, nhà trường đã vinh dự được Đảng, Nhà nước đã trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ đổi mới
Học viện Cảnh sát nhân dân đã phát triển qua các thời kỳ, với các tên gọi khác nhau, đã có một vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước, các trường Công an nhân dân và trong hệ thống các nhà trường Cảnh sát khu vực Từ chỗ chủ yếu là đào tạo hệ sơ cấp, trung cấp ban đầu, tiếp đến đào tạo đại học và ngày nay Học viện Cảnh sát nhân dân đã đào tạo trình độ trên đại học, bồi dưỡng chức danh chỉ huy các cấp, trở thành một trong các trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đầu ngành của lực lượng Công an nhân dân
Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục được đào tạo cơ bản, có năng lực, trình độ và phương pháp sư phạm Mục tiêu chương trình đào tạo ngày càng hoàn thiện, bám sát với yêu cầu phát triển của thực tiễn Hiện nay, Học viện có 33 đơn vị đầu mối gồm: các Khoa, Bộ môn, Phòng, Ban, Trung tâm và Tạp chí với số cán bộ, giáo viên, công nhân viên gần 900 người, trong đó số cán bộ, giáo viên có trình độ
GS, PGS, TS chiếm tỷ lệ nhất định Riêng Phân hiệu đại học Cảnh sát nhân dân phía Nam của Học viện đã được tách ra từ ngày 25/12/2006 và hiện nay là trường Đại học CSND
Học viện tiếp tục đi vào chiều sâu việc gắn đào tạo với thực tiễn chiến đấu của Ngành và xác định đây là khâu đột phá trong đổi mới phương pháp đào tạo của Học viện Đã tổ chức ký kết hợp tác với Công an Thành phố Hà Nội; với Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng của Tổng cục 8 và nhiều đơn vị liên quan nhằm tăng cường gắn công tác giáo dục đào tạo với thực tiễn chiến đấu của Ngành Học viện Cảnh sát nhân dân cũng là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên trong các trường Công an nhân dân nghiên cứu và công bố chuẩn đầu ra cho sinh viên các hệ đào tạo Ngày 12/6/2013, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký phê duyệt đề án: “Phát triển Học viện CSND thành cơ sở giáo dục trọng điểm của ngành Công an”
Với các thành tích đạt được, Học viện CSND đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương cao quý và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới
Trang 372.2 Tổ chức nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu lý luận
Từ nghiên cứu lý luận xác định quan điểm chủ đạo trong việc nghiên cứu tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát về một số phẩm chất nhân cách nghề và một số yếu
tố tác động chủ quan và khách quan đến sự tự đánh giá này trong thực tiễn Nội dung nghiên cứu lý luận như sau:
- Khái quát lịch sử các nghiên cứu trong và ngoài nước về những vấn đề liên quan đến đánh giá, tự đánh giá của sinh viên Từ đó, xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Xác định các khái niệm công cụ như đánh giá, tự đánh giá, phẩm chất nhân cách nghề và tự đánh giá của sinh viên về một số phẩm chất nhân cách nghề
2.2.2 Nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu thực tiễn được tiến hành theo 2 giai đoạn: Khảo sát thử và khảo sát trên diện rộng
Tổng mẫu khách thể nghiên cứu là 280 sinh viên, trong đó có 30 sinh viên tham gia khảo sát thử, 250 sinh viên tham gia khảo sát trên diện rộng, phỏng vấn sâu 10 sinh viên (số sinh viên tham gia phỏng vấn sâu nằm trong 250 sinh viên tham gia khảo sát trên diện rộng)
Dưới đây là bảng phân bố mẫu nghiên cứu của 250 sinh viên tham gia khảo sát trên diện rộng:
Bảng 2.1 Mẫu nghiên cứu
Trang 392.3 Các phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá những lý thuyết, những công trình nghiên cứu thực tiễn của các tác giả ở trong và ngoài nước trên cơ sở những công trình đã được công bố trên các sách báo và tạp chí khoa học trong nước
và quốc tế về những vấn đề liên quan đến tự đánh giá của sinh viên về một số phẩm chất nhân cách nghề
2.3.2 Phương pháp chuyên gia
Trao đổi và tiếp nhận ý kiến đóng góp của các giảng viên chuyên môn có kinh nghiệm trong lĩnh vực tâm lý học và các lĩnh vực liên quan đến đánh giá và tự đánh giá các phẩm chất nhân cách nghề để xây dựng cơ sở lý luận và các công cụ nghiên cứu
2.3.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Quá trình điều tra bằng bảng hỏi gồm 03 giai đoạn: Giai đoạn thiết kế bảng hỏi, giai đoạn điều tra thử, giai đoạn điều tra chính thức
a Giai đoạn thiết kế bảng hỏi:
Mục đích: Thu thập thông tin nghiên cứu để hình thành nội dung sơ bộ cho bảng hỏi
Khách thể được thu thập thông tin: 30 sinh viên tại trường Học viện Cảnh sát Nội dung thu thập thông tin nghiên cứu: chúng tôi sử dụng 02 nguồn thông tin Nguồn thứ nhất, tổng hợp những nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nước
về tự đánh giá của sinh viên về một số phẩm chất nhân cách nghề Nguồn thứ hai là khảo sát thăm dò sinh viên đang học tập tại trường trong diện nghiên cứu Tổng hợp thông tin từ 02 nguồn trên, chúng tôi xây dựng 01 bảng hỏi dành cho sinh viên Bảng hỏi dành cho sinh viên gồm 02 phần:
+ Phần 1: Tự đánh giá của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân về một số phẩm chất nhân cách nghề
Nghiên cứu tự đánh giá của sinh viên về 10 phẩm chất nhân cách nghề: Tính dũng cảm, trung thực, đoàn kết, kỷ luật, linh hoạt mềm dẻo, năng động, tính cụ thể của lý tưởng, khiêm tốn, trách nhiệm và vị tha
Trang 40+ Phần 2: Tìm hiểu một số yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến sự
tự đánh giá của sinh viên về một số phẩm chất nhân cách nghề, một số thông tin cá nhân về khách thể nghiên cứu
b Giai đoạn điều tra thử:
- Mục đích: Xác định mức độ rõ ràng của các câu hỏi, mức độ thu thập thông tin ý nghĩa và độ tin cậy của bảng hỏi và chỉnh sửa và hoàn thiện bảng hỏi
- Khách thể điều tra thử: 30 sinh viên
- Hình thức điều tra thử: Điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn
- Cách thức xử lý số liệu:Dữ liệu thu thập từ khảo sát thử được xử lý bằng chương trình SPSS, phiên bản 13.0 Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích hệ số Alpha Cronbach để xác định độ tin cậy và độ giá trị của thang đo Kết quả độ tin cậy thu được lần lượt như sau:
Trên cơ sở hệ số Alpha tìm được, chúng tôi tiến hành điều chỉnh câu 5, câu
8, câu 9 để tăng độ tin cậy và loại bỏ câu 7 (phần động cơ chọn nghề của sinh viên)
vì có giá trị thấp
Dưới đây là bảng hiển thị độ tin cậy của thang đo
Bảng 2.2: Độ tin cậy của thang đo
I Độ tin cậy của thang đo các phẩm chất nhân cách