1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

108 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 880,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HĐND-tin, niềm vui và chỗ dựa vững chắc cho người có công, góp phần đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần của họ thì việc nghiên cứu tìm hiểu chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh b

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

PHÙNG THỊ THU DUYÊN

ƯU ĐÃI XÃ HỘI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH,

BỆNH BINH TẠI HUYỆN THANH TRÌ,

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN……… 4

LỜI CẢM ƠN……… 5

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT……….6

DANH MỤC BẢNG BIỂU……….7

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Lý do lựa chọn đề tài 8

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 11

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 16

4 Câu hỏi nghiên cứu: 17

5 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu 17

6 Giả thuyết nghiên cứu 18

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 18

8 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 18

9 Phạm vi nghiên cứu 20

NỘI DUNG 21

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 21

1.1 Các khái niệm liên quan 21

1.1.1 Chính sách là gì? 21

1.1.2 Chính sách xã hội 21

1.1.3 Ưu đãi xã hội và Trợ giúp xã hội 22

1.1.4 Người có công 23

1.1.5 Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh 24

1.1.6 Nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi xã hội: 30

1.1.7 Nhu cầu và đặc điểm tâm lý của Thương binh, bệnh binh 33

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 34

1.2.1 Thuyết nhu cầu 34

Trang 4

1.2.3 Thuyết hệ thống 37

1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách Ưu đãi Người có công 39

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42

1.4.1 Đặc điểm tự nhiên 42

1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 44

1.4.3 Thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế xã hội của huyện 47

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN ƯU ĐÃI XÃ HỘI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, BỆNH BINH TẠI HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 50

2.1 Những căn cứ pháp lý để thực hiện ưu đãi xã hội với thương binh, bệnh binh trên địa bàn huyện trong những năm gần đây 50

2.2 Thực trạng công tác quản lý, thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh tại huyện Thanh Trì 52

2.2.1 Công tác rà soát đối tượng 52

2.2.2 Công tác thanh, kiểm tra việc thực hiện chính sách trên địa bàn huyện 56

2.2.3 Công tác thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh 56

2.2.3.1 Chính sách trợ cấp hàng tháng 57

2.2.3.2 Chính sách chăm sóc y tế, chăm sóc sức khỏe 60

2.2.3.3 Chính sách trợ giúp giáo dục, ưu tiên trong tuyển sinh 63

2.2.3.4 Chính sách hỗ trợ về nhà ở 65

2.2.3.5 Chính sách ưu đãi trong vay vốn, tạo việc làm 66

2.2.3.6 Các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa trong dịp tết và các ngày lễ lớn 68

2.3 Nguyên nhân 69

CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP NHẰM THỰC HIỆN HIỆU QUẢ

HƠN ƯU ĐÃI XÃ HỘI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, BỆNH BINH

Trang 5

3.1 Chú trọng việc nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và người dân Tăng cường công tác tuyên truyền, thường xuyên phổ biến đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách mới trên địa bàn dân cư để mọi người dân,

người có có công được biết để cùng giám sát thực hiện 72

3.2 Tăng cường hoạt động xã hội hoá, đẩy mạnh phong trào chăm sóc người có công, xây dựng các hội, tổ chức hoạt động công tác xã hội 73

3.3 Đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ, thường xuyên của các cấp chính quyền đối với công tác ưu đãi, chăm sóc người có công 77

3.4 Phát huy vai trò của nhân viên xã hội, cán bộ chính sách xã, thị trấn trên địa bàn huyện 79

3.5 Động viên, tạo điều kiện để thương binh, bệnh binh tự vươn lên, phát huy tinh thần “Thương binh tàn nhưng không phế” 81

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 90

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

1 Những nội dung trong luận văn tốt nghiệp “Ưu đãi xã hội đối với thương

binh, bệnh binh tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” là công trình

nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Khắc Bình

2 Các nội dung tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố

3 Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2015

Người thực hiện

Phùng Thị Thu Duyên

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ “Ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh tại

huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” được hoàn thành sau hai năm học tập,

nghiên cứu sau đại học của tôi Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức

và các cá nhân

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong và ngoài khoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong những năm học, cho tôi có được kiến thức để hoàn thành luận văn này

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Khắc Bình - người thầy đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, HĐND- UBND; Phòng Lao động –Thương binh xã hội huyện Thanh Trì, các cán bộ chuyên trách LĐTB-XH tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện và cá nhân các thương binh, bệnh binh đã giúp tôi trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu

để thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp những người luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thiện luận văn

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2015

Người thực hiện

Phùng Thị Thu Duyên

Trang 8

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Cơ cấu Thương binh

Bảng 2.2 Cơ cấu Bệnh binh

Bảng 2.3 Đánh giá mức trợ cấp hàng tháng so với nhu cầu của gia đình Bảng 2.4 Tình trạng sức khỏe của thương binh, bệnh binh

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Lịch sử của nước ta là lịch sử của những cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc Trong các cuộc chiến tranh này, biết bao người con ưu tú của dân tộc đã

hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Họ là những người có công lao to lớn mà Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân đời đời ghi nhớ Hơn bốn mươi năm qua đi, nhưng hậu quả mà chiến tranh để lại luôn hiển hiện trước mắt, hàng triệu người con đã hy sinh, hàng chục vạn người đã hiến một phần xương máu của mình cho Tổ quốc non sông Trở về cuộc sống đời thường với bao nhiêu thương tật của chiến tranh,

họ gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, hạn chế trong lao động sản xuất nhưng vẫn phải tất bật lo toan cuộc sống gia đình

Khắc phục những hậu quả của chiến tranh, đảm bảo cuộc sống cho gia đình thương binh, liệt sỹ là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân cần phải chăm

lo Đó không chỉ đơn thuần là sự “đền bù”, bởi lẽ sự hy sinh của những người

có công là một sự hy sinh cao quý vì đại nghĩa, bằng xương máu, bằng một phần thân thể của mình thì không thể có gì so sánh được, không gì có thể

“đền bù” được Sự “đền ơn- đáp nghiã” không chỉ là vật chất thuần túy mà

đó còn là đạo lý nhân văn của dân tộc Việt Nam là lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc của nhiều thế hệ hôm nay và mai sau đối với người có công Thực hiện các chính sách xã hội là thực hiện chính sách con người của quốc gia, nhằm làm cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai ý thức về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với Tổ quốc, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp của dân tộc, của đất

nước Với truyền thống “Thủy chung, nhân nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”,

“Ăn quả nhớ người trồng cây”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt

Trang 11

người có công với cách mạng từ lâu đã được quan tâm Đây là một trong

những nội dung góp phần to lớn thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đề ra

Việt Nam hiện có khoảng trên 8,8 triệu người có công, chiếm khoảng gần 10% dân số Trong đó, có 1.146.250 liệt sỹ, 49.609 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 781.021 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, 185.000 thương binh loại B, 1.253 Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động trong kháng chiến, 101.138 người có công giúp đỡ cách mạng, 186.137 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học và con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, 109.468 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, khoảng hơn 4,1 triệu người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc Hiện có trên 1,47 triệu đối tượng người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng của Nhà nước[24] Hằng năm, Nhà nước đều dành nguồn ngân sách đáng kể cho việc trợ cấp ưu đãi thường xuyên cho người có công Toàn xã hội cũng huy động nhiều nguồn lực để trợ giúp, thể hiện sự chăm lo cho đối tượng này về cả vật chất và tinh thần Nhưng trong những năm gần đây, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường có nhiều rủi ro, bị tác động mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (2008 - 2013), nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhiều đối tượng hưởng trợ cấp xã hội, nhưng Chính phủ Việt Nam vẫn ưu tiên nguồn lực bảo đảm cho chính sách ưu đãi xã hội Tuy nhiên, hệ thống chính sách xã hội nói riêng ở Việt Nam vẫn còn điểm hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu bảo đảm cuộc sống ngày càng mở rộng của người dân Do vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội

Trang 12

nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân trong điều kiện mới, phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Là một huyện ngoại thành nằm ở phía nam của Thủ đô Hà Nội, Thanh Trì có truyền thống văn hoá cách mạng, cán bộ và nhân dân luôn đoàn kết thống nhất, quyết tâm xây dựng huyện ngày càng giàu đẹp Trong những năm gần đây, kinh tế của huyện phát triển ổn định, tăng trưởng bình quân 15%/ năm, thu nhập đầu người đạt 23.2 trđ (năm 2013), đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1.87% theo tiêu chí mới, không có hộ nghèo thuộc đối tượng người có công [52] Theo số liệu của phòng LĐTBXH huyện Thanh Trì, toàn huyện hiện có 2.755 người có công hưởng trợ cấp hàng tháng (năm 2013), trong đó thương binh, bệnh binh thuộc diện hưởng trợ cấp ưu đãi

xã hội hàng tháng là 940 người Đó là những những người đã cống hiến một phần xương máu của mình để dành lại cuộc sống hòa bình cho đất nước ngày hôm nay, cuộc sống của họ hiện còn gặp nhiều khó khăn rất cần được sự trợ giúp của xã hội để ổn định cuộc sống và tham gia các hoạt động của cộng đồng để cùng phát triển Được sự hướng dẫn, quản lý về chuyên môn nghiệp

vụ của Sở LĐ-TBXH Hà Nội cùng với sự lãnh đạo của Huyện ủy, UBND huyện, Thanh Trì đã và đang thực hiện các chính sách xã hội nói chung nhằm quan tâm, chăm lo tạo điều kiện để người có công trên địa bàn có cuộc sống ổn định và hòa nhâp tốt hơn vào cộng đồng Tuy nhiên, ưu đãi xã hội vẫn chưa đáp ứng đầy đủ và toàn diện đòi hỏi của xã hội Công tác thực hiện chính sách ưu đãi xã hội trên địa bàn huyện có lúc, có nơi còn hạn chế, đời sống của bộ phận người có công trên địa bàn vẫn cần được quan tâm hơn nữa…Chính vì vậy, để đảm bảo thực hiện kịp thời, đúng, đủ và để công tác chăm sóc người có công nói chung và thương binh, bệnh binh nói riêng của

Trang 13

HĐND-tin, niềm vui và chỗ dựa vững chắc cho người có công, góp phần đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần của họ thì việc nghiên cứu tìm hiểu chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, tìm hiểu cách thức tổ chức thực hiện để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện ưu đãi xã hội trên địa bàn huyện là rất cần thiết Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên, tôi đã

chọn hướng nghiên cứu“Ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh tại

huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ

chuyên ngành công tác xã hội (CTXH) của mình

Thực hiện nghiên cứu này, bản thân tôi mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé cùng với các cấp, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong nỗ lực chung nhằm quan tâm, chăm lo hơn nữa tới cuộc sống của những người có công trong xã hội Từ đó, giúp các họ có thể tự vươn lên trong cuộc sống, nâng cao chất lượng đời sống người dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội huyện Thanh Trì nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày đất nước ta giành được độc lập, tự

do sau hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ Những vết thương chiến tranh đã và đang được khắc phục, đất nước bước vào thời kỳ mới- thời

kỳ xây dựng và phát triển Có được những thành quả đó, dân tộc ta không thể quên ơn những người con đã cống hiến cả cuộc đời, hy sinh xương máu của mình vì độc lập, tự do của đất nước Một trong số đó là những người thương binh, bệnh binh

Ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh luôn là vấn đề được các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị- xã hội, cũng như các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này đặc biệt quan tâm Chính sách thương binh liệt sỹ và người có công với Cách mạng một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Suốt mấy chục năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban

Trang 14

hành nhiều chính sách, chế độ với người có công và thường xuyên bổ sung sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng Đến nay đã hình thành một

hệ thống chính sách kinh tế xã hội và liên quan đến đời sống hàng ngày của NCC Những năm qua đã và đang có nhiều Pháp lệnh, Thông tư, Nghị định,

kế hoạch, chương trình, đề án được Chính phủ và các Sở, Ban ngành liên quan về thống kê, khảo sát về chất lượng cuộc sống của các đối tượng người

có công cũng như nhu cầu và đánh giá mức độ hài lòng của họ với thụ hưởng chính sách …Đi kèm theo đó là những nghiên cứu, báo cáo, đề xuất chính sách được thực hiện một cách cụ thể, chi tiết nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của các chính sách ưu đãi xã hội với thương binh, bệnh binh nói riêng và đối tượng người có công nói chung

Chế độ trợ cấp với người có công được thực hiện từ năm 1995 theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và một số văn bản pháp quy đơn hành khác của Chính phủ Có thể phân ra các loại trợ cấp như: Trợ cấp một lần, trợ cấp thường xuyên hàng tháng và một số chế độ trợ cấp khác Những chế độ trợ cấp được qui định khá cụ thể, chi tiết, theo từng mức khác nhau cho từng diện đối tượng Phải khẳng định rằng chế độ trợ cấp ưu đãi xã hội bước đầu phù hợp với đặc điểm của phương thức quản lý kinh tế mới theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và được qui định khá hợp lý, cụ thể, phù hợp với đặc điểm của từng diện đối tượng, được điều chỉnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Điều thành công nhất là chế độ trợ cấp này đã góp phần ổn định, từng bước nâng cao đời sống đối tượng chính sách, hợp với lòng dân, đảm bảo sự công bằng trong việc thụ hưởng chế

độ ưu đãi của người có công trong cộng đồng dân cư, công bằng giữa những người có công

Đã có rất nhiều đề tài công trình nghiên cứu cũng như những cuốn

Trang 15

đến là Quan niệm về công tác thương binh và tử sỹ, do Bộ Thương binh Cựu

binh xuất bản năm 1952, cuốn sách đề cập đến vấn đề thương binh và tử sỹ tại các nước đế quốc, vấn đề thương binh và tử sỹ tại các nước dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa; từ đó đề ra nhiệm vụ, phương châm và nội dung công tác đối với thương binh và tử sỹ đối với Việt Nam

Năm 1993, NXB Chính trị quốc gia Hà nội đã xuất bản cuốn Một số

vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay của tác giả Hoàng Chí Bảo

Trong bài viết Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công – Một đòi hỏi

bức thiết của cuộc sống, của tác giả Nguyễn Đình Liêu đăng trên tạp chí Lao

động xã hội, số 91 tháng 9/1994 tác giả đã đề cập đến những vấn đề chung nhất về ưu đãi xã hội ở nước ta, chỉ ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế còn tồn tại trong chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của nhà nước ta

Năm 1997, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội đã xuất bản cuốn

Những điều cần biết về chính sách với Người có công, trong đó nêu rõ những

căn cứ pháp lý về thực hiện chính sách ưu đãi với người có công ở nước ta

Không chỉ có sách và tạp chí, trong những năm qua đã có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này Điển hình là các tác giả

như: Nguyễn Hiền Phương (2004), "Một số vấn đề về pháp luật ưu đãi xã

hội", Tạp chí Luật học số 4/2004 Qua nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra và

phân tích một số khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật ưu đãi người có công (khái niệm người có công, tiêu chuẩn xác nhận người có công…) luận bàn và đánh giá về những thành tựu cũng như phân tích chỉ rõ những điểm còn hạn chế trong những chính sách với người có công (chế độ trợ cấp hàng tháng, ưu đãi về giáo dục, y tế, việc làm, tín dụng, nhà ở, đất đai ) Đồng thời, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi với người có công

Trang 16

Nguyễn Thị Hằng, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH, Tiếp tục thực hiện tốt

hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, Tạp chí Cộng sản, số 7-2005 Tác giả nêu

những nét khái quát thành tựu đạt được trong việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công trong 10 năm từ 1995 đến

2005, qua đó đúc kết những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi xã hội

Nguyễn Đình Liêu, Trợ cấp ưu đãi xã hội trong hệ thống an sinh xã hội

Việt Nam, đăng tải trên trang http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/, ngày 7 tháng 10 năm 2008 Qua bài viết này tác giả đã nêu lên khái quát sự phát triển của mạng lưới an sinh xã hội ở Việt Nam, và đưa ra những bình luận sâu về vấn đề trợ cấp ưu đãi xã hội trong hệ thống an sinh xã hội: góp phần ổn định, từng bước nâng cao đời sống đối tượng chính sách, hợp với lòng dân, đảm bảo sự công bằng trong việc thụ hưởng chế độ ưu đãi của người có công trong cộng đồng dân cư, công bằng giữa những người có công Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số hạn chế nhất định trong việc thực hiện chế độ chính sách với người có công hiện nay ở nước ta cũng như một số biện pháp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn chính sách ưu đãi xã hội trong hệ thống an sinh của nước ta

Nguyễn Danh Tiên Chủ trương của Đảng đối với thương binh, liệt sỹ

thời kỳ đổi mới - Tạp chí Khoa học Quân sự Tháng 7 năm 2012, Trung tâm

Thông tin Khoa học quân sự, Bộ Quốc phòng Tác giả hệ thống một cách khái lược những quan điểm, chủ trương của Đảng đối với công tác thương binh, liệt sĩ từ năm 1986 đến năm 2012; đánh giá thực trạng quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về vấn đề này và đề ra giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác thương binh, liệt sĩ trong thời gian tới,v.v

Trang 17

Nguyễn Duy Kiên - Phó Cục trưởng Cục Người có công, Bộ LĐTBXH,

Chính sách Người có công - là trách nhiệm của toàn dân, Tạp chí Tuyên giáo

số 7, 2012 Qua bài viết này, tác giả đã khái quát một số thành tựu của chính

sách ưu đãi người có công trong những năm qua, đi sâu vào đánh giá tìm hiểu nguồn lực thực hiện chính sách ở nước ta Khẳng định nguồn lực của Nhà nước thông qua chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong việc ổn định đời sống của người có công với cách mạng, bởi đa phần họ là những người không hưởng chế độ lương hay bảo hiểm xã hội

Nguyễn Văn Thành, Đổi mới chính sách kinh tế - xã hội với người có

công ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sỹ Kinh tế, 1994 Luận án này đã hệ thống

và tổng hợp những căn cứ khoa học về lý luận chính sách đối với người có công ở Việt Nam Thực trạng chính sách đối với người có công, phát hiện những tồn tại và nguyên nhân của nó Quan điểm, nguyên tắc, phương hướng, biện pháp chủ yếu để đổi mới chính sách đối với người có công

Nguyễn Đình Liêu, Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt

Nam Lý luận và thực tiễn, Luận án Phó tiến sỹ Luật học, 1996 Luận án nêu

nên những vấn đề cơ bản như: Khái niệm Pháp luật ưu đãi người có công Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật này Thực trạng của pháp luật này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và việc hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công

Tạ Vân Thiều, Cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực người có công ở

ngành Lao động Thương binh và xã hội, Luận án cao học Luật, Viện Nghiên

cứu Nhà nước và Pháp luật, 1997

Nguyễn Đình Liêu, Cơ sở khoa học để hoạch định chính sách giáo dục

đào tạo con thương binh, liệt sỹ, Luận án Tiến sỹ

Nguyễn Thị Thu Hoài, Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Việt Nam đối với Thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng từ

Trang 18

năm 1991 đến năm 2010, Luận văn thạc sỹ Lịch sử, Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng thể những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đối tượng người có công từ năm 1991 đến năm 1995 và những đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Nhà nước cũng những chủ trương chính sách

ưu đãi cho phù hợp với tình hình mới trong giai đoạn 1996 đến 2010

Các công trình nghiên cứu cũng như các sách, tạp chí trên đã góp phần

cơ bản về lý luận cho việc thực hiện chế độ ưu đãi cho người có công Đặt nền móng rất quan trọng cho việc xây dựng, bổ sung và hoàn chỉnh pháp luật

ưu đãi người có công với cách mạng nói chung và với đối tượng thương binh, bệnh binh nói riêng

Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “Ưu đãi xã hội đối với thương

binh, bệnh binh tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” hoàn toàn không

phải là một chủ đề mới trong hoạt động thực tiễn cũng như trong khoa học nghiên cứu Tuy nhiên, điểm nhấn của luận văn chính là tìm hiểu, đánh giá công tác ưu đãi thương binh, bệnh binh thông qua việc thực hiện chính sách

ưu đãi xã hội trên địa bàn huyện Thanh Trì hiện nay; từ đó đề xuất các biện pháp nhằm thực thi chính sách một cách hiệu quả, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của huyện Thanh Trì

Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách ưu đãi xã hội với đối tượng thương binh, bệnh binh trên địa bàn huyện, hướng họ đến một cuộc sống an toàn, tốt đẹp hơn

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm tăng thêm cơ sở thực tiễn cho việc ban hành chính sách đãi ngộ đối với đối tượng thương binh, bệnh binh nói

Trang 19

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đối với Nhà nước: kết quả nghiên cứu có thể giúp cho quá trình hoạch định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách, chiến lược về các đối tượng người có công được hưởng ưu đãi trong xã hội Đặc biệt là đối tượng thương binh, bệnh binh

Đối với địa phương: nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về tình hình thực tế của thương binh, bệnh binh, góp phần giúp địa phương có những điều chỉnh, quy hoạch, hỗ trợ phù hợp trong quá trình ban hành các chính sách phát triển kinh tế xã hội, thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội, an sinh xã hội, góp phần nâng cao đời sống người dân

Đối với bản thân nhà nghiên cứu: qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực

tế nhà nghiên cứu có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹ năng thực hành công tác xã hội nói chung Từ đó giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và trong quá trình công tác của bản thân

4 Câu hỏi nghiên cứu:

Thực trạng việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh trên địa bàn huyện Thanh Trì như thế nào?

Đánh giá sự hài lòng của thương binh, bệnh binh với việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội trên địa bàn huyện Thanh Trì?

Biện pháp nào có thể nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ưu đãi

xã hội đối với thương binh, bệnh binh trên địa bàn huyện Thanh Trì hiện nay?

5 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực

tiễn về ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh của huyện Thanh Trì để

đề xuất các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi xã

Trang 20

hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho thương binh, bệnh binh trên địa bàn huyện

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Phân tích tổng quan và làm rõ hơn cơ sở lý luận về ưu đãi xã hội

Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xã hội đối với thương binh, bệnh binh (những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế) trên địa bàn huyện Thanh Trì hiện nay

Đề xuất những biện pháp để triển khai thực hiện hiệu quả hơn ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh trong những năm tiếp theo

6 Giả thuyết nghiên cứu

Về cơ bản chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh tại huyện Thanh Trì được thực hiện theo đúng quy trình, thủ tục, đầy đủ

Thương binh, bệnh binh chưa hoàn toàn hài lòng với những gì được thụ hưởng từ hoạt động thực hiện chính sách tại địa phương

Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ưu đãi

xã hội đối với thương binh, bệnh binh trên địa bàn huyện Thanh Trì

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là các chính sách, biện pháp thực hiện chế độ ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh sống trên địa bàn huyện Thanh Trì Khách thể nghiên cứu: Là các chính sách tổ chức thực hiện ưu đãi đối với người có công ở huyện Thanh Trì Thương binh, bệnh binh trên địa bàn huyện Thanh Trì; các báo cáo, số liệu của Uỷ ban nhân dân huyện Thanh Trì về thực hiện ưu đãi với thương binh, bệnh binh

8 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phân tích tài liệu

Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu

Trang 21

đến chính sách ưu đãi người có công; các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học về chính sách và việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công, các tài liệu liên quan khác

* Thu thập thông tin bằng phương pháp trưng cầu ý kiến

Để thu thập số liệu và điều tra hoạt động thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh, nhà nghiên cứu tiến hành điều tra theo bảng hỏi với quy trình như sau: dựa trên bảng hỏi đã được thiết kế sẵn gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Số lượng người được hỏi: 70 thương binh, bệnh binh đang hưởng chính sách trên địa bàn 03 xã của huyện Thanh Trì Sau đó, tập hợp kết quả thu được, xử lý tính theo tỷ lệ phần trăm và lập bảng thống kê kết quả

Bảng hỏi gồm 19 câu Đó là những câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi hỗn hợp

Số lượng bảng hỏi 70 người ( ở 2 xã và 01 thị trấn)

(25 người/ 01 xã, 20 người/ 01thị trấn)

Cơ cấu độ tuổi

17 người dưới 50 tuổi

36 người 51 - 60 tuổi

8 người 61 - 70 tuổi

9 người từ 70 tuổi trở lên

Cơ cấu giới tính 55 nam, 15 nữ

* Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu cá

nhân đã làm rõ chi tiết hơn và phong phú hơn

08 người là thương binh, bệnh binh về các vấn đề liên quan đến việc thụ hưởng các chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh và các đề xuất, kiến nghị…

Trang 22

02 người là cán bộ chính sách (01 người là cán bộ địa phương; 01 người là cán bộ phụ trách mảng Người có công của phòng Lao động Thương binh xã hội huyện Thanh Trì về việc thực hiện chính sách xã hội với đối tượng thương binh, bệnh binh trên địa bàn, việc triển khai, kết quả, những bất cập (nếu có) Các kết quả phỏng vấn sâu giúp cho người đọc hiểu rõ hơn, chi tiết hơn về các vấn đề liên quan và là minh chứng cụ thể, sinh động cho các số liệu

nghiên cứu định lượng

9 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: 16 xã, thị trấn thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội, nhưng tập trung chủ yếu ở xã Vạn Phúc, xã Tả Thanh Oai và Thị trấn Văn Điển

Thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ năm 2013- 2014

Giới hạn phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu về việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội (chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng, chính sách trợ giúp y tế, chính sách trợ giúp giáo dục đào tạo, chính sách về dạy nghề và việc làm…) cho thương binh, bệnh binh đang được thực hiện trên địa bàn huyện Thanh Trì

Kết cấu của luận văn

Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị và Phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 nêu các khái niệm liên quan, hệ thống lý thuyết ứng dụng trong quá trình nghiên cứu và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Chương 2 Thực trạng việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh,

bệnh binh tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Chương 3 Các biện pháp nhằm thực hiện hiệu quả hơn ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh tại huyện Thanh Trì, Hà Nội

Trang 23

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Chính sách là gì?

Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ

thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”

Theo tác giải Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp

được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” Theo tác giả thì khái niệm “hệ

thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường

1.1.2 Chính sách xã hội

Theo tác giả Bùi Đình Thanh, chủ nhiệm chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KX-04 Chính sách xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực

tiễn luận giải: Chính sách xã hội là cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật

những đường lối, chủ trương, những biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất chế độ xã hội - chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu[36]

Chính sách xã hội là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, phương

hướng, biện pháp của nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác được thể chế hoá bằng pháp luật của Nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội phù hợp với bản chất chế độ xã hội, phản ánh lợi ích, trách nhiệm của cộng đồng nói

Trang 24

chung và của từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần ổn định, an toàn xã hội, phát triển xã hội [12]

Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, tìm cách tác động vào

các hệ thống quan hệ xã hội (quan hệ các giai cấp, các tầng lớp xã hội, quan

hệ các nhóm xã hội khác nhau) tác động vào hoàn cảnh sống của con người

và của các nhóm xã hội, (bao gồm điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt) nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm và thiết lập được công bằng xã hội trong điều kiện xã hội nhất định

Theo nhà xã hội học Xô Viết V.Z.Rogovin: “Với tính cách là một bộ

môn khoa học, chính sách xã hội là một lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thống về các quá trình xã hội quyết định hoạt động sống của con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động quản lý đến các quá trình đó

Có đầy đủ cơ sở để coi chính sách xã hội như là sự hòa quyện của khoa học

và thực tiễn, như là sự phân tích phức hợp, dự báo về các quan hệ, các quá trình xã hội và sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu thập được nhằm mục đích quản lý các quá trình và các quan hệ ấy” [56]

1.1.3 Ưu đãi xã hội và Trợ giúp xã hội

Ưu đãi xã hội: Là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của

Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với cá nhân hay tập thể có những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng, xã hội

Ưu đãi xã hội đối với người có công: là việc quan tâm, chăm sóc đời

sống vật chất và tinh thần cho người có công và gia đình họ Ưu đãi xã hội đối với người có công là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội mang tính chất chính trị, xã hội rộng lớn và sâu sắc, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, tạo điều kiện ổn định cuộc sống người có công

Trang 25

Chính sách ưu đãi xã hội là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với cá nhân hay tập thể có nhưng cống hiến đặc biệt với cộng đồng và xã hội

Mục đích của ưu đãi xã hội:

ƯĐXH nhằm là ghi nhận và tri ân những cá nhân hay tập thể đã có những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng và cho đất nước

Nhằm đảm bảo công bằng xã hội, vì ai cống hiến nhiều cho xã hội, người đó phải được hưởng nhiều, đây là sự cống hiến đặc biệt, cống hiến bằng xương máu

Nhằm tái sản xuất những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc và giáo dục truyền thống cho những thế hệ tương lai

Cuối cùng, ƯĐXH góp phần đảm bảo ổn định thể chế chính trị của Nhà nước

Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và

các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng[1]

1.1.4 Người có công

Có tác giả cho rằng: “Người có công là những người lao động bình

thường, làm việc đại nghĩa, có công lao to lớn đối với đất nước, tự coi đó là nghĩa vụ đối với cộng đồng không bao giờ kể công và đòi hỏi cộng đồng báo nghĩa” [38]

Trang 26

Người có công với Cách mạng được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước tặng kỷ niệm chương Tổ quốc ghi công hoặc bằng có

công với nước, huân chương kháng chiến, huy chương kháng chiến Theo

Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa

13 về sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng Quy định tại Điều 1: Khoản 1 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung:

Người có công với cách mạng bao gồm:

Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng

1.1.5 Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh

Thương binh: Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, khái niệm thương binh ngày càng có nhiều thay đổi cho phù hợp Do đó, tìm hiểu khái niệm thương binh cũng dựa trên những quy định của pháp luật theo từng thời kỳ lịch sử

Để hiểu được cụ thể về khái niệm này một cách tường tận, chúng ta có

thể xem xét nguồn gốc hình thành hai chữ: “thương binh”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và nêu lên những quan điểm ưu đãi người có công với cách mạng trong đó có thương binh Lần đầu tiên Bác

nói đến khái niệm “thương binh” khi gửi lời khen ngợi các chiến sỹ bị thương

Trang 27

tiếp nhiều nam, nữ chiến sỹ bị thương hăng hái hứa với tôi rằng hễ vết thương khỏi, thì lại xin ra mặt trận… Các chiến sỹ đã hy sinh xương máu để giữ gìn đất nước, nay đã bị thương mà còn mong mỏi đi đánh giặc… Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khám hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách chu đáo” [30] Lời của Bác giản dị mà sâu sắc, ngắn gọn mà dễ hiểu và

rất đầy đủ về thương binh – thương binh là các chiến sỹ đã “hy sinh xương

máu để giữ gìn đất nước”

Đặc biệt, trong bức thư gửi Ban thường trực của Ban Tổ chức ngày

Thương binh toàn quốc, tháng 7 năm 1947, Người viết: “Đang khi Tổ quốc

lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, ruộng nương, nhà cửa ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước tiên để chống lại quân thù, giữ gìn đất nước chúng ta? Đó là những chiến sỹ mà nay có một số thành ra thương binh Thương binh là những người chiến sỹ đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào Vì lợi ích của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu…[30, tr.175] Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khía

cạnh cụ thể của khái niệm thương binh Theo ý Người, thương binh là những người chiến sỹ đã hy sinh một phần xương máu của mình trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, mà vì thế họ bị thương, để lại vết thương trên cơ thể

Trong các cuộc chiến chống kẻ thù xâm lược, tùy vào từng thời kỳ lịch

sử mà khái niệm thương binh được xây dựng và sửa đổi cho phù hợp hơn Trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, tùy vào từng thời kỳ lịch

sử, mà khái niệm thương binh được xây dựng và sửa đổi cho phù hợp hơn Trong kháng chiến chống Pháp và sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, do tính chất của cuộc chiến đấu mà lực lượng vũ trang của ta còn phân chia thành nhiều bộ phận thuộc quân đội nhân dân, công nhân viên quân giới, công an vũ trang…nên khái niệm thương binh cũng tùy theo đó được xây dựng cho phù hợp với từng bộ phận

Trang 28

Đối với những quân nhân thuộc quân đội nhân dân Việt Nam, những chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang có trước ngày thành lập các đơn vị cảnh vệ, nếu trong thời gian tại ngũ vì chiến đấu với địch, vì thi hành công vụ, vì tận tâm với công việc, vì lợi ích chung hoặc vì cứu người mà bị thương thành thương tật thì được coi là thương binh

Đối với công nhân viên quân giới bị thương, do đặc điểm công việc, tính chất sinh hoạt gắn liền với nhiệm vụ quân đội Vì thế, việc xác nhận những trường hợp công nhân viên quân giới bị thương trong thời kỳ này cũng được coi như quân nhân bị thương và hưởng quyền lợi như thương binh

Đối với các cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân vũ trang khi còn tại ngũ nếu bị thương trong những trường hợp đã quy định đối với quân đội nhân dân Việt Nam thì được hưởng mọi quyền lợi ưu đãi như đối với thương binh

Đến thời kỳ từ 30/4/1964 đến 30/4/1975, quân nhân khi làm nhiệm vụ

bị thương thành thương tật được xác nhận là thương binh và được chia làm hai loại: thương binh loại A và thương binh loại B; thương binh loại A là những quân nhân bị thương vì chiến đấu với địch, vì anh dũng làm nhiệm vụ, xứng đáng nêu gương cho mọi người học tập; thương binh loại B là những quân nhân bị thương trong luyện tập, trong công tác, trong học tập, trong lao động sản xuất và xây dựng doanh trại

Đối với các tỉnh phía Nam, việc xác nhận thương binh của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ được thi hành thống nhất trong toàn

miền theo quy định của Nghị định số 08/NĐ ngày 17/06/1976:“ thương binh

là những cán bộ chiến sỹ thuộc các lực lượng vũ trang cách mạng tập trung trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng tập trung trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ vì chiến đấu, làm nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ mà bị thương có tỷ lệ thương tật từ 21% trở lên”

Trang 29

Có thể thấy, khái niệm thương binh trong thời kỳ này được hiểu rất đơn giản là những người thuộc lực lượng vũ trang bị thương trong khi làm nhiệm vụ

Khi đất nước đã hòa bình, bước vào công cuộc xây dựng đất nước, khái niệm thương binh cũng được quy định cụ thể và mở rộng hơn về đối tượng Theo Điều 12 Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp

đỡ Cách mạng được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 19/8/1994

có quy định: Thương binh là quân nhân, công an nhân dân do chiến đấu, phục

vụ chiến đấu trong kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc trong đấu tranh chống thực dân Pháp, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân mà bị thương, mất sức

lao động từ 21% trở lên và được cơ quan có thẩm quyền cấp “giấy chứng

nhận thương binh”, tặng “huy hiệu thương binh” Quy định như vậy phù hợp

với hoàn cảnh đất nước đã hòa bình, mở rộng khái niệm thương binh cho cả

những trường hợp bị thương khi “đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm làm

nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, nguy hiểm vì lợi ích của nhà nước và nhân dân”

Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng số UBTVQH11 ngày 26/5/2005 ra đời thay thế Pháp lệnh năm 1994 đã có quy định thống nhất, rõ ràng về khái niệm thương binh tại Khoản 1 Điều 19 và được sửa đổi bổ sung tại Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 quy định tại Khoản

26/2005/PL-12, Điều 1: Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy

giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận thương binh và huy hiệu thương binh thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích; làm nghĩa vụ quốc tế; đấu tranh chống tội phạm; dũng cảm thực

Trang 30

hiện công việc cấp bách nguy hiểm, phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; làm nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ do cơ quan có thẩm quyền giao; trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm;

Khái niệm thương binh theo quy định trên đã khá hoàn thiện và thống nhất về nội dung Khái niệm cho thấy thương binh là những người thuộc lực lượng vũ trang, bị thương trong khi làm nhiệm vụ được cơ quan, đơn vị giao phó Đồng thời cũng bao quát hết các trường hợp bị thương, mở rộng trường hợp bị thương trong chống tội phạm, làm công việc cấp bách phục vụ quốc phòng, an ninh, cứu người, tài sản của nhà nước, nhân dân… phù hợp với hoàn cảnh đất nước trong thời bình Những người thuộc lực lượng vũ trang bị thương trong các trường hợp quy định nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên được công nhận là thương binh Từ quy định này, có thể hiểu khái niệm thương binh như sau:

Thương binh là những người thuộc lực lượng vũ trang do chiến đấu,

phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm vì lợi ích của nhà nước, của nhân dân mà bị thương, mất sức lao động từ 21% trở lên,

được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh”, tặng “Huy

hiệu thương binh”

+ Thương binh hạng 1: Là người được hội đồng giám định y khoa có

thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 81% trở lên

+ Thương binh hạng 2: Là người được hội đồng giám định y khoa có

thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 61- 80%

Trang 31

+ Thương binh hạng 3: Là người được hội đồng giám định y khoa có

thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 41- 60%

+ Thương binh hạng 4: Là người được hội đồng giám định y khoa có

thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 21- 40%

Người hưởng chính sách như thương binh: ngoài những người thuộc

lực lượng vũ trang bị thương trong khi làm nhiệm vụ, còn có trường hợp người không thuộc lực lượng vũ trang, bị thương trong trường hợp tương tự làm suy giảm khả năng lao động, họ cũng xứng đáng được hưởng những ưu đãi của Nhà nước và toàn xã hội, đó là những người hưởng chính sách như thương binh Trước đây, pháp luật của nhà nước không công nhận trường hợp này Hiện nay, quy định trường hợp người hưởng chính sách như thương binh nhằm mục đích ghi nhận công lao của những người không thuộc lực lượng vũ trang nhân dân nhưng có hành vi dũng cảm vì lợi ích chung của Nhà nước, của nhân dân Họ là những công dân gương mẫu, nêu gương sáng cho mọi người học tập, xứng đáng được hưởng ưu đãi của Nhà nước cũng như của toàn xã hội Cũng tại Khoản 12, Điều 1 của Pháp lệnh 04/2013 sửa đổi bổ sung một số Điều của Pháp lệnh 26/2005/PL-UBTVQH11 đã đưa ra khái niệm người hưởng chính sách như thương binh:

Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân

nhân, công an nhân dân bị thương trong các trường hợp quy định đối với thương binh, mất sức lao động từ 21% trở lên được các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền cấp “Giâý chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh”

Thương binh loại B: là quân nhân, công an nhân dân bị thương, làm

suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993

Trang 32

Từ tháng 1/1995 thương binh, người hưởng chính sách như thương binh và thương binh loại B gọi chung là thương binh

- Gia đình thương binh gồm những thân nhân của thương binh như:

Cha mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con, người có công nuôi dưỡng thương binh, anh

chị ruột của thương binh…

Bệnh binh: Theo quy định tại khoản 12, Điều 1 Sửa đổi, bổ sung một

số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (sửa đổi bổ sung

Điều 23- Pháp lệnh 26/2005/UBTVQH11) [47]: là quân nhân, công an nhân

dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về

gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh

binh” thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục

vụ chiến đấu; hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ mười lăm tháng trở lên; hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa đủ mười lăm tháng nhưng đã có đủ mười năm trở lên công tác trong Quân đội nhân dân, công an nhân dân; đã công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân đủ mười lăm năm nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí; làm nghĩa vụ quốc tế; thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng an ninh; khi đang làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao

1.1.6 Nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi xã hội:

Nguồn lực thực hiện chính sách xã hội trên cơ sở 3 nguồn lực đó là

“Nhà nước, nhân dân và bản thân đối tượng” Đây luôn là sợi chỉ đỏ xuyên

suốt trong công tác thực hiện ưu đãi đối với người có công với cách mạng

Việc chăm sóc người có công nói chung và thương binh, bệnh binh nói riêng với trách nhiệm và lòng biết ơn là một nét đẹp, một truyền thống nhân văn lâu đời của dân tộc Sự đóng góp của cộng đồng là nguồn lực không thể

Trang 33

phú để góp phần cùng Nhà nước chăm sóc tốt hơn, chu đáo hơn đời sống người có công

Tiềm năng của cộng đồng là nguồn bù đắp những thiếu hụt của các gia đình chính sách và bổ sung những nội dung mà chính sách Nhà nước với tính chất là mặt bằng chung cho các đối tượng không thể đạt tới, kịp thời giải quyết những nhu cầu bức xúc trong cuộc sống của gia đình chính sách ngay tại thôn, làng, xã, với những hình thức, biện pháp sáng tạo và sinh động Các phong trào tình nghĩa, xã hội hoá chăm sóc người có công ngày càng được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả thiết thực Đến nay, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa của cả nước đã huy động được gần 1.900 tỷ đồng, xây dựng mới 277.861 và sửa chữa 128.092 căn nhà tình nghĩa 100% Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống đều được chăm sóc, phụng dưỡng đến cuối đời, 95% xã, phường được công nhận là xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công, 95% người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống nơi cư trú [24]

Tuy nhiên vẫn còn có nơi, có chỗ, đời sống của một bộ phận người có công vẫn còn khó khăn, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, khu căn cứ cách mạng trước đây do không còn sức lao động, không có nguồn thu nhập ổn định, sự giúp đỡ của xã hội chưa đủ để giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống Hầu hết người có công với cách mạng đến nay đều đã tuổi cao sức yếu, khả năng vươn lên của bản thân ngày một hạn chế, trở thành đối tượng yếu thế khi cạnh tranh trên thị trường lao động, nhất là trong bối cảnh

“việc làm” đang là vấn đề nổi cộm nhất và đang gây áp lực rất lớn đối với nền kinh tế - xã hội Các chính sách ưu đãi thiết thực trực tiếp tác động đến đời sống của người có công như dạy nghề, vay vốn sản xuất, giao đất, miễn giảm thuế, hỗ trợ nhà ở, v.v chưa đáp ứng được cả về mức độ lẫn số lượng so với nhu cầu tối thiểu của người có công Thủ tục hồ sơ còn phiền hà, dẫn đến việc

Trang 34

tổ chức thực hiện gặp nhiều khó khăn, sai sót, làm hạn chế tác dụng và còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng, tình cảm và trách nhiệm của từng địa phương, cơ sở

Nguồn lực của cộng đồng trên thực tế còn hạn hẹp, chỉ đủ khả năng hỗ trợ đối với một bộ phận nhỏ người có công với cách mạng có hoàn cảnh đặc biệt (khoảng 3% tổng số người có công với cách mạng), lại phụ thuộc vào khả năng của từng địa phương, cơ sở, nên người có công với cách mạng ở những địa phương có đông đối tượng chính sách, bị thiệt hại nhiều trong chiến tranh, kinh tế chưa phát triển, vùng sâu, vùng xa, khu căn cứ kháng chiến cũ vẫn

bị thiệt thòi nhiều nhất

Chính vì vậy, nguồn lực của Nhà nước thông qua chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong việc ổn định đời sống của người có công với cách mạng, bởi đa phần họ là những người không hưởng chế độ lương hay bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, do số lượng người có công lớn, khả năng ngân sách hạn hẹp, nên mặc dù mức chuẩn để tính trợ cấp ưu đãi theo Đề án cải cách trợ cấp ưu đãi người có công được xác định là theo mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội, nhưng trên thực tế mức chuẩn này vẫn chỉ xoay quanh mặt bằng thấp của tiền lương tối thiểu (hiện bằng 1,05 mức lương tối thiểu, mức trợ cấp cao nhất cũng chỉ bằng 3,4 mức lương tối thiểu, còn mức thấp nhất chỉ đạt 0,59 mức lương tối thiểu), trong khi đó mức tiền lương tối thiểu theo quy định hiện hành mới chỉ đáp ứng được 37,5% mức chi phí tối thiểu cho nhu cầu cá nhân, chưa thể đảm bảo được cuộc sống của một

bộ phận người có công không còn nguồn thu nhập nào khác [24]

Do vậy, việc thực hiện chính sách đối với người có công không chỉ là công việc của Đảng, Nhà nước Với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây", việc chăm lo chu đáo người có công còn là tình cảm,

Trang 35

1.1.7 Nhu cầu và đặc điểm tâm lý của Thương binh, bệnh binh

1.1.7.1 Nhu cầu

Cũng như mọi người, người có công với Cách mạng nói chung và thương binh, bệnh binh nói riêng rất cần có một cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ, no ấm và hạnh phúc Mặt khác họ đã có nhiều cống hiến hy sinh, chịu nhiều thiệt thòi mất mát vì sự nghiệp chung của dân tộc, do đó họ cần được mọi người tôn trọng, quan tâm chăm sóc, chia sẻ, động viên nhiều hơn

để họ vơi đi nỗi đau mất mát, quên đi bệnh tật

1.1.7.2 Đặc điểm tâm lý

Là những người đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trường để bảo vệ Tổ quốc, nên khi trở về với cuộc sống đời thường họ vẫn luôn có ý thức về quá khứ cống hiến của mình cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng Đại bộ phận thương binh, bệnh binh luôn gương mẫu trong đời sống và công tác, thể hiện thái độ trung thành với chế độ mà mình đã đem xương máu, sức lực ra chiến đấu, bảo vệ Khi hoà bình lập lại cho đến nay nhiều trong số họ dù mang trong mình những thương tích, thương tật, bệnh tật nhưng vẫn nỗ lực cố gắng vươn lên tìm cho mình một công việc phù hợp để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, góp phần xây dựng Tổ quốc và nhiều người đã trở thành tấm gương lao động giỏi, chiến sỹ thi đua, nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín Họ có tâm trạng mặc cảm thấy thua thiệt, mất mát so với những người xung quanh nên họ muốn được mọi người quan tâm

Ngoài ra, những thương binh, bệnh binh họ còn có những đặc điểm tâm

lý riêng:

Đối với thương binh, bệnh binh thời kỳ kháng chiến chống Pháp: hiện nay số còn sống rất ít, tuổi đã cao, họ sống khiêm tốn, giản dị ít đòi hỏi quyền lợi cá nhân Nhu cầu vật chất giản dị, nhưng tinh thần thông tin thời sự, chính

Trang 36

trị lại khá cao, họ thích tìm hiểu và tham gia bình luận tình hình thế giới và trong nước, muốn có nhiều bạn bè để cùng nhau ôn lại kỉ niệm về tháng năm hào hùng đã qua

Đối với thương binh, bệnh binh thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: đại đa

số họ ở độ tuổi trung niên, có trình độ văn hoá và chính trị, nhạy cảm với các chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan tới

họ Họ có ý thức tự chủ, tự kiềm chế, đúng đắn, hăng hái nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội cũng như các công tác khác được giao Bên cạnh đó có một số ít đối tượng có tư tưởng công thần, ỷ vào công lao cống hiến để đòi hỏi, thậm chí một số ít còn lợi dụng chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước

để làm trái pháp luật

Đối với tâm lý thương binh, bệnh binh từ năm 1975 trở lại đây: chủ yếu

là những người bị thương tật trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phần lớn tuổi còn trẻ, trình độ văn hoá cao, họ vẫn nặng nề về tâm lý thua thiệt những người xung quanh nên có tâm lý bi quan, thiếu tin tưởng và một

số thương binh còn gặp khó khăn trong cuộc sống, chưa tìm được việc làm

Nhìn chung mỗi bản thân người thương binh, bệnh binh có những đặc điểm tâm lý khác nhau nên đòi hỏi công tác chăm sóc, trợ giúp với họ cũng khác nhau Nắm bắt được đặc điểm tâm lý cũng như nhu cầu của họ sẽ có ý nghĩa rất quan trọng để đưa ra những giải pháp hỗ trợ phù hợp, đem lại hiệu quả cao, nhằm bù đắp phần nào những hy sinh cống hiến to lớn của người có công với cách mạng

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1 2.1 Thuyết nhu cầu

Lý thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi

Trang 37

nhu cầu của Maslow nêu ra 5 bậc thang Bậc thang thứ nhất đó là nhu cầu sinh học, bậc thang thứ hai là nhu cầu về sự an sinh, bậc thang thứ ba là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương và được chấp nhận, thứ tư là nhu cầu

về tôn trọng và tự trọng Cuối cùng là nhu cầu về sự phát triển cá nhân

Nhu cầu sinh học: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người

sẽ không tồn tại được Khi những nhu cầu này không đạt được, sẽ bị tắc thì không thể tiến thêm ở nhu cầu tiếp theo

Nhu cầu về an sinh (an toàn và an ninh): An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về an toàn

Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận):

Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau

Nhu cầu được tôn trọng: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng Lòng tự trọng: bao gồm nguyện vọng muốn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện

Nhu cầu được người khác tôn trọng: Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

Trang 38

Nhu cầu về sự phát triển cá nhân: Đây là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó bằng khả năng của mình

Ứng dụng: Thương binh, bệnh binh và những người có công nói chung

cũng có những nhu cầu ăn, mặc, ở như những người bình thường, họ cũng muốn xã hội quan tâm, muốn mọi người trong cộng đồng quý trọng Họ cũng mong muốn được mọi người tôn trọng mình, ghi nhận những công lao mà họ

đã cống hiến cho Tổ quốc Như vậy, những chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước dành cho họ là hoàn toàn xứng đáng, nhằm đáp ứng những nhu cầu của họ và gia đình Sự ưu đãi đó nhằm ghi nhận công lao của họ và phần nào

sẽ giúp họ tự chủ về kinh tế, đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình

Giúp họ có cơ hội cống hiến nhiều hơn nữa cho đất nước

1.2.2 Thuyết vị thế -vai trò

Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho

mỗi chức vị của con người trong xã hội đó Thí dụ bố phải thương con, mẹ phải hiền, chồng phải biết chăm sóc vợ, vợ phải đảm đang, con cái phải nghe lời bố mẹ, trò phải chăm chỉ, thầy phải nghiêm túc…

Thuyết vị thế - vai trò nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội

và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận trong

cơ cấu xã hội, gắn liền với quyền lợi và nghĩ vụ hay kỳ vọng để định hướng cho những hành vi xã hội của cá nhân đó Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí khác Do vị thế xã hội luôn gắn bó với những quyền và trách nhiệm kèm theo nên nó luôn ràng buộc con người Có thể hiểu

vai trò là hệ thống những kỳ vọng hoặc những hành vi gắn với các vị trí đó

trong cấu trúc xã hội mà xã hội gắn cho mỗi cá nhân trong xã hội

Có hai loại vai trò khác nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn

Trang 39

Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có khi chính người

đóng vai trò đó cũng không biết, thí dụ trong những gia đình không hạnh phúc, bố mẹ thường bất hoà nhiều khi đứa con nhỏ được huấn luyện để đóng vai người trung gian hoà giải mà chính nó và cha mẹ không biết

Vì một người có thể có nhiều vai trò khác nhau, những khuôn mẫu ứng

xử do xã hội áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau, tạo ra khó khăn [41]

Ứng dụng trong nghiên cứu: Thương binh, bệnh binh và những người có

công nói chung họ luôn mang trên vai mình những vai trò khác nhau, không chỉ là vai trò của một người công dân đối với Tổ quốc, của người lính cụ Hồ luôn dũng cảm, kiên cường sẵn sằng chiến đấu và hy sinh cho đất nước Họ cũng còn vài trò là người con, người chồng, người cha trong gia đình Họ cũng phải lo toan cho gia đình, bươn chải vì cuộc sống mưu sinh hàng ngày

Do vậy, ưu đãi những thương binh, bệnh binh và người có công nói chung là góp phần giúp họ thực hiện tốt các vai trò trong xã hội của mình, từ đó phát huy được những điểm mạnh cá nhân họ, tạo điều kiện để thương binh, bệnh binh tự vươn lên, đảm bảo cuộc sống ổn định cho gia đình, góp phần vào sự phát triển của xã hội

Lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội có hai nhóm là lý thuyết hệ thống chung và lý thuyết hệ thống sinh thái Lý thuyết hệ thống trong công tác

xã hội ứng dụng các khái niệm về hệ thống nói chung coi mỗi hệ thống có

Trang 40

một ranh giới nhất định; một hệ thống có thể bao gồm các hệ thống phụ và nằm trong một hệ thống lớn hơn, các hệ thống có thể trao đổi với nhau (hệ thống mở) hay khép kín (hệ thống đóng); một tác động đầu vào sẽ dẫn tới một sản phẩm đầu ra qua hệ thống; một hệ thống có thể ổn định hay biến động Lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội nhấn mạnh yếu tố xã hội, lý thuyết này được sử dụng để làm việc với các cá nhân, nhóm và cộng đồng, quan tâm chính của nó là làm thế nào cho các cá nhân, nhóm và cộng đồng có hành vi phù hợp với xã hội

Lý thuyết hệ thống sinh thái trong công tác xã hội coi các sinh vật tồn tại với nhau trong một môi trường sinh thái, tác động lên nhau và tác động vào môi trường cũng như chịu tác động của môi trường, khái niệm “id” và tâm lý học “ego” được bao quát hóa trong môi trường sinh thái Lý thuyết hệ thống sinh thái có những lý thuyết nhỏ bao gồm “lý thuyết về mô hình sống” (life model), “tiếp cận xã hội sinh thái” (eco-system approach) Thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh vào sự tương tác giữa các con người với môi trường sinh thái của mình Vì vậy, nguyên tắc tiếp chủ đạo của lý thuyết này

là cuộc sống bình thường của con người phụ thuộc vào môi trường xã hội hiện tại của họ, con người luôn tồn tại trong các hệ thống khác nhau, bao gồm các hệ thống lớn và các tiểu hệ thống nó có tác động trực tiếp tới con người sống trong hệ thống đó Công tác xã hội theo lý thuyết hệ thống và hệ thống sinh thái nhằm giúp cho người ta phù hợp hơn với xã hội (môi trường) bằng cách giảm bớt tác nhân gây căng thẳng, tăng cường các nguồn lực cá nhân và

xã hội và sử dụng các nguồn lực này tốt hơn để có những chiến lược đương đầu tốt hơn với môi trường đáp ứng tốt hơn nhu cầu của con người [41]

Ứng dụng lý thuyết hệ thống: Những người thương binh, bệnh binh chịu

sự chi phối hệ thống xã hội xung quanh Luận văn đi sâu nghiên cứu về việc

Ngày đăng: 21/09/2020, 23:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w