1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thi Hương thời Nguyễn (Qua các trường thi Hương Hà Nội, Nam Định và Hà Nam) : Luận án TS. Lịch sử: 62 22 54 01

345 33 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 345
Dung lượng 9,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù thi Hương là kỳ thi cơ bản, quan trọng nhưng dựa vào tính chất và yêu cầu về độ khó tăng dần của các kỳ thi, đa phần các nhà nghiên cứu về giáo dục khoa cử thời trung đại thường t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THỊ HƯƠNG THẢO

THI HƯƠNG THỜI NGUYỄN

(Qua các trường thi Hương Hà Nội,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình khoa học của riêng tôi Các tài liệu, số liệu được sử dụng trong luận án hoàn toàn trung thực, khách quan, khoa học và có xuất xứ rõ ràng Nếu không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, 5 – 2014

Đỗ Thị Hương Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bản Luận án này được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân trong quá trình công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại khoa Lịch sử Tuy nhiên, sự thành công của Luận án còn là kết quả của sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp trong và ngoài khoa Lịch sử

Trước tiên, tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới thầy hướng dẫn là GS.TS Nguyễn Quang Ngọc – nguyên Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi có “duyên” được là học trò của Thầy từ khi làm khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Sử học đến luận văn Thạc sỹ

và giờ là luận án Tiến sĩ Sự trưởng thành của tôi hôm nay trong nghiên cứu khoa học nhờ phần lớn công sức của Thầy

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, khoa Lịch sử: GS TSKH Vũ Minh Giang, PGS TS Vũ Văn Quân, PGS

TS Phan Phương Thảo… - những người luôn động viên, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình làm luận án Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn tới cố PGS TSKH Nguyễn Hải Kế bởi những ý tưởng gợi mở của thầy trong thời gian tôi làm Luận án

Bản luận án cũng không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ của các đồng nghiệp trong và ngoài khoa Sử Tôi thật sự biết ơn họ vì họ đã chia sẻ cùng tôi những khó khăn trong quá trình khai thác và xử lý tư liệu luận án Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ThS Tống Văn Lợi, ThS Nguyễn Ngọc Phúc, ThS Vũ Thị Minh Thắng,

TS Đặng Hồng Sơn, Hà Duy Biển, TS Trần Thái Hà, ThS Trịnh Văn Bằng và nhiều anh chị em khác đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cá nhân, gia đình và các cơ quan, đoàn thể tại Nam Định, Huế và Sài Gòn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điền dã, thực địa Xin gửi lời cảm ơn tới TS Sun Laichen, khoa Lịch sử, trường California State University Fullerton, Hoa Kỳ – người đã giúp đỡ để tôi có cơ hội tiếp cận với những phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu của các học giả nước ngoài trong thời gian tôi học tập tại Mỹ

Bên cạnh thầy cô, đồng nghiệp, tôi gửi lời biết ơn sâu sắc tới sự quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ của bố mẹ và gia đình Đặc biệt, chồng và con trai tôi là chỗ dựa,

là động lực tinh thần để tôi phấn đấu hoàn thành luận án này Bản Luận án vừa là sự trưởng thành trong khoa học vừa là công trình tôi dành tặng cho những người thân trong gia đình

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Đỗ Thị Hương Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Danh mục Bảng

Danh mục Bản đồ - Sơ đồ

Danh mục Biểu đồ

3 Mục đích, giới hạn và phạm vi nghiên cứu 12

Chương 1 THI HƯƠNG THỜI NGUYỄN: MỘT CÁI NHÌN TỔNG QUAN 20

1.1.4 Việc cung cấp vật dụng cho trường thi 25

1.2.2 Nội dung thi Hương và những thay đổi qua các thời kỳ 30

1.4.3 Học vị, ân điển đối với người thi đỗ 47

Trang 6

2.1.3 Những biến đổi của trường thi Hương Hà Nội từ nửa cuối thế kỷ XIX 57

2.2 Nội dung thi Hương truyền thống 64

3.2 Những biến đổi trong nội dung thi Hương truyền thống 100 3.2.1 Nhu cầu sử dụng tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ nửa sau thế kỷ XIX 100

Trang 7

Chương 4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THI HƯƠNG THỜI NGUYỄN 132

4.1 Các trường thi Hương – Tiếp cận so sánh 132 4.1.1 Về lịch sử hình thành, thời gian hoạt động 132

4.2 Mối quan hệ giữa khoa cử và chính trị, văn hóa, xã hội nhìn từ

các trường thi Hương

146 4.2.1 Mối quan hệ giữa khoa cử và bộ máy chính quyền 146 4.2.2 Mối quan hệ giữa khoa cử và đời sống văn hóa, xã hội 150

4.3 Những tương đồng và khác biệt giữa trường thi Hương Việt

Nam và Trung Quốc 162

4.3.3 Về các nội dung liên quan đến sĩ tử và quan trường 167

Tư liệu 1 Nội dung thi Hương truyền thống 256

Tư liệu 2 Quy định về kỳ thi bổ sung của trường thi Hương Nam Định 278

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng trong Nội dung Luận án

Bảng 1.1 Quy định thời gian tổ chức thi Hương của các trường

Bảng 1.2 Nội dung các kỳ thi Hương thời vua Duy Tân

Bảng 2.1 Ngày thi của trường Thăng Long - Hà Nội

Bảng 2.2 Số lượng quan trường trường Thăng Long - Hà Nội thời Gia Long và đầu

Minh Mệnh

Bảng 2.3 Số lượng quan trường trường Thăng Long - Hà Nội thời Minh Mệnh, Tự Đức Bảng 2.4 Các quan Phân khảo, Phúc khảo, Sơ khảo trường Nam Định khoa thi năm 1848 Bảng 2.5 Quê quán Cử nhân trường Thăng Long - Hà Nội

Bảng 3.1 Số lượng quan trường trường Nam Định thời Gia Long và đầu Minh Mệnh

Bảng 3.2 Số lượng quan trường trường Nam Định thời Minh Mệnh và Tự Đức

Bảng 3.3 Số lượng quan trường trường Nam Định và Hà Nam năm 1880 và 1886

Bảng 3.4 Quê quán Cử nhân trường Sơn Nam, Nam Định từ khoa thi 1807 đến 1879 Bảng 3.5 Quê quán Cử nhân trường Hà Nam từ khoa thi 1884 đến 1915

Bảng 3.6 Bổ nhiệm Cử nhân trường Nam Định và Hà Nam

Bảng 4.1 Thời gian hoạt động của các trường thi Hương trong nước

Bảng 4.2 Số Cử nhân của các trường từ năm 1807 đến 1840

Bảng 4.3 Số Cử nhân của các trường từ năm 1841 đến 1918

Bảng 4.4 Số Cử nhân được bổ nhiệm làm quan theo vùng

Bảng 4.5 Số Cử nhân được bổ nhiệm làm quan trong tương quan cả nước

Bảng 4.6 Số lượng người dự thi, thi đỗ các kỳ của các trường thi Hương khoa thi năm

1858

Trang 9

Bảng trong Phụ lục

Bảng 1 Cung ứng của triều đình đối với quan trường thi Hương

Bảng 2 Cung ứng của triều đình đối với các trường thi Hương

Bảng 3 Nội dung các kỳ thi Hương từ thời Gia Long đến Tự Đức

Bảng 4 Số lượng quan trường thời Gia Long và đầu Minh Mệnh

(từ 1807 đến nửa đầu năm 1825)

Bảng 5 Số lượng quan trường thời Minh Mệnh (từ nửa sau năm 1825 trở đi)

Bảng 6 Đề điệu, Giám thí, Giám khảo của trường Thăng Long, Bắc Thành

Bảng 7 Chánh, Phó chủ khảo của trường Bắc Thành, Hà Nội

Bảng 8 Chức vụ, Phẩm hàm của các Chánh, Phó chủ khảo trường Thăng Long - Hà Nội Bảng 9 Giải ngạch của trường Hà Nội

Bảng 10 Số lượng dân đinh một số tỉnh miền Bắc năm 1847

Bảng 11 Số lượng Hương cống/Cử nhân trường Thăng Long - Hà Nội

Bảng 12 Bổ nhiệm Hương cống/Cử nhân trường Thăng Long – Hà Nội

Bảng 13 Ngày tổ chức các kỳ thi ở trường Sơn Nam - Nam Định

Bảng 14 Đề điệu, Giám thí, Giám khảo của trường Sơn Nam (từ 1807 đến 1825) Bảng 15 Chánh, Phó chủ khảo trường Nam Định (từ 1828 đến 1879)

Bảng 16 Chánh, Phó chủ khảo trường Hà Nam (từ 1888 đến 1915)

Bảng 17 Chức vụ, phẩm hàm Chánh, Phó chủ khảo trường Sơn Nam, Nam Định và Hà Nam Bảng 18 Giải ngạch của trường Nam Định

Bảng 19 Số lượng dân đinh một số tỉnh miền Bắc năm 1847 (tiếp theo)

Bảng 20 Số lượng Hương cống/Cử nhân trường Sơn Nam - Nam Định và Hà Nam Bảng 21 Quê quán Hương cống/Cử nhân trường Hà Nội (từ 1813 đến 1915)

Bảng 22 Quy mô các trường thi Hương thời Nguyễn

Bảng 23 Số lượng Hương cống/Cử nhân các trường thi Hương thời Nguyễn

Bảng 24 Số sĩ tử và Cử nhân của các trường khoa thi năm 1858

Bảng 25 Số Hương cống/Cử nhân các vùng Bắc – Trung – Nam thời Nguyễn

Bảng 26 Bổ nhiệm Hương cống/Cử nhân các trường thi Hương

Bảng 27 Các kỳ Ân khoa thi Hương thời Nguyễn

Bảng 28 Số lượng Hương cống/Cử nhân qua các kỳ Ân khoa thời Nguyễn

Trang 10

Bảng 29 Số lượng Hương cống/Cử nhân các trường được bổ nhiệm làm quan Bảng 30 Nội dung các kỳ thi Hương đầu thời Minh

Bảng 31 Nội dung các kỳ thi Hương thời Minh – Thanh (1757 – 1787)

Bảng 32 Nội dung các kỳ thi Hương cuối thời Thanh

(sau cải cách năm 1901 và bị xóa bỏ năm 1905)

Trang 11

DANH MỤC BẢN ĐỒ - SƠ ĐỒ

Bản đồ, Sơ đồ trong Nội dung Luận án

Bản đồ 2.1 Vị trí trường thi Hương Hà Nội trong Bản đồ Hà Nội

Bản đồ 2.2 Bản đồ Hà Nội năm 1866 do Trần Huy Bá vẽ lại

Bản đồ 2.3 Hà Nội từ năm 1875 đến 1888

Bản đồ 3.1 Bản đồ Nam Định năm 1883

Bản đồ 3.2 Bản đồ Nam Định 1883 chồng xếp trên bản đồ thành phố Nam Định hiện nay

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ Trường thi Hà Nội năm 1875

Sơ đồ 3.1 Trường thi Hương Nam Định

Sơ đồ trong Phụ lục Luận án

Sơ đồ 1 Vị trí trường thi Hương Hà Nội

Sơ đồ 2 Cấu trúc trường thi Hương Nam Định (bản vẽ của Orband)

Sơ đồ 3 Cấu trúc trường thi Hương Nam Định (bản vẽ của Trần Văn Giáp)

Sơ đồ 4 Cấu trúc trường thi Hương ở Huế năm 1915

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ các chức quan giữ vị trí Chánh, Phó Chủ khảo trường Thăng

Long – Hà Nội Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ đỗ Tiến sĩ của Cử nhân trường Thăng Long - Hà Nội

Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ đỗ Tiến sĩ các hạng của Cử nhân trường Thăng Long – Hà Nội Biểu đồ 2.4 Phẩm hàm của Cử nhân trường Thăng Long – Hà Nội khi được bổ

nhiệm chức quan Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ các chức quan giữ vị trí Chánh, Phó Chủ khảo trường Nam Định

và Hà Nam

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ đỗ Tiến sĩ của Cử nhân trường Nam Định và Hà Nam

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ đỗ các hạng Tiến sĩ của Cử nhân trường Nam Định và Hà Nam Biểu đồ 3.4 Độ tuổi đỗ Cử nhân của trường Hà Nam

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ đỗ Cử nhân của các huyện thuộc tỉnh Nam Định

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Giáo dục và khoa cử Việt Nam thời trung đại là phương thức tuyển lựa nhân sự, nhân tài cho bộ máy chính quyền và là “bước đường đầu tiên của sự nhập

thế hành đạo” của kẻ sĩ [295, tr.68] Mặc dù có nhiều loại hình thi khác nhau,

trong khoa cử truyền thống, khoa thi chính yếu và quan trọng là khoa thi Tiến sĩ, gồm 3 cấp thi Hương, thi Hội và thi Đình Trong 3 cấp thi này, thi Hương là kỳ thi đầu tiên, tổ chức ở địa phương, chọn ra những người có năng lực lên kinh đô vào thi Hội, thi Đình Mặc dù thi Hương là kỳ thi cơ bản, quan trọng nhưng dựa vào tính chất và yêu cầu về độ khó tăng dần của các kỳ thi, đa phần các nhà nghiên cứu về giáo dục khoa cử thời trung đại thường tập trung nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của thi Hội và thi Đình để từ đó tìm hiểu hình thức, nội dung tư tưởng của Nho giáo cũng như các vấn đề có liên quan đến giáo dục Nho học.1

Vẫn theo hướng tiếp cận này, trong giáo dục Nho học, các học giả, các nhà nghiên cứu

có xu hướng nghiêng về tìm hiểu về loại hình trường có chức năng, đào tạo (trường học) như Quốc Tử Giám (Thăng Long, Huế); trường học các cấp phủ, huyện, tổng ở địa phương… mà ít tìm hiểu các trường có nhiệm vụ tổ chức các kỳ thi (trường thi Hương, thi Hội), một phần vì sự thiếu vắng của tư liệu và phần khác là do loại hình trường thi này chiếm tỷ lệ không nhiều so với các trường có chức năng dạy học

Như vậy, có thể thấy, vẫn còn những khoảng trống trong nghiên cứu về giáo dục Nho học ở Việt Nam, đặc biệt ở kỳ thi Hương Trong nghiên cứu hiện nay, các nghiên cứu về trường thi Hương mới dừng lại ở quy mô các các bài tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo, hoặc một phần của cuốn sách, mà chưa có một công trình nghiên cứu nào đi vào phân tích, lý giải một cách đầy đủ và hệ thống về quy mô, vị trí, cấu trúc, chức năng của trường thi Hương cũng như những vấn đề có liên quan

để có cái nhìn toàn diện về kỳ thi đầu tiên trong kỳ thi Tiến sĩ

1.2 Có những lý do nhất định để chọn thi Hương thời Nguyễn làm đối tượng nghiên cứu Thi Hương ở Việt Nam bắt đầu từ thời Trần, nhưng dưới thời Trần và thời Lê, cơ bản các tài liệu ghi chép về thi Hương còn lại không nhiều, nếu có thường

ở dạng gia phả, hương ước, văn bia… nằm rải rác tại các địa phương nên việc tiếp cận nghiên cứu khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức Trong khi đó, triều

1

Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 – 1919) do Ngô Đức Thọ chủ biên năm 2006, Tiến sĩ Nho học Thăng Long – Hà Nội (1075 – 1919) của Bùi Xuân Đính năm 2003, Bước đầu tìm hiểu văn sách Đình đối thời Nguyễn - luận văn Thạc sỹ khoa học Ngữ văn của Đinh Thanh Hiếu năm 2003, Khoa thi Tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ tư, 1919) của Phạm Văn Khoái năm 2010, Văn sách thi Đình Thăng Long – Hà Nội trong tủ sách 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010, Nhà nước phong kiến Việt Nam với việc sử dụng các đại khoa học vị Tiến sĩ (1075 – 1919) của Lê Thị Thanh Hòa năm 2011…

Trang 14

Nguyễn là triều đại còn lưu lại khá đầy đủ các tư liệu liên quan đến thi Hương, trong

đó phải kể đến bộ Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục ghi chép họ tên,

quê quán, độ tuổi thi đỗ… của hơn 5000 Hương cống/Cử nhân thời Nguyễn

Hơn nữa, là vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều Nguyễn nằm trong giai đoạn lịch sử khá đặc thù so với các triều đại trước đó Đây

là triều đại lần đầu tiên lãnh thổ Việt Nam có diện tích lớn nhất, trải dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau, với sự đa dạng văn hóa, kinh tế, xã hội của nhiều tộc người, vùng miền Nếu như ở những thế kỷ trước, Đại Việt về cơ bản chỉ tiếp xúc và giao lưu văn hóa với hai nền văn minh lớn của châu Á là Trung Hoa và Ấn Độ, thế kỷ XIX, triều Nguyễn còn đặt trong bối cảnh tiếp nhận thêm sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa, văn minh phương Tây Do vậy nghiên cứu hoạt động khoa cử của thời kỳ này cung cấp cái nhìn về thực chất của giáo dục Nho học đặt trong mối quan hệ của

nó với yêu cầu thực tại của xã hội Việt Nam thế kỷ XIX cũng như góp phần tìm hiểu cơ chế, tâm thức của người Việt trong “guồng máy” học tập và thi cử vốn đã tồn tại trước đó hàng trăm năm

Trong thi Hương thời Nguyễn, luận án chọn nghiên cứu trường thi Hương

Hà Nội, Nam Định (sau sáp nhập thành trường Hà Nam) cho phép tìm hiểu hoạt động thi Hương thời Nguyễn trong một chỉnh thể thống nhất về thời gian (từ khoa thi năm 1807 đến năm 1915) cũng như không gian (nằm gọn ở miền Bắc) để có cái nhìn đầy đủ, rõ ràng hơn

1.3 Nghiên cứu giáo dục khoa cử thời Nguyễn, ngoài việc tìm hiểu sự phát triển nội tại của nền giáo dục Nho học Việt Nam, còn góp phần tìm hiểu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa tại Việt Nam bởi Việt Nam có nhiều đặc điểm văn hóa tương đồng với các nước Đông Á, cùng chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa Đặt trong bối cảnh, Hàn Quốc chấm dứt nền giáo dục Hán học theo mô hình Trung Quốc vào năm 1894 và bản thân Trung Quốc – nơi khởi nguồn của nền giáo dục Hán học - kết thúc vào năm 1905 thì Việt Nam là nước cuối cùng trong 3 nước Đông Á, chấm dứt khoa cử muộn nhất vào năm 1919 Vì vậy, chọn giáo dục và khoa cử của triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu ít nhiều góp phần làm rõ diện mạo bức tranh giáo dục khoa cử của các nước chịu ảnh hưởng mô hình giáo dục Hán học của Trung Hoa

2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Giáo dục và khoa cử giai đoạn trung đại là một trong những đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Triều Nguyễn – triều đại cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, chứng kiến sự chấm dứt hoàn toàn của nền giáo dục Hán học, bước sang nền giáo dục cận đại theo mô hình phương Tây nên vấn đề giáo dục thời Nguyễn càng được đặc biệt quan tâm nghiên

Trang 15

cứu Nhìn tổng quan, có thể chia các công trình nghiên cứu, bài viết về thời Nguyễn

và giáo dục thời Nguyễn thành mấy nhóm sau:

2.1 Các tài liệu thời Nguyễn và trước đó:

Trước thời Nguyễn, các quy định, chính sách liên quan đến giáo dục Nho học của các triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Lê trung hưng được ghi chép trong nhiều tư

liệu lịch sử như: Việt sử lược 越 史 略, Việt sử tiết yếu 越 史 節 要, Đại Việt sử

ký toàn thư 大 越 史 記 全 書, Đại Việt sử ký tục biên 大 越 史 記 續 編, Đại Việt sử ký tiền biên 大 越 史 記 前 編… Trong các sách này, hoạt động gắn liền

với giáo dục được nhắc đến nhiều nhất là thi Hội, thi Đình rồi mới đến thi Hương

Ngoài các sách nói trên, có thể kể đến những ghi chép, nghiên cứu về giáo

dục của Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục 見 聞 小 錄, Đại Việt thông sử 大 越

通 史, Vân đài loại ngữ 蕓 薹 類 語; của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút 雨

中 隨 筆… Những tư liệu này giúp người nghiên cứu có hiểu biết, hình dung rõ ràng về thi Hương trước thời Nguyễn Quyển “Thể lệ thượng” trong Kiến văn tiểu

lục cung cấp những thông tin có giá trị về khoa cử bên cạnh một số vấn đề khác như

lễ nghi, phong tục, quan chức, bổng lộc, chế độ tuyển dụng… của Đại Việt dưới thời Lý, Trần và Lê sơ [84, tr.7] Ngoài ra, trong phần “Khoa mục chí” của cuốn

Lịch triều hiến chương loại chí 歷 朝 憲 章 類 誌, Phan Huy Chú dành hẳn

quyển XXVII để nói về thể lệ thi Hương thời Lê trung hưng Nhìn chung, do tính chất là kỳ thi đầu tiên, dễ hơn so với thi Hội và thi Đình nên tư liệu về thi Hương

thời Lê và trước thời Lê không nhiều và khá rải rác

Thời Nguyễn, việc tìm hiểu, nghiên cứu về giáo dục có thể tìm thấy trong

các bộ chính sử do Quốc Sử quán và Nội các triều Nguyễn biên soạn như: Khâm

định Việt sử thông giám cương mục 欽 定 越 史 通 鑒 綱 目, Đại Nam thực lục

大 南 寔 錄, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ 欽 定 大 南 會 典 事 例,

Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên 欽 定 大 南 會 典 事 例 續 編 , Minh Mệnh chính yếu 明 命 正 要, Đồng Khánh Khải Định chính yếu 同 慶 啟

定 正 要 Các tài liệu này giúp tìm hiểu các quy định của nhà Nguyễn đối với giáo dục khoa cử như: các quy định liên quan đến kỳ thi Hương và các trường thi Hương; chiếu, dụ, sắc chỉ của các vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức

về các hoạt động giáo dục, khoa cử liên quan đến sĩ tử và quan trường, cách thức tổ chức thi, chấm bài… Ngoài ra, các tài liệu liên quan đến giáo dục thời Nguyễn còn

được nhắc đến trong Đại Nam nhất thống chí 大 南 一 統 誌, Quốc triều Hương khoa lục 國 朝 鄉 科 錄, Quốc triều khoa bảng lục 國 朝 科 榜 錄… mà chúng

tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở phần nguồn tư liệu của Luận án

2.2 Các công trình nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX đến nay

Liên quan đến các sách, các công trình nghiên cứu và các bài viết chuyên khảo được xuất bản từ đầu thế kỷ XX đến nay có thể chia làm hai nhóm: các công

Trang 16

trình liên quan đến giáo dục thời Nguyễn nói chung và các công trình liên quan đến thi Hương, các trường thi Hương thời Nguyễn

2.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục thời Nguyễn

Ngoài các tài liệu chính sử đã trình bày ở trên, trong khoảng 50 năm đầu của thế kỷ XX xuất hiện một số công trình nghiên cứu về giáo dục khoa cử Việt Nam thời cổ trung đại của các học giả Việt Nam Đặc điểm chung của giai đoạn này là tác giả của các công trình nghiên cứu ngoài vốn kiến thức Tây học còn là những nhà Hán học uyên bác Phần lớn các bài viết trong giai đoạn này được công bố trên các tạp chí Nam Phong, Thanh Nghị, Tri Tân… Năm 1919, Dương Bá Trạc giới thiệu

những nét đại cương về giáo dục khoa cử thời phong kiến qua bài “Khảo cứu về sự

thi ta” trên tạp chí Nam Phong [119]; năm 1942, Nguyễn Văn Tố giới thiệu bài viết

“Quyển thi văn bình chú” trên tạp chí Tri Tân [272, 273]; Nguyễn Tường Phượng

với bài “Khoa thi Hương năm Tân Mão (1891)” trên tạp chí Tri Tân năm 1943 [203, 204] … Trong khoảng thời gian này, đáng kể nhất là cuốn Lược khảo về khoa

cử Việt Nam (từ khởi thủy đến Mậu Ngọ 1918) của Trần Văn Giáp xuất bản năm

1941 [88] Mặc dù không phân tích sâu nhưng cuốn sách của Trần Văn Giáp đã giới thiệu những nét đại cương nhất về giáo dục và khoa cử Hán học từ khi hình thành đến lúc kết thúc Có thể nói, những loạt bài và công trình công bố vào nửa đầu thế

kỷ XX đã thành công bước đầu trong việc giới thiệu, giúp người đọc có những hình dung nhất định về giáo dục và khoa cử Việt Nam truyền thống

Những năm 80 - 90 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu đề cập đến giáo dục và khoa cử Việt Nam thời phong kiến nói chung và nhà Nguyễn nói riêng ngày

một nhiều, như: Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945 của Vũ Ngọc Khánh (năm 1985) [133]; Giáo dục Việt Nam thời cận đại của Phan Trọng Báu (năm 1994) [14]; Nho học ở Việt Nam – Giáo dục và thi cử của Nguyễn Thế Long (năm 1995) [163]; Khoa cử và giáo dục Việt Nam của Nguyễn Q Thắng (năm 1998, sau đó tái bản nhiều lần) [252]; Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời

phong kiến của Nguyễn Tiến Cường (năm 1998) [54]… Điểm chung của những cuốn

sách này là giới thiệu về khoa cử Việt Nam qua nhiều thời kỳ lịch sử Các sách được biên soạn theo trật tự thời gian với các nội dung cơ bản như: sách học trong nhà trường, quan điểm triết học của Nho giáo, hệ thống trường học ở trung ương và địa phương, cách thức tổ chức thi cử, ân điển và những đãi ngộ đối với người đỗ đạt Vì diện vấn đề và thời gian trình bày trải rộng nên những cuốn sách này chỉ trình bày những nội dung khái lược, ít đi sâu phân tích từng khía cạnh cụ thể, các nhận xét đều mang tính khái quát Trong đó, nội dung giáo dục thời Nguyễn chỉ chiếm dung lượng nhất định so với những vấn đề giáo dục khác mà các sách đề cập

Ngoài các sách bàn về giáo dục, thập niên 90 của thế kỷ XX và một số năm đầu thế kỷ XXI, xuất hiện ngày một nhiều những công trình chuyên sâu về triều Nguyễn trong đó có đề cập đến giáo dục trong xu hướng nhìn nhận, đánh giá lại

Trang 17

triều Nguyễn với tinh thần khoa học khách quan hơn, như: Triều Nguyễn – Những

vấn đề lịch sử, tư tưởng và văn học (năm 1994); Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn (năm 1992, 1995) [296, 297]; Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn (năm 1997) [68]; Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam

(năm 2002) [188]; Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn (năm 2002) [284]; Lịch sử nhà Nguyễn – Một cách tiếp cận mới (năm 2005) [157]; Những vấn

đề lịch sử triều Nguyễn (năm 2007) [189]… Các cuốn sách trên được xuất bản trên

tinh thần nền sử học nước nhà vốn “quan tâm nhiều và chủ yếu đến một lịch sử giữ nước mà chưa thật quan tâm đúng mức đến một lịch sử dựng nước, trong đó có lịch

sử trị nước (quản lý đất nước) gắn liền với vai trò và đóng góp của các triều đại phong kiến Việt Nam” [189, tr.5] Đặt trong quan điểm đó, sự nhìn nhận lại nhà Nguyễn chính là sự nhìn nhận lại toàn bộ thế kỷ cận kề với thế kỷ XX – thế kỷ

“giống như cái bản lề, là cầu nối giữa xã hội truyền thống và hiện đại trong những điều kiện thử thách ác liệt của sự áp đặt chế độ thực dân đến từ bên ngoài” [189, tr.5] Vì vậy, nội dung của các cuốn sách trên bàn đến nhiều vấn đề chính trị, bang giao, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo của nhà Nguyễn, trong đó có giáo dục Trong những nghiên cứu về triều Nguyễn, từ sau năm 2000, đáng lưu ý là hội thảo khoa

học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam (từ thế kỷ XVI đến

thế kỷ XIX) do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Thanh Hóa đồng tổ

chức năm 2008 với tinh thần tiếp cận lịch sử một cách ngày càng khách quan hơn1

Năm 2006 và năm 2009, Viện Harvard – Yenching (Hoa Kỳ) và Viện nghiên cứu Hán Nôm tổ chức hai cuộc hội thảo quốc tế bàn những vấn đề liên quan đến

Nho giáo ở Việt Nam Trong cuộc hội thảo thứ 2 (năm 2009) với tiêu đề Nghiên

cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành, các nhà nghiên cứu đi

sâu thảo luận những vấn đề liên quan đến tiến trình lịch sử của Nho giáo ở Việt Nam, quá trình lưu hành và tiếp cận kinh điển Nho gia ở Việt Nam, cách tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam và những vấn đề của Nho giáo trong thời đại ngày nay Trong cuộc hội thảo này, liên quan đến giáo dục Nho học thời Nguyễn có bài của Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Thị Oanh và Phùng Minh Hiếu

1 Chữ dùng của GS Phan Huy Lê trong Báo cáo đề dẫn của Hội thảo

Trang 18

Trong bài viết với với tiêu đề “The Effort to Update Confucian Principles of

Government under Tự Đức’s Reign” (Những cố gắng cập nhật hóa các nguyên tắc

chính trị Khổng giáo dưới triều Tự Đức) [336], Nguyễn Thế Anh cho rằng các nhà cầm quyền dưới triều Tự Đức đã rập khuôn hệ thống cai trị của nhà nước theo mẫu Trung Hoa với niềm tin “hệ thống này chứa đựng những phương thức kinh nghiệm phổ cập, chứ không phải chỉ là để áp dụng riêng cho Trung Quốc” [336, tr.58] và nhà Nguyễn đã sử dụng chúng để chống chọi với sự bành trướng của văn minh phương Tây Đó cũng là một trong những lý do vì sao nhà Nguyễn tiếp tục duy trì

nền giáo dục Hán học truyền thống ở mức lâu nhất có thể Trong bài “Tìm hiểu về

Nho giáo dưới triều vua Gia Long (Qua Đại Nam thực lục và Quốc sử di biên)”

[198], Nguyễn Thị Oanh đã chỉ ra vai trò, chủ trương và các biện pháp của vua Gia Long trong đầu thế kỷ XIX nhằm từng bước quy phục lòng dân, bảo vệ sự an toàn bền vững của vương triều Đặc biệt vua Gia Long từ sớm đã chăm lo phát triển giáo dục, tạo tiền đề cho sự phát triển của giáo dục Nho học dưới thời Nguyễn Đáng chú

ý là bài viết “Xu hướng tái định chế khoa cử Nho học đầu thời Nguyễn (nhìn từ

những điển lệ trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ) của tác giả trẻ Phùng Minh

Hiếu [104] Trong nghiên cứu của mình, Phùng Minh Hiếu cho rằng nhà Nguyễn có nhiều nỗ lực trong việc “tái thiết chế khoa cử đầu thời Nguyễn” [104, tr.121] khiến cho nền giáo dục này có diện mạo tương đối hoàn bị, và “trong chừng mực nhất định nó đã đáp ứng được mục tiêu hay những mong muốn của nhà cầm quyền phong kiến khi thực thi tái thiết khoa cử”[104, tr.107-108]

Cùng năm 2009, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo Kinh điển Nho gia tại Việt Nam bàn về những

vấn đề Nho học Việt Nam; hệ thống sách Đại toàn, Tiết yếu và việc tiếp nhận chúng tại Việt Nam; những bình giải của các nhà Nho Việt Nam về kinh điển Nho gia Trong hội thảo có nhiều bài tham luận liên quan đến hệ thống sách vở của giáo dục

Nho học như: “Diên cách Chu Tử học tại Việt Nam: từ Tứ thư chương cú tập chú

đến Tứ thư ước giải” của Nguyễn Tuấn Cường, “Phương Đình tùy bút lục và thực chất thái độ của Nguyễn Văn Siêu đối với cách chú giải kinh điển Nho gia của Chu Hy” của Phạm Văn Ánh, “Tác phẩm Lễ kinh chủ Nhân và những luận giải đặc sắc

về Lễ của Lê Văn Ngữ” của Lê Phương Duy…

Bước sang thế kỷ XXI, các công trình nghiên cứu như sách, bài viết chuyên sâu về giáo dục thời Nguyễn tiếp tục được quan tâm nghiên cứu và xuất bản

Trong số các công trình liên quan đến những vấn đề giáo dục khoa cử truyền thống xuất bản sau năm 2000, công trình có nhiều điểm mới trong cách tiếp cận

nghiên cứu – theo hướng xã hội học lịch sử - là cuốn Quan và Lại ở miền Bắc Việt

Nam – Một bộ máy hành chính trước thử thách (1820 – 1918) của Emmanuel

Poisson (năm 2006) [207] Mặc dù không trực tiếp bàn về giáo dục khoa cử thời Nguyễn nhưng Poisson đã chọn kết quả của hoạt động khoa cử theo như cách gọi

Trang 19

của ông là “đường dây tuyển dụng” làm đối tượng nghiên cứu Đó chính là những người chịu trách nhiệm quản lý (quan) và những nhân viên thừa hành (lại) Thông qua hành trạng, tiểu sử cuộc đời của các quan, lại trong bộ máy hành chính, Poisson chỉ ra chiến lược làm quan cũng như sự vận hành của bộ máy quan lại, qua đó tái hiện phần nào hoạt động giáo dục khoa cử truyền thống, chỉ ra những mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục khoa cử và hệ thống quan lại của nhà Nguyễn

Năm 2011, Nguyễn Công Lý cho ra mắt cuốn sách Giáo dục khoa cử và

quan chế ở Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc [169] Tuy mới xuất bản,

nhưng đây là cuốn sách được biên soạn theo lối tư duy truyền thống liệt kê, mô tả

sự kiện giáo dục và khoa cử Việt Nam qua các triều đại và kéo dài tới thời Pháp thuộc với mục đích “để thế hệ trẻ hôm nay có tư liệu để tìm hiểu vấn đề khi cần thiết” đồng thời “góp phần vào việc bảo lưu tinh hoa giá trị tinh thần truyền thống

của cha ông” [169, tr.VIII] Với dung lượng 200 trang, cuốn Hệ thống giáo dục và

khoa cử Nho giáo triều Nguyễn của Nguyễn Ngọc Quỳnh xuất bản năm 2011 [238]

trình bày khái lược về hệ thống giáo dục và khoa cử của triều Nguyễn Trong nghiên cứu của mình, qua kết quả thống kê, Nguyễn Ngọc Quỳnh thấy được sự gia tăng của tỷ lệ đỗ Cử nhân vùng Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam và chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng này là do “tinh thần học hành khoa cử của các vùng nay đang vươn lên” mà chưa luận giải được một trong những nguyên nhân sâu xa của sự thay đổi đến từ chính sách khoa cử của triều Nguyễn

Tạp chí Huế Xưa và Nay là một trong những tạp chí có đóng góp trong việc

công bố nhiều bài nghiên cứu có liên quan đến triều Nguyễn Lê Nguyễn Lưu là một trong những tác giả có nhiều bài viết về giáo dục khoa cử thời Nguyễn đăng

trên tạp chí này như: “Giáo dục triều Nguyễn – cái giá của Nho học” [166], “Hệ

thống tổ chức giáo dục thế kỷ XIX” [165], “Những thành tựu của nền giáo dục triều Nguyễn” [167] Ngoài ra, trên tạp chí còn có các bài: “Vài nét về chính sách giáo dục khoa cử của các vị vua đầu triều Nguyễn” của Nguyễn Văn Đăng [77], “Mấy nét về giáo dục, đào tạo nhân tài thời Nguyễn” của Đặng Thị Tịnh [266]… Những

bài nghiên cứu trên tạp chí Huế Xưa và Nay góp phần hình thành nhận thức ngày

càng rõ hơn về những đóng góp của triều Nguyễn đối với hoạt động giáo dục và khoa cử thế kỷ XIX

Một trong những sức hút đối với các tác giả nghiên cứu về giáo dục khoa cử thời Nguyễn từ sau khi Pháp xâm lược là sự chuyển đổi cơ bản từ nền giáo dục Hán học truyền thống sang loại hình giáo dục Tây học Trong số các công trình liên quan đến sự chuyển giao mô hình giáo dục cận đại, cần nhấn mạnh các tác phẩm của

Trịnh Văn Thảo Với cách tiếp cận nghiên cứu lịch sử xã hội, qua cuốn sách Nhà

trường Pháp ở Đông Dương (năm 2009) [250], Trịnh Văn Thảo cho rằng việc Pháp

xâm lược Việt Nam không phải là sự chuyển giao quyền lực chính trị từ Nhà nước này sang Nhà nước khác mà phải được coi là “một quá trình giải cấu trúc và cấu tạo

Trang 20

lại những bản sắc tập thể trong một thời gian dài” [250, tr.9] Vì vậy, nội dung chính của sách xoay quanh những chính sách của nhà trường Pháp ở Đông Dương

từ hệ tư tưởng, quy mô, cơ cấu giáo dục đến sách giáo khoa và những vấn đề liên quan đến học sinh, sinh viên Đông Dương thời bấy giờ Trong cuốn sách thứ hai với

tiêu đề Ba thế hệ trí thức người Việt (1862 – 1954) – Nghiên cứu Lịch sử xã hội [251], cách tiếp cận nghiên cứu lịch sử xã hội của Trịnh Văn Thảo được trình bày rõ

ràng hơn khi ông kết nối tiểu sử của các nhà Nho Việt Nam thời Nguyễn qua ba thế

hệ năm 1862, 1907 và 1925 để chỉ ra sự khủng hoảng bên trong hệ thống giáo dục truyền thống và những vấn đề duy tân ở Việt Nam Điểm chung của hai cuốn sách này ở chỗ Trịnh Văn Thảo không bàn nhiều đến nhà Nguyễn mà tập trung nhiều hơn vào chính quyền thuộc địa và sự thay đổi của xã hội Việt Nam truyền thống dưới tác động của quá trình thuộc địa nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Liên quan đến giáo dục Việt Nam thời thuộc địa, một trong những công trình

xuất bản mới đây nhất là công trình Giáo dục Pháp – Việt ở Bắc Kỳ (1884 -1945) của

Trần Thị Phương Hoa (năm 2012) [107] Trên cơ sở luận án Tiến sĩ, chọn Bắc Kỳ làm địa bàn nghiên cứu chính, công trình của Trần Thị Phương Hoa tập trung giải quyết những vấn đề liên quan đến nhà trường Pháp Việt ở Bắc kỳ từ 1884 đến 1945 Trọng tâm của cuốn sách tìm hiểu, diễn giải cách thức, sự vận hành của nền giáo dục Tây học vào Việt Nam nhiều hơn là lý giải sự suy giảm và lụi tàn của nền giáo dục cũ

2.2.2 Các công trình liên quan đến thi Hương thời Nguyễn

Thập niên 90 của thế kỷ XX, Emmanuel Poisson và Philippe Langlet đã công

bố một số bài viết như: “Quan chức, thuộc viên hành chính cấp tỉnh và địa phương

tại Bắc kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – Những tiếp cận bước đầu”, “Tập sự, một phương tiện đào tạo quan lại” (Emmanuel Poisson) [205; 206]; Một số nhận xét về xuất xứ của những người đỗ đạt qua các kỳ thi cử do triều đình Việt Nam tổ chức (1802 – 1858) (Philippe Langlet) [148]… Đây là 3 trong nhiều bài viết có giá trị,

với cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về đội ngũ trí thức Bắc kỳ, sau khi đỗ thi Hương, thi Hội

Năm 2000, Phạm Đức Thành Dũng (và các đồng nghiệp) cho ra mắt cuốn

Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn [67] đề cập đến cả 2 loại hình thi văn

và thi võ dưới triều Nguyễn Tuy nhiên, dung lượng về phần thi Hương trong sách không lớn, dừng ở những nét đại cương Phần mô tả về trường thi Hương Thừa

Thiên không nằm ngoài những quy định của triều Nguyễn được chép trong Khâm

định Đại Nam hội điển sự lệ Sách chưa đề cập đến các trường thi Hương khác

trong cả nước Chiếm dung lượng lớn trong sách là phần văn bia Tiến sĩ và Tạo sĩ

Năm 2003, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, một Việt kiều tại Pháp công bố công

trình Khoa cử Việt Nam, gồm 2 tập (tập thượng - thi Hương; tập hạ - thi Hội) Từ ý

định ban đầu là “sưu tầm ảnh khoa cử” [239, tr.5], Nguyễn Thị Chân Quỳnh đã khai thác tư liệu và biên soạn thành 2 tập sách dày dặn chuyên khảo về khoa cử Tuy

Trang 21

nhiên, như lời nhận xét của bà: “tôi không phải là “nhà nghiên cứu” [239, tr.5] nên những thông tin trong cuốn sách tập trung vào việc sưu tầm, thống kê các hoạt động khoa cử đã được ghi chép trong các tài liệu chính sử theo biên niên Ngoài ra, sách cũng trích dẫn nhiều tài liệu khác viết về khoa cử của Phạm Đình Hổ, Ngô Tất Tố, Chu Thiên, Đặng Thai Mai… khiến cho nội dung sách bị dàn trải, thiếu những phân tích, nhận xét của riêng tác giả về hoạt động giáo dục khoa cử Việt Nam thời trung đại Mặc dù vậy, đóng góp của Nguyễn Thị Chân Quỳnh qua 2 cuốn sách là rất đáng ghi nhận

Về trường thi Hương Hà Nội: trên thực tế cho đến nay, chưa có cuốn sách

nào viết riêng về trường thi Hương Hà Nội Những thông tin về trường Hà Nội chỉ được nhắc đến như một phần nội dung trong các cuốn sách nghiên cứu về lịch sử

của Thăng Long – Hà Nội của các tác giả trong và ngoài nước Cuốn Hà Nội giai

đoạn 1873 – 1888 của André Masson (năm 2003) [173] ghi chép nhiều thông tin

hữu ích về trường Hà Nội giai đoạn Pháp xâm chiếm và đánh thành Hà Nội Trong

cuốn Lịch sử Hà Nội [199], Philiippe Papin cũng đưa ra những nhận xét và kiến giải

của mình về vị trí, vai trò của trường thi Hà Nội trong quá trình Hà Nội trở thành thuộc địa của Pháp, tuy nhiên nội dung này chiếm dung lượng nhỏ trong cuốn sách

Năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tủ sách

Thăng Long ngàn năm văn hiến được xuất bản William Logan cho ra mắt cuốn Hà

Nội – Tiểu sử một đô thị [162] giới thiệu Hà Nội với tư cách một đô thị có lịch sử

lâu đời, trong đó Logan cho biết trường thi Hương Hà Nội vốn nằm tại địa điểm nay

là Thư viện Quốc gia Việt Nam Trong nỗ lực giới thiệu tư liệu nước ngoài về Thăng Long – Hà Nội, Nguyễn Thừa Hỷ và các cộng sự của mình công bố cuốn

sách Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội – Tuyển tập tư liệu phương Tây [124]

giới thiệu nhiều tư liệu hữu ích về lịch sử, văn hóa, xã hội, diện mạo của Thăng Long – Hà Nội dưới con mắt của người nước ngoài, trong đó có những ghi chép của bác sĩ Hocquard về trường thi Hà Nội từ sau khi người Pháp đánh thành Hà Nội Trên cơ sở tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Đào Thị Diến thông báo nhiều tư liệu liên quan đến lịch sử Hà Nội nói chung trong đó có giáo dục Hà Nội

thời Nguyễn qua 2 tập sách Hà Nội qua tài liệu và tư liệu lưu trữ 1873-1945 [56; 57] Trong tủ sách này, Bùi Xuân Đính có cuốn Giáo dục và khoa cử Nho học

Thăng Long – Hà Nội [81], tuy nhiên sách không bàn nhiều đến hoạt động thi

Hương và trường thi Hương Hà Nội

Giáo dục của Thăng Long – Hà Nội được Hoàng Mai Phương nhắc đến trong

bài viết “6 khoa thi Hương trường Thăng Long triều Nguyễn” đăng trên tạp chí Xưa

và Nay năm 2000 [202] và Hà Mạnh Khoa bàn đến năm 2006 với tiêu đề “Giáo dục thời Nguyễn ở Thăng Long – Hà Nội (1802 – 1919) [137] Tuy nhiên, hai bài viết

này mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu thi Hương ở Thăng Long với số lượng trang khiêm tốn, chưa có những phân tích, nhận xét chuyên sâu Năm 2010, Nguyễn Hải

Trang 22

Kế, trên cơ sở đề tài khoa học cấp Nhà nước, đã chủ biên cuốn sách “Giáo dục

Thăng Long – Hà Nội – Quá trình, kinh nghiệm lịch sử và định hướng phát triển”

[127] Hoạt động giáo dục khoa cử của Hà Nội trong 1000 năm lịch sử đã được làm

rõ hơn, đặc biệt nhóm tác giả đi sâu tìm hiểu bài học lịch sử rút ra từ hoạt động giáo dục và tìm mối tương quan giữa giáo dục và phát triển hiện nay Phần thi Hương thời Nguyễn được trình bày trong sách một cách vắn tắt, với dung lượng vừa phải

so với chỉnh thể

Về trường thi Hương Nam Định, nguồn tư liệu sơ cấp có thể kể đến là 2 cuốn

địa chí: Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược新 編 南 定 省 地 輿 誌 略

của Khiếu Năng Tĩnh [268] và Nam Định tỉnh dư địa chí mục lục 南 定 省 輿 地

誌 目 錄 của Nguyễn Ôn Ngọc [184] Ngoài ra, một chuyên khảo về Nam Định [25] được tác giả nước ngoài là Camille Chapoulart viết trước cách mạng tháng Tám năm 1945 có nhắc vài dòng về lịch sử trường thi Hương Nam Định

Năm 1944, trên tạp chí Tri Tân, Trần Văn Giáp công bố bài viết chuyên khảo

có giá trị về “Các nơi trường thi và cách xếp đặt trong trường thi Nam Định” [89]

trình bày một cách cụ thể, rõ ràng về quy mô, cấu trúc của trường thi Nam Định Ông cũng vẽ sơ đồ cấu trúc của trường Nam Định – một trong những nguồn tư liệu quý giá mà ít trường thi Hương còn lưu giữ được Hơn nữa, bài viết của Trần Văn Giáp còn có giá trị thời sự bởi nó được công bố 29 năm sau sau khi trường Nam Định đóng cửa

Năm 1992, Đặng Hữu Thụ cho xuất bản cuốn sách Làng Hành Thiện và các

nhà Nho Hành Thiện [258] ghi chép nhiều thông tin bổ ích, phong phú về giáo dục

khoa cử của làng Hành Thiện, Nam Định Tác giả đã có những mô tả về trường thi Hương Nam Định nhưng không đề cập đến các môn thi bổ sung tiếng Pháp và chữ

Quốc ngữ của trường Nam Định thời Pháp thuộc Cuốn Thành Nam xưa của Vũ

Ngọc Lý (năm 1997) [170] dành khoảng trên 20 trang viết về trường Nam Định và các khoa thi Hương nhưng ở dạng giới thiệu khái lược Trong phần Văn hoá của sách

Địa chí Nam Định (năm 2003) [269] có giới thiệu về trường thi Nam Định, tuy nhiên

với số lượng trang nhất định so với tổng thể của cuốn sách trong từng phần viết nên những thông tin trình bày dừng ở mức khái lược nhất Vài nét về trường thi Hương

Nam Định xưa cũng được nhắc đến trong cuốn Lịch sử Đảng bộ và nhân dân phường

Trường Thi (1986-2005) (năm 2009) [8] vì trường thi này trước đây nằm trên địa bàn

của phường Trường Thi, thành phố Nam Định hiện nay

Về các trường thi Hương khác trong cả nước có công trình nghiên cứu của

Tố Am Nguyễn Toại về “Trường thi Thừa Thiên” [274], Đào Tam Tĩnh về

“Trường thi Hương Nghệ An” [267]; Vũ Ngọc Liễn về “Trường thi Bình Định” [161], Nguyễn Đình Tư với “Trường thi Hương Gia Định” [285]… Do nguồn tư

liệu trong các tài liệu chính sử ghi chép về các trường thi này rất ít ỏi nên những bài viết này chỉ giới thiệu một cách sơ lược về các trường thi Hương với các nội dung

Trang 23

cơ bản như thành lập năm nào, vị trí ở đâu, hoạt động trong khoảng thời gian nào và lấy đỗ bao nhiêu Hương cống, Cử nhân, Sinh đồ, Tú tài Ngoài ra, cuộc sống học

tập và thi cử của các nhà Nho được bàn đến qua các bài viết: “Ông Nghè 13 tuổi:

Trịnh Hoa Đường” của Nhật Nam trên tạp chí Tri Tân (năm 1941) [179]; “Đoàn Tử Quang” của Hoàng Xuân Hãn trên tạp chí Thanh Nghị (năm 1944) [99]; “Ông Tú Xương với câu chuyện thi cử” của Phan Văn Dật trên tạp chí Đại học (năm 1958)

[55] ; “Sĩ phu Gia Định – Bình Dương” của Nguyễn Đình Đầu (năm 2002) [79]…

2.2.3 Các công trình nghiên cứu nước ngoài về thời Nguyễn và giáo dục thời Nguyễn

Vấn đề giáo dục và khoa cử thời Nguyễn thu hút không ít các học giả nước ngoài quan tâm, nghiên cứu Vốn là học giả chuyên nghiên cứu về Trung Hoa, khi chuyển sang nghiên cứu Việt Nam, năm 1971 lần đầu tiên Alexander Barton

Woodside đã công bố cuốn sách “Vietnam and the Chinese model – A Comparative

Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century”, sau đó được tái bản nhiều lần [348] Đến nay đây vẫn được được coi là

một trong những cuốn sách “kinh điển” đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước khi tìm hiểu về nhà Nguyễn Việt Nam đặt trong cái nhìn so sánh với văn minh Trung Hoa Chương 4 của cuốn sách được Woodside dành riêng trình bày và luận giải về những tương đồng và khác biệt của giáo dục Việt Nam thời Nguyễn và nhà Thanh, trong đó có bàn đến thi Hương Ngoài công trình nói trên, Woodside còn có

nhiều bài viết liên quan đến giáo dục Việt Nam và triều Nguyễn như: “Some

Feature of the Vietnamese Bureaucracy under the Early Nguyen Dynasty” năm

1965 [346]; “Problem of Education in the Chinese and Vietnamese Revolution”

năm 1977 [347]; “Exalting the Latercomer State: Intellectuals and the State during

the Chinese and Vietnamese Reforms” năm 1998 [349] Năm 2006, Woodside cho

xuất bản cuốn sách “Lost Modernities: China, Vietnam, Korea, and the Hazards of

World History” [350], trong đó ông nhấn mạnh vai trò của khoa cử và mối quan hệ

sâu sắc của nó với đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của các nước Á đông này

Tác giả nước ngoài thứ 2 cần nhắc đến trong các nghiên cứu về giáo dục triều Nguyễn là Nola Cooke Liên tục trong các năm từ 1994 đến 1999, Nola Cooke công

bố nhiều bài chuyên khảo trên các tạp chí quốc tế về triều Nguyễn và giáo dục khoa

cử triều Nguyễn Trong các nghiên cứu của mình, Nola Cooke nhấn mạnh yếu tố Nam bộ có tác động mạnh mẽ đến chính sách giáo dục của chúa Nguyễn và các vua

triều Nguyễn như trong các bài viết: “Regionalism and the Nature of Nguyen Rule in

Seventeenth Century Dang Trong (Cochinchina)” [321]; “Southern Regionalism and the Composition of the Nguyen Ruling Elite (1802 - 1883)” [322] Bài viết đáng chú ý

nhất của Nola Cooke là “19th Century Vietnam Confucianization in Historial

Perspective Evidence from Palace Examination 1463-1883” [319] công bố năm

1994 Trong nghiên cứu này, Nola Cooke cho rằng Nam bộ có những đặc điểm riêng

Trang 24

về điều kiện tự nhiên và xã hội khiến nhà Nguyễn khó khăn trong việc tái thiết lập hệ thống thi cử ở Nam bộ như ở miền Bắc Theo bà, muốn hiểu nhà Nguyễn phải hiểu quá trình Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ XIX [319, tr.229]

Tuy không trực tiếp bàn đến những vấn đề giáo dục, thi cử, nhưng nhiều học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và ảnh hưởng qua lại giữa chính trị, hệ tư tưởng – Nho giáo với sự phát triển của Việt Nam

thế kỷ XIX qua các bài nghiên cứu như: Politics and Society in Vietnam during the

early Nguyen Period (1802-62) (R.B.Smith – 1974) [340]; Foreign Influence and the Vietnamese Cultural Core: A Discussion of the Premodern Period (John K

Whitmore – 1987) [344]; Southern Vietnam under the reign of Minh Mang (1820 –

1840) (Choi Byung Wook) [318]…

Nhiều ý tưởng và nội dung của luận án này được hình thành và phát triển trên cơ sở học tập, kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước của các học giả trong

và ngoài nước đã được trình bày ở trên

3 Mục đích, giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là đi sâu tìm hiểu thi Hương thời Nguyễn

thông qua hai nghiên cứu trường hợp (case study) là trường thi Hương Hà Nội và Nam Định Các khía cạnh khác nhau của 2 trường thi này như: lịch sử hình thành, biến đổi; quy mô, cấu trúc; thời gian hoạt động, tổ chức các kỳ thi; nội dung, cách thức và những thay đổi trong thi Hương (trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam); những hoạt động có liên quan đến quan trường và sĩ tử… được tập trung nghiên cứu từ đó có thể phác họa bức tranh cụ thể, chi tiết về trường thi Hương thời Nguyễn ở miền Bắc

Những nhận thức và hiểu biết qua hai nghiên cứu trường hợp được đặt trong tương quan so sánh với các trường thi Hương khác trong cả nước (trường Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên, Bình Định, Gia Định) nhằm đi sâu tìm hiểu vai trò, chức năng và ảnh hưởng xã hội của các trường thi Hương dưới thời Nguyễn Ngoài ra, thông qua việc so sánh, phân tích hoạt động của các trường thi Hương, trong đó lấy trường Hà Nội và Nam Định làm nhân cốt, luận án tìm hiểu chính sách giáo dục của nhà Nguyễn xuyên suốt trong hơn 100 năm thực thi hoạt động khoa cử Từ đó đi đến lý giải liệu có hay không “chính sách giáo dục vùng” của nhà Nguyễn nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển lựa nhân sự cho quốc gia mà lãnh thổ mở rộng hơn rất nhiều

so với các triều đại trước đó?

Không dừng lại ở việc nghiên cứu, mô tả các trường thi Hương, luận án đặt mục tiêu tìm hiểu mối quan hệ giữa khoa cử với các khía cạnh khác của đời sống xã hội như chính trị, văn hóa, xã hội để thấy được mối quan hệ chặt chẽ của chúng

Trang 25

nhằm tiếp cận theo hướng cần nhìn giáo dục trong mối tương quan nhiều chiều, đặt đối tượng nghiên cứu trong chỉnh thể toàn diện của lịch sử, xã hội

Ngoài ra, trên cơ sở nhận thức về các trường thi Hương Việt Nam thời Nguyễn, luận án tập trung phân tích, so sánh để thấy được những tương đồng và khác biệt giữa các trường thi Hương của Việt Nam và Trung Hoa Tìm hiểu quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa Trung Hoa của nhà Nguyễn dưới khía cạnh khoa

cử giúp hiểu được sự “khúc xạ” hay tính “chủ động” của nhà Nguyễn trong quá trình tiếp nhận mô hình Trung Hoa

Tuy nhiên, vì đi sâu nghiên cứu thi Hương thông qua các trường thi nên luận

án không đặt nhiệm vụ giải quyết vấn đề tư tưởng Nho học Việt Nam thế kỷ XIX thông qua nội dung các bài thi Nói cách khác, do tính chất là kỳ thi đầu tiên, chủ yếu kiểm tra kiến thức sĩ tử ở mức độ thuộc và hiểu kinh điển, với số lượng người tham dự lớn nên luận án không đặt nhiệm vụ phân tích các bài thi Hương để tìm hiểu tư tưởng của Nho giáo, Nho học Việt Nam Loại hình nghiên cứu này sẽ phù hợp hơn khi phân tích, đánh giá các bài thi Hội hoặc thi Đình như nhiều tác giả đi trước đã thực hiện

Giới hạn thời gian nghiên cứu của luận án tính từ khoa thi Hương đầu tiên

của nhà Nguyễn tổ chức thời vua Gia Long năm 1807 đến kỳ thi Hương cuối cùng được tổ chức ở miền Bắc năm 1915 Mặc dù triều Nguyễn tồn tại đến năm 1945, nhưng khoảng thời gian từ năm 1918 - sau khi kỳ thi Hương cuối cùng chấm dứt – đến năm 1945 không nằm trong phạm vi thời gian nghiên cứu của Luận án

Đa phần trong các nghiên cứu trước đây, các nhà nghiên cứu thường dừng thời điểm nghiên cứu khoa cử triều Nguyễn ở năm 1858 khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Trong luận án này, chúng tôi muốn nhìn nền giáo dục khoa cử của nhà Nguyễn trong suốt chiều dài lịch sử để thấy được hoạt động khoa cử và vai trò của nó trong xã hội Việt Nam truyền thống từ khi hình thành cho tới khi nền giáo dục Hán học ở Việt Nam hoàn toàn chấm dứt Việc nghiên cứu xuyên suốt giúp luận án có nhận thức một cách hệ thống, khách quan về quá trình hoạt động của khoa cử Việt Nam thời Nguyễn, mặc dù đối tượng nghiên cứu chỉ dừng ở cấp thi Hương

Về phạm vi không gian, luận án tập trung nghiên cứu 2 trường thi Hương Hà

Nội và Nam Định thuộc miền Bắc Việt Nam Đây là 2 trường thi tập trung nhiều tinh hoa đại diện cho giới trí thức của khu vực châu thổ đồng bằng sông Hồng – nơi được coi là cái “nôi khoa bảng” của cả nước Để có được những nhận xét khách quan, xác đáng về 2 trường thi này, luận án cũng tìm hiểu các trường thi khác ở miền Trung và miền Nam Việt Nam Tuy nhiên vì không thuộc đối tượng nghiên cứu chính của luận án nên phạm vi tìm hiểu các trường thi ở miền Trung và miền Nam nhằm mục đích, phân tích, so sánh nhiều hơn là nghiên cứu mô tả

Trang 26

4 Nguồn tài liệu

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở các nguồn tài liệu chính sau:

Thứ nhất, nguồn tài liệu chính sử, các bộ biên niên sử, địa lý lịch sử chính

thống của các triều đại như Đại Việt sử ký toàn thư 大 越 史 記 全 書, Đại Việt

sử ký tục biên 大 越 史 記 續 編, Đại Việt sử ký tiền biên 大 越 史 記 前

… trong đó tập trung vào thời Nguyễn: Đại Nam thực lục 大 南 寔 錄, Đại Nam liệt truyện 大 南 列 傳, Khâm định Việt sử thông giám cương mục 欽 定 越

史 通 鑒 綱 目, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ 欽 定 大 南 會 典 事 例, Minh Mệnh chính yếu 明 命 正 要, Đồng Khánh Khải Định chính yếu 同 慶 啟

定 正 要,Đồng Khánh địa dư chí lược 同 慶 地 輿 誌 略

Trong số các công trình nói trên, Đại Nam thực lục 大 南 寔 錄 là bộ chính

sử lớn nhất, quan trọng nhất của nhà Nguyễn, biên soạn trong vòng 88 năm - từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đến năm Duy Tân thứ 3 (1909) Đây là bộ sử ghi chép toàn

bộ lịch sử Việt Nam ở thế kỷ XIX dưới sự trị vì của vương triều Nguyễn cũng như

hơn 200 năm lịch sử Đàng Trong của các chúa Nguyễn [221, tr.5] Ngoài các vấn đề

kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nhiều nội dung về giáo dục được ghi chép khá tỷ

mỷ như: thi Hương, thi Hội, thi Đình, quan trường, sĩ tử, nội dung học tập, hệ thống

trường lớp… kéo dài từ thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX Khâm định Đại

Nam hội điển sự lệ 欽 定 大 南 會 典 事 例 do Nội các triều Nguyễn biên soạn

vào giữa thế kỷ XIX là một trong những công trình lịch sử có quy mô thuộc loại đồ

sộ nhất trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của nước ta [192, tr.7] Bộ Hội điển này biên chép tất cả các dụ chỉ, sắc lệnh, chiếu chỉ… trong đó có nhiều điều liên quan đến giáo dục được thi hành từ năm Gia Long thứ nhất (1802) đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) Các dụ chỉ, chiếu chỉ, sắc lệnh… tương tự từ năm Tự Đức thứ 5 (1852)

đến năm Thành Thái thứ nhất (1889) được tiếp tục biên soạn trong Khâm định Đại

Nam hội điển sự lệ tục biên 欽 定 大 南 會 典 事 例 續 編 Nhiều hoạt động,

kết quả của khoa cử được phản ánh qua tiểu sử, đời sống của các quan lại nhà

Nguyễn được chép trong Đại Nam liệt truyện 大 南 列 傳

Bên cạnh các bộ quốc sử của triều Nguyễn, các công trình Minh Mệnh chính

yếu 明 命 正 要, Đồng Khánh Khải Định chính yếu 同 慶 啟 定 正 要 cho

phép hiểu thêm về quan điểm, chính sách của các vua Nguyễn đối với giáo dục khoa cử Mặc dù thông tin được ghi chép khái lược do sách viết ở thể loại chí nhưng

Đại Nam nhất thống chí 大 南 一 統 誌 là nguồn sử liệu có giá trị, giúp hình dung hoạt động giáo dục thông qua hệ thống các trường Nho học (công và tư) ở các địa

phương, các tỉnh trong cả nước

Ngoài ra, châu bản 硃 本 của triều Nguyễn là nguồn tư liệu quan trọng ghi

chép các hoạt động, sự kiện được các vua phê chuẩn liên quan đến việc học, tổ chức thi và các hoạt động khác có liên quan Vì là tài liệu dưới dạng tấu, sớ, biểu của các

Trang 27

một số hạn chế mà các sách chính sử ít đề cập đó là tình hình triển khai thực tế chính sách của Nhà nước xuống các địa phương trong những trường hợp cụ thể Trong một chừng mực nhất định, châu bản giúp người nghiên cứu hiểu rõ hơn hoạt động thực tiễn của các chính sách, điển lệ được chép trong chính sử Chúng tôi đã tiến hành khai

thác 114 bộ Mục lục châu bản triều Nguyễn từ thời vua Gia Long thứ 1 (1802) đến

thời vua Khải Định thứ 19 (1945) được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

Nguồn tài liệu không kém phần quan trọng khi nghiên cứu giáo dục thời

Nguyễn là hai bộ sách đăng khoa lục Quốc triều Hương khoa lục 國 朝 鄉 科 錄

và Quốc triều khoa bảng lục 國 朝 科 榜 錄 của Cao Xuân Dục Đăng khoa lục

là nguồn tư liệu quan trọng dùng để nhận thức nhiều mặt của xã hội như chế độ giáo dục, thi cử, lịch sử các nhân vật, truyền thống văn hóa của quốc gia, vùng, miền…[182, tr.5] Đáng tiếc là cho đến nay chúng ta vẫn chưa tìm thấy tài liệu nào ghi chép đầy đủ các vị đỗ Trung khoa (Hương cống) và Tiểu khoa (Sinh đồ) của thời Lê khiến cho việc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn do thiếu tư liệu lịch sử Trong tình hình đó, hai cuốn sách Đăng khoa lục của Cao Xuân Dục là hai cuốn sách có giá trị về mặt tư liệu giáo dục bởi đây là ghi chép của người đương thời về tên, tuổi, quê quán của những người đỗ Hương cống, Cử nhân, Tiến sĩ và Phó bảng

triều Nguyễn Ngoài ra, sách Quốc triều Hương khoa lục còn có phần tổng luận giới

thiệu về khoa cử của Việt Nam và phần biên chép vắn tắt về phép thi Hương, thi

Hội của các triều đại trước thời Nguyễn Vì vậy, Quốc triều Hương khoa lục của

Cao Xuân Dục được coi là bộ hội yếu đầy đủ danh sách và tiểu sử tóm tắt của các

Cử nhân triều Nguyễn…[182, tr.155] Những ghi chép trong Quốc triều Hương

khoa lục là những thông tin có giá trị, làm cơ sở cho những phân tích, nhận xét

khách quan về đội ngũ sĩ tử thi Hương và các Tú tài, Sinh đồ, Hương cống, Cử nhân sau khi thi đỗ được bổ nhiệm vào các vị trí trong bộ máy chính quyền Đây cũng là nguồn tư liệu Luận án sử dụng để so sánh, phân tích tỷ lệ thi đỗ và bổ nhiệm quan chức giữa các trường, giữa các vùng, miền trong cả nước

Trong nghiên cứu, trên đây là những tài liệu sơ cấp, đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác các nguồn thông tin, tư liệu về giáo dục thời Nguyễn (và một phần trước thời Nguyễn)

Thứ hai, ngoài nguồn tài liệu chính sử, các tài liệu truyền thống, các nguồn

tư liệu địa chí, văn bia, hương ước, các tài liệu địa phương… được sử dụng trong luận án Các sách, báo, các công trình xuất bản liên quan đến giáo dục nói chung và thời Nguyễn nói riêng được trình bày và phân tích trong mục Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề đã nói đến ở trên là các nguồn tư liệu quan trọng sử dụng trong luận án Bên cạnh đó, dù không phải là tư liệu lịch sử nhưng các tác phẩm văn học

như Lều chõng của Ngô Tất Tố, Ngược đường trường thi của Nguyễn Triệu Luật,

Bút nghiên của Chu Thiên… cũng được tiếp cận như nguồn tài liệu phản ánh nhận

thức chung của xã hội Việt Nam đối với hoạt động giáo dục khoa cử

Trang 28

Thứ ba, luận án sử dụng nguồn tư liệu tiếng Pháp lưu trữ tại Trung tâm lưu

trữ Quốc gia I Chúng tôi đã tiến hành khai thác gần 50 hồ sơ lưu trữ thuộc Phông Phủ Thống sứ Bắc kỳ liên quan đến các hoạt động của trường thi Hương Nam Định

từ năm 1888 đến 1912 Khối tư liệu tiếng Pháp bao gồm: các văn bản, quy định của Toàn quyền Đông Dương, Văn phòng Toàn quyền, của Khâm sứ Toàn quyền Đông Dương; các tài liệu viết tay của quan trường Nam Định; các văn bản quy định về kỳ thi bổ sung tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ; các bài thi chữ Pháp và chữ Quốc ngữ của thí sinh; đơn thư của sĩ tử trường Nam Định; báo cáo tài chính của một số kỳ thi Hương ở Nam Định Khối tư liệu này bù lấp vào những thiếu vắng trong chính sử của triều Nguyễn do có ít ghi chép về thi Hương khi có sự can thiệp của chính quyền Pháp vào hoạt động khoa cử ở Việt Nam

Thứ tư, ngoài các tài liệu tiếng Việt được xuất bản trong và ngoài nước, luận

án sử dụng nguồn tài liệu nước ngoài bao gồm các sách, bài viết xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Trung Trong số các học giả quốc tế nghiên cứu về giáo dục khoa cử Trung Hoa, không thể không nhắc đến Benjamin A Elman, người có nhiều công trình nổi tiếng bàn về giáo dục khoa cử Trung Hoa thời Minh – Thanh như bài viết

“Changes in Confucian Service Examinations from the Ming to the Ch’ing Dynasty” (năm 1994) [325] và cuốn sách A Cultural History of Civil Examinations

in Late Imperial China (năm 2000) [326] được coi là sách “gối đầu giường” cho các

nhà nghiên cứu về khoa cử Trung Hoa và các nước chịu ảnh hưởng Trung Hoa Các học giả Trung Quốc, Nhật Bản có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về thi

Hương và trường thi Hương Trung Quốc như: China’s Examination Hell (The Civil

Service Examinations of Imperial China) của Ichisada Miyazaki năm 1981 [327], Influence of China’s Imperial Examinations on Japan, Korea and Vietnam của Liu

Haifeng năm 2007 [334]… Những hiểu biết về giáo dục khoa cử của Trung Hoa và những nước chịu ảnh hưởng mô hình khoa cử Trung Hoa giúp luận án có những hiểu biết sâu sắc hơn về giáo dục khoa cử Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận

Xuyên suốt trong chiều dài lịch sử, về cơ bản nền giáo dục khoa cử Việt Nam trung đại ổn định và có nhiều đặc điểm chung, tuy nhiên, nếu nhìn theo từng thời kỳ lịch sử có nhiều điểm khác biệt trong quá trình triển khai khoa cử của từng triều đại Để khám phá và nhận diện đầy đủ hơn về giáo dục khoa cử thời Nguyễn cần có cách tiếp cận đa chiều với nhiều phương pháp khác nhau Để triển khai luận

án, phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử được sử dụng trong quá trình thu

thập, phân tích và đánh giá các nguồn sử liệu

Phương pháp lịch sử là phương pháp chính được sử dụng trong luận án

Dựa trên phương pháp này, thi Hương thời Nguyễn được xem xét thấu đáo dưới cả góc nhìn đồng đại và lịch đại So sánh hoạt động thi Hương thời Nguyễn với thời

Trang 29

Lê không chỉ làm rõ hơn nhận thức về hoạt động thi Hương thời Nguyễn mà phần nào hỗ trợ cho những hiểu biết về thi Hương thời Lê trong tình hình thiếu tư liệu như hiện nay Bên cạnh đó, cái nhìn lịch đại cho thấy, thi Hương thời Nguyễn có những khác biệt rõ nét trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, can thiệp vào nền giáo dục bản địa Trong cái nhìn đồng đại, luận án đặt những vấn đề thi Hương thời Nguyễn so sánh với Trung Hoa – nơi được xem là nguồn gốc ảnh hưởng tới giáo dục khoa cử Việt Nam

Bên cạnh phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp tập hợp và phân

tích tư liệu đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu Các nguồn tư liệu

khác nhau từ chính sử, châu bản; tư liệu chữ Hán, tư liệu tiếng Pháp cho đến các công trình sử học của nhiều thế hệ học giả đi trước đều được khai thác và phân tích,

sử dụng trong luận án

Phương pháp thống kê sử dụng trong luận án được áp dụng với hướng tiếp

cận nghiên cứu lịch sử xã hội Dựa trên Quốc triều Hương khoa lục (sử dụng chính)

và Quốc triều khoa bảng lục của Cao Xuân Dục, chúng tôi đã tiến hành thống kê,

phân tích các số liệu liên quan đến người học, người thi và quan trường như: số người đỗ theo từng trường, từng vùng; độ tuổi đỗ, nguồn gốc của các Cử nhân, số lượng, phẩm hàm quan trường… Ưu điểm của phương pháp thống kê cho nhận thức khách quan về vấn đề nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp định lượng

Ngoài ra, những nhận thức và kết quả nghiên cứu về thi Hương thời Nguyễn

sẽ trở nên khách quan và sâu sắc hơn khi kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu

so sánh Nếu chỉ đơn thuần trình bày quá trình hình thành, phát triển, hoạt động của

trường Hà Nội hoặc Nam Định mà không đặt trong sự so sánh với các trường thi Hương khác cùng thời thì khó có thể nhìn nhận được chính sách khoa cử của triều Nguyễn cũng như không thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa các trường thi trong cả nước Ngoài ra, phương pháp so sánh còn có ý nghĩa hơn nữa khi đặt thi Hương thời Nguyễn trong tương quan so sánh với thời Lê và với khoa cử Trung Hoa Phương pháp so sánh chính là công cụ hỗ trợ hữu hiệu cho nhận thức về sự triển khai thực tế của nhà Nguyễn trong việc tiếp nhận mô hình khoa cử Trung Hoa

Mặc dù không phải là mục tiêu chính của luận án nhưng việc khảo sát thực địa để xác định, tìm hiểu vị trí của trường thi Hương Hà Nội và Nam Định xưa là việc làm cần thiết Để thực hiện mục đích nghiên cứu này, luận án đã sử dụng các

phương pháp khảo sát, điền dã thực địa, phỏng vấn, địa danh và phương pháp chồng áp bản đồ để hiểu thêm về lịch sử hình hành và phát triển của 2 trường thi Hà

Nội và Nam Định Chúng tôi cũng đi điền dã ở Nam Định, Huế và Sài Gòn để tìm

tư liệu và khảo sát về các trường thi Hương Nam Định, Thừa Thiên và Gia Định

Trang 30

Về cách tiếp cận, luận án được triển khai trên cơ sở tiếp cận lý thuyết về thế

giới các nước Hán hóa, lý thuyết văn hóa chính trị và cách tiếp cận lịch sử xã hội1

Về lý thuyết thế giới các nước Hán hóa, Vandermeerch, tác giả cuốn Thế giới

Hán hóa mới, cho rằng cho tới giữa thế kỷ XIX, thế giới Hán hóa gồm có Trung

Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam đã cấu thành một chỉnh thể ít nhất cũng chặt chẽ như chỉnh thể của thế giới phương Tây và chắc chắn còn chặt chẽ hơn chỉnh thế của thế giới Hindu hóa hoặc của thế giới Hồi giáo [294, tr.237] Cùng chịu ảnh hưởng của nền giáo dục, văn minh Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam đều có cách tiếp nhận và bản địa hóa khác nhau

Hiện nay, các nhà nghiên cứu có xu hướng không tiếp cận giáo dục và khoa cử như một thực thể độc lập mà đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với các khía cạnh chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội Khởi đầu cho lối tiếp cận này là Max Weber trong

tập chuyên luận có tựa đề Tập hợp các chuyên luận về xã hội học tôn giáo Khi

nghiên cứu về xã hội Trung Quốc cổ đại, Max Weber đã lưu ý đến “tính không triệt để” của loại hình phân tầng xã hội, tức là những cá nhân thuộc tầng lớp có địa vị xã hội thấp có thể trở thành quý tộc và ngược lại Điều này dẫn đến hiện tượng Trung Quốc có chỉ số di động xã hội cao hơn các nước phương Tây cổ đại và xã hội Ấn Độ

cổ đại [282, tr.100] Giáo dục khoa cử của Việt Nam thời trung đại tiếp nhận mô hình Trung Hoa và trên thực tế có nhiều điểm tương đồng với khoa cử Trung Hoa nên khi nghiên cứu khoa cử Việt Nam, những luận điểm của Weber là cách tiếp cận mang tính định hướng Từ cách tiếp cận nghiên cứu ban đầu của Weber, cho đến nay, nhiều học giả quốc tế nghiên cứu về khoa cử như Benjamin Elman, A.B.Woodside… đều đi theo cách tiếp cận này – nhìn giáo dục như khía cạnh của văn hóa chính trị, xã hội Trong quá trình triển khai luận án, chúng tôi sử dụng lý thuyết tiếp cận xem khoa cử không chỉ đơn thuần là vấn đề giáo dục mà còn “ảnh hưởng đến tầng diện chế độ chính trị” của quốc gia cũng như việc bổ nhiệm quan chức trong bộ máy nhà nước, sự hình thành truyền thống hiếu học của xã hội Việt Nam… [348]

6 Đóng góp của luận án

Trên cơ sở của các nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của luận án tập trung vào một

số nội dung chính sau:

- Phác họa cái nhìn tổng quan về thi Hương thời Nguyễn thông qua những nội dung chính gồm: trường thi, nội dung thi, hệ thống quan trường và sĩ tử Bức tranh tổng quan về thi Hương thời Nguyễn cho phép hình dung một cách khái quát

về những quy định của triều Nguyễn trong nỗ lực ổn định và phát triển khoa cử bắt đầu từ cấp thi đầu tiên

Trang 31

- Khắc họa diện mạo, quá trình hình thành, phát triển, cách thức hoạt động của 2 trường thi Hương Hà Nội và Nam Định ở miền Bắc Việt Nam thời Nguyễn Trên cơ sở nhận thức vừa là trường thi cụ thể vừa là 2 trường thi đại diện cho miền Bắc, luận án có cái nhìn so sánh để từng bước hình dung diện mạo, quy mô, cách thức hoạt động của các trường thi Hương khác trong cả nước thời Nguyễn

- Tìm hiểu và lý giải sự biến đổi của các môn thi Hương truyền thống từ sau khi có sự can thiệp của chính quyền Pháp – sự xuất hiện của các môn thi bổ sung tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ Đây là một trong những đóng góp có ý nghĩa của luận

án khi nhìn quá trình vận hành thi Hương và biến đổi của nó trong suốt chiều dài khoa cử hơn 100 năm, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong thi Hương truyền thống và những hệ luận rút ra từ những thay đổi này

- Phân tích, làm rõ những nội dung liên quan đến quan trường thi Hương trong đó tập trung làm rõ sự khác biệt về quyền lợi và nghĩa vụ của quan trường thuộc các vị trí khác trong trường thi (quan và lại) Quan trọng hơn, trên cơ sở phân tích cách thức triều Nguyễn tuyển lựa quan trường cho các trường thi Hương, luận

án phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa khoa cử và bộ máy chính quyền

- Trên cơ sở thống kê, phân tích, xử lý thông tin liên quan đến hơn 1900 Cử nhân của 3 trường Hà Nội, Nam Định và Hà Nam cũng như so sánh với các trường thi Hương khác trong cả nước thời Nguyễn, luận án làm rõ sự gia tăng của đội ngũ trí thức (ít nhất là từ học vị Cử nhân) trong xã hội Việt Nam từ nhu cầu tuyển lựa nhân sự của triều đình Trong đó, luận án nhấn mạnh đến sự thay đổi về số lượng đỗ Cử nhân và số lượng Cử nhân được bổ nhiệm quan lại giữa các vùng Nói cách khác là sự thay đổi tương quan giữa các vùng văn hóa từ chính sách khoa cử của nhà Nguyễn

- Chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa thi Hương Việt Nam và Trung Quốc, trong đó tập trung vào 3 nội dung chính: trường thi; nội dung thi và các khía cạnh liên quan đến sĩ tử và quan trường Nghiên cứu so sánh với Trung Quốc với đóng góp hiểu hơn về thi Hương trong nước và chỉ ra những “khúc xạ” của nhà Nguyễn trong quá trình tiếp nhận mô hình khoa cử Trung Hoa

Trang 32

CHƯƠNG 1 THI HƯƠNG THỜI NGUYỄN: MỘT CÁI NHÌN TỔNG QUAN

1.1 TRƯỜNG THI

1.1.1 Số lượng các trường

Thời Lý và đầu thời Trần, các hoạt động khoa cử gắn liền với nhiều loại hình thi khác nhau: Minh kinh bác học, Nho học tam trường, Tam giáo, Thái học sinh và

Tiến sĩ (7 năm tổ chức một khoa thi)… Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1396,

cách thức thi Hương bắt đầu được quy định rõ ràng dưới thời vua Trần Thuận Tông,

“cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội” [71, tr.189] Tuy nhiên, cho đến nay vẫn không có nhiều sử liệu chép về thi Hương thời Trần

Thời Lê, giáo dục Nho học cùng với Nho giáo được đề cao Kiến văn tiểu lục

của Lê Quý Đôn cho biết, cả nước có 9 trường thi Hương là: Hải Dương, Sơn Nam, Tam Giang, Kinh Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, An Bang và Tuyên Quang [84, tr.163] Sang thời Nguyễn, số các trường thi rút xuống còn 6 hoặc 7 trường, tùy theo từng triều vua

Thời Gia Long, năm 1807, cả nước có 6 trường thi [221, tr.702] mở từ Nghệ

An trở ra Bắc, không có trường thi nào phía Nam được tổ chức Đó là các trường: Nghệ An, Thanh Hoa1, Kinh Bắc2, Sơn Tây3, Sơn Nam thượng4 và Hải Dương5 Năm 1812, vua Gia Long định lại điều lệ thi Hương, hợp nhất một số trường6

, mở thêm các trường: Quảng Đức7, Bình Định8 và Gia Định9 Lúc này số các trường thi lên tới 7 trường và thi Hương được tổ chức khắp trong toàn quốc, gồm: Quảng Đức, Bình Định, Gia Định, Nghệ An, Thanh Hoa, Thăng Long và Sơn Nam thượng

Thời Minh Mệnh, năm 1825, cả nước có 6 trường thi Hương gồm: trường Thừa Thiên10, trường Gia Định11, trường Nghệ An12, trường Thanh Hóa13, trường Bắc Thành

Gồm Sơn Tây, Hoài Đức, Tuyên Quang và Hưng Hóa thi chung

4 Gồm Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ thi chung

5 Gồm Hải Dương và Yên Quảng thi chung

6

Học trò các trường Kinh Bắc và Sơn Tây hợp thi vào trường Thăng Long; học trò Hải Dương, Quảng Yên

và Sơn Nam hạ hợp thi tại trường Sơn Nam thượng

7 Gồm Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam thi chung Trường Quảng Đức sau đổi là trường Thừa Thiên

8

Gồm Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa thi chung Sau đó trường Bình Định lại hợp với trường Quảng Đức [221, tr.838]

9 Gồm Bình Thuận, Phiên An, Biên Hòa,Vĩnh Thanh, Định Tường, Hà Tiên thi chung

10 Dành cho sĩ tử từ Quảng Bình vào đến Phú Yên

11

Dành cho sĩ tử từ Khánh Hòa trở vào Nam

12 Gồm Nghệ An, Hà Tĩnh thi chung

Trang 33

(sau là trường Hà Nội)1 và trường Nam Định2 [222, tr.437, 438] Số lượng các trường

thi này cơ bản ổn định cho tới cuối thời Nguyễn Năm 1834, nhà Nguyễn định lệ, sĩ tử các tỉnh từ Quảng Bình tới Phú Yên thi chung ở trường Thừa Thiên, sĩ tử từ Khánh Hòa vào Nam thi chung ở trường Gia Định Năm 1848, trường Thanh Hóa được lập lại, không thi cùng với các trường khác [236, tr.386] vì theo vua Tự Đức “hạt ấy là ấp thang mộc như đất Nam Dương, Phong Bái3, không thể nào theo lệ như châu khác được” nên quay lại định chế của vua Minh Mệnh năm thứ 12 [196, tr.19]

Năm 1850, vua Tự Đức cho mở lại trường thi Bình Định, là nơi thi chung của các sĩ tử Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên và Khánh Hòa [62, tr.294] Sau khi

3 tỉnh miền Đông Nam Bộ rơi vào tay người Pháp, trường Gia Định đóng cửa sau

45 năm hoạt động (từ 1813 đến 1858) Năm 1863, Tự Đức tiếp tục mở trường thi ở

An Giang [227, tr.819], tuy nhiên trường thi này chỉ tổ chức 1 khoa thi, lấy đỗ 10 người vào năm 1864 [62, 371-372] Sau đó trường này cũng bị bãi bỏ vì 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ cũng bị thực dân Pháp chiếm

Tóm lại, thời Nguyễn, tính từ sau cải cách hành chính của Minh Mệnh năm

1831, nếu chia theo vùng:

+ Bắc Kỳ có 2 trường thi Hương là Hà Nội và Nam Định

+ Trung Kỳ có 4 trường thi Hương là: Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên và Bình Định + Nam Kỳ có 1 trường thi Hương là Gia Định (sau là trường An Giang)

1.1.2 Thời gian tổ chức thi

Thời Nguyễn, khoa thi Hương đầu tiên được tổ chức vào năm 1807 Giải thích cho việc tổ chức thi Hương vào năm 1807, chiếu của vua Gia Long viết: “Nhà nước cầu nhân tài, ắt nhằm vào khoa mục Về quy chế khoa cử ở tiền triều ta, các đời có cử hành Ngày nọ nhân Tây Sơn trộm chiếm, phép cũ phải hủy bỏ, kẻ sĩ mai một Nay thiên hạ đã yên, Bắc, Nam cùng một đường lối, mở mang chính trị giáo hóa, đúng là phải thời” [196, tr.13]

Sau khi lên ngôi, do phải dành nhiều thời gian cho việc khôi phục, xây dựng đất nước, dưới thời Gia Long, các kỳ thi Hương 6 năm tổ chức một lần (vào các năm Mão, năm Dậu), đến thời Minh Mệnh đổi thành 3 năm một lần [222, tr.442] và

trở thành định lệ cho đến hết triều Nguyễn Đại Nam thực lục chép: năm 1825, bắt

đầu định phép thi Hương4, thi Hội5, “3 năm một khoa thi, thi Hương lấy các năm

Nam Dương: quê hương Hán Quang Vũ, Phong Bái: quê hương Hán Cao Tổ

4 Thi Hương còn gọi là Thu vi

5 Thi Hội còn gọi là Xuân vi

Trang 34

Tý, Ngọ, Mão, Dậu, thi Hội thì lấy các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi” [222, tr.442]

Một số năm gặp các trường hợp đặc biệt, triều đình mở ân khoa

Thi Hương tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, nhưng vì cả nước có từ

6 đến 7 trường thi nên với mỗi trường thi, nhà Nguyễn quy định thời gian dự thi riêng cho từng trường với tổng thời gian khoảng 1 tháng hoặc 1 tháng 10 ngày [62, tr.231-232] Tùy theo từng triều vua, thời gian thi của mỗi trường thi sẽ được quy định cụ thể, nhưng nhìn chung thời gian tổ chức thi Hương của các trường là như sau: các trường Thừa Thiên, Nghệ An, Bình Định thi vào tháng 7; trường Gia Định thi vào tháng 9; ba trường Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định thi vào tháng 10 [196, tr.16] Tính đến cuối thời Nguyễn, nhìn chung trật tự thi này của các trường là không thay đổi (Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Quy định thời gian tổ chức thi Hương của các trường

1821 Tháng 7 Quảng Đức, Nghệ An

Tháng 9 Thăng Long, Sơn Nam, Thanh Hoa, Gia Định

1824 Tháng 7 Thừa Thiên, Gia Định, Nghệ An

Tháng 9 Thanh Hoa, Bắc Thành, Nam Định

1843 Tháng 7 Thừa Thiên, Nghệ An

Tháng 9 Gia Định Tháng 10 Hà Nội, Nam Định

1850 Tháng 7 Thừa Thiên, Bình Định, Nghệ An

Tháng 9 Gia Định Tháng 10 Hà Nội, Nam Định

1876 Tháng 7 Thừa Thiên, Bình Định, Nghệ An

Tháng 10 Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định

1878 Tháng 4 Thừa Thiên, Bình Định

Tháng 6 Thanh Hóa, Nghệ An

Nguồn: Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên, tập 6;

Cao Xuân Dục (1993), Quốc triều Hương khoa lục

1.1.3 Quy mô, cấu trúc trường thi

Thời Lê, các trường thi không được xây dựng cố định, nơi tổ chức thi thường được đặt trên bãi đất trống hay một cánh đồng đã thu hoạch Sắp đến ngày thi, quan

sở tại mới dựng tạm nhà lá và rào tre kín xung quanh, bằng những vật liệu không chắc chắn Thi xong là phá bỏ đi

Sang đầu thời Nguyễn, quy mô, cách thức dựng trường thi vẫn kế thừa cấu trúc từ thời Lê, xung quanh rào phên kín, chia thành hai khu vực dành cho thí sinh

và quan trường Dựa vào thay đổi trong cách thức, quy mô, cấu trúc trường thi Hương thời Nguyễn, có thể chia thành 2 giai đoạn lớn: giai đoạn trước và sau thời

vua Thiệu Trị, trong đó lấy năm 1843 - năm vua Thiệu Trị ra quyết định kiên cố hóa

trường thi - làm mốc

Trang 35

Thời Gia Long, trường thi làm bằng tre và gỗ, rộng 66 tầm1 và dài 107 tầm2, bên trong rào thưa, bên ngoài rào mau Lấy chính giữa trường thi làm mốc để chia thành 2 khu trước và sau Ranh giới giữa các khu dựng hàng rào kín Nếu tính diện tích, trường thi Hương thời Gia Long rộng gần 50.000m2

Khu phía trước, chính giữa dựng nhà Thập đạo, bên trái đặt Tả môn, bên phải đặt Hữu môn Bên trái nhà Thập đạo, phía trước gọi là vi Giáp, phía sau gọi là

vi Tả; bên phải nhà Thập đạo, phía trước gọi là vi Ất, phía sau gọi là vi Hữu 4 vi hướng về nhà Thập đạo, đều có 1 cửa để ra vào Đằng trước vi Giáp đặt cửa Giáp, đằng trước vi Ất đặt cửa Ất, tương tự như vậy với vi Tả và vi Hữu

Khu phía sau bên trong, một phần ngăn làm ngoại trường, nội trường Ranh giới giữa nội trường và ngoại trường đều được rào kín Ở phía ngoài nhà Thập đạo, chính giữa là phòng thi 5 gian Bên trái phòng thi là phòng Đề điệu, Hiệp trấn; bên phải phòng thi là phòng Giám thí và Đốc học Hai bên phải và trái của phòng Đề điệu, Hiệp trấn là 2 phòng của Lại điển, 1 phòng của Thể sát Chính giữa khu vực nội trường là phòng viên Tỏa viện3, Giám thí Bên phải và bên trái là 2 phòng Sơ khảo và Phúc khảo Trừ phòng thi rộng 5 gian, tất cả các phòng còn lại đều rộng 3 gian Phía trước là cửa nội trường, hai bên phải, trái cửa nội trường đặt thêm 1 cửa nữa Bốn góc trường dựng 1 chòi canh, bên phải, bên trái, trước, sau đều có hàng điếm canh [196, tr.30]

Ngoài khu vực trường thi, vua Gia Long cũng yêu cầu ở gần các trấn đường làm 1 nhà công quán để làm chỗ cho quan trường tạm trú, trước trấn đường làm 1 rạp lợp tranh 5 gian để dự bị làm chỗ yến tiệc [196, tr.30]

Thời Minh Mệnh, năm 1825, trường thi được mở rộng hơn Trong khu vực

nội trường, phía sau phòng của quan Chánh, Phó Chủ khảo đặt thêm 2 phòng dành cho quan Phân khảo Phía sau phòng thi, dựng thêm một nhà công đường Đề điệu, bên trái đặt phòng Chánh Đề điệu, bên phải đặt phòng Phó Đề điệu Sau công đường là chỗ ở của các Lại phòng Đằng trước dựng một cửa, khóa và chìa khóa của cửa này do biền binh ứng trực ở Thí viện đường canh giữ [222, tr.136]

Như đã nói ở trên, cứ sau mỗi kỳ thi, trường thi lại bị phá bỏ đi Trước tình hình đó, năm 1825, bộ Công tâu với vua Minh Mệnh rằng: “Trước đây những tài liệu về trường thi Hương các địa phương mỗi khi việc trường đã xong được tuỳ tiện lấy dùng, rất là hư phí Từ nay về sau sở tại hoặc có dùng vào việc công thì phải trình xin trước để tuân làm, nếu không dùng vào việc công mà còn thừa thì đều theo nguyên giá chia là 10 phần giảm đi 4 phần đem bán nộp vào kho” [222, tr.471]

Trang 36

Điều khoản này được nhà vua chấp nhận, các địa phương cứ theo đó mà làm, trừ trường thi Hương Thừa Thiên được giữ lại để dùng vào việc thi Hội, không bán Tuy nhiên, việc dỡ trường thi, lấy vật liệu đem bán nộp vào kho của nhà nước vẫn gây ra sự lãng phí nên năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), bộ Công đề xuất: “xin mua các loại [vật liệu] bền chắc để làm [trường thi] Xong việc dỡ xuống, xếp vào một chỗ đến khoa sau lại cho dựng lên” [36, tr.31] để đỡ khỏi tốn phí nhân công vật liệu

Đến năm Thiệu Trị năm thứ 3, 1843, trường thi được xây dựng kiên cố hơn, bằng các loại gỗ cứng chắc, lợp ngói phiến, xung quanh xây tường gạch [196,

tr.30] Như vậy, từ thời điểm này, trường thi Hương ở nước ta thay vì rào tre và nhà

lá đã được dựng bằng nhà ngói, bên ngoài bao tường gạch

Vua Thiệu Trị cho định lệ xây dựng trường thi Hương Thừa Thiên làm mẫu chuẩn cho các địa phương theo quy thức như sau:

Nhà của Chánh Phó Chủ khảo, Chánh Phó Đề điệu, Phân khảo và nhà Thập đạo gồm 7 tòa, đều 1 gian 2 chái; nhà của Giám khảo, Phúc khảo, Thể sát, Mật sát, ngoại trường Lại phòng gồm 7 tòa, đều 3 gian 2 chái Nhà Thí viện, công

sở của Đề điệu, nội trường Lại phòng gồm 3 tòa, đều 5 gian 2 chái; nhà Sơ khảo 2 tòa, gồm 6 gian 2 chái Mỗi tòa mặt vách sau 2 chái bên tả bên hữu, liệu chừng mở ra 1 chỗ cửa bán nguyệt, đằng sau cửa dựng thêm 1 cái bán mái để làm nơi phòng bếp Các sở cửa trường đều dựng 2 cái cột, chu vi trường và chu vi sở

Đề điệu nội trường, ngoại trường và nhà Thập đạo giáp 4 vi tả hữu, giáp ất; sở Giám khảo chỗ tả hữu giáp 2 viện Sơ Phúc, đều xây tường gạch để ngăn chặn 4 vi, lại dựng một dãy nhà dài, mỗi dãy đều 7 cái nhà, mỗi cái nhà 17 gian [226, tr.544] Trên cơ sở đó, triều Nguyễn chuẩn cho các tỉnh Gia Định, Hà Nội, Nghệ An

và Nam Định căn cứ vào quy thức trên mà dựng trường thi, khác ở chỗ 4 vi Tả, Hữu, Giáp, Ất – nơi thí sinh làm bài thi – “để trống chứ không dựng mái che”, thí sinh tự mang theo lều chõng vào trường thi

Từ quy định của Thiệu Trị, trường thi của các tỉnh đều có cấu trúc chung gồm: bên ngoài là khu vực làm bài của thí sinh và bên trong là khu vực làm việc của quan trường Rào ngăn giữa hai khu xây bằng tường gạch

Phía trước là khu vực làm bài của thí sinh được chia làm 4 vi, mỗi vi đều có rào bao quanh, biệt lập và có cửa thông ra nhà Thập đạo (rộng 1 gian 2 chái), là nơi học trò nộp quyển thi và nơi hội đồng giám khảo ngồi trong lúc sĩ tử làm bài thi Phía trước của nhà Thập đạo có cửa Tiền để các thí sinh sau khi thi xong, nộp bài đi ra

Phía sau là khu vực làm việc của quan trường, chia thành 2 khu riêng: nội trường và ngoại trường

* Nội trường: là phần trong cùng của trường thi Chính giữa Nội trường có

Thí viện, là nơi hội họp của các quan Sơ khảo và Phúc khảo Nội trường được thông với ngoại trường bằng một lối đi nhỏ

Trang 37

* Ngoại trường: là nơi làm việc của các quan Chánh Chủ khảo, Phó Chủ

khảo, Chánh Phân khảo, Phó Phân khảo, Chánh, Phó Đề tuyển Ngoài ra, đây còn là nơi làm việc của các viên Thể sát và Lại điển giúp việc cho Chánh, Phó Chủ khảo Trong ngăn ngoại trường, có nhà Đề tuyển là nơi giữ quyển thi của thí sinh và là nơi làm việc của các quan Đề điệu và Lại phòng giúp việc

1.1.4 Việc cung cấp vật dụng cho trường thi

Vì trường thi Hương được tổ chức trên bãi đất rộng, đáp ứng số lượng người dự thi lớn nên nhân lực, vật lực dành cho việc xây dựng và hoạt động của trường thi khá tốn kém

Thời Lê, quan trường làm việc trong trường thi liên tục trong khoảng hơn một tháng Việc cung cấp đồ dùng cho quan trường trong thời gian làm việc tại trường thi được phân bố theo phẩm cấp Thời Lê Trung hưng, mỗi khi có khoa thi, mỗi xứ1 kinh phí chi cho việc dựng nhà, sắm đồ dùng và ăn uống cho quan trường hết “1700 quan

3 tiền 45 đồng và 15.137 bát rưỡi gạo” [141, tr.128] Số tiền gạo này là do dân phải

nộp trước khi có khoa thi chứ không do Nhà nước cấp Theo lệ năm 1678, mỗi

phường xã ở các xứ Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An phải nộp, phường xã lớn 2 quan tiền và 65 bát gạo; phường xã vừa 1 quan 5 tiền và

50 bát gạo; phường xã nhỏ 1 quan tiền và 35 bát gạo Ở các xứ khác, mỗi phường xã lớn phải nộp 1 quan và 20 bát gạo, phường xã vừa 8 tiền và 15 bát gạo, phường xã nhỏ 6 tiền và 10 bát gạo Phường xã sẽ nộp lên huyện châu [141, tr.128]

Các khoản cung ứng cho mỗi trường thi Hương thời Nguyễn gồm có tiền và nhân công cho việc xây dựng, sửa chữa trường thi; tiền, gạo, vật dụng cho quan trường và những người giúp việc cho quan trường trong thời gian tổ chức thi Hương

và các vật dụng khác sử dụng trong quá trình thi Năm 1825, 300 dân phu đã được huy động để xây dựng trường thi Hương Thừa Thiên trong vòng một tháng Sau khi công việc kết thúc, 250 dân phu trở về làng, 50 dân phu tiếp tục ở lại để cung ứng củi nước cho trường thi trong vòng 15 ngày, mỗi ngày mỗi người được cấp 1 tiền Tổng chi phí dành cho các công việc của trường thi Hương Thừa Thiên năm đó là

525 quan tiền [29, tr.284-285] Năm 1852, vua Tự Đức cho phép các tỉnh điều động

từ 300 đến 400 binh lính vào việc xây dựng hoặc sửa chữa trường thi để hỗ trợ cho dân địa phương đỡ vất vả [232, tr.70-71]

* Chu cấp cho quan trường và người giúp việc trong trường thi

Trong khoảng hơn 1 tháng sinh sống và làm việc tại trường thi, quan trường được cung cấp tiền, gạo và các nhu yếu phẩm khác

1 Trường thi Hương thời Lê tổ chức theo xứ, không theo tỉnh như thời Nguyễn

Trang 38

Thời Gia Long, số tiền, gạo dành cho quan trường do quan các trấn lấy ở kho của trấn mình ra để chu cấp Riêng viên Tỏa viện vì dùng người sở tại nên không được nhận khoản tiền và gạo của triều đình cấp Từ năm 1825 trở đi, vua Minh Mệnh xuống chỉ, những viên Tỏa viện nào do đình thần chọn cử từ những Thiêm sự Thừa biện ra được cấp 20 quan tiền và 4 phương gạo trắng [196, tr.33] Số tiền, gạo chu cấp cho quan trường dưới thời Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức là khác nhau (Phụ lục Bảng 1)

So sánh việc cung ứng tiền và gạo dành cho quan trường thi dưới các triều vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị có điểm chung là số tiền và gạo cấp cho các

vị Đề điệu, Giám thí (thời Gia Long) hay Chánh, Phó chủ khảo (thời Minh Mệnh và Thiệu Trị) là nhiều nhất và không thay đổi Vì là những người chịu trách nhiệm cao nhất của trường thi nên họ được nhận mức chu cấp cao nhất và gần như không đổi suốt 3 triều vua, từ 45 – 50 quan tiền và 10 phương gạo Nhóm thứ 2 được nhận số tiền và gạo không đổi trong một thời gian dài là các viên Sơ khảo, Mật sát, Thể sát

và Lại phòng, đều 20 quan tiền và 4 phương gạo Họ thuộc nhóm nhận tiền và gạo ít nhất trong trường thi Các quy định về tiền và gạo dành cho quan trường thay đổi dưới các vua đầu triều Nguyễn là nhóm các quan Giám khảo, Đề điệu, Phó đề điệu, Phân khảo, Phúc khảo và Giám sát xê dịch trong khoảng từ 25 đến 30 quan tiền tùy theo từng vị trí công việc Tuy nhiên, sự thay đổi không đáng kể

Thời Tự Đức, số tiền và gạo cung cấp cho quan trường giảm xuống so với thời Minh Mệnh và Thiệu Trị Chánh, Phó Chủ khảo chỉ được cấp từ 30 đến 35 quan tiền

và từ 6 đến 7 phương gạo trắng Nhóm nhận tiền và gạo ít nhất là các Thư lại vị nhập lưu chỉ có 4 quan tiền và 1,5 phương gạo trong suốt thời gian làm việc tại trường thi

Ngoài tiền và gạo, quan trường được chu cấp các vật dụng khác phục vụ đời sống thường ngày trong thời gian làm việc tại trường thi như: giường, ghế bàn kỷ, ống quyển, tủ sách, kỷ viết, rơm, chiếu, dầu đèn cùng một số đồ dùng khác… Ngoài

ra, quan trường trong thời gian làm nhiệm vụ tại trường thi được phép có người đi theo hầu Quan Đề điệu, Giám thí có 5 người theo hầu; Giám khảo, Sơ khảo đều 4 người; Phúc khảo, Sơ khảo, Mật sát đều 2 người Các ngày vào trường, treo bảng,

số lính theo quan viện thí, mỗi viên 20 người, canh giữ ở trong và ngoài trường và đến ngày vào trường kiểm tra, dò xét các công việc của sĩ tử

* Vật dụng dùng trong trường thi

Để hoạt động trong khoảng thời gian trên dưới một tháng, các trường thi Hương đều được triều đình cung ứng cho nhiều vật dụng phục vụ hoạt động thi cử bên cạnh việc đáp ứng sinh hoạt thường ngày của quan trường và những người giúp việc trong trường thi

Các đồ dùng cung ứng cho trường thi gồm có: ghế chéo, bút, mực, son đá, nghiên son, nghiên mực bằng sành, giấy rộng, giấy vừa, bảng vuông to… Mỗi

Trang 39

trường, tùy theo số lượng sĩ tử dự thi sẽ được triều đình cung ứng với số lượng nhiều ít khác nhau

Thời Gia Long, năm 1807, các trường thi được cung ứng: 3 mõ gỗ dùng cho điếm canh cửa trường, phòng thi và phòng tỏa viện; 4 ghế chéo bằng gỗ sơn đen (cao 5 thước); 15 hòm quyển (dài 2 thước 5 tấc, ngang 2 thước), 4 thùng to đựng nước, 6 cái phên ngồi bằng tre, 10 đôi chiếu thường và 10 đôi chiếu dài, 20 cái kỷ viết, 300 quản bút, 300 thoi mực, 3 giành son đá, 100 cái nghiên mực, nghiên son

bằng sành; 5000 tờ giấy rộng, 1000 tờ giấy vừa, sách (Ngũ kinh, Tứ thư, tiền và hậu

sử) mỗi thứ 1 bộ, 40 cái bảng gỗ Ngoài ra khóa, chìa khóa, cây đèn đĩa, đèn dầu và

bấc được cấp đủ dùng trong suốt kỳ thi [196, tr.35]

Năm Minh Mệnh thứ 2, 1821, một số khoản vật dụng dành cho trường thi giảm xuống Theo đó hòm quyển rút từ 15 xuống 10 hòm, mực từ 300 xuống 100 thoi, nghiên son, nghiên mực rút từ 100 xuống 50 cái, giấy rộng và giấy vừa chỉ còn

là 3000 tờ và 5000 tờ [196, tr.35] Thời Thiệu Trị, 1843, số lượng vật dụng cung ứng cho các trường thi Hương tăng hơn nhiều so với thời Minh Mệnh và là khác nhau đối với mỗi trường, trong đó 2 trường Hà Nội và Nam Định là những trường được cung ứng nhiều nhất trong cả nước (Phụ lục Bảng 2)

Từ năm 1825, mỗi trường thi Hương được cấp một lá cờ khâm sai, một bài phụng chỉ Cũng từ năm này trở đi, quan trường khâm phái được cấp cờ bài khi đi

làm việc vụ ở các trường thi Hương [222, tr.437-438]

Năm 1828, triều Nguyễn đổi lại chế triện “Văn hành công khí”1 của 6 trường thi Hương, mỗi trường 4 quả, từ bằng đồng sang bằng ngà Cũng trong năm này, triều Nguyễn đúc lại ấn đồng của các trường thi Hương ở Gia Định, Nghệ An, Thanh Hoa và các trường Sơn Tây, Hải Dương [222, tr.731]

Trước đây, trong các trường thi, triều đình sử dụng lính và voi để duy trì trật

tự trong quá trình tổ chức thi Nhưng từ năm 1840, vua Minh Mệnh cho rằng: “voi

để dùng đi chiến trận, còn học trò đi thi, phái lính để tuần phòng xem xét cũng đủ rồi, dùng voi làm gì” [225, tr.746-747] nên từ đó về sau trong các trường thi không dùng voi để phục vụ việc giám sát nữa mà chỉ còn binh lính

1.2 NỘI DUNG THI

1.2.1 Kiến thức thi Hương

Để có thể vượt qua được các kỳ thi Hương, thi Hội, sĩ tử phải tham gia học tập từ khi còn nhỏ với nhiều nội dung

Từ 6 đến 7 tuổi, cha mẹ bắt đầu cho con đi học ở lớp học thầy đồ trong làng

hoặc ở làng lân cận Ban đầu học trò học các sách cơ bản như Nhất thiên tự, Tam

1 Văn hành công khí: cái cân để cân nhắc văn chương [Dẫn theo: 222, tr.717]

Trang 40

thiên tự… tức là học những câu ngắn có vần, dễ nhớ, dễ thuộc Học trò tập viết bằng

thanh tre nhỏ, chấm nước lã viết lên miếng gỗ bằng bảng con hoặc viết lên khay cát, trên lá chuối Bao giờ viết thuận và quen thì tập viết trên vở [252, tr.59] Ngoài 10 tuổi, học trò bắt đầu học kinh truyện, cổ văn, thơ Đường, tập viết ám tả, tập viết văn

Lớn hơn nữa thì học thêm các sách sử Trung Quốc và Việt Nam Các sách nhập môn

cơ bản là: Tam tự kinh 1

, Sơ học vấn tân 2 , Ấu học ngũ ngôn thi 3

, Hiếu kinh 4 , Tứ tự kinh, Chu Tử trị gia cách ngôn, Minh tâm bảo giám 5 , Minh đạo gia huấn 6 …

Sau khi đã học các sách nói trên, học trò chuyển sang học các sách có nội

dung tư tưởng gồm Tứ thư, Ngũ Kinh… để có kiến thức tốt hơn phục vụ các kỳ thi

Tứ thư, Ngũ kinh gọi là chung là Cửu kinh, gồm 9 tác phẩm của các nhà Nho thời Tiên Tần [166, tr.229] Nội dung thi Hương tập trung xoay quanh hệ thống sách kinh điển Tứ thư, Ngũ kinh này.7

Thông thường “người từ 8 tuổi trở lên thì vào Tiểu học rồi đến học sách Hiếu

kinh, Trung kinh; 12 tuổi trở lên, trước học Luận ngữ8, Mạnh Tử9

, rồi tới Trung dung10, Đại học1; 15 tuổi trở lên, trước học Thi Thư, sau học Dịch, Lễ, Xuân Thu, học kèm Chư tử và sử” [221, tr.574]

1 Tam tự kinh: Sách do Vương Ứng Lân đời Tống biên soạn Mỗi câu trong sách gồm 3 chữ, gieo vần để học

dễ nhớ, chữ cuối các câu chẵn có vần với nhau, cứ liên tiếp 2 vần trắc rồi lại 2 vần bằng [Dẫn theo: 6, tr.70] Trong nghiên cứu của mình, tác giả Triều Nguyên đã cho rằng có sự tương đồng về hình thức biểu đạt giữa

đồng dao và sách Tam thiên tự, đặc biệt là trong các yếu tố như vần, nhịp và kết cấu [Dẫn theo: 187, tr.5]

2 Sơ học vấn tân: gồm 270 câu thơ có vần, gồm 3 phần: tóm tắt lịch sử Trung Quốc từ cổ đại đến đời Thanh;

tóm tắt lịch sử Việt Nam từ họ Hồng Bàng đến đời Nguyễn và phần cuối là những lời khuyên học trò

3 Ấu học ngũ ngôn thi: thể thơ năm tiếng, gồm 278 câu, chia thành từng khổ, mỗi khổ 4 câu, khuyến khích trẻ

con học tập để đỗ Trạng nguyên

4 Hiếu kinh: tương truyền do Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử soạn, nội dung đề cao chữ hiếu trong chế độ

gia đình tông pháp thời phong kiến [Dẫn theo: 167, tr.229]

5 Minh tâm bảo giám: trích những câu nói “lời hay ý đẹp” của người xưa để học tập

6 Minh đạo gia huấn: do Trình Hạo, hiệu Minh Đạo (1032-1085) soạn, gồm 500 câu thơ bốn chữ, có vần,

hướng dẫn phép đối nhân xử thế và khuyên răn đạo lý luân thường

7

Theo Lê Quý Đôn chép trong Vân đài loại ngữ: Cổ kinh có 6 loại, nhà Tấn đốt mất Kinh Nhạc nên chỉ còn

5 Sau lại thêm Chu Lễ và Nghi lễ nên thành 7; thêm Hiếu kinh, Luận Ngữ thành 9; thêm Xuân Thu, Tam truyện, Mạnh Tử, Nhĩ Nhã là 13 kinh Đời Tống, tiên Nho nêu cao Trung Dung, Đại học, Luận ngữ, Mạnh

Tử gọi là Tứ thư Nhà Minh định phép học chỉ lấy Tứ thư, Ngũ Kinh Còn Hiếu kinh và Nhĩ Nhã không lấy

mà ra bài nên học giả ít người thông hiểu lời huấn hỗ của nó [Dẫn theo: 83, tr.284]

8

Luận Ngữ:là bộ sách do học trò của Khổng Tử và hậu học sưu tầm, tập hợp những lời nói, những đối thoại

và những hành vi của Khổng Tử và các học trò của ông Sách Luận ngữ chia thành 10 quyển, mỗi quyển gồm

2 chương Nội dung chủ yếu của sách nêu lên quan điểm của Khổng Tử và các học trò của ông về các vấn đề chính trị, đạo đức, luân lý, tu dưỡng học tập… Luận ngữ chính thức đưa vào làm sách giáo khoa ở Trung Quốc từ thời Đường

9 Mạnh Tử: là sách do Mạnh Tử viết, gồm 14 chương, chia 2 phần: Mạnh Tử thượng và Mạnh Tử hạ Sách

bàn về vương đạo nhân chính và tính thiện của con người Mạnh Tử kêu gọi giai cấp thống trị thực hành nhân chính để thu phục nhân tâm, thống nhất thiên hạ Ngoài ra, Mạnh Tử khuyên mọi người coi trọng việc tu

dưỡng nội tâm, bảo tồn tính thiện để hoàn thiện những phẩm cách tốt đẹp Tư tưởng tiến bộ nhất của Mạnh

Tử là đề cao vai trò của người dân Đến đời Tống, Mạnh Tử chính thức coi là sách giáo khoa

10 Trung Dung: vốn là tên một thiên (thiên thứ 31) trong Lễ ký, tương truyền là do Tử Tư (cháu nội của Khổng Tử) sống ở thời Chiến Quốc soạn Trung dung là cuốn sách kế thừa tư tưởng của Khổng Tử, được coi

là phương pháp cơ bản để đối xử với tự nhiên, xã hội và nhân sinh, có tính thực tiễn cao Đối với các nhà

Ngày đăng: 21/09/2020, 20:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm