Từ khi tái lập tỉnh 1997 đến nay, bên cạnh việc tập trung phát triển kinh tế, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc còn quan tâm đến công tác gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử vă
Trang 1Đại học quốc gia hà nội trường đại học khoa học x hội và nhân văn
ĐàO THùY DƯƠNG
ĐảNG Bộ TỉNH VĩNH PHúC LãNH ĐạO CÔNG TáC BảO TồN Và PHáT HUY GIá TRị CáC DI TíCH LịCH Sử (1997 - 2012)
luận văn thạc sĩ LịCH Sử
Hà Nội, 2013
Trang 2Đại học quốc gia hà nội trường đại học khoa học x hội và nhân văn
ĐàO THùY DƯƠNG
ĐảNG Bộ TỉNH VĩNH PHúC LãNH ĐạO CÔNG TáC BảO TồN Và PHáT HUY GIá TRị CáC DI TíCH LịCH Sử (1997 - 2012)
Trang 33
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BVHTT : Bộ Văn hóa Thông tin
BVHTT&DL : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
ĐHKHXH&NV : Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
PVHTT&DL : Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch SVHTT&DL : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trần Viết Nghĩa
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực đảm bảo tính khách quan, khoa học, các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà N ội, ngày 24 tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Đào Thùy Dương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Lời trước nhất, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Trần Viết Nghĩa - người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện bản luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các cán bộ, nhân viên của Phòng Lưu trữ trữ tư liệu, Văn phòng Tỉnh ủy Vĩnh Phúc; cán bộ, chuyên viên của Ban Quản lý Di tích, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc; cán
bộ, nhân viên của Bảo tàng tỉnh Vĩnh Phúc; các cán bộ thư viện tỉnh Vĩnh Phúc; cán bộ của Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch huyện Yên Lạc đã giúp
đỡ tôi rất nhiều trong quá trình khai thác tư liệu để hoàn thành luận văn này
Tôi cũng chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở bên cổ vũ, động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 9
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp mới của đề tài 12
7 Bố cục của luận văn 12
Chương 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĨNH PHÚC 13
1.1.Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 13
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 13
1.1.2 Kinh tế - xã hội 17
1.2 Hệ thống di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc 21
1.2.1 Một số khái niệm về di sản văn hóa, di tích lịch sử- văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 21
1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc 25
1.2.3 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trước năm 1997 30
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN 1997-2005 35
2.1 Chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử giai đoạn đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2006) 35
2.2 Sự lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 39
Trang 72.2.1 Chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về công tác
bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử 39
2.2.2 Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc 42
Tiểu kết chương 2 54
Chương 3: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN 2006 - 2012 56
3.1 Chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2006-2012) 56
3.2 Chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử 60
3.3 Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc 63
Tiểu kết chương 3 87
Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 89
4.1 Một số nhận xét về sự lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2012 89
4.2 Một số bài học kinh nghiệm 95
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 115
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vĩnh Phúc là vùng đất có bề dày văn hóa và lịch sử Bề dày này được tạo thành và vun đắp trong suốt quá trình chống chọi với thiên tai, địch họa và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân Vĩnh Phúc Đến nay, Vĩnh Phúc đã có được một hệ thống di tích lịch sử ở khắp các địa phương trong tỉnh Hệ thống di tích này vừa là niềm tự hào, vừa là một tài sản vô giá của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, bên cạnh việc tập trung phát triển kinh tế, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc còn quan tâm đến công tác gìn giữ, bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa của địa phương Nhiều di tích đã được đầu tư chống xuống cấp, tu sửa, tôn tạo Việc xây dựng hồ sơ khoa học, xếp hạng, khoanh vùng bảo vệ di tích cũng được chú trọng thực hiện
Các di tích lịch sử không chỉ phục vụ đời sống tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng của nhân dân địa phương mà còn là một động lực phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc, đặc biệt là ngành kinh tế du lịch
Xác định di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô giá của các thế hệ cha ông để lại, là phần hồn của văn hóa dân tộc, là động lực để phát triển kinh tế, văn hóa và
xã hội, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã có sự quan tâm đáng kể đến công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử của địa phương Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc cũng còn có những hạn chế nhất định Vì vậy, tôi
mạnh dạn chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử (1997 - 2012)” làm luận văn Thạc sỹ
Lịch sử của mình, với mục đích làm rõ thực trạng công tác bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích ở Vĩnh Phúc
Trang 92 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong nhiều năm qua đã có khá nhiều nhà nghiên cứu ở Trung ương
và địa phương nghiên cứu, tìm hiểu, làm rõ về di tích lịch sử ở tỉnh Vĩnh Phúc Tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở giới thiệu hoặc mô tả dưới góc độ đơn lẻ từng di tích như di tích danh thắng Tây Thiên ở Tam Đảo, đền Thính ở Yên Lạc, đền Hai Bà Trưng ở Mê Linh (nay
là Hà Nội), đình Hương Canh ở Bình Xuyên…
Trước năm 1997, tỉnh Vĩnh Phú đã xuất bản sách “Địa chí văn hóa
V ĩnh Phú Văn hóa dân gian vùng đất Tổ” (1986) của Xuân Thiêm và Ngô
Quang Nam Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về các di tích lịch sử và lễ hội cổ truyền của Vĩnh Phú
Từ năm 1997 đến nay, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc đã
có một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến di tích lịch sử ở tỉnh
và được xuất bản thành sách Cụ thể như sau:
Công trình “Danh nhân Vĩnh Phúc” (1999) của Lê Kim Thuyên đã giới
thiệu khá đầy đủ về các danh nhân ở Vĩnh Phúc từ thời Hai Bà Trưng cho đến trước thời đại Hồ Chí Minh, nơi thờ tự và tổ chức lễ hội của các danh nhân
Trong sách “Địa chí Vĩnh Phúc (sơ thảo)” (2000), Lê Kim Thuyên
đã đề cập về vùng đất và con người Vĩnh Phúc nói chung và di tích lịch sử nói riêng
Trong công trình “Văn hoá dân gian Vĩnh Phúc” (2007), Bùi Đằng
Sinh đã giới thiệu về các loại hình văn hoá dân gian trên địa bàn Vĩnh Phúc, trong đó khái lược về các di tích lịch sử của địa phương
Trong sách “Di tích - Danh thắng Vĩnh Phúc” (2007), Nguyễn Thị Diện
đã giới thiệu chi tiết lịch sử, điển tích gắn với những di tích, danh thắng tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, đồng thời mô tả khá tường tận “hình ảnh” của các di tích này
Trang 10Cuốn “Địa chí Vĩnh Phúc” (2012), là công trình nghiên cứu mới nhất
về Vĩnh Phúc Cuốn địa chí này dành một chương mô tả chi tiết các di tích lịch sử nổi tiếng của tỉnh Vĩnh Phúc
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã thống kê, xác lập hệ thống di tích lịch sử của tỉnh, đồng thời bước đầu nêu lên thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương Ngoài ra nó còn cung cấp những tư liệu về tiềm năng và lợi thế từ việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích của Vĩnh Phúc
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo cứu, thống kê, giới thiệu, mô tả hệ thống các di tích lịch sử nhưng chưa đề cập
cụ thể đến những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích trong giai đoạn (1997 - 2012) và những thành quả bước đầu của công tác đó
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh
- Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ 1997 - 2012
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nêu và phân tích những tác động của những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc tới công tác bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử
- Làm rõ những thành công và hạn chế trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, qua đó rút ra những kinh nghiệm chủ yếu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Những chủ trương và chính sách của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương
Trang 11- Sự lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc
Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
- Không gian nghiên cứu: địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 1997 - 2012 Mốc khởi đầu nghiên cứu của luận văn là thời điểm tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập (01-01-1997) trên
cơ sở tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Vĩnh phúc và Phú Thọ Mốc kết thúc của luận văn là năm 2012, thời điểm gần nhất để thấy được rõ hơn kết quả của công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của tỉnh Vĩnh Phúc
- Do tỉnh Vĩnh Phúc có rất nhiều các di tích lịch sử nên luận văn chỉ có thể đề cập đến một số di tích lớn của địa phương như: cụm di tích danh thắng Tây Thiên gồm khu di tích danh thắng Tây Thiên và Thiền viện Trúc Lâm (Tam Đảo), đền thờ Hai Bà Trưng (Mê Linh), chùa Hà Tiên (Vĩnh Yên), đền Thính, di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu (Yên Lạc), đền Trần Nguyên Hãn (Lập Thạch)
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chủ yếu mà luận văn sử dụng là các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI; các hội nghị Trung ương Đảng; các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XII, XIII, XIV, XV; các nghị quyết, kết luận hội nghị của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về phát triển văn hóa du lịch, các báo cáo; các quyết định của UBND tỉnh Vĩnh Phúc; các báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc Ngoài ra, luận văn còn sử dụng tài liệu từ các sách và tạp chí nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vấn đề bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử trên phạm vi cả nước nói chung, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
Trang 12Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, luận văn sử dụng các phương pháp như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp: nghiên cứu điều tra, phương pháp thống kê, phương pháp điền dã để thực hiện luận văn này
6 Đóng góp mới của đề tài
- Luận văn đánh giá khái quát quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử (1997 - 2012)
- Rút ra những kinh nghiệm về công tác lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ Vĩnh Phúc
- Góp phần nghiên cứu lịch sử tỉnh Vĩnh Phúc nói chung, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hệ thống di tích lịch
sử tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lich sử giai đoạn 1997 - 2005 Chương 3: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử giai đoạn 2006 - 2012 Chương 4: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm
Trang 13Chương 1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ
HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĨNH PHÚC
1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, có tọa độ: từ 210 08’ (tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo) đến 210 19’ (tại xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) vĩ độ bắc;
từ 1050 109’ (xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô) đến 1050 47’ (xã Ngọc Thanh, thị
xã Phúc Yên) kinh độ đông
Tỉnh Vĩnh Phúc có vị trí địa lý giáp với bốn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Phía Bắc giáp với hai tỉnh là Tuyên Quang và Thái Nguyên với đường ranh giới tự nhiên là dãy núi Tam Đảo Phía Nam giáp thành phố Hà Nội với đường ranh giới tự nhiên là sông Hồng Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ với ranh giới là sông Lô Phía Đông tiếp giáp hai huyện ngoại thành của thủ
đô Hà Nội là Đông Anh và Sóc Sơn
Vĩnh Phúc là vùng giao điểm của nhiều vùng miền ở miền Bắc Từ Vĩnh Phúc có thể xuống phía Đông Bắc, lên biên giới Việt Trung phía Bắc, lên biên giới Việt Lào phía Tây - Tây Bắc, còn đóng vai trò cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội [26].
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 123.650,05 ha Trong đó, đất nông nghiệp: 86.718,73 ha, chiếm 70,13%; đất phi nông nghiệp: 34.768,78
ha, chiếm 28,12%; đất chưa sử dụng: 2.162,54 ha, chiếm 1,75% Nhìn chung đất đai canh tác ở Vĩnh Phúc không màu mỡ, một số vùng đất bị nghèo hoá, năng suất thấp, vì vậy vẫn còn nhiều tiềm năng cho thâm canh cây trồng và vật nuôi trên diện tích đất đang sử dụng [27]
Trang 14Tính đến năm 2012, Vĩnh Phúc có 1 thành phố (Vĩnh Yên), 1 thị xã (Phúc Yên) và 7 huyện (Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Yên Lạc, Vĩnh Tường) với 137 đơn vị cấp xã gồm 13 phường, 12 thị trấn và 112 xã [106, tr 7]
Nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và xa hơn là với Trung Quốc, Vĩnh Phúc chịu sự tác động rất lớn của quá trình phát triển vùng, có nhiều thuận lợi trong giao lưu trao đổi hàng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ
Vĩnh Phúc nằm trên trục quốc lộ 2 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, liền kề với sân bay quốc tế Nội Bài, nằm ở điểm đầu trục giao thông đường sắt và đường bộ Đông - Tây từ trung tâm miền Bắc thông ra cảng Hải Phòng và cảng nước sâu Cái Lân Ở vị trí này rất tiện lợi về giao thông tỏa đi khắp mọi miền đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để Vĩnh Phúc phát triển kinh
tế, như phát triển các khu công nghiệp và ngành công nghiệp xuất khẩu
Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Bởi vậy, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm ba vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và vùng núi Vĩnh Phúc thuộc vùng địa - văn hóa thềm phù sa cổ, một trong những nơi khởi nguồn của nền văn minh sông Hồng
Về mặt thủy văn, trên địa bàn Vĩnh Phúc, hệ thống sông suối khá đa dạng, trong đó lớn nhất là hai hệ thống sông Lô và sông Hồng Sông Lô ở phía Tây với chiều dài chảy qua địa bàn tỉnh là 37 km, trở thành ranh giới tự nhiên giữa Vĩnh Phúc và Phú Thọ Ở phía nam, sông Hồng là ranh giới phân tách giữa Hà Nội với Vĩnh Phúc với chiều dài chảy qua là 40 km Ngoài ra, trên địa phận Vĩnh Phúc còn có nhiều sông ngòi nhỏ bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo chảy xuống vùng đồng bằng như sông Phó Đáy chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn (Sông Lô) đến xã Sơn Đông (Lập Thạch) rồi đổ vào sông Lô dài 55 km, sông Cà Lồ, sông Phan, sông Cầu Bòn, sông Bá Hạ
Trang 15Vĩnh Phúc có nhiều đầm, hồ lớn được hình thành bởi kiến tạo địa lý hoặc do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội sau này, như đầm Vạc (Vĩnh Yên), đầm Dưng, Vực Xanh, vực Quảng Cư, đầm Ngũ Kiên (Vĩnh Tường), đầm Đông Mật, hồ Đại Lải, hồ Thanh Hương, Xạ Hương, Vân Trục, đầm Tam Hồng, đầm Cốc Lâm (Yên Lạc), hồ Đá Ngang, hồ Khuân, hồ Bò Lạc, Vân Trục, suối Sải (Lập Thạch), hồ Đại Lải (Phúc Yên), hồ Xạ Hương (Bình Xuyên), hồ Làng Hà (Tam Dương)… Đây là những đầm, hồ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu, phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ, du lịch của tỉnh
Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, được chia thành bốn mùa, trong đó có hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 11 và mùa lạnh từ tháng 12 đến tháng 3 Lượng mưa trung bình từ 1.500 - 1.700 mm, vùng cao có lượng mưa đến 300 mm, tập trung từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,5 - 250C, nhiệt
độ cao nhất là 38,50C, nhiệt độ thấp nhất là 20C Tuy nhiên do ảnh hưởng của yếu tố địa hình nên có sự chênh lệch khá lớn về nhiệt độ giữa vùng núi và vùng đồng bằng Vùng núi Tam Đảo, ở độ cao 1000 m so với mực nước biển
có nhiệt độ trung bình năm khoảng 18,20C Độ ẩm trung bình 84 - 85% Nhìn chung độ ẩm không có sự chênh lệch nhiều qua các tháng trong năm giữa vùng núi với vùng trung du và vùng đồng bằng Tổng số giờ nắng trong năm 1.400 - 1.800 giờ, trong đó tháng có nhiều giờ nắng trong năm nhất là tháng 6
và tháng 7, tháng có ít giờ nắng trong năm nhất là tháng 3; riêng vùng núi Tam Đảo số giờ nắng thấp hơn 1.000 - 1.400 giờ Lượng mưa trung bình năm đạt 1.400 đến 1.600 mm, trong đó lượng mưa bình quân cả năm của vùng đồng bằng và trung du là 1.323,8 mm, vùng núi là 2.140 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm Trong năm có hai loại gió
Trang 16chính: gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9; gió đông bắc thổi từ tháng
10 đến tháng 3 năm sau
Vĩnh Phúc là tỉnh ở vị trí chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nên rất nghèo về tài nguyên khoáng sản Trên địa bàn tỉnh có một số loại khoáng sản quý hiếm như thiếc, vàng nhưng trữ lượng nhỏ, phân tán không đồng đều
do đó gây khó khăn cho việc đầu tư khai thác Tài nguyên khoáng sản có trữ lượng đáng kể dùng cho ngành xây dựng như đá xây dựng, đá granít (khoảng
50 triệu m3) nhưng phần lớn nằm ở khu vực có tiềm năng du lịch và rừng Quốc gia Tam Đảo nên không có điều kiện khai thác Ngoài ra còn có cát, sỏi, than bùn, cao lanh giàu nhôm, đất sét làm gạch, ngói,… có khối lượng lớn, có khả năng khai thác lâu dài
Vĩnh Phúc có diện tích rừng tự nhiên không lớn, nhưng do làm tốt công tác phủ xanh đất trống đồi núi trọc nên quỹ rừng tự nhiên được bảo tồn, diện tích rừng trồng tăng Tính đến năm 2009 tỉnh Vĩnh Phúc có khoảng 32.800 ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng sản xuất là 10.800 ha, rừng phòng hộ là 6.600
ha và rừng đặc dụng là 15.400 ha Độ che phủ của rừng được thay đổi theo hướng tích cực Tài nguyên rừng đáng kể nhất của tỉnh là Vườn quốc gia Tam Đảo với trên 15.000 ha, là nơi bảo tồn nguồn gen động thực vật (có trên 620 loài cây thảo mộc, 165 loài chim thú), trong đó về thực vật có cả gỗ pơmu, nhiều cây thuốc và rau có giá trị, về động vật có nhiều loại quý hiếm được ghi vào sách đỏ như cầy mực, sóc bay, vượn, báo, gấu, voọc, sơn dương Rừng Vĩnh Phúc ngoài việc bảo tồn nguồn gen động, thực vật còn có vai trò điều hoà nguồn nước, khí hậu và có thể phục vụ cho phát triển các dịch vụ thăm quan, du lịch [106, tr 8-15]
Với vị thế và điều kiện tự nhiên như vậy, Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện
để phát triển kinh tế, xã hội Dù còn nhiều khó khăn, nhưng đó là những tiền
đề quan trọng trong quá trình đi lên của tỉnh Điều kiện tự nhiên và kinh tế -
xã hội đó có tác động đáng kể đến mật độ, sự phân bố cũng như công tác bảo
Trang 17tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Vĩnh Phúc Nằm ở vị trí giao điểm của nhiều vùng miền phía Bắc, từ xưa Vĩnh Phúc sớm đã trở thành nơi giao lưu, gặp gỡ, trao đổi của nhân dân các vùng miền, cho nên các di tích lịch sử, di tích văn hóa ở Vĩnh Phúc vừa nhiều về số lượng, vừa đa dạng về loại hình Mặc dù sự phân bố các di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc khá đều, nhưng khu vực đồng bằng và trung du số di tích lịch sử nhiều hơn một chút Với đặc thù thời tiết nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, tác động mạnh đến tuổi thọ của di tích Điều đó đặt ra cho nhân dân và các cấp quản lý bài toán về chất liệu, quy trình xây dựng và nhất là công tác gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của địa phương
1.1.2 Kinh tế - xã hội
Từ năm 1997, kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc phát triển nhanh chóng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1998-2000 rất cao, đạt 18,12% Giai đoạn 2001-2005 tăng trưởng GDP đạt 15,02% Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt là 18,0%/năm Năm 1997 cơ cấu kinh tế là nông nghiệp (52%), dịch vụ (36%), công nghiệp (12%), thu ngân sách đạt gần
100 tỷ đồng Năm 2004 có cơ cấu kinh tế là công nghiệp (49,7%); dịch vụ (26,2%); nông nghiệp (24,1%); Cuối năm 2011 tỉnh có cơ cấu kinh tế là công nghiệp - xây dựng (56,03%), dịch vụ (30,23%); nông, lâm nghiệp, thuỷ sản là (13,74%), thu ngân sách 15.800 tỷ đồng Thu hút được 681 dự án, trong đó có
127 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký 2.420,9 triệu USD và 554 dự án DDI, với tổng vốn đăng ký 32.829,8 tỷ đồng, được đầu tư ở 14 cụm, khu công nghiệp, khu vui chơi, giải trí, du lịch trên khắp địa bàn Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh liên tục đứng ở vị trí tốp đầu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong bảng xếp hạng những năm gần đây [106, tr 20-23]
Cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, GDP bình quân đầu người trong tỉnh cũng tăng khá nhanh Năm 2000, GDP/người của tỉnh mới chỉ đạt 3,83 triệu đồng, bằng 78,2% GDP vùng đồng bằng sông Hồng và
Trang 1867,2% so với cả nước Đến năm 2007, GDP/người của tỉnh đã đạt 15,74 triệu đồng, cao hơn so mức trung bình đồng bằng sông Hồng (14,5 triệu đồng) và cao hơn nhiều so với mức bình quân cả nước (13,421 triệu đồng) Năm 2008, GDP bình quân đầu người đạt 22,2 triệu đồng (tương đương khoảng 1.300 USD), cao gấp 1,29 lần so với mức bình quân chung cả nước (17,2 triệu đồng) Năm 2010, chỉ số này đạt 33,6 triệu đồng, cao hơn nhiều so với dự kiến bình quân cả nước là 22,5 triệu đồng và mức bình quân các tỉnh ĐBSH là 25,5 triệu đồng Năm 2011, thu nhập bình quân đầu người khoảng 2000 USD, tăng 15 lần so với năm 1997 Tính đến năm 2008, GDP của Vĩnh Phúc xếp thứ 6 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố của cả nước (chỉ thấp hơn các tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa - Vùng Tàu và Cần Thơ) [106, tr 25-30]
Bên cạnh thành tựu về kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, Vĩnh Phúc sớm đạt được các chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (từ năm 2002), tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng tăng nhanh: năm 2005 là 28%; 2010 là 51,2% Duy trì được vị trí là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng Chất lượng giáo dục mũi nhọn đạt những kết quả đáng tự hào Hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo của Vĩnh Phúc đã góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Vĩnh Phúc cũng là xứ sở của nhiều làn điệu dân ca đặc sắc như Xoan ghẹo, Xa mạc, Trống quân…; của nhiều trò chơi, sinh hoạt văn hoá dân gian độc đáo như lễ hội Tây Thiên, chọi trâu (Hải Lựu), kéo song (Hương Canh), hát Sọng cô của dân tộc Sán Dìu…Phong trào xây dựng gia đình, làng xã, cơ quan văn hoá được đẩy mạnh và đạt nhiều thành tựu
Trang 19Mạng lưới y tế trên địa bàn đã đáp ứng cơ bản nhu cầu phòng bệnh và khám chữa bệnh của nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc Nhiều năm qua không để xẩy
ra các dịch bệnh lớn trên địa bàn Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao Đảm bảo cung cấp đủ và kịp thời thuốc phòng bệnh và chữa bệnh có chất lượng Công tác xã hội hoá y tế bước đầu đã được triển khai, đặc biệt trong lĩnh vực khám chữa bệnh - đa dạng các loại hình dịch vụ y tế, góp phần tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trong tỉnh và một
số tỉnh lân cận
Các chính sách xã hội được tỉnh quan tâm thực hiện, hàng năm giải quyết việc làm khoảng 20.000 lao động Tỉnh đã xoá hộ đói, mỗi năm giảm từ 2-3% hộ nghèo Công tác xã hội được duy trì thường xuyên, chăm sóc và giải quyết tốt chế độ, chính sách cho các đối tượng được hưởng Phong trào đền
ơn đáp nghĩa, thực hiện chính sách xã hội đối với người có công được quan tâm; Công tác chăm sóc thương binh, bố mẹ liệt sỹ già yếu cô đơn, con liệt sỹ,
mồ côi đã được các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội quan tâm qua nhiều hoạt động thiết thực và có hiệu quả An ninh chính trị được giữ vững, trật tự
an toàn xã hội đảm bảo, quốc phòng được củng cố, tăng cường Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng lên về nhiều mặt Bộ mặt của đô thị và nông thôn có nhiều đổi mới Vĩnh Yên từ một thị xã nhỏ, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp đã trở thành một thành phố công nghiệp năng động, đầy tiềm năng phát triển; thị xã Phúc Yên trở thành một trung tâm công nghiệp lớn; Bình Xuyên từ huyện nông nghiệp trở thành huyện công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh [106, tr 40-56]
Theo tổng điều tra dân số ngày 01-4-2009, số dân cả tỉnh là là 1.003.000 người, năm 2010 là 1.010.400 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tỉnh Vĩnh Phúc khá cao, năm 2008 là 14,92‰, năm 2009 là 14,13‰, năm
2010 là 14,1‰ Toàn tỉnh có trên 11 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với 95,72% dân số, còn lại là các dân tộc thiểu số như: Sán Dìu,
Trang 20Cao Lan, Nùng, Dao, Tày, Mường, Ngái, Lào, Hoa, Thái chiếm 4,28% dân số Trong số các dân tộc thiểu số có dân tộc Sán Dìu chiếm tỷ lệ dân số cao nhất (3,93% tổng số dân), còn lại các dân tộc khác chỉ chiếm tới dưới 0,08% dân số Các dân tộc có phong tục tập quán với những đặc trưng văn hoá dân tộc riêng, sống tập trung thành các làng, bản, ở 14 xã thuộc bốn huyện, thị xã là: huyện Lập Thạch, huyện Tam Đảo, huyện Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên [106, tr 16-18]
Văn hoá của mỗi dân tộc trên đều đa dạng và phong phú, với những bản sắc riêng, thể hiện trên các lĩnh vực văn hoá vật thể (làng bản, nhà cửa, trang phục, ẩm thực, công cụ, phương tiện vận chuyển, vũ khí và văn hoá phi vật thể (tín ngưỡng dân ca, dân nhạc, dân vũ, văn nghệ dân gian ) Một số sản phẩm văn hoá phi vật thể của các dân tộc thiểu số ở Vĩnh Phúc được các nhà nghiên cứu đánh giá cao như hát sọng cô, đi cà kheo, kéo co, đánh khăng, đánh cẩu của dân tộc Sán Dìu, múa tết nhảy, các điệu hát vi đường, gia hội, phong đăng, lồ xấy của dân tộc Dao, các điệu hát như sinh ca, vèo ca, các điệu múa đèn, múa chim gâu, múa xúc cá, múa kéo quân của người Cao Lan Tất cả đều mang một nét văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú
Trong công cuộc CNH-HĐH hiện nay, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, bước đầu đi vào ổn định, tạo môi trường và động lực cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của địa phương Trong thời gian qua, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đã được hồi sinh Nhiều di tích lịch sử đã có điều kiện được tu sửa, nâng cấp, bảo tồn, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa quan trọng của nhân dân trong tỉnh Nhiều di tích lịch sử trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn khách du lịch trong tỉnh, trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch Vĩnh Phúc, đồng thời đóng góp vào nguồn thu ngân sách của tỉnh, thiết thực góp phần vào công cuộc CNH-HĐH của tỉnh
Bên cạnh những thuận lợi và thế mạnh cơ bản, trong quá trình phát triển của mình, Vĩnh Phúc cũng còn những khó khăn và hạn chế Một trong những
Trang 21khó khăn lớn nhất là nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, chưa có tích lũy, đời sống của một bộ phận cư dân còn khó khăn, dẫn đến hạn chế khả năng tự đầu
tư phát triển Cơ sở hạ tầng còn yếu kém và chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa và phát triển thương mại trong cơ chế thị trường Những năm gần đây, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng chưa
đủ để đảm bảo phát triển ổn định và bền vững Đó là những thách thức cơ bản của Vĩnh Phúc khi bước vào công cuộc CNH-HĐH Hoạt động văn hóa, xã hội còn một số mặt bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế An ninh trật tự
ở một số địa phương, cơ sở còn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định Hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn một số hạn chế Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa cao, nội dung sinh hoạt chậm đổi mới Những khó khăn này cũng tác động đáng kể đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc
- Khái niệm Di sản:
Theo nghĩa Hán Việt di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản
là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: di sản là cái của thời trước để lại [56, tr 2] Như vậy, di sản văn hóa được hiểu là
Trang 22“chỉ chung cho các tài sản văn hoá như văn học dân gian, các công trình kiến
trúc, các tác ph ẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học… mà các thế hệ trước để
l ại cho thế hệ sau” [39, tr 667] Theo Luật Di sản văn hoá thì di sản là “sản
ph ẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền
t ừ thế hệ này qua thế hệ khác” [54, tr 12]
Khái niệm di sản có sự thay đổi theo thời gian và không gian Gần đây, khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ nữa vì nó liên quan đến quá trình chọn lọc quá khứ, nhất là đối với các di sản của cộng đồng (như đối với trường hợp lễ hội) Không phải bất kỳ quá khứ
nào cũng có thể trở thành di sản Tôi đồng ý rằng “di sản là sự lựa chọn ký
ức, báu vật của cộng đồng từ những quá khứ lịch sử để thể hiện cho nhu cầu,
nguy ện vọng, mong muốn của xã hội hiện tại” [83, tr 78-79]
- Khái niệm Di sản văn hóa:
Di sản văn hoá được hiểu là những gì có giá trị do tổ tiên, cha ông truyền lại cho con cháu, hoặc nói rộng hơn là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Tuy nhiên, điều này trên thực tế chưa hoàn toàn thoả mãn những suy luận logic muốn tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm này Không phải bất cứ tài sản gì do thế hệ trước
để lại cho thế hệ sau cũng được xem như di sản Bởi bên cạnh những phong tục, tín ngưỡng được xem là di sản quý báu do tiền nhân để lại cho thế hệ chúng ta ngày hôm nay, nhiều phong tục, tín ngưỡng bị xem là hủ tục lạc hậu
Trong phần mở đầu của Luật Di sản văn hóa nêu rõ: "Di sản văn hóa Việt
Nam là tài s ản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận
c ủa di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ
n ước của nhân dân ta" [54, tr 2] Di sản văn hóa tồn tại dưới hai dạng là di sản
văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
- Khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể:
Tại chương 1 - điều 4 của Luật Di sản văn hóa định nghĩa: "Di sản văn
hóa phi v ật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được
Trang 23l ưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền
ngh ề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói,
ch ữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn
x ướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền
th ống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục
truy ền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [54, tr 2]
- Khái niệm di sản văn hóa vật thể:
Trong Luật di sản văn hóa thì văn hóa vật thể "là sản phẩm vật chất có
giá tr ị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam
th ắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [54, tr 2]
- Khái niệm Di tích:
Theo Hán Việt tự điển di là cái sót lại, rơi lại, để lại; tích là tàn tích,
dấu vết Vậy di tích là tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ
- Khái niệm Di tích lịch sử văn hóa:
Lu ật Di sản văn hóa nêu rõ: "Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây
d ựng, địa điểm và các di vật thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử,
v ăn hoá, khoa học”
Di tích l ịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
a, Công trình xây dựng, địa điểm gắn với các sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước
b, Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;
c, Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến;
d, Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;
đ, Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến túc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử
- Khái niệm Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
Trang 24"Bảo vệ" được sử dụng nhằm mục đích đề cao tính pháp lý của hoạt động tổ chức quản lý, giữ gìn, đặc biệt là việc xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản có tính pháp quy để xác định đối tượng và khu vực bảo vệ của các di sản Mặt khác, khái niệm này cũng bao hàm các hoạt động khác như tu sửa, tôn tạo, bảo quản, gia cố nhằm duy trì tính nguyên gốc và
sự toàn vẹn của các di sản văn hoá
"Phát huy" trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của di sản văn hoá trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tình cảm; đồng thời, khái niệm
"phát huy" cũng đã bao hàm cả các hoạt động khai thác Tuy nhiên, nếu sử dụng từ "khai thác" thay cho "phát huy" di sản văn hoá thì sẽ bị hiểu là quá thiên về tính hiệu quả kinh tế trong sử dụng
Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa luôn gắn kết chặt chẽ, biện chứng
Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối, ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị của di sản Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản tốt nhất, lưu giữ những giá trị đó trong ý thức cộng đồng xã hội
Di tích lịch sử và di tích văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau Di tích lịch sử nào cũng có yếu tố văn hóa và di tích văn hóa luôn hàm chứa trong nó yếu tố lịch sử Ví dụ, sự kiện Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Đông Hán năm 40 là một sự kiện lịch sử, mở đầu cuộc đấu tranh chống ách cai trị của Trung Hoa Sau khi Hai Bà Trưng mất, nhân dân lập đền thờ để tỏ lòng thương tiếc Vậy đền thờ Hai Bà Trưng ở Vĩnh Phúc trước hết là một di tích lịch sử Tuy nhiên, hàng năm dân chúng địa phương khắp nơi trong cả nước đến đền thờ Hai Bà Trưng tổ chức lễ dâng hương kỉ niệm tưởng nhớ công lao của hai bà, tổ chức các lễ hội văn hóa ở đây Do đó, đền thờ Hai Bà Trưng còn là một di tích văn hóa Thật khó tách bạch giữa di tích lịch sử và di tích văn hóa
Trang 25là một trong những vùng đất cổ, là trung tâm của nước Văn Lang Toàn tỉnh hiện có 1.265 di tích trong đó 65 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 310 di tích xếp hạng cấp tỉnh
Bảng 1.1 Số lượng di tích phân bố theo địa bàn huyện
Loại Huyện Đìn
Ngu ồn: Điều tra di sản văn hoá phi vật thể Vĩnh Phúc 2005-2007
Bảng thống kê này cho thấy mật độ phân bố các di tích lịch sử khá đều khắp các huyện thành thị trên địa bàn tỉnh Loại hình di tích chủ yếu là đình,
Trang 26chùa, đền Các di tích tập trung chủ yếu ở các huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, là những địa bàn đồng bằng, trung du, thuận lợi cho đi lại, phân bố các di tích
Một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Phúc như sau:
1 Khu di tích danh th ắng Tây Thiên
Khu danh thắng Tây Thiên thuộc dãy núi Tam Đảo, được coi là nơi
“Linh khí núi sông đất Việt” Khu danh thắng này gồm một quần thể di tích
lịch sử - văn hoá lâu đời với hệ thống đình, đền, chùa, bia đá cổ và hệ động - thực vật phong phú, phong cảnh tự nhiên hùng vĩ với suối Vàng, thác Bạc, khe Trường sinh, suối Giải oan, cây đa 9 cội… phân bố trên một diện tích khoảng 15 km2, trong đó khu đền Thượng nằm ở độ cao 530 m so với mực nước biển, gắn với truyền thuyết về Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu1 Tây Thiên được xem là một trong những nơi phát tích của đạo Phật ở Việt Nam từ thế
kỷ thứ II TCN với hàng loạt các chùa cổ như chùa Tây Thiên (Tây Thiên Tự), còn gọi là chùa Thượng, chùa Thiên Ân, chùa Phù Nghì, chùa Đồng Cổ, chùa
Gốc Gạo, chùa Đổ, chùa Chân Tiên… Tên gọi Tây Thiên, tức “Bầu trời Tây”
mang ý nghĩa là “nơi các nhà sư Tây Thiên (Ấn Độ) tu hành”, được đặt để ghi nhớ giáo đoàn đầu tiên từ Ấn Độ vào Việt Nam truyền đạo Vào thế kỷ III TCN, phái bộ thứ tám của vua A Dục đã tới nơi hoằng dương Phật pháp Bị thu hút bởi cảnh sắc núi non liên hoàn, hùng vĩ, giáo đoàn đã dừng chân tu hành, xây dựng thành Nê Lê và chùa Địa Ngục Từ thời Trần, Tây Thiên trở thành một trong những trung tâm Phật giáo của đất nước Tại đây có ba bia
mộ đá và di cốt của Giác Linh Ngã Thiền sư, Võng Sơn Thiền sư, Cúc Khê Thiền sư Ngoài ra, còn nhiều nền chùa cổ và các di chỉ hiếm hoi dưới nền đất
rừng Tây Thiên được ghi lại trong sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn
Tây Thiên cũng là nơi ẩn tu nghiêm cẩn của các sư cô tại Tịnh thất Tây Thiên
1 Theo truyền thuyết, bà Lăng Thị Tiêu là Chính phi của vua Hùng Vương đời thứ 7, có công giúp vua Hùng
Trang 27theo Phật giáo Mật tông, truyền thừa Drukpa Do thời gian, hầu hết các chùa đều đã bị đổ nát, chỉ còn dấu tích hoặc mới được dựng lại, chỉ còn chùa Tây Thiên Tây Thiên còn có hệ thống di tích thờ thần như đền Tây Thiên, đền Thõng, đền Cả, đền Cậu, đền Cô, đền Mẫu Sinh, mẫu Hóa [31]… Di tích danh thắng Tây Thiên được xếp hạng quốc gia năm 1991 theo Quyết định số 1371/QĐ của Bộ Văn hóa Thông tin
2 Đền thờ Hai Bà Trưng
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43) là cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên giành thắng lợi của nhân dân ta, lật nhào ách thống trị kéo dài 219 năm của phong kiến phương Bắc đô hộ Nhân dân Vĩnh Phúc đã lập đền thờ tại thôn
Hạ Lôi, xã Mê linh, huyện Mê Linh, hàng năm tổ chức lễ hội tưởng nhớ công đức của Hai Bà và các tướng lĩnh vào ngày mùng Sáu tháng Giêng Đền thờ Hai Bà toạ trên một khu đất cao thoáng đãng Theo thuyết phong thuỷ: Đền
toạ lạc trên thế đất "Trán con voi trắng" trong hình cao “Bạch tượng uyên hồ”
(voi trắng uống nước trong hồ), nay vẫn còn vết tích của những nơi như ao Mắt Voi, vòi voi và hồ Ao bàng, phía trước là đường kéo quân của Hai Bà Trưng xưa kia chạy vòng phía trước đền Sau đền là khu vực thành cổ gồm hai lớp: trong là thành, ngoài là quách, dân gian gọi là Thành Ống
Đền thờ Hai Bà Trưng hiện nay có các công trình: Tam quan, nhà tiền
tế, nhà trung tế và hậu cung Phía ngoài hậu cung có cây Lụa già, là hộp thư
bí mật tại đây của cán bộ trong những năm 1943- 1944 Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng, đã chọn đền thờ Hai Bà Trưng làm một trong những nơi hội họp bí mật để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền
ở Thủ đô Hà Nội ngày 19-8-1945
Đền thờ Hai Bà Trưng là di tích lịch sử cách mạng đặc biệt quan trọng, được Nhà nước xếp hạng là di tích cấp quốc gia năm 1980
3 Đền Bắc Cung
Trang 28Đền Bắc Cung còn gọi là đền Thính tọa lạc tại địa phận xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, được coi là một trong năm thần cung thờ Tản Viên Sơn thánh
ở phía Bắc - tả ngạn sông Hồng nên được gọi là Đền Bắc Cung, còn lại 3 cung Đông, Tây, Nam đều ở phía Nam sông Hồng Nhớ ơn Tản Viên Sơn Thánh huy động nhân dân chiến thắng lũ lụt sông Hồng, dẹp nạn xâm lăng, thống nhất quốc gia, lại thường hiển linh trừ tai giải ách cho chúng sinh, nên nhân dân tôn vinh ngài là một vị trọng tứ bất tử và lập đền thờ
Hiện nay chưa có tài liệu nào đề cập đến đền được xây dựng vào năm nào Năm 1900, viên Tri huyện Yên Lạc đã cho tu sửa đền Năm 1911, đền lại được tu sửa lần thứ hai và lần này có thay đổi một số chi tiết như dựng thêm lầu chuông, lầu trống Năm 1919, dân làng tập trung xây dựng trước đền một cổng tam quan và 7 gian tiền tế Qua tấm bia ghi công đức xây dựng đền và những lần trùng tu do Tuần phủ Nguyễn Văn Bân biên soạn cho biết vào năm
1923, đền Bắc Cung được tu sửa lần thứ tư, xây thêm ngũ môn rất đồ sộ với dáng vẻ cổ kính Ngày 21-01-1992, đền Bắc Cung được công nhận là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 97/QĐ của Bộ Văn hóa Thông tin
4 Di ch ỉ khảo cổ học Đồng Đậu
Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu nằm tại thôn Đông thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc Đây là một trong những di tích lịch sử văn hoá quý hiếm vào bậc nhất về khảo cổ học và là một trong những cái nôi của người Việt cổ và nền văn minh sông Hồng, nơi lưu giữ bốn tầng văn hoá: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn Lớp sớm nhất dưới cùng: Giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, tiếp theo là các lớp văn hoá Đồng Đậu, Gò Mun và trên cùng thuộc văn hoá Đông Sơn Bốn giai đoạn văn hoá khảo cổ nối tiếp nhau liên tục không có thời kỳ gián cách Di chỉ Đồng Đậu tồn tại trong khoảng 1.000 năm mà niên đại khởi đầu vào khoảng 1.500 năm TCN, kéo dài từ giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, qua văn hoá Đồng Đậu đến văn hoá Gò Mun, tức vào
Trang 29khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ VIII TCN, nằm trong quá trình dựng nước của các vua Hùng Vì vậy, Đồng Đậu được xếp vào loại di tích đặc biệt quan trọng của tỉnh, đã được lập quy hoạch tổng thể để có phương án bảo quản, sử dụng, đầu tư
và khai thác để phát huy có hiệu quả nhất trong tương lai Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia theo quyết định số 06/2000/QĐ-BVHTT ngày 13-4-2000 của Bộ Văn hóa Thông tin
bà thánh mẫu Lăng Thị Tiêu Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 25-1-1961, sau khi
về thăm hợp tác xã nông nghiệp Bình Dương, huyện Vĩnh Tường, nơi có phong trào trồng cây điển hình của miền Bắc, Bác Hồ đã thăm và nghỉ trưa tại chùa Hà, xuống giếng Ngọc (giếng Hà) để rửa tay Bác khen nước giếng chùa
Hà vừa trong vừa mát Tưởng nhớ công ơn của Bác đối với dân tộc và nhân dân trong tỉnh, địa phương đã dựng nhà lưu niệm Bác trong khuôn viên chùa Năm 1995, chùa được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh Chùa Hà Tiên được đánh giá là một trong những đại danh lam của thành phố Vĩnh Yên nói riêng và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung, thu hút đông đảo du khách thập phương
6 Đền thờ Trần Nguyên Hãn
Đền thờ Trần Nguyên Hãn thuộc xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, hay còn gọi là đền Tả tướng và đền Thượng, là một công trình kiến trúc nghệ thuật, được xây dựng từ thời Hậu Lê Di tích này gắn liền với thân thế và sự nghiệp của người anh hùng dân tộc Trần Nguyên Hãn Ông là một trong những quý tộc nhà Trần, là cháu bốn đời quan Tư đồ Trần Nguyên Đán (đời
Trang 30vua Trần Nghệ Tông (1370 – 1372), là cháu bảy đời của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải) Trong những năm đầu thế kỷ XV, Đại Việt chìm đắm dưới
sự thống trị tàn bạo của nhà Minh (Trung Quốc) Trần Nguyên Hãn đã chiêu
mộ trai tráng ở địa phương để thành lập một đội quân chống giặc Minh Sau đó, ông đã tìm đến Lê Lợi, tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418) và trở thành một vị tướng tài đức song toàn, có công lớn giúp Lê Lợi đánh tan quân xâm lược nhà Minh, giành lại nền độc lập cho nước nhà Tên tuổi ông gắn với những chiến thắng vang dội như Tân Bình - Thuận Hóa, Bố Chính, Đông Bộ Đầu, Xương Giang Sau khi Lê Lợi lên ngôi, ông được ban quốc tính và phong chức Tả tướng quốc Năm 1429, ông phải trẫm mình ở bến Đông Hồ do bị gian thần hãm hại Hai mươi sáu năm sau, dưới triều vua Lê Nhân Tông (1455),
Trần Nguyên Hãn được minh oan và phong hiệu “Khai quốc nguyên huân” Nhà Mạc truy phong ông là Tả tướng quốc trung liệt Đại vương Đền thờ ông
được xây dựng trên một thế đất bằng phẳng, cao, rộng tương truyền chính là nơi đặt phủ đệ của Trần Nguyên Hãn Không những có giá trị về lịch sử, đền thờ Trần Nguyên Hãn còn có giá trị về văn hóa, lễ hội và tâm linh Sau khi Trần Nguyên Hãn được minh oan, nhà vua đã cho mở hai ngày tiệc chính vào ngày sinh và ngày tử của ông Đền được công nhận di tích lịch sử quốc gia ngày 15-01-1984 theo quyết định số 06/VH-QĐ của Bộ Văn hóa Thông tin
Các di tích lịch sử ấy gắn liền với quá trình phát triển của Vĩnh Phúc, là động lực góp phần vào sự nghiệp đấu tranh, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, gắn với đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh
Đó là tài sản quý báu cần được bảo vệ và phát huy giá trị
1.2.3 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch
sử trước năm 1997
Trước năm 1997, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và thực hiện của UBND tỉnh Vĩnh Phú, hoạt động bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa đã thu được những kết quả nhất định: “Hoạt động lễ hội truyền thống, ngày hội văn
Trang 31hóa th ể thao các dân tộc, phong trào hát ru, hát dân ca đã và đang phục hồi
Các di tích l ịch sử, văn hóa cách mạng được bảo tồn, tôn tạo…” [91, tr 12]
Nối tiếp tư tưởng bảo tồn và phát triển di sản văn hóa trong thời kỳ đổi mới từ các đại hội trước, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ VIII
(1995) đã nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của các di sản văn hóa “đây là
v ốn quý của vùng đất cội nguồn, có tác dụng giáo dục rất lớn…” các giá trị
truyền thống cho nhân dân, đồng thời tiếp tục khẳng định việc cần thiết phải
bảo tồn và phát huy giá trị các di sản “đây là một công việc quan trọng ” nhằm “phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa quê hương đất Tổ”, quảng
bá nền văn hóa đặc sắc [92, tr 31-32]
Nhằm giúp nhân dân hiểu rõ hơn về lịch sử địa phương, Đảng bộ tỉnh
đã chủ trương yêu cầu các huyện, xã nhanh chóng tiến hành biên soạn và xuất bản lịch sử địa phương Ở nhiều nơi có điều kiện tiến hành sưu tầm hiện vật, xây dựng nhà bảo tàng Từ đó, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ý thức giữ gìn, phát huy giá trị các di tích lịch sử trong điều kiện mới
Nhằm góp phần khơi dậy nét đẹp văn hóa truyền thống của nhân dân, các dân tộc trên địa bàn tỉnh, các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương đã
chú trọng lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc vận động “Xây dựng xã, phường,
th ị trấn, khu dân cư văn hóa” và “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới
ở khu dân cư” Các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng được bảo tồn, tôn tạo
nhằm phục vụ tốt hơn đối với công tác giáo dục truyền thống cho nhân dân các dân tộc trong tỉnh
Trên cơ sở tiếp thu và quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 4
khóa VII của Đảng về Chấn hưng nền nghệ thuật dân tộc, Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phú đã thực hiện chương trình chống xuống cấp di tích, công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích đã được chú trọng và đầu tư bước đầu có hiệu quả, trọng điểm Công tác khảo cứu xếp hạng di tích cũng đã bước đầu tạo cơ sở pháp lý ngăn
Trang 32chặn các hiện tượng vi phạm di tích và phát động phong trào quần chúng tham gia bảo vệ di tích Tính đến hết tháng 12-1996, toàn tỉnh đã có 90 di tích được xếp hạng, trong đó có 31 di tích cấp quốc gia [82]
Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu sau khi tách tỉnh, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú coi việc tập trung phát triển kinh tế, xã hội và tăng cường công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu Do chưa nhận thức đầy đủ được tầm quan trọng của các di tích lịch sử, xuất phát từ điều kiện khách quan nên Đảng
bộ tỉnh Vĩnh Phú mới chỉ đề cập tới một cách chung chung và khái quát, đặt hoạt động bảo tồn, phát huy di tích lịch sử trong hoạt động văn hóa, văn nghệ thể thao nói chung, chưa thực sự có một văn bản pháp quy hay nghị quyết quan trọng nào mang tính định hướng, chỉ đạo chung cho công tác bảo tồn và phát huy di tích lịch sử Giá trị tinh thần to lớn của các di tích lịch sử chưa được nhận thức đầy đủ Điều này tất yếu dẫn tới hệ quả là công tác quản lý, bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, đặc biệt là sự lỏng lẻo, thiếu đồng bộ… khó tạo ra sự tương thích giữa bảo tồn và phát triển, chưa nói đến nguy cơ hủy hoại di sản, di tích, gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân các dân tộc trong tỉnh
Một số hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch
sử trước năm 1997 ở Vĩnh Phú như sau:
Một là, công tác bảo quản cổ vật khi tìm thấy còn chưa thực sự được quan tâm đúng mức hay chú trọng bảo quản Điều này xuất phát từ thực tế khách quan, do sự tàn phá của tự nhiên, do bảo tàng tỉnh chưa hoàn thiện… Bên cạnh đó là sự thiếu quan tâm, chỉ đạo kịp thời của chính quyền các cấp Thực trạng này dẫn đến hệ quả là sự hư hại của hàng chục mẫu cổ vật, di vật văn hóa có giá trị
Hai là, các di tích như đình, chùa, miếu… vẫn chưa thực sự phát huy hết vai trò quan trọng của mình Đa số di tích lịch sử thuộc quyền quản lý của địa phương nên nhiều di do thiên tai, do sự vô ý của con người, sự thờ ơ
Trang 33không quan tâm của các cấp chính quyền địa phương đã bị hủy hoại, nhiều công trình đổ nát chỉ còn lại vết tích Phong trào bảo tồn, phát huy giá trị các
di tích lịch sử chưa đi sâu vào trong đời sống nhân dân Tại các di tích có tổ chức các hoạt động lễ hội, nhiều nơi khâu tổ chức, quản lý còn nhiều lỏng lẻo dẫn đến hiện tượng mê tín, dị đoan, môi trường bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích kém lành mạnh và bền vững
Ba là, trong khi tiến hành trùng tu di tích có những cấu kiện kiến trúc
và điêu khắc có tuổi đời hàng thế kỷ bị loại bỏ khỏi kiến trúc di tích để làm mới; nền gạch đỏ rêu phong cổ kính bị bóc đi để thay bằng nền gạch đá hoa hiện đại; bệ đặt tượng được bê tông hóa; tượng cổ bị quét sơn công nghiệp… Những cách làm này đã làm cho không gian cổ kính, thâm nghiêm của nhiều
di tích bị biến dạng hoặc bị phá vỡ Người thực hiện việc trùng tu di tích lại không đủ trình độ và kinh nghiệm Hậu quả là một số di tích đã mất đi tính nguyên khởi, nguyên vẹn Một khi đã phá hỏng và làm mới di tích, cơ hội để phục dựng nguyên trạng sẽ khó khăn và tốn kém hơn rất nhiều
Bốn là, đội ngũ cán bộ quản lý di tích ít am hiểu về di tích, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ Đội ngũ chuyên gia lịch sử văn hóa vốn mỏng lại phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau Tình trạng chồng chéo trong quản lý di tích diễn ra khá phổ biến Ở một số nơi, trên một địa bàn có nhiều đơn vị cùng quản lý một số di tích, cho nên khó giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng và thực hiện bảo tồn, phát huy giá trị di tích một cách hiệu quả Mô hình quản lý di tích cũng thiếu thống nhất, cho nên chức năng, chế
độ, chính sách, nội dung và kinh phí hoạt động của các ban quản lý di tích mỗi nơi một cách, mạnh ai nấy làm Khâu giám sát việc quản lý, bảo tồn và trùng tu di tích vẫn bị buông lỏng, thậm chí có hiện tượng chỉ quan tâm “tính vật chất” của di tích qua các công trình kiến trúc cụ thể mà xem nhẹ “tính tinh thần” của nó
Trang 34Năm là, công tác tuyên truyền, giới thiệu hệ thống các di tích lịch sử nói riêng, di sản văn hóa nói chung trên địa bàn tỉnh còn chưa phổ biến và rộng rãi trong phạm vi cả nước cũng như quốc tế Khai thác và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa vào mục đích thương mại, du lịch còn thấp, chưa nhận thức và đánh giá hết tiềm năng du lịch của tỉnh, mặc dù Vĩnh Phúc là một trong những địa phương có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh
Tiểu kết chương 1
Vĩnh Phúc là vùng đất có lịch sử phát triển lâu dài, là tỉnh có nhiều điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thuận lợi Với vị trí chiến lược nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc, Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện giao lưu, trao đổi kinh tế, văn hóa với các địa phương trong nước và quốc tế
Với bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa, nhân dân các dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng được một hệ thống các di tích lịch sử khắp các địa phương, phong phú về loại hình, mang nhiều giá trị nhân văn Nổi bật là những di tích lớn, nổi tiếng xa gần như di tích danh thắng Tây Thiên, đền Hai
Bà Trưng, di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu, tháp Bình Sơn, đền thờ Trần Nguyên Hãn… Những di tích lịch sử này không chỉ là niềm tự hào của nhân dân Vĩnh Phúc mà còn là một trong những nguồn lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc
Trước năm 1997, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của tỉnh tuy đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng do những hạn chế khách quan và chủ quan, công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú còn gặp khá nhiều khó khăn Những hạn chế và khó khăn này sẽ được tiếp tục giải quyết sau khi chia tách tỉnh Vĩnh Phú Thực tế sau khi chia tách tỉnh, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử được Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc quan tâm nhiều hơn Sự đầu tư không còn theo phạm vi diện rộng, mà đã đi vào chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm
Trang 35hóa tiên ti ến, đậm đà bản sắc dân tộc… Kế thừa và phát huy các giá trị tinh
th ần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Bảo
t ồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh của đất nước
Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt
quan tâm gìn gi ữ và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy
truy ền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc… Khai thác và
phát tri ển mọi sắc thái và giá trị văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc trên đất
n ước ta…” [20, tr 111]
Tại Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa VIII (tháng
7-1998), lần đầu tiên Đảng đưa ra nghị quyết riêng về Xây dựng và phát triển
n ền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết Trung
ương 5 khóa VIII đã thể hiện sự phát triển cả nhận thức và tư duy lý luận về văn hóa, lãnh đạo văn hóa của Đảng Đó cũng chính là kết tinh của sự kế thừa
và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, về xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa, về phương pháp lãnh đạo văn hóa, quản lý văn hóa; là sản phẩm từ tổng kết lý luận và thực tiễn trong quá trình hơn 70 năm lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo văn hóa của Đảng
Trang 36Nghị quyết đã khẳng định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết
c ộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những
giá tr ị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy
nh ững giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách
m ạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể” [19, tr 63]
Ngày 12-8-1998, BCH Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 38-CT/TW “Về
vi ệc tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII” Ngày 17-9-1998, Chính phủ ra “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên ti ến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Chương trình đã đề cập tới đề án bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc như sau:
Một là, xây dựng phương án bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, bao gồm các di sản văn hóa dân gian truyền thống, chú trọng các di sản văn hóa quốc gia, di sản văn hóa đã được UNESCO công nhận, di sản cách mạng tiêu biểu và di sản cảnh quan thiên nhiên môi trường
Hai là, tiến hành tổng điều tra di sản văn hóa, từng bước quy hoạch có phương thức bảo tồn và biện pháp quản lý
Ba là, có chương trình phiên dịch, giới thiệu kịp thời kho tàng văn hóa Hán - Nôm
Bốn là, tiếp tục triển khai chương trình về văn hóa với 4 mục tiêu: chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử; phát triển điện ảnh Việt Nam; phát triển văn hóa, thông tin cơ sở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; điều tra, sưu tầm, nghiên cứu và phát huy vốn văn hóa dân tộc (văn hóa phi vật thể) [11]
Những quan điểm, chủ trương và đường lối lãnh đạo của Đảng và những biện pháp thực hiện của Chính phủ là những định hướng lớn trong hoạt động bảo tồn, bảo tàng trên quy mô cả nước, là kim chỉ nam cho Đảng bộ các
Trang 37tỉnh, trong đó có Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trong giai đoạn 1996-2006
Trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm, mục tiêu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử của Đảng được thông qua các kỳ Đại hội trước, đặc biệt là trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Báo cáo chính trị của BCH
Trung ương Đảng khóa IX tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa tiên
ti ến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự
phát tri ển kinh tế - xã hội” [21, tr 114] Quan điểm coi văn hóa là nguồn lực
để phát triển kinh tế - xã hội của Đảng là quan điểm khoa học, hiện đại và
mang tính thực tiễn cao Đại hội cũng khẳng định: “Bảo tồn và phát huy các
di s ản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết
và thu ần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử và danh
lam th ắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền… chú trọng gìn
gi ữ, phát triển các di sản văn hóa phi vật thể, tôn tạo và quản lý tốt các di
s ản văn hóa vật thể, các di tích lịch sử; nâng cấp các bảo tàng” [21, tr 208]
Ngày 29-6-2001, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Di sản văn hóa Luật có hiệu lực từ
ngày 01-01-2002 Với các điều khoản cụ thể, rõ ràng, phạm vi điều chỉnh của
bộ luật bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể, quy định cụ thể việc kiểm
kê, sưu tầm vốn văn hóa truyền thống của người Việt và các tộc người thiểu số; bảo tồn các làng nghề truyền thống, các tri thức về y, nghệ sĩ bậc thầy trong các ngành nghề truyền thống; về quản lý bảo vệ và phát huy giá trị các
di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cùng việc xây dựng các bộ sưu tập và tổ chức các bảo tàng; việc mở hệ thống các cửa hàng mua bán cổ vật, lập các bảo tàng
và sưu tập tư nhân; thống nhất việc sử dụng các nguồn thu và trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp ngân sách cho hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa…
Trang 38Luật di sản Văn hóa được ban hành nhằm bảo vệ và phát huy những
giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Đây rõ ràng là một bước tiến, thể hiện sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân về tài sản văn hóa quốc gia, là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam
Ngày 06-02-2003, Bộ Văn hóa Thông tin ban hành Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT, về quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử khi đưa ra những quy định về các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi có liên quan đến di tích nói chung
Tháng 7-2004, Hội nghị lần thứ 10 BCH Trung ương Đảng khóa IX đã kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa XIII Nghị quyết kết luận: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ
phát tri ển kinh tế làm trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với
không ng ừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự
phát tri ển toàn diện và bền vững của đất nước” [22, tr 242] Kết luận quan
trọng này là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII
Những quan điểm trên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ
và phương hướng mang tính chiến lược, có tính định hướng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, là cơ sở cho các Đảng bộ tỉnh đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa địa phương
Trang 392.2 Sự lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch
Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Xây dựng các bia tưởng niệm, đài chiến thắng để giáo dục truyền thống; sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị ngày càng cao
Tăng cường công tác vận động xây dựng gia đình văn hóa, làng xã văn hóa Coi trọng việc xây dựng nếp sống văn minh hội hè lành mạnh, thực hiện tốt cuộc vận động lập lại trật tự kỷ cương trong lĩnh vực văn hóa, kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu về việc cưới, việc tang, khao thọ, giỗ chạp, mừng kỷ niệm… Củng cố, tăng cường mạng lưới văn hóa cơ sở, phát triển phong trào văn hóa quần chúng, phòng đọc sách, thư viện; khai thác và phát huy sắc thái và giá trị văn hóa, văn nghệ của các dân tộc trong tỉnh” [96, tr 42-46]
2 Tỉnh Vĩnh Phú tách thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ ngày 01/01/1997 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10,
Trang 40Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã thông qua “Chương
trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng
và phát tri ển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên địa
bàn t ỉnh Vĩnh Phúc” Trong đó, vấn đề bảo tồn và phát huy các di sản văn
hóa, từng bước xây dựng thể chế văn hóa và thiết chế văn hóa đồng bộ, hoạt động có hiệu quả được xác định: “Vĩnh Phúc có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh nổi tiếng cả nước như đền Hai Bà Trưng, đình Thổ Tang, Hương Canh, tháp Bình Sơn; Tây Thiên, hồ Đại Lải… cùng nhiều làng nghề truyền thống như đục đá Hải Lựu, mây tre đan Tiên Lữ, mộc Bích Chu, Thanh Lãng, rèn Lý Nhân… Đó là những di sản vô giá về văn hóa vật thể của Vĩnh Phúc Bởi vậy các cơ quan chức năng, các địa phương, các cơ sở cần có
kế hoạch bảo tồn, phát huy vốn di sản văn hóa trong các chương trình phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ Ngoài ra còn hàng loạt di sản văn hóa phi vật thể khác như những làn điệu Trống quân (Đức Bác), Sa Mạc (Bồng Mạc); hát
ru và các điệu múa dân tộc; Những nét đẹp trong các lễ hội truyền thống ở các địa phương… Sở Văn hóa Thông tin Thể thao và các đơn vị hoạt động văn hóa, văn học - nghệ thuật có kế hoạch khai thác, sưu tầm vừa để bảo tồn vừa sáng tác các tác phẩm văn hóa, văn nghệ phục vụ nhân dân” [93]
Từ ngày 12 đến ngày 15 - 3 - 2001, tại thị xã Vĩnh Yên, đã diễn ra Đại
hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII Đại hội đã thông qua “10
ch ương trình phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm tới (2001 - 2005)” Trong
đó có chương trình “Phát triển các khu du lịch tập trung” xác định: “Xây dựng các khu du lịch tập trung Tam Đảo, Đại Lải, Tây Thiên, Đầm Vạc nhằm đưa du lịch Vĩnh Phúc vào một trong những điểm chương trình du lịch của cả nước… Từng bước nâng cao dân trí trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng và tôn tạo tài nguyên du lịch Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Phấn đấu đưa du lịch Vĩnh Phúc trở thành ngành kinh tế quan trọng trong chiến