1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người hoạt động mại dâm tại tỉnh Quảng Ninh

111 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Như chúng ta đã biết, công tác phòng ngừa và hỗ trợ người mại dâm giảm hại trong bán dâm và hòa nhập cộng đồng được các bộ, ngành, cơ quan chính quyền, tổ chức chính t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM VĂN ĐỒNG

MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIẢM HẠI VÀ HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI HOẠT ĐỘNG MẠI DÂM TẠI TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

HàNội, năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM VĂN ĐỒNG

MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIẢM HẠI VÀ HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI HOẠT ĐỘNG MẠI DÂM TẠI TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số:60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồi Loan

Hà Nội, năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

- Đây là công trình nghiên cứu của tôi

- Số liệu trong luận văn đƣợc điều tra trung thực

- Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Phạm Văn Đồng

Trang 4

đề xã hội, đây cũng là một tiền đề để tôi có thể tham gia các công trình nghiên cứu khoa học sau này

Tôi xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hồi Loan đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Những hướng dẫn, chỉ bảo của thầy đã cho tôi tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài

Do thời gian thực hiện và hoàn thành Luận văn có hạn chế nên nghiên cứu của tôi không thể tránh khỏi những thiếu xót, kính mong các thầy cô trong khoa và nhà trường đóng góp ý kiến để bài luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Phạm Văn Đồng

Trang 5

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 2

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài: 3

2.2 Các nghiên cứu trong nước: 5

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 7

3.1 Ý nghĩa khoa học 7

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 8

6 Phạm vi nghiên cứu 8

7 Phương pháp nghiên cứu: 8

7.1 Phương pháp luận 8

7.2 Phương pháp thu thập thông tin 9

8 Kết cấu luận văn 10

NỘI DUNG CHÍNH 11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 11

1.1 Các khái niệm liên quan: 11

1.2 Các lý thuyết ứng dụng: 16

1.3 Chính sách về công tác phòng, chống mại dâm 23

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: 29

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ THỰC TRẠNG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIẢM HẠI VÀ HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI BÁN DÂM TẠI TỈNH QUẢNG NINH 32

2.1 Cơ sở thực tiễn xây dựng mô hình hỗ trợ giảm hại, hoà nhập cộng đồng cho người bán dâm tại tỉnh Quảng Ninh 32

2.1.1 Những khó khăn của người bán dâm 32

2.1.2 Nhu cầu của người bán dâm 40

Trang 6

2.1.3 Quan điểm của nhà nước về xây dựng Mô hình hỗ trợ giảm hại và

hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm 50

2.1.4 Quan điểm về xây dựng mô hình hỗ trợ giảm hại và hoà nhập cộng đồng cho người bán dâm tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 51

2.2 Thực trạng mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm tại Quảng Ninh 54

2.2.1 Mục đích xây dựng mô hình 55

2.2.2 Cơ cấu tổ chức của mô hình 55

2.2.3 Những kết quả đạt được 61

2.2.4 Những hạn chế, tồn tại 65

Chương 3 ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIẢM HẠI VÀ HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI BÁN DÂM TẠI TỈNH QUẢNG NINH 68

3.1 Mục đích hoạt động 68

3.2 Cơ cấu tổ chức của mô hình hỗ trợ giảm hại và hoà nhập cộng đồng cho người bán dâm 69

3.2.1.Cơ quan quản lý: 69

3.2.2 Số lượng thành viên 70

3.2.3 Cơ sở vật chất 71

3.3 Những hoạt động chính của Mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người hoạt động mại dâm 71

3.4 Kinh phí hoạt động của mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm 74

3.5 Vai trò của nhân viên xã hội trong mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm 76

3.6 Một số khuyến nghị 77

3.6.1 Đối với chính sách 77

3.6.2 Đồi với Mô hình giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm 79

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

KÝ TỰ VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ

LĐTBXH Lao động – Thương binh và Xã hội

NGO Tổ chức phi chính phủ

HIV/AIDS Bệnh suy giảm miễn dịch xảy ra ở người

PCTNXH Phòng,chống tệ nạn xã hội

STIs Bệnh lây truyền qua đường tình dục

UBND Ủy ban Nhân dân

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên

hiệp quốc

Trang 8

BẢNG DANH MỤC BẢNG BIỂU BIỂU ĐỒ

1 Danh mục bảng biểu

Bảng 2.1: Lý do hoạt động mại dâm của người bán dâm được điều tra

Bảng 2.2: Thông kê số con của người bán dâm được điều tra

Bảng 2.3: Nhu cầu khám chữa bệnh của người bán dâm

Bảng 2.4: Những vấn đề bất ổn về tinh thần

2 Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 2.1: Miêu tả hoạt động khám bệnh của người hoạt động mại dâm

Biểu đồ 2.2: Nguyên nhân quay trở lại hoạt động mại dâm

Biểu đồ 2.3: Trình độ học vấn nhóm người hoạt động mại dâm được điều tra Biểu đồ 2.4: Ý định về công việc trong thời gian tới

Biểu đồ 2.5: Những vấn đề tâm lý gặp phải ở người hoạt động mại dâm

Biểu đồ 2.6: Nhu cầu trợ giúp pháp

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, công tác phòng ngừa và hỗ trợ người mại dâm giảm hại trong bán dâm và hòa nhập cộng đồng được các bộ, ngành, cơ quan chính quyền, tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức phi chính phủ trong nước (NGO) quan tâm thực hiện theo nhiệm vụ được quy định tại văn bản pháp luật

và chính sách liên quan

Trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong các năm 2011-2013 thực hiện Quyết định số 679/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hầu hết các tỉnh, thành phố đã được Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn và hỗ trợ triển khai các mô hình thí điểm như mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người mại dâm (từ các năm 1995), mô hình xã phường không có tệ nạn mại dâm (từ các năm 2005) mô hình chuyển đổi hỗ trợ người bán dâm từ Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội sang

hỗ trợ tại cộng đồng( từ năm 2012), mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng (từ năm 2013) Các Trung tâm phòng chống HIV/AIDS ở một số tỉnh, thành phố có tỉ lệ cao về số người nhiễm HIV và một số tổ chức NGO trong nước được các tổ chức quốc tế hỗ trợ đã thực hiện các mô hình nhóm đồng đẳng, nhóm tự lực, câu lạc bộ can thiệp giảm tác hại về HIV cho người bán dâm Ngoài ra, trong các năm 2012 trở về trước, người bán dâm được chữa trị, giáo dục bằng hình thức đưa vào trung tâm chữa bệnh -giáo dục- lao động xã hội

Thông qua thực hiện các mô hình nêu trên, các địa phương đã đạt được kết quả nhất định về nhiều mặt như nâng cao nhận thức của các ban ngành, đoàn thể, người dân đối với phòng chống mại dâm; tăng cường công tác quản

lý địa bàn, quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm có môi trường dễ

Trang 10

phát sinh mại dâm; đấu tranh, xử lý các đường dây, tổ chức hoạt động mại dâm; hỗ trợ người bán dâm giảm hại về lây nhiễm HIV/AIDS, điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục ( STIs) và hòa nhập cộng đồng Công tác phòng chống mại dâm nói chung, các mô hình thí điểm nói riêng, đã mang lại những kết quả nhất định, góp phần giữ gìn an ninh trật tự xã hội, bảo vệ thuần phong mỹ tục, hạnh phúc gia đình, phòng ngừa lây nhiễm HIV

Bên cạnh những kết quả đã đạt được trên thì kết quả phòng, chống mại dâm nói chung và hỗ trợ hoà nhập cộng đồng cho người bán dâm nói riêng còn nhiều hạn chế Số lượng người tham gia vào hoạt động mại dâm vẫn tăng,

tỷ lệ người lây nhiễm các bệnh qua đường tỉnh dục mà đặc biết là lây nhiễm HIV/AIDS qua con đường tình dục tăng cao; tỷ lệ người bán dâm bị bạo hành

và phân biệt đối xử vẫn còn khá cao Các mô hình thí điểm cho người bán dâm còn thiếu cơ sở pháp lý (chủ yếu là do các tổ chức quốc tế thực hiện), thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn trong công tác xây dựng mô hình Chính vì những lý do trên, để giúp người bán dâm có thể tự bảo về mình và tiếp cận các dịch vụ xã hội cũng như từng bước hoà nhập được cộng đồng, trong

nghiên cứu này, chúng tôi mạnh dạn đề xuất mô hình lý thuyết: Mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người hoạt động mại dâm tại tỉnh Quảng Ninh

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:

Phòng, chống mại dâm nói chung và hỗ trợ người bán dâm hòa nhập cộng đồng nói riêng là vấn đề được chính quyền, đoàn thể tỉnh Quảng Ninh đặc biệt quan tâm trong những năm vừa qua

Để thực hiện tốt công tác phòng, chống mại dâm Chi cục phòng, chống

tệ nạn xã hội tỉnh Quảng Ninh được sự chỉ đạo của Cục Phòng, chống tệ nạn

xã hội – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các tổ chức

Trang 11

quốc tế thực hiện các hoạt động thống kê, báo cáo và nghiên cứu về hoạt động mại dâm tại khu vực để thuận tiện cho công tác ban hành chính sách, hỗ trợ đối tượng bán dâm hòa nhập cộng đồng

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài:

Mại dâm là một vấn đề khá nổi cộm trong xã hội nhưng do tính chất nhạy cảm của vấn đề nên hiện nay vẫn còn khá ít những công trình nghiên cứu trong và nước ngoài về lĩnh vực này

Nghiên cứu Cơ sở pháp lý, quyền con người và phòng, chống HIV đối với người hành nghề mại dâm ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương do Trung tâm Khu vực châu Á – Thái Bình Dương UNDP tháng 8 năm 2011 Nghiên cứu này đã đưa ra cái nhìn tổng quan về chính sách đối với hoạt mại dâm và những nỗ lực cải thiện chính sách của các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có nhận định về chính sách phòng, chống mại dâm ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ: “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam” của TS Kimberly Hoàng Trên cơ sở nghiên cứu điền dã tại TP Hồ Chí Minh;

Ts Kimberly Hoàng đã làm việc như một chiêu đãi viên tại bốn quán bar phục vụ cho các nhóm khách hàng khác nhau Theo giáo sư xã hội học Berkeley Raka Ray, chủ tịch ủy ban luận án, nghiên cứu của Kimberly Hoàng

“không những chỉ làm nổi bật là cấu trúc và cách hành nghề mại dâm ở Việt Nam mà còn giải thích mại dâm giữ vai trò quan trọng như tiền mặt trong nền kinh tế chính trị của Việt Nam.”

“Tomiye Ishida – Câu chuyện của một gái mại dâm đồng tính tại Mỹ” đây là đề tài kinh tế thuộc những nghiên cứu về phụ nữ tại Mỹ giai đoạn 1993-1994 Công trình nghiên cứu này là bài vết của một người phụ nữ bán dâm đồng tính tại Canada, dưới cái nhìn của một người vẫn đang hoạt động

Trang 12

mại dâm để nhìn nhận về nguyên nhân làm mại dâm, những khó khăn trong quá trình bán dâm của những người bán dâm nói chung và của người đồng tính nói riêng và những cản trở từ việc ban hành và thực thi pháp luật tại Canada Qua bài viết này, chúng ta có thể cảm nhận được những vấn đề khó khăn mà người bán dâm thường phải đối mặt, ngay cả khi họ hoạt động mại dâm tại một đất nước không coi mại dâm là một hoạt động vi phạm pháp luật

và từ đó tìm ra những biện pháp hỗ trợ thích hợp cho người bán dâm tại Việt Nam

Bài viết “Mại dâm theo nhu cầu- hợp pháp hóa người mua dâm như khách hàng tình dục” của Janice G.Raymond – Giám đốc điều hành của Liên minh chống buôn bán phụ nữ (CATW)thuộc Hội đồng kinh tế xã hội Liên hợp Quốc Bài viết này đã đưa ra giả thuyết giải thích tại sao người đàn ông mua dâm và không cho rằng chỉ nhu cầu của nam giới đối với tình dục mại dâm thúc đẩy việc buôn bán người, mại dâm và kinh doanh tình dục Nhưng tác giả lại khẳng định nhu cầu của nam giới là một yếu tố quan trọng để mở rộng ngành kinh doanh tình dục trên toàn thế giới đồng thời duy trì khai thác thương mại tình dục và làm cho người mua dâm dễ dàng thoạt khỏi sự kiểm tra, phân tích, chỉ trích và sự trừng phạt cho hành động của họ

Bài phát biểu "Mại dâm và quyền dân sự" của tác giả Catharine A.Mackinton tại Hội nghị chuyên đề " Mại dâm: những nghiên cứu khoa học đến hoạt động thực tiễn" được tổ chức vào 31/10/1992 tại trường đại học Luật Michigan Bài phát biểu này đã nêu ra quyền dân sự của những người bán dâm và những khó khăn trong việc tiếp cận những quyền đó, những hạn chế của pháp luật đối với người bán dâm

Bên cạnh những nghiên cứu trên, có một số nghiên cứu khác về mại dâm như: Antonian J.U (1996), Gái mại dâm dưới con mắt nhà tâm lý học”,

Trang 13

đã nghiên cứu sâu nguyên nhân của tệ nạn mại dâm dưới góc độ tâm lý, xã hội của gái mại dâm, trên cơ sở đó tìm ra giải pháp phòng, chống mại dâm từ góc độ tâm lý, xã hội Balars Gabrielle (1996), Thị trường mại dâm”, đã làm sáng tỏ toàn diện thực trạng mại dâm trên thế giới; chỉ rõ nguyên nhân của mại dâm và giải pháp phòng ngừa mại dâm của một số nước trên thế giới

2.2 Các nghiên cứu trong nước:

- Nghiên cứu Đặc điểm di biến động của người hoạt động mại dâm nhìn

từ góc độ giới năm 2013 Nghiên cứu được thực hiện bởi Cục Phòng chống

Tệ nạn xã hội (Cục PCTNXH), Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (Bộ TB&XH), với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), trong khuôn khổ chương trình được tài trợ bởi Qũy thành tựu Thiên niên kỷ (MDG-F) của Liên hiệp quốc do Tây Ban Nha hỗ trợ và Chương trình Chung quốc gia về Bình đẳng giới giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hiệp quốc Nghiên cứu giúp mọi người có được sự hiểu biết tốt hơn về vai trò của yếu tố giới trong việc quyết định di cư của những người hoạt động mại dâm, và những khía cạnh mà di cư và giới có liên quan đến việc tham gia vào hoạt động mại dâm; lý do và khuôn mẫu di biến động của người hoạt động mại dâm (cả những người di cư và những người không di cư) cũng như khả năng dễ bị tổn thương do di biến động của họ, nhìn từ góc độ về giới Từ đó đề xuất cụ thể

LĐ-về việc ban hành chính sách và xây dựng các chương trình can thiệp

- Đề tài cơ sở lý luận và thực tiến xây dựng định hướng cho công tác phòng, chống tệ nạn xã hội đến năm 2020 của Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội năm 2012 Đề tài đã chỉ ra được cơ sở lý luận và thực tiễn công tác phòng, chống mại dâm trong tình hình hiện tại và đưa ra một số định hướng trong thời gian tới

Trang 14

- Nguyên cứu tâm lý của phụ nữ tham gia mại dâm chưa đến tuổi vị thành niên năm 2003 do Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ ra rằng đặc điểm tâm lý của tr em gái tuổi vị thành niên làm nghề mại dâm Tác động của mại dâm đến đối tượng này và phương pháp ngăn ngừa sự tác động của mại dâm đến phụ nữ chưa đến tuổi vị thành niên

- Tài liệu dịch Các nghiên cứu quốc tế về phòng, chống mại dâm do Cục phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện năm 2013 Tài liệu cung cấp cho người đọc những thông tin về các biện pháp phòng, chống mại dâm tại một số nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Những phương pháp phòng, chống mại dâm nói chung và hỗ trợ người bán dâm nói riêng sẽ là kinh nghiệm để chúng ta học hỏi và áp dung khoa học vào thực tế ở Việt Nam

Nghiên cứu Đánh giá nhu cầu hỗ trợ người bán dâm và tình phù hợp với mô hình thí điểm từ năm 2011-2014 do Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội phối hợp với tổ chức Plan vùng Hà Nội được thực hiện tại 5 tỉnh, thành phố lớn Hà Nội , Hải Phòng, Khánh Hoà, Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh năm 2013 Nghiên cứu đã cho thấy những nhu cầu hiện tại của người hoạt động mại dâm cũng như những khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội và hòa nhập cộng đồng của họ

Bộ tài liệu "Can thiệp giảm tác hại nhằm cải thiện tiếp cận và sử dụng dịch vụ sức khỏe sinh sản và HIV cho người bán dâm dành cho học viên và giảng viên do Cục phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động – Thương binh

và Xã hội biên soạn năm 2014 Bộ tài liệu giúp cho cán bộ ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tham khảo các thông tin về chương trình can thiệp

Trang 15

giảm tác hại cho người bán dâm Đồng thời các tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công tác xã hội cũng có thể sử dụng tài liệu này để tham khảo

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết Xã hội học

và CTXH như: thuyết nhu cầu, thuyết vai trò, thuyết trao đổi xã hội…

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đối với Nhà nước: kết quả nghiên cứu có thể giúp cho quá trình hoạch định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách, chiến lược về các đối tượng yếu thế trong xã hội Đặc biệt là những chị em hoạt động mại dâm

Đối với địa phương: nghiên cứu đưa ra một mô hình lý thuyết về hỗ trợ giảm hại và hoà nhập cộng đồng cho người bán dâm để tỉnh Quảng Ninh có thể từng bước áp dụng vào hoạt động hỗ trợ người bán dâm tại địa phương Đối với bản thân nhà nghiên cứu: qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực

tế, nhà nghiên cứu có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹ năng thực hành CTXH nói chung và CTXH nhóm nói riêng Từ đó giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác của bản thân

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng thực hiện mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người hoạt động mại dâm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó đưa ra đề xuất hoàn thiện mô hình hỗ trợ người bán dâm hoà nhập cộng đồng tại tỉnh Quảng Ninh

Trang 16

4.2 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ các khái niệm, lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng mại dâm tỉnh Quảng Ninh

- Tìm hiểu về nhu cầu hỗ trợ của người bán dâm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở pháp lý, đặc điểm và tính chất của mô hình hỗ trợ giảm hại, hoà nhập cộng đồng cho người bán dâm

Khách thể nghiên cứu: cán bộ địa phương (chi cục PCTNXH, phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hạ Long, Hội phụ nữ thành phố Hạ Long, trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh, cán bộ tổ chức SCDI……, các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ vay vốn tạo việc làm, các cơ quan cung cấp các hỗ trợ pháp lý

6 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào nhóm chị em bán dâm trên địa bàn thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Độ tuổi người hoạt động mại dâm trong nghiên cứu này chủ yếu từ 27 đến 35 tuổi

7 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 17

7.2 Phương pháp thu thập thông tin

7.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích văn bản, tài liệu:

Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu

đã tìm hiểu một số tài liệu như: các nghiên cứu về vấn đề mại dâm trong và ngoài nước; báo cáo công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm hàng năm và xây dựng mô hình hỗ trợ giảm hại, hoà nhập cộng đồng của tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu liên quan khác (xem phần Danh mục tài liệu tham khảo)

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Nhà nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài đã tiến hành phỏng vấn sâu

cá nhân 20 người, trong đó:

Số người Nội dung

14 Chị em đang hoạt động mại dâm;

02 Cán bộ chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội;

02 Cán bộ Hội phụ nữ thành phố Hạ Long;

01 Cán bộ Trung tâm công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh

01 Cán bộ phòng lao động thành phố Hạ Long;

Các kết quả phỏng vấn sâu giúp cho người đọc hiểu rõ hơn, chi tiết hơn

về các vấn đề liên quan và là minh chứng cụ thể, sinh động cho các số liệu nghiên cứu định lượng

72.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến

Để hiểu về tuổi, hoàn cảnh gia đình, nhu cầu, khó khăn… của người hoạt động mại dâm nhà nghiên cứu tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với

Trang 18

50 người hoạt động mại dâm Họ là những người tham gia nhón tự lực của người hoạt động mại dâm trên địa bàn thành phố Hạ Long Hiện tại hoạt động của nhóm tự lực được thực hiện thường xuyên một tháng một lần dưới sự quản lý của Chi Cục phòng,chống tệ nạn xã hội tỉnh Quảng Ninh Tác giả đã tiến hành phát phiếu hỏi cho 55 người và thu lại 50 phiếu

7.2.4 Phương pháp quan sát

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhà nghiên cứu đã tiến hành

quan sát thái độ, cử chỉ của chị em hoạt động mại dâm Đặc biệt là việc quan sát chị em trong quá trình sinh hoạt nhóm Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng đã thu thập được

8 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận và Kiến nghị Phần Nội dung bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Chương 2: Mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm tại tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Đề xuất hoàn thiện mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người hoạt động mại dâm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trang 19

NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm liên quan:

1.1.1 Khái niệm mại dâm:

Trên thế giới hiện nay, chưa có một khái niệm thống nhất về mại dâm

Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, các nhà khoa học lại đưa ra quan điểm riêng của mình

Quan điểm của một số nhà tâm lý học cho rằng: “mại dâm là hành vi nhằm thực hiện các dịch vụ quan hệ tình dục có tính chất mua bán trên cơ sở một giá trị vật chất nhất định ngoài phạm vi hôn nhân”

Các nhà xã hội học khi nghiên cứu về mại dâm cho rằng: “mại dâm là một dịch vụ kinh doanh nhằm cung cấp sự thỏa mãn tình dục cho cá nhân trong những trường hợp nhất định, nó cung cấp tình dục mang tính cách đồi trụy và tạo ra không khí vô đạo đức đáng ngờ và nguy hiểm, tác dụng như thuốc kích thích đối với một số người nhất định, nó cung cấp và đáp ứng như cầu tình dục cho những người không cần sự gắn bó về tình cảm”

Vì vậy, một hành vi được coi là mại dâm khi có các dấu hiệu đặc trưng

cơ bản là có sự quan hệ trao đổi tình dục ngoài hôn nhân và quan hệ đó có bên mua và bên bán

Mua dâm và bán dâm là những hành vi được thực hiện ít nhất cũng là

từ khi con người biết đến lịch sử của mình và ở một chừng mực nào đó, có thể gọi đó là “một nghề lâu đời nhất thế giới” Mua dâm là dùng vật chất để đổi lấy sự thỏa mãn tình dục cho bản thân mình

Bán dâm là mang thân thể của mình làm thỏa mãn tình dục cho người khác để nhận được một phần quà hoặc kinh phí nhất định Hay nói cách khác

Trang 20

đây là hành vi cho thuê thân thể của mình làm thỏa mãn tình dục cho người khác để được trả một giá trị vật chất nhất định

Mại dâm là nỗi đau nhức nhối của lương tâm nhân loại, cũng có thể

xem đó là sự sỉ nhục đối với lương tri (Khái niệm Tệ nạn mại dâm – Trang

thông tin điện tử Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội thành phố Hải Phòng ngày 23/05/2012)

Ở Việt Nam, theo Điều 3, Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm Số:

10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 14 tháng 03 năm 2010 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Mại dâm gồm có hành vi mua dâm, bán dâm, trong đó:

Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả

tiền hoặc lợi ích vật chất khác

Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả

cho người bán dâm để được giao cấu

Mại dâm là một hoạt động bất hợp pháp ở Việt Nam Điều 4 Pháp lệnh Phòng chống mại dâm nghiêm cấm các hành vi mua dâm, bán dâm và những hành vi khác như chứa mại dâm, tổ chức hoạt động mại dâm, cưỡng bức bán dâm, môi giới mại dâm, bảo kê mại dâm, lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm và các hành vi liên quan khác

Đặc điểm quan trọng của mại dâm là hình thức cung cấp sự thỏa mãn

về tình dục để đổi lấy tiền hoặc các giá trị vật chất Nghiên cứu này tìm hiểu bốn hình thức mại dâm sau: mại dâm nữ với nam, mại dâm nữ với nữ, mại dâm nam với nam và mại dâm nam với nữ

Như vậy, ta có thể thấy, khái niệm mại dâm được nhà nước ta đưa ra vẫn còn khá nhiều bất cập và thu hẹp phạm vi đối tượng mại dâm Hành vi

Trang 21

mại dâm không chỉ có giao cấu mà còn có các hình thức khác như kính dục, quan hệ qua đường miệng… Chính vì vậy mà khái niệm mại dâm chỉ được xác định khi có hành vi giao cấu là chưa hoàn toàn chính xác

1.1.2 Khái niệm giảm hại

Khái niệm giảm hại trong phòng, chống mại dâm là một khái niệm khá mới ở Việt Nam Hiện nay ở nước ta, công tác giảm hại trong phòng, chống mại dâm mới được tiến hành trong một vài năm trở lại đây nên chưa có một khái niệm chính thức nào được các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách đưa ra Trước đây chúng ta từng thực hiện hoạt động giảm hại nhưng chủ yếu tập trong trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS

Trên thế giới, trong những năm qua, đặc biết là ở những nước có chính sách cởi mở về mại dâm như: Hà Lan, Brasin, Đức… khái niệm giảm hại trong phòng, chống mại dâm được sử dụng khá phổ biến Định nghĩa ban đầu

của “Giảm hại” được sử dụng trong công tác phòng, chống ma túy: “Triết lý

và xây dựng các chiến lược mang tính thực tế để việc sử dụng ma túy an toàn nhất có thể với chính người dùng ma túy, cộng đồng và nền văn hóa” Bộ Nội

vụ Anh (1984), Báo cáo về phòng chống lạm dụng ma túy [5, tr 8] Sau đó

khái niệm giảm hại được chuyển dịch sang lĩnh vực phòng, chống mại dâm:

“Giảm hại trong mại dâm là làm cho việc mua bán dâm an toàn nhất có thể

với người bán dâm, người mua dâm, cộng đồng và nền văn hóa bằng việc áp

dụng những nguyên tắc của giảm hại trong sử dụng ma túy.” (GS Michael L

Rekart, Trung tâm kiểm soát dịch bệnh British Columbia, Trường Đại học tổng hợp British Columbia)

Như vậy chúng ta có thể khái quát lại như sau:

Hỗ trợ giảm hại là việc thực hiện các biện pháp can thiệp về y tế, tâm

lý, pháp lý, dạy nghề, vay vốn tạo việc làm nhằm giúp NBD hạn chế được tối

Trang 22

đa các tác hại nhiều mặt do đặc thù của mại dâm như giảm thiểu tác hại về sức khỏe liên quan đến hoạt động bán dâm ( HIV/AIDS, STIs); phòng, chống bóc lột tình dục bởi chủ chứa, môi giới, bạo lực tình dục của khách mua dâm; giảm tần suất bán dâm, được thực hiện các quyền cơ bản của con người; giảm

sự kỳ thị của xã hội và giảm tự kỳ thị bản thân; đồng thời, giảm tác động tiêu cực của hành vi bán dâm đối với xã hội

- Mục đích của giản hại:

Nhằm làm cho hoạt động mại dâm được an toàn hơn bằng cách áp dụng các nguyên tắc của giảm hại Một số ý kiến nhận định can thiệp giảm hại sẽ gửi thông điệp cho cộng đồng rằng những hành vi rủi ro hoặc bất hợp pháp là chấp nhận được

- Một số nguyên tắc giảm hại cơ bản trong phòng, chống mại dâm;

1 Mại dâm luôn tồn tại trong mọi xã hội

2 Mại dâm gây ra những mối nguy hại cho cá nhân và xã hội

3 Các chính sách về mại dâm phải thực tế và tác động của chính sách phải được đánh giá kỹ càng

4 Phụ nữ mại dâm là phần không nhỏ của cộng đồng, bảo vệ sức khỏe của họ là bảo vệ chính cộng đồng

5 Những mối nguy hại cho mại dâm xảy ra với nhiều cơ chế khác nhau nên cần thiết phải có 1 loạt can thiệp khác nhau

6 Người hoạt động mại dâm cần phải được đưa ra những lựa chọn của mình dựa trên những thông tin đầy đủ họ có và những lựa chọn đó sẽ làm giảm thiểu những mối nguy hại cho bản thân họ và cho xã hội Cục Phòng,

chống tệ nạn xã hội - Tổ chức Sức khỏe Gia đình quốc tế - FHI (2013), Tài

Trang 23

liệu Can thiệp giảm tác hại nhằm cải thiện tiếp cận và sử dụng dịch vụ sức khỏe sinh sản và HIV cho người bán dâm.[12, tr.21]

1.1.3 Khái niệm hoà nhập cộng đồng

Hòa nhập cộng đồng là việc người bán dâm đã thay đổi công việc, trở lại cuộc sống bình thường về tâm lý, tham gia vào các hoạt động, sinh hoạt cộng đồng và không cảm thấy bị phân biệt đối xử và tự kỳ thị bản thân Cục

Phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (2013),

Tài liệu hướng dẫn thực hiện mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm [13, tr.18]

1.1.4 Khái niệm mô hình hỗ trợ giảm hại

Mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm là

mô hình trong đó các mối quan hệ giữa các tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia công tác phòng, chống mại dâm giải quyết các vấn đề, sự vật, hiện tượng, nhu cầu liên quan đến người bán dâm theo cách tiếp cận vì mục tiêu giảm hại về

bán dâm và hỗ trợ người bán dâm hòa nhập cộng đồng Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (2013),Tài liệu hướng dẫn

thực hiện mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm

[13, tr 19]

1.1.5 Khái niệm nhóm Tự lực

Mỗi người đều có trong mình tiềm năng để tự phát triển bản thân (tự lực) và mỗi cá nhân đều cần có động lực để thích nghi, cải thiện hoàn cảnh đang ảnh hưởng tới cuộc sống của họ để họ có thể tham gia vào đời sống xã hội một cách bình đẳng, an toàn và đầy đủ

Nhóm Tự lực được hiểu mà một tập hợp những người có cùng một hoàn cảnh (có thể về kinh tế, về tâm lý, về hoàn cảnh sống, gia đình, )

Trang 24

Những người này gắn kết với nhau bằng những hoạt động chung của nhóm (như chia s kinh nghiệm, bộc lộ bản thân và học hỏi kiến thức) nhằm giúp đỡ lẫn nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống

Các thành viên trong nhóm Tự lực có thể là nam hoặc nữ, hoặc cả nam

và nữ tham gia vào nhóm một cách tự nguyện Họ có thể gặp nhau hàng tuần hay hàng tháng Họ sẽ là người lựa chọn địa điểm, thời gian, nội dung, hình thức sinh hoạt của nhóm để cùng nhau giải quyết vấn đề, phục hồi và vươn lên trong cuộc sống

Nhóm Tự lực hỗ trợ nạn nhân của mua bán người là nhóm Tự lực của những người bị mua bán trở về cộng đồng Thông qua nhóm, người bị mua bán trở về được giúp đỡ bởi các cơ quan chức năng, bởi chính các thành viên trong nhóm để nâng cao hiểu biết, tăng cường năng lực và tăng cường cơ hội hòa nhập cộng đồng, phát triển cuộc sống cá nhân của họ Cục Phòng, chống

tệ nạn xã hội – Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (2013),Tài liệu hướng

dẫn thực hiện mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm [13, tr 22]

1.2 Các lý thuyết ứng dụng:

Người bán dâm là một phần của xã hội, họ cũng có nhu cầu và các quan

hệ xã hội như bao con người bình thường khác Chính vì vậy để có thể tìm hiểu về đời sống, nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng cũng như mối quan hệ giữa các thành viên khi tham gia Mô hình, tôi đã ứng dụng một số lý thuyết sau:

1.2.1 Thuyết nhu cầu

Abraham Maslow nhìn nhận con người theo hướng nhân đạo vì vậy lý thuyết của ông được xếp vào trường phái nhân văn hiện sinh Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển, đó

Trang 25

là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội (tình yêu

thương), nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện

- Nhu cầu về vật chất, sinh lý: nhu cầu về đồ ăn, nước uống, không khí, nhu cầu về tình dục…Nhu cầu này được xem là nhu cầu cơ bản nhất trong 5 nhóm nhu cầu theo sự phân định của A.Maslow

- Nhu cầu an toàn: Con người cần có một môi trường sống an toàn, sức khỏe để bảo đảm sự tồn tại của họ Họ cần có nhà ở để tránh mưa, tránh nắng

Họ cần được khám chữa bệnh, được chăm sóc sức khỏe Họ cần được sống trong môi trường được đảm bảo về an ninh để tính mạng của họ không bị đe dọa Họ cần có môi trường sinh hoạt, vận động để không gây thương tích…

- Nhu cầu tình cảm xã hội: A.Maslow coi đó là nhu cầu thuộc về nhóm

xã hội của con người, sự mong muốn được quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội (gia đình, người thân, bạn bè…) Sức mạnh của họ sẽ được nhân lên, sự tự tin cũng được tăng cường khi họ là thành viên của các nhóm bởi điều đó khẳng định vai trò, vị trí của họ trong xã hội.Sự đơn độc, không gia đình, không có nhóm xã hội nào để cá nhân thuộc về đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển tâm lý và quan hệ xã hội của cá nhân

- Nhu cầu được tôn trọng: Con người luôn cần được đối xử bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường Dù đó là ai, tr em hay người lớn, người lành lặn hay người bị khuyết tật, người giàu hay người nghèo tất cả họ đều có nhu cầu được coi trọng, được ghi nhận về sự hiện diện cũng như chính kiến của cá nhân Con người có trở nên tự tin hay không, thể hiện được sức mạnh của mình hay không đó là một phần do họ được đối xử bình đẳng hay không khi còn nhỏ

- Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển: Đó là nhu cầu được đến trường, được nghiên cứu, lao động sáng tạo…để phát triển toàn diện Nhu cầu

Trang 26

này được A.Maslow cho là nhu cầu quan trọng, song chúng được xếp ở bậc thang cuối cùng bởi nó chỉ được đề cập tới khi những nhu cầu cơ bản ở các bậc thang nền tảng đã được đáp ứng Bùi Thị Xuân Mai (chủ biên), (2010),

Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, NXB Lao động – Xã hội, [31 Tr.35]

* Ứng dụng của thuyết nhu cầu vào trong đề tài

Ai trong mỗi chúng ta cũng có những nhu cầu, từ những nhu cầu đơn giản như nhu cầu sinh lý đến những nhu cầu cao hơn là khẳng định bản thân Những người hoạt động mại dâm cũng vậy trong quá trình hoạt động mại dâm và tham gia vào nhóm tự lưc họ cũng có những nhu cầu như nhu cầu an toàn, nhu cầu được mọi người tôn trọng… Chính vì vậy khi làm việc với chị

em tham gia nhóm tự lực, nhân viên xã hội, cán bộ các trung tâm cung cấp dịch vụ cần nắm rõ và hiểu nhu cầu của họ để có thể tiếp cận và hỗ trợ

1.2.2 Thuyết trao đổi xã hội:

Thuyết Trao đổi xã hội có nguồn gốc từ sự kết hợp của tâm lý học, kinh

tế học và xã hội học Lý thuyết trao đổi xã hội đã được giới thiệu trong những năm 1960 bởi George Homans Sau khi Homans thành lập lý thuyết này, nhiều nhà nghiên cứu khác như Richard Emerson, John Thibaut và Harold Kelly tiếp tục nghiên cứu về lý thuyết này John Thibaut và Harold tập trung nghiên cứu về các khái niệm tâm lý, nhóm nhị nguyên, nhóm nhỏ Homans tập trung vào nghiên cứu các hành vi của cá nhân khi tương tác với nhau Ông tin rằng các đặc điểm như năng lượng, sự phù hợp, lãnh đạo, tình trạng và công bằng trong hành vi xã hội lài rất quan trọng để giải thích trong lý thuyết

- Lý thuyết trao đổi xã hội đề xuất rằng hành vi xã hội là kết quả của một quá trình trao đổi lợi ích giữa các cá nhân Lợi ích này không chỉ dừng lại

ở các yếu tố vật chất mà trong quan hệ xã hội nó còn có thể là sự cảm thông, chia s , cảm giác được tôn trọng, tình yêu thương mà cá nhân nhận được

Trang 27

- Mục đích mà mọi người hướng đến trong các mối quan hệ là: Tăng lợi ích, giảm chi phí/thiệt hại cho bản thân Thuyết cho rằng tất cả các mối quan

hệ của con người được hình thành bởi sự phân tích giá cả lợi nhuận một cách chủ quan và có sự so sánh giữa các lựa chọn Vì thế, khi những rủi ro lớn hơn những phần thưởng, con người sẽ chấm dứt hoặc từ bỏ mối quan hệ Ví dụ, khi một người nhận thấy giá trị cái mình cho đi lớn hơn cái họ nhận được, thì người đó tức khắc sẽ quyết định từ bỏ mối quan hệ

- Theo đó, chi phí/thiệt hại liên quan đến những điều được xem là ảnh hưởng xấu đến cá nhân như phải bỏ tiền, thời gian và nỗ lực vào một mối quan hệ Những lợi ích là điều mà cá nhân nhận ra trong các mối quan hệ như niềm vui, tình bạn, sự đồng hành và hỗ trợ xã hội

- Lý thuyết trao đổi xã hội cho thấy rằng về cơ bản chúng ta có những lợi ích và trừ đi các chi phí/thiệt hại để xác định có bao nhiêu mối quan hệ có giá trị Mối quan hệ tích cực là khi lợi ích lớn hơn chi phí, trong khi mối quan

hệ tiêu cực xảy ra khi các chi phí lớn hơn lợi ích

- Tuy nhiên, do kỳ vọng của mỗi cá nhân vào các mối quan hệ là khác nhau nên mức độ hài lòng của họ đối với kết quả cũng sẽ khác nhau Ví dụ, trong mối quan hệ tình yêu, có những người hài lòng với việc nhận được sự quan tâm, chăm sóc của đối phương, nhưng có người còn mong chờ ngoài các yếu tố tinh thần sẽ có cả các phần thưởng "vật chất" khác như những món quà

- Khi không hài lòng với các mối quan hệ, người ta sẽ từ bỏ nó và tìm đến "các lựa chọn thay thế" là những mối quan hệ khác hứa hẹn sẽ cho nhiều lợi ích hơn mối quan hệ hiện tại Càng có nhiều mối quan hệ thay thế, cá nhân càng ít phụ thuộc vào mối quan hệ hiện tại Điều này có thể thấy rõ khi so sánh mức độ chủ động của phụ nữ ngày nay với phụ nữ trước đây trong việc

Trang 28

đưa ra quyết định ly hôn, các lý do chủ yếu là vì phụ nữ ngày càng độc lập hơn về kinh tế và địa vị xã hội, họ có nhiều mối quan hệ xã hội và dễ dàng hơn trong việc tái hôn so với trước đây

- Trước khi từ bỏ một mối quan hệ, cá nhân cũng cân nhắc các rào cản

Đó có thể là khoảng thời gian đã bỏ ra để xây dựng mối quan hệ, là những lợi ích tài chính chung đang chia s , là cảm xúc, là tránh các cuộc đối đầu, Nghĩa là đôi khi dù không hài lòng với các mối quan hệ, nhưng vì các rào cản, cá nhân sẽ vẫn duy trì chúng để duy trì một số các lợi ích khác Ví dụ: người vợ không ly hôn dù rất "chán" chồng vì chị ta sợ sẽ mất quyền nuôi con

- Mọi trao đổi xã hội đều hướng đến quyền lực, hay nói cách khác các

cá nhân luôn mong muốn gia tăng quyền lực, gia tăng sự kiểm soát của mình trong mối quan hệ xã hội;

- Tóm lại, lý thuyết Trao đổi xã hội nhấn mạnh vào giải thích hành vi của cá nhân theo kết quả của hành vi đó (Anh làm như thế vì muốn đạt được điều gì) thay vì giải thích theo nguyên nhân như các lý thuyết hành vi khác

Võ Thuấn (2008), Giáo trình Công tác xã hội nhóm - Trường Đại học Đà Lạt

[41, tr 26]

* Ứng dụng lý thuyết trao đổi xã hội

Nhân viên xã hội khi tiếp cận, làm việc nhóm với người bán dâm mong muốn được tìm hiểu về hoàn cảnh, nhu cầu hoặc nắm bắt được tâm lý của họ Đối với người bán dâm thì họ thường đặt ra cho nhân viên xã hội các câu hỏi như: Họ tiếp cận mình để làm gì? Mình sẽ được gì khi trao đổi với họ? Để giải quyết vấn đề đó, nhân viên xã hội cần nắm vững thuyết trao đổi xã hội để

có thể điều hòa được mối quan hệ giữa nhân viên xã hội cũng như mối quan

Trang 29

hệ giữa người bán dâm với người bán dâm trong quá trình sinh hoạt nhóm tự lực

1.2.3 Thuyết học tập xã hội:

Đầu những năm 60, Bandura đã nêu giả thuyết về Thuyết hành vi của mình, trong đó ngay từ đầu ông đã xác định là Thuyết hành vi xã hội, sau này gọi là Thuyết học tập xã hội Thuyết nhận thức xã hội có nghĩa là nghiên cứu hành vi ở cấp độ hình thành và thay đổi trong những tình huống xã hội

- Nội dung lý thuyết học tập xã hội

+ Cấu trúc của nhân cách

Những nghiên cứu của Bandura dựa vào sự quan sát hành vi của những nghiệm thể trong quá trình quan sát Hệ thống của Bandura không chỉ mang tính chất hành vi mà còn mang cả tính chất nhận thức Các quá trình nhận thức đóng vai trò quan trọng nhất trong Thuyết nhận thức xã hội, việc xem xét chúng là sự khác biệt cơ bản về quan điểm của Bandura với hệ thống Skinner Ông đưa ra mô hình hành vi như sau: Kích thích - Nhận thức - Phản ứng - Củng cố Tuy cùng đề cập đến vấn đề hiệu quả của hành vi tạo tác trong việc củng cố hành vi lặp lại, nhưng giữa Skinner và Bandura có sự hiểu khác nhau

về vai trò của nó (của kết quả) Đối với những nhà hành vi tạo tác, kết quả đóng vai trò là kích thích củng cố, làm tăng cường độ và tần số xuất hiện của hành vi lặp lại Còn theo Bandura, kết quả của hành vi có vai trò cung cấp thông tin về những hành động phù hợp hay không, tạo ra kỳ vọng và động cơ

ở chủ thể hướng tới hành động mới Những hoạt động nhận thức không mang tính tự trị - kích thích và củng cố kiểm soát tính chất và sự xuất hiện của chúng Như vậy theo mô hình cấu trúc của Bandura, nhận thức là nhân tố cốt lõi của nhân cách Bandura thừa nhận vai trò của củng cố trong việc điều chỉnh hành vi của con người, nhưng ông cũng tin - thậm chí còn chứng minh

Trang 30

bằng thực nghiệm rằng con người tiếp thu hầu như tất cả các dạng hành vi mà không trực tiếp nhận được một sự củng cố nào cả Chúng ta không phải lúc nào cũng đòi hỏi củng cố, chúng ta có thể học qua kinh nghiệm của người khác và hậu quả của những hành vi đó

+ Động cơ hệ

Theo A Bandura, phản ứng hành vi không vận hành một cách tự động bởi các tác nhân kích thích bên ngoài như đã xảy ra trong rô bốt hay máy móc Ngược lại, phản ứng đối với kích thích là những phản ứng tự kích hoạt

Như vậy quá trình nhận thức đóng vai trò quan trọng nhất, là nhân tố cốt lõi cho việc thúc đẩy hành vi của con người

* Niềm tin: Bandura nhấn mạnh ảnh hưởng của những tâm thế như niềm tin, kỳ vọng đến hành vi của con người Theo Bandura, sự tự tin là nhận thức về năng lực, niềm tin rằng chúng ta sở hữu các kỹ năng cá nhân và khả năng hành động sẽ giúp ta tiếp xúc một cách trực tiếp và thành công trong những tình huống khó khăn định trước Theo ông, các cá nhân sở hữu niềm tin rằng họ có khả năng để thực hành việc đo lường sự kiểm soát các ý nghĩ, xúc cảm và hành động Ông cho rằng, tiến trình của sự sáng tạo và sử dụng các niềm tin vào bản thân là khá đơn giản: Các cá nhân thực hiện hành vi, giải thích những thành tựu về hoạt động của họ, dùng những sự thể hiện để phát

Trang 31

triển niềm tin về năng lực, nhằm tiến hành các hành vi tiếp theo trong các lĩnh vực tương tự và hành động hoà hợp với niềm tin đã tạo ra…

* Củng cố gián tiếp: Theo A Bandura củng cố chỉ mang tính chất gián tiếp, nó góp phần thúc đẩy hành vi của con người Bandura nói rằng những sự củng cố này không kích thích chúng ta học nhưng kích thích chúng ta thể hiện những gì chúng ta đã học được Đây là cách ông nhìn vào động cơ của chúng

ta Nguyễn Thơ Sinh (2013), Các học thuyết tâm lý nhân cách,

http://tuhieuminh.blogspot.com

* Ứng dụng của lý thuyết học tập xã hội vào đề tài

Người hoạt động mại dâm chủ yếu là những người có hoàn cảnh khó khăn Họ mong muốn được xã hội chấp nhận và có thể hòa nhập cộng đồng

mà không phải chịu áp lực về sự kỳ thị hay phân biết đối xử từ gia đình, bạn

bè, môi trường xã hội xung quanh Thuyết học tập xã hội sẽ giúp nhân viên xã hội củng cố niềm tin trong mỗi người bán dâm, cung cấp các kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ bản thân và tự tin khẳng định bản thân của người bán dâm Từ

đó hỗ trợ họ hòa nhập được với môi trường xung quang

Đồng thời trong khi sinh hoạt nhóm tự lực, cán bộ xã hội cũng có thể khuyến khích các thành viên trong nhóm chia s về hoàn cảnh, cách ứng xử đối với những tai nạn gặp phải khi hoạt động mại dâm… để từ đó các chị em

có thể tham khảo và tích lũy kinh nghiệm cho mình

1.3 Chính sách về công tác phòng, chống mại dâm

1.3.1 Chính sách của nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm:

Chính sách về phòng, chống mại dâm của Đẳng và nhà nước ta nhất quán quan điển coi mại dâm là hoạt động cấm và những đối tượng liên quan đến hoạt động mại dâm là vi phạm pháp luật Quan điểm, chủ trương là vậy

Trang 32

nhưng cách thức thực hiện thì có sự chuyển dịch theo hướng tôn trong và bảo

vệ quyền con người

Những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng về tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Tuy nhiên, tệ nạn xã hội cũng có xu hướng phát triển ngày càng tăng, trở thành vấn đề xã hội bức xúc, nhất là tệ nạn mại dâm, nghiện hút ma tuý… Đây là loại TNXH nhức nhối nhất ở nước ta, trái với bản chất của chế độ và định hướng xã hội chủ nghĩa, gây hậu quả nghiêm trọng, làm băng hoại đạo đức, lối sống, gây thiệt hại lớn về mặt kinh tế, làm mất trật tự an toàn xã hội, phát triển giống nòi…

Tệ nạn xã hội là vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế thị trường nên được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp kịp thời nhằm đẩy mạnh và tăng cường công tác phòng, chống tệ nạn xã hội Nghị quyết Đại hội VI (1986-1990) của Đảng đã nhấn mạnh rằng, thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường, mặt tích cực là rất cơ bản, nhưng có mặt tiêu cực là tệ nạn xã hội phát triển Chủ trương của

Đảng ta lúc này là phải phát động thành “phong trào toàn dân tham gia

phòng ngừa và đấu tranh với các loại tệ nạn xã hội”

Đến Đại hội VII (1991-1995) trên cơ sở nhận định rằng mặc dù có nhiều cố gắng và ngăn chặn, song tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, Đảng ta

đã xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu 5 năm 1991-1995 là “vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tăng cường ổn định

chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội”, đồng thời nhấn mạnh phải “đẩy

mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng (ma tuý, mại dâm…)

Trang 33

Thời kỳ 1996 - 2000, đất nước tiếp tục đổi mới theo hướng Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng Tuy nhiên, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế ở một số nước khu vực châu Á và trên thế giới đã tác động đáng kể đến nước ta Những năm 1997-1998 tăng trưởng kinh tế giảm và đạt mức thấp nhất so với 5 năm trước đó Thời kỳ này tình hình tệ nạn xã hội cũng có xu hướng gia tăng mạnh, nhất là nạn ma tuý và mại dâm lan rộng; số người nhiễm HIV và mắc bệnh AIDS tăng, trở thành vấn đề xã hội nhức nhối Trước tình hình đó, Đảng

ta chủ trương “kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, đẩy lùi tiêu cực, bất công và các tệ nạn xã hội”, nhất là

tệ trộm cướp, cờ bạc, ma tuý, mua bán dâm…

Bước vào thiên niên kỷ mới, đất nước đã trải qua 20 năm đổi mới và kết thúc 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (1991 - 2000), đã đạt được thành tựu to lớn và rất quan trọng Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập Với nỗ lực chung của toàn Đảng, toàn dân đã hạn chế được tốc độ gia tăng tệ nạn xã hội Tuy nhiên, tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn mại dâm, nghiện hút ma tuý vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt là

ở lứa tuổi tr , ở các đô thị, khu du lịch, vùng giáp biên và giáp ranh giữa các tỉnh, huyện… Phòng, chống TNXH là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và bức xúc nhằm góp phần xây dựng con người mới, xã hội mới trong quá trình phát triển và hội nhập ở nước ta Nghị quyết Đại hội IX của Đảng (2001-2005) đã xác định cần phải “ngăn chặn và bài trừ tệ nạn xã hội, nhất là các tệ nạn mại dâm, ma tuý và HIV/AIDS” Đại hội X của Đảng nhấn mạnh phải “xây dựng

và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam thời kỳ Công nghiệp

Trang 34

hóa, hiện đại hóa”, chính là hướng quan trọng và cơ bản nhất để đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn xã hội trong đời sống xã hội

Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã đề ra chủ chương, biện pháp quyết liệt và toàn diện, cụ thể nhằm đấu tranh phòng, chống có hiệu quả

tệ nạn xã hội: "Đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, giáo dục cộng đồng,

đề cao vai trò giáo dục của gia đình đối với thanh, thiếu niên về tác hại của ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác Đấu tranh quyết liệt với việc buôn bán,

sử dụng ma tuý Huy động nhiều nguồn vốn, tăng cường đầu tư xây dựng, quản

lý các trung tâm cai nghiện có hiệu quả Đề cao trách nhiệm của gia đình, đoàn thể và chính quyền cơ sở trong quản lý, tạo việc làm, tái hoà nhập cộng đồng cho các đối tượng sau cai nghiện Có giải pháp kiểm soát và hạn chế tệ nạn mại dâm, giảm thiểu tác hại của các tệ nạn xã hội Nhân rộng mô hình xã, phường, thôn, ấp, bản không có tệ nạn xã hội ; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và bạo lực trong gia đình ; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại

tr em"

Có thể nói rằng, nhận thức của Đảng ta về phòng, chống tệ nạn xã hội ngày càng rõ ràng, nhất quán, không chỉ là vấn đề nhận thức luận mà còn có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, coi đây là một cuộc đấu tranh không kém phần cam go, phức tạp, gắn liền với xây dựng con người mới, xã hội mới trong quá trình phát triển và hội nhập ở nước ta Bởi vậy cần phải tập trung sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; phát động thành phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa và đấu tranh với các loại tệ nạn xã hội, góp phần phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Cùng với quá trình phát triển nhận thức của Đảng ta về phòng, chống tệ nạn xã hội, cũng diễn ra đồng thời quá trình thể chế hoá về mặt Nhà nước các

Trang 35

chủ trương, quan điểm của Đảng thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống TNXH

Ngay từ năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã có chỉ thị 14/CT (ngày 16/1/1986) về tập trung cải tạo hoặc lao động bắt buộc gái mại dâm chuyên nghiệp Luật Bảo vệ Sức kho nhân dân (năm 1989) quy định bắt buộc chữa bệnh đối với người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, bệnh ma tuý, bệnh HIV/AIDS Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 cũng quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa bệnh xã hội nguy hiểm

Đến năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 05/CP (ngày 29/1/1993) về “ngăn chặn và chống tệ nạn mãi dâm”;; Nghị quyết 20/CP về

“đẩy mạnh công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS” Tiếp đó, ngày 6/7/1995

UB Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, trong đó có đối tượng mại dâm và nghiện ma tuý với các hình thức giáo dục, chữa trị, cai nghiện, tổ chức lao động sản xuất tại cộng đồng hoặc tại các cơ

sở tập trung thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội

Ngày 14/3/2003, Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh phòng, chống mại

dâm (số10/2003/PL-UBTVQH11) Pháp lệnh đã quy định rõ trách nhiệm của

cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm Nhà nước thực hiện đồng bộ các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, kinh

tế - xã hội, hành chính, hình sự và các biện pháp khác để phòng, chống mại dâm; kết hợp chặt chẽ các biện pháp phòng, chống mại dâm với phòng, chống

ma tuý và phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS

Ngày 10 tháng 5 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011-2015 Trong Chương trình hành dộng trên đã nêu rõ mục tiêu, biện pháp thực hiện công tác phòng,

Trang 36

chống mại dâm trong giai đoạn 2011-2015 Trong đó vẫn bán sát theo Pháp lệnh phòng, chống mại dâm là kiên quyết đẩy lùi tệ nạn mại dâm, khi triệt phá được ổ mại dâm thì đưa người bán dâm vào Trung tâm chưa bệnh và giáo dục lao động xã hội

Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính sửa đổi số 15/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012 và đã có có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 Điều này đồng nghĩa với việc xóa bỏ quy định giam giữ bắt buộc người bán dâm trong các trung tâm giáo dục lao động xã hội (trung tâm 05) Nghị quyết 24/2012/QH13 của Quốc Hội quy định thả người bán dâm đang quản lý tại các trung tâm giáo dục lao động xã hội về cộng đồng

Trước tình hình này, nhu cầu cần phải có cách tiếp cận mới đối với vấn

đề mại dâm ngày càng trở nên cấp thiết Thay vì áp dụng các biện pháp cưỡng chế và bắt người bán dâm, đã thực hiện trong nhiều năm qua và cho thấy chưa đạt kết quả như mong đợi, Chính phủ đã xem xét và quyết định áp dụng các biện pháp can thiệp giảm đi những tác hại xấu của mại dâm như đã nêu rõ trong Chương trình Phòng chống mại dâm 2011 – 2015 Đây là cơ hội để các tỉnh tiến hành xây dựng mô hình hỗ trợ theo hướng giảm hại cho người bán dâm Từng bước tiếp cận cụ thể hơn để nắm được nhu cầu, đời sống của người bán dâm và từng bước khắc phục những hậu quả của tệ nạn mại dâm theo hướng tích cực hơn

1.3.2 Chính sách của tỉnh Quảng Ninh trong công tác phòng, chống mại dâm:

Cũng giống như tất cả các tỉnh, thành phố trên địa bàn cả nước, Chính sách phòng, chống mại dâm của tỉnh Quảng Ninh trong những năm vừa qua là thực hiện nghiêm túc pháp lệnh phòng, chống mại dâm và coi công tác phòng,

Trang 37

chống mại dâm là công việc thường xuyên, trong tâm trong quá trình phát triển kinh tế

Dần dần với dự chuyển dịch về kinh tế và sự thay đổi trong tư tưởng về công tác phòng, chống mại dâm của Đảng, Nhà nước, công tác phòng, chống mại dâm tại Quảng Ninh cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là từ khi

có Nghị quyết số 24 năm 2013 của Quốc hội về thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính Hoạt động phòng, chống mại dâm không chỉ đơn thuần là rình bắt chị, em bán dâm và đưa vào trung tâm giáo dục lao động mà tập trung vào công tác hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho cho chị em hoạt động mại dâm đi liền với việc đấu tranh triệt phá đối tượng mô giới, chủ chứa mại dâm Điều này đã được thể hiện rõ qua việc, Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội tỉnh Quảng Ninh đã mạnh dạn tiến hành thí điểm Mô hình hỗ trợ giảm hại

và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm trên địa bàn thành phố Quảng Ninh Chi cục hy vọng với từ việc xây dựng Mô hình và quá trình tiếp cận với chị em hoạt động mại dâm sẽ giúp Chi cục có một cái nhìn toàn diện về đối tượng hoạt động mại dâm để từ đó tham mưu cho lãnh đạo tỉnh đưa ra những chính sách thiết thực phục vụ công tác phòng,chống tệ nạn hội nói chung và phòng, chống tệ nạn mại dâm nói riêng trong thời gian tới Chi cục Phòng,

chống tệ nạn xã hội tỉnh Quảng Ninh (2013), Báo cáo Kết quả thực hiện thí

điểm Mô hình hỗ trợ giảm hại, hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm năm

2013

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu:

1.4.1 Khái quát về tỉnh Quảng Ninh:

Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung

du, đồi núi, biên giới Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa

Trang 38

thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ Đây là tỉnh khai thác than đá chính của Việt Nam

Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới, tuy nhiên lại

là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km Mặc khác, Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành

có biển, với đường bờ biển dài 250 km, trong đó có 40.000 hecta bãi triều và trên 20.000 hecta eo vịnh, có 2/12 huyện đảo của cả nước Tỉnh có 2.077 hòn

đảo, và diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất tự nhiên UBND tỉnh Quảng Ninh (2012), Nhiệm vụ QHXD vùng Tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030,

tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài 2050 [45, tr 7]

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.163.700 người, mật độ dân số đạt 191 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 606.700 người, dân số sống tại nông thôn đạt 557.000 người Dân số nam đạt 597.100 người, trong khi đó nữ đạt 566.600 người Tỷ lệ tăng tự

nhiên dân số phân theo địa phương tăng 9,2 ‰ (Kết quả toàn bộ Tổng điều

tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009)

1.4.2 Khái quát về thành phố Hạ Long

Thành phố Hạ Long là thành phố tỉnh lỵ, trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh Quảng Ninh, thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ Thành phố Hạ long được thành lập ngày 27 tháng 12 năm 1993, trên cơ sở toàn bộ diện tích

và dân số của thị xã Hồng Gai

Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích 271,95 km², với chiều dài bờ biển dài gần 50 km Phía đông Hạ Long giáp thành phố Cẩm Phả, tây giáp thị xã Quảng Yên, bắc giáp huyện Hoành Bồ, nam là vịnh Hạ Long Thành phố nằm dọc theo bờ Vịnh Hạ Long với chiều

Trang 39

dài 50 km, cách thủ đô Hà Nội 165 km về phía Tây, thành phố Cảng Hải Phòng 60 km về phía Tây Nam, cửa khẩu Móng Cái 184 km về phía Đông Bắc, phía nam thông ra Biển Đông Hạ Long có vị trí chiến lược về phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của khu vực và quốc gia Sở VHTT Quảng Ninh

(2003), Hạ Long- Thành phố du lịch, [39, tr.12]

Cơ cấu kinh tế của thành phố được xác định là: Công nghiệp - du lịch, Dịch vụ, Thương Mại, Nông - lâm nghiệp và hải sản Năm 2002, GDP của thành phố đạt 1700 tỷ đồng chiếm 38% toàn tỉnh (trong đó Công nghiệp & xây dựng chiếm 31%, Dịch vu & du lịch chiếm 53%), tổng thu ngân sách chiếm 86,3% toàn tỉnh Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 12%/năm Cục

thống kê Tỉnh Quảng Ninh (2002), Số liệu báo cáo kinh tế

Năm 2009, Thành phố Hạ Long có dân tộc Kinh chiếm đa số còn có 15 dân tộc khác gồm có Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng, Hán, Dao, Thổ, Mường, Vân Kiều, Cao Lan với 2.073 nhân khẩu chủ yếu là dân tộc Sán Dìu, Tày, Hoa

Trang 40

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ THỰC TRẠNG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIẢM HẠI VÀ HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI BÁN

DÂM TẠI TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Cơ sở thực tiễn xây dựng mô hình hỗ trợ giảm hại, hoà nhập cộng đồng cho người bán dâm tại tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Những khó khăn của người bán dâm

- Tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

Tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức kho là một vấn đề khá khó khăn đối với những người bán dâm Do đặc điểm công việc của mình nên người bán dâm thường ít khi đến những cơ sở khám bênh lớn mà chủ yếu khám bệnh tại các phòng khám tư nhân

Biểu đồ 2.1 Miêu tả hoạt động khám bệnh của người hoạt động mại dâm

(Đơn vị tính: %)

Nguồn: Kết quả khảo sát, nghiên cứu

Trong số 50 người hoạt động mại dâm khi được hỏi về hoạt động khám, chữa bệnh thì có tới 70% khi phát hiện ra mình có bệnh lây truyền qua

Ngày đăng: 21/09/2020, 20:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt nam (1999), Chỉ thị số 33/CT-TW ngày 1/3/1994 về vấn đề lãnh đạo phòng chống tệ nạn xã hội, trong đó chú trọng việc khai trừ ra khỏi Đảng những Đảng viên có hành vi mua dâm, truỵ lạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 33/CT-TW ngày 1/3/1994
Tác giả: Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt nam
Năm: 1999
2. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2000), Đề án chương trình hành động phòng chống tệ nạn mại dâm giai đoạn 2000 - 2005, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án chương trình hành động phòng chống tệ nạn mại dâm giai đoạn 2000 - 2005
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Năm: 2000
3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tệ nạn mại dâm; cai nghiện, quản lý sau cai nghiện ma túy; tiếp nhận và hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán từ nước ngoài trở về giai đoạn 2005- 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tệ nạn mại dâm; cai nghiện, quản lý sau cai nghiện ma túy; tiếp nhận và hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán từ nước ngoài trở về giai đoạn 2005- 2010
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2012),Cơ sở Lý luận và thực tiến xây dựng định hướng cho công tác phòng, chống tệ nạn xã hội đến năm 2020 Khác
6. Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2003), Tân lý của phụ nữ tham gia mại dâm chưa đến tuổi vị thành niên Khác
7. Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội (2011), Báo cáo Công tác phòng chống tệ nạn xã hội và hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán năm 2011, nhiệm vụ năm 2012 Khác
8. Cục Phòng chống Tệ nạn xã hội (Cục PCTNXH), Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) (2013), Đặc điểm di biến động của người hoạt động mại dâm nhìn từ góc độ giới Khác
9. Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội (2013), Đánh giá nhu cầu hỗ trợ người bán dâm và tình phù hợp với mô hình thí điểm từ năm 2011-2014 Khác
10. Cục phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2013), Các nghiên cứu quốc tế về phòng, chống mại dâm Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w