1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Haruki Murakami : Luận án TS. Ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: 622201

203 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 10,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm của Murakami từ phương diện nghệ thuật tự sự có những đóng góp về mặt lí luận, mở ra những diễn giải mới liên quan đến văn bản tự sự: hình tượng người kể chuy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG PHƯƠNG THẢO

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT HARUKI MURAKAMI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG PHƯƠNG THẢO

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG

TIỂU THUYẾT HARUKI MURAKAMI

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 62 22 01 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS LÊ HUY BẮC

2 TS ĐÀO THỊ THU HẰNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi,

các số liệu thống kê, trích dẫn trong luận án đảm bảo tính thực tiễn,

chính xác, trung thực và tin cậy Các kết quả nêu trong luận án chưa

được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Người cam đoan

Đặng Phương Thảo

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp mới của luận án 5

6 Cấu trúc của luận án 6

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Khái lược tình hình nghiên cứu lí thuyết tự sự hiện đại 7

1.1.1 Những dòng nghiên cứu chủ lưu trên thế giới 7

1.1.2 Nghiên cứu văn học theo hướng tự sự ở Việt Nam 10

1.1.3 Nghệ thuật tự sự và những khái niệm trọng tâm 17

1.2 Tình hình nghiên cứu nghệ thuật tự sự của Murakami 23

1.2.1 Trên thế giới 23

1.2.2 Ở Việt Nam 30

Tiểu kết 36

Chương 2: TỰ SỰ ĐA CHỦ THỂ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HARUKI MURAKAMI 37

2.1 Luân phiên chủ thể 37

2.1.1 Sự gia tăng chủ thể tự sự (multi - narrator) 37

2.1.2 Sự hoán đổi chủ thể tự sự 40

2.1.3 Hình thức tự sự qua những bức thư 47

2.2 Di chuyển điểm nhìn 51

2.2.1 Đa điểm nhìn tự sự (multipoint of view) 51

2.2.2 Dán ghép các điểm nhìn 52

2.2.3 Di chuyển điểm nhìn trên trục không gian, thời gian 56

2.3 Hợp xướng giọng điệu 58

Trang 5

2.3.1 Tính chất đa thanh (polyphonic) 58

2.3.2 Dàn hợp xướng trữ tình 59

2.3.3 Dàn hợp xướng trào lộng 68

Tiểu kết 75

Chương 3: NHÂN VẬT TRONG TỰ SỰ CỦA HARUKI MURAKAMI 76

3.1 Kiểu nhân vật chấn thương 77

3.1.1 Nhân vật cô độc 79

3.1.2 Nhân vật có khuynh hướng tự sát 84

3.1.3 Nhân vật vươn lên hàn gắn sự chấn thương 92

3.2 Kiểu nhân vật huyền ảo 98

3.2.1 Nhân vật có năng lực siêu nhiên 99

3.2.2 Nhân vật những linh hồn sống 104

3.3 Kiểu nhân vật kí hiệu – biểu tượng 107

3.3.1 Tính chất kí hiệu - biểu tượng ở tên gọi và ngoại hình nhân vật 107

3.3.2 Tính chất kí hiệu - biểu tượng ở tính cách, số phận nhân vật 110

Tiểu kết 115

Chương 4: KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT HARUKI MURAKAMI 116

4.1 Khung cảnh nước Nhật trong nhịp điệu đời thường 116

4.1.1 Khung cảnh thiên nhiên 117

4.1.2 Khung cảnh sinh hoạt đời thường 119

4.2 Không gian, thời gian huyền ảo 123

4.2.1 Không gian huyền ảo 123

4.2.2 Thời gian huyền ảo 129

4.3 Không gian, thời gian hỗn độn 131

4.3.1 Không gian vô hướng, xáo trộn 132

4.3.2 Thời gian đứt gãy, đảo chiều 136

Tiểu kết 142

KẾT LUẬN 144

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 148

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149

Trang 6

tự sự học hiện đại Những năm 60 của thế kỉ XX, các nhà lí luận Pháp đã đề cập về

tự sự học và giải quyết các vấn đề liên quan đến chúng, tiếp đó là các công trình nghiên cứu của các nhà lí luận Mĩ, Anh, Trung Quốc Ở Việt Nam, tự sự học nhanh chóng trở thành lĩnh vực thu hút các nhà nghiên cứu Vận dụng lí thuyết tự

sự để nghiên cứu văn học là một hướng nghiên cứu giàu tiềm năng, góp phần giải

mã thế giới nghệ thuật phong phú, bí ẩn của nhà văn

1.2 Những năm cuối cùng của thế kỉ XX đã xuất hiện những tiên đoán về sự thất thế của tiểu thuyết bởi sự lên ngôi của phương tiện truyền thông, truyền hình

số, mạng internet… Tuy vậy, gần hai thập niên của thế kỉ XXI trôi qua, văn chương hậu hiện đại đã và đang tiếp tục chứng kiến sự bùng nổ của những hiện tượng văn học trên khắp thế giới Sức sống dồi dào và mãnh liệt của tiểu thuyết nói riêng, của văn học nói chung nằm ở chính sự vận động nội tại của văn học, khiến nó “nằm ngoài những định luật băng hoại” và “không chấp nhận cái chết” như lời khẳng định của nhà văn Nga M.Y.Saltykov Shchedrin Có thể kể ra những tác giả tiêu biểu của thời đại như Mạc Ngôn, Garcia Market, Franz Kafka, J.K.Rowling… Trong số đó, không thể không nhắc đến nhà văn Nhật Bản, Haruki Murakami

1.3 Murakami Haruki là một hiện tượng văn học độc đáo, từ lúc xuất hiện trên văn đàn đã nhận được nhiều ý kiến đánh giá trái chiều Có một bộ phận không nhỏ độc giả phê phán, thậm chí phủ định giá trị tác phẩm Murakami, coi đó là thứ văn chương “lai căng”, “hôi mùi bơ”, giết chết vẻ đẹp thanh cao của văn chương truyền

Trang 7

thống Nhật Bản Nhưng những cuốn tiểu thuyết của Haruki Murakami, từ các tác

phẩm thời kì đầu: Lắng nghe gió hát (1979), Pinball 1973 (1980), Xứ sở diệu kì tàn

bạo và chốn tận cùng thế giới (1985)… đến những cuốn sách đã trở thành “best

seller” hiện nay: Rừng Na Uy (1987), Biên niên kí chim vặn dây cót (1995), Kafka

bên bờ biển (2002)… đã thu hút một số lượng độc giả đông đảo trên toàn thế giới,

thuộc đủ các thành phần xã hội, đủ mọi lứa tuổi Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Murakami với người đọc là ở một lối kể chuyện độc đáo vừa chân thực, vừa hư ảo

Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm của Murakami từ phương diện nghệ thuật tự sự có những đóng góp về mặt lí luận, mở ra những diễn giải mới liên quan đến văn bản tự sự: hình tượng người kể chuyện, nhân vật tự sự, thời gian tự sự, làm cụ thể hoá cho các khái niệm của tự sự học Bên cạnh đó, việc nghiên cứu nghệ thuật tự sự của Murakami, thông qua việc vận dụng những vấn đề lí thuyết chung của tự sự học

Murakami, góp phần định hình diện mạo phong cách và ghi nhận sự đóng góp của nhà văn cho một nền tiểu thuyết hiện đại thế kỉ XXI

1.4 Trong thực tế, những cuốn tiểu thuyết của Murakami với dung lượng hàng nghìn trang được những người đang sống trong nhịp điệu hối hả của cuộc sống hiện đại, vô vàn bận rộn, lo toan đón đọc và nghiền ngẫm, suy tư Họ tìm thấy bóng dáng thời đại mình đang sống trong từng trang viết, từng số phận nhân vật Những dấu ấn của văn hóa đại chúng tràn ngập trong tiểu thuyết Murakami như phim ảnh Hollywood, nhạc jazz, nhạc cổ điển châu Âu, tiểu thuyết trinh thám, hình sự Mĩ Ông được tôn vinh là một trong những tiểu thuyết gia quan trọng nhất của Nhật Bản thế kỷ XXI Cùng với thời gian, tác phẩm của Murakami đã chứng minh được giá trị và vươn rộng ra toàn thế giới Tiếp sau Yasunary Kawabata và Oe Kenzaburo – nhiều nhà nghiên cứu dự đoán nếu giải Nobel văn chương lại về Nhật Bản, thì người nhận sẽ là Haruki Murakami: “Ông là nhà văn Nhật Bản, viết về con người

và cuộc sống Nhật Bản hiện đại, dù ông có ở trong hay ở ngoài Nhật Bản, nhìn Nhật Bản từ bên trong hay từ bên ngoài Từ Nhật Bản ông muốn vươn tới tầm nhân sinh nhân loại” [83,tr.16] Nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện của Murakami cũng là một

Trang 8

hướng để lí giải nguyên nhân vì sao tác phẩm của nhà văn có thể vươn xa ra khỏi biên giới nước Nhật và được công chúng toàn cầu đón nhận

1.5 Tiểu thuyết của Murakami không kén người đọc nhưng cũng không phải loại văn chương giải trí thuần túy Mỗi tác phẩm luôn chứa đựng những giá trị nghệ thuật, giá trị nhân văn sâu sắc Sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba với ứng dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất, giờ đây thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 xóa mờ ranh giới giữa vật lí, kĩ thuật số

và sinh học khiến thế giới không ngừng biến động, nhiều giá trị truyền thống lung lay, con người người luôn luôn phải đối mặt với những tình huống mang tính lựa chọn khi ranh giới giữa Thiện và Ác trở nên mong manh Hơn lúc nào hết, văn chương cần định hướng người đọc để họ xác lập cho mình một lối đi đúng đắn giữa cuộc đời nhiều bất trắc, lo toan Tiểu thuyết Murakami đã làm được điều đó khi chạm đến tầng sâu nhất trong tâm khảm con người, đánh thức dậy những nhận thức mới mẻ về bản thể, lẽ sống, và ý thức trách nhiệm với cộng đồng của con người thời đại mới Đây là một sứ mệnh vô cùng cao quí của văn chương Những thông điệp nhân sinh mà nhà văn gửi gắm trong sáng tác là kết quả của hành trình dấn thân – trải nghiệm đầy dũng cảm của một con người biết trân trọng cuộc sống

Vì tất cả những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Haruki Murakami

2 Mục đích và nhiệm vụ

- Mục đích của luận án là dùng một số vấn đề lí luận của nghệ thuật tự sự kết hợp với các yếu tố văn hóa bản địa (Nhật Bản) để nhận diện, phân tích và khái quát nghệ thuật tự sự của Haruki Murakami nhằm làm nổi bật giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng của các tác phẩm, thấy được điểm chung, điểm riêng của nhà văn trong dòng chảy của văn chương hậu hiện đại Qua đó lí giải tư duy nghệ thuật của nhà văn và các vấn đề lí luận của tiểu thuyết, đồng thời đưa ra một cách tiếp cận tác giả này ở Việt Nam

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để tập trung vào vấn đề này, luận án sẽ tiến hành

khảo sát các phương diện mà chúng tôi cho là có thể làm nổi bật đặc trưng nghệ

Trang 9

thuật kể chuyện của tác giả: người kể chuyện ngôi thứ nhất với sự di chuyển điểm

nhìn, kết hợp nhiều giọng điệu, nghệ thuật khắc họa nhân vật với một số kiểu nhân vật tiêu biểu, nghệ thuật tổ chức không gian, thời gian Do điều kiện tác phẩm mà

chúng tôi nghiên cứu là những tác phẩm dịch nên tạm thời luận văn không đề cập tới vấn đề ngôn ngữ người kể chuyện Những điểm trên chính là những phương diện góp phần làm nổi bật phong cách kể chuyện riêng biệt, tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm và ý đồ sáng tạo của nhà văn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghệ thuật tự sự trên các bình diện cơ bản như ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu của người kể chuyện, nghệ thuật xây dựng các kiểu nhân vật đặc trưng, nghệ thuật tổ chức không gian, thời gian trong tiểu thuyết Murakami

- Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi tập trung nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong

tiểu thuyết của Murakami qua 3 tiểu thuyết tiêu biểu nhất tính đến thời điểm này của Murakami:

+ Rừng Na Uy (ノルウェイの森, Noruwei no mori) Trịnh Lữ dịch theo bản

tiếng Anh của Jay Rubin, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006

+ Biên niên kí chim vặn dây cót (ねじまき鳥クロニクル, Nejimaki–dori

kuronikuru), Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà

Nội, 2006

+ Kafka bên bờ biển (海辺のカフカ, Umibe no Kafuka), Dương Tường dịch

theo bản tiếng Anh có tham khảo bản tiếng Pháp, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2007

Việc giới hạn phạm vi nghiên cứu cụ thể sẽ khiến vấn đề được tập trung xử

lí ở chiều sâu, tránh dàn trải Ngoài ra, chúng tôi có tham khảo thêm những cuốn

tiểu thuyết khác của Murakami như: Người tình Sputnik, Ngân Xuyên dịch theo bản tiếng Anh, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2008, Xứ sở

diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, Lê Quang dịch, Nhã Nam và Nhà xuất

bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010, Nhảy Nhảy Nhảy, Trần Vân Anh dịch theo bản

Trang 10

tiếng Anh, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2011, 1Q84 (trọn bộ

3 tập), Lục Hương dịch theo bản tiếng Hoa, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2012

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận tự sự học được áp dụng vào việc nghiên cứu các tác phẩm của Murakami để tìm ra đặc trưng nghệ thuật tự sự của nhà văn thông qua việc khảo sát hình tượng người kể chuyện, các kiểu nhân vật tự sự, các kiểu không gian, thời gian tự sự

- Phương pháp hệ thống giúp chúng tôi nghiên cứu tiểu thuyết của Murakami như một hệ thống và đặt nó trong hệ thống lớn hơn là tiến trình tiểu thuyết hiện đại, hậu hiện đại

- Phương pháp lịch sử được sử dụng trong việc so sánh đối chiếu các tác phẩm của Murakami với các tác phẩm của các nhà văn hiện đại, hậu hiện đại trên thế giới

từ đó chỉ ra những vận động trong nghệ thuật trần thuật

- Phương pháp loại hình được vận dụng để phân chia nhân vật trong tiểu thuyết Murakami thành một số kiểu, loại với những tiêu chí nhận diện nhất định nhằm tìm ra những đặc điểm tương đồng loại hình về phương diện nghệ thuật trần thuật, chỉ ra các kiểu, dạng người kể chuyện, phương thức trần thuật và giọng điệu trần thuật… từ góc nhìn thể loại

5 Đóng góp mới của luận án

- Đây là đề tài đầu tiên ở Việt Nam vận dụng những vấn đề lí thuyết tự sự nghiên cứu sâu nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết của Murakami

- Luận án tập trung nghiên cứu sự độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện của Murakami: vừa mang đầy đủ đặc trưng của văn học hậu hiện đại nhưng vẫn đáp ứng được khả năng tiếp nhận của số đông độc giả thông qua người kể, điểm nhìn, giọng điệu, nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật Đây là điểm quan trọng nhất để lí giải hiện tượng Murakami trong văn học Nhật Bản nói riêng, văn học thế giới nói chung

Trang 11

- Bên cạnh đó, luận án còn chỉ ra những đóng góp mới của Haruki Murakami cho lĩnh vực lí luận tự sự và định vị rõ rệt hơn vai trò, vị trí cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn trong nền văn học Nhật Bản và văn học thế giới thế kỉ XXI

- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ mang đến những kiến thức cần thiết cho việc tiếp nhận văn học Nhật Bản ở các bậc học trong hệ thống giáo dục của Việt Nam

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Tự sự đa chủ thể trong tiểu thuyết Haruki Murakami

Chương 3: Nhân vật trong tự sự của Haruki Murakami

Chương 4: Không gian, thời gian tự sự trong tiểu thuyết Haruki Murakami

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khái lược tình hình nghiên cứu lí thuyết tự sự hiện đại

1.1.1 Những dòng nghiên cứu chủ lưu trên thế giới

Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Hi Lạp Platon đã đặt trong thế đối lập hai

khái niệm mô phỏng (mimesis)/tự sự (diegesis) Cho đến thế kỉ XIX, các tác giả Anh như Thomas Lister đã sử dụng khái niệm điểm nhìn, John Gibson Lockhart bắt đầu dùng khái niệm khoảng cách, tiếp ngay sau đó nhà nghiên cứu người Mĩ Henry

James và Anh E Foster đã sử dụng rộng rãi các khái niệm ấy trong các bài nghiên

cứu của mình Tuy nhiên, khái niệm tự sự học với tư cách là một lí thuyết nghiên

cứu các đặc điểm nghệ thuật kể chuyện của văn bản tự sự chỉ thực sự được hình thành từ thế kỉ XX

Trong suốt một thế kỉ qua, lí thuyết tự sự không ngừng vận động và phát triển, mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn sáng tác Tổng quan quá trình nghiên cứu của lí thuyết tự sự hiện đại trên thế giới, nhà lí luận Mĩ Gerald Prince đã chia làm ba nhóm, tạo thành những dòng chủ lưu:

Nhóm thứ nhất gồm những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V Propp, Todorov, Barthes, Remak, Norman Friedman, Northrop Frye, Etienne Souriau… chú ý tới cấu trúc của câu chuyện được kể, đối tượng của trần thuật, trong đó chú ý xây dựng ngữ pháp của tự sự, chức năng của sự kiện, kết cấu logic phát triển của chúng, bỏ qua hoặc không đi sâu vào đặc trưng

biểu đạt của chất liệu Nhóm này xem công trình Hình thái học truyện cổ tích thần

kì Nga (1928) của Propp là cuốn sách mở đầu cho tự sự học cấu trúc luận

Nhóm thứ hai gồm G Genette, F Stanzel, Dolezel, S Lanser… tập trung

nghiên cứu sự triển khai của diễn ngôn trần thuật, họ xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ biểu đạt và vai trò của người trần thuật là quan trọng nhất do đó họ tập trung nghiên cứu lời kể, cách kể Genette nêu ra 3 phạm trù của diễn ngôn trần

thuật: thời thái (tence), quan hệ với thời gian; ngữ thức (mood), quan hệ với cự li và

Trang 13

góc độ trần thuật; ngữ thái (voice), liên quan đến tình huống, quan hệ người kể và người nhận trong trần thuật F Stanzel đề ra khái niệm tình huống kể (narrative

situation), S Lanser và James Phelan lại có những phát biểu về mối quan hệ giữa

giọng điệu kể và các biện pháp tu từ Có thể nói lí thuyết tự sự cấu trúc chủ nghĩa đã

cung cấp một hệ thống các khái niệm công cụ rất có hiệu quả để phân tích diễn ngôn tự sự và đó là một di sản vô giá để đọc hiểu văn bản tự sự Tuy nhiên, điểm hạn chế của lí thuyết cấu trúc tự sự là mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả các yếu tố hình thức cấu trúc tự sự trong thế tĩnh tại, khép kín, mà chưa đi sâu tìm hiểu cơ chế vận hành của tự sự trong ngữ cảnh tiếp nhận và văn hoá

Nhóm thứ ba với những đại diện là Gerald Prince, Seymour Chatman, Mieke Bal lại coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể Họ cho rằng cấu trúc diễn ngôn

và cấu trúc chuyện đều quan trọng như nhau, chủ trương nghiên cứu kết hợp cả hai

mặt Mieke Bal chia tự sự làm ba tầng bậc: văn bản trần thuật (narrative text) bao gồm người kể chuyện, trần thuật, bình luận phi trần thuật, miêu tả; chuyện kể (story) gồm trật tự sắp xếp, nhịp điệu, tần suất; chất liệu (fabula) gồm: sự kiện, hành vi,

thời gian, địa điểm Cái khái niệm hạt nhân của mỗi tầng bậc lại gồm nhiều khái niệm bộ phận đan kết, xuyên thấm vào nhau trong chức năng và mục đích kể chuyện Công trình của M Bal cung cấp một hệ thống khái niệm được định nghĩa khá chính xác và chặt chẽ, có thể làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu tự sự

Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên cho người ta thấy sự phức tạp của cấu trúc tự sự với các vấn đề cần phải tìm tòi, suy ngẫm như vấn đề người kể chuyện, điểm nhìn, dòng ý thức, không gian, thời gian, giọng điệu nghệ thuật… Lí thuyết tự sự chính là kim chỉ nam cho các nhà nghiên cứu tiếp cận nghệ thuật tự sự của các thể loại nói chung và của từng tác phẩm văn học cụ thể nói riêng, qua đó cho thấy cả truyền thống văn học, văn hoá của mỗi dân tộc

Khi chủ nghĩa giải cấu trúc xuất hiện, một số người vội vàng dự báo, tự sự học với tư cách một phân nhánh của chủ nghĩa cấu trúc sớm muộn cũng đi đến hồi kết Thế nhưng, đến những năm 1980 - 1990 tự sự học vẫn giữ được niềm hứng thú,

và theo nhận định của một số học giả Mỹ, nó còn được “Phục hưng”, trung tâm của

Trang 14

nó hầu như đã chuyển sang Mỹ Năm 1993 tạp chí Tự sự ra đời và năm 1994 xuất

hiện một loạt công trình mới về tự sự học của Mỹ

David Herman trong sách Tân tự sự học cho biết:

Mười năm trở lại đây, thi pháp tự sự đã có những đổi thay đáng kinh ngạc, đến hôm nay có thể nói, tự sự học đã phục hưng, nói cách khác, tự sự học đã từ giai đoạn kinh điển của chủ nghĩa cấu trúc, một giai đoạn của Saussure vốn khá xa cách đối với văn học đương đại - để bước sang giai đoạn hậu kinh điển Tự sự học hậu kinh điển (không nên lẫn lộn nó với lí luận tự sự hậu cấu trúc) chỉ coi tự sự học kinh điển như một trong những

“khoảnh khắc quan trọng” của mình, bởi vì nó còn hấp thu nhiều phương pháp luận và giả thiết nghiên cứu mới, mở ra nhiều cách nhìn mới về hình thức và chức năng tự sự Thứ hai, giai đoạn tự sự học hậu kinh điển không chỉ phơi bày những hạn chế của mô hình tự sự học cấu trúc chủ nghĩa cũ,

mà còn lợi dụng các khả năng của chúng; cũng giống như vật lí học hậu kinh điển không hề vứt bỏ một cách giản đơn mô hình vật lí Newton, mà suy nghĩ lại về những tiềm năng của chúng, đánh giá lại phạm vi ứng dụng của chúng [24;tr.2-3]

Những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, lí luận phê bình văn học đã ghi nhận sự đổi mới, mở rộng đáng kể của tự sự học Khi tự sự học kinh điển bị công kích bởi chủ nghĩa giải cấu trúc và chủ nghĩa lịch sử, tự sự học hậu kinh điển ra đời Nếu tự sự học kinh điển coi văn bản tác phẩm là một hệ thống tự thân khép kín, không có liên hệ với bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa thì tự sự học hậu kinh điển là một hướng nghiên cứu mở, nó kết hợp với quan niệm phê bình phản ứng người đọc

và hướng nghiên cứu văn hoá đang thịnh hành, nghiên cứu tự sự trong quan hệ với người đọc, với ngữ cảnh và với các lĩnh vực tự sự ngoài văn học Tự sự học hiện nay có những hướng đi mới mẻ

Hướng nghiên cứu thứ nhất nghiên cứu đặc trưng chung của tác phẩm tự sự, bất kể sự khác nhau về phương tiện và thể loại (văn học, truyện tranh, điện ảnh, truyền hình, báo chí )

Trang 15

Hướng nghiên cứu thứ hai từ phân tích cấu trúc tự sự trừu tượng chuyển sang phân tích cấu trúc tự sự của tác phẩm cụ thể Bà Rimmon Kenan, nhà nghiên cứu

Israel trong công trình Mơ hồ và tầng bậc tự sự (1982) đã phân tích các tác phẩm

của Hemingwey như là những ví dụ sinh động

Hướng nghiên cứu thứ ba là mô hình tự sự học hôm nay có công thức “tự sự học + X”, “X” ở đây có thể là chủ nghĩa nữ quyền hay nghiên cứu giới tính, nghiên cứu văn hóa hay nghiên cứu hậu thực dân, nghiên cứu tự sự học tâm lí (như kiểu

của L Vygotski trong Tâm lí học nghệ thuật), tự sự học lịch sử (như H Whiter), tự

sự học pháp luật, tự sự học tu từ (như Phelan, Karl Kao, Lí Kiến Quân), tự sự học hậu hiện đại (như M Coli, Hồ Toàn Sinh)

1.1.2 Nghiên cứu văn học theo hướng tự sự ở Việt Nam

Từ khi được giới thiệu vào Việt Nam, tự sự học đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của giới nghiên cứu, đặc biệt là ở các trường đại học Người có công lớn trong việc đưa lí thuyết tự sự vào lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học

ở Việt Nam là tác giả Trần Đình Sử Trong bài viết Tự sự học - một bộ môn

nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng, Trần Đình Sử đã hệ thống, khái lược

những vấn đề tự sự từ chủ nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học Saussure, Platon, Aritoste, Tz Tododov, Genette… từ đó khẳng định vai trò quan trọng của tự sự

học đối với nghiên cứu văn học Trong công trình Dẫn luận thi pháp học, tác giả

Trần Đình Sử cũng tập trung đi sâu hệ thống, cắt nghĩa những khái niệm thuộc

về tự sự học như quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian - không gian nghệ thuật, tác giả và kiểu tác giả, tính quan niệm và cấu trúc thể loại, cấu trúc của văn bản trần thuật, ngôn từ nghệ thuật…

Năm 2001 và 2008, hai hội thảo quy mô toàn quốc về tự sự học đã được tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, qui tụ những bài viết có chất lượng cao

về mảnh đất màu mỡ chưa được khai phá hết này Dù xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau, với những quan niệm khác nhau, song mối quan tâm chung của các bài viết, các công trình nghiên cứu về lí thuyết tự sự ở Việt Nam đó là đi vào giải quyết những phương diện chủ yếu như: đưa ra một định nghĩa, một quan niệm tối

Trang 16

ưu về lí thuyết tự sự, vận dụng lí thuyết tự sự để lí giải những hiện tượng văn học Việt Nam và nước ngoài Tìm hiểu các công trình, bài viết về tự sự học qua hai cuộc hội thảo trên, chúng tôi nhận thấy có các hướng nghiên cứu tự sự học ở Việt Nam như sau:

Hướng thứ nhất: Giới thiệu, dịch thuật lí thuyết tự sự của các học giả nước ngoài

Một trong những công trình có ý nghĩa lớn với việc giới thiệu lí thuyết tự sự

vào Việt Nam đó là cuốn Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử do Trần Đình

Sử chủ biên Trong đó những bài viết giới thiệu lí thuyết tự sự của các học giả nước

ngoài được triển khai khá sôi nổi Bài viết Dẫn luận về tự sự học của Susanna

Onega và J.A.Garcia Landa, Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga dịch và tóm lược

bài viết tổng quan về tự sự học, mở đầu cuốn sách Giới thiệu về tự sự học Các tác

giả đã đưa ra một định nghĩa tự sự học, định nghĩa tác phẩm trần thuật, chỉ ra hướng phân tích cấu trúc trần thuật, giới thiệu một cái nhìn tổng quát về lịch sử tự sự học

từ cổ điển - hậu cổ điển đến hiện đại

Bài viết Giới thiệu lí thuyết tự sự của Mieke Bal của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh đã giới thiệu về cuốn Tự sự học - giới thiệu về lí thuyết tự sự của Mieke Bal,

xuất bản lần đầu tiên ở Anh năm 1985, tái bản lần 2 vào năm 1997 Cuốn sách trên

đã trình bày một cách mạch lạc và hệ thống lí thuyết tự sự và cung cấp cho người đọc những công cụ để mô tả và phân tích văn bản tự sự Trên nền tảng lí thuyết, tác phẩm nghệ thuật thị giác, từ đó bà phát hiện ra những ý nghĩa văn hóa tiềm ẩn trong

những hiện tượng này Cũng trong cuốn sách, tác giả đã đưa ra thuật ngữ tiêu cự

trần thuật (focalization) Thuật ngữ được rút ra từ nghệ thuật nhiếp ảnh và phim, vì

thế nó nhấn mạnh bản chất kĩ thuật của tác phẩm tự sự

Bài viết Cấu trúc tự sự theo quan điểm của Roland Barthes của tác giả Lê Trà

Mi giới thiệu cuốn Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể Đây là một trong những

cuốn sách góp phần hình thành chuyên ngành tự sự học trong lí luận phê bình văn học phương Tây hiện đại Tư tưởng bao trùm toàn bộ công trình là coi văn bản tự sự như một ngôn ngữ Một ngôn bản được chia ra thành các lớp đơn vị, các lớp này

Trang 17

được kết hợp với nhau theo những qui luật nhất định Cấu trúc tự sự của một văn bản tự sự đứng trước hai khả năng phân tách và tích hợp, nhờ thế nó được bện lại, khai triển, mở ra, khép lại Khám phá cấu trúc tác phẩm cần có trí tưởng tượng để tổng hợp và móc nối chúng với nhau

Trong bài viết Giới thiệu lí thuyết tự sự của Hayden White, Trần Ngọc Hiếu

chỉ rõ luận điểm nền tảng để từ đó Hayden White triển khai toàn bộ tư tưởng của

mình là lịch sử như là tự sự (history as narrative) Tác giả đặc biệt quan tâm đến

phương diện tu từ học lịch sử Tác giả khẳng định lịch sử cũng khai thác triệt để hiệu quả biểu đạt của các thủ pháp tu từ trong văn chương, do đó nó không hề xa lạ với công việc viết sử Sử cũng như tự sự, không thể triệt tiêu cốt truyện, từ đó tác giả đi sâu vào nghiên cứu giá trị của tính tự sự trong việc tái hiện hiện thực

Bài viết Quan niệm về điểm nhìn nghệ thuật của Robert E Scholes và R

Kellogg một số vấn đề khi áp dụng các mô hình lí thuyết phương Tây vào nghiên cứu tác phẩm tự sự của Cao Kim Lan có nhiều gợi ý cho việc triển khai đề tài của

chúng tôi Ở phần một, bàn về mô hình tự sự của R Scholes và R Kellogg, Cao

Kim Lan đã giới thiệu nội dung cuốn sách Bản chất của tự sự của hai tác giả Theo

đó, điểm nhìn của người kể chuyện chính là một trong những yếu tố quan trọng tạo dựng nên cấu trúc tác phẩm và xác lập mô hình truyện kể Quyền năng của người kể chuyện nằm ở sự chi phối của điểm nhìn trong truyện kể Phần hai của bài viết, bàn

về việc ứng dụng lí thuyết điểm nhìn vào nghiên cứu tác phẩm tự sự, tác giả giới

thiệu hai công trình: Tự sự Trung Quốc, những bài tiểu luận phê bình và lí thuyết,

do Andrew H Placks biên soạn năm 1977 và Người kể chuyện bất an (tiểu thuyết

Trung Quốc truyền thống đến hiện đại), của Henry Y H Zhao, 1995 Các nhà phê

bình đó đã ứng dụng mô hình lí thuyết tự sự của Scholes và R Kellogg để khám phá các đối tượng nghệ thuật cụ thể trong văn học Trung Hoa, một nền văn học vốn

vô cùng phong phú và phức tạp

Giới thiệu về Lí thuyết về người nghe chuyện trong tác phẩm tự sự của Gerald

Prince, Nguyễn Thị Hải Phương chỉ ra rằng Gerald Prince đã phân biệt một cách

thuyết phục khái niệm người nghe chuyện với khái niệm gần gũi với nó như người

Trang 18

đọc thực tế, người đọc trong quan niệm, người đọc lí tưởng… Tác giả phân loại người nghe chuyện, dấu hiệu nhận biết, chức năng của người nghe chuyện… Đóng

góp của Gerald Prince là đã đưa ra một khái niệm mới: người nghe chuyện độ O

Tác giả đã chỉ ra một số khả năng của người nghe chuyện dạng này: biết ngữ pháp

tự sự, biết những qui tắc mà người kể chuyện dùng để kể lại câu chuyện một cách hấp dẫn, có khả năng tranh luận nhất định, có trí nhớ vững chắc…

Lê Phong Tuyết trong bài Tiếp cận Genette qua một vài khái niệm trần

thuật đã giới thiệu về Genette và lí thuyết của ông một cách hệ thống với những

khái niệm liên quan đến trần thuật Trong đó, tác giả tập trung làm rõ hai vấn đề mới mẻ với giới nghiên cứu và bạn đọc Việt Nam là tình huống trần thuật và người nghe chuyện

Tác giả Phan Thu Hiền có bài viết Về lí thuyết tự sự của Northrop Frye

Người viết giới thiệu Northrop Frye là đại biểu quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc nhất của lí thuyết Phê bình huyền thoại (Myth Criticism) còn gọi là lí thuyết Phê bình nguyên mẫu (archetypal criticism) với quan niệm cho mục tiêu của văn chương

là đạt đến sự giới thiệu, sự trình bày cuộc sống

Tác giả Nguyễn Đức Dân giới thiệu về Greimas trong bài Greimas - Người

xây nền cho trường phái kí hiệu học Pháp với mô hình vai hành động, cấu trúc cơ

sở của nghĩa, mô hình cấu tạo

Nhìn chung, ở hướng nghiên cứu này, giới phê bình Việt Nam bắt đầu tiếp cận

lí thuyết tự sự hiện đại trên thế giới qua việc dịch, cắt nghĩa các quan điểm của các nhà lí luận Mỗi học thuyết, trường phái có một phát kiến riêng nhưng cũng có những giới hạn nhất định mà khi tiếp nhận cần kết hợp với các kiến thức khác và kinh nghiệm để tự thiết lập nên một phương pháp phù hợp nhất với đối tượng và mục tiêu đề ra

Hướng thứ hai: nghiên cứu các hệ vấn đề trong lí thuyết tự sự

Nhiều công trình đi vào tìm hiểu một khía cạnh, một phương diện, một vấn đề

cụ thể của lí thuyết tự sự Các phương diện cụ thể của nhóm công trình này là: người kể chuyện, điểm nhìn, cốt truyện, thời gian và không gian trần thuật, cấu trúc

Trang 19

của văn bản trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, tình huống trần thuật, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn…

Trong cuốn Giáo trình dẫn luận tự sự học của tác giả Lê Thời Tân, sau phần

giới thiệu chung về tự sự học và một số vấn đề của lí thuyết tự sự học hiện đại, tác giả khảo sát các phương diện của nghệ thuật tự sự: văn bản tự sự, thời gian tự sự, trạng huống tự sự, khu biệt “câu chuyện” và “văn bản truyện” trong tự sự học, khái quát kết cấu tác phẩm tự sự Có thể nói, những kiến giải của tác giả trong cuốn sách

đã gợi mở rất nhiều cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận nghệ thuật tự sự của Haruki Murakami Khi bàn thời gian tự sự, tác giả cho rằng: “Tác phẩm tự sự chứa đựng và xử lí hai trục thời gian – thời gian câu chuyện và thời gian truyện” [104;tr.39] Từ đó, tác giả cũng chỉ ra “mối quan hệ giữa thời gian câu chuyện và thời gian truyện trong tác phẩm tự sự được thể hiện ở ba phương diện: trật tự tự sự, quan hệ giữa thời gian tự sự và thời gian câu chuyện, tần suất tự sự” [104;tr,42]

Trong bài viết Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong kể chuyện tác giả

Đặng Anh Đào trao đổi những cách tiếp cận khác nhau của các thuật ngữ điểm nhìn (tiêu điểm) và người kể chuyện, giọng nói (giọng điệu), ngôi phát ngôn

Ở bài viết Vấn đề cách dịch thuật ngữ cốt truyện trong tự sự, tác giả Lê Huy

Bắc đặt ra vấn đề: “Cần phân biệt hai khái niệm truyện (story) và cốt truyện (plot)

Từ thế kỉ XIX trở về trước chủ yếu là cốt truyện kịch tính Từ thế kỉ XX trở đi, cơ bản là cốt truyện thơ (hoặc trữ tình) Những kiểu cốt truyện chung nhất cho loại hình tự sự dựa vào các tiêu chí khác nhau: sự kiện, thời gian, nhân vật Đây là các tiêu chí có tính phổ quát hơn cả và thiết thực dễ theo dõi đối với tiến trình đổi mới cốt truyện tự sự”

Bài viết Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật của Phương Lựu, từ việc tường

thuật và nhận xét sơ bộ sáu quan niệm về góc nhìn trần thuật của Brooks và Warren (Hoa Kì), Greimas (Pháp), Pouillon, Friedman, Uspenski, Genette, tác giả đã tổng hợp lại thành một hệ thống tiêu điểm tự sự như sau: Phi tiêu điểm, nội tiêu điểm, ngoại tiêu điểm

Trang 20

Nghiên cứu khái niệm người kể chuyện, tác giả Nguyễn Thị Hải Phương trong

bài Người kể chuyện - nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự đã luận

giải: khái niệm người kể chuyện được hiểu là một công cụ do nhà văn hư cấu nên để

kể chuyện, người kể chuyện là một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự, người kể chuyện thống nhất nhưng không đồng nhất với tác giả Về chức năng của người kể chuyện, người kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm, người kể chuyện với chức năng môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật, người kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày

Qua những bài viết này, các tác giả đã góp phần làm rõ các khái niệm tự sự học như: người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Điều đó chứng

tỏ các phương diện của lí thuyết tự sự luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Đó chính là bộ công cụ quan trọng và cần thiết cho chúng tôi trong việc tiếp cận tác phẩm văn học nói chung, đặc biệt là tác phẩm của Murakami

Hướng thứ ba: Tiếp cận các tác phẩm cụ thể từ góc độ tự sự học hiện đại

Có rất nhiều bài viết đã ra đời sau khi các truyện ngắn, tiểu thuyết ra đời nhằm giới thiệu, bình phẩm, đánh giá, thảo luận về tác phẩm Các bài viết này, nhìn một cách tổng quan một mặt đã cập nhật tình hình sáng tác tác phẩm tự sự, mặt khác góp phần luận giải về nghệ thuật tự sự của các tác phẩm về những phương diện: điểm nhìn, người kể chuyện, giọng điệu, mô hình tự sự…

Nhiều tác giả đã vận dụng lí thuyết tự sự hiện đại để nghiên cứu các tác

phẩm tự sự dân gian Vũ Anh Tuấn với bài: Tự sự học với vấn đề nghiên cứu đặc

sắc tự sự dân gian Tày qua việc khảo sát liên văn bản một típ truyện kể Tày dạng

“Tấm Cám”, Phan Đăng Nhật nghiên cứu Hệ thống cấu trúc và sự vận hành cấu trúc của sử thi Ê đê, Đỗ Hồng Kỳ tìm hiểu về Phương thức tự sự chủ yếu của sử thi Đăm Săn, Nguyễn Bích Hà nghiên cứu Tự sự trong loại hình trữ tình dân gian,

Phan Đăng Nhật tìm hiểu Phương pháp tự sự bằng khuôn hình của sử thi Việt

Nam và Phạm Đặng Xuân Hương tiếp cận Tính chức năng của nhân vật thần trong thần thoại Việt Nam

Trang 21

Các nhà nghiên cứu cũng tìm hiểu những phương diện tự sự của các tác

phẩm văn học trung đại, hiện đại Tiêu biểu là bài viết Về mô hình tự sự “Truyện

Kiều” của tác giả Trần Đình Sử Tác giả đã vận dụng lí thuyết tự sự của nhà tự sự

học Pháp G Genette và Mieke Bal để phân tích mô hình tự sự của Kim Vân Kiều

Truyện và tiểu thuyết Trung Quốc nói chung, sau đó chuyển sang phân tích mô

hình tự sự của Truyện Kiều Theo đó, mặc dù Nguyễn Du vay mượn cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân nhưng ông đã đổi thay mô hình tự

sự Từ mô hình tự sự ngôi thứ ba, khách quan, kèm bình luận đánh giá thiên về lí trí sang mô hình tự sự ngôi thứ ba mang tính cảm thụ cá nhân, kèm theo đánh giá, bình luận thấm đẫm cảm xúc chủ quan Đây là sự sáng tạo đột xuất của Nguyễn

Du đem đến cho Truyện Kiều một chất lượng chưa từng có

Một số bài viết đáng chú ý như: Nghệ thuật trần thuật trong một số tự truyện

tiêu biểu giai đoạn 1930 - 1945 của Nguyễn Thái Hòa; Vấn đề tình dục trong văn học Việt Nam từ truyện “Chí Phèo” của Nam Cao của Trần Văn Toàn; Những đổi mới của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -

1945 của Lê Dục Tú; Bi kịch hóa trần thuật - một phương thức tự sự (Trên cứ liệu Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng)

của Nguyễn Thanh Tú; Điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn của Nguyễn Thị Tịnh Thy; Nghệ thuật tự sự của Ngô Tất Tố trong tiểu thuyết Tắt đèn của Trần Đăng Suyền; Một phong cách tự sự của Nguyễn Tuân của Nguyễn Thị Thanh Minh; Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu - một thành công đáng chú ý của văn

xuôi sau 1975 của Nguyễn Thị Bình; Trần thuật trong truyện rất ngắn của Trần

Mạnh Tiến; Cấu tứ tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của Nguyễn Văn

Tùng Các bài viết trên đã tiếp cận một tác giả, tác phẩm văn học cụ thể từ lí thuyết

tự sự để thấy sự sáng tạo trong cách kể chuyện của nhà văn

Giới phê bình Việt Nam cũng rất hào hứng với việc vận dụng lí thuyết tự sự

tiếp cận các tác phẩm văn học nước ngoài Tiêu biểu như bài viết Những so sánh

trong nghệ thuật tự sự của Boris Paxternak qua tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” của

Trang 22

Hà Thị Hòa; Hình tượng người trần thuật trong tác phẩm “Người tình” của

Marguerrite Duras của Trần Huyền Sâm; Miêu tả của Alain Robbe - Grillet trong tiểu thuyết “Ghen” của Nguyễn Thị Từ Huy; Một số hình thức tự sự trong “Đi tìm thời gian đã mất” của Marcel Proust của Đào Duy Hiệp; Vài khía cạnh về kĩ thuật

kể chuyện trong tiểu thuyết Tây Âu đầu thế kỉ XX của Đặng Thị Hạnh…

Sau hai cuộc hội thảo về Tự sự học tại khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm

Hà Nội các luận văn, luận án theo hướng tự sự học ngày một nở rộ, song những công trình khoa học dày dặn vẫn còn hiếm hoi Điều đó chứng tỏ tự sự học Việt Nam vẫn còn rất non trẻ và là một mảnh đất giàu tiềm năng cho chúng ta khai phá

Có thể kể ra một số luận án tiến sĩ tiên phong trong nghiên cứu và vận dụng tự sự

học như: Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm của Yasunary Kawabata của Đào Thị Thu Hằng; Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Bảo Ninh của Vũ Thị Hạnh;

Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi của A S Pushkin của Thành Đức Hồng Hà; Những cách tân nghệ thuật trong truyện của A P Sêkhôp của Nguyễn Thị Minh Loan; Tu

từ học tiểu thuyết và một số bình diện của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Cao

Thị Kim Lan…

Những hướng nghiên cứu tự sự đó là cơ sở khoa học để chúng tôi tiếp cận một hiện tượng văn học hết sức độc đáo mới mẻ trong giới tiểu thuyết hậu hiện đại: Haruki Murakami

1.1.3 Nghệ thuật tự sự và những khái niệm trọng tâm

1.1.3.1 Nghệ thuật tự sự

Nhiệm vụ của luận án là nghiên cứu nghệ thuật tự sự (art of narrative) Đây là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận, giới thuyết G N Pospelov

trong Dẫn luận nghiên cứu văn học xác định: “Đóng vai trò quyết định trong loại

văn học tự sự ( ) là sự trần thuật, tức là một câu chuyện về các sự kiện xảy ra, được

kể từ phía “người khác” [93;tr.66] Roger Webster xác định trong công trình Dẫn

luận nghiên cứu lí luận văn học cho rằng “nghiên cứu lí luận kể chuyện được biết

đến như là tự sự học: nghiên cứu một cách hiệu quả ngữ pháp của kể chuyện

(grammar of narrative)” [147;tr.49] Philip Stevick, trong cuốn Lí luận tiểu thuyết,

Trang 23

mục Nghệ thuật tự sự nhận định: “Cách sử dụng chính xác, cách hòa trộn đúng đắn

về khung cảnh (scene), về miêu tả (description) và sự tóm lược (summary) là nghệ

thuật kể chuyện hư cấu” [142;tr.54] Năm 2002, Mieke Bal trong cuốn Tự sự học:

Dẫn luận lý luận tự sự ở chương Văn bản: Lời (Text: Words) xác định: “Một văn

bản tự sự là văn bản mà trong đó một tác nhân tự sự (narrative agent) kể một câu chuyện” Bà còn khẳng định nếu hiểu theo nghĩa rộng thì kĩ thuật tự sự “là tất cả các

kĩ thuật được dùng để kể một câu chuyện” [124;tr.19]

Tuy nhiên, do nội hàm của khái niệm nghệ thuật tự sự bao quát trên một diện rộng, do đó chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu những phương diện mang tính cụ thể hơn như người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu, nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật

1.1.3.2 Người kể chuyện (narrator)

Từ điển phong cách học (A dictionary of stylistics) của Katie Wales định

nghĩa rất đơn giản: “người kể chuyện là người kể một câu chuyện, hoặc thực hoặc

hư cấu” [145;tr.316] Theo tác giả, người kể chuyện có thể là “người kể chuyện thông suốt”, “người kể chuyện đáng tin cậy” - biết rõ câu chuyện, cũng có thể là

“người kể chuyện không đáng tin cậy”- chỉ nắm bắt một phần của câu chuyện kể Người kể chuyện giữ vai trò trung tâm trong tất cả các yếu tố cấu trúc của văn bản nghệ thuật tự sự Mieke Bal khẳng định: “Người kể chuyện là khái niệm trung tâm nhất trong việc phân tích văn bản tự sự Sự nhận diện người kể chuyện, cấp độ đối với nó và cách thức mà trong đó sự nhận diện ấy được chỉ ra trong văn bản, và những sự chọn lựa, mà được ngầm ẩn, mang lại cho văn bản tính cách đặc biệt của nó” [124;16]

Những yếu tố cơ bản tạo nên hình tượng người kể chuyện trong tác phẩm tự

sự, đó là: ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu

Ngôi kể là yếu tố liên quan trực tiếp đến hình tượng người kể chuyện Người

kể chuyện nào cũng phải xác định cho mình ít nhất là một ngôi kể trước khi bắt đầu câu chuyện Hình thức tự sự phổ biến nhất của người kể chuyện là kể chuyện ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba

Trang 24

Điểm nhìn (point of view) là phương thức biểu hiện trong sáng tạo và

thưởng thức nghệ thuật Lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX xuất hiện nhiều

thuật ngữ liên quan đến điểm nhìn như: điểm nhìn - point of view (Percy Lubbock - 1928); vị trí quan sát - post of observation (Allen Tate - 1940); tiêu

điểm trần thuật - focus of narrative (C Brooks & R P Warrren - 1948); tầm

nhìn - vision (Jean Pounllion- 1946); Tiêu cự - focalisation (G Gennette - 1980);

thể - aspect (T Todorov - 1966)…

Từ những quan điểm về điểm nhìn, tác giả Đặng Anh Đào đã xác lập một công thức đúc kết mối liên hệ giữa điểm nhìn (hoặc tiêu điểm) và người kể chuyện như sau:

a Không tiêu điểm

+ Nhìn từ đằng sau (từ của Pouillon)

+ Người kể chuyện > nhân vật (Todorov)

+ Cái nhìn của Chúa

b Tiêu điểm bên trong

+ Nhìn cùng với (có thể cố định, thay đổi, vô số điểm nhìn của nhân vật) + Người kể chuyện = Nhân vật

+ Ý thức của một chủ thể làm chứng

c Tiêu điểm bên ngoài

+ Nhìn từ ngoài

+ Người kể chuyện < Nhân vật

+ Cái nhìn thuần túy, khách quan, không thuộc về một ai [Dẫn theo 102;tr.170, 171]

Trong thực tiễn sáng tác, ranh giới giữa các loại điểm nhìn rất mong manh, đặc biệt là điểm nhìn bên trong Chỉ tồn tại một loại tiêu điểm trong từng đoạn, còn trong một tác phẩm thường là sự di động giữa các loại điểm nhìn khác nhau

Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của văn học, nó góp phần xác định hình

tượng người kể chuyện trong tác phẩm văn học Theo Từ điển thuật ngữ văn học:

Trang 25

“Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng

từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca châm biếm ” [30;tr.91]

Các nhà lí luận phương Tây lại có sự phân biệt giữa Voice và Tone Katie Wales cho rằng Voice được dùng “để miêu tả ai là người nói trong trần thuật” Tone

“được dùng với nghĩa một phẩm chất âm thanh đặc biệt nào đó có liên quan đến

những cảm xúc hoặc tình cảm đặc biệt nào đó” [145;tr.478] Nhưng tác giả của Văn

học: dẫn luận về văn xuôi hư cấu, thơ và kịch lại cho rằng “bất cứ cái gì khiến ta

luận ra thái độ của tác giả thường được gọi là tone” [133;tr.74] Điểm qua các khái

niệm về giọng điệu, ta nhận thấy các nhà nghiên cứu đã gặp nhau ở một số điểm: đó

là kiểu cách giọng dùng để kể, là lập trường quan điểm và nổi bật nhất là “thái độ” đối với hiện tượng được miêu tả

Ở chương 1, nghiên cứu vấn đề người kể chuyện trong tiểu thuyết Murakami, chúng tôi tập trung vào hình thức tự sự đa chủ thể - hình tượng người

kể chuyện ngôi thứ nhất Trong chương này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ chủ thể

tự sự với nội hàm tương đương các thuật ngữ người trần thuật, người kể chuyện, chủ thể trần thuật… để chỉ người đảm nhận trực tiếp vai trò kể chuyện trong tác phẩm văn học

1.1.3.3 Nhân vật

Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật là kênh thông tin trực tiếp và quan trọng nhất để giải mã thế giới nghệ thuật của nhà văn Nhân vật, hay gọi đầy đủ hơn, nhân vật văn học, đã trở thành khái niệm quen thuộc, thiết yếu được đưa vào

trong hầu hết các công trình mang tính công cụ như từ điển, thuật ngữ văn học Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, M H Abrams định nghĩa nhân vật “là

những người xuất hiện trong kịch hoặc trong tác phẩm tự sự, người được giải thích bởi độc giả như là người cung cấp những phẩm chất đạo đức, tính cách, xúc cảm được biểu hiện bằng lời nói – tức đối thoại – và bằng việc làm – tức hành động Những nguyên cớ trong bản chất tính cách, dục vọng và đạo đức của nhân vật đối

Trang 26

với lời nói và hành động của họ được gọi là động cơ” [121;tr.23]

Dẫu có thời điểm, các nhà nghiên cứu đã từng lên tiếng về “cái chết của nhân

vật” (phong trào Tiểu thuyết mới mà tiêu biểu là Allan Rober Grillert đã đề ra bốn

khái niệm lỗi thời và nhân vật là một trong số đó) nhưng cuối cùng người ta buộc phải khôi phục lại vị trí cũ cho nó bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng “Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kì vọng về con người Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về cá nhân đó Nói cách khác, nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng” [62; tr.279] Nhìn từ góc độ loại hình và chức năng biểu đạt hay tính chất hành động, mỗi nhà văn có một kiểu xây dựng nhân vật khác nhau Thế giới hình tượng nhân vật mà nhà văn tạo nên cũng muôn hình muôn vẻ nhưng đều có dấu ấn phong cách của mỗi người Thế giới nhân vật của Dostoievsky với Rascolnikov, anh em Kazamazov là những nhân vật tư tưởng; nhân vật của Kafka là kiểu nhân vật kí hiệu – biểu tượng

như Josep K trong Lâu đài hay K trong Vụ án; nhân vật của Balzac thường là nhân

vật phản diện, chịu sự chi phối của đồng tiền, còn Murakami gọi nhân vật trong thế giới nghệ thuật của mình là “những con người của tôi”, kiểu nhân vật đi tìm bản ngã trong đời sống hiện đại

Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật là cách hữu hiệu nhất để bước vào thế giới nghệ thuật của nhà văn bởi nhân vật là nơi tập trung mọi giá trị tư tưởng

để “thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người” [30;tr.236]

1.1.3.4 Không gian, thời gian nghệ thuật

Các nhà nghiên cứu Việt Nam quan niệm không gian nghệ thuật là “hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật

bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất

định ( ) do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lí” [30;tr.109], hay “không gian như một nhân tố nghệ

Trang 27

thuật của truyện” với các loại “không gian bối cảnh, không gian sự kiện, không gian tâm lí và không gian kể chuyện” [41;tr.88] Mở rộng hơn, còn có quan niệm cho rằng “việc tổ chức không gian của tác phẩm văn học thế kỉ XX có xu hướng dùng kí ức nhân vật như không gian nội tâm để triển khai cốt truyện” [1;tr.323]

và khẳng định không gian nghệ thuật là “phẩm chất định tính quan trọng của hình tượng nghệ thuật, đảm bảo cho việc tiếp nhận toàn vẹn thực tại nghệ thuật

Trong Những thế giới nghệ thuật thơ, tác giả Trần Đình Sử quan niệm thời gian nghệ thuật là “phương thức tồn tại của thế giới vật chất, thời gian cũng như

không gian đi vào nghệ thuật cùng với cuộc sống được phản ánh như là một yếu tố

của nó” [100;tr.390] Từ điển thuật ngữ văn học đã chỉ ra: “Thời gian nghệ thuật

phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kì lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới” [30;tr.219] Nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hòa với

Những vấn đề thi pháp của truyện cũng cho “thời gian như một nhân tố cấu trúc

nghệ thuật của truyện” và phân chia ra thời gian của chuyện và thời gian của truyện

để đi đến kết luận “truyện thuộc loại hình nghệ thuật thời gian và thời gian trong truyện là thời gian trong thời gian” [41;tr.109]

Một số quan niệm về thời gian nghệ thuật nói trên gặp nhau ở các điểm: vai trò của thời gian trong chỉnh thể tác phẩm, thời gian trong tác phẩm mang tính quan niệm và được thiết kế theo ý đồ chủ quan trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Như vậy thời gian trong tác phẩm văn học là thời gian nghệ thuật Nó mang tính quan niệm và dấu ấn chủ quan của nhà văn Cùng với các yếu tố khác, thời gian trong tác phẩm Murakami góp phần định ra giá trị sáng tạo của chính chúng

Trang 28

1.2 Tình hình nghiên cứu nghệ thuật tự sự của Murakami

1.2.1 Trên thế giới

Đối với đa số độc giả phương Tây, việc tiếp nhận văn chương Nhật Bản luôn gặp nhiều trở ngại bởi sự khác biệt văn hóa Đông – Tây Những yếu tố đặc trưng của văn chương Nhật: “vi tế, sâu kín, khó lòng minh định và nỗi buồn mòn mỏi” [83;tr.37] khiến cho ngay cả những độc giả phương Đông cũng không dễ dàng cảm nhận Nhưng ngay từ khi được chuyển sang Anh ngữ, tác phẩm của Murakami đã tìm được chỗ đứng vững chắc trong giới phê bình nghệ thuật trên toàn thế giới

Hàng loạt các bài nghiên cứu xuất hiện Celeste Loughman với Không chốn nương

thân: Nhật Bản hậu hiện đại trong văn hư cấu của Haruki Murakami, Tính hậu hiện đại và Thuyết xuyên Văn hoá (No Place I Was Meant to Be: Postmodern Japan in Haruki Murakami‟s Fiction, Postmodernity and Cross – Culturalism); Chad W

Post với: Haruki Murakami và vấn đề đại chúng (Haruki Murakami and the

Problems of Popularity) đến Chikako Nihei: Tư duy bên ngoài Cái hộp Trung Hoa:

Sự lật đổ các khuôn mẫu Nhật Bản của David Mitchell và Murakami Haruki

(Thinking outside the Chinese Box: David Mitchell and Murakami Haruki‟s

subversion of stereotypes about Japan)… Các công trình nghiên cứu đều khẳng

định giá trị nghệ thuật độc đáo của sáng tác Murakami Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, các công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự của Murakami ở nước ngoài triển khai theo các hướng sau:

Hướng thứ nhất: nghiên cứu một phương diện cụ thể của lí thuyết tự sự như người kể chuyện, nhân vật, không gian nghệ thuật…

Về cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Murakami, Jay Rubin trong cuốn:

Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ (Haruki Murakami and the Music of Words) lý giải từ góc nhìn văn hóa – lịch sử Tác giả cho rằng, hai thảm họa kép với

người dân Nhật Bản: vụ động đất Kobe và vụ tấn công tàu điện ngầm Tokyo có chấn động to lớn đối với tâm lí sáng tạo của nhà văn Điều đó đã ảnh hưởng tới nghệ thuật xây dựng tâm lí các nhân vật trong thế giới nghệ thuật Murakami Trong bài viết này, tác giả cũng cho rằng, kể chuyện với Murakami “như một hành vi sáng

Trang 29

tạo để tự vấn mình, cũng như một bước phát triển quan trọng của Murakami trong việc nhà văn nhìn nhận trách nhiệm của chính mình”[141;tr.222]

Công trình của Patricia Welch Thế giới chuyện kể của Murakami Haruki (Murakami Haruki‟s Storytelling World) công bố năm 2005 có những nhận định sâu

sắc về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Murakami Mỗi cuốn tiểu thuyết của ông dường như nắm bắt được cảm giác vỡ mộng, chia cắt và hoang mang nằm bên cạnh một bề ngoài tĩnh lặng ngay cả trong những giờ phút thanh bình Không chỉ vậy, ông cố gắng khảo sát nguồn cơn của những cảm thức đó và đòi hỏi những nhân vật vốn xưa nay có phần tiêu cực của mình phải dấn thân hơn

Những phân tích của các tác giả trên giúp bạn đọc hiểu rõ về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Murakami: con người cô đơn, hoài nghi, con người mất mát Mặc dù có chỉ ra một số đặc điểm của nghệ thuật xây dựng nhân vật như: đặt nhân vật vào tình huống, nhân vật nội tâm, số phận nhân vật mở… nhưng bài viết chưa khái quát thành những mô hình, kiểu loại nhân vật tự sự, kĩ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Murakami Những tài liệu trên gợi ý cho chúng tôi khái quát kiểu nhân vật đặc trưng trong tiểu thuyết Murakami: kiểu con người bị chấn thương

Về không gian, thời gian nghệ thuật, Midori Tananka Akins trong luận văn

Thời gian và không gian trong việc chi phối cảnh quan văn học của Haruki Murakami (Time and space reconsidered the literary landscape of Haruki Murakami) đã có một phát hiện mới về kĩ thuật kể chuyện của Murakami Từ việc

phân tích thời gian và không gian nghệ thuật trong sáng tác của Murakami, tác giả

đã kết luận rằng: “Murakami đã tạo ra được những kĩ thuật nhất định góp phần hình thành một lối kể chuyện độc đáo Murakami nhấn mạnh việc duy trì khoảng cách và cảm giác tách biệt khỏi mọi thứ Bên cạnh đó, ông còn sử dụng rất hiệu quả kí hiệu

đô thị Ông nhận diện những xúc cảm nội tâm bằng việc sử dụng những phương pháp, kĩ thuật điện ảnh và loại bỏ hoàn toàn những danh từ riêng” [122; tr.72] Những nghiên cứu gần gũi với luận án của chúng tôi cũng đã bước đầu tiến hành khái quát những kĩ thuật tự sự đặc trưng trong tiểu thuyết Murakami Luận văn

Chiến lược trần thuật trong tiểu thuyết Murakami Haruki (Narrative Strategies in

Trang 30

the Fiction of Murakami Haruki) của Tiffany Hong, như tiêu đề của nó, cho thấy tác

giả chủ yếu quan tâm đến sự phát triển trong các chiến lược tự sự của Murakami Haruki, đặc biệt khi các chiến lược này phản hồi mối quan hệ giữa con người cá nhân và lịch sử đất nước Nhật Bản Trong công trình nghiên cứu dài 215 trang, tác

giả đã khảo sát bốn cuốn tiểu thuyết: Cuộc săn cừu hoang, Xứ sở diệu kì tàn bạo và

chốn tận cùng thế giới, Biên niên kí chim vặn dây cót, IQ84 để chỉ ra những chiến

lược tự sự Murakami: thời gian cá nhân (ý thức của người kể chuyện về vị trí của mình trong lịch sử) tách rời khỏi thời gian câu chuyện; cốt truyện bị phân mảnh, sự xuất hiện của nhiều người kể chuyện trình bày với những luồng thông tin chủ quan, thậm chí có thể trái chiều đặt gánh nặng cho người đọc khi đánh giá nhân vật Cách

kể này dành sự ưu tiên cho trải nghiệm của chính độc giả đối với tác phẩm tự sự

Luận văn cũng đề cập tới nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Biên niên kí chim vặn

dây cót Theo tác giả, tiếng nói của người kể chuyện trong tiểu thuyết này được đan

xen bởi các tiếng nói khác, quan điểm khác Người kể chuyện trung tâm được gọi là

“thám tử không đủ năng lực”, hành động của anh ta không đủ để tập trung định hướng cho việc giải quyết vấn đề và quan điểm cá nhân của anh ta rạn nứt trong sự phát triển của câu chuyện [131;tr.2]

Bài viết Truyện trong truyện: Một nghiên cứu về sự nhúng bản văn trong

“1Q84” của Haruki Murakami (Stories Within Stories: A Study of Narrative Embedding in Haruki Murakami‟s 1Q84) của Virginia Yeung đề cập đến kĩ thuật tự

sự truyện lồng trong truyện - kết cấu tự sự đa tầng bậc qua tiểu thuyết IQ84 của

Murakami Dựa trên lí thuyết tự sự của Todorov, Genette, Rimmon - Kenan, Nelles… tác giả đã phân tích những thao tác lồng ghép để mở rộng chủ đề và tạo ra thế giới mới lạ, phức tạp Theo tác giả, có hai thao tác lồng ghép được tác giả sử dụng liên tục trong cuốn tiểu thuyết là tự sự giấc mơ và các liên văn bản Những câu chuyện lồng ghép đẩy các hành động về một hướng và làm chậm quá trình phát

triển đồng thời làm phong phú thêm câu chuyện chính Trong một bài viết khác, Sự

kết thúc không xác định và chủ đề của tình yêu trong những câu chuyện tình của Haruki Murakami (Equivocal Endings and the Theme of Love in Murakami

Trang 31

Haruki‟s Love Stories), Yeung cũng phân tích nghệ thuật tự sự qua cái kết mở trong

ba tiểu thuyết tình yêu của Murakami: Rừng Na Uy, Phía nam biên giới, phía tây

mặt trời, Người tình Sputnik Theo tác giả, Rừng Na Uy là một dạng tiểu thuyết tự

thuật, sự thay đổi đó làm giảm khoảng cách giữa người kể chuyện và người đọc chuyện để người đọc tự hướng tới cái kết theo chủ ý của mình [151;tr.279-295]

Luận văn Nghệ thuật kể chuyện của Haruki Murakami trong “Pinball, 1973” (The Art of Haruki Murakami‟s Narrative in Pinball, 1973) của tác giả Chaandreyi

Mukherjee chỉ ra có hai người tường thuật độc lập kể lại câu chuyện của mình Sự xuất hiện đồng thời của người kể chuyện xưng “tôi” (intradiegetic, homodiegetic) trực tiếp tham gia vào câu chuyện, có cảm xúc, hành động và người kể chuyện ngôi thứ ba (extradiegeti, heterodiegetic) khiến cho câu chuyện trở nên hấp dẫn Luận văn cũng đi vào nghiên cứu tiêu cự (focalization) và thời gian tự sự trong tiểu

thuyết Pinball, 1973 Theo tác giả, các sự kiện trong tiểu thuyết là một chuỗi những

hồi ức, thời gian hồi tưởng trở thành một thứ bệnh lí [132;tr.159]

Trong phạm vi tư liệu chúng tôi bao quát được có nhiều bài nghiên cứu trên các báo và tạp chí ngoài nước đã đưa ra những nhận định về lối viết, lối kể chuyện sắc sảo, độc đáo của Murakami Stuart Jeffries trên tờ Guardian viết về cuốn

Kafka bên bờ biển: “Chưa bao giờ tôi gặp một cuốn sách thuyết phục được mình

đến thế bởi sự sáng tạo trong trần thuật và sự yêu thích kể chuyện… hấp dẫn vô

cùng” John Updike trong một bài phê bình năm 2005 trên tờ The New Yorker

viết: “Dù tác phẩm của ông nhan nhản sự tham khảo văn hóa đương đại Mỹ, đặc biệt là âm nhạc bình dân; dù ông miêu tả chi tiết sự sáo rỗng, tầm thường của giới trẻ phương Tây, lối kể chuyện của ông vẫn rất đáng mơ ước và gần với tính chất siêu thực mềm dẻo, linh hoạt của Kobo Abe hơn là tính chất cứng nhắc, mãnh liệt

của Yukio Mishima và Junichiro Tanizaki”[75;tr.6] Dennis Lim của tờ The

Village Voice khẳng định: “Murakami không chỉ là người kể ra những chuyện vô

vị của cuộc sống đời thường với một sự chân xác khiến người ta như chạm tới được, ông còn gợi lên sự cộng sinh của một cái gì không thể đặt tên, và vì vậy mà càng trở nên kì lạ” [75;tr.5] Nhìn chung, có nhiều tài liệu đánh giá cao lối kể, lối viết của Murakami, nhưng đều chưa có những kiến giải cụ thể, có tính hệ thống

Trang 32

Hướng nghiên cứu thứ hai là những tài liệu tiếp cận tác phẩm từ phương diện văn hóa, lịch sử để chỉ ra dấu ấn thời đại trong tiểu thuyết Murakami

Tác giả Deng Liu trong luận văn: Vẽ chu vi hậu hiện đại trong hai tiểu thuyết

của Haruki Murakami (Tracing the Contours of the Postmodern in Haruki Murakami‟s Two Novels) đã khảo sát hai cuốn tiểu thuyết Xứ xở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, Biên niên kí chim vặn dây cót, Deng Liu chứng minh sự ảnh

hưởng của văn hóa, văn học phương Tây (đặc biệt là Mỹ) trong sáng tác của Murakami Tác giả cũng chỉ ra được các dấu hiệu, biểu tượng, một số đặc trưng phong cách của Murakami trong cái nhìn của hậu hiện đại [134]

Trong luận văn Bệnh tâm thần phân liệt của Naoko như là phản xạ trong Rừng

Na Uy của Haruki Murakami (Naoko's schizophrenia as Reflector in Haruki Murakami's Norwegian) của Simangusong Andrew, qua việc phân tích những biểu

hiện của chứng bệnh tâm thần phân liệt ở nhân vật Naoko như sự cô độc, hoang tưởng, khuynh hướng tự sát… tác giả chỉ ra đó là căn bệnh của một thế hệ thanh niên Nhật Bản thời hậu chiến, với những khủng hoảng về tâm lí do sang chấn của chiến tranh [123;tr.8] Tuy chỉ dừng lại khảo sát ở một nhân vật cụ thể nhưng luận văn trên cũng khái quát thành công một mô hình nhân vật trong tiểu thuyết Murakami - kiểu nhân vật bị chấn thương Luận án của chúng tôi mở rộng phạm vi

nghiên cứu trong cả hai tiểu thuyết Biên niên kí chim vặn dây cót và Kafka bên bờ

biển để chứng minh, đây là kiểu nhân vật đặc trưng trong tiểu thuyết Murakami

Ida Mayer khi nghiên cứu đề tài Giấc mơ cô đơn: Chủ nghĩa hiện thực

huyền ảo trong văn học Nhật Bản hiện đại (Dreaming in isolation:Magical Realism in Modern Japannese Literature) đã chỉ rõ các nhân vật trung tâm trong

sáng tác của Murakami đều bị cô lập trong sự dằn vặt đau đớn, và để giải quyết các vấn đề của nhân vật, nhà văn sử dụng yếu tố siêu thực trong cốt truyện Đây

là cách kể tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo: xen lẫn các yếu tố thực và yếu tố huyền ảo [136;tr.2]

Luận văn của Baryon Tensor Posadas: Kí ức, Gương soi và phụ nữ mất tích:

Các chiến thuật trần thuật siêu hư cấu và Motif Con ma người sống trong tiểu

Trang 33

thuyết của Abe Kobo và Murakami Haruki (Memory, Mirrors and Missing Women: Metafictive Narrative Strategies and the Doppelganger Motif in the Fictions of Abe Kobo and Murakami Haruki) đã đem đến cho người đọc cái nhìn so sánh về tiểu

thuyết của Abe Kobo và Murakami Thông qua Gương mặt người khác (Face of Another), Người hộp (The Box Man) của Abe Kobo và Xứ xở diệu kì tàn bạo và

chốn tận cùng thế giới, Người tình Sputnik của Murakami, công trình gồm 6

chương, 117 trang này của Baryon Tensor Posadas đã phát hiện những phương diện của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Murakami qua cái nhìn so sánh: kiểu trần thuật hư cấu đặc trưng, sự bất lực của ngôn ngữ, sự bẻ gãy khung trần thuật, kiểu nhân vật nữ biến mất, và motif “con ma người sống” (doppelganger) [140;tr.77] Những diễn giải về kiểu nhân vật biến mất, và những “con ma người sống” của luận văn này giúp chúng tôi hình thành ý niệm mới về kiểu nhân vật mang tính kí hiệu trong sáng tác của Murakami

Trong bài Nghiên cứu về logic trần thuật của Rừng Na Uy và Người tình

Sputnik của Murakami Haruki - Thời gian, giọng và tiêu điểm (A Narratological Study of Murakami Haruki‟s Norwegian Wood and Sputnik Sweetheart - Time, Voice and Focalisation), Virginia Yeung nhấn mạnh Rừng Na Uy là câu chuyện

được cấu trúc giống như một sự cắt dán của các sự kiện trong quá khứ tương tự như

bộ nhớ của con người theo giai đoạn, chiết trung Điểm tương đồng đó là, trong cả hai, dòng chảy của thời gian thường lệch khỏi khuôn mẫu tuyến tính, di chuyển về

phía trước Tính chất tự truyện của tiểu thuyết Rừng Na Uy chi phối cả tới giọng

điệu và điểm nhìn trần thuật Kĩ thuật tự sự của Murakami khiến người đọc đọc quá khứ khi nhớ lại những giai đoạn khác nhau của cuộc đời mình [149;tr.1]

Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác mà chúng tôi tiếp cận tuy không trực tiếp tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Murakami nhưng có những

nội dung chạm tới vấn đề này như: J.P Dil với Murakami Haruki và Cuộc tìm kiếm

sự tự trị liệu (Murakami Haruki and the Search for Self – Therapy); Jacquelyn L

Zuromski với Đến điểm mút trong Rừng Na Uy của Haruki Murakami: Khả năng

chuyển dịch và vai trò của Văn hoá đại chúng (Getting to the Pulp of Haruki

Trang 34

Murakami‟s Norwegian Wood: Translatability and the Role of Popular Culture);

Kevin Dawson Gladding với Thương lượng địa điểm: Đa bối cảnh và Thương

lượng trong Rừng Na Uy của Haruki Murakami (Negotiating Place: Multiscapes and Negotiation in Haruki Murakami‟s Norwegian Wood )…

Một điều đặc biệt ở Murakami là ông thường xuyên tham gia trả lời phỏng vấn

và hồi đáp thư từ của các nhà nghiên cứu khắp nơi Sự cởi mở của nhà văn thể hiện qua những trao đổi thẳng thắn của ông về nghệ thuật tự sự Trong bài trả lời phỏng vấn của tác giả John Wray trên tạp chí The Paris Review, số 170, ông nói về cách viết của mình một cách đơn giản:

Tôi có vài hình ảnh và tôi kết nối chúng với nhau, đó là cốt truyện Sau đó tôi giải thích cốt truyện cho độc giả Bạn phải thật tử tế khi giải thích một cái gì đó Nếu bạn nghĩ, giải thích thế là ổn rồi, bạn biết là như thế, thì

đó là suy nghĩ cực kì kiêu ngạo Những từ ngữ đơn giản và các phép ẩn dụ, phúng dụ hiệu quả, đó là những gì tôi làm Tôi giải thích rất cặn kẽ và rõ ràng [148]

Về cách tạo ra các nhân vật, ông viết:

Khi tạo ra nhân vật trong sách, tôi thích quan sát những con người thực trong cuộc đời mình Tôi không thích nói nhiều; tôi thích nghe câu chuyện của người khác Tôi không quyết định họ là loại người nào; tôi chỉ cố gắng suy nghĩ về những gì họ cảm thấy, nơi họ đang đi Tôi thu thập một số yếu tố từ người này, một số từ người kia Tôi không biết điều này là “hiện thực” hay “phi hiện thực” nhưng với tôi, nhân vật của tôi thật hơn con người thật Trong sáu hoặc bảy tháng tôi viết, những con người ấy ở bên trong tôi

Đó là một dạng vũ trụ [148]

Mỗi cuốn sách của Murakami được xuất bản đều làm dậy lên làn sóng phê

bình sôi nổi Khi Kafka bên bờ biển ra mắt công chúng qua bản dịch tiếng Anh,

Steven Moore, phóng viên thời báo The Washington Post hào hứng viết: “Tác giả Nhật được yêu thích nhất tại Mỹ này có thể xuất bản ẩn danh tác phẩm này mà những fan của ông vẫn sẽ nhận ra tức khắc” Paul Lafarge của The Village Voice thì

Trang 35

phấn khích: “Kafka bên bờ biển lạ lùng đến nỗi ngay cả những thứ cũ rích trong đó

cũng khoác một vẻ huyền bí Tựa như một băng nhạc anh nghe rõ cả tiếng cọt kẹt ghế của nhạc công: nếu nhạc đã hay thì cả tiếng ghế cũng là một phần của nó” James Urquhart, phóng viên tạp chí Independent on Sunday nhận định: “Cấu tứ xuất sắc, bối cảnh siêu thực táo bạo, sexy, và cuốn đi trong một cốt truyện nhanh mạnh

và luôn ngộ nghĩnh, tác phẩm mới của Murakami đào xới tầng tầng lớp lớp những

cơ chế bên trong của bản thể chúng ta với tính sôi nổi đặc trưng của ông” John Updike trên tờ The New Yorker nhận xét: “Một cuốn sách để–ngấu–nghiến thật sự, cũng thật là một ám ảnh siêu hình dai dẳng ( ) Đằng sau những cuộc phiêu lưu điên rồ và bất ổn một cách biểu tượng của nhân vật chính, còn có một lực đẩy trong tiềm thức gần ngang bằng với lực đẩy của sex và tuổi trưởng thành: lực đẩy về phía

hư vô, về khoảng trống, về sự rỗng không đầy hoan lạc Murakami là họa sĩ nhẹ nhàng của những khoảng–chân–không” [71]

Những đánh giá, nhận xét trên dù chưa mang tính chất nghiên cứu chuyên sâu nhưng cũng ít nhiều thể hiện sự quan tâm của độc giả tới nghệ thuật kể chuyện của tác giả Haruki Murakami, sức hút của tiểu thuyết đến với người đọc chính là từ cách

kể, nghệ thuật kể

1.2.2 Ở Việt Nam

Văn đàn Việt Nam bắt đầu “nhập cuộc” khi tiểu thuyết Biên niên kí chim vặn

dây cót của Murakami do Trần Tiễn Cao Đăng dịch được Nhà xuất bản Hội Nhà

văn và Nhã Nam ấn hành năm 2006 Những tác phẩm được dịch sau đó đều dành được nhiều sự quan tâm, chú ý của độc giả, của các nhà nghiên cứu phê bình Theo khảo sát của chúng tôi, những tài liệu liên quan đến nghệ thuật tự sự của Murakami chủ yếu có nguồn gốc từ các luận văn, khóa luận tốt nghiệp, bài viết từ các hội thảo khoa học, các bài viết chia sẻ trên mạng trực tuyến Tác phẩm của Murakami ngay sau khi được giới thiệu ở Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một nguồn đề tài không vơi cạn cho các sinh viên, học viên, các nhà nghiên cứu Việc tìm hiểu tác phẩm của nhà văn Nhật Bản đương đại được yêu thích nhất xoay quanh yếu tố hậu hiện đại, yếu tố huyền ảo, cái hỗn độn, hình tượng con người cô đơn, mất mát, sự giao thoa văn hóa Đông Tây…

Trang 36

Trước tiên phải kể đến những tài liệu nghiên cứu về Murakami với tư cách

một nhà văn hậu hiện đại tiêu biểu Luận văn Yếu tố huyền ảo trong sáng tác của

Haruki Murakami của Nguyễn Anh Dân nghiên cứu làm rõ sức hấp dẫn của chủ

nghĩa hiện thực huyền ảo trong tác phẩm Haruki Murakami Trong tài liệu này, chúng tôi chú ý đến phần nghiên cứu của tác giả về phương thức sáng tạo nghệ thuật từ yếu tố huyền ảo Tác giả chỉ rõ, phương thức huyền ảo trong sáng tác của Murakami chi phối tới cách xây dựng nhân vật: vô hình hóa nhân vật, tạo nên những bản thể trống rỗng, cái tôi lưỡng phân, nhân vật là sản phẩm của tâm linh, siêu hình Nghệ thuật trần thuật trong sáng tác của Haruki Murakami cũng chịu sự chi phối mãnh liệt của yếu tố huyền ảo Tác giả gọi đó là “Dàn hợp xướng huyền ảo của trần thuật trong sáng tác của Haruki Murakami: Trần thuật huyền ảo từ cái tôi

đa chiều kích, luân chuyển điểm nhìn, hợp xướng giọng điệu” [15;tr.59]

Trong bài viết Dấu ấn nghệ thuật hậu hiện đại trong một số sáng tác của

Haruki Murakami, tác giả Hà Văn Lưỡng đã giới thiệu khá sâu về nghệ thuật tự sự

trong những tác phẩm của Haruki Murakami, đó là sự cắt dán, lắp ghép giữa các phần, chương và đoạn văn Trong nhiều tác phẩm, nhà văn đưa vào cả những văn bản báo chí Vì thế “dường như sự liên kết giữa các chương lỏng lẻo, có cảm giác không

ăn nhập với nhau” Về kết cấu, “cuốn tiểu thuyết này được chia thành 49 chương nói

về hai tuyến nhân vật: tuyến thứ nhất là những chương số lẻ (1/3/5… /49) kể câu chuyện của Kafka ở ngôi thứ nhất; tuyến thứ hai là những chương chẵn (2/4/16/20… /46) kể câu chuyện của Nakata ở ngôi thứ ba Chính vì kết cấu theo kiểu lắp ghép và tác phẩm giống như một món “lẩu thập cẩm”, trong đó chứa đựng siêu thực, hiện

thực kỳ ảo, bi kịch Hy Lạp, umua, âm nhạc, phân tâm học… nên tác phẩm Kafka bên

bờ biển rất hấp dẫn nhưng lại khó đọc và khó nắm bắt”… Cuối cùng, tác giả đánh

giá, “cách kết cấu phá vỡ lối kể chuyện truyền thống trong sáng tác của Haruki Murakami cũng là một biểu hiện của văn chương hậu hiện đại” [59;tr.21]

Cùng nghiên cứu tác phẩm Haruki Murakami từ những đặc trưng của văn

chương hậu hiện đại, tác giả Võ Thị Thanh Tâm trong luận văn Con người cô

đơn trong tiểu thuyết Yasunari Kawabata và Haruki Murakami từ góc nhìn so sánh đã dành một chương để nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện Trong đó, tác giả

Trang 37

đã đề cập đến sự thể hiện con người cô đơn qua hình tượng người trần thuật, điểm nhìn trần thuật, kết cấu, giọng điệu và đối thoại Tác giả khẳng định rằng Haruki Murakami với phong cách hậu hiện đại, ngoài việc xây dựng kiểu người

kể chuyện xưng “tôi”, ông còn xen lẫn người kể chuyện hàm ẩn trong tác phẩm của mình Người viết đánh giá cao sự kết hợp tài tình, linh hoạt giữa hai kiểu người kể chuyện ngôi một và ngôi ba trong tác phẩm của Murakami đã tạo độ tin cậy lớn cho người tiếp nhận khi thể hiện nỗi đau của con người [103;tr.93]

Tác giả Nguyễn Văn Thuấn trong bài viết: Về con người cô đơn trong tiểu

thuyết “Rừng Na Uy” của Haruki Murakami đặt con người trong không gian nghệ

thuật, từ đó chỉ ra nhân vật trong tiểu thuyết của Haruki Murakami sinh tồn trong những không gian đó luôn mang mặc cảm cô đơn Tác giả phân tích hai loại không

gian chính trong Rừng Na Uy: không gian nhà nghỉ Ami và không gian bên ngoài

nhà nghỉ Ami, “hai kiểu không gian đó cũng chính là biểu tượng cho hai phần của Nhật Bản: truyền thống và hiện đại Haruki Murakami đã thổi vào không – thời gian

đó cảm giác nhàm chán vì sự thiếu vắng lí tưởng, thiếu vắng những mục đích sống chân chính khiến cho sự cô đơn như vón cục lại” [107;tr.9] Dù chỉ là bài viết ngắn, nhưng đó là những phát hiện liên quan đến nghệ thuật tự sự – lĩnh vực luận án quan tâm và là tài liệu tham khảo bổ ích cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi

Ở bài viết Thực tại và con người trong tiểu thuyết của Haruki Murakami, tác

giả Trần Tố Loan có rất nhiều kiến giải thỏa đáng về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Murakami: “con người trong sáng tác của Haruki Murakami là kiểu nhân vật ám ảnh, tâm hồn bị chấn thương, méo mó” Người viết đánh giá cao những đổi mới, sáng tạo của Murakami: “nhân vật của Haruki Murakami không cần đến phép lạ mới có thể di chuyển từ hiện thực đến thế giới phi thực (…) Trong sáng tác của ông, nhiều “cái tôi” cùng tồn tại nhưng không theo kiểu có mặt ở nơi này thì không có ở nơi khác, mà song song tồn tại một cách độc lập Đó cũng chính

là quan niệm về thế giới và con người của mỹ học hậu hiện đại” [54]

Tiếp đó, phải kể đến những tài liệu trực tiếp lí giải sự hấp dẫn trong lối trần thuật của Haruki Murakami Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận ra đóng góp đáng kể của Murakami với lí thuyết tự sự là tạo ra những câu chuyện kể hấp dẫn, níu giữ

Trang 38

người đọc, đặc biệt là những người đọc trẻ trong một thời đại bùng nổ công nghệ thông tin Là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về Haruki Murakami,

Truyện ngắn Haruki Murakami – nghiên cứu và phê bình của Hoàng Long có

đóng góp đáng kể khi chỉ ra “phương pháp liên văn bản và xếp chồng văn bản” là một đặc trưng của nghệ thuật tự sự Murakami Người viết cũng đi đến kết luận:

“thế giới nhân vật trong tác phẩm Murakami chính là hình ảnh của Nhật Bản hiện đại và của cả giới trẻ trên toàn cầu” [55;tr.16] Mặc dù phạm vi nghiên cứu giới hạn ở thể loại truyện ngắn nhưng cuốn sách cũng gợi dẫn nhiều tương quan với các tiểu thuyết của Haruki Murakami

Tại hội thảo với chủ đề: Thế giới của Haruki Murakami và Banana

Yoshimoto diễn ra ở Hà Nội năm 2007, nhiều bài viết mang tính khám phá về sức

hấp dẫn của tác phẩm Murakami Trong bài viết của Nhật Chiêu, tác giả đã nhận thấy: “Tiểu thuyết của Haruki Murakami, với tinh thần chơi đùa và tự do tưởng

tượng được kể bằng một bút pháp sống động và đam mê như Nghìn lẻ một đêm

của thời hiện đại Nghệ thuật của ông trở về với ngọn nguồn của tiểu thuyết, thời

mà tiểu thuyết còn đầy tự do, không bó buộc phải sao chép hiện thực” [83;tr.4]

Việc so sánh lối kể chuyện của Murakami với lối kể của Nghìn lẻ một đêm – kiệt

tác của văn chương nhân loại cho thấy tác giả đã phát hiện sức hấp dẫn của tiểu thuyết Murakami đến từ nghệ thuật tự sự Cùng quan điểm với tác giả Nhật Chiêu,

dịch giả Dương Tường, trong phần Ghi vụn trong khi dịch “Kafka bên bờ biển”

cũng liên tưởng tới tài của nàng Scheherazade khi dịch tác phẩm của Murakami:

“Với cái tài kể chuyện của một nàng Scheherazade, Murakami đã tạo nên một

page turner theo đúng nghĩa một cuốn sách hấp dẫn đến độ đã cầm lên là phải đọc

gấp đến trang cuối không rời tay” [71;tr.537]

Nhà nghiên cứu Cao Việt Dũng, trong bài Bí ẩn như là thủ pháp của cách kể

chuyện cho rằng: “Murakami, trước hết, và xét đến cùng, là một người kể chuyện

giỏi” [83;tr.20] Tác giả đánh giá sự khác biệt của tiểu thuyết Murakami trong dòng chảy văn học đương đại là ở chỗ: “chúng nằm ở chính giữa chỗ giáp ranh giữa hai thế giới đó (văn chương “cao cấp” và văn chương “thương mại”): rất có thể đặc

điểm quan trọng nhất của văn chương hiện đại, ngược với cổ điển, là ở đó: nó vờ

Trang 39

như xuống thấp trong cái thế giới mà nó miêu tả, nhưng thực tế là không thể xuống

thấp như nhiều người tưởng, vì đã được neo lại bằng sức kháng cự thường trực trước những điều tầm thường” [83;tr.21]

Trong bài viết của tác giả Lê Nguyên Cẩn: Cấu trúc tự sự “Kafka bên bờ

biển” theo cách nhìn phân tâm học, tác giả đã phân tích tác phẩm từ góc độ cấu trúc

tự sự và kết cấu nhân vật dưới ánh sáng lý thuyết phân tâm học Tác giả đặc biệt nhấn mạnh những đóng góp, đổi mới của Murakami ở nghệ thuật tự sự: Kỹ thuật kể chuyện nổi bật lên hàng đầu trong tác phẩm này chắc chắn chịu ảnh hưởng nghệ thuật kể chuyện của điện ảnh, thể hiện qua hình thức các cảnh quay liên tiếp được đan cài xen kẽ, luân phiên, tuần tự của các trường đoạn từ hai mạch kể Bài viết cũng đề cập đến một số phương diện tự sự khác như: điểm nhìn trần thuật, ngôi kể trong tiểu thuyết Murakami [10]

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tham khảo hướng tiếp cận nghệ

thuật tự sự trong tiểu thuyết Murakami ở một số tài liệu như: luận văn Nghệ

thuật tự sự của Haruki Murakami trong tiểu thuyết “Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời” của Đinh Xuân Nghĩa, luận văn Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Haruki Murakami của Nguyễn Thị Bích Thuận, luận văn Thế giới nhân vật trong “Kafka bên bờ biển” của Haruki Murakami của Nguyễn Thị Ý Lan,

luận án Yếu tố hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Haruki Murakami của Lê Thị Diễm Hằng, luận văn Nghệ thuật tự sự tiểu thuyết Haruki Murakami của Nguyễn Bích Nhã Trúc, luận văn Kiểu nhân vật trong “Rừng Na uy” (Haruki Murakami) và

“Người đọc” (Bernhard Schlink) của Hoàng Thị Kim Hương… Các tác giả đã triển

khai nghiên cứu các phương diện của nghệ thuật tự sự: cốt truyện, nhân vật, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Murakami Những tài liệu đó đã gợi ý cho chúng tôi hướng nghiên cứu kĩ thuật tạo dựng chân dung nhân vật của Murakami, trọng tâm là sử dụng người kể ngôi thứ nhất, kết hợp đối thoại và độc thoại nội tâm, hồi tưởng và giấc mơ, hành vi tình dục như một nhu cầu giao cảm lớn

Một thách thức lớn cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này là trước đó đã có một công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Haruki Murakami

Trang 40

của tác giả Nguyễn Bích Nhã Trúc, trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Luận văn của Nguyễn Bích Nhã Trúc tiếp cận nghệ thuật tự sự của Haruki Murakami trong dòng chảy tự sự Nhật Bản, từ phương diện tiếp nhận của người đọc Chương 1, luận văn giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Haruki Murakami, đánh giá vai trò, vị trí của Murakami trong dòng chảy văn xuôi tự sự của văn học Nhật Bản Chương 2, luận văn khai thác nhân vật và cốt truyện trong tiểu thuyết Haruki Murakami Chương 3 luận văn khảo sát hình tượng người kể chuyện ở các phương diện: ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu Mặc dù có sự gặp gỡ giữa hai công trình nghiên cứu ở một số điểm nhưng chúng tôi tiếp cận vấn đề theo một hướng đi khác, vừa trên diện rộng, vừa hướng vào chiều sâu Luận án của chúng tôi có tham vọng muốn đem đến một cái nhìn mang tính tổng quát về nghệ thuật tự sự tiểu thuyết Murakami trong dòng chảy

tự sự hậu hiện đại, khám phá sức hấp dẫn của tác phẩm giữa ranh giới của văn chương đại chúng và văn chương nghệ thuật Về người kể chuyện, khác với công trình trên, chúng tôi không khảo sát, phân loại các loại hình người kể chuyện mà tập trung đi sâu vào hình tượng nghệ thuật đặc trưng, độc đáo trong tiểu thuyết Murakami: người kể chuyện ngôi thứ nhất theo điểm nhìn đa tuyến Về nhân vật, chúng tôi không phân loại nhân vật theo tính cách, số phận cụ thể mà phân loại nhân vật theo chức năng biểu đạt và đi sâu tìm hiểu những quan niệm nghệ thuật

về con người Và theo quan điểm của chúng tôi, việc nghiên cứu nghệ thuật tự sự không thể tách rời việc tìm hiểu cách tổ chức không gian và thời gian Nét đặc sắc trong tiểu thuyết Murakami là không, thời gian có sự dịch chuyển từ không gian, thời gian hiện thực đến không gian thời gian huyền ảo

Mặc dù các công trình trên đều thừa nhận sức hấp dẫn trong tác phẩm của Murakami đến từ cách kể, nhưng những nghiên cứu về nghệ thuật kể chuyện của Murakami ở Việt Nam chủ yếu vận dụng lí thuyết tiếp nhận mà chưa có những kiến giải từ góc độ lí thuyết tự sự, chủ yếu gắn liền với một tác phẩm cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thể

Ngày đăng: 21/09/2020, 20:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Richard Appoghanesi – Chris Gatta (2006), Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, Nxb Trẻ, Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại
Tác giả: Richard Appoghanesi – Chris Gatta
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
3. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học (9), tr.12-17, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
4. Lê Huy Bắc (2002), Phê bình – lý luận văn học Anh Mỹ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình – lý luận văn học Anh Mỹ
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
5. Lê Huy Bắc (2005), Truyện ngắn lí luận tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn lí luận tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
6. Lê Huy Bắc (2012), Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2012
7. Mikhail Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cƣ dịch, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Mikhail Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
8. Mikhail Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiexki, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Phạm Vĩnh Cƣ dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiexki
Tác giả: Mikhail Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
9. Phan Quí Bích (2009), Rừng Na – Uy, sex thuần túy hay nghệ thuật đích thực?, http://khoavanhoc.edu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng Na – Uy, sex thuần túy hay nghệ thuật đích thực
Tác giả: Phan Quí Bích
Năm: 2009
10. Lê Nguyên Cẩn (2013), Cấu trúc tự sự “Kafka bên bờ biển” theo phân tâm học, http://vienvanhoc.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc tự sự “Kafka bên bờ biển” theo phân tâm học
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Năm: 2013
11. Nguyễn Thị Mai Chanh (2008), Nghệ thuật tự sự của Lỗ Tấn qua hai tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng hoàng”, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tự sự của Lỗ Tấn qua hai tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng hoàng”
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Chanh
Năm: 2008
12. Alain Gheerbrant Jean Chevalier (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Trường viết văn Nguyễn Du, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Alain Gheerbrant Jean Chevalier
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
13. Nhật Chiêu (2006), Dạo chơi vườn văn Nhật Bản, Nxb Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạo chơi vườn văn Nhật Bản
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2006
14. Nhật Chiêu (2007), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến đến 1868, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến đến 1868
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
15. Nguyễn Anh Dân (2010), Yếu tố huyền ảo trong sáng tác Haruki Murakami, Luận văn thạc sĩ Văn học, Đại học Sƣ phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố huyền ảo trong sáng tác Haruki Murakami
Tác giả: Nguyễn Anh Dân
Năm: 2010
16. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
17. Đặng Anh Đào (2007), Việt Nam và phương Tây tiếp nhận và giao thoa trong văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và phương Tây tiếp nhận và giao thoa trong văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
18. Nguyễn Đăng Điệp (1996), “M. Bakhtin và lí thuyết về giọng điệu đa thanh trong tiểu thuyết”, Tạp chí Văn học nước ngoài (1), tr. 212 – 216, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M. Bakhtin và lí thuyết về giọng điệu đa thanh trong tiểu thuyết”, "Tạp chí Văn học nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 1996
19. Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
94. Psychological trauma, Đặng Phương Thảo dịch, trang http://en.wikipedia.org/wiki/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm