1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ huyện Tam Dương(Tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2000 đến năm 2010 : Luận án TS. Lịch sử: 62 22 03 15

133 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù trải qua nhiều lần chia tách, tái lập nhưng Đảng bộ huyện Tam Dương đã từng bước khắc phục khó khăn lãnh đạo nhân dân trong huyện thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 03 15

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN KIM ĐỈNH

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

CBQLGD : Cán bộ quản lý giáo dục CNTT : Công nghệ thông tin CNXH : Chủ nghĩa xã hội

GV : Giáo viên

HS : Học sinh HĐND : Hội đồng nhân dân

TH : Tiểu học THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Số lƣợng học sinh phổ thông toàn huyện (2000 – 2005) Bảng 1.2: Tỷ lệ cán bộ giáo viên phổ thông đạt chuẩn (2003 – 2006) Bảng 2.1: Số lƣợng học sinh phổ thông toàn huyện (2006 – 2010) Bảng 2.2: Kết quả xếp loại học lực khối phổ thông (2006 – 2010) Bảng 2.3: Kết quả xây dựng cơ sở vật chất giáo dục phổ thông (2007 – 2010) Bảng 2.4: Trình độ đào tạo của giáo viên phổ thông (2009 – 2010)

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 12

Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 12

1.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA HUYỆN TAM DƯƠNG 12

1.1.1 Địa giới hành chính 12

1.1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội 14

1.1.3 Truyền thống văn hóa – lịch sử 18

1.1.4 Thực trạng giáo dục phổ thông ở Tam Dương 19

1.2 GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TAM DƯƠNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 23

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh phúc về phát triển giáo dục phổ thông 24

1.2.2 Đảng bộ huyện Tam Dương quán triệt quan điểm của Đảng, xác định chủ trương phát triển giáo dục phổ thông trên địa bàn huyện 31

1.2.3 Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện và kết quả 37

Tiểu kết 54

Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM DƯƠNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 57

2.1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TRƯƠNG ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 57

2.1.1 Đặc điểm, tình hình 57

2.1.2 Quan điểm của Đảng 59

Trang 6

2.1.3 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 62

2.2 GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TAM DƯƠNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 66

2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Tam Dương 66

2.2.2 Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện 70

Tiểu kết 87

Chương 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 89

3.1 Nhận xét chung về sự lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ huyện Tam Dương từ năm 2000 đến năm 2010 89

3.1.1 Những thành tựu đạt được 89

3.1.2 Những hạn chế 94

3.2 Một số kinh nghiệm và khuyến nghị 99

3.2.1 Một số kinh nghiệm chủ yếu 99

3.2.2 Một số khuyến nghị 110

Tiểu kết 117

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhiều người trong chúng ta có lẽ đã từng nghe câu nói: “nguồn tài nguyên và sự giàu có của một quốc gia không phải nằm trong lòng đất mà nằm trong bản thân con người, trí tuệ con người” Thật vậy, giáo dục kể từ khi xuất hiện nó không chỉ trở thành một mặt không thể tách rời của cuộc sống con người, mà còn trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, của mỗi quốc gia dân tộc Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như

vũ bão hiện nay, trình độ dân trí và khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mọi quốc gia.Thực tiễn cho thấy rằng không có quốc gia nào muốn phát triển mạnh và vươn lên hàng ngũ những nước tiên tiến phát triển mà lại ít đầu tư cho sự nghiệp giáo dục

Ở Việt Nam, ngay từ thời xưa những đấng minh quân đã ý thức được tầm quan trọng của giáo dục quyết định sự tồn vong, phát triển của đất nước:

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà

hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn

kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết…” Câu nói của

Thân Nhân Trung được khắc trên bia tiến sĩ tại Văn miếu Quốc Tử Giám đến nay vẫn còn nguyên giá trị; khi giáo dục đang trở thành quốc sách hàng đầu, khi văn hóa, khoa học và đội ngũ trí thức đang giữ một vai trò cực kì quan trọng trong sự nghiệp kiến quốc hôm nay Chúng ta đã vượt qua bao thử thách, khó khăn trong lịch sử đến nay, chính một phần nhờ kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc trong đó có việc coi trọng công tác giáo dục và đào tạo

Đảng và nhà nước ta đã luôn quan tâm phát triển giáo dục, sự nghiệp giáo dục và đào tạo luôn được Đảng coi là động lực, là chiến lược để phát

Trang 8

triển đất nước Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) đã khẳng định: “Khoa học

và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”[12, tr.285] Đại

hội Đảng lần thứ VIII (1996) tiếp tục khẳng định: “Cùng với khoa học và

công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”[12, tr.491] Quán triệt thực hiện

đường lối lãnh đạo của Đảng, trong những năm qua, nền giáo dục của chúng

ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm nhiều cấp học như: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục dạy nghề, cao đẳng, đại học,…các cấp học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là một chỉnh thể thống nhất trong hệ thống giáo dục tạo nên dòng chảy liên tục có chủ đích cho quá trình phát triển của mỗi con người Trong hệ thống này giáo dục phổ thông có một vị trí hết sức quan trọng, là chiếc cầu nối cơ bản, là cấp học mang tính nền tảng của cả

hệ thống giáo dục quốc gia Chất lượng của giáo dục phổ thông do vậy trước tiên ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục dạy nghề và đại học, sâu xa hơn chính nó là nguồn gốc quyết định chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia Điều 27 trong Luật giáo dục 2005 quy định :“Mục tiêu của giáo dục phổ thông

là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Bởi vậy trong chiến lược phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực của quốc gia, trọng tâm đầu tiên

là chăm lo đầu tư, phát triển cấp học phổ thông

Trang 9

Nghị quyết của Bộ Chính trị TW Đảng về cải cách giáo dục lần thứ ba

(1979) đã chỉ rõ tầm quan trọng của giáo dục phổ thông: “Giáo dục phổ

thông là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc Nó đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam

xã hội chủ nghĩa…”[43, tr.22] Quán triệt thực hiện quan điểm chủ trương

của Đảng các Đảng bộ địa phương đã tăng cường lãnh đạo, tiến hành đẩy mạnh việc phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng

Tam Dương là một huyện thuộc vùng trung du của tỉnh Vĩnh Phúc, là mảnh đất có truyền thống lịch sử lâu đời Nhân dân Tam Dương và các địa phương khác trong tỉnh đã có những đóng góp cùng nhân dân cả nước lập nên những thành tựu to lớn trong các thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Mặc

dù trải qua nhiều lần chia tách, tái lập nhưng Đảng bộ huyện Tam Dương đã từng bước khắc phục khó khăn lãnh đạo nhân dân trong huyện thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực trong đó có giáo dục và đào tạo, góp phần vào phát triển

sự nghiệp giáo dục của tỉnh cũng như sự nghiệp giáo dục của cả nước Thấm nhuần quan điểm giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Nhận thức rõ vai trò, vị trí và ý nghĩa quan trọng của giáo dục phổ thông Dưới chỉ đạo TW Đảng và Đảng bộ tỉnh, Đảng bộ huyện Tam Dương đã lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trên địa bàn huyện Trải qua 10 năm phấn đấu và trưởng thành, thời gian tuy ngắn, còn nhiều khó khăn, nhưng ngành giáo dục phổ thông huyện Tam Dương đã có bước đi vững chắc khẳng định vị thế của mình trong hệ thống giáo dục phổ thông của tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 10

Qua tổng kết 10 năm quá trình Đảng bộ địa phương lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông (2000 - 2010), bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được còn gặp những khó khăn hạn chế do những nguyên nhân chủ quan

và khách quan cần được tiếp tục khắc phục Với mong muốn tìm hiểu giáo

dục phổ thông trên địa bàn huyện tôi chọn đề tài: Đảng bộ huyện Tam

Dương (tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm

2000 đến năm 2010 làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử - chuyên

ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng được các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm Đây là đề tài các nhà khoa học, nhà quản lí giáo dục, nhà giáo và nhiều cá nhân tổ chức tìm hiểu và nghiên cứu dưới nhiều góc độ và khía cạnh khách nhau, bao gồm các công trình nghiên cứu chuyên sâu, các sách báo, tạp trí, các bài phát biểu, phỏng vấn…Khái quát lại, có thể chia theo nhóm một cách tương đối các công trình nghiên cứu liên quan:

Nhóm các bài nói, bài phát biểu, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước như: “Về vấn đề giáo dục” tập hợp

những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, Nxb

Giáo dục,1977; “Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo phục vụ đắc lực sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Tổng Bí thư Đỗ Mười,

Nxb Giáo dục, 1996; “Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VIII của

Đảng, Vững bước tiến vào thế kỷ XXI” của Tổng Bí thư Lê khả Phiêu, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội,1998; “Về vấn đề giáo dục – đào tạo” của thủ

tướng Phạm Văn Đồng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 Các tác giả của những tài liệu này là những người giữ cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta nên có thể nói những tác phẩm này chính là cơ sở tư

Trang 11

tưởng và lý luận cho chủ trương, đường lối, chính sách giáo dục đã và đang tiến hành ở nước ta

Nhóm các công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo: Cuốn “Giáo dục 10 năm đổi mới và chặng đường trước mắt” của Trần Hồng Quân, Nxb

Khoa học Xã hội, Hà nội,1996; cuốn “Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền

giáo dục Việt nam” của Lê Văn Giạng, Nxb Chính trị quốc gia, 2003 Trong

đó khái quát nền giáo dục Việt nam (1975 – 2000), giáo dục phổ thông giai

đoạn này đề cập đến một cách sơ sài; cuốn “Lịch sử giáo dục Việt Nam” của

Bùi Minh Hiền, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2004 là giáo trình viết sơ lược về lịch sử Việt nam, không viết riêng về giáo dục phổ thông; Tác giả Phạm Minh Hạc với các công trình đều do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản

tại Hà Nội như: “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI”, 1999;

“Tổng kết 10 năm (1999 – 2000), xóa mù chữ và phổ cập Tiểu học”, 2000;

“Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước”, 2002; “Nhà trường phổ thông Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử” của Viện Khoa học giáo dục, Nxb Đại học Quốc gia, Hà

Nội, 2001…

Nhóm các đề tài, khóa luận, luận văn nghiên cứu: do số lượng ngày

càng nhiều nên ở đây chỉ kể đến một số luận văn liên quan tới vấn đề chúng

ta đang nghiên cứu Dưới góc độ khoa học lịch sử, những năm gần đây có rất nhiều sinh viên, học viên chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu về sự lãnh đạo của một số Đảng bộ địa phương trong việc lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo như: “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục – đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006” của Phạm Thị Hồng Thiết, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009;

“Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 – 2006”, của Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009…

Trang 12

Đã có công trình nghiên cứu về công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc với phát triển giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông

nói riêng như: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục – đào

tạo từ 1997 – 2006” của Nguyễn Thị Thanh, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại

học Quốc gia Hà Nội, 2011; “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp

giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010” của Trương Thị Nguyệt,

Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011 “Địa chí Vĩnh

Phúc (sơ thảo)” của tác giả Nguyễn Xuân Lân khái quát về giáo dục Vĩnh

Phúc từ 1997 đến 2000; “Giáo dục Vĩnh phúc 10 năm xây dựng và phát

triển” do Sở Giáo dục – đào tạo Vĩnh Phúc biên soạn, khái quát quá trình

xây dựng và phát triển của giáo dục Vĩnh Phúc trong 10 năm từ 1997 đến

2006 và giới thiệu một số trường phổ thông trong tỉnh Ngoài ra còn có những bài viết về giáo dục và đào tạo Vĩnh Phúc trong những năm qua đăng trên các báo như báo Giáo dục và Thời đại, báo Vĩnh Phúc…Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến vấn đề giáo dục và đào tạo nói chung đến giáo dục phổ thông nói riêng của tỉnh Vĩnh Phúc, về giáo dục phổ thông ở các huyện đặc biệt là huyện Tam Dương cho đến nay chưa có công trình lịch sử chuyên khảo nào nghiên cứu về Đảng bộ huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2000 đến năm

2010

Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên là một trong những cơ

sở quan trọng đối với tác giả có thể tham khảo, kế thừa một phần thành quả

đã nghiên cứu, tiếp cận một số tư liệu cũng như cung cấp những gợi ý cần thiết để so sánh và phân tích trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn

Trang 13

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích những thành tựu cơ bản và những hạn chế trong quá trình Đảng bộ Tam Dương lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2000 đến năm 2010

- Từ những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại rút ra một số bài học kinh nghiệm thực tiễn trong lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông một huyện trung du của tỉnh Vĩnh Phúc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

- Những chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng bộ huyện Tam Dương và thực tiễn hoạt động giáo dục phổ thông của huyện Tam Dương từ năm 2000 đến năm 2010

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Đề tài nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ

huyện Tam Dương đối với giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng

- Không gian: địa bàn huyện bao gồm 13 xã, thị trấn

Trang 14

- Thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2010 (do năm 2000 và 2010 là hai

mốc diễn ra Đại hội Đảng bộ huyện Tam Dương lần thứ XXVII và XXVIII)

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

- Cơ sở lý luận: Những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

về Giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng

- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luận văn sử dụng một số phương pháp chủ yếu đó là: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, ngoài ra luận văn còn kết hợp các phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phân tích, so sánh kết hợp khảo sát thực tiễn, tổng hợp, mô tả,

- Nguồn tài liệu: Luận văn sử dụng các nguồn tài liệu chủ yếu sau: + Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo

+ Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo

+ Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2000 đến năm

+ Tư liệu khảo sát thực tế

Trang 15

6 Đóng góp của luận văn

- Đóng góp về khoa học: Hệ thống hóa được những chủ trương, chính sách của Đảng bộ huyện Tam Dương về phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2010.Từ những thành tựu và hạn chế bước đầu rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ huyện Tam Dương lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông

- Đóng góp về tư liệu: Góp phần bổ sung và làm phong phú thêm nguồn tài liệu về lịch sử địa phương của huyện Tam Dương nói riêng, của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung

- Đóng góp về phương pháp nghiên cứu: Góp phần vào việc tổng kết thực tiễn, vận dụng đường lối, quan điểm của Đảng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương 6 tiết

Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005

Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM DƯƠNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010

Chương 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

Trang 16

NỘI DUNG

Chương 1

ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO

DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005

1.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA HUYỆN TAM DƯƠNG

1.1.1 Địa giới hành chính

Huyện Tam Dương là một vùng đất tối cổ của tỉnh Vĩnh Phúc Tính theo tuổi địa chất, phần đất phía Tây của huyện từ dọc sông Phó Đáy tới huyện lỵ Tam Dương ra đời từ thời đại Nguyên Sinh cách đây trên 1.200 triệu năm; các phần còn lại hình thành vào Đại Tân Sinh cách đây khoảng

50 triệu năm

Toàn bộ vùng đất nói trên, thời dựng nước, nằm trong bộ Văn Lang, đất cội nguồn dân tộc Thời Bắc thuộc, nằm trong huyện Mê Linh, đất của Lạc tướng Mê Linh, thân sinh của Hai bà Trưng Cho tới thời phong kiến tự chủ nước ta, vào thời nhà Trần (thế kỷ XIII – XIV) mới xuất hiện huyện Dương, thuộc phủ Tuyên Hóa, Trấn Tuyên Quang Đến thời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận (1460 – 1469), chính thức đổi tên thành huyện Tam Dương, thuộc phủ Đoan Hùng, Trấn Sơn Tây Đời Nguyễn năm 1830, đổi thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây Năm 1899, thuộc tỉnh Vĩnh Yên

Địa giới hành chính như trên tồn tại đến sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Từ năm 1946, Tổng Yên Dương nhập về huyện Lập Thạch Tháng 8 – 1946, xã Hợp Thịnh, Đồng Tâm (Vân Hội), Hạnh Phúc (Khai Quang) nhập về Vĩnh Yên Đầu năm 1947 các xã trên lại về huyện Tam Dương

Ngày 1 - 2 - 1955, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 459-TTg tái lập thị xã Vĩnh Yên với 4 khu phố, xã Tích Sơn và các xã thuộc Vĩnh Yên

Trang 17

ngày nay vẫn thuộc huyện Tam Dương Ngày 5 - 7 - 1977, Chính phủ ra Nghị định 178/CP nhập các xã Khai Quang, Định Trung và thị trấn Tam Đảo về thị xã Vĩnh Yên

Tháng 2 - 1968, tỉnh Vĩnh Phúc hợp nhất với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú, Tam Dương là một huyện của tỉnh Vĩnh Phú Tháng 10 - 1977, huyện Tam Dương hợp nhất với huyện Lập Thạch thành huyện Tam Đảo Tháng 12 -1978, huyện Lập Thạch tách khỏi huyện Tam Đảo, lập lại huyện Lập Thạch như cũ; huyện Bình Xuyên tách khỏi huyện Mê Linh để Nhập với Tam Dương thành huyện Tam Đảo mới, tồn tại đến tháng 6 – 1998

Ngày 9 - 6 – 1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 36/1998/NĐ-CP, chia tách huyện Tam Đảo thành hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên Huyện Tam Dương tái lập có 17 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 1 thị trấn

Ngày 18 - 8 - 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số

72/1999/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Vĩnh Yên Theo đó, thị trấn Tam Dương, thôn Lai Sơn (thuộc xã Thanh Vân) và khu Đồi Son (thuộc xã Vân Hội) của huyện Tam Dương sáp nhập vào thị xã Vĩnh Yên

Huyện Tam Dương ngày nay có 13 đơn vị hành chính trong đó có 12

xã và 1 thị trấn là Hợp Thịnh, Duy Phiên, Hoàng lâu, An Hòa, Hoàng Đan, Đạo Tú, Thanh Vân, Đồng Tĩnh, Hướng Đạo, Kim Long, Hoàng Hoa, Vân Hội, Hợp Hòa; có 35 đơn vị, cơ quan đóng trên địa bàn, toàn huyện có 58 làng (thôn) như sau:

- Xã An Hòa có 7 làng: Đô Lương, Hương Đình, Nội Điện, Ngọc Thạch 1, Ngọc Thạch 2, Phương Lâu, Yên Phượng

- Xã Duy Phiên có 2 làng: Duy Hàn, Phú Vinh

- Xã Đạo Tú có 4 làng: Cẩm Trạch, Đạo Tú, Long Trì, Thụy Yên

- Xã Đồng Tĩnh có 3 làng: Diện, Phàn Thạch, Phù Liễn

Trang 18

- Xã Hoàng Đan có 2 làng: Đan Trì, Hoàng Vân

- Xã Hoàng Lâu có 3 làng: Hoàng Chuế, Lực Điền, Thư Lâu

- Thị trấn Hợp Hòa có 4 làng và 1 phố: Bảo Chúc, Điền Lương, Liên Bình, Vinh phú và Phố Me

- Xã Thanh Vân có 6 làng và 1 phố: Nhân Mỹ, Phú Ninh, Phúc Lai, Xóm Mới, Xuân Trường, Viên Du và Phố Thanh Vân

- Xã Vân Hội có 3 làng: Chấn Yên, Yên Hội, Vân Tập

- Xã Hoàng Hoa có 3 làng: Làng Vẽ, Lũng Hữu, Tần Lung

1.1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

Phía Đông Tam Dương giáp huyện Bình Xuyên và thị xã Vĩnh Yên; phía Tây giáp huyện Lập Thạch; phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc; phía Bắc giáp huyện Tam Đảo và huyện Đại từ (tỉnh Thái Nguyên)

Tổng diện tích tự nhiên của huyện Tam Dương hiện nay là 10.821,43

ha, dân số có 95.964 người Mật độ dân số trung bình 923 người/km2 Số người trong độ tuổi lao động có 50.459 người, lao động nông nghiệp là 39.284 người, chiếm 86% tổng số lao động toàn huyện

Tam Dương là vùng chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và vùng đồi núi của tỉnh, nên địa hình rất đa dạng và phong phú và phức tạp có ưu thế với đủ

cả 3 vùng sinh thái: Miền núi, trung du và đồng bằng Chính lợi thế đó đã tạo nên một Tam Dương có khí hậu ôn hòa, cảnh sắc đa dạng.Vùng rừng núi

Trang 19

nằm ở phía bắc của huyện, tiếp giáp với núi rừng của hai tỉnh Tuyên Quang

và Thái Nguyên Trải dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam là dãy núi Tam Đảo với khoảng 30 km, vùng đồng bằng ở phía Tây Nam của huyện

Khí hậu Tam Dương mang tính nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít Tam Dương có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông Sự luân chuyển các mùa làm cho khí hậu Tam Dương thêm phong phú, đa dạng và có những nét riêng

Trên địa bàn huyện tuy không có sông lớn chảy qua, nhưng có một số sông nhỏ như suối Cầu Tre, bắt nguồn từ Thác Bạc (núi Tam Đảo) đổ nước xuống suối làng Hà (xã Hồ Sơn) rồi hợp với suối Xạ Hương, Bàn Long (xã Minh Quang - Bình Xuyên) chảy xuống các xã Gia Khánh, Hương Sơn, Tam Hợp rồi đổ vào sông Cách (ở xã Tam Hợp)

Huyện Tam Dương có một đoạn của sông Phó Đáy từ Tuyên Quang chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn (Lập Thạch), chảy qua địa phận huyện Tam Dương và Vĩnh Tường (bên bờ trái) dài hơn 40 km rồi đổ vào sông Lô Sông Phó Đáy là đường phân giới tự nhiên giữa huyện Tam Dương và huyện Lập Thạch Nay bắc qua sông có thêm cầu Bến Gạo trên địa phận xã Đồng Ích (Lập Thạch) và Hoàng Đan (Tam Dương), tạo thuận lợi cho giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội giữa Lập Thạch - Tam Dương và các huyện khác trong tỉnh

Sông Phó Đáy chảy qua địa phận huyện Tam Dương tuy ngắn nhưng cũng mang lại nhiều lợi ích đối với đời sống và sản xuất của nhân dân ven sông

Ngoài nguồn thủy sản, vận chuyển hàng hóa, sông Phó Đáy còn cung cấp nước cho lúa, hoa màu và những xã thuộc Bắc Tam Dương, các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên thông qua công trình thủy lợi Liễn Sơn

Trang 20

Về giao thông, chạy qua đất Tam Dương có một số đường giao thông quan trọng, tạo thuận lợi cho Tam Dương phát triển kinh tế - xã hội Đó là quốc lộ số 2 Hà Nội – Hà Giang, quốc lộ 2B lên khu nghỉ mát Tam Đảo, đường sắt Hà Nội – Lào Cai, quốc lộ 2C qua Tam Dương – Lập Thạch đi Tuyên Quang Ngoài ra còn hệ thống đường liên xã, đường liên huyện đã và đang được nâng cấp, tu bổ, ngày nay hầu hết đã được trải nhựa, bê tông hóa, đảm bảo giao thông thuận tiện phục vụ đời sống, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa trên địa bàn huyện

Từ sau khi tái lập huyện đến nay, thực hiện đường lối đổi mới của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh, Tam Dương đã đạt những bước tiến quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế nông nghiệp của huyện đã có những bước chuyển biến quan trọng, phát triển khá toàn diện, nhất là lương thực Kết quả nổi bật trong sản xuất nông nghiệp là đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đầu tư thâm canh, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi Năng suất lúa bình quân đạt trên 50 tạ/ha Đảm bảo an ninh lương thực, bình quân đạt 400kg/người/năm Giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích tăng từ 26,5 triệu đồng/ha/năm 2005 lên 57 triệu đồng/ha/năm 2010 Giá trị ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng từ 378.312 triệu đồng năm 2005 lên 1.108.324 triệu đồng năm 2010

Về chăn nuôi: Ổn định đàn trâu, tăng đàn bò, đàn lợn, phát triển mạnh đàn gia cầm: Đàn trâu 3.700 con, đàn bò 19.000 (tăng 4.800 con), đàn lợn 80.000 con (tăng 35.400 con), đàn gia cầm trên 2 triệu con (tăng 1,3 triêu con), cơ cấu đàn, chất lượng, số lượng ngày càng tăng ,

tỷ trọng giá trị sản phẩm chăn nuôi trong lĩnh vực nông nghiệp đạt 61,3% tăng bình quân 11,1% năm

Về lâm nghiệp: Toàn huyện đã trồng mới được 12 ha rừng tập trung

và gần 10 ha cây phân tán, bảo vệ trên 94 ha rừng Tăng cường quản lý việc khai thác và vận chuyển lâm sản trên đìa bàn huyện

Trang 21

Sản xuất công nghiệp và xây dựng ở Tam Dương tiếp tục phát triển Cụm kinh tế - xã hội Hợp Thịnh 83 ha, đã có 56 dự án đầu tư vào sản xuất kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 2.472 tỷ đồng; khu công nghiệp Tam Dương I và II với tổng diện tích 1.450 ha đã được Chính phủ phê duyệt Tốc

độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp xây dựng bình quân đạt 29,4%/năm Giá trị sản xuất tăng nhanh, từ 230.994 triệu đồng năm 2005, tăng lên 1.260.556 triệu đồng năm 2010

Các lĩnh vực Tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống cũng khá phát triển Khai thác khoáng sản, chế biến lương thực tăng 17,8 lần, sản xuất trang phục tăng 3,4 lần, chế biến tre, gỗ tăng 11,9 lần, sản xuất kim loại tăng 5,6 lần…

Các hoạt dộng thương mại, dịch vụ của huyện có nhiều chuyển biến tích cực, hàng hóa phong phú đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Doanh thu thương mại – dịch vụ hàng năm đều tăng Hoạt động tín dụng, ngân hàng, tài chính đều có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng lên Mạng lưới bưu chính - viễn thông đã được đầu tư xây dựng khắp trên toàn huyện, xã nào cũng có những điểm bưu điện văn hóa xã, bảo đảm sự thông suốt của thông tin giữa các địa phương trong huyện với các địa phương trong tỉnh và các vùng miền trên cả nước, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế của huyện

Trang 22

1.1.3 Truyền thống văn hóa – lịch sử

Tam Dương là vùng đất “địa linh, nhân kiệt”, có lịch sử lâu đời Người Tam Dương cần cù trong lao động sản xuất, tài hoa sáng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất phong phú, với nhiều di tích văn hóa, lịch sử cũng như các lễ hội đáng kể nhất là đền Bạch Trì (thường gọi là đền

Ao Bạch) ở thôn Long Trì thị trấn Hợp Hòa, lễ hội Đức Bụt mồng tám tháng giêng ở Đồng Tĩnh, tiệc Giao Điệt (hay còn gọi là tiệc vật) ở xã Hợp Thịnh, Miếu Mốc (Ấp Hạ - Hợp Thịnh) là nơi Ban cán sự liên tỉnh Vĩnh Yên – Phúc Yên ra đời (3/1940)…

Bao nhiêu đời nay, người dân Tam Dương đã yêu thương đùm bọc nhau, chung lưng đấu cật, đổ mồ hôi, nước mắt và xương máu để khai sơn phá thạch, đánh giặc giữ làng, lập nhiều thành tích thần kỳ về dựng nước, chiến công oanh liệt về giữ nước, góp phần đáng kể vào sự nghiệp chung của tỉnh và của Tổ quốc

Có thể nói, không có một cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nào của dân tộc mà không có những người con ưu tú của vùng đất Tam Dương tham gia Trong thời kỳ “Bắc thuộc”, nhân dân Tam Dương đã kiên trì bền bỉ đấu tranh làm thất bại âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc, giữ vững bản sắc và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam Dưới thời phong kiến tự chủ, nhân dân Tam Dương đã có những đóng góp, cống hiến to lớn vào các cuộc kháng chiến giữ nước của dân tộc ta Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Tam Dương đã cùng nhân dân cả nước nổi dậy chống Pháp Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Tam Dương đã giành nhiều thắng lợi vẻ vang như : phong trào phá kho thóc Nhật ở ấp làng Vườn (xã Kim Long), chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước một lần nữa lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh kiên cường của người Tam Dương lại thể hiện bừng bừng trong các phong trào đấu tranh, với tinh thần

Trang 23

quyết chiến, quyết thắng trong những năm đánh Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Tam Dương đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của hậu phương với tiền tuyến và trực tiếp chiến đấu chống cuộc chiến tranh phá hoại của địch hoàn thành nhiệm vụ của hậu phương với tiền tuyến

Trong công cuộc đổi mới đất nước hôm nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Tam Dương đang tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương để phấn đấu đạt những thành tích mới, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong suốt chiều dài của lịch sử dựng nước và giữ nước vùng đất Tam Dương, con người Tam Dương đều thể hiện truyền thống yêu nước và cách mạng, đóng góp hết sức mình vào công cuộc bảo vệ, xây dựng quê hương đất nước

1.1.4 Thực trạng giáo dục phổ thông ở Tam Dương

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Tam Dương cùng cả nước bước vào thời kỳ đổi mới Thực hiện đường lối đổi mới giáo dục của Đảng

và Đảng bộ tỉnh Bên cạnh những chuyển biến về kinh tế - xã hội, phát huy kết quả của những năm trước giáo dục – đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông của huyện nói riêng đã có bước chuyển đáng kể Quy mô giáo dục được phát triển ở các cấp học Mạng lưới trường học được bố trí hợp lý Cơ

sở vật chất trường học được đầu tư tu sửa, xây dựng khang trang hơn

Trong những năm 1989 – 1990 mặc dù còn không ít khó khăn, song nhờ nhận thức được ý nghĩa quan trọng của chính sách xã hội, đặc biệt là giáo dục, coi đó như động lực trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế của huyện, nên huyện đã “cơ bản ổn định được chất lượng giáo dục, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học cho học sinh trong độ tuổi” [3, tr.266] Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy ngành giáo dục đã tập trung vào nhiệm

vụ củng cố và từng bước phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông, đổi

Trang 24

mới công tác giáo dục, quy hoạch mạng lưới trường lớp, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, hình thức học tập ở các cấp học, ngành học đã đáp ứng một phần nhu cầu học tập của nhân dân

Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1993) xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, Nghị quyết số 12-NQ/TW

của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh đến

năm 2000” Đảng bộ huyện đã tiếp thu và triển khai thực hiện nên ngành

giáo dục và đào tạo của huyện có những bước tiến mới Quy mô các ngành học, cấp học đều tăng so với trước “Đảng bộ coi trọng thực hiện chính sách

xã hội, đặt con người vào vị trí trung tâm để phát huy sức mạnh nhân tố con người trong công cuộc đổi mới Theo hướng xã hội hóa giáo dục, Đảng bộ tập trung nâng cao chất lượng học sinh” [3, tr.282] “Đến năm học 1995 –

1996, toàn huyện đã hoàn thành 100% chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ 1/3 số trường tiểu học đã được đầu tư xây dựng kiên cố cao tầng Huyện cũng đã tăng cường công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, tổ chức hướng nghiệp dạy nghề bằng cách mở rộng sự phối hợp hoạt động giáo dục ở địa phương với các cơ sở giáo dục – đào tạo của tỉnh và của Trung ương đóng trên địa bàn” [3, tr.283]

Khi Nghị định 36 của Chính phủ được ban hành (6/1998) huyện Tam Dương được tái lập trở lại sau 21 năm hợp nhất đáp ứng tâm tư tình cảm, nguyện vọng của đại đa số cán bộ, Đảng viên và các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong huyện Huyện mới được tái lập với quy mô vừa phải, địa bàn gọn có nhiều thuận lợi trong việc chỉ đạo, đầu tư cơ sở cật chất kỹ thuật, khai thác những tiềm năng thế mạnh của địa phương Tuy nhiên huyện mới được tái lập cũng phải đối diện với nhiều khó khăn, thử thách như: xuất phát điểm thấp, là huyện thuần nông hầu như công nghiệp chưa có gì, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, toàn bộ công sở huyện phải xây dựng lại từ đầu, đội ngũ

Trang 25

cán bộ mới thiếu cả về chất lượng lẫn số lượng…Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ và nhân dân huyện Tam Dương đã phát huy những truyền thống cách mạng của quê hương, phát huy những yếu tố thuận lợi, khắc phục những khó khăn, thách thức, bước đầu đạt một sồ kết quả đảng khích lệ trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong đó có sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói riêng

Ngành giáo dục – đào tạo đã từng bước đi vào ổn định Quy mô trường, lớp các bậc học dược giữ vững và mở rộng hơn, chất lượng giáo dục – đào tạo nói chung có bước tiến bộ mới Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của toàn ngành được tăng cường đáng kể, đáp ứng yêu cầu chủ yếu cho việc dạy và học ở cơ sở “Tổng số học sinh tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn huyện đến năm 1998 có 15.583 em (giáo dục tiểu học có 2804 em) tăng 12,2% so với năm 1995 Học sinh trung học phổ thông có 2604 em tăng 2,26 lần so với năm 1995 Bình quân cứ 1000 dân có 260 học sinh phổ thông, tăng 23,8% so với năm 1995 Tiếp tục giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Năm học 2000 – 2001 có 14/17 xã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở” [3, tr.311] Chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng được nâng lên “Năm 2000 cấp tiểu học có 14 em học sinh đạt giỏi vòng huyện, 2 em giỏi vòng tỉnh Trung học cơ sở có 64 em đạt giỏi cấp tỉnh (trong đó có 4 giải nhất, 1 giải nhì, 21 giải ba, 38 giải khuyến khích) tăng 37 giải so với cùng kỳ, đứng thứ 4 toàn tỉnh Tính đến năm 2000, 100% số xã trong huyện có ít nhất một nhà học cao tầng trở lên” [3, tr.312]

Có được những kết quả trên là do Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Tam Dương thực hiện đúng đường lối, chính sách về giáo dục của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh, đồng thời do thành quả phát triển kinh tế xã hội của địa phương và nhờ truyền thống hiếu học của con em trong huyện đã góp phần tác động tích cực đến sự phát triển của giáo dục

Trang 26

Tuy nhiên cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém trong ngành giáo dục phổ thông Nhìn chung, Tam Dương vẫn còn là một huyện nghèo, kinh tế chưa phát triển Đời sống của một bộ phận dân cư còn nhiều khó khăn, nhất là khu vực miền núi; mức độ xã hội hóa giáo dục chưa sâu rộng và không đồng đều Sự nghiệp giáo dục – đào tạo phát triển chưa ổn định vững chắc, nhất là

về chất lượng giáo dục mang tính chất mũi nhọn và chất lượng đại trà, chất lượng giáo dục toàn diện còn thấp trong đó bao gồm chất lượng dạy của giáo viên và chất lượng học của học sinh, công tác giáo dục đạo đức, niềm tin, lý tưởng cách mạng, thẩm mỹ và thể lực cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức ở các cấp học, công tác giáo dục hướng nghiệp ở từng lớp học, cấp học cũng chưa được quan tâm Đội ngũ giáo viên các ngành học, cấp học còn thiếu về số lượng và chưa đồng bộ về cơ cấu, số lượng giáo viên giỏi còn hạn chế, đội ngũ giáo viên còn thiên về các môn cơ bản mà chưa chú ý đến đào tạo giáo viên ở một số bộ môn như: Giáo dục công dân, Giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng…dẫn tới hiện tượng một số giáo viên dạy kiêm nhiệm, việc phân bổ, sắp xếp giáo viên nhiều khi chưa hợp lý, gây khó khăn trong giảng dạy và sinh hoạt của đội ngũ giáo viên; trang thiết bị trường học còn ngèo nàn, lạc hậu, không đồng bộ tỷ lệ phòng học kiên cố của các cấp vẫn còn thấp nhất là những ngành mầm non, tiểu học, đồ dùng dạy học mới chỉ phục vụ trong giảng dạy các môn cơ bản hoặc chưa được sử dụng đúng cách và chưa đạt yêu cầu vì vậy chưa phát huy được hiệu quả; cơ

sở vật chất nhiều nơi còn tạm bợ và xuống cấp nghiêm trọng; trong trường học còn có những biểu hiện tiêu cực, nhất là trong thi cử, tuyển sinh, trong việc dạy thêm, học thêm chưa được quản lý, các hiện tượng bỏ học, ma túy

và các tệ nạn xã hội đã và đang tìm mọi cách thâm nhập vào nhà trường; công tác xã hội hóa giáo dục còn chưa đạt hiệu quả cao

Nguyên nhân của những hạn chế trên là do: nhận thức của các ngành, các cấp về vai trò của giáo dục chưa thực sự sâu sắc, chưa ưu tiên hàng đầu cho giáo dục Công tác quản lý giáo dục còn có những bất cập, hay có thể

Trang 27

nói là còn nhiều yếu kém, nhất là việc quản lý chương trình, nội dung, chất lượng dạy học chưa tháo gỡ kịp thời những vướng mắc về cơ chế và thủ tục hành chính, chưa có những biện pháp tích cực để phát hiện, xử lý, khắc phục kịp thời những biểu hiện tiêu cực trong ngành giáo dục – đào tạo

Những hạn chế trong giáo dục phổ thông là lực cản bước phát triển của huyện về mọi mặt Yêu cầu khách quan đặt ra là cần có nhận thức đúng

để tìm ra giải pháp, bước đi phù hợp trong phát triển giáo dục phổ thông của huyện Đây là cơ sở cho Tam Dương cùng cả nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2 GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TAM DƯƠNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005

Các Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc, Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII), các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương và của Đảng bộ tỉnh có ý nghĩa rất quan trọng định hướng cho công tác giáo dục và đào tạo trong tình hình mới Quán triệt đầy

đủ, đúng đắn chủ trương chỉ đạo của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh về công tác giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng để có chủ trương, biện pháp cụ thể, đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tế của huyện, từ đó thúc đẩy cho sự nghiệp giáo dục phổ thông của huyện phát triển

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ trương của

Đảng bộ tỉnh Vĩnh phúc về phát triển giáo dục phổ thông

1.2.1.1 Quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông

Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi, phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người Đại hội Đại

biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) khẳng định: “Cùng với khoa

học công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao

Trang 28

dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả” [12, tr.491]

Ngày 10 – 12 – 2000, Quốc hội khóa X đã thông qua hai Nghị quyết quan trọng về giáo dục là Nghị quyết số 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và Nghị quyết số 41/2000/QH10 về thực hiện phổ cập trung học cơ sở

Ngày 28 – 12 – 2000, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã thông qua Chỉ thị 61/CT-TW “Về việc thực hiện phổ cập Trung học cơ sở”

Chỉ thị nhấn mạnh: “Việc thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở giai

đoạn 2001 – 2010 có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhằm góp phần phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [7, tr.501]

Để đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững, Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) tiếp tục khẳng định quan điểm: “Phát

triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [12, tr.654]

Đại hội đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn

2001 – 2010, trong đó xác định: “Để đáp ứng nhu cầu về con người và

nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo” [12, tr.732]

Đại hội xác định việc tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đã được xác định là một trong ba khâu đột phá then chốt để làm chuyển động toàn bộ

tình hình kinh tế - xã hội mục tiêu của giáo dục là phải: “Bồi dưỡng thế hệ

trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng

Trang 29

xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn” [12, tr.732]

Theo tinh thần đó, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương (khóa IX) đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Khẳng định những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ ra những khó khăn, yếu kém, trên cơ sở đó đề ra những định hướng lớn phát triển giáo dục

và đào tạo trong những năm tiếp theo là: phát triển giáo dục toàn diện; xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; thực hiện công bằng trong giáo dục, phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; coi trọng dạy nghề, tập trung vào mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực Hội nghị cũng chỉ rõ những việc cụ thể cần tập trung thực hiện đó là: đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về giáo dục; xây

dựng và triển khai chương trình “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ

quản lý giáo dục một cách toàn diện”, tiếp tục hoàn thiện cơ cấu hệ thống

giáo dục quốc dân và sắp xếp, củng cố phát triển mạng lưới trường lớp, cơ

sở giáo dục; tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo đúng với yêu cầu quốc sách hàng đầu; đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục

Trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt có vai trò quan trọng Trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục một cách toàn diện Ngày 15 - 6 - 2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 40/ CT – TW về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu; đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo, thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo

Trang 30

dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đối với giáo dục phổ thông, Nghị quyết Đại hội IX nhấn mạnh nhiệm

vụ nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”; củng cố vững chắc kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tiến hành phổ cập trung học cơ sở trong cả nước; phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm; cải thiện chế độ đãi ngộ; tăng cường cơ sở vật chất và từng bước hiện đại hóa nhà trường; tăng dần đầu tư cho giáo dục từ ngân sách nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo

Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ ngày 18 -

4 - 2005 về “Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao” trong đó có nội dung khuyến khích đa dạng hóa các loại hình đào tạo ngoài công lập ở các cấp học, bậc học, sự tham gia của toàn thể xã hội, của các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, cá nhân, nhằm đa dạng hóa các loại hình trường lớp, thực hiện các mục tiêu mà các Đại hội toàn quốc của Đảng đề ra

Trong những năm 2000 – 2005 trong chủ chương lãnh đạo Đảng và Nhà nước, giáo dục phổ thông với vai trò là bậc học nền tảng cho thế hệ trẻ

cả về tri thức lẫn nhân cách tiếp tục được đổi mới và phát triển trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc

Giáo dục và đào tạo luôn được Đảng bộ tỉnh xác định là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định cho sự phát triển Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII được tiến hành từ ngày 5 đến 7 - 11 - 1997 tại thị

xã Vĩnh Yên Đại hội đề ra những phương hướng chung phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh những năm 1997 – 2000

Trang 31

Tiếp đó, ngày 18 - 7 - 1998, Ban thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ

thị số 07/CT-TU “Về tăng cường công tác chính trị, công tác Đảng và các

đoàn thể trong trường học” Ban thường vụ Tỉnh ủy đã yêu cầu các huyện,

thị xã, Đảng ủy trực thuộc cần làm tốt một số nhiệm vụ để tăng cường hơn nữa công tác Đảng và các đoàn thể trong trường học, đáp ứng yêu cầu phát triển hơn nữa sự nghiệp giáo dục – đào tạo của tỉnh

Tháng 3 – 2001, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII được tiến hành Đại hội đã đánh giá những kết quả đạt được trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm 1997 – 2000 cả về thành tựu và những khó khăn, hạnh chế cần phải khắc phục Trên cơ sở đó, Đại hội

đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời kỳ 2001 – 2005 Đối với giáo dục

và đào tạo, Đại hội nêu rõ phải: “Quán triệt quan điểm giáo dục là quốc

sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục đào tạo” [75, tr.66] Trong đó nhiệm vụ của giáo dục phổ thông là: “Ổn định quy mô giáo dục phổ thông Đảm bảo những điều kiện cơ bản để trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi đều được đi học Hoàn thành phổ cập trung học cơ sở Thực hiện tốt giáo dục hướng nghiệp phân luồng học sinh sau trung học cơ sở Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, chất lượng Tiếp tục đổi mới xây dựng cơ sở vật chất trường học, phấn đấu có 80% phòng học được xây dựng kiên cố, 60% số trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đổi mới công tác quản lý giáo dục, ngăn chặn và đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực” [75, tr.66] Đại hội đã chỉ

ra trong 5 năm tới, toàn tỉnh phấn đấu tổ chức thực hiện tốt 10 chương trình

kinh tế - xã hội, trong đó chương trình thứ 08 là: “Chương trình giáo dục –

đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nâng cao tay nghề cho người lao động”, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ: “Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tiếp tục đa dạng hóa các loại hình trường lớp Nâng cao chất

Trang 32

lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, tăng cường cơ sở vật chất trường học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện” [75, tr.91]

Để thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục THCS đã đề ra trong chương trình 08 của nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII là Vĩnh Phúc đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2003, ngày 04 - 2 - 2002,

Ban thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 03-CT/TU “Về việc đẩy

mạnh thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh” Ban

thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy và chính quyền có kế hoạch, giải pháp để thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục THCS trên địa bàn Ban cán

sự Đảng ngành giáo dục – đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học; tham mưu với cấp ủy, UBND các cấp về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và theo dõi, tổng hợp kết quả; đề nghị UBND ra quyết định kiểm tra, công nhận các đơn

vị đạt chuẩn theo quy định chung; báo cáo kịp thời những khó khăn để giải quyết; tổng hợp tình hình báo cáo với Ban chỉ đạo quốc gia Để phối hợp thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục THCS, Tỉnh ủy yêu cầu các ban, nghành, đoàn thể khác như ngành Tài chính, Kế hoạch – Đầu tư, Lao động – Thương binh – xã hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội khuyến học… có trách nhiệm cùng phối hợp thống nhất với ngành giáo dục giải quyết các vấn đề liên quan tới đầu tư, cân đối nguồn lực, hỗ trợ tài chính, biên chế và chế độ đối với giáo viên dạy bổ túc THCS; quan tâm đầu tư cho các xã vùng núi và kinh tế khó khăn, giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh thuộc diện chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị cơ sở thực hiện công tác phổ cập giáo dục THCS

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Đề án 01/ĐA-TU của Tỉnh ủy về giáo dục – đào tạo, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh đã đạt được những thành quả bước đầu Tuy nhiên, để đáp ứng

Trang 33

những yêu cầu mới khi bước vào thế kỷ XXI, giáo dục – đào tạo trong tỉnh cần tiếp tục đổi mới hơn nữa Để thực hiện nhiệm vụ đó, ngày 29 - 7 - 2002, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Nghị quyết số 04 –

NQ/TU “Về phát triển giáo dục – đào tạo thời kỳ 2001 – 2005” Sau khi

đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Đề án

01/ĐA-TU của Tỉnh ủy về giáo dục – đào tạo, Nghị quyết đã chỉ rõ “so với

yêu cầu trong giai đoạn mới, công tác giáo dục – đào tạo vẫn còn những yếu kém, bất cập, nhiệm vụ đặt ra là cần phải tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vì sự nghiệp phát triển giáo dục, tạo sự tăng trưởng nhanh chóng, đáp ứng những yêu cầu cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [78, tr.5]

Khuyến học, khuyến dạy, khuyến tài nhằm phát huy truyền thống hiếu học của nhân dân là công tác được tỉnh rất coi trọng Ngày 11 - 6 - 2003,

Ban thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 15 – NQ/TU “Về việc

đẩy mạnh công tác khuyến học, phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng, hướng tới xây dựng một xã hội học tập” Tỉnh ủy nhấn mạnh cần “không ngừng nâng cao chất lượng các hoạt động của tổ chức Hội Khuyến học các cấp từ tỉnh đến cơ sở Đẩy mạnh các hoạt động khuyến học, các hình thức khuyến học phong phú, đa dạng, có hiệu quả” [79, tr.5] Tỉnh ủy đặc biệt coi

trọng đến việc tạo bước chuyển biến mạnh mẽ đối với giáo dục – đào tạo

theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, trong đó “đặc biệt chú

trọng duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng học tập phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục Trung học cơ sở Những nơi có điều kiện, tích cực chuẩn bị để từng bước đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học Phấn đấu Vĩnh Phúc đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học vào năm 2010” [79, tr.5]

Để thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 - 6 - 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, căn cứ vào điều kiện thực tế về nhiệm vụ phát triển sự

Trang 34

nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà, ngày 1 - 6 - 2005, Ban thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã xây dựng Kế hoạch số 87-KH/TU, Kế hoạch Tổ chức thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Những nội dung chính và các nhiệm vụ chủ yếu Ban thường vụ Tỉnh

ủy đã xác định trong công tác này là: Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, giáo viên; Tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả; Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của tỉnh về việc thực hiện ưu đãi đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; Thực hiện tốt nhiệm vụ đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa và đổi mới phương pháp giáo dục; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ

quản lý giáo dục Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo “thực sự phải coi giáo

dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu” [80, tr.6]

Về tổ chức thực hiện, Tỉnh ủy nêu rõ nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng, các sở, ban, ngành trong việc tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh các nhiệm vụ của Chỉ thị 40-CT/TW của Trung ương Trong đó trọng tâm là ngành giáo dục – đào tạo cần tổ chức cho toàn thể cán bộ công chức, giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý nghiên cứu học tập nội dung Chỉ thị; mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có liên hệ đánh giá những mặt được, chưa được, xác định nguyên nhân thành công và hạn chế của việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp, các đơn vị giáo dục đào tạo thuộc các bậc học, nghành học; có kế hoạch, chương trình cụ thể thực hiện đường lối đổi mới, nâng cao phẩm chất, trình độ, năng lực chuyên môn của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Trang 35

Những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã được triển khai vào thực tiễn đồng thời chỉ đạo, định hướng cho các cấp, ngành ở địa phương để

ra chủ trương, biện pháp phát triển giáo dục phổ thông trong những năm

sự nghiệp văn hóa, xã hội

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Đảng bộ huyện Tam Dương đã xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định cho sự phát triển

Đại hội Đảng bộ huyện Tam Dương lần thứ XXVI được tiến hành từ ngày 24 đến ngày 25 - 11 – 2000 tại thị trấn Hợp Hòa Đại hội đã đề ra phương hướng chung cho việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm 2000 – 2005

Đối với nhiệm vụ phát triển giáo dục – đào tạo, Đại hội đã quán triệt

quan điểm: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản,

toàn diện trong phát triển giáo dục đào tạo” [26, tr.19] Đại hội đề ra các nhiệm vụ và phương hướng: Thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương

Trang 36

2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, và Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII về giáo dục – đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; mở rộng và phát triển quy mô giáo dục, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống giáo dục, đào tạo, tập trung xây dựng những vùng giáo dục phát triển mạnh, những trường chất lượng cao; đổi mới công tác quản lý giáo dục, không ngừng cải tiến nội dung và phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo; coi trọng chất lượng đại trà, chất lượng giáo dục toàn diện, làm tốt việc giáo dục chính trị, truyền thống, đạo đức và nhân văn, giáo dục pháp luật trong trường học; ngăn chặn tiêu cực trong nhà trường, chấn chỉnh việc dạy thêm, học thêm;

có chính sách khuyến khích giáo viên giỏi, giáo viên có trình độ chuyên môn cao, có chính sách bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp đỡ con em gia đình chính sách, con em gia đình nghèo vượt khó; huy động các nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất trường học; đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục – đào tạo, tạo môi trường giáo dục lành mạnh; chú trọng công tác Đảng trong trường học, xây dựng chi bộ trường học thực sự là hạt nhân lãnh đạo mọi hoạt động của nhà trường

Trên tinh thần chỉ đạo chung của Tỉnh ủy, căn cứ vào điều kiện và tình hình thực tiễn của huyện, Huyện ủy đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ

và giải pháp cụ thể cho ngành giáo dục đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng đó là: “Coi trọng cả ba mặt: quy mô, hiệu quả và chất lượng các cấp học, ngành học Ổn định quy mô giáo dục phổ thông, mở rộng và phát triển ngành học phổ thông, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở Thực hiện tốt giáo dục hướng nghiệp phân luồng học sinh sau trung học cơ sở Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Tăng cường công tác giáo dục đạo đức, chính trị, tư tưởng, thể lực, thẩm mỹ Củng cố và phát triển các trường điểm, trường chuyên, lớp chọn.” [29, tr.239]

Trang 37

Nghị quyết cũng đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể phát triển giáo dục phổ thông: Tăng cường đầu tư cho công tác bồi dưỡng, đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và thực hiện tiêu chuẩn hóa giáo viên các cấp học, ngành học Có chính sách hỗ trợ, đãi ngộ thỏa đáng với cán bộ, giáo viên, nhất là giáo viên công tác ở miền núi và giáo viên giỏi

Phát triển các hình thức giáo dục, các loại trường công, bán công, tư thục, dân lập Phối kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế và

xã hội phù hợp với yêu cầu xã hội hóa giáo dục Đầu tư thỏa đáng cho sự nghiệp giáo dục

Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ: “Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tiếp tục mở rộng quy mô số lượng các bậc học, ngành học theo hướng đa dạng hóa các loại hình trường lớp, chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và coi trọng hiệu quả đào tạo Quan tâm đúng mức chất lượng giáo dục đại trà, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục nhân cách, giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và quê hương Khơi dậy và phát triển khả năng tư duy sáng tạo

và năng lực thực hành cho học sinh các cấp Tăng cường phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội thâm nhập vào nhà trường Coi trọng đạy và học ngoại ngữ, tin học, hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh cuối cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, tăng cường cơ sở vật chất trường học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện” [26, tr.20]

Ngày 04 - 2 - 2002 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Chỉ thị số CT/TU “Về việc đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh” Nhằm thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục trung học cơ sở

03-đã đề ra trong chương trình 08 của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ

VIII là Vĩnh Phúc đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2003 Dưới

Trang 38

sự hướng dẫn, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy Tam Dương đã yêu cầu các cấp chính quyền có kế hoạch, giải pháp thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ban cán sự Đảng ngành giáo dục – đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học, tổ chức thực hiện, theo dõi và tổng hợp kết quả; đề nghị UBND ra quyết định kiểm tra, công nhận các đơn vị đạt chuẩn theo quy định chung; báo cáo kịp thời những khó khăn để giải quyết; tổng hợp tình hình báo cáo với ban chỉ đạo cấp tỉnh và cấp quốc gia Huyện ủy yêu cầu các ban, ngành, đoàn, thể cùng phối hợp với ngành giáo dục – đào tạo thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Nhằm đảm bảo thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược đề

ra cho ngành giáo dục – đào tạo 10 - 5 - 2001 Huyện ủy Tam Dương đã ra Nghị quyết 04/NQ-HU “Về phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2005” Với những giải pháp chủ yếu là:

- Nâng cao nhận thức trong xã hội và trong ngành về vai trò, nhiệm vụ của giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu

tư cho phát triển; ưu tiên dành các nguồn lực cần thiết cho sự nghiệp phát triển giáo dục

- Tiếp tục quy hoạch, hoàn thiện và đa dạng mạng lưới trường lớp các cấp học ngành học theo hướng đa dạng hóa các loại hình, đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao và đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân

- Đổi mới công tác quản lý giáo dục – đào tạo Xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục Tăng cường hiệu lực của hệ thống thanh tra giáo dục Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về giáo dục, chú trọng chất lượng công tác quản lý ở các trường học, đơn vị giáo dục đặc biệt là ở loại hình ngoài công lập trên cơ sở đó tăng cường công tác bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho cán bộ quản lý đương chức Thực hiện phân cấp quản lý giáo dục một cách mạnh mẽ

Trang 39

- Phát triển đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý theo yêu cầu của tỉnh và đặc thù của ngành Quan tâm bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về mọi mặt

- Mở rộng để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, vật lực, tài lực để phát triển giáo dục – đào tạo Tiếp tục có cơ chế, chính sách

và tăng tỷ lệ đầu tư huy động mọi nguồn lực tinh thần và vật chất của mọi thành phần kinh tế, mọi lực lượng xã hội cho phát triển giáo dục – đào tạo Tích cực huy động và quản lý sử dụng các nguồn lực ngoài ngân sách giáo dục – đào tạo

- Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xã hội hóa giáo dục, đồng thời thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với giáo dục – đào tạo Các cấp ủy Đảng từ huyện đến cơ sở có trách nhiệm lãnh đạo các tổ chức Đảng thực hiện tốt chương trình của Huyện ủy ở địa phương mình, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các chủ trương về giáo dục – đào tạo Tích cực phát triển Đảng trong đội ngũ cán bộ giáo viên và cán bộ quản lý các trường học Trường nào cũng có Đảng viên, có chi bộ Tăng cường xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, thực sự là hạt nhân lãnh đạo trong các trường học Tổ chức Đảng lãnh đạo các nhà trường phải phát huy vai trò chủ động của các tổ chức đoàn thể để xây dựng nhà trường tiên tiến

Nghị quyết cũng nêu lên những giải pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh, tạo mọi điều kiện học tập cho học sinh phát huy hết năng lực,

có chính sách giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc quán triệt việc thực hiện nghiêm túc nội dung chương trình giảng dạy, chỉ đạo chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm Tổ chức thi cử nghiêm túc, tăng cường những trang thiết bị vào phục vụ giảng dạy và học tập

Trang 40

Cùng với việc nêu lên những nhiệm vụ và giải pháp thực hiện, Nghị quyết đã đề ra quy trình tổ chức thực hiện, cũng như vai trò cụ thể của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể đối với nhiệm

vụ phát triển sự nghiệp giáo dục

Những chủ trương trên của Đảng bộ Tam Dương về phát triển giáo dục phổ thông của huyện từ năm 2000 đến năm 2005 được đề ra căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, chủ trương của Trung ương Đảng

và Đảng bộ tỉnh Những chủ trương này đã nhanh chóng được triển khai vào đời sống thực tiễn, định hướng cho các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện phát triển giáo dục phổ thông trên địa bàn huyện

1.2.3 Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện và kết quả

1.2.3.1 Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

ở các cấp học

Phát triển quy mô giáo dục

Trên cơ sở chủ trương phát triển giáo dục mà Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đề ra, Hyện ủy Tam Dương đã vận dụng và trực tiếp chỉ đạo cho ngành giáo dục của huyện chủ trương phát triển quy mô giáo dục trên cơ

sở đảm bảo chất lượng, đảm bảo các điều kiện dạy và học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân Quy mô phát triển đi vào ổn định, mạng lưới trường lớp các bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông không ngừng được phát triển Chính vì vậy, từ năm 2000 đến năm 2005, quy mô giáo dục của địa phương tăng nhanh phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Mạng lưới trường lớp phổ thông được quy hoạch một cách đồng bộ, khoa học, phân bố khá đồng đều trên địa bàn khu dân cư: “Các xã, thị trấn

đã có hệ thống trường tiểu học và trung học cơ sở” [3, tr.312] “Toàn huyện

có 18 trường trung học cơ sở, 20 trường tiểu học (tăng 02 trường so với năm

Ngày đăng: 21/09/2020, 23:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w