Cùng chung dòng chảy đó, chúng tôi hướng về triết học Hy Lạp cổ đại - một trong những điểm xuất phát quan trọng của toàn bộ lịch sử triết học vì nó đã đặt ra và tìm cách giải quyết hầu h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM QUỲNH TRANG
QUAN NIỆM CỦA XÔCRÁT
VỀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Triết học
Hà Nội-2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM QUỲNH TRANG
QUAN NIỆM CỦA XÔCRÁT
VỀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TRIẾT HỌC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Minh Hợp
Hà Nội-2011
Trang 3MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 9
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC XÔCRÁT 9
1.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của triết học Xôcrát 9
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa 9
1.1.2 Tiền đề tư tưởng 14
1.2 Khái quát chung về triết học Xôcrát 30
1.2.1 Cuộc đời và con người Xôcrát 30
1.2.2 Những nội dung cơ bản của triết học Xôcrát 35
1.2.2.1 Tư tưởng nhân học 35
1.2.2.2 Học thuyết về phương pháp: phương pháp bà đỡ 39
Chương 2 QUAN NIỆM CỦA XÔCRÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TRIẾT HỌC 46
2.1 Cách đặt vấn đề của Xôcrát về đối tượng của triết học 46
2.2 Tư tưởng triết học đạo đức - biểu hiện rõ nhất của quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học 54
2.2.1 Đức hạnh - khái niệm xuất phát của đạo đức học Xôcrát 54
2.2.2 Đạo đức học cá nhân 55
2.2.3 Đạo đức học cộng đồng 61
2.3 Tính chất duy lý của đạo đức học Xôcrát 66
C KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 4Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập và tiếp biến văn hoá toàn cầu, những vấn đề về đạo đức đang được đặt ra cấp thiết Các nhà triết học đang nỗ lực đánh giá lại những giá trị tinh thần của quá khứ để hoạch định ra một đường hướng mới cho thời đại mới
Văn hoá đối thoại đã và đang khẳng định ưu thế của mình so với xu hướng đối đầu trước đó Trong chu trình mới ấy, các nền văn hoá nói chung cũng như triết học phương Đông và phương Tây nói riêng cũng tìm thấy trong nhau - qua sự soi rọi - những mặt tích cực và hạn chế, những tiếng nói chung
và những điểm dị biệt, độc đáo
Cùng chung dòng chảy đó, chúng tôi hướng về triết học Hy Lạp cổ đại
- một trong những điểm xuất phát quan trọng của toàn bộ lịch sử triết học vì
nó đã đặt ra và tìm cách giải quyết hầu hết các vấn đề của triết học mà trước hết là vấn đề đối tượng của triết học để rồi sau này các trường phái triết học khác nhau sẽ từng bước giải quyết lại theo yêu cầu của thời đại mình Nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại cùng với quan niệm về đối tượng của
Trang 5triết học, chúng tôi thực sự mặc tưởng về một con người mà bản thân cuộc đời ông là một sự thể nghiệm vĩ đại cho triết học của mình - đó là Xôcrát Với tư cách như là trung tâm của thời đại cổ điển, ông là người mở đầu, đặt nền móng cho việc đưa các suy tư triết học trở về với tồn tại người, với những vấn đề xã hội, đạo đức của nó Điều đó có liên quan đến thời gian sống của ông, hơn nữa là đến nội dung sáng tạo của ông Với một nghĩa nào đó, Xôcrát là tâm điểm của lịch sử tư tưởng Cổ đại Ông hội tụ các con đường phát triển trước đó, mở ra những khởi xướng mới, kéo dài trong suốt giai đoạn tiếp theo Điều đó lại càng kỳ lạ vì Xôcrát không xây dựng một học thuyết có hệ thống, toàn diện nào Và, thậm chí ông còn không có ý định như vậy
Không nên so sánh tư tưởng của ông với triết học Arixtốt là triết học bao quát mọi cái có thể và xác lập trình tự nhận thức đối với mọi đối tượng Cũng như Platôn là người đã biến triết học thành một hiện tượng văn hoá quan trọng và đem lại mục đích trong hoạt động tinh thần cao cả và sâu sắc cho triết học, tên tuổi của ông thường được gắn liền với việc đưa ý thức triết học quay trở lại với con người mà chúng ta đã nhận thấy bước ngoặt
ấy rất đặc trưng cho phái nguỵ biện và có liên hệ mật thiết với tinh thần chung của thời đại Do vậy, không nên coi đây là thành tựu của một cá nhân, kể cả cá nhân vĩ đại như Xôcrát Song, sao thì cũng vẫn chính Xôcrát
đã trở thành hình mẫu lý tưởng về nhà thông thái và nhà triết học đối với mọi thời đại sau này, mặc dù ông không bao giờ ghi lại tư tưởng của mình
và chỉ tin tưởng vào lời nói sống động
Việc chọn đề tài "Quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học"
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình là nhằm làm sáng tỏ hơn điều này ở Xôcrát, đồng thời qua đó góp một phần công sức nhỏ bé của chúng tôi để
Trang 6giữ mãi mạch nguồn bất tận của tư tưởng, của những hạt giống nhân văn đã được ươm mầm từ quá khứ giúp thực tại nở hoa
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Triết học Hy Lạp cổ đại là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử triết học, nó được coi là cội nguồn của triết học hiện đại Chính vì thế triết học
và các triết gia thời kỳ này được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới những góc độ đa dạng Với tâm huyết của mình, chúng tôi tiếp cận triết học Hy Lạp cổ đại trên phương diện đối tượng của triết học thông qua một triết gia độc đáo đó là Xôcrát Về Xôcrát có thể kể đến các công trình sau:
Nhóm thứ nhất là các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học trong
đó có triết học Hy Lạp cổ đại gồm có: Lịch sử triết học phương Tây của Viện
nghiên cứu triết học Liên Xô do Đặng Thai Mai dịch (nhà xuất bản Xây dựng,
1956); Lịch sử triết học do GS Nguyễn Hữu Vui chủ biên (nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1998); Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây, tác giả Phạm Minh Lăng (nhà xuất bản Văn hoá thông tin, 2005); Đại cương
lịch sử triết học phương Tây, tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn
Anh Tuấn (nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006); Lịch sử
triết học phương Tây, tác giả Nguyễn Tiến Dũng (nhà xuất bản tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh, 2006), Lịch sử triết học đại cương, tác giả Đỗ Minh Hợp (nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2010),v.v Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày dưới dạng khái quát những tư tưởng cơ bản của triết học Xôcrát, như phương pháp “bà đỡ”, thuật “mỉa mai”, quan niệm của Xôcrát về
“thông thái”, thuyết duy lý về đạo đức của Xôcrát cũng như lập trường chính trị -
xã hội của ông Đây là một nguồn tư liệu quan trọng để dựa vào đó, chúng tôi phân tích quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học
Trang 7Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học Hy Lạp
cổ đại có: Triết học Hy Lạp cổ đại của tác giả Thái Ninh (nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác - Lênin, 1987); Triết học Hy lạp cổ đại, tác giả Đinh Ngọc Thạch (nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1999); Lịch sử triết học Tây phương, tập 1 Thời kì khai nguyên triết lý Hy Lạp, tác giả Lê Tôn Nghiêm (nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 2000); Lịch sử thế giới cổ đại, tác giả Chiêm Tế (nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, 2000); Lịch sử triết học, tập 1 Triết
học cổ đại do tác giả Nguyễn Thế Nghĩa và Doãn Chính làm chủ biên (nhà
xuất bản Khoa học xã hội, 2002),v.v Các tác giả của nhóm các công trình này phân tích triết học Xôcrát theo lược đồ quen thuộc trong việc giới thiệu lịch sử triết học, theo đó mỗi triết gia (trong đó có Xôcrát) được giới thiệu qua các phần chủ yếu, như cuộc đời và sự nghiệp, quan điểm bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức học, nhân học, triết học chính trị - xã hội Tuy nhiên, không một công trình nào nêu trên đã đề cập tới bước ngoặt được Xôcrát thực hiện trong triết học có liên hệ trực tiếp với quan niệm của ông về sự đặc thù của tri thức triết học xét trên các phương diện nội dung và phương pháp, tức là vấn đề xác định đối tượng riêng của triết học cùng với định hướng tìm tòi của nó
Hai nhóm công trình trên giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan nhất về vị trí, vai trò của triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và những đóng góp cơ bản của Xôcrát nói riêng đối với diện mạo và thành tựu của triết học từ quá khứ tới nay
Nhóm thứ ba là những tài liệu sáng tạo và cuộc đời, nhân cách của
Xôcrát qua người học trò của ông là Platôn, Xênôphôn và các nhà nghiên cứu
có thể kể đến: Socrates tự biện của Plato và Xenophone (nhà xuất bản Tri thức, 2006); Những ngày cuối đời của Socrates của Plato (nhà xuất bản Văn hoá thông tin, 2008); Plato chuyên khảo của Benjamin Jowett và M.J Knight (nhà xuất bản Văn hoá thông tin, 2008); Đối thoại Socratic 1 của Plato do
Nguyễn Văn Khoa chú giải và dẫn nhập (nhà xuất bản Tri thức, 2011), v.v
Trang 8Đây là những cuốn sách có giá trị trực tiếp nhất đối với quá trình nghiên cứu của chúng tôi bởi đó là những đối thoại được ghi chép lại, được dịch giả nhiều kinh nghiệm chú giải và những nghiên cứu trực diện nhất về Xôcrát, về cuộc đời và tư tưởng sống động của ông qua các đối thoại con tương đối hoàn chỉnh của Platôn
Về đạo đức và đạo đức học có thể kể đến các công trình nghiên cứu về đạo đức và đạo đức học của Trần Hậu Kiêm, và một số học giả người Nga đã được dịch sang tiếng Việt trong đó bàn về các phạm trù, khái niệm đạo đức cơ bản cũng như quá trình hình thành và phát triển của đạo đức học gắn với tiến trình của lịch sử triết học cũng như quan niệm của các triết gia về đạo đức
Ngoài ra còn không thể không nhắc đến những bài viết được đăng trên Tạp chí Triết học, Tạp chí Khoa học xã hội, v.v , khoá luận, luận văn về đạo đức và đạo đức học, về triết học Hy Lạp cổ đại và một số khía cạnh có liên quan đến triết học Xôcrát Bên cạnh đó là nguồn tài liệu đa dạng nhưng rời rạc trên mạng Internet
Qua quá trình khái quát các công trình phục vụ cho luận văn, chúng tôi thấy còn một mảng rất lớn các nghiên cứu của các học giả nước ngoài ở các giai đoạn khác nhau nhưng do hạn chế về ngôn ngữ và thời gian nên chúng tôi rất lấy làm tiếc chưa tiếp cận được
Nguồn tư liệu và các trình nghiên cứu càng phong phú, cách tiếp cận càng đa dạng một mặt đem lại cho chúng tôi kiến thức và những gợi ý nhưng mặt khác cũng thu hẹp cơ hội cho chúng tôi Chính vì vậy, để viết về một vấn
đề không phải là quá mới nhưng phải thể hiện được thành quả riêng có, chúng tôi đã thực sự nỗ lực tiến vào chiều sâu, khái quát trên những mặt và làm chặt chẽ hơn những nội dung mà các nghiên cứu khác chưa có được
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 9Mục đích: Phân tích các điểu kiện, tiền đề cho sự hình thành và nội
dung cơ bản của quan niệm Xôcrát về đối tượng của triết học
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Trình bày các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và tiền đề
tư tưởng cho sự ra đời của triết học Xôcrát
- Phân tích các nội dung cơ bản của triết học Xôcrát
- Làm rõ các nội dung cơ bản trong quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được triển khai trên cơ sở lý luận duy vật lịch sử về mối quan
hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, quan điểm Mác - Lênin về lịch sử triết học và đối tượng của triết học
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là các nguyên tắc nghiên cứu lịch
sử triết học của triết học Mác – Lênin, cũng như các nguyên tắc nghiên cứu cụ thể trong nghiên cứu lịch sử triết học, như nguyên tắc thống nhất giữa lịch sử
và lôgíc, giữa phân tích và tổng hợp, đi từ trừu tượng đến cụ thể, quy nạp và diễn dịch, văn bản học, đối chiếu, so sánh, v.v
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học
Phạm vi của luận văn là những tư tưởng của Xôcrát về đối tượng của triết học được để lại trong di sản triết học đã dịch sang tiếng Việt và những công trình nghiên cứu về triết học Xôcrát
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu và hệ thống hoá những biểu hiện cơ bản của quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học, qua đó làm nổi bật giá trị của các tư tưởng đó
Trang 107 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm tri thức
về các vấn đề của triết học Xôcrát thời Hy Lạp cổ đại và có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy lịch sử triết học, đạo đức học và cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Trang 11dựa trên lao động của người tự do dần dần chuyển biến thành xã hội chiếm hữu nô lệ và thiên về các hình thức tổ chức mang tính quyền uy
* Xã hội:
Vào giữa thế kỷ IV TCN, vương quốc Maxêđônia ở miền bắc Hy Lạp
đã trở nên hùng mạnh Vua Philíp II trị vì vào thời này đã tiến hành hàng loạt cải cách nhà nước, xây dựng một hệ thống tài chính vững chắc, tổ chức quân đội Maxêđônia theo khuôn mẫu Hy Lạp, đưa vào nó những yếu tố tổ chức mới Dần dần vua Maxêđônia đã giám sát được miền bắc Hy Lạp, sau đó tuyên bố kỳ vọng bá quyền toàn bộ Hy Lạp Mặc dù quân đội Hy Lạp hợp nhất đứng lên chống lại kỳ vọng ấy, nhưng vào năm 338 TCN, người Maxêđônia do vua Philíp và con trai Alếchxăngđrơ cầm đầu đã giành thắng lợi hoàn toàn trong trận đánh khốc liệt ở thành phố Hêrônia Hy Lạp bắt buộc phải phục tùng vua của Maxêđônia
Vào năm tiếp theo, tức năm 337 TCN, hội nghị tất cả các nhà nước - thành bang Hy Lạp đã được tổ chức tại Côranhthơ, tại đây các thành bang Hy Lạp được hợp nhất thành Liên minh Hy Lạp thống nhất do vua Maxêđônia trị
vì Như vậy, việc xác lập quyền cai trị của Maxêđônia đối với Hy Lạp đã kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài một thế kỷ vì bá quyền toàn Hy Lạp
Đồng thời từ đây, một thời đại lịch sử lớn đã kết thúc - thời đại hình thành, phát triển và suy tàn của nhà nước - thành bang Cổ đại Tất nhiên, các thành bang Hy Lạp vẫn tiếp tục tồn tại và đời sống bên trong chúng vẫn giữ lại nhiều quy định của thời đại trước Song, nếp sống, mục đích và nội dung nội tại của nó vốn có ở thời đại nhà nước - thành bang cổ điển đã vĩnh viễn đi vào quá vãng Chúng đi vào dĩ vãng cùng với các thế hệ công dân, nông dân, thợ thủ công, phụ nữ, các chính khách mà chế độ nhà nước - thành bang là trạng thái sinh hoạt tự nhiên của họ và nó còn sống mãi trong tâm trí họ
Trang 12* Chính trị
Lịch sử có nhiều biểu tượng, mỗi một thời đại lịch sử đều có biểu tượng của mình Biểu tượng cho khải hoàn và suy tàn, thử thách và vinh quang, khởi đầu và cáo chung Lịch sử nhà nước - thành bang cũng có biểu tượng riêng Đứng đầu và cuối của hai dấu mốc là hai con sư tử Sư tử thứ nhất là biểu tượng cho điểm khởi đầu tuyệt vời của nó - đó là con sư tử Phêmôpin ngẩng cao đầu được xây dựng tại nơi vua Lêônít và binh lính của ông ngã xuống vào năm 480 TCN sau khi đã giành thắng lợi tinh thần quan trọng nhất đối với kẻ thù ngoại bang Con sư tử thứ hai là biểu tượng bi tráng cho sự cáo chung của
nó - đó là con sư tử bị thương, tượng đá của nó được dựng ở nơi diễn ra trận đánh năm 338 TCN, 150 năm sau đánh dấu sự suy tàn của một thời đại vinh quang, mở ra một thời đại mới - thời đại Hy Lạp hoá
Với một lịch sử như vậy, thể chế và hệ tư tưởng của nhà nước - thành bang dường như là hạt nhân của nền văn minh Cổ đại, quyết định các đặc điểm cơ bản của mọi lĩnh vực tồn tại của loài người Cổ đại Với đặc điểm cơ bản của nó là: nhà nước - thành bang đảm bảo những điều kiện cho tự do con người ở một chừng mực lớn hơn bất kỳ chế độ xã hội nào khác cho nên nó biến thành nền tảng và động lực của toàn bộ tồn tại xã hội Tự do cá nhân là
cơ sở cho mọi thành tựu tinh thần của con người
Các nhà nước - thành bang tồn tại trong suốt lịch sử văn minh Chúng
ta bắt gặp nó ở Suma và Ai Cập, ở Ấn Độ và Trung Quốc, ở châu Âu Trung
cổ và thậm chí cả ở châu Mỹ dưới thời kỳ văn minh Maya Song nhà nước -
thành bang - polis mà chúng ta đang khảo sát khác căn bản so với các nhà
nước - thành bang ấy
Bản chất của nhà nước - thành bang (polis) thể hiện ở chỗ nó là hình thức lịch sử đầu tiên của xã hội công dân, là cộng đồng những công dân tự do
và bình quyền Khác với polis, xã hội phương Đông không biết đến công dân
Trang 13Nó là xã hội có phân cấp, tức là một sự phân cấp phức tạp, địa vị trong đó được quy định bởi tính chất cao quý của con người, bởi quan hệ của người đó với tầng lớp cầm quyền mà trước hết là bởi quan hệ gần gũi với nhà vua đứng đầu nhà nước Hay nói cách khác, hai tầng lớp cơ bản quyết định tất cả mọi quan hệ trong xã hội phương Đông (từ quan hệ gia đình và kinh tế đến quan
hệ nhà nước và thậm chí cả quan hệ tôn giáo) là tầng lớp cầm quyền và tầng lớp nhân dân, tầng lớp cai trị và tầng lớp bị trị, tầng lớp chủ nô và tầng lớp nô
lệ hoàn toàn lệ thuộc vào chủ nhân của mình Ngược lại, trạng thái công dân không do của cải, sự cao quý quy định, mà chỉ được quy định bởi quan hệ với cộng đồng công dân Tức là, cái duy nhất có thể đem lại địa vị và uy tín cao cho công dân là sự tham gia vào đời sống polis và bộc lộ năng lực khi đó Mỗi công dân đều bình quyền với những công dân khác, quyền lực tối cao trong nhà nước thuộc về toàn bộ cộng đồng công dân - Hội nghị dân biểu Không
những thế, ở polis, pháp luật giữ vai trò hàng đầu đối với chính quyền trong
nó Quyền lực nhà nước ở trong polis căn cứ trên pháp luật và cũng phải phục tùng pháp luật Bản thân cộng đồng công dân chính là cơ quan nhà nước tối cao, cấu trúc và hình thức tổ chức nhà nước cho phép loại trừ việc biến các cơ quan nhà nước thành lực lượng đứng trên xã hội và các thành viên xã hội Ngay cả quá trình xử án cũng có tính chất cởi mở và dân chủ cho phép mỗi công dân dũng cảm bảo vệ các quyền lợi chính trị và sở hữu của mình
Chúng ta nhận thấy tất cả những điều đó là khác biệt căn bản của polis
so với nhà nước phương Đông cổ, trong đó có quyền chuyên chế của vua do một nhóm quan lại khép kín thực hiện, nhóm này biến thành đẳng cấp những
kẻ thực sự nắm trong tay quyền lực nhà nước
Toàn bộ nếp sống ở polis đều hướng tới nhiệm vụ đảm bảo tự do ý chí của cá nhân Tự do tín ngưỡng cũng là biểu hiện và đồng thời cũng là phát triển ý chí tự do, trong đó thái độ tôn trọng các thần linh cấu thành một trong
Trang 14những đặc điểm bất biến của diện mạo tinh thần công dân Cùng với đời sống tâm linh tự do ấy, người Hy Lạp đã để lại cho ngày sau những tác phẩm nghệ thuật, văn học và khoa học thiên tài
Trong thời kỳ lịch sử Cổ đại tiếp theo, khi mà polis bị suy thoái, đánh
mất ý nghĩa là các hình thái nhà nước, nhưng chúng vẫn là các thành tố cấu thành của nếp sống xã hội hay nói cách khác phẩm giá của cá nhân con người
ở trong nhà nước - thành bang được truyền thống văn hoá sau đó giữ lại, bất chấp mọi dích dắc, mọi bi kịch và mọi chuyển biến của lịch sử Tuy nhiên, polis cũng có những điểm tiêu cực mà chúng ta không quên nhắc tới nhằm có
được đánh giá toàn diện Ngoài công dân, trong polis còn có không ít những
người đến từ các miền khác mà các quyền công dân (chủ yếu là quyền chính trị) của họ bị hạn chế Phụ nữ có địa vị thấp hơn đáng kể so với nam giới Và
nô lệ mặc dù không có nhiều trong thời đại polis cổ điển và xã hội chủ yếu tồn tại nhờ lao động của công dân tự do nhưng dẫu sao sự hiện diện đó cũng
làm giảm đáng kể giá trị của hình ảnh chế độ polis
* Văn hóa
Thế giới quan cổ đại có xu hướng tượng trưng với những bình diện đa dạng Người Hy Lạp cổ quan niệm vũ trụ là một cơ thể sống, vĩnh viễn trẻ
Vũ trụ sống, thở, chơi đùa với những màu sắc đa dạng của mình Không gian
và thời gian trong nó mở rộng ra và co hẹp lại, chúng không thuần nhất và có mật độ khác nhau Do đó, vũ trụ thể hiện là một bức tranh, có trật tự Đồng thời cùng với thiện cảm phổ biến, vũ trụ như vậy là nguồn gốc của thái độ kinh ngạc sung sướng và thái độ khâm phục, tạo ra thế giới quan mang sắc thái thẩm mỹ
Tồn tại đối với người Hy Lạp là một ngôi đền chứa đầy rẫy những bức tượng phát ra ánh sáng của thần linh Như vậy, thế giới trong trực giác của người Hy Lạp khác căn bản so với hình ảnh thế giới của khoa học cổ điển căn
Trang 15đề chuẩn bị cho sự xuất hiện của triết học và quy định đáng kể tính chất, định hướng và phương tiện cho các trường phái sau này, trong đó Xôcrát không là ngoại lệ Chịu ảnh hưởng của toàn bộ triết học trước mình, tức của hầu hết
các triết gia giai đoạn tiền Xôcrát, song trong khuôn khổ một luận văn và điều
quan trọng là chúng ta không có tài liệu cấp một (các tác phẩm của bản thân Xôcrát), xuất phát từ nội dung của luận văn là làm sáng tỏ quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học, nên chúng tôi thấy hợp lý nhất là khái quát một cách ước lệ các tiền đề tư tưởng của triết học Xôcrát thành ba nhóm cơ bản sau đây: 1) triết học tự nhiên Hy Lạp sơ kỳ; 2) triết học Đêmôcrít, vì sự
mở đầu về mặt tinh thần giai đoạn cổ điển được coi là sáng tạo của các nhà nguỵ biện đương thời với ông (Prôtago, Gôriát) Nêu bật vai trò của Xôcrát đối với chuyển biến sâu sắc trong toàn bộ tư tưởng triết học thời đại này, người ta đề cập tới "cách mạng Xôcrát" trong triết học Thực chất của nó là ở việc tái định hướng ý thức triết học từ hệ vấn đề nguồn gốc vũ trụ luận sang
đề tài con người Nhân vật quá độ từ một thời đại này sang thời đại khác còn
là một người đương thời với Xôcrát, đó là Đêmôcrít - người sáng lập ra nguyên tử luận Học thuyết của ông hợp nhất trong mình hệ vấn đề nguồn gốc
vũ trụ luận vốn đặc trưng cho các nhà triết học tiền Xôcrát, với các giải pháp bản thể luận khác về nguyên tắc; và 3) triết học nguỵ biện
* Triết học tự nhiên Hy Lạp sơ kỳ
Triết học Hy Lạp sơ kỳ - bao hàm thời đại từ khi xuất hiện tư duy triết học ở đầu thế kỷ VI TCN cho đến thời đại Xôcrát (cuối thế kỷ V TCN) Từ đó
tư tưởng triết học có được tính chất khác căn bản Đề tài chủ yếu của tư duy triết học Hy Lạp sơ kỳ là sự xuất hiện và cấu tạo của vũ trụ toàn vẹn và thống nhất Vai trò của Xôcrát với tư cách nhân vật giao thời, đánh dấu sự kết thúc thời đại triết học cũ và sự bắt đầu của thời đại triết học mới, cho phép đặt tên
tất cả các nhà triết học sơ kỳ là các nhà triết học tiền Xôcrát Họ bao gồm tất
Trang 16cả các bậc trí tuệ kiệt xuất, nhà triết học đầu tiên và là người Hy Lạp thông thái nhất - Talét, các môn đệ của ông - Anaximanđrơ và Anaximen; nhà triết học kỳ quặc nhất - Hêraclít; nhà thần học vĩ đại, nhà khoa học, nhà cải cách
xã hội - Pitago; người đầu tiên phê phán truyền thống văn hoá - Xênôphan; người sáng lập học thuyết về cái Thống nhất - Pácmênít và môn đệ của ông - Dênôn ở Êlia, trở thành ông tổ của phép biện chứng Cổ đại; nhà triết học Aten đầu tiên - Anaxago - người biến trí tuệ thành lực lượng sáng tạo ra vũ trụ; và cuối cùng, Ămpeđốclơ ở Sixilia - người hợp nhất nhiều tư tưởng của các bậc tiền bối trong học thuyết của mình, qua đó thực hiện kinh nghiệm tổng hợp các quan điểm khác nhau
Có thể coi thời điểm ra đời mang tính biểu tượng của triết học là năm
585 TCN Chính khi đó diễn ra hiện tượng nhật thực được Talét tiên đoán trước, sau này thế hệ con cháu sẽ gọi ông là nhà triết học đầu tiên trong lịch
sử tư tưởng Lời tiên đoán của Talét đánh dấu năng lực tư duy thâm nhập vào cái mà thị giác không thấy, nhận thức thực tại hoàn toàn không cảm giác thấy Thậm chí, nếu Talét tiên đoán được không hẳn nhờ những khám phá của mình
mà chủ yếu dựa vào tri thức của các nhà tư tế Babilon hay Ai Cập, thì sự kiện chưa xảy ra vẫn được nói ra, nó dường như do lời nói sinh ra, hiện hữu trong thế giới này Nhật thực diễn ra ngày 28 tháng 5 năm 585 TCN đã chấm dứt cuộc chiến tranh của người Miđian chống lại người Lydia Sợ hãi cảnh nhật thực, các bên tham chiến đã ký kết hiệp định hoà bình Điều này cũng rất tượng trưng Một nhà triết học khác ở Milê đã ra đời vào năm này - Anaximen, thầy dạy tương lai của ông ta - Anaximanđrơ lúc đó 20 tuổi, đã trở thành học trò của Talét
Tư tưởng triết học Hy Lạp sơ kỳ có hai nhánh - Iôna và Italia Tất cả mọi người khởi xướng tư tưởng triết học đều là người ngoại bang ở Iôna - khu vực phát triển và thịnh vượng nhất ở Hy Lạp thế kỷ VI TCN Trường phái
Trang 17triết học đầu tiên - trường phái Milê - đã xuất hiện ở đây Sự nghiệp sáng tạo của các nhà triết học Iôna được hợp nhất nhờ khái niệm "triết học Iôna" Đây
là nhánh thứ nhất của triết học Hy Lạp sơ kỳ Ngoài Talét, Anaximanđrơ và Anaximen, triết học Iôna còn có Hêraclít đến từ Ipếch Anaxago cũng có quan
hệ gần gũi với các nhà triết học Milê, kế tục truyền thống triết học của họ Song, Anaxago lại sống ở Aten và trở thành nhà triết học đầu tiên ở Aten
Iôna một thời được dân cư từ vùng Bancăng ở Hy Lạp đến định cư, họ chạy trốn khỏi sự xâm lược của người Đôria Vào cuối thế kỷ VI TCN, nguy
cơ nô dịch của người Ba Tư đã treo lơ lửng trên đầu các thành phố Iôna Lo
sợ sự cai trị của vua Ba Tư, nhiều cư dân Iôna đã rời khỏi tổ quốc và chuyển đến định cư ở các vùng đất khác, trước hết là Nam Italia Các nhà triết học cũng không phải ngoại lệ Sinh ra tại đảo Samốt, Pitago đã chuyển đến sinh sống tại thành phố Crôtôn ở Italia Vốn là thầy dạy của Pácmênít, Xênôphan cũng hành động như vậy Từ đấy, nhánh thứ hai của triết học Hy Lạp sơ kỳ đã hình thành - đó là nhánh Italia Ngoài Pitago và Xênôphan, nó còn có các đại diện của trường phái Êlê - Pácmênít, Dênôn cũng như Ămpeđốclơ
Đến nay không còn giữ lại được một tác phẩm nào của các nhà triết học
Hy Lạp sơ kỳ Tất cả những gì chúng ta biết đều là những bằng chứng về học thuyết của họ được dẫn ra trong tác phẩm của các nhà triết học ra đời muộn hơn Tất cả những điều đó đã cản trở đáng kể việc tái hiện các học thuyết triết học Hy Lạp sơ kỳ và chỉ cho phép phán đoán về nội dung vủa chúng một cách rất tương đối và không đầy đủ Đồng thời, mặc dù chúng ta cũng không có khả năng có được ấn tượng trực tiếp về những sáng tạo của các nhà triết học tiền Xôcrát, song vẫn biết đến nhiều tư tưởng của họ đã đóng vai trò quan trọng trong lịch sử tư tưởng loài người Bất chấp những bằng chứng hiện có nghèo nàn và tản mạn thì số lượng không nhiều các đoạn trích vẫn cho phép
chúng ta hình dung về tinh thần và định hướng triết lý của thời kỳ tiền Xôcrát
Trang 18Triết học Hy Lạp sơ kỳ thường được hiểu là tư tưởng của các nhà triết học tự nhiên (naturphilosophie), tập trung vào nghiên cứu giới tự nhiên Vào thế kỷ VI TCN và thậm chí vào thế kỷ V TCN, triết học vẫn chưa tồn tại biệt lập với nhận thức tự nhiên và các quan niệm khoa học về thế giới có vai trò quyết định trong việc đặt ra và giải quyết các vấn đề triết học Các nhà triết học Cổ đại đầu tiên và trước hết là các nhà triết học tự nhiên, vì các tác phẩm của họ thường có tên gọi là "Về tự nhiên" (peri physeo) và phiên dịch từ danh
từ tiếng Hy Lạp "physis" một cách đơn nghĩa là "tự nhiên" Tuy nhiên, việc nghiên cứu sâu thuật ngữ này để đánh giá bối cảnh thế giới quan của nó cho thấy thêm hàng loạt nghĩa không chỉ động chạm tới lĩnh vực tự nhiên mà còn động chạm tới cả lĩnh vực xã hội và con người Tất nhiên, việc quan tâm đến vấn đề con người trong triết học tự nhiên Hy Lạp sơ kỳ không chỉ do nhu cầu phải lý giải đúng danh từ "physis" trong tiếng Hy Lạp, mặc dù việc hiểu đúng
nó cho phép cụ thể hoá quan niệm của chúng ta về sự đặc thù của triết học tự nhiên Cổ đại
Mặc dù việc tìm kiếm nhân học triết học độc lập, tách rời khỏi những vấn đề khác ở các nhà triết học Hy Lạp sơ kỳ sẽ là ngây thơ, nhưng có thể nhận thấy sự hiện diện của nó trong các quan điểm triết học tự nhiên, cụ thể là những suy ngẫm về đạo đức xã hội dưới dạng các quan điểm nhân học và xã hội về thế giới, là việc đưa con người vào bức tranh thế giới khi xem xét thế giới nhờ so sánh các quan hệ xã hội Vấn đề cần làm sáng tỏ ở đây là: những nội dung nào trong học thuyết triết học tự nhiên Hy Lạp sơ kỳ có quan hệ với những suy ngẫm về con người, về tồn tại và sứ mệnh của con người; những suy ngẫm ấy có quan hệ như thế nào với việc tìm kiếm bản nguyên đầu tiên, thực thể của vũ trụ vốn đặc trưng cho các nhà triết học tự nhiên Milê với tư cách các nhà triết học
Trang 19Những thông tin chủ yếu về các nhà triết học Hy Lạp sơ kỳ thuộc về Arixtốt và Thêôphratốt hay nói cách khác những thông tin về các nhà triết học tiền Xôcrát bắt nguồn từ hai ông Chúng ta quan tâm đến hai luận điểm trong
"Siêu hình học" của Arixtốt Cuốn thứ ba chương 3) đem đối lập các nhà tự nhiên học (physicien) với các nhà thần học (theologie): các nhà tự nhiên học (Talét - "người sáng lập ra thứ triết học như vậy") quan tâm tới việc nghiên cứu physis - cơ sở bất biến của vạn vật, còn các nhà thần học coi Ôkêanốt và Thêôphia là những kẻ làm cho vạn vật xuất hiện Cần lưu ý rằng, Arixtốt hiểu
"arche" (bản nguyên đầu tiên, nguyên nhân đầu tiên) của phái Milê là "bản nguyên vật chất" Song, điều này hoàn toàn không có nghĩa rằng, các thuật ngữ "physis" và "arche" là đồng nhất trong triết học Milê Dẫu sao nếu coi tên gọi "peri physeos" của Anaximanđrơ và của Anaximen có nguồn gốc muộn hơn, thì không thể phủ nhận rằng, bản thân thuật ngữ "physis" được
họ sử dụng với dung lượng nghĩa lớn hơn Kết luận này được khẳng định thông qua luận điểm thứ hai của Arixtốt về các nhà triết học sơ kỳ như các nhà vật lý học "physikoi", còn đối tượng của họ là "tự nhiên như một chỉnh thể và tồn tại tự thân nó"
Quan điểm sơ kỳ của các nhà "physeos" đã được sử dụng để luận chứng các bối cảnh xã hội, nhưng điều đó chỉ có thể biểu thị sự thống nhất về mặt tinh thần của các học thuyết vật lý học, xã hội và đạo đức, khi mà việc viện dẫn đến bối cảnh xã hội không phải là thủ thuật trong nghiên cứu các nguyên lý vật lý khác với các nguyên lý xã hội và đạo đức, mà là việc nghiên cứu đồng thời các vấn đề vật lý học và các vấn đề đạo đức học Thực chất của vấn đề là lý giải biểu tượng đạo đức xã hội ẩn chứa ở trong các nguyên lý vật
lý học bằng những giá trị văn hoá xã hội Đánh giá các nhà vật lý học và các nhà thần học, Arixtốt đã chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa họ Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, các nhà vật lý học đã khước từ, đoạn tuyệt với thế giới quan
Trang 20thần thoại Arixtốt đem lại cơ sở để xem xét các nhà triết học Milê từ lập trường duy lý, tiến hành so sánh những tư tưởng cơ bản của trường phái Milê với những tìm tòi tinh thần của thời đại từ giác độ bên ngoài
Nội dung thế giới quan cơ bản của triết học Hy Lạp sơ kỳ (các lược đồ nguồn gốc vũ trụ luận, việc đồng nhất trật tự tự nhiên và trật tự xã hội, việc tìm kiếm cơ sở bản thể đầu tiên,v.v ) không thể được tách ra từ tìm tòi khoa học, song cũng không nên chỉ quy nó về các lược đồ thần thoại cổ Nội dung thế giới quan của triết học tự nhiên Hy Lạp sơ kỳ thực sự bắt nguồn từ sự tìm tòi tinh thần được lý giải thông qua bối cảnh văn hoá chung Việc tìm tòi này thể hiện ở thế giới quan cá nhân (thơ trữ tình) và ở việc khước từ tôn giáo truyền thống (hoài nghi tôn giáo, chủ nghĩa bi quan của người Hy Lạp trong quan niệm về quan hệ qua lại giữa thần linh và con người,v.v ) Cần phải tính đến nó khi phân tích tìm tòi triết học có quan hệ với vấn đề con người và tồn tại người
Không thể tái hiện quan điểm của từng nhà triết học Hy Lạp sơ kỳ riêng biệt, chúng tôi cố gắng đánh giá khái quát tư tưởng triết học Hy Lạp sơ kỳ với
tư cách một trong các tiền đề tư tưởng của triết học Xôcrát như sau: Hàng loạt chủ đề đã xuất hiện và định hình trong tư tưởng triết học Hy Lạp sơ kỳ, sự hiện diện của chúng cho phép nói tới sự thống nhất về mặt tinh thần của triết học ở thời kỳ tiền Xôcrát Với tất cả những khác biệt và tính độc đáo của các học thuyết tồn tại ở thời kỳ này thì vẫn có một số các tư tưởng và định hướng
tư duy nhất định được các nhà triết học tiền Xôcrát tán thành dưới hình thức nào đó Có thể nêu ra những điểm chung sau đây của triết học Hy Lạp sơ kỳ:
1 Sự giống nhau về đề tài chủ đạo của tư duy Đó là đề tài về nguồn gốc vũ trụ, về sự xuất hiện và cấu trúc của vũ trụ; 2 Quan niệm về sự hình thành vũ trụ từ hỗn loạn (trạng thái bất định và không có trật tự của tồn tại) sang vũ trụ (toàn vẹn và có trật tự); 3 Tách biệt vấn đề tồn tại đích thực Làm sáng tỏ tồn
Trang 21tại đích thực trong văn cảnh của vấn đề "vạn vật là gì?"; 4 Trực giác về tồn tại đích thực như "một" trong sự khác biệt với vũ trụ hiện có, hữu hình bao quanh như "nhiều" Tính không đáng tin cậy của "nhiều"; 5 Niềm tin rằng tri thức đích thực chỉ có thể đạt được nhờ tư duy Những biểu tượng trực tiếp, ý kiến và cảm xúc là cái cần được vượt qua; 6 Tư duy triết học và tri thức nó nhận được là cái phục vụ sự hoàn thiện và cải thiện con người, làm trong sạch
nó, thúc đẩy phẩm chất đạo đức; 7 Triết học không tách rời khỏi các năng lực khác (tri thức thực chứng), các hình thức tinh thần khác (tôn giáo) cùng không tách khỏi kinh nghiệm sinh hoạt
Triết học tự nhiên (naturphilosophie) Hy Lạp sơ kỳ, từ Talét đến Hêraclít, không chỉ là triết học tự nhiên (trước hết là theo nghĩa hiện đại) Các nhà tư tưởng Hy Lạp sơ kỳ đã để lại một nguồn tư liệu khổng lồ về thế giới quan, chứng tỏ sự quan tâm đến con người Họ xem xét những vấn đề vũ trụ
để luận chứng cho những chuẩn tắc sinh hoạt của con người, địa vị của con người trong thế giới, con đường đạt tới lòng mộ đạo, chính nghĩa và thậm chí hạnh phúc cá nhân Vốn đặc trưng cho triết học tự nhiên Hy Lạp sơ kỳ, hệ vấn
đề vũ trụ luận được trình bày đan xen với hệ vấn đề nhân học, sự hiện diện của con người trong thế giới thường xuyên được hàm ý nói đến Do vậy, chúng ta có thể có cảm tưởng hệ thống vũ trụ luận của các nhà tư tưởng Hy Lạp sơ kỳ là ngây thơ Nhưng, chúng phục vụ một nhiệm vụ tổng thể: luận chứng cho sự tương tác hài hoà giữa con người với tự nhiên, con người sống
"phù hợp với tự nhiên", theo bản tính tự nhiên của mình
Quan điểm về nguồn gốc vũ trụ của các nhà triết học Hy Lạp sơ kỳ được sử dụng làm một sự mở đầu độc đáo cho việc mô tả bản chất của thế giới người Họ đã giải thích sự ra đời của bản thân thế giới và sự xuất hiện của con người trong thế giới ấy Bên cạnh những quan điểm tự nhiên chủ nghĩa về con người, các nhà tư tưởng Hy Lạp sơ kỳ đã phát triển quan điểm
Trang 22duy lý về con người Định hướng vào lý tính con người được đem đối lập với định hướng thần thoại truyền thống vào các thần linh Xênôphan đã đi đến kết luận rằng, bản thân con người "tìm thấy những điều tốt đẹp nhất", tức là sáng tạo
ra văn hoá của mình Tất cả những điều nói trên chứng tỏ rằng, triết học Hy Lạp
sơ kỳ đã ẩn chứa trong mình mầm mống, tiền đề để sau này, Xôcrát thực hiện sự phản tư về bản chất của tri thức triết học (đối tượng của triết học)
* Đêmôcrít (460 - 371 TCN)
Tư tưởng quan trọng đầu tiên của Đêmôcrít là nguyên tử luận Vì cơ sở
của toàn bộ tồn tại là các nguyên tử, nên sự kết hợp và tương tác giữa chúng
là căn cứ đầu tiên của vạn vật Các hình thức không phân chia được và khoảng không trong học thuyết Đêmôcrít - đó không hẳn là các đặc điểm vật
lý, mà chủ yếu là các giới hạn xác định của cái có thể tư duy được Đây là những nội dung đơn giản nhất mà tư duy không thể đi xa hơn được và tất yếu phải coi chúng là cơ sở của quan niệm về tồn tại Không nên nói các hình thức phát sinh này của tồn tại do ai sáng tạo ra hay bắt nguồn từ đâu Thậm chí không thể đặt vấn đề cội nguồn và nguồn gốc của chúng Vì nghĩa của các khái niệm "nguyên tử" và "khoảng không" là các hình thức khởi thuỷ của tồn tại Chúng là giới hạn bất di bất dịch mà lĩnh vực những vấn đề nguồn gốc, sự xuất hiện, sự ra đời kết thúc ở đó
Để giải thích sự hình thành vũ trụ và tất cả những gì diễn ra ở trong nó, Đêmôcrít đã sử dụng khái niệm "nguyên nhân" Theo Đêmôcrít, không có gì diễn ra mà lại không có căn cứ, và ông gọi các căn cứ ấy là nguyên nhân Vì
cơ sở của toàn bộ tồn tại là các nguyên tử, nên sự kết hợp và tương tác giữa chúng là căn cứ đầu tiên của vạn vật Tư tưởng tiền Xôcrát xem mọi cái đang diễn ra trong bối cảnh chung của vũ trụ, thông qua cấu tạo của vũ trụ, thông qua quan hệ với vũ trụ và mục đích của vũ trụ Vạn vật có được nội dung của mình tuỳ thuộc vào địa vị của chúng trong trật tự vũ trụ và tác động của
Trang 23chúng đến tính toàn vẹn của vũ trụ Quan niệm của Đêmôcrít về tồn tại đã thực sự thủ tiêu vũ trụ Cổ đại trước đó Vũ trụ đã biến mất Không phải vũ trụ
có trật tự ở trong mình, toàn vẹn định hướng tư duy của con người và trở thành cơ sở cho phán đoán về những vật cụ thể Vũ trụ tiêu tan như ảo ảnh, để lại những bản nguyên đơn giản nhất và bất biến của tồn tại cho tư duy Không
có và không thể có lực lượng nào khác, các bản nguyên nào khác
Do vậy, tất cả những gì đang trực tiếp và hiện hữu và diễn ra đều được xem xét không phải thông qua tính có can dự với vũ trụ, mà như hệ quả đơn giản của một tác động (nguyên nhân) nào đó Một sự chuyển biến triệt để đã diễn ra trong tư duy về tồn tại: vốn đóng vai trò mục đích thầm kín của mọi tìm tòi, cho dù nó có quan tâm đến vật, cá nhân hay sự kiện nào đi chăng nữa, vấn đề về mục đích bây giờ đã được thay thế bằng vấn đề nguyên nhân - về tác động trực tiếp dẫn tới tình trạng hiện có của các sự vật Sự giải thích như vậy về các sự vật lấy khái niệm "nguyên nhân" làm cơ sở, được gọi là quyết định luận (determinisme)
Vấn đề cơ bản của các nhà triết học tiền Xôcrát là vấn đề "vạn vật bắt nguồn từ cái gì" Vấn đề của Đêmôcrít là "nhờ cái gì?" Ông khẳng định:
"không có gì xuất hiện một cách vô ích", "không có căn cứ" (nguyên nhân) Cơ
sở của quan hệ nhân quả ở Đêmôcrít là dao động của các nguyên tử và những va chạm giữa chúng Trong vận động này, khi phục tùng sự hướng tới cái tương tự, các nguyên tử cấu thành vạn vật, các nguyên tử và khoảng không tồn tại vĩnh cửu, chúng không có điểm khởi đầu và do vậy, không có nguyên nhân
Yếu tố mang tính chất xây dựng của quyết định luận Đêmôcrít là ở việc tìm kiếm các căn cứ của những cái đang diễn ra và tìm thấy chúng ở trong
"bản thân các sự vật" Cùng với việc đào sâu nhận thức "bản thân các vật", bản chất và những đặc điểm của chúng, nhận thức về quan hệ nhân quả tất yếu cũng trở nên sâu sắc hơn Đồng thời, sự giải thích nhân quả ở Đêmôcrít
Trang 24cũng có tính chất của thuyết định mệnh: từ chỗ vạn vật đều có căn cứ, ông rút ra kết luận về tính tất yếu của vạn vật Vạn vật là như vậy và chỉ có thể là như vậy - biểu hiện sự tin tưởng của Đêmôcrít
Chúng ta sẽ sai lầm nếu chỉ chấp nhận nội dung vật lý học trong quan niệm của Đêmôcrít về vũ trụ Trong triết học Cổ đại không có một tư tưởng hay một ý niệm đáng kể mà lại không giải quyết một vấn đề đạo đức nào đó
Do vậy, đề cập tới vũ trụ luận Đêmôcrít, không được phép bỏ qua vai trò của
sự an ủi về mặt thế giới quan mà nó có khả năng hoàn thành đối với ý thức
Cổ đại Nguyên tử luận không những đưa con người ra khỏi cuộc đấu tranh hỗn loạn giữa các lực lượng, các nguyên tố, các ý chí vũ trụ Nó thủ tiêu bản thân nguồn gốc sinh ra mọi lo âu của con người Cổ đại - sức mạnh vô địch
và chi phối vạn vật của Định mệnh Vả lại, nếu chỉ có các nguyên tử và khoảng không, còn vạn vật trong vũ trụ chỉ là hệ quả đơn thuần của sự kết hợp và tương tác giữa chúng, thì sẽ không còn chỗ cho bất kỳ một lực lượng
mờ ám, đen tối và không nắm bắt được nào Thế giới được an ủi thông qua tính rõ ràng, các cơ sở đơn giản và hiển nhiên của mình Trong vũ trụ không
có cái gì lo âu và gây ra nỗi sợ hãi, khủng khiếp và không đạt được Đêmôcrít loại bỏ nỗi sợ hãi của con người; và một điều hiển nhiên là sau khi thực hiện điều đó, nhà tư tưởng nhắc nhở thế giới về tiếng cười sảng khoái
do nhận được tự do từ trái tim ngây ngất say của mình
Từ nguyên tử luận, Đêmôcrít chuyển sang vấn đề thế giới người
Trước tiên, ông suy luận về nguồn gốc và sự phát triển của con người Con
người có nguồn gốc tự nhiên và lúc đầu có lối sống giống như mọi động vật Toàn bộ nếp sống chung (ngôn ngữ, nhà nước, luật pháp) đều được tạo ra theo thoả thuận chung của mọi người, thông qua quyết định tập thể của họ
Từ đó suy ra rằng việc thay đổi các chuẩn tắc và nếp sống hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của con người
Trang 25Tình cảm chủ yếu dẫn dắt con người trong cuộc sống Chúng ta đề cao những gì giống với chúng ta, né tránh những gì xa lạ, đem lại sự bất tiện và đau khổ Định hướng chung của cuộc sống là thái độ cam chịu, vả lại nếu vượt quá độ, thì cái dễ chịu nhất sẽ trở thành cái khó chịu Mục đích tối hậu
và cái phúc tối cao đối với con người – tâm trạng thoải mái đó là tâm hồn yên tĩnh và cân bằng, không bị một dục vọng nào quấy rầy Tất cả những sắc thái nội dung nhân học triết học Đêmôcrít tất yếu có tác động mạnh mẽ đến định hướng tư duy triết học của Xôcrát vào tất cả những gì có liên quan tới con người, tới cuộc sống hạnh phúc và số phận của con người
* Phái ngụy biện (thời đại Khai sáng Cổ đại)
Vào giữa thế kỷ V TCN xuất hiện tu từ học – nghệ thuật nói hay, các thầy giáo được trả tiền bắt đầu dạy các quy tắc của nó cho những người có nhu cầu Đời sống của polis thường xuyên đi liền với ngôn ngữ Nó đòi hỏi sự giao tiếp trực tiếp của con người ở nhiều phương diện, trong mỗi biểu hiện của mình Kỹ năng nói và thuyết phục, trình bày và bảo vệ ý kiến đòi hỏi phải
có trong mọi lĩnh vực đời sống – từ đời sống gia đình đến đời sống nhà nước,
từ quan hệ bạn hữu đến các cuộc tranh chấp về tài sản, - trong mọi lĩnh vực và khi giải quyết mọi vấn đề
Khả năng nói không tách rời khỏi khả năng tư duy Việc biểu thị lời nói
do định hướng và lôgíc nội tại của tư duy quyết định Do vậy, các thầy dạy tu
từ học khi đó đồng thời cũng là các thầy dạy sự thông thái Nói, suy luận, tư duy, hiểu biến thành một quá trình và năng lực thống nhất
Chủ nghĩa duy lý Hy Lạp cổ đại xuất hiện trên cơ sở hợp lý hóa quan
hệ sinh hoạt của công dân, các chuẩn tắc xã hội, các tập quán và tập tục Lý tính của Khai sáng Hy Lạp cổ đại là lý tính chính trị và đạo đức; đặc điểm quan trọng nhất của nó là năng lực của cá nhân tự do ý thức đúng và thực hiện đúng lợi ích của mình, so sánh và đối chiếu chúng với lợi ích của đồng bào và
Trang 26của polis Triết học ngụy biện có hàng loạt nội dung cho phép nói tới một bước ngoặt triệt để đã diễn ra trong triết học
Các nhà nguỵ biện ở Hy Lạp bắt đầu được coi là những người dạy sự thông thái và họ đi khắp nơi để dạy học Bấy giờ, tại các thành phố Hy Lạp xuất hiện những người tự tuyên bố mình là thầy dạy đạo đức và thông thái, có thể gọi đó là một nghề hay một kỹ năng Những cuộc đàm thoại làm cho thính giả nản lòng Họ lắng nghe ở các nhà nguỵ biện những lời nói có nội dung mâu thuẫn với toàn bộ kinh nghiệm trước đó của họ Các thầy giáo dạy thông thái đi lang thang đề cập đến tất cả mọi quan niệm quen thuộc Tất cả mọi luận điểm, mọi ý kiến phổ biến, mọi điều hiển nhiên và có quyền uy nhất đều
bị đem ra phê phán và phân tích Không có gì trở nên bất di bất dịch khi đối mặt với tư duy sắc sảo, kỳ quặc và đột ngột của họ
Tất cả những điều bất bình thường và gây sốc đó làm xuất hiện sự phản đối tự nhiên Sự vô nghĩa của nhiều luận điểm nguỵ biện là hiển nhiên Song, các thử nghiệm phản bác họ thường bị thất bại Các nhà nguỵ biện có thể tìm ra câu trả lời cho những vấn đề hóc búa nhất, bác bỏ được bất kỳ phản bác nào Những luận cứ vững chắc nhất trong suy luận của phái nguỵ biện bộc lộ tính vô căn cứ của mình, còn những luận điểm khó tin nhất – tính đáng tin cậy kinh ngạc
Những bàn tán về các nhà nguỵ biện lan rộng khắp Hy Lạp; vinh quang của họ được so sánh với vinh quang của các nhà hoạt động nhà nước, các nghệ nhân, các vận động viên điền kinh kiệt xuất Cho dù họ có xuất hiện tại bất kỳ ngóc ngách nào ở Hy Lạp, ở đâu cũng có những người muốn được trở thành học trò của họ Những người này sẵn sàng trả một khoản tiền lớn để thông thái – món quà đáng quý và vô hình – trở thành tài sản của họ, đưa họ đến thành công trong cuộc sống, đem lại chỗ dựa đáng tin cậy đặc biệt
Có hai thế hệ nguỵ biện: các nhà nguỵ biện thời kỳ đầu và các nhà nguỵ biện thời kỳ sau Số thứ nhất bao gồm có Prôtago được coi là ông tổ của phép
Trang 27nguỵ biện nhờ đưa ra nguyên lý “con người là thước đo của vạn vật” mang
tính nền tảng đối với các nhà nguỵ biện - Khai sáng Hy Lạp; Gôriát, người
đưa ra ba luận điểm nổi tiếng bác bỏ tính thực tại và tính khả tri của tồn tại,
người xứng đáng được gọi là “ông tổ của tu từ học”; Antiphôn, người biến
phân tích ngôn ngữ và khái niệm thành một trong những điều kiện bắt buộc của tư duy, cũng như hàng loạt nhà nguỵ biện khác
Các nhà nguỵ biện thời kỳ sau được coi là các nhà tư tưởng hoạt động vào cuối thế kỷ V - đầu thế kỷ IV TCN Họ kế tục và tái hiện các định hướng
tư duy cơ bản của các nhà nguỵ biện tiền bối, nhưng đánh mất quyền uy của thầy dạy đạo đức Xôcrát cũng nằm trong số các nhà nguỵ biện thời kỳ đầu, ông vừa là nhà ngụy biện nổi tiếng nhất, vừa là người phê phán phép nguỵ biện một cách hăng hái nhất
Phép nguỵ biện có ý nghĩa quan trọng không những xét từ góc độ đóng góp của nó cho việc cải biến ý thức Cổ đại, mà còn với tư cách một loại hình
tổ chức mới của tư duy Tư duy không chỉ do một cá nhân nào đó thực hiện,
mà nó là công việc của nhiều người Và, với tư cách như vậy, tư duy liên kết những người đang tư duy, hợp nhất và nhân gấp bội nỗ lực của họ
Cùng với sự thay đổi của phương pháp tư duy thì chủ đề của nó cũng thay đổi Khác với các nhà triết học Hy Lạp sơ kỳ, các nhà nguỵ biện gạt hệ vấn đề về nguồn gốc vũ trụ sang một bên Sự thay thế của các thời đại tư duy thể hiện ở sự thay đổi triệt để quan niệm về tồn tại Vốn đặc trưng cho ý thức tiền Xôcrát, quan niệm về tồn tại như một trật tự vũ trụ thống nhất, bao chứa vạn vật đã được thay thế trong triết học cổ điển bằng sự khu định và thậm chí
bằng sự đối lập giữa hai dạng tồn tại: tồn tại tự nhiên và tồn tại phụ thuộc vào
ý chí con người
Việc đưa ra một cơ sở bản thể luận mới cho mọi phán đoán và nội dung
là nhân tố cơ bản tạo ra bước ngoặt được phép nguỵ biện thực hiện không
Trang 28những trong toàn bộ cấu trúc của triết học trước đó mà cả trong thế giới quan
cổ đại sơ kỳ nói chung Phép nguỵ biện khám phá ra một dạng mới của tồn tại
có những đặc điểm đặc biệt: thế giới người, tồn tại người Các nhà nguỵ biện kiên quyết biến con người cụ thể và độc đáo thành xuất phát điểm cho mọi phán đoán về thế giới
Phép nguỵ biện đem lại ý nghĩa độc lập cho tồn tại người và thực sự biến nó thành thực tại xác thực duy nhất Qua đó mọi chân lý, chuẩn tắc và quan điểm đều được liên hệ với con người và hoạt động người Tức là vạn vật đều bộc lộ tính tương đối của mình – tính có quan hệ với tồn tại người - và căn cứ của mình hoàn toàn trong khuôn khổ của tồn tại mỗi người
Đặc điểm của phép nguỵ biện là kiểm nghiệm lời nói, khái niệm, quan điểm, phương pháp suy luận Phép nguỵ biện cho thấy rõ rằng rất nhiều thứ tồn tại đơn giản nhờ tính được mọi người thừa nhận của mình; rằng chỗ dựa của nhiều quyền uy chỉ là thời gian và thói quen của mọi người
Bước đi đầu tiên và mang tính quyết định của phép nguỵ biện, bước đi phân định giữa thời đại các nguồn gốc vũ trụ luận trong triết học sơ kỳ với sự khởi đầu một thời đại mới, là bước ngoặt của ý thức đi từ vũ trụ đến con người
Phái nguỵ biện biến giáo dục và đào tạo thành một nhiệm vụ độc lập, đòi hỏi những nỗ lực đặc biệt Nó chỉ ra rằng dòng chảy tự nhiên của bản thân cuộc sống là chưa đủ để hình thành trí tuệ và đạo đức của con người Mỗi người đều cần phải bỏ ra những nỗ lực có mục đích rõ ràng để hình thành nhân cách, các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình
Phép nguỵ biện có ảnh hưởng rõ ràng và mang tính quyết định trên nhiều phương diện đến toàn bộ tư tưởng cổ điển thời Cổ đại Trên thực tế, Xôcrát đã tái hiện tất cả các định hướng cơ bản của phép nguỵ biện trong tư duy của mình Các trường phái Xôcrát đã hoạt động hoàn toàn theo tinh thần của phép nguỵ biện, có không ít hơn căn cứ để gọi chúng là các trường phái
Trang 29Đến tuổi trưởng thành, ông trở thành một chiến binh gan dạ, dũng cảm
và vô cùng chính trực Ông đã từng tham gia một số trận đánh trong chiến tranh Pêlôpônne Tuy vậy, do gia đình nghèo khó với số tài sản không bằng giá trị của một nô lệ tốt bấy giờ nên ông phải gánh vác những công việc nặng nhọc khi thực hiện nghĩa vụ quân sự Nhưng điều đó vẫn không làm giảm sút lòng nhiệt thành của một công dân Aten chân chính trong ông Đã từng hai lần được bầu vào Hội đồng nhân dân, lần đầu tiên, Xôcrát là người duy nhất trong 500 vị quan toà đã lên tiếng chống lại việc xử tử các quân sĩ đã giành thắng lợi quan trọng cho Aten ở đảo Agiútxơ Lần thứ hai, vào thời kỳ cầm quyền của 30 bạo chúa, ông khước từ không bắt giữ để nộp cho những kẻ tiếm quyền một công dân vô tội
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ, Xôcrát quay trở về với nghề đẽo đá - một công việc đòi hỏi cả về kĩ năng cũng như năng khiếu Ông được một môn đệ đồng thời là một thính giả trung thành là Critôn giải phóng khỏi công việc không mấy thích hợp này Theo Platôn, trong bi kịch tù đày và
xử tử sau đó, chính Critôn là người đã sắp đặt cho Xôcrát chạy trốn nhưng không được ông đồng ý
Thực vậy, không chỉ nghề đẽo đá của cha mà đặc biệt chính nghề
đỡ đẻ của mẹ đã đóng một vai trò quan trọng với tinh thần Xôcrát Ông đã coi đó như là linh hồn của một thủ thuật triết học nhằm tác động cho chân
lý ra đời trong quá trình đối thoại
Khác với đa số các nhà triết học đương thời, ông không đi chu du ở các miền đất xa xôi Ông luôn sống ở Aten và rất thích tranh luận với bất
kỳ ai gặp được không phải để thuyết phục họ, mà để tìm tòi chân lý Vì ông mạnh hơn trong tranh luận nên có khi ông bị túm tóc lôi cổ đi chỗ khác, có nhiều khi ông bị chế giễu và tố giác; nhưng ông chấp nhận tất cả những điều đó mà không chống lại Một hôm, thậm chí sau khi bị đạp, ông vẫn
Trang 30nhẫn chịu, và có ai lấy đó làm ngạc nhiên, ông đáp lại: :"Nếu con lừa húc tôi, lẽ nào tôi lại đưa nó ra toà?" Cho đến khi kết thúc hành trình cuộc đời ông vẫn một mực bảo vệ cho chân lý
Ông cho rằng: chỉ có lời nói sống động mới có thể biểu thị và truyền tải được tư tưởng Tuy ngoại hình không thực hấp dẫn, song ông lại là hiện thân của một nhà truyền giáo thế tục có tác động đến người khác và có ảnh hưởng không nhỏ đến những biến đổi về đời sống tinh thần của người Aten Ông cũng làm cho một số người bất mãn, đặc biệt là một số công dân có thế lực
Đó cũng chính là lý do chính dẫn tới bi kịch của cuộc đời ông
Chính bởi đề cao giá trị sống động của hội thoại, nên sinh thời ông không viết bất cứ một tác phẩm nào, cho nên việc xác định quan điểm của Xôcrát đối với chúng ta là một nhiệm vụ mang tính kiến tạo Ông không cố gắng làm chủ nhiều kỹ năng mà đặt ra vấn đề sự thông thái nói chung, sự thông thái tự thân nó là gì Nói cách khác, ông tìm kiếm điểm chung trong mọi hình thức kĩ năng Theo Xôcrát, việc làm chủ sự thông thái tự thân nó sẽ cho phép dễ dàng làm chủ sự thông thái trong các lĩnh vực riêng biệt Đó cũng chính là cách tiếp cận của Xôcrát với mọi khái niệm chung: cái thiện và cái
ác, cái đẹp và cái xấu, cái công bằng và cái hợp pháp,v.v Ông đi từ những biểu hiện riêng biệt của một đối tượng đến việc hình thành khái niệm chung
về đối tượng ấy Nhờ phương pháp này Xôcrát đã xây dựng một học thuyết độc đáo và đúng đắn về con người - một phát kiến mà toàn bộ triết học sau này đánh giá rất cao
Trong các tác phẩm văn học, mà tiêu biểu là vở kịch "Đám mây" của Aritxtôphan - Xôcrát hiện lên trước hết là một người hội thoại hiếu động, quấy nhiễu mọi người bằng những câu hỏi và khéo léo biết cách đặt ra vấn đề cho tư duy từ những điều hiển nhiên nhất Nhiều người nói về Xôcrát giống như học trò
Trang 31của ông là một vị tướng nổi tiếng ở Ankiviát đã nói: Ông ta thường đưa tôi vào trạng thái mà tôi có cảm tưởng không nên tiếp tục sống như mình đang sống
Là một con người có phong cách khiêm nhường và giản dị trong gia đình cũng như ngoài cuộc sống, ông đã để lại những vang vọng lay động lòng người bởi sự chân thành và niềm rung cảm mãnh liệt khi ông hướng con người ta thoát khỏi thực tại đầy rẫy những lo toan, rối ren Đối với Xôcrát, hạnh phúc không phải là tiền bạc và sự xa hoa, ông cho rằng khát vọng kiếm lợi và làm giàu sẽ đẩy con người ra khỏi con đường đức hạnh và làm cho họ
bị suy đồi đạo đức Theo Xôcrát, con người phải học cách thoả mãn với điều tối thiểu, là bắt chước tấm gương cao cả của thần linh vốn dường như không cần tới thứ gì cả Bác bỏ sự giàu có, danh vọng và những khoái cảm về nguyên tắc, Xôcrát bác bỏ sự thừa thãi và sự ăn, mặc, ở xa hoa,v.v Nhân đây ông thường thích nhắc lại câu nói: "Bát đĩa bằng bạc và quần áo bằng gấm vóc thích hợp cho diễn kịch, song không cần thiết cho sinh hoạt" Người ta kể lại rằng Apôlôđô đã đề nghị Xôcrát mặc quần áo đắt tiền thích hợp hơn vào lúc ông sắp bị tử hình, Xôcrát đã trả lời: "Sao lại như vậy? Quần áo cũ của tôi là đủ tốt để sống trong đó nhưng lại không thuận tiện để chết trong đó ư?"
Tuy nhiên, ông không coi sự bần cùng là cơ sở của đức hạnh Ông cũng không phải là một người sống khắc kỷ Sự kiềm chế mà ông coi là đức hạnh quan trọng nhất cũng giống với thái độ ôn hoà mà các nhà thông thái Hy Lạp đã ca ngợi từ lâu trước ông
Ông có nhân phẩm và tinh thần độc lập Ông thường nói khi nhìn thấy vô số hàng hoá ở chợ: "Có biết bao thứ mà có thể sống thiếu chúng!" Những người bạn và những người hâm mộ Xôcrát nhiều lần đã cho ông tiền bạc và giúp đỡ ông, nhưng đều bị ông khước từ Điôghen Látsky thông báo rằng Ankiviát tỏ thái độ sẵn sàng dành cho Xôcrát một mảnh đất rộng
Trang 32để xây nhà Xôcrát đã từ chối món quà này Ông nói: "Điều này là thực nực cười giống như khi tôi cần đế giầy thì bạn lại đem cho tôi da để khâu giầy!"
Sau khi chết Xôcrát để lại một gia đình nghèo nàn, nhưng ông vẫn thờ
ơ với ý nghĩ cải thiện điều kiện vật chất của mình Nhà nguỵ biện Antiphôn
đã xúc phạm Xôcrát: "Ngài sống không giống như bất kỳ nô lệ nào sống ở chủ nhân của mình; ngài sử dụng đồ ăn và đồ uống nghèo nàn, mặc quần áo không những nghèo nàn mà còn mặc cùng một thứ quần áo cả mùa đông lẫn mùa hè, ngài luôn không đi giày." [10,tr.84] Việc Xôcrát hoàn toàn bị cuốn hút bởi sứ mệnh tối cao làm người đốt đuốc đi tìm chân lý đã không còn để lại thời gian và sức lực cho những quan tâm khác Ông thừa nhận tại toà án rằng ông không còn thời gian rỗi để làm một công việc xã hội hay gia đình đáng nhớ nào đó; rằng ông bị đẩy vào cảnh cùng khổ vì ông toàn tâm phục vụ thần linh
Ông lập gia đình rất muộn và chết đi để lại ba người con chưa đến tuổi trưởng thành Xôcrát có hai người vợ, người vợ cả Cơsantiphơ hay đay nghiến, rầy rà Người vợ hai Mirtô là con gái của Ariskit, ông cưới bà trong tình cảnh khó khăn và bởi tôn trọng những kí ức về người cha quá cố của bà Ông luôn tỏ ra khéo léo trong mọi xung đột gia đình kể cả khi bị vợ hắt nước vào người, ông vẫn có thể làm cho sự nóng nảy của bà tan biến tức thì Bởi ông cho rằng: sau khi học được cách cư xử với Cơsantiphơ thì tôi cũng dễ dàng tiếp xúc với người khác Ngay cả khi Cơsantiphơ rất đau khổ khi phải chịu mất mát quá lớn và gánh nặng gia đình Xôcrát để lại bằng cái chết vô lý, ông vẫn hài hước trả lời: "Chẳng lẽ em lại muốn anh chết có lý à?"
Sau khi nền bạo chính bị lật đổ ông đã bị bắt vì lời tố cáo của Milet với tội danh: Xôcrát báng bổ các thần linh đã được thành phố thừa nhận, tôn thờ các thần linh mới; ông cũng bị buộc tội là làm suy đồi thanh niên, do vậy phải chịu mức án tử hình Hai phần ba thẩm phán đã tán thành cáo trạng Bị kết án
tử hình, Xôcrát đã uống thuốc độc chết vào tháng 5 năm 399 TCN Trước vụ
Trang 33án của Xôcrát đã từng có vụ án nhà triết học Anaxago và nhà nguỵ biện Prôtago, họ bị kết tội vô thần và bị trừng phạt buộc phải rời khỏi Aten Lời buộc tội đối với Xôcrát về hai mục đầu tiên (không thừa nhận thần linh chung của thành phố và du nhập các thần linh mới) hoàn toàn rõ ràng là nằm trong hiệu lực điều luật được Điôpit đưa ra vào năm 433 TCN nhằm chống lại sự vô thần và phổ biến các thần linh mới, tức ngụ ý chống lại Anaxago Còn mục thứ ba - lời buộc tội Xôcrát làm suy đồi thanh niên - thì toà án ám chỉ tới, thứ nhất, sự làm suy đồi thanh niên bằng cách tạo cho họ thái độ giống Xôcrát đối với tâm linh trong quá trình đối thoại, tức phổ biến các quan điểm phạm tội được đưa ra trong hai mục đầu; thứ hai, - làm suy đồi thanh niên bằng cách dẫn dắt họ bất tuân các cơ sở và trật tự dân chủ của nhà nước - thị thành Aten Xét về phương diện này thì Xôcrát bị buộc tội phá vỡ các nền tảng nhà nước - thị thành, các luật pháp cơ bản của nó, chứ không phải là phạm một luật cụ thể nào cả Và với lý do đó mà ông đã bị khép vào tội chết Đây cũng là bị kịch của cuộc đời Xôcrát, một con người rất mực yêu Tổ quốc và rất trung thành với luật pháp của nhà nước Với bản lĩnh chính trực và thanh khiết, ông đã
từ chối cơ hội được chạy trốn cùng với cơ hội được giảm nhẹ tội bằng sự có mặt của vợ con ông tại toà án Cái chết của Xôcrát nhuốm đầy đau thương và gây nên niềm tiếc nuối vô bờ của Aten về sau Đó đồng thời cũng là một tượng đài bất diệt về khí phách và con người ông, là một minh chứng cho bài học đạo đức
mà ông là người đã nêu gương sáng "Cái chết bi thảm của Xôcrát đã đi vào lịch
sử như một sự kiện quan trọng, nó chứng tỏ rằng chân lý chỉ có thể có được bằng cái giá của sự hy sinh Hay, trong mọi trường hợp, tính đích thực của học thuyết được kiểm tra bằng thái độ sẵn sàng của tác giả trải qua những thử thách, đôi khi bằng cái giá mạng sống của bản thân" [10,tr.90]
Trang 34bản trong những suy tư của Xôcrát, phương châm được ông chọn là dòng chữ nổi tiếng ở cổng đền thờ Đenphy: "Hãy nhận thức bản thân mình"
Khi đề cập đến vấn đề bản tính con người, Xôcrát đã nhận thấy rằng
"chúng ta không thể nghiên cứu bản tính con người theo cách mà chúng ta phát hiện ra bản chất những hiện tượng vật lý Có thể mô tả những hiện tượng vật lý thông qua những đặc điểm khách quan của chúng, trong khi đó thì chỉ
có thể mô tả và xác định con người thông qua ý thức của nó" [10,tr.92] Điều này có nghĩa là con người là thực thể thường xuyên tìm kiếm bản thân mình, kiểm tra, thử nghiệm bản thân mình và điều kiện sinh tồn của mình Chính tâm thế, định hướng có phê phán, thể nghiệm đối với cuộc sống là cái quy định giá trị của cuộc sống: "Thiếu sự thể nghiệm này thì cuộc sống không còn
là cuộc sống dành cho con người" - Xôcrát nói Khi khẳng định điều đó, ông đồng thời cũng phát hiện và khẳng định sự hiện diện của tâm hồn, dấu hiệu quan trọng nhất của bản tính con người - điều mà chưa có một nhà tư tưởng nào trước ông nhắc tới Ông nói rằng: "Vả lại tôi chỉ làm những gì tôi thích và thuyết phục mỗi người trong các bạn, người trẻ và người già, hãy quan tâm sớm hơn và mạnh mẽ hơn không phải đến cơ thể hay tiền bạc mà đến tâm hồn các bạn để nó trở nên tốt nhất, tôi nói với các bạn: không phải tiền bạc sinh ra lòng dũng cảm mà lòng dũng cảm sinh ra tiền bạc và nhiều của cải khác cho con người, cả trong cuộc sống riêng tư lẫn trong cuộc sống xã hội" [10,tr.95]
Văn hoá Hy Lạp quan niệm về con người như tiểu vũ trụ phản ánh lại toàn bộ vũ trụ - đại vũ trụ Xôcrát cũng tán thành quan niệm này Nhưng ông
là người đầu tiên đã nhấn mạnh tính đặc thù của con người, sự khác biệt căn bản của nó so với những bộ phận cấu thành khác của giới tự nhiên Tâm hồn trong quan niệm của ông là năng lực tự ý thức vì nó tồn tại, nó hoạt động Với nguyên tắc nội tại của mình, tâm hồn thanh lọc những hiện tượng bên ngoài thông qua bản chất của nó để từ đó cấu thành nên bản chất của chính con
Trang 35người Ông còn luận chứng sự hiện diện của tâm hồn bằng lập luận: thể xác tồn tại không tự nó có thể điều khiển được mọi hành vi mà cần tới tâm hồn, thể xác chỉ tồn tại với thiên chức là công cụ - cái phục vụ cho tâm hồn
Trong bối cảnh hiện nay, các tư tưởng của Xôcrát thể hiện là sự phát hiện ra cái có tính người đích thực trong con người Việc nghiên cứu chúng đã trở nên cấp bách trong xã hội hiện đại: triết học thực chứng suốt một thời gian dài đã lãng quên cái có tính đích thực người trong con người Nó thậm chí còn
bị loại bỏ và thay thế bằng các khái niệm "cái sinh học" và "cái xã hội" "Khe hở" giữa cái xã hội và cái sinh học bi loại trừ hoàn toàn, trong khi đó thì cái
có tính người đích thực lại nằm chính ở đó Chỉ cái có tính người theo đúng nghĩa của từ mới hợp nhất trong mình và quy định cái xã hội, cái sinh học, cũng như mọi phương diện khác của bản tính con người Nếu chỉ tập trung vào cái xã hội hay cái sinh học, người ta cũng chỉ có thể phân biệt được loại người, nhóm người cùng với những đặc điểm chung cho các đại diện của nó Nhưng với cách tiếp cận như vậy thì cá nhân con người với toàn bộ tính độc đáo và không lặp lại của nó sẽ bị bỏ qua Tính không độc đáo này tồn tại như
là linh hồn, thực chất của tâm hồn ở mỗi người đều mang tính cá biệt, điều này đương nhiên không loại trừ những đặc điểm chung nhưng chúng không mang tính quyết định
Qua nhiều thế kỷ, danh từ "tâm hồn" đối với chúng ta đã có sắc thái đạo đức và tôn giáo Nhưng danh từ này lần đầu tiên có được ý nghĩa cao cả nêu trên trong lời nói và bài thuyết giáo của Xôcrát "Nhờ phát hiện này, Xôcrát
đã tạo ra một truyền thống đạo đức và trí tuệ nuôi dưỡng châu Âu cho tới ngày nay" [10,tr.95] Trong quan niệm của Xôcrát tâm hồn có cấu trúc đơn giản Năng lực cơ bản của tâm hồn là lý tính, nó đứng đối lập với dục vọng, cảm xúc sinh ra từ cơ thể và do thế giới bên ngoài bị kích thích Lý tính là năng lực tư duy, suy luận có lôgíc Cảm xúc hay dục vọng là sự mong muốn
Trang 36hay khát vọng kéo con người đi theo các hướng khác nhau Thông qua lý tính con người thực hiện sự tự chủ, đi tới quyền lực đối với bản thân Sự tự chủ là quyền lực của lý tính trước những bùng nổ tự phát của cuộc sống Quyền lực như vậy có nghĩa là tự do
Theo Xôcrát, người tự do là người biết điều khiển dục vọng, là người biết cách hạn chế chúng Xôcrát nói: "Phải chăng mỗi người cần phải thấm nhuần tư tưởng cho rằng sự kiềm chế là cơ sở của đức hạnh, và trước hết cần phải có nó trong tâm hồn? Và trên thực tế, thiếu nó thì ai có thể có được những tri thức hữu ích nào đó hay có được thói quen kiềm chế?Nô lệ nào của những khoái cảm mà lại không đưa cả cơ thể lẫn tâm hồn tới trạng thái nhục nhã?" [10,tr.97] Nô lệ của thói tục ăn, của thói mộng mơ, của thói dâm dục, của thói nghiện ngập không thể là một con người tự do Bản thân Xôcrát đã chiến đấu chống lại không những khoái cảm mà cả thói hám tiền vì ông bảo
vệ ý kiến cho rằng ai nhận tiền của người đầu tiên gặp mặt thì sẽ biến người
đó thành chủ nhân của mình và tự biến mình thành nô lệ Do vậy, tự do là kỹ năng điều khiển bản thân mình, kỹ năng được bảo đảm nhờ lý tính luôn là chủ nhân của thể xác Xôcrát xuất phát từ chỗ cho rằng, lý tính luôn có thể xác lập
độ cho những khoái cảm mà việc hoàn toàn khước từ nó là không thể Người thông thái là người học được cách xác định hợp lý độ và tuân thủ nó để có thể
có được tự do
Như vậy, Xôcrát đã thực hiện một bước ngoặt khỏi hệ thống giá trị đang tồn tại Cụ thể, cái có ý nghĩa đặc biệt trong triết học của ông là tự do nội tâm của con người Ngoài ra, nếu người ta quen cho rằng anh hùng là người chiến thắng kẻ thù bên ngoài thì bây giờ anh hùng là nhà thông thái - người chiến thắng kẻ thù bên trong
Trang 371.2.2.2 Học thuyết về phương pháp: phương pháp bà đỡ
Bàn đến học thuyết về phương pháp của Xôcrát, chúng ta cần khẳng
định tính đặc thù của nó là sự thống nhất giữa nhân cách và tư duy Đối với
ông thì bản thân quá trình tồn tại, bản thân cuộc sống trực tiếp trở thành phương thức triết lý
Từ đó, Xôcrát đã đặt ra vấn đề đầu tiên trong học thuyết về phương
pháp của ông là vấn đề cội nguồn của tư duy Động cơ dẫn Xôcrát đến với
triết học là sự kinh ngạc mà mặc khải thần thánh đã đem lại cho ông Khi đặt câu hỏi: "có ai thông thái hơn Xôcrát không?" và nhận được câu trả lời là không có ai như vậy Xôcrát rất lấy làm ngạc nhiên vì ông hoàn toàn không tự coi mình là người thông thái và quyết định kiểm tra lời tiên tri nhờ việc cầu viện các nhà thông thái tôn kính Ông giao tiếp với tất cả các nhà hoạt động nhà nước, các nhà thơ, các nghệ nhân Rốt cuộc, ông phát hiện ra một điều kỳ lạ: vốn là những người thông thạo trong lĩnh vực của mình, dựa trên cơ sở đó,
họ tự mạo nhận mình là thông thái trong mọi lĩnh vực So sánh mình với họ, Xôcrát đi đến kết luận: họ cũng ít xứng đáng được gọi là những người thông thái như ông Ông nói: nếu như tôi không hiểu biết, thì tôi cũng không cho rằng tôi hiểu biết Thiết nghĩ, tôi sẽ thông thái hơn một chừng mực nào đó Khi đó sẽ hiểu được cách ngôn của thần linh rằng: sự thông thái của con người có giá trị không đáng kể hay hoàn toàn không có giá trị gì
Xôcrát khẳng định: phương pháp bà đỡ chính là con đường tìm kiếm chân lý Theo ông, không có ý kiến nào xác đáng tới mức được thừa nhận là chân lý Với những cuộc hội thoại của mình, thông qua việc khắc phục các quan điểm không chân thực và thiển cận, nhà triết học đã đem lại khả năng đi đến quan niệm sâu sắc và chính xác hơn về sự vật Với những câu hỏi, những lời đáp lại và những nhận xét, Xôcrát dẫn dắt tiến trình suy luận chung là cái dần dần hình thành diện mạo của tri thức chân thực Ông dường như là người
Trang 38chỉ đường cho ý thức của những người hội thoại, qua đó là cả ý thức của bản thân, lần tìm dấu vết của chân lý Nhà triết học gọi phương pháp suy luận này
là "đỡ đẻ", tức nghề của mẹ ông Nếu mẹ ông đỡ trẻ thơ, thì Xôcrát giúp đỡ chân lý ra đời
Nói cách khác, Xôcrát đề cập tới một đặc điểm quan trọng của tư duy
cho phép tìm ra chân lý, - đó là tính mỉa mai của tư duy Mỉa mai trở thành
tinh thần đích thực của tư duy và giao tiếp giữa Xôcrát với mọi người Nhưng, mỉa mai có mặt ở đâu thì không nên tin vào nghĩa đen của từ ở đó Phán đoán mỉa mai bao giờ cũng có ẩn ý: nó hàm ý nói đến một cái khác với luận đề theo nghĩa đen Tính chất mỉa mai, thứ nhất, đã giải phóng tư duy của Xôcrát khỏi quyền lực của những quan điểm đã bám chắc rễ; thứ hai, nó đã thủ tiêu kỳ vọng hiểu biết tất cả có trong bản thân tư duy Mỉa mai là biểu thị lao động không mệt mỏi nhằm thử thách trí tuệ của bản thân và của người khác, đó cùng là công việc của cả đời ông
Mỉa mai thường làm cho chân lý bị hoài nghi: nó thể hiện tư duy không
muốn yên tâm với sự hiểu biết hiện có Ở mỗi thời điểm nhận thức, mỉa mai đều bao hàm ý thức rằng chân lý chúng ta đạt được không phải là chân lý tối hậu và đầy đủ, mà còn có những vấn đề mới và cần tiến hành những nghiên cứu mới Khám phá vĩ đại đã được thực hiện như vậy: chân lý không nằm trong một tri thức nào đó, mà nằm trong bản thân quá trình nhận thức Năng lực tư duy là sự đáng tin cậy lớn nhất và biểu hiện cô đọng nhất của lý tính
Nghệ thuật mỉa mai đóng một vai trò quan trọng về mặt phương pháp luận nhận thức Theo Xôcrát, nó có ba tác động cơ bản: thứ nhất, tẩy rửa ý thức khỏi tri thức cổ hủ, đã đánh mất tính xác thực của mình do có tính chất giáo điều cố hữu; thứ hai, làm cho tư duy có khả năng tìm kiếm chân lý; thứ
ba, cho phép giữ lại nội dung phát hiện ra và thấu hiểu nội dung nhất quán của
chúng Chúng ta xem xét kỹ hơn ba yếu tố này trong mỉa mai của Xôcrát