Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, một nghiên cứu về các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng - triều đại được coi là phát triển lớn mạnh nhất, nhưng cũng có nhiều cu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng
(1820-1840)”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể Ban Giám
hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Lịch sử ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc
gia Hà Nội cùng các các phòng, ban chức năng của nhà trường; tập thể cán bộ của
Trung tâm Thông tin - Thư viện, ĐHQGHN Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành
về sự giúp đỡ đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Văn Quân, người thầy trực tiếp
hướng dẫn và chỉ bảo cho trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Ngoài ra, tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của rất nhiều thầy
cô giáo trong khoa Lịch sử, bạn bè và gia đình So với sự giúp đỡ của mọi người,
thành quả nghiên cứu này quả là hết sức nhỏ bé
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả
Hà Nội, ngày … tháng… năm 2014
Học viên Đặng Thị Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác
Hà Nội, ngày … tháng… năm 2014
Học viên Đặng Thị Hương
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 - NHỮNG CON SỐ TỔNG QUAN 17
1.1 Theo không gian 17
1.2 Theo thời gian 18
1.3 Về thành phần và lực lượng tham gia 19
1.4 Về mục đích nổi dậy 20
CHƯƠNG 2 - CÁC CUỘC NỔI DẬY CỦA NÔNG DÂN 26
2.1 Những chính sách chuyên chế của Minh Mạng 27
2.1.1 Cải cách hành chính và nạn tự trị làng xã 27
2.1.2 Vấn đề ruộng đất, thuế, binh dịch và trị thủy… 27
2.2 Nổi dậy phản kháng của nông dân 37
CHƯƠNG 3: CÁC CUỘC NỔI DẬY CỦA TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ 47
3.1 Miền thượng du Bắc Bộ 47
3.1.1 Cải cách hành chính khu vực miền núi Vấn đề kinh tế mỏ 47
3.1.2 Nổi dậy cát cứ của các nhóm liên minh tù trưởng lỏng lẻo 58
3.2 Miền thượng du Quảng Ngãi và phía Nam Trung Bộ 71
3.2.1 Nguồn, lái thương và thuế thương mại 75
3.2.2 Nổi dậy của các tộc Man Đá Vách và người Chăm 82
3.3 Trấn Tây thành 84
3.3.1 Khu vực tranh chấp quyền lực Trấn Tây Thành 84
3.3.2 Nổi dậy của thổ quan, thổ dân Cao Miên 88
CHƯƠNG 4: CÁC CUỘC NỔI DẬY CỦA QUAN LẠI, NHÂN SĨ 90
4.1 Sĩ phu Bắc Hà và chính sách cai trị tập trung của trung ương 91
4.2 Vùng đất Nam Bộ và sự biến thành Phiên An 99
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PH L C………119
Trang 6BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG THỐNG KÊ
Biểu đ 1: Các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng 1820-1840) tại các tỉnh
Biểu đ 2: Di n biến của tình trạng nổi dậy dưới triều Minh Mạng 1820-1840) Biểu đ 3: Thành phần hởi xướng
Biểu đ 4: Lực lượng tham gia nổi dậy
Biểu đ 5: Nổi dậy của nông dân: Tỷ lệ giữa nổi dậy vô danh và nổi dậy có danh tính Bảng 1: Tô thuế ruộng dưới triều đại Minh Mạng (1820-1840)
Bảng 2: Sự phân hóa ruộng đất ở một số địa phương
Bảng 3: Biểu thuế thân năm 1803 và một số điều chỉnh năm 1804, 1808
Bảng 4: Giá thóc thời Gia Long và Minh Mạng
Bảng 5: Thống kê giá gạo tăng do thiên tai dưới triều Minh Mạng (1820-1840) Bảng 6: Thống kê thiệt hại về người và của do một số lần thiên tai tại Bắc Trung bộ dưới triều Minh Mạng (1820-1840)
Bảng 7: Thống ê lực lượng của nổi dậy nông dân dưới triều Minh Mạng
Bảng 8: Thống ê lực lượng của nổi dậy thiểu số tại Đàng Ngoài cũ
Trang 8Nhiều nghiên cứu về triều Nguy n đã được xuất bản Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, một nghiên cứu về các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng - triều đại được coi là phát triển lớn mạnh nhất, nhưng cũng có nhiều cuộc nổi dậy nhất của triều Nguy n - vẫn chưa có mặt Một triều đại ở đỉnh cao của năng lực chính trị-quân sự, song cũng là triều đại của hầu hết các cuộc nổi dậy lớn nhất trong lịch sử toàn triều Nguy n Điều này đặt ra một vấn đề, phải chăng quyết tâm thống nhất thể chế động chạm tới quyền lợi của các nhóm lợi ích? Hầu hết các cuộc nổi dậy đều là của nông dân, hay còn có sự góp mặt của các tầng lớp xã hội khác? Khái niệm “ hởi nghĩa” vốn được sử dụng trong các nghiên cứu trước, liệu đã phản ánh được đầy đủ tính chất của sự phản kháng của các bộ phận dân cư đối với quyền lực cai trị? Bởi vì các cuộc nổi dậy là phản ứng của các nhóm dân cư đối với quyền lực trung ương, nó là sự thể hiện đa dạng trên các mặt chính trị, quân sự, kinh
tế, xã hội, tộc người… của mô hình cai trị của trung ương đối với bộ phận dân cư, ế thừa trực tiếp từ trạng thái của xã hội thời kỳ trước, tức thời Gia Long, và tạo nên di sản về cả vật chất lẫn tinh thần đối với thời kỳ sau, là thời Thiệu Trị, Tự Đức
Vì vậy, luận văn được triển khai nhằm đưa ra một góc nhìn đối với vấn đề nêu trên, cũng như cung cấp tư liệu cần thiết cho các nghiên cứu về sau
Từ nhận thức trên, tác giả lựa chọn đề tài “Các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng (1820-1840)”
Trang 92 ị n n n
Ngoài các bộ sử biên niên, các cuộc nổi dậy triều Nguy n thường được các tác phẩm nghiên cứu lịch sử đề cập từ nhiều hướng khác nhau, tựu chung đi theo một số hướng như: i) xem nổi dậy là một trong các vấn đề của triều đại, gắn liền với công tác nội trị, ii) xem nổi dậy là biểu hiện của sự khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam, và iii) tiếp cận nguyên nhân nổi dậy từ đặc điểm của các cuộc nổi dậy, đặt trong các điều kiện về kinh tế, xã hội, chính trị
Trong hướng phân tích thứ nhất, vai tr chủ thể của các cuộc đấu tranh vô hình trung bị coi nhẹ Hướng phân tích tập trung chủ yếu vào sự hủng hoảng của quyền lực và cách thức quản lý của triều đình Vì vậy, các yếu tố đặc trưng về xã hội, inh tế của các nhóm lực lượng xã hội chưa được phân tích sâu trong cuộc tương tác với nhóm cầm quyền
Cách tiếp cận thứ hai dẫn tới hệ quả coi toàn bộ các cuộc đấu tranh đều là khởi nghĩa của nông dân Tương tác xã hội bị đóng hung trong lý thuyết đấu tranh giai cấp, tạo nên quan điểm thiên kiến giữa một bên là triều đình “thủ cựu” với một bên là nông dân mang “tinh thần cách mạng” Điều này ít nhiều đánh mất lý do nổi dậy thực
sự của mỗi nhóm lực lượng xã hội và những đóng góp tích cực của triều đình
Cách nghiên cứu thứ ba tiếp cận cả hai chiều: từ trên xuống đối với các chủ trương chính trị-kinh tế-xã hội của triều đình và từ dưới lên theo tính chất đặc trưng của mỗi nhóm xã hội dẫn đến cách phản ứng riêng đối với chính sách cai quản của triều đình Các cuộc nổi dậy là biểu hiện của phản ứng xã hội với các đặc trưng riêng của mỗi lực lượng
Về các tác phẩm nghiên cứu, một cuốn sách được nhiều người biết đến là cuốn
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX NXB Văn hóa thông tin, 2006) của
học giả Đào Duy Anh Biên soạn lần đầu năm 1949, viết lại lần hai và lần ba vào các năm 1952, 1954 theo lối phân tích-tiến trình, cuốn sử có giá trị hái lược lớn Trong
tác phẩm, vấn đề các cuộc nổi dậy thế kỷ XIX là nội dung của Chương XLVIII - Nhà Nguyễn củng cố nội trị Những cuộc nổi dậy tiêu biểu của mỗi tầng lớp đều được khái
lược rõ ràng về nguyên nhân, mục đích và di n biến Tuy nhiên, có thể do tính cô
Trang 10đọng cần thiết của một cuốn giáo trình, nguyên nhân của hầu hết các cuộc nổi dậy đều đưa ra dưới dạng luận điểm giả thiết Khoảng trống dẫn giải này làm một thử thách thú vị đối với các người nghiên cứu về sau
Ra đời gần như cùng lúc, song tác phẩm nghiên cứu Sự khủng hoảng của chế
độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1858 (sơ khảo) NXB Văn hóa, 1958) của tác giả Trần Văn Giàu lại mang một sắc thái gần như đối lập Nếu như Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX đại diện cho hướng tiếp cận thứ nhất thì Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1858 (sơ khảo) là tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu thứ hai Tác giả sử dụng lý thuyết đấu tranh giai cấp làm cơ sở tiếp cận vấn đề Mặc dù có những hạn chế mang tính thời đại, tính hệ thống cũng như giá trị phân tích của cuốn sách không vì thế mà có thể phủ nhận Trong công trình nghiên cứu, vấn đề các cuộc nổi dậy được đặt trên tư cách hệ quả xã hội của một quyền lực phong kiến phản động, với nguyên nhân trực tiếp là những chính sách kinh tế-chính trị sai lầm của triều đình cai trị
Hai nghiên cứu khá phổ biến khác là Phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX và Lê Văn Khôi và sự biến thành Phiên An (1833-1835) của tác giả Nguy n Phan Quang (tập hợp trong Một số công trình sử học Việt Nam, NXB Tổng
hợp TPHCM, 2006) Sự phong phú về tư liệu tư liệu chính sử, tộc phả, tác phẩm dân gian, tư liệu tiếng Pháp và kết quả thực địa) mang lại sự chi tiết đáng ngạc nhiên đối với từng sự kiện Tiếp cận tác phẩm có thể thấy nỗ lực của tác giả nhằm đem lại một cái nhìn đầy đủ và chi tiết đối với mỗi vấn đề Về cơ bản, tác phẩm thiên về cách tiếp cận thứ hai nhiều hơn: hởi nghĩa nông dân được định nghĩa cho mọi cuộc nổi dậy, một số quan điểm thiên kiến giữa triều Tây Sơn và triều Nguy n… Tuy nhiên, có lẽ việc xem xét một khối lượng tư liệu lớn về nhiều khía cạnh khiến đôi lúc tác giả có những “lối rẽ” nhận định ít mang tính áp đặt Ví dụ, trong nghi vấn về ý đ lật đổ vương triều ngay từ đầu những năm 1820 của liên minh giữa Nông Văn Vân và Lê Văn Khôi và các tù trưởng, tác giả đã đặt lại vị trí chủ thể cho phong trào phản kháng, trước khi lại quy vào những nguyên do về suy thoái chế độ, mâu thuẫn giai cấp
Trang 11Về nguyên nhân bùng nổ của phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6/1998) và Sự bùng nổ của các mâu thuẫn xã hội và sự lan rộng của khởi nghĩa nông dân (Mục 4, Việt Nam-Đại Nam thời Nguyễn nửa thế kỷ XIX, Giáo trình nội bộ, ĐH KHXH&NV, ĐH QGHN) của tác giả Vũ Văn
Quân là những nghiên cứu đặc trưng cho xu hướng tiến cận thứ ba Đây là ết quả từ những nghiên cứu trước đó về vấn đề ruộng đất, tô thuế, quản lý nông thôn của tác
giả; một số công trình như: Chế độ ruộng đất, kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (LA PTS Sử học, ĐH Tổng hợp Hà Nội, 1991), Diễn biến của chế độ sở hữu ruộng đất ở một số làng buôn tiêu biểu thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ (đầu thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX) (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2/1994), Nhà Nguyễn với vấn
đề quản lý nông thôn ở thế kỷ XIX (trong Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, 1994) Trong hai nghiên cứu nói trên, hệ
quả của các vấn đề tô thuế, sở hữu ruộng đất và thiết chế quản lý địa phương được xem là nguyên nhân của các phong trào nông dân Đối với nổi dậy nói chung, những thống kê và nghiên cứu hái quát đã được thực hiện song chưa đi vào chi tiết Vì vậy, tác giả cẩn trọng đặt chung dưới khái niệm “mâu thuẫn xã hội” thay vì “ hởi nghĩa nông dân” Áp chế hành chính-quân sự của trung ương cộng tình trạng lạm quyền, tham nhũng tại địa phương được bước đầu nhận định là nguyên nhân nổi dậy trên diện rộng
Vấn đề ruộng đất trong phong trào đấu tranh của nông dân đồng bằng ven biển Bắc Bộ dưới triều Nguyễn (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6/1996) của tác giả Bùi Quý Lộ và Vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa vấn đề ruộng đất và khởi nghĩa nông dân (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6/1998) của Nguy n Cảnh Minh và Bùi
Việt Hùng tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ giữa vấn đề ruộng đất với phong trào nông dân triều Nguy n nhưng trong phạm vi địa phương Nghiên cứu của Bùi Quý
Lộ xét riêng khu vực đ ng bằng ven biển Bắc Bộ: Thái Bình, Nam Định, gắn liền với khởi nghĩa Phan Bá Vành Phạm vi giới hạn được đền bù bằng sự chi tiết về tư liệu, không chỉ về chỉ số ruộng đất mà còn về các mối quan hệ sở hữu ruộng đất, quản lý của quan viên tại địa phương – là những nhân tố tác động trực tiếp đến phong trào
Trang 12đấu tranh của nông dân tại vùng khẩn hoang Nghiên cứu của đ ng tác giả Nguy n Cảnh Minh và Bùi Việt Hùng tiến hành qua khảo sát ruộng đất công tại huyện Yên Hưng, Quảng Ninh thế kỷ XIX Qua tư liệu địa bạ, hoán ước, văn bia, tác giả rút ra nhận x t về mức sở hữu tư nhân phân tán, nhỏ lẻ của địa phương, trong khi ruộng công được duy trì trên diện rộng Đây được xem là lý do cho con số nổi dậy ít ỏi của khu vực
Tác động của thiên tai lũ lụt đối với các cuộc bạo động ở nông thôn Bắc Bộ dưới thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6/1998) của
Đỗ Đức Hùng đề cập đến tình trạng nổi dậy từ một khía cạnh hác: tác động của điều kiện tự nhiên đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp Bài viết ghi nhận về tình trạng thiên tai, mất mùa, dẫn tới nạn đói và cơ hội quyền lực tại địa phương Nhân lực xiêu tán, đóng góp một lực lượng đáng ể vào các cuộc bạo động Luận điểm được đưa ra ngắn gọn với dẫn chứng con số, sự kiện rõ ràng, luận giải gần gũi
Nghiên cứu về các cuộc nổi dậy cũng được thực hiện bằng phương pháp so sánh, giữa phong trào nông dân của thế kỷ XVIII và của nửa đầu thế kỷ XIX Về cách
thức tiếp cận này có thể đưa ra hai bài viết: Suy nghĩ thêm về phong trào nông dân thế
kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6, 1998) của Nguy n Danh Phiệt và Điểm lại một số ý kiến về phong trào nông dân Việt Nam thể kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6, 1998) của Hoàng Lượng
Đúng như tên gọi, bài viết của Nguy n Danh Phiệt đưa ra những suy nghĩ về nét khác biệt và rút ra đặc trưng của đấu tranh của nông dân tại mỗi thời kỳ Do hông đi sâu, nhận định được đưa ra hầu hết thuộc là các đặc điểm về thời gian, tính quy mô… Tuy vậy, điểm tích cực là nghiên cứu đã lưu ý một cách rõ ràng sự cần thiết phải phân loại đối tượng nổi dậy và quan tâm đến cả hai chiều tương tác giữa bên “phản háng” và bên “bị phản háng”, mặc dù về tổng thể, quan điểm đấu tranh giai cấp vẫn chi phối các nhận định
Về bài Điểm lại một số ý kiến về phong trào nông dân Việt Nam thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX của tác giả Hoàng Lượng, ta bắt gặp một “lược sử” các nhận
định từ đầu XX trở về đây đối với phong trào nông dân thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài,
Trang 13phong trào nông dân Tây Sơn và phong trào nông dân nửa đầu XIX Nhận định về các phong trào nông dân được rút ra từ các cuốn sử tiến trình, đ ng thời, tác giả cũng giới thiệu những nghiên cứu chuyên khảo giúp ích cho việc tìm hiểu/sưu tầm tài liệu
“Tĩnh Man trường lũy” và những cuộc nổi dậy của “Thạch Bích Man” dưới triều Nguyễn (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4, 2001) của Nguy n Hữu Thông và
Nguy n Phước Bảo Đàn là một trong những nghiên cứu ít ỏi về nổi dậy của các tộc
người thiểu số dưới triều Nguy n, bên cạnh Khâm định tiễu bình Thuận tỉnh nghịch phỉ phương lược phụ biên và hai nghiên cứu của Đào Duy Anh và Nguy n Phan
Quang kể trên Thông qua sự kiện dựng lũy Tĩnh Man, cuộc nổi dậy của tộc Thượng vùng Quảng Ngãi và cuộc đánh dẹp từ triều Gia Long đến Tự Đức được ghi nhận: bình định hó hăn đến nỗi Tả quân Lê Văn Duyệt chủ động đề xuất đắp thành Bình Man, ngăn đôi Quảng Ngãi Ngoài ra, tư liệu về mối quan hệ gần gũi giữa các tộc Man với quân Tây Sơn cho ph p nhận diện về một khu vực gần như tự trị đối với quyền lực trung ương Nguyên nhân nổi dậy vì thế không thể hông xem x t đến vấn
đề can thiệp quyền lực vùng
3 M n m n n
Lựa chọn đề tài “Các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng (1820-1840)”, chúng tôi muốn khảo sát những bất ổn xã hội biểu hiện từ hàng trăm cuộc nổi dậy lớn nhỏ dưới triều Minh Mạng – một trong các triều đại khẳng định vị thế lớn mạnh của quốc gia trong khu vực, với bộ máy chính trị- quân sự hoàn chỉnh, khả năng bành trướng lãnh thổ và uy tín ngoại giao với các nước trong khu vực
Luận văn hông đi sâu vào di n biến của các cuộc nổi dậy mà tập trung vào các chính sách của nhà nước và tác động trên thực tế đối với điều iện sinh sống và ý thức của một số tầng lớp xã hội nhằm chỉ ra nguyên nhân dẫn tới tình trạng phản kháng mạnh mẽ kể trên
N m n n
Vấn đề được tiếp cận qua hai nội dung cơ bản sau:
Trang 141 Đặc tính của các cuộc nổi dậy trong 20 năm vương triều; sự khác biệt giữa nổi dậy tại miền núi, đ ng bằng và duyên hải; về thành phần nổi dậy: các cuộc đấu tranh đều là nổi dậy của nông dân hay còn có sự tham gia của các lực lượng khác?; phân biệt giữa đấu tranh phản kháng với các cuộc nổi loạn cơ hội… là một số vấn đề
cơ bản cần được giải quyết
2 Các di n biến về chính trị, kinh tế và xã hội giữa một bên là chính sách điều hành của nhà nước với một bên là thực tế áp dụng – điều vốn có tác động trực tiếp tới điều kiện sinh sống của một số tầng lớp xã hội, từ đó bước đầu lý giải nguyên nhân của các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng
Theo đó, luận văn đưa ra một số nhận định về mô hình quyền lực của triều Minh Mạng, sự kế thừa của mô hình này từ triều đại trước và các tác động tích cực và tiêu cực của thiết chế này đối với các tầng lớp xã hội Nhận định mang tính giả thiết
và không phải trọng tâm nghiên cứu trong đề tài này
4 Đ n p m n n
Khảo sát tư liệu cho thấy, nghiên cứu các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng không nhất định bắt đầu vào năm 1820 và ết thúc trước năm 1840 Thực tế có há nhiều cuộc phản háng đi qua hai triều vua, như nổi dậy của Vũ Đình Lục, Đặng Trần Siêu (1808-1824), của Lê Hữu Tạo (1818-1821), khởi nghĩa Ba Nhàn-Tiền Bột (1833-1843) Vì vậy, giới hạn thời gian 1820-1840 mang ý nghĩa tương đối khi tính
về số lượng cuộc nổi dậy Thay vào đó, chúng tôi đặt trọng tâm vào xem xét các tác động giữa chính sách cai trị của triều Minh Mạng với các thành phần xã hội khởi xướng các cuộc nổi dậy
Về phân vùng không gian, năm 1834, Minh Mạng mới chính thức phân chia
cả nước thành ba khu vực: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Khu vực Trung kỳ bao
g m: Kinh sư, Tả trực, Hữu trực, Tả kỳ, Hữu kỳ kéo dài từ Thanh Hóa đến Quảng Ngãi [69, tr 136-137] Đó là sự phân chia về khu vực hành chính, mà về lâu dài thông qua quan hệ quản trị quyền lực mới có thể làm biến đổi một phần tính chất dân cư ta sẽ thấy được đây chính là điều Minh Mạng nỗ lực thực hiện trong toàn bộ
20 năm cai trị Ông chỉ kịp nhận ra yếu tố gây sai lầm vào 1-2 năm cuối triều) Như
Trang 15, lịch sử định cư bắt đầu từ khoảng thiên niên
kỷ III TCN, bắt đầu từ khu vực trung du r i tràn xuống miền đ ng bằng nhờ các thùy châu thổ b i đắp do biển với hải lưu các sông H ng, sông Thái Bình, sông Đáy, sông Lạch Giang, sông Mã, sông Chu, sông Cả, sông Gianh Vào thế kỷ XVI,
áp lực dân số, các khoảng trống quyền lực chính trị và quân sự thúc đẩy sự dịch chuyển xuống phía Nam, bắt đầu từ vùng đất Thuận Hóa (tên ghép hai vùng Thuận Châu, nay ở phía nam tỉnh Quảng Trị, và Hóa Châu, nay là tỉnh Thừa Thiên Huế) Biên giới dịch chuyển, một vùng đất hoàn toàn mới được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam
Sự khác biệt giữa hai vùng há rõ ràng Đối với người Việt trong thế kỷ XVI, vùng đất phương nam trở thành nơi “được chọn lựa” Các nhân vật “phản loạn” hay “vô thừa nhận”, là tù phạm và dân phiêu tán, có khả năng có cuộc sống
XV-mà không bị ràng buộc bởi các luân lý Nho giáo Khi nhà nước đã phát triển đến một mức độ cần nhân lực quản lý, thi Hương, thi Hội được thừa nhận trong xã hội, nhưng vị trí của giai tầng sĩ phu vẫn nhỏ hơn rất nhiều so với tình hình tại Đàng Ngoài “… với miền bắc, nơi chế độ thi cử kiểu Trung Hoa bảo đảm rằng Nho giáo không bao giờ để mất sức hút đối với giai tầng sĩ phu tinh hoa” (Li Tana)2 thì “Nho giáo ở Đàng Trong trở thành chuyện chọn lựa và thực hành cá nhân, ở một mức độ
không thấy có ở miền bắc kể từ thế kỷ XIII” Nola Coo e) Nho-sĩ-nông trở thành đặc điểm nhận dạng của đời sống chính trị-xã hội của Đàng Ngoài, trong khi đối với Đàng Trong, thương nghiệp và hỗn dung tôn giáo là nhân tố trội vượt Theo Tạ
1 Quảng Bình và phía bắc tỉnh Quảng Trị đã chính thức thuộc về Đại Nam từ năm 1069 với sự kiện Lý Thánh Tông đánh Champa, vua Champa dâng đất chuộc thân Năm 1604 mới chính thức mang tên Quảng Bình Như thế, thực tế công cuộc Nam tiến bắt đầu từ vùng Thuận Quảng Song mặt khác, trong thời kỳ Trịnh- Nguy n phân tranh, Quảng Bình với con sông Gianh chạy dọc dãy Hoành Sơn trở thành ranh giới chính thức phân biệt giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài Do vậy, biên giới bị dịch chuyển do quá trình Nam tiến là từ Thuận Châu, nay thuộc phía nam tỉnh Quảng Trị, còn mốc giới chính thức giữa hai đàng là tỉnh Quảng Bình
2 Xem thêm [30]
Trang 16đất sung sức và tự do Nổi dậy tại Đàng Ngoài theo đó là bởi tình trạng áp chế đến mức không chịu nổi, tại Đàng Trong thì chính là việc bẻ gãy trật tự trong sự tự do của môi trường này
Như vậy với mốc giới tỉnh Quảng Bình, ta có hai hu vực nghiên cứu dưới tên gọi Đàng Ngoài cũ và Đàng Trong cũ Vì lịch sử phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài
đã ết thúc từ thế kỷ XVIII, chúng tôi thêm hậu tố “cũ” vào mỗi tên gọi để thể hiện ý niệm nghiên cứu của khái niệm này
Chúng tôi cũng cần lý giải việc sử dụng khái niệm nổi dậy thay vì các khái
niệm hác Đề cập đến vấn đề nổi dậy xã hội của thế kỷ XIX nói chung, hầu hết các
nghiên cứu kể trên sử dụng phổ biến các khái niệm khởi nghĩa nông dân, phong trào nông dân Nói đúng hơn, các hái niệm này được sử dụng khi cuộc nổi dậy được
nhận định là của nông dân, tính chất chống đối được xác định là chính nghĩa và nhắm
tới những lực lượng áp chế nhất định: ta thấy trong Tĩnh Man trường lũy…, danh từ nổi dậy được sử dụng để nói về những cuộc chống đối của người Man đối với triều đình Trong khi đó, nhà nghiên cứu chỉ sử dụng khái niệm bạo động hi xác định nguyên nhân nổi dậy do nhân tố thiên tai – xem Tác động của thiên tai lũ lụt đối với các cuộc bạo động ở nông thôn Bắc Bộ… Đó là với các tác phẩm nghiên cứu
Đối với các bản chính sử của triều Nguy n, cùng một sự kiện ta thấy có nhiều khái niệm tùy vào lập trường của người viết sử Đối với những cuộc nổi dậy, trong
chính sử ta có những khái niệm khởi ngụy, bạo loạn, trong khi trong dân gian gọi là khởi nghĩa; đối với lực lượng nổi dậy, trong chính sử chúng ta có phiến quân, loạn quân, ngụy quân, trong dân gọi là nghĩa quân; thủ lĩnh là giặc, ngụy, cũng đ ng thời
là vua, minh chủ ở dân gian Vì phạm vi nghiên cứu là nhằm tới các xung động xã hội
Trang 17dưới chế độ cai trị của một triều đại, hướng nghiên cứu là xem xét toàn bộ các yếu tố
chủ quan và khách quan gây nên tình trạng phản kháng, do vậy, khái niệm nổi dậy
được chúng tôi lựa chọn
Theo định nghĩa xã hội học, nổi dậy là hoạt động được tổ chức nhằm khuyến khích hay ngăn cản một số thứ nguyên thay đổi hội, bao g m hành vi của những
người có cùng tiêu chuẩn và tuân theo quy ước của tổ chức Mặc dù trong một nghĩa
nhất định, khái niệm trên tương đương với đấu tranh, nhưng chúng tôi cho rằng, nổi dậy bao hàm tính chất có ý thức và có mục tiêu xác định nhiều hơn trong danh từ đấu tranh Tất nhiên xung động xã hội luôn bao g m cả nổi dậy có tổ chức và nổi dậy tự
Ngu n tư liệu quan trọng nhất được tác giả đặc biệt chú ý là ngu n tư liệu gốc
của Nội các và Quốc Sử quán triều Nguy n như bộ sách Khâm định tiễu bình lưỡng
kỳ nghịch phỉ phương lược chính biên là tác phẩm sử học đầu tiên đề cập đến tình
trạng nổi dậy dưới triều Minh Mạng Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng, Cơ mật viện,
Bộ binh và Nội các tiến hành biên soạn bộ sách vào năm 1836, g m 153 quyển tập hợp toàn bộ công văn, chỉ dụ của nhà vua, các bản tấu, biểu của các văn quan, biền quan trong cuộc đánh dẹp nổi dậy và xâm lược trên cả nước từ 1833 đến 1835 Đây là thời ỳ mâu thuẫn xã hội trở nên đặc biệt căng thẳng Chỉ tính riêng một năm 1833 đã
có tới 50 cuộc nổi dậy, chiếm ¼ tổng số cuộc nổi dậy trong 20 năm Hoạt động sản xuất bị đình trệ, sự kiện thi Hội, Hương bị hoãn vô thời hạn, thanh trừng di n ra từ
nội bộ triều đình đến địa phương và dân thường Bộ sách g m Khâm định tiễu bình Bắc kỳ nghịch phỉ phương lược chính biên (ghi chép từ 1833 đến 1835) thu thập toàn
bộ giấy tờ liên quan đến cuộc nổi dậy ở Bắc kỳ của Nông Văn Vân, Lê Duy Lương;
Khâm định tiễu bình Nam kỳ nghịch phỉ phương lược chính biên (ghi chép từ 1833 đến 1835) tập hợp các ghi chép về cuộc binh biến do Lê Văn Khôi khởi xướng; Khâm
Trang 18định tiễu bình Xiêm khấu phương lược chính biên (ghi chép từ 1833 đến 1834) ghi chép quá trình chống Xiêm; và Khâm định tiễu bình Thuận tỉnh nghịch phỉ phương lược phụ biên (ghi chép từ tháng 3 đến 12/1835) ghi nhận quá trình đánh dẹp nổi dậy
của các tộc thiểu số lâm phận Bình Thuận và Khánh H a Được ghi chép theo lối biên niên, bộ sách nhằm đúc rút inh nghiệm trấn áp đối với các phong trào nổi dậy
Ngoài ra là các bộ sử gốc khác của Quốc sử quán triều Nguy n như Minh Mạng chính yếu, Viện Sử học (biên dịch) (1994) bộ 3 tập, NXB Thuận Hóa, Huế; Đại Nam thực lục chính biên, Viện sử học (biên dịch) (2007), tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội, tập I-V; Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, NXB Thuận Hoá, Huế, 1993…
Về tài liệu là sản phẩm khoa học có một số cuốn sách điển hình như: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX của học giả Đào Duy Anh NXB Văn hóa thông tin, 2006); Về nguyên nhân bùng nổ của phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6/1998) và Sự bùng nổ của các mâu thuẫn xã hội và sự lan rộng của khởi nghĩa nông dân (Mục 4, Việt Nam-Đại Nam thời Nguyễn nửa thế kỷ XIX, Giáo trình nội bộ, ĐH KHXH&NV, ĐH QGHN) của Vũ Văn Quân; Phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX và Lê Văn Khôi và sự biến thành Phiên An (1833-1835) của tác giả Nguy n Phan Quang (tập hợp trong Một
số công trình sử học Việt Nam, NXB Tổng hợp TPHCM, 2006); Vấn đề ruộng đất trong phong trào đấu tranh của nông dân đồng bằng ven biển Bắc Bộ dưới triều Nguyễn (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6/1996) của Bùi Quý Lộ; Vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa vấn đề ruộng đất và khởi nghĩa nông dân (Tạp chí Nghiên cứu Lịch
sử, số 6/1998) của Nguy n Cảnh Minh và Bùi Việt Dũng; Tác động của thiên tai lũ lụt đối với các cuộc bạo động ở nông thôn Bắc Bộ dưới thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6/1998) của Đỗ Đức Hùng; “Tĩnh Man trường lũy” và những cuộc nổi dậy của “Thạch Bích Man” dưới triều Nguyễn (Tạp chí
Nghiên cứu Lịch sử, số 4, 2001) của Nguy n Hữu Thông và Nguy n Phước Bảo Đàn… cùng nhiều tác phẩm nghiên cứu của một số tác giả như Phan Huy Lê, Phan Phương Thảo, Nguy n Công Thuần, Nguy n Minh Tường, Yoshiharu Tsuboi, John
E Wills, Yumio Sakurai, Nguy n Thế Anh…
Trang 1915
Trang 206 P n p p n n
Là một đề tài thuộc chuyên ngành lịch sư, nên phương pháp nghiên cứu được
sử dụng trong luận văn là phương pháp thống ê, phương pháp logic, nghiên cứu định tính bằng cách so sánh tư liệu để rút ra nhận định về mối quan hệ giữa các sự vật, sự iện theo phương pháp đ ng đại, lịch đại
7 Đón óp a luận ăn
Về phương diện lý thuyết, nghiên cứu “Các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng (1820-1840)” góp thêm tư liệu làm sáng tỏ vấn đề về mâu thuẫn xã hội nói riêng, và về mô hình cai trị, tính chất của các nhóm quyền lực nói chung trong thời
8 C trúc l ận ăn
Ngoài phần mở đầu, ết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham hảo, luận văn được chia thành 4 chương, g m:
Chương 1 – Những con số tổng quan
Chương 2 – Các cuộc nổi dậy của nông dân
Chương 3 – Các cuộc nổi dậy của tộc người thiểu số
Chương 4 – Các cuộc nổi dậy của quan lại, nhân sĩ
Trang 21C n 1 NHỮNG CON SỐ TỔNG QUAN
Theo thống ê chưa đầy đủ theo Đại Nam thực lục - bộ chính sử chính thức của
nhà Nguy n, 20 năm dưới triều Minh Mạng có 209 cuộc nổi dậy3, gấp 2,9 lần triều Gia Long (73 cuộc), gấp 3,6 lần triều Thiệu Trị (58 cuộc) Bình quân nổi dậy của toàn triều Nguy n là 6,75 cuộc/năm tổng số 405 cuộc theo thống ê chưa đầy đủ từ 1802 đến 1862), bình quân dưới triều Minh Mạng là 10,5 cuộc/năm Các cuộc nổi dậy nổ ra liên tục trong toàn bộ 20 năm từ 1820 -1840, trong đó di n biến căng thẳng nhất vào hai năm 1833 50 cuộc) và 1834 (38 cuộc) Trừ tỉnh Vĩnh Long, 29 tỉnh và 1 phủ đều có nổi dậy, tập trung lớn tại Sơn Tây và Thanh Hoá (đều 23 cuộc) Cuộc nổi dậy quy mô nhất là nổi dậy của Lê Văn Khôi 1833-1835) làm biến đổi cục diện tình trạng quyền lực của vùng đất Nam Bộ Với việc đàn áp thành công lực lượng Lê Văn Khôi, triều Minh Mạng chính thức chấm dứt thời kỳ phân quyền của chính quyền Gia Định
1.1 Theo không gian
Trong tổng số 209 cuộc nổi dậy, Đàng Ngoài cũ có 148 cuộc, Đàng Trong cũ
là 61 cuộc Tỷ lệ giữa hai vùng là 2,4 : 1 (xem Phụ lục - Bảng thống kê và phân bố các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng (1820-1840) Từ Quảng Bình trở ra Bắc,
các cuộc nổi dậy xuất hiện dày đặc và liên tục trong 20 năm; hai tỉnh Sơn Tây và Thanh Hoá có số cuộc nổi dậy nhiều nhất 23 cuộc mỗi tỉnh) Từ Quảng Trị trở vào Nam, nổi dậy phân bố rải rác, lẻ tẻ; cá biệt khu vực Bình Thuận, Gia Định, Định Tường, Biên H a, An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên từ 1820 đến 1832 không có bất
kỳ cuộc nổi dậy nào Các tỉnh phía Nam Trung Bộ từ Quảng Nam đến Bình Thuận
là khu vực nổi dậy chủ yếu, cao nhất là tỉnh Bình Thuận với tổng số15 cuộc (xem
Phụ lục - Biểu thống kê và phân bố các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng 1840)
(1820-Tại Đàng Ngoài cũ, nổi dậy di n biến theo nhóm, phân tán rộng ra các tỉnh lân cận, tập trung tại ba khu vực chính: vùng miền núi phía Bắc với Sơn Tây là
3
Nguy n Phan Quang đưa ra con số thống kê là 230 cuộc khởi nghĩa Xin xem [39]
Trang 22trung tâm, vùng đ ng bằng châu thổ sông H ng, Bắc Ninh là trung tâm, và vùng Thanh-Nghệ với Thanh Hoá làm trung tâm Tại Đàng Trong cũ, nổi dậy hông đ ng đều và dường như có sự độc lập nhất định giữa các tỉnh Địa bàn vùng núi chiếm số lượng nổi dậy lớn hơn, tại lâm phận các tỉnh phía Nam Trung Bộ Do ảnh hưởng của khu vực phiên thuộc Trấn Tây Thành mới lập vào những năm cuối triều đại - các cuộc nổi dậy tập trung vào tỉnh Hà Tiên trong cùng khoảng thời gian Riêng khu vực đ ng bằng sông Cửu Long, bao g m Gia Định, Định Tường, Biên H a, An Giang, Vĩnh Long, vì quy mô nổi dậy quá lớn, những nhận định giả thiết dựa trên con số cơ học dường như hông có ý nghĩa phản ánh đối với tình trạng nổi dậy thật
sự của khu vực này
T o ờ n
Về di n biến thời gian, mốc năm 1833 là năm bùng phát nổi dậy với hàng loạt cuộc đấu tranh quy mô so với cả triều Nguy n: nổi dậy Lê Văn Khôi, nổi dậy Nông Văn Vân, nổi dậy của Lê Duy Lương và họ Quách, nổi dậy của Ba Nhàn-Tiền Bột Năm 1833 cũng trở thành mốc đánh dấu tình trạng xã hội trở nên căng thẳng hơn dưới triều Minh Mạng: trước 1833, nổi dậy thấp nhất là 2 cuộc/năm, sau 1833 phát triển lên 6 cuộc/năm Ngoài ra ta cũng lưu ý đến các năm có số cuộc lên cao như 1822, 1834, 1837, 1840 xem Biểu đ 2)
Trang 23
Tù phạm
Lực lƣợng tham gia nổi dậy c n đa dạng hơn với các lực lƣợng nhƣ lính, phu
mỏ, quân Xiêm-Lào Con số tổng lớn hơn tổng số cuộc nổi dậy do cùng một cuộc nổi dậy có thể có từ hai đến ba lực lƣợng cùng tham gia
Tổng Nông dân Tù phạm Lính Thổ binh,
thổ dân
Quân Xiêm-Lào
Tộc người thiểu số (thổ quan+thổ dân)
Tù phạm
Trang 241.4 V lý do nổi dậy
Nhận định của các sử quan trong các bộ chính sử thể hiện ý iến của triều đình về nguyên nhân của các cuộc nổi dậy Theo triều Minh Mạng, nổi dậy có các nguyên nhân cơ bản sau: nổi dậy phù Lê, nổi dậy có mưu hởi loạn và nổi dậy là cướp phá
Nổi dậy phù Lê có 3 cuộc4, g m nổi dậy của Quách-Lương Thanh Hoá-Ninh Bình), nổi dậy của cai đội Phạm Doãn Dũng liên ết các lang đạo họ Đinh Sơn Tây), nổi dậy của Trần Hữu Thường, suy tôn Lê Duy Độ làm minh chủ Hưng Yên) Hầu hết các cuộc nổi dậy đều thuộc khu vực Đàng Ngoài cũ
Nổi dậy do bất đắc chí đem lòng oán vọng hoặc mưu khởi loạn/không phục
có 13 cuộc, như: nổi dậy của Trần Lê Quyền Sơn Tây), Xa Văn Nhị Hưng Hóa), Phan Bá Vành Nam Định), Ba Nhàn –Tiền Bột Vĩnh Phúc), Lê Văn Khôi Gia Định), Nông Văn Vân Tuyên Quang-Cao Bằng-Lạng Sơn), Lê Văn Khoa (Lạng Sơn), Thiệu Xá Ly (Nghệ An), dân Man (Bình Hòa-năm 1825), Trần Danh Nguyên (Nghệ An), Nguy n Đình Thể (Thái Nguyên) Nổi dậy vì bất tuân quyền lực chủ yếu nổ ra tại các tỉnh miền núi, lâm phận của tỉnh trung du, hoặc đ ng bằng ven
4 Có ý kiến cho rằng nổi dậy Nông Văn Vân cũng giương cờ Phù Lê Nếu giả thiết là đúng, tổng số sẽ có 4 cuộc nổi dậy lấy cớ phù Lê
Trang 25biển mới khai, tại phủ kimi hoặc tại vùng trấn thành Các cuộc nổi dậy di n ra tại cả Đàng Ngoài cũ và Đàng Trong cũ, hông phân biệt người Kinh và người thiểu số Tuy nhiên, cần lưu ý về thành phần khởi xướng; ở đây lực lượng lãnh tụ nổi dậy hầu hết có xuất thân cai đội, thổ tù và nông dân Xuất thân quan lại cao nhất tại chức Quản cơ, hàm Tứ phẩm của Nguy n Văn Thừa trong vụ mưu liên ết Lê Văn Khôi, song chức vụ này là do đặc cách đối với hoàng thân của vua Champa khi vua nhằm giữ yên nhóm người Thổ, vốn gốc Champa, thuộc trấn Bình Thuận, khi trấn Thuận Thành chính thức chuyển thành phủ Ninh Thuận, bắt đầu bãi thổ quan đặt
quan Kinh cho “dần thành thói Kinh” [45, tr 391-392]
Như vậy, c n lại phần lớn các cuộc nổi dậy không có lý do rõ ràng Qua hình thức nổi dậy, chúng tôi phân ra hai loại nổi dậy chủ yếu: bạo động chống đối chính quyền tỉnh/phủ/huyện, hoặc đơn thuần là cướp bóc, quấy nhi u Tuy nhiên trên thực
tế, vây phủ lỵ, cướp thành/bảo/huyện, bắt/giết tri huyện, thổ lại mục… cũng gắn liền với cướp lương, đốt nhà, hoặc ngược lại vì nhằm cướp bóc mà cũng chiếm đ n trại,
giết hại cai đội, lính Kinh dân Kinh, đốt nhà Cũng cần lưu ý rằng, các ghi chép của chính sử phụ thuộc vào nhận định của sử quan, căn cứ phần lớn theo báo cáo do quan tỉnh tập hợp từ địa phương và trở nên phù hợp với quan điểm của triều đình sau vài lần kiểm định Tính chất cướp bóc của các cuộc nổi dậy chống triều đình có thể được nhấn mạnh hơn Có một chi tiết cần nhắc đến, là hầu hết các chủ soái của
tàn quân, vì lẩn trốn trong dân gian mà triều đình gọi chung tên là giặc trốn, đều mang thêm một tội cướp: cướp lương, tống lương, đòi dân đưa tiền, lương một cách miệt thị, thậm chí còn chú thêm cướp ban ngày, như đ đảng của Phan Bá Vành,
Quách Tất Công… thì tội vì đói mà cướp ngày - càng ám chỉ những lực lượng trên
dù giương cờ chính nghĩa chống triều đình thì cũng chỉ là tập hợp của các nhóm trộm cướp mà thôi Sự mập mờ nằm ở chỗ, sự việc cướp lương được ghi với ngầm ý
là cướp của dân thường thay vì chỉ rõ cướp của nhà địa chủ, cường hào hay của thành phần nào khác Lãnh đạo của các cuộc chống đối chính quyền bao g m các thổ tù, quan người Kinh và nông dân
Trang 26Số cuộc nổi dậy cướp bóc, vây phủ lỵ, cướp thành/bảo/huyện… lên tới 101
cuộc với thành phần chủ yếu là nông dân và tộc người thiểu số (chính sử gọi chung
là giặc) Hình thức nổi dậy này tập trung trên ba khu vực lớn Một là vùng từ Nghệ
An trở ra bắc, g m các tỉnh đ ng bằng và miền núi như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Sơn Tây, Hưng Hóa, Bắc thành trước cải cách hành chính năm 1831-1832, danh từ Bắc thành dùng song song với các tỉnh trực thuộc), Bắc Ninh Nổi dậy tại khu vực này thường gắn liền với các hình thức cướp lương, đốt nhà Vùng thứ hai thuộc lâm phận các tỉnh Trung Bộ, g m Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Ninh Thuận với đối tượng chủ yếu là người Man/Thượng, cướp đ n, bắt thổ lại mục, cướp/giết dân buôn người Kinh hoặc dân Kinh sống ở vùng ven lân cận Vùng thứ ba thuộc khu vực giáp biên giới Cao Miên, tại các tỉnh Hà Tiên, An Giang, của các thổ quan đánh phá, cướp đ n Kinh
Cướp bóc và bạo động của nông dân hầu như hông xuất hiện tại khu vực
đ ng bằng phía Nam Những cuộc bạo động trong vùng chủ yếu do thổ binh, thổ phỉ, giặc Hà Âm tại vùng giáp biên Việt-Miên gây nên, chống đối chính quyền trấn thuộc của Đại Nam
Biểu đ 5 thể hiện tình trạng vô danh và manh động trong các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng
Biểu đồ 5: Nổi dậy của nông dân: Tỷ lệ giữa nổi dậy vô danh và nổi dậy có danh tính
Thống kê con số lực lượng cho thấy quãng dao động lớn, từ 100-7000 người,
Trang 27giữa nhóm hông xác định được lực lượng với nhóm có từ 100 người trở lên Xét trên tổng bình quân (tổng người/số cuộc), lực lượng nổi dậy phổ biến trong khoảng 600-1000 người Tỷ lệ chênh lệch giữa nổi dậy xác định lực lượng với bộ phận hông xác định là 0,7 lần (94/129):
Tổng Không xác
định
< 100 người
100-500 người
600-1000 người
1000-5000 người
6000-7000 người
Như vậy, 20 năm dưới triều Minh Mạng phải đối mặt với những xung động xã hội đáng ể: bình quân 11,35 cuộc/năm, gấp 1,7 lần so với mức bình quân của toàn triều Nguy n Trong 20 năm, các lực lượng nổi dậy liên tục hình thành, và nhân ảnh hưởng của sự biến thành Phiên An, thừa cơ phát triển lên thành cao trào lớn nhất trong hai năm 1833, 1834 Phản kháng có mục đích chính trị và bạo động vô danh trực tiếp đặt ra vấn đề về mô hình quyền lực của trung ương trong sự tương tác với các tầng lớp xã hội
Trang 28C n CÁC CUỘC NỔI DẬY CỦA NÔNG DÂN
Minh Mạng dụng ý xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền với hình thức quân chủ chuyên chế đang xây dựng dở dang từ triều Gia Long5 Cải cách hành chính, cải cách ruộng đất, trị thủy được thực hiện trên toàn quốc Nhưng khi các chính sách can thiệp hông làm cho đời sống há hơn, thậm chí làm tệ tham nhũng vốn đã phổ biến thêm trầm trọng, các cuộc phản kháng của nông dân, nhân sĩ, hào mục có điều kiện nổ ra
Các cuộc nổi dậy của nông dân dưới triều Minh Mạng đặc trưng bởi tính chất
phản kháng mạnh mẽ đối với chính quyền Đối với các cuộc nổi dậy trung bình,
nông dân tấn công vào tỉnh, phủ, bắt quan, hạ thành, chiếm phủ Những cuộc nổi dậy lớn trực tiếp đối kháng với lực lượng quân triều đình, thể hiện ý thức phản kháng chế độ trung ương tập quyền (như nổi dậy của Phan Bá Vành, nổi dậy của Ba Nhàn-Tiền Bột…) Như sẽ chỉ ra, nguyên nhân nổi dậy bắt ngu n từ một nền hành chính thiếu ổn định với khe hở về quyền lực khiến nạn tham nhũng và cường hào địa phương tràn lan, chưa ể những sai lầm về ruộng đất và trị thủy gây ra mâu thuẫn sâu sắc giữa nông dân với quan lại Theo đó, nổi dậy là phản ứng của một bộ phận nông dân đối với chính sách tập trung chuyên chế của triều đình
5 Năm 1788, Nguy n Ánh làm chủ Gia Định, 4 năm sau tiến ra làm chủ đất Bắc Hà Nhưng lúc này, quyền lực của Nguy n Anh còn xa lạ với lớp quan lại sĩ phu Bắc Hà, trong khi tại Nam Hà là các món nợ ân tình giữa Gia Long với giáo sĩ phương Tây, thương nhân Trung Hoa và địa chủ Nam Bộ Ngoài ra còn cần chia quyền cho các khai quốc công thần Theo đó, một chính quyền thống nhất cần được thiết lập song tránh tập trung hoàn toàn Việt Nam được chia thành hai tổng trấn Tại miền Bắc, Nguy n Văn Thành vốn quê gốc Thừa Thiên, “trang mạo đẹp đẽ, tính trầm nghị, thích đọc sách, tài võ nghệ” [42, tr 390], tính tình tận tụy, được cử làm tổng trấn Bắc thành, kiêm quản toàn bộ các tỉnh miền Bắc từ Thanh Hóa đến sát biên giới Việt-Trung Tại miền Nam, Lê Văn Duyệt "tuy sinh ra là người giám, nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh" [58, tr 50], năm
1812 được cử làm Tổng trấn vùng đất Gia Định vốn cần nhiều thu xếp với các mối quan hệ mở Quyền hạn của quan Tổng trấn gần như quyền tự quyết [43, tr 527] Sắp đặt xong xuôi, Gia Long trở về inh đô Phú Xuân (Thừa Thiên Huế), tiếp tục tái cơ cấu bộ máy điều hành, ban hành luật, xếp đặt quan hệ với Pháp, Xiêm La… Tới năm 1815, nhân bài thơ phản loạn, Gia Long khép cha con Nguy n Văn Thành vào tội chết trừ đi một khả năng phân quyền tại Bắc Kỳ lại vừa cảnh cáo các tổng trấn đời sau
Xem thêm Di biểu trần tình của Nguy n Văn Thành [42, tr 418-419]
Lập nước từ tình trạng phân tranh phân liệt, cộng các bài học trong lịch sử có thể là lý do khiến Nguy n Ánh thận trọng trong việc xây dựng quyền lực Xem thêm [2]
Trang 29đề đặt ra là khả năng giám sát của bộ máy Theo đó, Minh Mạng áp dụng mô hình quyền lực ch o theo cơ chế chuyên quản/kiêm quản Tuy nhiên, điều này vô hình trung trao quyền cai quản trực tiếp cho cấp quan liền dưới thay vì quan đứng đầu Nạn tham nhũng và lộng quyền trở nên phổ biến trong giới quan lại và lý trưởng, cường hào địa phương
Cụ thể, theo mô hình chuyên quản/kiêm quản, tại cấp tỉnh, Tổng đốc đảm nhiệm hai tỉnh: chuyên hạt một tỉnh và kiêm hạt một tỉnh – tỉnh kiêm hạt do Tuần phủ chuyên hạt Tại tỉnh chuyên hạt, Tổng đốc kiêm luôn chức Tuần phủ, có Bố chính,
Án sát hỗ trợ Tại tỉnh Tuần phủ chuyên hạt, Tuần phủ kiêm thêm vai trò Bố chính,
có Án sát hỗ trợ Theo Choi Buyng Woo , “quan Tuần phủ chỉ là chức quan trên danh nghĩa Tỉnh có diện tích nhỏ hơn hoàn toàn đặt dưới quyền kiểm soát của quan
Bố chính Ngay tại tỉnh lớn – nơi đặt trị sở của quan Tổng đốc – Bố chính vẫn có thể
là người đóng vai tr quan trọng nhất trong việc đưa ra quyết sách, đứng đằng sau vị quan Tổng đốc tương đối ít hiệu lực” [12, tr 146-147]
Tương tự, từ năm 1832, Tri phủ chuyên quản việc phủ và kiêm quản một huyện; nếu phủ lớn và rất nhiều việc, sẽ đặt thêm Đ ng Tri phủ; phủ có từ 5 huyện trở lên và rất nhiều việc có thêm một Huyện thừa để giúp việc Đ ng Tri phủ kiêm quản riêng một huyện có vai trò gần như ngang hàng với Tri phủ Theo phép chia
6 Việc xóa tổng trấn, cải cách hành chính là bước nối tiếp xây dựng chính quyền tập quyền chuyên chính kể từ thời Gia Long Minh Mạng viết dụ vào tháng 10/1831: “Việc phong tước, dựng quan chức, là chính thể lớn của
triều đình, quốc gia ta xây dựng nền tảng ở phương Nam, các trấn đều đã đặt quan chức làm việc Hoàng Khảo
Thế tổ Cao Hoàng đế ta, khi thống nhất đất nước, thì 11 trấn Bắc thành mới tạm thời đặt một đại viên cai trị, phàm việc các trấn trực thuộc đều phải trông đến, đó là bậc thánh minh mưu đồ sâu xa, muốn một phen cải định lại, nhưng chưa kịp làm Nay trẫm noi theo chí ngài, lại nghĩ đến các việc kiện tụng và binh lương trong
các thành, các hạt còn phức tạp nhiều, tất phải theo từng hạt, chia người giữ các việc để có chuyên trách, các người nên bàn định tâu lên” [59, tr.203-204]
Trang 30quyền trên, thực chất người đứng sau các quyết định của Tri phủ là Đ ng Tri phủ và Huyện thừa – các nhân vật đóng vai tr trung gian, là cầu nối giữa Tri huyện, Cai tổng với Tri phủ
Về cấp cơ sở, năm 1828, Minh Mạng bỏ chức Xã trưởng, đưa Lý trưởng lên cai quản7, lệ 3 năm một lần chọn Cai tổng, Phó tổng từ hàng Lý trưởng Điều này nhanh chóng đưa Lý trưởng từ cấp làng xã lên hàng quan ngay sau Tri huyện
Vậy ai bầu Lý trưởng? Theo Nguy n Minh Tường, triều đình chỉ bổ nhiệm từ Tri huyện trở lên, Cai tổng, Lý trưởng thường do dân chúng bầu ra, sau hi được quan trấn, tỉnh phê duyệt thì gửi lên triều đình phê duyệt (hàng ngũ Cai tổng, Lý tổng
do vậy mà được gọi là “dân quan”) Thế nhưng, lực lượng thực sự đứng sau Lý trưởng là Hội đ ng hào mục làng xã Yoshiharu Tsuboi viết:
“Chức vụ chính yếu trung gian giữa làng xã và nhà nước do trưởng làng hành
xử (từ năm 1825 do lý trưởng, trước đó được gọi là xã trưởng) Lý trưởng được Hội đ ng hào mục bầu cử - đây là bằng chứng của sự tự trị của hội đ ng – cuộc bầu cử sau đó được Chính phủ phê chuẩn Là người đại diện làng xã, lý trưởng chuyển đến dân làng các lệnh của triều đình và với sự cộng tác của Hội
đ ng hào mục, thi hành các yêu cầu của nhà nước: thu thuế, trưng dụng nhân công tạp dịch, trưng binh…” [70, tr 262-263]
Cách ấy khiến nạn tham nhũng đặc biệt phổ biến dưới thời Minh Mạng, mà nạn cường hào cũng càng nghiêm trọng hơn Năm 1828, Nguy n Công Trứ tâu sớ cho hay: “ …) Cái hại quan lại là 1, 2 phần 10, cái hại hào cường đến 8, 9, phần 10, bởi vì quan lại chẳng qua là kiếm cái lợi nhỏ ở giấy tờ, đ i tiền ngoại lệ ở thuế khóa, cai hại gần và nhỏ, việc đã phát lộ, thì giáng cách ngay, r i cũng biết hối Còn cái hại
7 Một số tác giả đ ng ý rằng tổ chức xã hầu như t n tại trên danh nghĩa Vũ Quốc Thông cho biết: “Sách Hội
điển đã cung cấp một biểu thống ê sơ lược về cấu trúc bên trong của các xã ở thời kỳ này Theo đó những người
đứng đầu các xã hay Xã trưởng được bầu lên bởi người dân trong xã của họ Trong những xã quan trọng, viên Xã trưởng được trợ giúp bởi một người giúp việc, Phó xã trưởng cũng bằng bầu cử Ngoài các viên Xã trưởng và Phó xã trưởng, quản lý công việc trong xã được thực hiện bởi 3 viên kỳ mục: Hương trưởng, Hương mục và Trùm trưởng” Theo Vũ Văn Quân [40], một xã có thể có từ một đến nhiều xã trưởng; số lượng xã trưởng tỉ lệ thuận với quy mô xã xác định trên đinh số và đất đai: hảo sát 41 xã thuộc huyện Từ Liêm vào năm 1805, 24/41
xã chỉ có 1 xã trưởng, 17/41 xã có từ 2 xã trưởng trở lên, nhiều nhất là 5” Theo đó, số quan cấp xã lớn hơn nhu cầu quản lý thực tế với cả Xã trưởng, Phó xã trưởng và các hương trưởng cùng nắm quyền, trong hi, đối với một xã g m nhiều thôn thì thực tế quyền lực nằm trong tay giới quản lý thôn thay vì xã trưởng
Trang 31cường hào, nó làm con người ta thành m côi, vợ người ta thành góa bụa, giết cả tính mạng của người ta, mất cả gia tài của người ta, mà việc không lộ, cho nên cứ công nhiên không kiêng sợ gì”8
Năm 1828, Tả thị lang Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc thành là Nguy n Đức Nhuận cũng tâu lên tệ Lý trưởng, hương hào tại các trấn phía Bắc Minh Mạng thừa nhận:
“Bọn cường hào ở Bắc thành hiếp tróc dân làng khi bầu Lý trưởng, hoặc đem đ ng đảng ra để tiện việc gian, hoặc giao cho người hèn nhát để tiện sai khiến Đến lúc gặp các việc quan thuế hóa, binh đao, thì tạ sự mà chia nhau ăn, lại còn xúi giục binh dân, ẩn giấu kẻ gian, mối tệ chẳng phải một việc mà thôi Đến hi binh lương iện tụng, có việc trở ngại, cần phải đốc thuế, thì thượng ty địa phương cũng chỉ đổ về dân nghèo, trách cứ người nhận việc, còn bọn hương hào vẫn hôn h o mà được thoát lưới pháp luật Gần đây, lính trốn, thuế thiếu, kiện tụng rối ren, phạm nhân trốn thoát, các tệ chính bởi đấy mà ra, chưa có thể đổ cho bởi dân nghèo túng, bởi tục ngoan bạc nhược”9
Thế nhưng, giải pháp của triều đình cũng chỉ dừng lại ở chế độ dưỡng liêm và các chuyến inh lược Cấu trúc quan liêu c ng kềnh theo chiều dọc khiến năng lực kiểm soát vượt quá khả năng của ông vua chuyên chế, nhưng vua vẫn cần duy trì hệ thống quyền lực làng xã để đảm bảo thu thuế, siết binh dịch, trị thủy Tsuboi băn hoăn: “Quyền lực của hào mục đối với dân chúng … được nhà nước củng cố và đảm bảo, vì nhà nước không thể thiếu sự hậu thuẫn của hào mục” [70] Trong khi nạn lạm quyền ruộng đất xảy ra tràn lan, các đặc quyền nhà nước cấp cho lý trưởng, hào mục, như mi n thuế, mi n dịch, ban chức phẩm, tước vị… làm củng cố thêm sự oán giận trong dân
2.1.2 Vấn đề ruộng đất, thuế, binh dịch và trị thủy
Vấn đề ruộng đất, thuế, binh dịch
Một mặt để tước giảm thế lực của giới địa chủ, một mặt để củng cố chế độ ruộng công nhà nước, Minh Mạng duy trì chế độ quân điền, thu ruộng tư làm ruộng
8 Đại Nam thực lục, dẫn theo [69, tr 161]
9 Đại Nam thực lục, dẫn theo [69, tr 161]
Trang 32H ng Đức triều Lê sơ) và thời Vĩnh Thịnh (triều hậu Lê)
Trên lý thuyết, ph p quân điền nhằm đảm bảo diện tích đất ruộng tối thiểu cho nông dân Thế nhưng trái lại, mức tô thuế ruộng công luôn cao hơn từ 2-3,3 lần so với mức tô thuế của ruộng tư10
Ngoài mức tô thuế hông có ưu đãi, việc phân chia ruộng đất cũng vấp phải vấn đề về diện tích và chất lượng ruộng bình quân Về quy mô, tổng diện tích công điền năm 1820 là 580.363 mẫu, nhưng phân bố rất hông đ ng đều giữa các miền, tỉnh, huyện Trong hi đó, ph p quân điền được thực hiện bằng cách lấy tổng ruộng
công nội trong xã chia thành các phần cấp cho các hạng, cao nhất là 8-18 phần của
quan văn võ từ tản giai tòng cửu phẩm đến chánh nhất phẩm, thấp nhất là trẻ m côi, đàn bà góa: 3 phần; dân đinh: 6,5 phần Điều này khiến hông chỉ diện tích
đơn vị: thăng, quan/mẫu đơn vị: kg/mẫu
Theo tính toán của Vũ Văn Quân [40], quy định năm 1825 xác định: mỗi hộc bằng 26 thăng, mỗi phương bằng
13 thăng, mỗi bát bằng 2/3 thăng Thể tích 1 thăng thóc thời Nguy n tương đương 2,932 lít, tương đương 2,2
g Theo đó, 1 hộc thóc tương đương 57,2 g, 1 phương tương đương 28,6 g, 1 bát tương đương 1,46 g
Mức tô thuế thấp nhất là ruộng hạng ba của khu vực III, nộp 44kg/mẫu, áp dụng với cả ruộng công và ruộng tư Mức tô thuế cao nhất tại ruộng hạng nhất của khu vực I: 176kg/mẫu đối với ruộng công, 57kg/mẫu đốivới ruộng
tư Nhưng chúng ta chỉ có thể có nhận xét về mức tô thuế này khi biết được năng suất của mỗi hạng ruộng để tính ra số tô thuế chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng thu hoạch
Trang 33ruộng/người hác nhau giữa các xã, mà chất lượng đất cũng hác nhau ngay trong một thôn, xã, tỉnh Đó là chưa ể nạn lũng đoạn của hào cường tổng lý, cắt xén khẩu phần, chiếm đoạt ruộng đất tốt hoặc lấy cớ việc làng cầm bán lấy tiền chia nhau
Nhận xét về chế độ công điền công thổ, Nguy n Thế Anh viết: “Chế độ công
điền công thổ cho phép cả những người cùng đinh cũng có được vài sào đất để trồng trọt và cày cấy mà nộp thuế hoặc đóng góp lệ làng Tuy nhiên, với chế độ điền thổ này, và với sinh hoạt kinh tế tự cung tự cấp, ruộng đất khó có thể tập trung thành đại địa sản trong tay một thiểu số điền chủ: nông dân ít tư bản, không
thể đầu tư bằng cách mua địa sản Chính phủ cũng chống đối sự tập trung ruộng đất: từ 1802 trở đi, nhiều đạo dụ được công bố để nhắc nhở quan viên và dân giàu đừng lợi dụng sự nghèo cực của nông dân hay các dân làng phân tán để chiếm đoạt ruộng đất Năm 1839, vua Minh Mạng còn tìm cách bảo vệ những người cần tiền phải cầm đợ ruộng đất …)” [3, tr 88]
Trong khi Minh Mạng cho rằng: “Cách quân điền là để bớt chỗ nhiều thêm cho chỗ ít, lợi công cộng cho nhân dân, rất là ph p hay” [47, tr 837], Nguy n Công Trứ nói rằng ph p quân điền chỉ để cho bọn điêu hào sai hiến [68, tr 136] Sách
Đại Nam thực lục viết: “dẫu ruộng chưa bỏ hoang hết, dân chưa xiêu tán hết, mà túng
đói quẫn bách, không thể chịu nổi…” [44, tr 633]
Năm 1822, Minh Mạng bắt đầu chuyển toàn bộ quan điền quan trại thành ruộng công làng xã Đây là loại ruộng công phổ biến thứ hai, có quy mô nhỏ hơn nhưng bắt đầu có xu hướng tư nhân hóa Theo lệ, quan điền quan trại được ban cấp cho quan làm tự điền hoặc phát canh thu tô Vào đầu thế ỷ XIX, loại đất này có khoảng vài ngàn mẫu, tập trung lớn tại vùng Quảng Trị và rải rác tại các dinh trấn Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Thừa Thiên, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Nội Nếu dưới thời Gia Long, chỉ ruộng ngụ lộc của quan lại của Tây Sơn và ruộng trang trại riêng của nhà Tây Sơn bị tịch thu làm quan điền, ban cấp cho quan, thì sau thời Minh Mạng, đến giữa thế kỷ XIX, quan điền quan trại cơ bản không còn t n tại
Trang 34Năm 1839, Minh Mạng tiếp tục can thiệp mạnh vào sở hữu tư bằng cách cắt
sở hữu tư làm sở hữu công Đây lần đầu tiên trong lịch sử phong kiến, triều đình cắt ruộng đất tư thành ruộng đất công11
Tuy nhiên, kết quả của cuộc quân điền tại Bình Định hông như mong đợi
Năm 1841, theo sách Đại Nam thực lục, báo cáo điều tra tình hình Bình Định cho
hay: “Phần nhiều vì bọn hương hào bá chiếm nên phần ruộng của người được chia ruộng tốt ruộng xấu hông đều nhau Vì thế dân tranh kiện lẫn nhau, trước sau có đến hơn 300 lá đơn, đại để đều kêu về phẩn ruộng rộng hẹp, nhiều ít Xin chia từng xứ cấp lại” 10 năm sau, Hiệp tá lãnh Hình bộ Đặng Văn Thiêm tiếp tục đề xuất biện pháp giải quyết vấn đề ruộng đất tại Bình Định [58] Năm 1853, việc trả lại ruộng đất
tư ở Bình Định được xếp hàng thứ 7 trong sớ nêu 10 việc cần làm ngay của Lang trung trí sĩ Trần Văn Tuân Bản sớ được giao xuống cho đình thần bàn, rốt cuộc đều không thực hiện [49, tr 290]
Như vậy, ý đ cắt ruộng tư thành ruộng công kết thúc thất bại Minh Mạng tham vọng “cân bằng công tư” nhưng lại không có cách thức chống lại “tệ lấn x n” (lời Minh Mạng) của lý dịch địa phương Thực tế, phép ấy một mặt hạn chế địa chủ lớn, duy trì tầng lớp quan liêu ở lớp địa chủ bậc trung trong khi bổ sung thêm ngu n ruộng công cho nhà nước Theo nhận định, cuộc quân điền tại Bình Định vừa có ý thí điểm cho việc công hữu hóa ruộng tư trên toàn quốc, vừa nhằm xóa bỏ cơ sở kinh tế của dư đảng Tây Sơn12
11
Thực tế, ý tưởng này đã có từ thời Gia Long Năm 1803, một số quan cai trị Băc thành đã đề nghị thi hành
ph p quân điền, trong đó, chủ ruộng tư phải sung công tới 70% ruộng cho quỹ công điền Quyết định này nếu được tiến hành sẽ tương đương với việc xóa bỏ hoàn toàn giới điền chủ Bắc hà dưới triều Lê Vì lo ngại tính chất mạnh mẽ của cuộc cải cách nên Gia Long bác bỏ đề nghị
Ph p quân điền tại Bình Định được thực hiện như sau: cắt ½ ruộng tư sung vào quỹ ruộng công đối với thôn
ấp có ruộng tư nhiều hơn ruộng công, giữ nguyên hiện trạng đôi với thôn ấp có ruộng đất công bằng hoặc nhiều hơn ruộng tư, những thôn áp có quá ít ruộng công thì lấy thêm ruộng trại của nhà nước để cấp phát Trong vòng từ tháng 7 đến tháng 9 (1839), 645/678 thôn ấp tiến hành tịch thu ruộng tư để chia lại (95%); 30 thôn có ruộng công, tư bằng nhau, 3 thôn đã phiêu tán hoặc không chịu suất lính
12
Xem [66] Điều đáng chú ý là mặc dù sở hữu lớn không phổ biến, nhà nước vẫn chủ trương công hữu hóa ruộng đất để thực hiện quân điền Sau thời kỳ phân liệt và nội chiến kéo dài, ruộng đất h i phục theo hướng xác lập sở hữu tư và mở rộng tích lũy nhưng sở hữu vừa và nhỏ vẫn chiếm đa số Theo số liệu của Nguy n Công Tiệp, vào đầu thế kỷ XIX, ruộng đất tư chiếm 82,92% Nam bộ có tỷ lệ tư điền lớn nhất, chiếm 92,15% tổng diện tích (1836), với các đại địa chủ như Lê Văn Hiệu ở thôn Bình Xuân, tổng Hòa Lạc, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định (nay thuộc Gò Công, tỉnh Tiền Giang) có tới trên 1.841 mẫu ruộng, Ngô Văn Lộc ở thôn Bình An cùng tổng có tới trên 1.045 mẫu ruộng… Thế nhưng đây không phải là loại sở hữu điển hình Một báo cáo gửi
Trang 35Về khẩn hoang, đáng chú ý là Minh Mạng cho nhập ngạch lính toàn bộ dân
đ n điền, vốn là lực lượng nông dân xiêu tán, trộm cướp hay tù binh nổi dậy bị phát
đi khai hoang [45, tr 607] [47, tr 543] Trên thực tế, chủ trương này là để giải quyết tình trạng dân xiêu tán, nổi dậy, khai thác ngu n nhân lực vào việc khẩn hoang, thêm ruộng công13 Nhưng đây chỉ là cách giải quyết phần ngọn đối với vấn đề nông dân thiếu
về Vĩnh Long năm 1840 cho thấy tình hình chung ở cấp thôn như sau: “Trong một thôn ở tỉnh này, số địa chủ chiếm từ 2 hay 3 trong số 10 người dân thường H khi nào bắt lính, người dân không có ruộng nói rằng họ không thể bị bắt đi lính vì họ không có ruộng …)”, theo [41]
Ghi chép của Sơn Nam sau cuộc đo đạc ruộng đất Nam kỳ năm 1836 cũng cho thấy tình trạng tương tự: “ …) Tổng cộng các hạng điền thổ trong làng Tân Bình [thôn Tân Bình, huyện Đông Xuyên, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang] là 208 mẫu Trong số này, ruộng canh tác g m 88 mẫu …) Địa bạ của làng chỉ có tên họ năm bảy ông điền chủ mà thôi” [34, chương 1-4]
Trong hi đó, Bình Định luôn được nhắc tới như tỉnh có sở hữu tư nhân lớn nhất Thế nhưng bộ phận sở hữu trên 10 mẫu chỉ chiếm 9,30%, trong khi có tới 59,52% ruộng đất thuộc các lớp sở hữu dưới 3 mẫu
Ta tham khảo thêm về tình trạng chênh lệch về quy mô trong nội tỉnh và giữa các tỉnh qua bảng sau (mức sở hữu trên 10 mẫu có thể phát canh thu tô):
Bảng 2: S phân hóa ruộn t ở một s ị p n (%) [41]
3 và tháng 11 đến thành thao di n 1 tháng r i cho về Lệ này được duy trì cho tới năm 1822) Tên đ n điền được đổi sang phiên hiệu quân đội trước theo tên tổng huyện sở tại), ví dụ: Tân Bình thành Gia Bình hiệu, Đinh Vi n thành Gia Vi n hiệu, Phúc Long thành Gia Phúc hiệu 48 viên chánh phó đốc xuất được ưu đãi mi n thuế thân, tiền đầu quan và thóc sưu
Mang danh nghĩa là quân sự hóa nhưng đ n điền không có bất kỳ thay đổi nào theo hướng quân đội Quân số hông thay đổi: 9876 người 1814) và 9703 người (1822) và hầu như hông có các nhiệm vụ quân sự chuyên nghiệp Ghi chép của Deschaseaux cho thấy việc quân sự hóa nhân lực đ n điền không nhằm tạo ra một trại lính chuyên nghiệp; đó là việc lập trại, kiểm soát và khai thác ngu n nhân lực vào việc công [56, q 210, tr 50-51] [51, q 40]
“Thượng, Trấn thủ Gia Định Lê Văn Duyệt) nhận nhiệm vụ thành lập các đ n điền đầu tiên (1830) Ông chọn thành Saigon làm trung tâm thí nghiệm và xây dựng 4 đội lính đóng ở đây, hông đ n lũy cũng chẳng doanh trại Lính đ n điền ở tại nhà họ, cày cấy ruộng đất do nhà nước cấp, nộp tô cả thảy 2 quan và 10 giạ lúa Hàng năm vào tháng giêng, họ bị trưng tập đến thành để duyệt quân và thao luyện Sau đó họ lại được thả về nhà, không trang bị
vũ hí nữa, được mi n mọi thứ lao dịch hác Đương nhiên trong trường hợp chiến tranh, họ phải là người đầu tiên
ra trận h có động viên Việc tuyển mộ thông qua tự nguyện Các chức tước đều là chức tước của quân đội thường trực, tuy vậy không có chức nào dưới chức đội trưởng Việc thăng chức không do thâm niên mà do tuổi tác cao và
ít nhất đã tai ngũ 2 năm Chính quyền dân sự là người chỉ huy tối cao của tổ chức đ n điền” Sau hi Thượng chết
“những binh lính đ n điền đầu tiên trên đây lại d n về quân đội thường trực và thành lập một đội cơ đặc biệt dưới quyền Phạm Văn Huy …) đóng tại làng Thanh Sơn, tổng Lợi Trinh, huyện Kiên Đặng (Mỹ Tho) Chính họ là
Trang 36những người đầu tiên hai phá Đ ng Tháp Mười và lập ra hai chợ Vàm Ngựa và Cai Lậy”, Deschaseaux, Tạp chí Excursions et Reconnaissances, Tome XIV, Saigon 1889, tr 133-134, dẫn theo [38, tr 98-99]
Thậm chí dụ năm 1836 của Minh Mạng còn nêu rõ mục đích của việc lập đ n điền:
Giải “tù phạm sung quân, đi đày làm binh đang bị giam giữ ở các tỉnh giải vào Nam Các tướng quân, tham tán chiểu theo tội tình nặng nhẹ: về các tội phạm hông căn cứ hạn lâu hay chóng, cho mở bỏ xiềng khóa tất cả, và các tội phạm sung vào binh đều cho làm binh ở đ n điền C n như các tội phạm sung quân đi đày, hông nên cho mở bỏ vội, vẫn xiềng hóa như trước, cũng sung vào sở đ n điền…” [54, q 40]
Sau các đợt đàn áp nổi dậy lớn, một hệ thống đ n điền cũng được lập tại các trấn ngoại vi để xử lý số lượng tù binh: Hà Tiên (1835), Trấn Tây 1835), Khánh H a 1836), đảo Côn Lôn (1840) [54, tr 65] [47, tr 543]
14
Mô hình dinh điền của Nguy n Công Trứ ra đời gắn liền với cuộc khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành Năm
1828, ngay sau hi đàn áp cuộc khởi nghĩa, Nguy n Công Trứ lúc đó là Tổng đốc Hải An đề nghị với Minh Mạng cho tổ chức khai hoang lập ấp ở Nam Định và Ninh Bình Nguy n Công Trứ được cử làm Dinh điền sứ, gần như chịu trách nhiệm hoàn toàn cho cuộc khai Hoáng Vì “phí tổn nhiều, dân hông đủ sức làm”, Nguy n Công Trứ chọn cách dựa vào “những người có lực” tại địa phương Về lực lượng, ể cả nghĩa binh từng tham gia khởi nghĩa Phan Bá Vành nếu tự giác “thú tội” cũng được tham gia [44 , tr 719-721] Kết quả khẩn hoang cho thấy, Nguy n Công Trứ đã hai thác đúng vào vấn đề ruộng đất, nhân lực của nông nghiệp, không từ chối người giàu và dân nghèo; dân lưu tán, dân nổi dậy đều được huy động vào hẩn hoang, được nhận phần ruộng riêng
15
Triều Minh Mạng áp dụng mức thu thuế ra năm 1803 kèm một vài điều chỉnh năm 1804, 1808 của triều Gia Long Bản thân Minh Mạng cũng đưa ra một số điều chỉnh tùy khu vực và đối tượng
Bảng 3: Biểu thu thân c a tri u Minh M ng
Dân đinh
1,1 quan 0,55 quan
0,1 quan 0,1 quan
-
- Quân hạng:
- Chính hộ
- Khách hộ
1,4 quan 1,2 quan
0,1 quan 0,1 quan
-
- Dân hạng:
- Chính hộ
- Khách hộ
1,2 quan 1,0 quan
0,1 quan 0,1 quan
-
- Dân đinh tàn tật:
- Chính hộ
- Khách hộ
0,8 quan 0,7 quan
0,05 quan 0,05 quan
-
- Năm 1820, Minh Mạng lập biểu thuế riêng áp dụng với ba trấn đạo Ninh Bình, Thanh Hoá Nghệ An: hạng tráng nộp 1,2 quan, dân đinh và hạng già yếu nộp 0,6 quan Năm 1832, từ Quảng Bình trở vào, không phân biệt chính
hộ, khách hộ, gộp các hạng tráng, quân, dân làm một đ ng thời phân biệt mức thuế giữa nơi có và hông có ruộng: có ruộng công nộp 1,5 quan, không có ruộng công nộp 1,3 quan Năm 1839 tăng thuế hạng tráng ở vùng núi phía Bắc lên 0,3 quan so với biểu thuế 1803
Bảng 4: Giá thóc thời Gia Long, Minh M ng theo khu v c tính thu [40]
Trang 37Bộ, mỗi hạng tráng phải nộp số tiền tương đương 63 g, mỗi suất đinh nộp tiền tương đương 31 g Tại miền Trung, không phân biệt hạng tráng suất đinh, thuế thân tương đương 31 g/người Tại Nam Bộ, kể từ năm 1832, thuế thân với nông dân nơi có ruộng công tương đương 86 g/người, nơi hông có ruộng công tương đương
74 g/người, đều đặn nộp theo năm và vụ mùa16 Dân đinh từ 18 tuổi trở lên, 59 tuổi trở xuống, không phân biệt giàu-nghèo, có ruộng hay không có ruộng, đều phải nộp thuế thân
Về nghĩa vụ binh dịch, quân đội dưới thời Nguy n nói chung thường xuyên được duy trì với số lượng lớn Tùy từng địa phương, tỷ lệ tuyển lính thường dao động
từ 7 đinh lấy 1 lính đến 3 đinh lấy 1 lính Nhà nước buộc các làng xã phải chia sẻ trách nhiệm trong việc cung ứng một số trang bị cho quân đội Ngoài ra, việc phải thường xuyên ti u binh đánh trong và ngoài nước khiến không ít binh lính bỏ mạng Điều này tạo cơ hội cho tầng lớp hào cường tăng cường sức ép, lợi dụng mua bán suất lính, suất binh dịch
Nếu không phục vụ quân ngũ, mỗi dân đinh mỗi năm phải chịu 2 tháng sai dịch tự túc Dân đi sưu chủ yếu g m nông dân, thợ thủ công lành nghề Lao dịch tập trung vào các công trình nhà nước, tập trung nhất ở công trường xây dựng inh đô Huế và hệ thống lăng tẩm của các vua, còn tại địa phương là các công trình thủy lợi, đường, ênh Riêng ênh Vĩnh Tế đã huy động 30.000 người Việt và 15.000 người Miên [27, tr 72] Borel, một người Pháp đến Việt Nam năm 1818, choáng ngợp vì cảnh công trường xây dựng tại kinh thành với con số khoảng 8 vạn dân đinh17 Dưới thời Gia Long, 8 trấn thành được xây dựng Thời Minh Mạng có thêm 21 tỉnh thành, ngoài ra là cách phủ thành, huyện thành tại các phủ, huyện quan yếu
Một hộc thóc tương đương 57,2 g
16 Theo lệ, từ Quảng Bình đến Bình Thuận cứ mỗi năm một vụ thu thuế, khởi đầu từ tháng 4 đến tháng 7 Tại Nghệ An, Thanh Hóa ngoại và các trấn ở Bắc thành, mỗi năm thu thuế 2 lần: mùa hạ thì khởi tự tháng 4 đến tháng 6; mùa đông thì bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 11
17 Ch Maybon dẫn trong Histoire moderne du pays d’Annam, Paris, 1920, p.233, dẫn lại theo [39, tr 117]
Trang 38Sai lầm về trị thủy và các đợt thiên tai
Sai lầm về trị thủy và các đợt thiên tai góp phần làm đời sống nông dân thêm
hó hăn Riêng triều Minh Mạng có tới 10 lần giá gạo tăng do thiên tai trên tổng số
18
Bảng 5: Th ng kê giá g o ăn do n d ới tri u Minh M ng (1820-1840) [6]
Các năm vỡ đê trên diện rộng được ghi lại: “Các năm 1803, 1804, 1806, 1819, 1828, 1833, 1840, 1842,
1844, 1847, 1856, 1857… hầu như cả vùng đ ng bằng Bắc Kì bị ngập lụt, theo đó là mất mùa, đói m” Tháng 8 năm 1828, tại Bắc thành: “nước sông lên to, xã Kim Quan ở Bắc Ninh, xã Thành Nga ở Nam Định,
xã Phụng ở Sơn Tây, xã Võng Phan ở Sơn Nam đê điều vỡ, đê Kim Quan hại nhất, nước lụt tràn sang hạt láng giềng, các huyện Sơn Nam, Hải Dương ruộng lúa bị ngập” [62, tr.457, tr.393, tr.459, tr.460]
20
Cách trị thủy truyền thống tại Bắc Bộ là đắp đê bám dọc theo sông. Cho đến thế kỷ XVIII, XIX, hệ thống đê
b i đắp kể từ thời Trần, Lý… được kéo dài và ngày càng khép kín Theo thống kê của người Pháp, đến đầu thế
kỷ XIX, xứ Bắc kỳ có tới 2.400 m đê, dung tích là 156 triệu m3 đất Vào mùa lũ, sông H ng có thể rộng tới 2-3 km, dài 200 km Vì bị bao quanh bởi hệ thống đê dày đặc, các vùng đất bị dần tách khỏi chu kỳ lở-b i tự nhiên Trong hi đó, ở m ngoài đê, sức ép của sông H ng với 11.400 m3 nước/năm và 100 triệu tấn phù sa/năm, gây nên nguy cơ vỡ đê, đặc biệt tại các bờ lõm của khúc uốn và vùng đ ng bằng bị bao bọc trong các
v ng cung đê Sơn Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên là các tỉnh nằm tại điểm giao hoặc tại các v ng cung đê
21 Năm 1829, Đê chính thần Lê Đại Cương và thành thần Hoàng Quýnh tâu phương án trị thủy, kết hợp giữa đắp đê và đào sông Cửu An Phương án bị triều thần bác bỏ, thay vào đó là các chiến dịch đào đắp đại quy
mô trong các năm 1828, 1829
Tuy nhiên, sau ba năm 1829, 1830, 1831 hông vỡ đê, năm 1833, đê vỡ hàng loạt tại Hưng Yên, Bắc Ninh,
Hà Nội và Sơn Tây Triều đình quay lại xem x t phương án ết hợp đắp đê-đào sông đã tấu năm 1829 Xem Đại Nam thực lục, tlđd, t IX tr 295-96, 298, dẫn theo [25]) Nhưng, thay vì phương án chuyển dịch cửa sông Thiên Đức đoạn tiếp giáp với Nhị Hà để tránh bị cát b i lấp đ ng thời cải tạo dòng, Minh Mạng và Bộ Công lại chọn sông Cửu An làm đường thông chính
Trang 391840 là 2.804.744 quan) [51, t 4] Nhưng ngay hi công trình vừa hoàn thành, tháng 6/1837, hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương đã phải chịu trận lụt lớn: đê Cửu An
vỡ tại 3 điểm, 5 huyện của Khoái Châu ruộng ngập 3m, thành tỉnh Hưng Yên nước bao vây 4 mặt Tại Hải Dương, đê bối vỡ tại các huyện Đường An, Đường Hào, Thanh Miện… gây lụt Gia Lộc, Vĩnh Lại, Cẩm Giàng Lúng túng, triều đình quay lại cách đắp cao đê 10.000 dân công Hải Dương, Nam Định lại được huy động để đắp thêm 120.000m đê năm 1838) Cuối cùng, tháng 3/1842, Thiệu Trị chấp nhận
ý kiến của Tổng đốc các tỉnh: đắp đập tại cửa sông Cửu An cứu nguy cho Hải Dương, Hưng Yên Việc xây đập chính thức chấm dứt vai trò của sông Cửu An
Khác với Bắc Bộ, giải pháp trị thủy tại Trung Bộ là đào ênh và đắp đập22 Tuy nhiên, quy mô đào ênh, đắp đập mới chỉ chỉ dừng trong phạm vi tỉnh trong khi
Đáng lưu ý là sông Thiên Đức (tên gọi của sông Đuống từ thế kỷ XIX trở về trước) mới là giải pháp thoát lũ cực tốt cho sông H ng Hiệu quả thoát lũ cho hạ ngu n sông H ng của sông Đuống đạt từ 20-30% Nguy n Công Trứ năm 1837 cũng nhấn mạnh giải pháp đào sông Thiên Đức, coi đó là phương án thoát lũ cho 6 tỉnh chứ không chỉ 11 huyện như sông Cửu An
Mặc dù vậy, công trình đào sông Cửu An vẫn được Minh Mạng lựa chọn với nhiều kỳ vọng và dốc sức thực hiện trong các năm 1834, 1835-1837 [25, tr 90-99], trở thành công trình thủy lợi lớn nhất của triều Nguy n Nhưng ngay hi công trình vừa hoàn thành, tháng 6/1837, hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương đã phải chịu trận lụt lớn: đê Cửu An vỡ tại 3 điểm, 5 huyện của Khoái Châu ruộng ngập 3m, thành tỉnh Hưng Yên nước bao vây 4 mặt Tại Hải Dương, đê bối vỡ tại các huyện Đường An, Đường Hào, Thanh Miện… gây lụt Gia Lộc, Vĩnh Lại, Cẩm Giàng Điều này đúng như Nguy n Công Trứ dự liệu: “nhược bằng chỉ đào một con sông Cửu
An thì e nước sông Cái bắt đầu phân lưu ở đó, tất cả sẽ xô sói mạnh; 6 huyện của tỉnh Hưng Yên và Hải Dương hó giữ được khỏi nạn úng thủy” [25, tr 97]
Năm 1842, trong nỗ lực khắc phục vấn đề Cửu An, sai lầm ấy được triều thần Thiệu Trị chỉ ra: trước khi có sông Cửu An, vùng Hải Hưng đã thoát lũ theo d ng sông H ng->sông Luộc-> cửa biển Thái Bình; nay có sông Cửu An, nước vẫn thoát theo dòng sông H ng->sông Cửu An->sông Luộc->cửa biển Thái Bình, tức là chẳng thay đổi được gì Trên thực tế, Thiên Đức mới trực tiếp giải thoát áp lực nước thượng ngu n cho toàn vùng từ Hà Nội đến Bắc Ninh Thế nhưng, giải pháp này đã sớm bị bác bỏ [25]
22 Ngoại trừ đ ng bằng Thanh Hóa lớn nhất miền Trung (khoảng 6.200km2), các đ ng bằng duyên hải đều nhỏ hẹp, ngắn dốc Bị phân cách ngang bởi các nhánh núi ăn sát ra biển, đ ng bằng tại đây có sự phân chia theo độ cao thấp dần, từ tây sang đông thay đổi từ c n cát → đụn cát → đ i núi sót → mõm đá Đó là tác động về địa hình Về chế độ gió mưa, gió mùa Tây Nam gió Lào) gây nên tình trạng nắng hạn gay gắt [73]
Trong hi đó, hoảng tháng 8 đến tháng 11, các đợt họat động của hí áp Tây Thái Bình Dương gây nên mưa
Trang 40đây là hu vực chịu nhiều ảnh hưởng của bão gây lũ lụt lớn, đặc biệt tại khu vực vòng cung vịnh Bắc Bộ cho đến Quảng Bình, Quảng Trị gây nên nhiều thiệt hại về người và của23
Tại Nam kỳ, mưa lụt cũng gây nên một số ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp Biên H a là tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng mưa lụt, do nằm tại vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Di Linh, cao nguyên Mơ Nông Tây Nguyên) xuống Đông Nam
Bộ - khu vực đón lũ từ sông Đ ng Nai, sông La Ngà d n về hợp cùng sông B để thoát ra biển Năm 1820, 1.000 phương gạo được Tổng trấn phát kho chẩn cấp cho người đói; sau Minh Mạng bổ sung thêm 200 quan tiền và muối gạo Tháng 2/1821, Biên Hòa tiếp tục lụt, dân đói Tháng 7/1834, nạn lụt lớn gây ngập toàn bộ tỉnh lỵ Biên Hòa và các huyện Bình An, Phúc Chính; vua ra dụ nhắc Tuần phủ Vũ Quýnh cho cấy chạy lúa [44, tr 92]
Tóm lại, triều Minh Mạng có nhiều nỗ lực trong công tác trị thủy, nhưng hiệu quả bị hạn chế bởi các sai lầm chủ quan cộng các đợt thiên tai liên tiếp Dân xiêu tán ngược lên rừng hoặc tìm ra vùng cảng thị, trở thành lực lượng dự bị đông đảo cho các nhóm đảng nổi dậy trong đó một phần trở thành tù binh bị xung lính
đ n điền như đã nói ở trên
bão Mưa làm mực nước sông dâng cao, dẫn đến đổ lũ từ thượng ngu n trong khi bão biển và áp thấp nhiệt đới gây ảnh hưởng trực tiếp vùng ven biển Các con sông ngắn có độ dốc lớn nhanh chóng cạn nước vào mùa khô, và lập tức dâng lũ vào mùa mưa Do vậy, miền Trung cần đắp đập để giữ nước, dẫn nước
Về các công trình thủy lợi, xem [44, tr 335-336], [44, tr 339 ]
23
Bảng 6: Th ng kê thi t h i do một s l n thiên tai t i Bắc Trung bộ d ới tri u Minh M ng [6]
ST
T
Bình, 5 nội trấn Bắc Thành
530 người chết, 44.000 nóc nhà bị đổ, 170 thuyền buôn bị đắm
Hóa
Nhà cửa dân phần nhiều bị đổ nát Thanh Hóa chết 500 người, Ninh Bình chết 300 người